Để có thể áp dụng một cách hiệu quả các quy định cho việc quản lý tài chính giữa Viện và các Trung tâm trực thuộc Viện, đồng thời giúp Viện có đủ sức mạnh tài chính vững vàng thực hiện c
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu 1
2 Mục đích và mục tiêu nghiên cứu 1
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Ý nghĩa của đề tài 2
6 Kết cấu của luận văn 2
Chương 1 3
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH Ở CÁC TỔ CHỨC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CÔNG LẬP 3
1.1 Tổng quan về tổ chức khoa học và công nghệ công lập 3
1.1.1 Khái niệm và cách phân loại tổ chức khoa học và công nghệ 3
1.1.1.1 Khái niệm 3
1.1.1.2 Cách phân loại tổ chức khoa học và công nghệ 3
1.1.2 Vai trò của tổ chức khoa học và công nghệ trong nền kinh tế quốc dân 4
1.1.3 Đặc điểm hoạt động của các tổ chức KHCN công lập 5
1.2 Công tác quản lý tài chính ở các tổ chức KHCN 6
1.2.1 Nội dung của công tác quản lý tài chính 6
1.2.1.1 Khái niệm quản lý tài chính 6
1.2.1.2 Nguồn tài chính: 7
1.2.1.3 Các nội dung chi 7
1.2.1.4 Đặc điểm quản lý tài chính của các tổ chức KHCN 9
1.2.1.5 Cơ chế quản lý tài chính của các tổ chức KHCN 10
1.2.1.6 Công tác kế hoạch tài chính của các tổ chức KHCN 12
1.2.1.7 Công tác tổ chức hạch toán kế toán tại các tổ chức KHCN 13
1.2.1.8 Công tác đầu tư và quản lý tài sản của tổ chức KHCN 13
Trang 41.3 Sự cần thiết phải tăng cường công tác quản lý nguồn tài chính trong tổ chức
khoa học và công nghệ công lập 15
1.4 Những kinh nghiệm trong quản lý và phát triển của các tổ chức KHCN trong nước và quốc tế 16
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 22
Chương 2 23
THỰC TRẠNG VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CỦA VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THUỶ SẢN I 23
2.1 Khái quát về Viện nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản I 23
2.1.1 Mô hình tổ chức quản lý và chức năng nhiệm vụ của Viện NCNTTS1 23
2.1.2 Cơ cấu tổ chức quản lý của Viện NCNTTS1 24
2.2 Thực trạng công tác quản lý tài chính tại Viện NCNTTS1 26
2.2.1 Các văn bản pháp quy chính liên quan đến công tác quản lý tài chính của Viện NCNTTS1 26
2.2.2 Thực trạng các nguồn thu của Viện NCNTTS1 27
2.2.2.1 Các nguồn thu của Viện NCNTTS1 27
2.2.2.2 Cơ cấu các nguồn thu của Viện NCNTTS1 28
2.2.3 Thực trạng các nội dung chi tại Viện NCNTTS1 38
2.2.3.1 Các nội dung chi tại Viện NCNTTS1 38
2.2.3.2 Cơ cấu chi của Viện NCNTTS1 43
2.2.4 Thực trạng công tác quản lý và sử dụng tài sản của Viện NCNTTS1 55
2.2.5 Thực trạng về công tác kế toán - tài chính của Viện NCNTTS1 59
2.2.5.1 Tổ chức bộ máy tài chính kế toán của Viện NCNTTS1 59
2.2.5.2 Lập, thẩm tra và phê duyệt kinh phí tại Viện NCNTTS1 60
2.2.5.3 Cơ chế quản lý tài chính đối với các đơn vị dự toán cấp III (Phân Viện, Trung tâm thuộc Viện) 61
2.2.5.4 Năng lực đội ngũ làm công tác tài chính kế toán của Viện NCNTTS1 62
2.3 Nhận xét chung 63
2.3.1 Những kết quả đạt được 63
Trang 52.3.2 Những hạn chế 65
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 69
Chương 3 70
MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CỦA VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THUỶ SẢN I 70
3.1 Định hướng phát triển của Viện NCNTTS1 trong những năm tới 70
3.1.1 Nghiên cứu 70
3.1.2 Phát triển 72
3.1.3 Dịch vụ 73
3.1.4 Tài chính 74
3.2 Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý tài chính tại Viện NCNTTS 1 75
3.2.1 Giải pháp về cơ chế tài chính 75
3.2.1.1 Tăng cường nguồn kinh phí 75
3.2.1.2 Chi trả lương cho cán bộ viên chức 75
3.2.1.3 Tăng cường khả năng đóng góp của các Trung tâm trực thuộc Viện 80
3.2.2 Đẩy mạnh công tác quản lý tài chính, tài sản 80
3.2.2.1 Công tác quản lý tài chính 80
3.2.2.2 Công tác quản lý và sử dụng tài sản 81
3.2.3 Kiện toàn, nâng cao năng lực và vai trò của công tác kế toán tài chính 81
3.2.4 Tăng cường phân cấp và giám sát các đơn vị trực thuộc 82
3.2.5 Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và tin học hoá trong quản lý tài chính 83
3.3 Các kiến nghị 84
3.3.1 Công tác nghiên cứu Khoa học và quản lý các đề tài, dự án KHCN 86
3.3.1.1 Nhiệm vụ thường xuyên giao trực tiếp 86
3.3.1.2 Nhiệm vụ nghiên cứu khoa học đề nghị giao trực tiếp 88
3.3.2 Cơ chế quản lý kinh phí các đề tài, dự án 90
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 94
Trang 6KẾT LUẬN 95 TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
Trang 7Danh mục các bảng
Bảng 2.1: Thực trạng nhân lực Viện NCNTTS1 đến thời điểm 31/12/2011 25
Bảng 2.2: Nguồn tài chính của Viện NCNTTS1 năm 2008 - 2011 29
Bảng 2.3: Nguồn ngân sách nhà nước cấp của Viện NCNTTS1 năm 2008-2011 32
Bảng 2.4: Nguồn viện trợ, liên doanh, liên kết của Viện NCNTTS1 năm 2008-2011 35 Bảng 2.5: Nguồn thu SXKD của Viện NCNTTS1 từ năm 2008 – 2011 37
Bảng 2.6: Cơ cấu chi của Viện NCNTTS1 từ năm 2008-2011 44
Bảng 2.7: Cơ cấu chi thường xuyên của Viện NCNTTS1 năm 2008-2011 47
Bảng 2.8: Kết quả tiết kiệm chi thường xuyên của Viện NCNTTS1 năm 2008-2011 50 Bảng 2.9: Cơ cấu chi viện trợ, liên doanh, liên kết của Viện NCNTTS1 năm 2008-2009 51
Bảng 2.10: Tình hình trích lập các quỹ của Viện NCNTTS1 năm 2008-2011 53
Bảng 2.11: Tình hình sử dụng các quỹ của Viện NCNTTS1 năm 2008-2011 54
Bảng 3.1: Lương cơ bản 76
Bảng 3.2: Lương công việc của khối khoa học và nghiệp vụ 77
Bảng 3.3: Lương của khối phục vụ 79
Bảng 3.4: Phụ cấp trách nhiệm 79
Bảng 3.5 Tóm tắt các nhiệm vụ thường xuyên đề nghị Bộ giao trực tiếp cho Viện 87
Bảng 3.6: Một số đề xuất đề nghị thay đổi 91
Trang 8Danh mục các hình
Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I 24
Sơ đồ quản lý tài chính của Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I 59
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu
Viện nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản I (Viện NCNTTS1) là tổ chức khoa học và công nghệ công lập thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, có chức năng nghiên cứu khoa học và công nghệ thuỷ sản, bao gồm: Nghiên cứu các vấn đề về giống, nuôi trồng, bệnh, môi trường thuỷ sản; bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản nội địa và ven biển; công nghệ sau thu hoạch; nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật và công nghệ mới vào sản xuất Nhằm thực hiện nhiệm vụ của mình, Viện đã thành lập các Trung tâm, Phân Viện nằm rải rác trên một số tỉnh của Miền Bắc Một nguồn tài chính đảm bảo, một sự quản
lý phù hợp, sử dụng có hiệu quả là một vấn đề hết sức quan trọng Hiện tại, cơ chế quản
lý tài chính đối với các tổ chức KHCN nói chung và Viện NCNTTS1 nói riêng còn nhiều bất cập Do vậy hoàn thiện công tác quản lý tài chính ở Viện NCNTTS1 là một vấn đề hết sức cấp bách đặt ra hiện nay Để có thể áp dụng một cách hiệu quả các quy định cho việc quản lý tài chính giữa Viện và các Trung tâm trực thuộc Viện, đồng thời giúp Viện có đủ sức mạnh tài chính vững vàng thực hiện chuyển đổi thành Tổ chức
khoa học và công nghệ tự trang trải kinh phí thì việc "Hoàn thiện công tác quản lý tài chính của Viện nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản I" là rất cần thiết
2 Mục đích và mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về công tác quản lý tài chính trong các tổ chức khoa học và công nghệ công lập
Phản ánh thực trạng về công tác quản lý tài chính tại Viện NCNT thuỷ sản I, rút
ra ưu, nhược điểm và đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý tài chính trong đơn vị
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng: Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là công tác quản lý tài chính tại
Viện nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản I
Phạm vi nghiên cứu:
- Về không gian: Phạm vi nghiên cứu của luận văn là thực tế công tác quản lý tài chính tại Viện nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản I
Trang 10- Về thời gian: Nghiên cứu từ năm 2008 – 2011
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính : Quan sát, điều tra, phân tích tổng hợp số liệu để phân tích thực tiễn công tác quản lý tài chính tại Viện nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản I
5 Ý nghĩa của đề tài
- Ý nghĩa về học thuật: Kết quả nghiên cứu của luận văn đánh giá kết quả quá trình học tập của bản thân Nghiên cứu lý luận, chính sách về tài chính trong tổ chức KHCN công lập
- Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận văn là tài liệu tham khảo cho bản thân trong công việc hàng ngày Có thể làm tài liệu tham khảo cho bạn bè, đồng nghiệp
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, trang mục lục, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục biểu, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận chung về quản lý tài chính của các tổ chức KHCN công
Trang 11Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH Ở CÁC TỔ CHỨC
KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CÔNG LẬP
1.1 Tổng quan về tổ chức khoa học và công nghệ công lập
1.1.1 Khái niệm và cách phân loại tổ chức khoa học và công nghệ
1.1.1.1 Khái niệm
Theo Thông tư liên tịch Bộ Khoa học và Công nghệ - Bộ Tài Chính - Bộ Nội Vụ
số 12/2006/TTLT/BKHCN-BTC-BNV ngày 5 tháng 6 năm 2006 hướng dẫn thực hiện Nghị định số 115/2005/NĐ-CP ngày 5 tháng 9 năm 2005 của Chính Phủ quy định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức khoa học và công nghệ công lập thì tổ chức khoa học và công nghệ công lập được xác định bởi các tiêu thức sau:
Là các đơn vị do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập Hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, dịch vụ khoa học và công nghệ
Nhà nước đầu tư cơ sở vật chất, đảm bảo một phần hoặc toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên để thực hiện các nhiệm vụ chính trị, chuyên môn được giao
Có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng
1.1.1.2 Cách phân loại tổ chức khoa học và công nghệ
1 Tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, tổ chức dịch vụ khoa học và công nghệ tự bảo đảm kinh phí hoạt động thường xuyên, trong hai hình thức sau đây:
a) Tổ chức khoa học và công nghệ tự trang trải kinh phí hoạt động thường xuyên (gọi tắt là tổ chức tự trang trải kinh phí);
b) Doanh nghiệp khoa học và công nghệ
2 Tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, tổ chức dịch vụ khoa học và công nghệ chưa tự bảo đảm kinh phí hoạt động thường xuyên
3 Tổ chức nghiên cứu khoa học hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu chiến lược, chính sách phục vụ quản lý nhà nước được ngân sách nhà nước bảo đảm kinh phí hoạt động thường xuyên theo nhiệm vụ được giao
Trang 121.1.2 Vai trò của tổ chức khoa học và công nghệ trong nền kinh tế quốc dân
Trong thời đại ngày nay, có lẽ không còn ai không nhận thức được rằng khoa học
và công nghệ có vai trò rất quan trọng về nhiều mặt đối với sự phát triển của đất nước Khoa học và công nghệ là cái không thể thiếu được trong đời sống kinh tế – văn hoá của một quốc gia Vai trò này của khoa học và công nghệ càng trở lên đặc biệt quan trọng đối với nước ta đang trên con đường rút ngắn giai đoạn phát triển để sớm trở thành một
xã hội hiện đại Ngay từ khi bắt đầu tiến hành công cuộc đổi mới đất nước, Đảng ta đã xác định khoa học và công nghệ giữ vai trò quan trọng trong sự phát triển lực lượng sản xuất và nâng cao trình độ quản lý, bảo đảm chất lượng và tốc độ phát triển của nền kinh
tế Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước vì mục tiêu dân giàu nước mạnh xã hội công bằng, văn minh, khoa học và công nghệ phải trở thành “quốc sách hàng đầu”
Nước ta đang bước vào một thời kỳ phát triển mới- thời kỳ đẩy mạnh CNH- HĐH Nghị quyết Trung ương hai của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII đã xác định rõ : “CNH- HĐH đất nước phải bằng và dựa vào khoa học và công nghệ”;
“Khoa học và công nghệ phải trở thành nền tảng và động lực cho CNH- HĐH” Chỉ bằng con đường CNH- HĐH, phát triển khoa học và công nghệ mới có thể đưa nước ta
từ nghèo nàn lạc hậu trở thành một nước giàu mạnh văn minh Việc đưa khoa học và công nghệ, trước hết là phổ cập những tri thức khoa học và công nghê cần thiết vào sản xuất và đời sống xã hội là một nhu cầu cấp thiết của xã hội ta hiện nay
Với tầm quan trọng của khoa học công nghệ trong công cuộc phát triển đất nước hiện nay thì vai trò của các tổ chức khoa học và công nghệ trong nền kinh tế quốc dân càng quan trọng hơn Với vai trò là tổ chức thực hiện các chức năng khoa học công nghệ của đất nước từ lĩnh vực nghiên cứu sáng tạo, tiếp nhận chuyển giao công nghệ, cải tiến công nghệ,… trong các ngành, lĩnh vực theo quy định của nhà nước thì các tổ chức khoa học và công nghệ là thành tố chính góp phần nên sự thành công của nền khoa học –
công nghệ nước nhà
Trang 13Trong thời gian qua cơ chế chính sách đối với lĩnh vực khoa học công nghệ đã
có nhiều chuyến biến, từng bước tạo điều kiện cho các tổ chức KHCN nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động
1.1.3 Đặc điểm hoạt động của các tổ chức KHCN công lập
- Căn cứ vào định hướng ưu tiên phát triển khoa học và công nghệ của Nhà nước, nhu cầu của xã hội, nhu cầu của doanh nghiệp, chức năng, nhiệm vụ và lĩnh vực hoạt động của mình, các tổ chức khoa học và công nghệ tự xác định nhiệm vụ khoa học
và công nghệ và biện pháp tổ chức thực hiện
- Căn cứ vào danh mục các nhiệm vụ khoa học và công nghệ do Bộ Khoa học và Công nghệ, các Bộ, ngành và địa phương công bố hàng năm, các tổ chức khoa học và công nghệ tự quyết định việc tham gia tuyển chọn, đấu thầu thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ của Nhà nước và biện pháp tổ chức thực hiện
- Các tổ chức khoa học và công nghệ tự quyết định biện pháp tổ chức thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ do các cơ quan nhà nước giao hoặc đặt hàng, đảm bảo chất lượng và tiến độ theo yêu cầu
- Các tổ chức khoa học và công nghệ được quyền:
+ Ký hợp đồng thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ, dịch vụ khoa học
và công nghệ với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước; hợp tác với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước để thực hiện các nhiệm vụ của tổ chức khoa học và công nghệ
+ Trực tiếp quyết định việc mời chuyên gia, các nhà khoa học nước ngoài vào Việt Nam và cử cán bộ ra nước ngoài công tác
+ Quyết định việc đầu tư phát triển từ vốn vay, vốn huy động các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, từ quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp của tổ chức khoa học
Trang 142 Liên doanh, liên kết sản xuất với các tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước
3 Xuất khẩu, nhập khẩu trực tiếp công nghệ và sản phẩm hàng hóa thuộc lĩnh vực hoạt động chuyên môn của tổ chức khoa học và công nghệ theo quy định của pháp luật
4 Tham gia đấu thầu thực hiện các hợp đồng sản xuất, cung ứng hàng hóa, dịch
vụ phù hợp với lĩnh vực hoạt động chuyên môn của tổ chức khoa học và công nghệ
Do vậy, nguồn tài chính của các tổ chức khoa học và công nghệ không chỉ có từ kinh phí NSNN cấp mà còn từ nguồn liên doanh, liên kết, hoạt động SXKD, dịch vụ khác
- Tổ chức khoa học và công nghệ chịu sự quản lý trực tiếp của cơ quan chủ quản (Bộ, ngành, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố) Đồng thời chịu sự quản lý về mặt chuyên môn của các Bộ, ngành chức năng quản lý Nhà nước về lĩnh vực nghiên cứu của mình Như vậy, hoạt động của các tổ chức khoa học và công nghệ chịu sự quản lý của nhiều cấp quản lý với mối quan hệ đan xen, phức tạp ảnh hưởng đến cơ chế quản lý của đơn
vị
1.2 Công tác quản lý tài chính ở các tổ chức KHCN
1.2.1 Nội dung của công tác quản lý tài chính
1.2.1.1 Khái niệm quản lý tài chính
Quản lý tài chính là một nội dung cụ thể của khoa học quản lý nói chung Quản
lý tài chính là sự tác động có mục đích thông qua các tổ chức, công cụ và phương pháp nhất định nhằm điều chỉnh quá trình tạo lập và sử dụng của các nguồn lực tài chính
Quản lý tài chính có thể khái quát đó là hệ thống các nguyên tắc, luật định, chính sách, chế độ về quản lý tài chính và mối quan hệ tài chính giữa các đơn vị dự toán các cấp với cơ quan chủ quản và cơ quan quản lý Nhà nước
Quản lý tài chính còn là mối quan hệ tài chính theo phân cấp:
+ Giữa Chính phủ (Bộ tài chính, Bộ Kế hoạch và đầu tư) với các Bộ, ngành, các địa phương
+ Giữa Bộ chủ quản, Bộ quản lý ngành với các đơn vị trực thuộc ở trung ương; giữa UBND tỉnh với các đơn vị địa phương
Trang 15+ Giữa các đơn vị sự nghiệp, cơ quan quản lý nhà nước với các bộ phận, đơn vị
dự toán trực thuộc
1.2.1.2 Nguồn tài chính:
Theo điều 7 của NĐ115/2005/NĐ-CP ngày 05/9/2005 - quy định về nguồn tài chính đối với tổ chức khoa học và công nghệ thì phụ thuộc vào chức năng, nhiệm vụ và hoạt động, tổ chức khoa học và công nghệ có thể có các nguồn kinh phí sau đây:
a Kinh phí do ngân sách nhà nước cấp, bao gồm:
- Kinh phí thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ của Nhà nước do các
cơ quan nhà nước giao, đặt hàng trực tiếp hoặc thông qua tuyển chọn, đấu thầu và được cấp theo phương thức khoán trên cơ sở hợp đồng thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ giữa cơ quan nhà nước và tổ chức khoa học và công nghệ
- Kinh phí hoạt động thường xuyên
- Vốn đầu tư xây dựng cơ bản; vốn đối ứng dự án; kinh phí mua sắm trang thiết
bị và sửa chữa lớn tài sản cố định
- Các nguồn kinh phí khác (nếu có)
b Nguồn thu từ các hoạt động sự nghiệp, bao gồm: thu từ phí và lệ phí theo quy định; thu từ hoạt động cung ứng dịch vụ; thu từ hợp đồng nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, hợp đồng chuyển giao công nghệ; thu từ hoạt động sản xuất, kinh doanh; thu sự nghiệp khác (nếu có)
c Nguồn kinh phí khác của tổ chức khoa học và công nghệ, bao gồm: vốn khấu hao tài sản cố định; thu thanh lý tài sản được để lại theo quy định; vốn huy động của các
cá nhân, vốn vay các tổ chức tín dụng; vốn tài trợ, viện trợ, quà biếu, tặng của các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước; các nguồn kinh phí hợp pháp khác theo quy định của pháp luật (nếu có)
1.2.1.3 Các nội dung chi
Trang 16Theo điều 8 của NĐ115/2005/NĐ-CP ngày 05/9/2005 - quy định quyền tự chủ,
tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiêp công lập, việc phân phối và sử dụng nguồn tài chính của các tổ chức khoa học và công nghệ công lập theo các nội dung chi sau:
1) Chi thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ
Áp dụng phương thức khoán chi thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ của Nhà nước (dưới dạng các chương trình, đề tài, dự án khoa học và công nghệ) thuộc
tất cả các lĩnh vực hoạt động khoa học và công nghệ (kể cả nhiệm vụ khoa học và công nghệ thuộc các chương trình mục tiêu quốc gia, nhiệm vụ khoa học và công nghệ giao đột xuất) do các cơ quan nhà nước giao, đặt hàng hoặc thông qua tuyển chọn, đấu thầu Tổ chức khoa học và công nghệ được tự quyết định việc sử dụng kinh phí được khoán để thực hiện nhiệm vụ trên cơ sở đảm bảo yêu cầu về chất lượng và tiến độ thực hiện theo hợp đồng
2) Chi tiền lương
Tổ chức khoa học và công nghệ phải đảm bảo chi trả tiền lương và các khoản trích theo lương cho cán bộ, viên chức và người lao động tối thiểu bằng quy định của Nhà nước về ngạch lương, bậc lương và chức vụ
Khi Nhà nước điều chỉnh mức lương tối thiểu, ngạch, bậc lương và các khoản trích theo lương, tổ chức khoa học và công nghệ phải sử dụng các nguồn kinh phí của đơn vị để trả lương và các khoản trích theo lương cho cán bộ, viên chức và người lao động của đơn vị theo sự điều chỉnh của Nhà nước Đối với các tổ chức nghiên cứu khoa học hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu chiến lược, chính sách phục vụ quản lý nhà nước được ngân sách nhà nước bảo đảm kinh phí hoạt động thường xuyên theo nhiệm vụ được giao, cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền sẽ xem xét việc cấp bổ sung kinh phí đối với từng tổ chức khoa học và công nghệ cụ thể
3) Trích lập quỹ
Hàng năm, sau khi trang trải tất cả các khoản chi phí hợp lý, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với nhà nước theo quy định, trong phần chênh lệch thu lớn hơn chi còn lại
Trang 17(nếu có), tổ chức khoa học và công nghệ được trích lập các quỹ theo quy định của pháp luật Riêng mức kinh phí trích lập Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp tối thiểu phải bằng 30% tổng số chênh lệch thu lớn hơn chi
Việc sử dụng các quỹ do Thủ trưởng tổ chức khoa học và công nghệ quyết định theo quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị
4) Chi thực hiện các hoạt động khác
a) Đối với nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản; vốn đối ứng dự án; kinh phí mua sắm trang thiết bị và sửa chữa lớn tài sản cố định , tổ chức khoa học và công nghệ phải thực hiện theo quy định của Nhà nước về các tiêu chuẩn, định mức và nội dung chi
b) Tổ chức khoa học và công nghệ được tự quyết định việc sử dụng các nguồn kinh phí để chi cho các hoạt động của đơn vị (ngoại trừ một số hoạt động đã có quy định cụ thể như nguồn kinh phí thực hiện nhiệm vụ khoa học công nghệ, kinh phí chi tiền lương, kinh phí chi đầu tư XDCB, kinh phí chi vốn đối ứng, kinh phí mua sắm trang thiết bị và sửa chữa lớn tài sản cố định)
5 Về chi thu nhập tăng thêm
Số dư kinh phí còn lại sau khi đã trừ tất cả các khoản chi và trích lập quỹ theo quy định, tổ chức khoa học và công nghệ được tự quyết định việc sử dụng để chi tăng thêm thu nhập cho cán bộ, viên chức và người lao động theo quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị
1.2.1.4 Đặc điểm quản lý tài chính của các tổ chức KHCN
Quản lý tài chính là một nội dung cụ thể của khoa học quản lý nói chung Quản
lý tài chính là sự tác động có mục đích thông qua các tổ chức, công cụ và phương pháp nhất định nhằm điều chỉnh quá trình tạo lập và sử dụng của các nguồn lực tài chính
Quản lý tài chính có một vị trí đặc biệt quan trọng có tác dụng chi phối đến hiệu quả của các loại hình quản lý khác Thông qua quản lý tài chính để phát huy các chức năng vốn có của tài chính: kiểm tra, giám đốc tài chính của đơn vị nhằm phục vụ cho hoạt động của đơn vị được phát triển
Khác với các đơn vị sự nghiệp đơn thuần, các tổ chức khoa học và công nghệ được quyền:
Trang 18+ Ký hợp đồng thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ, dịch vụ khoa học
và công nghệ với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước; hợp tác với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước để thực hiện các nhiệm vụ của tổ chức khoa học và công nghệ
+ Trực tiếp quyết định việc mời chuyên gia, các nhà khoa học nước ngoài vào Việt Nam và cử cán bộ ra nước ngoài công tác
+ Quyết định việc đầu tư phát triển từ vốn vay, vốn huy động các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, từ quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp của tổ chức khoa học
và công nghệ
+ Sản xuất, kinh doanh hàng hoá, thực hiện các dịch vụ thuộc lĩnh vực hoạt động chuyên môn của tổ chức khoa học và công nghệ và các lĩnh vực khác theo quy định của pháp luật; được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh
+ Liên doanh, liên kết sản xuất với các tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước + Xuất khẩu, nhập khẩu trực tiếp công nghệ và sản phẩm hàng hóa thuộc lĩnh vực hoạt động chuyên môn của tổ chức khoa học và công nghệ theo quy định của pháp luật
+ Tham gia đấu thầu thực hiện các hợp đồng sản xuất, cung ứng hàng hóa, dịch
vụ phù hợp với lĩnh vực hoạt động chuyên môn của tổ chức khoa học và công nghệ
1.2.1.5 Cơ chế quản lý tài chính của các tổ chức KHCN
a) Về nguồn kinh phí: Tùy thuộc vào chức năng, nhiệm vụ và hoạt động, tổ chức KHCN có các nguồn kinh phí sau đây:
- Kinh phí do ngân sách nhà nước cấp để thực hiện các nhiệm vụ KHCN do các
cơ quan nhà nước giao, đặt hàng trực tiếp hoặc thông qua tuyển chọn, đấu thầu và được cấp theo hợp đồng thực hiện nhiệm vụ KHCN giữa cơ quan nhà nước và tổ chức KHCN
- Kinh phí do ngân sách nhà nước cấp cho hoạt động thường xuyên cho các tổ chức KHCN
- Kinh phí do ngân sách nhà nước cấp để đầu tư xây dựng cơ bản; vốn đối ứng
dự án; kinh phí mua sắm trang thiết bị, sửa chữa lớn và xây dựng nhỏ
- Nguồn thu từ các hoạt động sự nghiệp, bao gồm thu từ hoạt động cung ứng dịch vụ; thu từ hợp đồng nghiên cứu khoa học, hợp đồng chuyển giao công nghệ; thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh ;
Trang 19- Nguồn kinh phí khác của tổ chức khoa học và công nghệ, bao gồm: vốn khấu hao tài sản cố định; thu thanh lý tài sản được để lại theo qui định; vốn huy động của các
cá nhân , vốn vay các tổ chức tín dụng, vốn tài trợ, viện trợ, quà biếu tặng của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước ; các nguồn kinh phí hợp pháp khác theo qui định của pháp luật (nếu có)
b) Về sử dụng nguồn kinh phí: Việc sử dụng các nguồn kinh phí của tổ chức KHCN được qui định như sau:
- Về chi thực hiện nhiệm vụ khoa học công nghệ: Áp dụng phương thức khoán chi thực hiện nhiệm vụ KHCN của nhà nước dưới dạng các chương trình, đề tài, dự án KHCN thuộc tất cả các lĩnh vực hoạt động KHCN (kể cả các nhiệm vụ KHCN thuộc các chương trình mục tiêu quốc gia, nhiệm vụ KHCN giao đột xuất) do các cơ quan nhà nước giao, đặt hàng, hoặc thông qua tuyển chọn, đấu thầu Tổ chức KHCN được tự quyết định việc sử dụng kinh phí được khoán để thực hiện nhiệm vụ trên cơ sở đảm bảo yêu cầu về chất lượng và tiến độ thực hiện theo hợp đồng và các qui định hiện hành
- Về chi tiền lương và thu nhập tăng thêm, trích các quỹ và chi thực hiện các hoạt động khác : Phải đảm bảo chi trả tiền lương và các khoản trích theo lương cho cán
bộ, viên chức và người lao động tối thiểu bằng mức quy định của Nhà nước về ngạch lương, bậc lương và phụ cấp chức vụ; tuỳ thuộc vào kết quả hoạt động tài chính trong năm, mức chi trả tiền lương thực tế có thể cao hơn mức quy định của Nhà nước Khi Nhà nước điều chỉnh mức lương tối thiểu, ngạch, bậc lương và các khoản trích theo lương, tổ chức KHCN phải sử dụng các nguồn kinh phí của đơn vị để trả lương và các khoản trích theo lương cho cán bộ, viên chức và người lao động của đơn vị theo chính sách của Nhà nước
c) Ưu đãi về tài chính đối với các tổ chức KHCN chuyển đổi:
- Nguyên tắc ưu đãi về tài chính đối với các tổ chức KHCN chuyển đổi:
Các tổ chức KHCN khi chuyển đổi sang loại hình tổ chức tự trang trải kinh phí hoạt động được quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm và được hưởng những ưu đãi về tài chính như doanh nghiệp mới thành lập và ưu đãi khác theo quy định của Nghị định 115/2005/NĐ-CP đối với hoạt động sản xuất kinh doanh, đồng thời vẫn được hưởng những ưu đãi về tài chính đối với hoạt động KHCN theo các quy định hiện hành
Trang 20- Trong thời gian quá độ chuyển đổi và sau khi chuyển đổi, tổ chức KHCN chuyển đổi có thực hiện hoạt động KHCN, lập báo cáo tài chính, thuyết minh rõ mức tăng trưởng bình quân trong 3 năm của đơn vị, trình cơ quan chủ quản xác nhận và được
cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định hỗ trợ đầu tư phát triển trong phạm vi nguồn vốn đầu tư phát triển giao hàng năm cho Bộ, ngành và địa phương
- Điều kiện để xét hỗ trợ đầu tư phát triển là mức tăng trưởng của đơn vị được tính trên cơ sở mức nộp ngân sách nhà nước và tăng trưởng từ 10%/năm trở lên trong 3 năm liên tục Đối với tổ chức KHCN chuyển đổi, có sản xuất kinh doanh các sản phẩm thuộc lĩnh vực được ưu đãi về thuế, mức nộp ngân sách được tính cả phần thuế được miễn giảm để làm căn cứ tính tốc độ tăng trưởng
- Khoản kinh phí hỗ trợ đầu tư phát triển theo tiêu chí tăng trưởng chỉ được sử dụng để đầu tư cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị nhằm nâng cao năng lực nghiên cứu của tổ chức KHCN
Ngoài kinh phí hỗ trợ đầu tư phát triển được cấp theo tiêu chí tăng trưởng này, tổ chức KHCN chuyển đổi vẫn được hưởng các dự án đầu tư như các tổ chức KHCN khác
1.2.1.6 Công tác kế hoạch tài chính của các tổ chức KHCN
- Căn cứ Luật ngân sách nhà nước số 01/2002/QH11 ngày 16/12/2002; Nghị định
số 60/2003/NĐ-CP ngày 6/6/2003; Thông tư số 59/2003/TT-BTC ngày 23/6/2003 để lập
dự toán NSNN hàng năm:
+ Dự toán ngân sách của các đơn vị sử dụng ngân sách phải phản ảnh đầy đủ các khoản thu, chi NSNN, bảo đảm hoạt động thường xuyên của đơn vị và thực hiện những nhiệm vụ trọng tâm trong từng thời kỳ ở từng lĩnh vực theo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển của Ngành
+ Dự toán ngân sách của các đơn vị sử dụng ngân sách phải đảm bảo tính hiện thực, đúng tiêu chuẩn, chế độ, định mức, đơn giá do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành
- Nội dung lập dự toán NSNN hàng năm
+ Đối với chi thường xuyên: dự toán NSNN được xác định trên cơ sở đánh giá kết quả chi năm trước, biên chế và định mức phân bổ ngân sách theo quy định của cấp
Trang 21có thẩm quyền hoặc số kinh phí được nhà nước giao ổn định hàng năm (đối với đơn vị
sự nghiệp có thu)
+ Đối với các nhiệm vụ chi sử dụng kinh phí từ nguồn vốn vay, viện trợ phải lập
dự toán chi tiết theo từng dự án và tính toán đủ số vốn đối ứng của phía Việt Nam theo cam kết và chế độ quy định
+ Đối với các nhiệm vụ chi thực hiện các chương trình, dự án, đề án, nhiệm vụ chuyên môn, đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước, cấp Bộ, Chương trình mục tiêu quốc gia, chi thực hiện nhiệm vụ nhà nước đặt hàng, nhiệm vụ đặc thù, đơn vị lập dự toán chi NSNN theo nguyên tắc sau:
Đối với nhiệm vụ có định mức kinh tế-kỹ thuật: dự toán được xác định bằng khối lượng nhân đơn giá được cấp có thẩm quyền ban hành
Đối với nhiệm vụ chưa có định mức kinh tế-kỹ thuật: dự toán căn cứ vào nhiệm
vụ, khối lượng công việc cụ thể và chế độ chi tiêu tài chính hiện hành
1.2.1.7 Công tác tổ chức hạch toán kế toán tại các tổ chức KHCN
Căn cứ Luật Ngân sách nhà nước số 01/2002/QH11 ngày 16/12/2002; Luật Kế toán số 03/2003/QH11 ngày 17/6/2003 và Nghị định số 128/2004/NĐ-CP ngày 31/5/2004 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật
Kế toán áp dụng trong lĩnh vực kế toán nhà nước; Bộ Tài Chính đã ban hành Chế độ kế toán hành chính sự nghiệp số 19/2006/QĐ-BTC ngày 30/3/2006
Chế độ kế toán hành chính sự nghiệp, gồm 4 phần:
+ Phần thứ Nhất: Hệ thống Chứng từ kế toán gồm tám quy định về chứng từ kế toán và danh mục các chứng từ kế toán
+ Phần thứ Hai: Hệ thống Tài khoản kế toán
+ Phần thứ Ba: Hệ thống Sổ kế toán và hình thức kế toán
+ Phần thứ Tư: Hệ thống Báo cáo tài chính
1.2.1.8 Công tác đầu tư và quản lý tài sản của tổ chức KHCN
Khác với các đơn vị sự nghiệp công lập chưa tự chủ tài chính, cơ chế quản lý sử dụng tài sản nhà nước tại các tổ chức khoa học và công nghệ công lập tự bảo đảm kinh phí hoạt động thường xuyên được đổi mới cơ bản theo hướng tạo điều kiện cho các đơn
vị chủ động trong việc sử dụng tài sản được giao để thực hiện nhiệm vụ được giao, đồng
Trang 22thời khai thác tối đa công suất của tài sản để nâng cao chất lượng phục vụ công, cải thiện đời sống của cán bộ nhân viên Một số nội dung đổi mới như sau:
Thứ nhất, Điều 30 của Luật quản lý tài sản số 09/2008/QH12 ngày 3/6/2008 quy định: Các đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính được Nhà nước xác định giá trị tài sản để giao cho đơn vị quản lý theo cơ chế giao vốn cho doanh nghiệp
Thứ hai, Điều 31 của Luật quy định: Các đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính có các quyền, nghĩa vụ chung của cơ quan, tổ chức, đơn vị được giao quản lý, sử dụng tài sản nhà nước theo quy định tại Điều 4 và Điều 5 của Luật; đồng thời có các quyền và nghĩa vụ sau:
1) Sử dụng tài sản nhà nước vào mục đích sản xuất, kinh doanh dịch vụ, cho thuê, liên doanh, liên kết theo quy định tại Điều 32 và Điều 33 của Luật;
2) Bảo toàn, phát triển vốn và tài sản nhà nước được giao quản lý, sử dụng;
3) Thực hiện nghĩa vụ tài chính với Nhà nước theo quy định của pháp luật
Việc quản lý, sử dụng tài sản nhà nước vào mục đích sản xuất kinh doanh, dịch
vụ, cho thuê, liên doanh, liên kết tại đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính phải đảm bảo các yêu cầu sau đây:
Yêu cầu thứ nhất là “không ảnh hưởng đến việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ
được giao”
Yêu cầu thứ hai là “sử dụng tài sản đúng mục đích đầu tư, mua sắm” Điều đó có
nghĩa là khi sử dụng tài sản nhà nước vào mục đích kinh doanh, cho thuê, liên doanh, liên kết cũng phải hướng tới mục tiêu đảm bảo cho việc cung cấp dịch vụ công theo chức năng, nhiệm vụ được giao ngày càng tốt hơn
Yêu cầu thứ ba là “phát huy công suất và hiệu quả sử dụng tài sản nhà nước”
Yêu cầu này đảm bảo cho việc khai thác tối đa công suất sử dụng của tài sản nhà nước tại đơn vị, đồng thời khi xem xét, quyết định việc sử dụng tài sản nhà nước vào mục đích cho thuê, sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, liên doanh, liên kết phải tính toán sao cho việc sử dụng tài sản có hiệu quả
Yêu cầu thứ tư là “thực hiện cơ chế thị trường và tuân thủ các quy định về pháp
luật có liên quan” Yêu cầu này quán triệt nguyên tắc thứ tư trong quản lý, sử dụng tài
sản nhà nước đó là việc xác định giá trị tài sản trong quan hệ mua, bán, thuê, cho thuê,
Trang 23liên doanh, liên kết, thanh lý tài sản hoặc trong các giao dịch khác được thực hiện theo
cơ chế thị trường Có nghĩa là việc xác định giá cho thuê tài sản, xác định vốn góp khi liên doanh, liên kết phải theo giá thị trường; tài sản được sử dụng vào mục đích kinh doanh dịch vụ phải được trích khấu hao, hạch toán đầy đủ chi phí để có nguồn tái tạo lại tài sản mới
Thứ ba, Điều 33 của Luật quy định
+ Tiền thu được từ hoạt động sản xuất, kinh doanh dịch vụ, cho thuê tài sản, liên doanh, liên kết phải được hạch toán đầy đủ theo quy định của pháp luật kế toán
1.3 Sự cần thiết phải tăng cường công tác quản lý nguồn tài chính trong tổ chức khoa học và công nghệ công lập
Nguồn tài chính đóng vai trò rất quan trọng trong các tổ chức khoa học và công nghệ công lập Các nguồn thu tài chính trong tổ chức khoa học và công nghệ công lập có cùng mục đích sử dụng là đầu tư cho hoạt động nghiên cứu khoa học Từ các nguồn thu này, các tổ chức khoa học và công nghệ đưa ra các định mức chi hợp lý, các chiến lược định hướng cho sự phát triển của đơn vị mình Do đó quản lý nguồn tài chính có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến quyền tự chủ tài chính, nâng cao thu nhập cho cán bộ công nhân viên trong đơn vị từ việc tăng thu, tiết kiệm chi Ngoài việc nâng cao đời sống cán
bộ công nhân viên, tăng tính hiệu quả của hoạt động, thực hiện nhiệm vụ nhà nước giao còn được sử dụng để bổ sung tạo lập quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp để bổ sung vốn đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm máy móc, trang thiết bị, phương tiện làm việc, chi nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, đầu tư liên doanh, liên kết, trợ giúp hoạt động đào tạo, bồi dưỡng phát triển nguồn nhân lực cho đơn vị Để có thể giữ được
sự ổn định của các nguồn thu, tăng thêm doanh thu và sử dụng hợp lý các khoản thu mà pháp luật đã quy định thì phải quản lý và khai thác nguồn thu tốt Đối với tổ chức khoa học và công nghệ công lập, ngoài nguồn ngân sách nhà nước thì thu từ hoạt động SXKD, liên doanh, liên kết có xu hướng gia tăng, vai trò của nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp đang dần được nâng cao, giữ vị trí quan trọng trong việc thực hiện kế hoạch, nhiệm vụ của tổ chức khoa học và công nghệ công lập Nguồn thu này không những góp phần quan trọng trong việc tăng nguồn tài chính cho đơn vị mà còn có tác động tích cực
Trang 24thay đổi tư duy và cách làm thụ động, trông chờ vào Ngân sách nhà nước như trước kia Vịêc quản lý nguồn tài chính nhằm mục đích:
- Quản lý chặt chẽ các nguồn thu từ ngân sách, từ viện trợ hay từ sản xuất kinh doanh của đơn vị, trên cơ sở đó đánh giá được hiệu quả hoạt động của đơn vị
- Tạo khuôn khổ chi tiêu phù hợp với tình hình tài chính tại đơn vị là cơ sở cho việc hạch toán kế toán tại đơn vị
- Nguồn tài chính của đơn vị được ổn định đảm bảo cho hoạt động của đơn vị Từ
đó đơn vị đưa ra những kế hoạch, định hướng phát triển cho phù hợp với từng giai đoạn của sự phát triển
- Các khoản chi được thực hiện theo đúng kế hoạch, đạt hiệu quả hoạt động cao đồng thời tiết kiệm chi phí Đó là điều kiện để tăng thu nhập cho cán bộ công nhân viên, phát huy tính chủ động, sáng tạo, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao
Như vậy, việc quản lý hiệu quả nguồn tài chính đối với tổ chức khoa học và công nghệ công lập là thực sự cần thiết Nó ảnh hưởng mạnh đến sự phát triển cả về quy mô lẫn chất lượng cung cấp dịch vụ của đơn vị, đồng thời nó còn có tác động đến thu nhập của cán bộ công nhân viên trong đơn vị Quản lý nguồn tài chính trở thành một nhiệm
vụ trọng tâm trong các hoạt động của tổ chức khoa học và công nghệ công lập trong nền kinh tế hiện nay
1.4 Những kinh nghiệm trong quản lý và phát triển của các tổ chức KHCN trong nước và quốc tế
* Kinh nghiệm trong quản lý và phát triển của Viện Nghiên cứu Ngô
Trong khi đa số các tổ chức nghiên cứu khoa học và công nghệ của Nhà nước còn đang rất lúng túng trong việc thực hiện tự chủ tự chịu trách nhiệm theo Nghị định 115/2005-NĐCP thì Viện Nghiên cứu Ngô đã không chỉ tự lực tồn tại mà còn đẩy mạnh sản xuất kinh doanh, vươn lên chiếm tới hơn 40% thị phần ngô giống trên cả nước Nguyên nhân dễ thấy nhất cho thành công trong sản xuất kinh doanh của Viện Nghiên cứu Ngô (Viện Ngô) là bề dày kinh nghiệm Đặc thù kinh doanh vốn luôn có rủi ro, trong khi giai đoạn ban đầu còn thiếu vốn, thiếu kinh nghiệm về các hoạt động đầu tư và thị trường, các quy định và cơ chế quản lý của Nhà nước còn nhiều bất cập, đây là
Trang 25những khó khăn cơ bản mà các tổ chức nghiên cứu khoa học và công nghệ ở Việt Nam lâu nay vẫn gặp phải và không dễ vượt qua Bên cạnh đó, một trở ngại khác cho các tổ chức này khi muốn chuyển sang tự chủ là “đa số các nhà khoa học không thích làm kinh doanh” mà thường chỉ muốn tập trung vào chuyên môn nghiên cứu Trong điều kiện hạn chế như vậy, giải pháp giúp Viện Ngô triển khai được các nghiên cứu vào các hoạt động sản xuất kinh doanh là kết nối với các doanh nghiệp kinh doanh ngô giống trong nước Trong thời kỳ đầu, những mối liên kết và giao dịch giữa Viện Ngô và các doanh nghiệp này chủ yếu qua 1 trong 3 hình thức: doanh nghiệp mua giống bố mẹ và trả tiền bản quyền cho Viện Ngô; doanh nghiệp mua giống bố mẹ của Viện Ngô để sản xuất hạt giống và bán lại cho Viện một phần; doanh nghiệp trực tiếp gia công sản xuất hạt giống cho Viện Ngô Sau này, trải qua quá trình phát triển và thích nghi với thị trường, mối quan hệ giữa Viện Ngô và các doanh nghiệp chuyển sang 2 hình thức chính, đó là doanh nghiệp mua bản quyền giống và công nghệ của Viện, hoặc doanh nghiệp mua quyền sử dụng, khai thác sản phẩm nghiên cứu của Viện và trả dần theo hiệu quả kinh doanh mà sản phẩm đó mang lại Những mối giao dịch và liên kết với các doanh nghiệp như trên
đã giúp Viện Ngô triển khai nhanh được các kết quả nghiên cứu vào thực tế sản xuất mà không phải đầu tư quá nhiều vốn, đồng thời giúp đội ngũ cán bộ, chuyên gia có nhiều cơ hội tích lũy thông tin và kinh nghiệm qua cọ xát thực tế, cả về chuyên môn nghiên cứu lẫn sản xuất, kinh doanh
Sau hơn 3 thập kỷ tổ chức sản xuất kinh doanh, có thể rút ra một số kết luận từ
mô hình của Viện Ngô mà các cơ sở khoa học công nghệ trong nước có thể học tập, đó
là trong giai đoạn khởi đầu khó khăn, khi còn thiếu vốn, thiếu kinh nghiệm tổ chức sản xuất kinh doanh, thì mối liên kết giữa tổ chức NCKH với các doanh nghiệp có thể sẽ rất hữu ích, giúp các bên tận dụng được lợi thế của nhau (nhà nghiên cứu có bí quyết công nghệ, doanh nghiệp có vốn và kinh nghiệm tổ chức sản xuất kinh doanh và đầu mối tiêu thụ trên thị trường), đồng thời cùng chia sẻ được rủi ro Những mối liên kết này sẽ giúp
cơ sở khoa học tập trung được cho chuyên môn nghiên cứu, hoặc cũng có thể tích lũy thêm kinh nghiệm, vốn, những mối quan hệ trong sản xuất kinh doanh, để đến khi gặp điều kiện thuận lợi thích hợp thì có thể tự lực hình thành doanh nghiệp riêng
Trang 26* Chuyển đổi cơ chế hoạt động theo Nghị định 115 tại Viện Khoa học và công nghệ Giao thông vận tải
Viện Khoa học và Công nghệ Giao thông Vận tải là 1 trong 15 đơn vị trong cả nước được Bộ KHCN lựa chọn là đơn vị thí điểm chuyển đổi cơ chế hoạt động theo Nghị định 115 của Chính phủ Sau hơn 2 năm thực hiện chuyển đổi cơ chế, tuy còn nhiều khó khăn và thử thách, song tình hình hoạt động của Viện đã và đang có những chuyển biến đáng mừng với tốc độ tăng trưởng bình quân 10-13%/năm Năm 2009 được xác định là năm bản lề của quá trình chuyển đổi cơ chế, Viện đã hoàn thành (bước I) việc sắp xếp lại tổ chức và hoạt động của các đơn vị trong toàn Viện, theo đó 100% số đơn vị làm công tác chuyên môn đã được hợp thức hóa chuyển thành các viện, trung tâm thuộc Viện, có đủ tư cách pháp nhân để từng bước thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo phân cấp của Viện Để đảm bảo sự nghiệp chuyển đổi cơ chế của Viện thành công, một trong những công việc đầu tiên cần phải nhận thức và xác định rõ, đó là đánh giá một cách khách quan về thực trạng của Viện trong hoạt động KHCN, bao gồm cả những mặt mạnh và mặt yếu, những yếu tố tiềm năng và các điểm hạn chế, từ đó mới có
cơ sở để đề ra các bước đi thích hợp, mục tiêu cụ thể cần phải đạt được cho từng giai đoạn phát triển và tính toán dự báo lộ trình chuyển đổi cho phù hợp với các điều kiện khách quan và chủ quan của đơn vị Để chuẩn bị bước vào giai đoạn mới của sự nghiệp chuyển đổi cơ chế hoạt động nhằm đưa Viện theo kịp và đáp ứng được với những đòi hỏi của cơ chế thị trường ngay sau khi kết thúc giai đoạn chuyển đổi, Viện đã xác định nội dung cơ bản của công tác chuyển đổi cơ chế cần phải đồng thời tiến hành trên 3 mặt,
đó là:
+ Đổi mới phương thức hoạt động KHCN nội bộ: Để xóa dần tình trạng mất cân đối giữa khối lượng công việc đang còn hạn chế với số lượng người tuyển vào dư thừa, Viện đã chủ động tính toán và giao kế hoạch nghiên cứu và phục vụ sản xuất cho các đơn vị trên cơ sở tính theo sản lượng đầu người Khi đó, các đơn vị đông người buộc sẽ phải nỗ lực phấn đấu tìm kiếm nguồn việc để triển khai khối lượng công việc cao hơn, sao cho đảm bảo thu nhập bình quân đầu người của đơn vị phải đạt tối thiểu gấp 2 lần lương cơ bản theo quy định của Viện và mức thu nhập này sẽ được nâng dần lên hàng
Trang 27năm cho phù hợp với tình hình nghiên cứu, sản xuất và tình hình phát triển kinh tế - xã hội Để nắm bắt và chỉ đạo kịp thời tình hình hoạt động KHCN, hàng năm Viện thực hiện phân loại các đơn vị trực thuộc ra 4 loại A, B, C và D (tương ứng với các mức độ đơn vị mạnh, trung bình, yếu và kém) Từ đó, có các biện pháp phù hợp để hỗ trợ cho các đơn vị loại A có điều kiện thuận lợi hơn để ngày càng phát huy thế mạnh và đạt hiệu quả cao hơn trong hoạt động KHCN; giúp đỡ và chấn chỉnh hoạt động của các đơn vị loại B và C, đồng thời xem xét áp dụng các biện pháp cần thiết để điều chỉnh về mặt tổ chức, kiện toàn công tác nhân sự đối với các đơn vị loại D
+ Đổi mới cơ chế quản lý điều hành nội bộ: Để nhanh chóng khắc phục và tiến
tới xóa bỏ lề lối quản lý điều hành cũ (vốn đi kèm với sự trì trệ, lỏng lẻo và thiếu tính chuyên nghiệp), từ giữa năm 2008 đến nay, Viện đã ban hành 25 quy chế nội bộ phù hợp với cơ chế chuyển đổi theo Nghị định 115 Đây là những quy chế quan trọng và thiết thực nhất đối với Viện nhằm phục vụ cho hoạt động của Viện trong quá trình chuyển đổi cơ chế Ví dụ như các quy chế về quản lý hoạt động KHCN, quy chế về quản
lý hoạt động có thu, quy chế đầu tư mua sắm trang thiết bị, quy chế thực hành dân chủ, quy chế chi tiêu nội bộ, quy chế về trật tự nội vụ Bên cạnh đó, Viện tiếp tục duy trì nề nếp quản lý điều hành Viện theo hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2000
+ Đổi mới công tác tổ chức: Để góp phần thúc đẩy sự nghiệp chuyển đổi cơ chế
hoạt động, Viện đã và đang có nhiều hoạt động tích cực trong kiện toàn công tác tổ chức cán bộ để đáp ứng các đòi hỏi của thực tế chuyển đổi Về mặt tổng thể, Viện đã điều chỉnh, bổ sung quy hoạch cán bộ trong giai đoạn trước mắt 2009-2010 và cho giai đoạn tiếp sau 2011-2015 theo hướng dẫn và chỉ đạo của Bộ GTVT Đối với công tác tuyển dụng cán bộ, từ tháng 5.2009, Viện đã thành lập và đưa Hội đồng tuyển dụng cấp Viện vào hoạt động, đảm bảo tính công khai, minh bạch và hiệu quả trong tổ chức tuyển dụng cán bộ Ngoài ra, trong 6 tháng đầu năm 2009 Viện đã triển khai kế hoạch đào tạo, đã cử cán bộ đi học tập ở trong và ngoài nước Đặc biệt quan tâm đào tạo đội ngũ cán bộ trẻ, nhiệt tình, năng động, có tài và có đức, có khả năng tìm kiếm công việc và tổ chức thực hiện, để tạo ra yếu tố quan trọng nhất là con người nhằm đảm bảo cho sự thành công của
sự nghiệp chuyển đổi và phát triển Viện
Trang 28Cái quý nhất và cần phải bảo vệ nhất đối với hệ thống các tổ chức KHCN công lập sau khi chuyển đổi cơ chế, đó chính là việc phải bảo toàn và phát triển được đội ngũ các nhà khoa học có đủ tài, đức để phụng sự có hiệu quả cho sự nghiệp phát triển KHCN nước nhà Mà để có được một người cán bộ trợ lý nghiên cứu thì phải cần tới 3-5 năm, còn đào tạo một cán bộ để có khả năng làm được chủ nhiệm đề tài/dự án cấp bộ thì tối thiểu phải mất 10 năm, để đào tạo ra một chủ nhiệm đề tài/dự án cấp nhà nước thì phải không dưới 15 năm Công tác nghiên cứu khoa học có những đặc thù riêng, do đó để đảm bảo sự nghiệp chuyển đổi cơ chế hoạt động KHCN thành công, thiết nghĩ cũng cần
có thêm một thời gian nữa, tối thiểu là một vài năm, để các cơ quan có trách nhiệm còn
có thêm thời gian và thực tiễn tìm hiểu thực trạng công tác chuyển đổi, từ đó tiếp tục định ra các chính sách hợp lý, hỗ trợ cho các đơn vị chuyển đổi, đồng thời cũng để tạo điều kiện cho các đơn vị chuyển đổi có thêm thời gian để điều chỉnh dần hoạt động của mình, định ra các bước đi thích hợp và phương pháp hợp lý nhất để động viên được các nhà khoa học cống hiến có hiệu quả cho sự nghiệp KHCN, cũng như để tạo ra cơ chế thích hợp nhất nhằm thúc đẩy hoạt động KHCN ngày càng phát triển trong nền kinh tế thị trường
Kinh nghiệm quản lý của Viện Nghề cá và NTTS thuộc Tập đoàn SINTEF
SINTEF là tổ chức nghiên cứu độc lập lớn nhất tại Scandinavia, bao gồm nhiều Viện nghiên cứu trong các lĩnh vực dầu khí, năng lượng, y học, nuôi trồng thủy sản…SINTEF là một tổ chức độc lập phi thương mại Lợi nhuận của các dự án nghiên cứu của được đầu tư cho nghiên cứu mới, mua sắm thiết bị khoa học và phát triển công nghệ Trong quá trình trong năm năm qua, SINTEF đã đầu tư 500 triệu NOK cho các phòng thí nghiệm và thiết bị khoa học
SINTEF sử dụng 2.100 nhân viên đến từ 68 quốc gia khác nhau Doanh thu của SINTEF trong năm 2011 là 2,8 tỷ USD, trong đó khoảng 7% là từ ngân sách nhà nước (Hội đồng nghiên cứu của Nauy), hơn 90% là từ các hợp đồng nghiên cứu khoa học, hợp đồng kinh tế Hàng năm, SINTEF thực hiện hơn 7.000 dự án nghiên cứu cho hơn 2.300 khách hàng Năm 2011, SINTEF đã tham gia thương mại hóa cho tám công nghệ khác nhau, thông qua các thỏa thuận cấp phép và thành lập công ty mới
Trang 29SINTEF hoạt động trong quan hệ đối tác với trường Đại học Khoa học và Công nghệ Na Uy (NTNU) ở Trondheim, và hợp tác với Đại học Oslo Nhân viên của trường đại học Khoa học và Công nghệ Nauy làm việc cho các dự án của SINTEF, trong khi nhiều nhân viên của SINTEF giảng dạy tại trường Đại học Khoa học và Công nghệ Nauy Sự hợp tác này để sử dụng chung cả nguồn nhân lực và trang thiết bị nghiên cứu
Đơn cử cách thức quản lý tài chính của Viện Nghề cá và Nuôi trồng thủy sản thuộc tập đoàn SINTEF là mỗi nhân viên phải có trách nhiệm thu hút nguồn vốn về cho Viện Toàn bộ lệ phí thu được khi một nhân viên đi làm chuyên gia cho tổ chức, dự án khác thì sẽ nộp 100% về cho Viện, còn nhân viên đó chỉ được hưởng tiền công tác phí Chỉ tiêu lợi nhuận của các hợp đồng đạt 30-50% Đánh giá năng lực của nhân viên hàng năm phụ thuộc vào số giờ tạo ra thu nhập Trên cơ sở so sánh giữa chi phí mà Viện chi
ra với doanh thu mà nhân viên mang lại trong năm, nếu chi phí bằng doanh thu sẽ là không đạt Nếu trong 2 năm liên tiếp, một nhân viên được đánh giá là không đạt thì sẽ bị nghỉ việc
Trang 30KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Qua chương mở đầu, luận văn đã trình bày cơ sở lý luận chung về quản lý tài chính ở các tổ chức khoa học công nghệ công lập, cho thấy vai trò tầm quan trọng của quản lý tài chính trong tổ chức khoa học công nghệ Luận văn đã giới thiệu tổng quan về
tổ chức khoa học công nghệ công lập, đưa ra các khái niệm, cách phân loại, vai trò, đặc điểm hoạt động của tổ chức KHCN Đồng thời luận văn nêu được các nội dung của công tác quản lý tài chính, đặc biệt luận văn đã nêu lên được cơ chế quản lý tài chính cho các đơn vị KHCN công lập theo Nghị định 115 của Chính phủ: Về nguồn tài chính,
về sử dụng nguồn kinh phí, ưu đãi về tài chính đối với các tổ chức KHCN thực hiện chuyển đổi Luận văn cũng giới thiệu được công tác kế hoạch tài chính, công tác tổ chức hạch toán kế toán, công tác đầu tư và quản lý tài sản trong các tổ chức KHCN công lập Hơn thế nữa, luận văn đã nêu được những thành công cũng như kinh nghiệm trong chuyển đổi cơ chế hoạt động của một số Viện nghiên cứu trong nước trong các lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp, giao thông vận tải Trên cơ sở đó làm nền tảng cho việc phân tích công tác quản lý tài chính của tổ chức KHCN công lập
Trang 31Chương 2 THỰC TRẠNG VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CỦA VIỆN NGHIÊN
CỨU NUÔI TRỒNG THUỶ SẢN I 2.1 Khái quát về Viện nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản I
2.1.1 Mô hình tổ chức quản lý và chức năng nhiệm vụ của Viện NCNTTS1
Viện NCNTTS1 là tổ chức sự nghiệp khoa học thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Viện được thành lập năm 1963, trụ sở chính tọa lạc tại Phường Đình Bảng, Thị xã Từ Sơn, Tỉnh Bắc Ninh Viện còn bao gồm nhiều trung tâm, phân viện nghiên cứu nằm rải rác tại các tỉnh thuộc Bắc bộ Các chức năng nghiên cứu chủ yếu gồm:
- Xây dựng phương hướng và lập kế hoạch nghiên cứu khoa học công nghệ thủy sản Điều tra môi trường, nguồn lợi thủy sản nội địa và ven biển, các đối tượng thuỷ sản có giá trị kinh tế nhằm xác định tiềm năng và khả năng phát triển nuôi trồng thủy sản các vùng nước
- Đánh giá tác động của việc sử dụng tài nguyên nước lên nguồn lợi thuỷ sản; tổ chức mạng lưới quan trắc, cảnh báo và dự báo môi trường phòng ngừa dịch bệnh thủy sản trong khu vực phục vụ cho công tác quản lý, chỉ đạo sản xuất của Bộ và địa phương
- Tập hợp tuyển chọn và lưu giữ giống thuần, thuần hóa những loài thủy sản mới nhập nội, lai tạo giữa các đối tượng thủy sản có giá trị kinh tế để tạo ra giống mới
có năng suất và hiệu quả
- Nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ trong và ngoài nước, phục
vụ cho nuôi trồng, khai thác, bảo quản, bảo vệ nguồn lợi, chế biến thủy sản nội địa và ven biển phù hợp với yêu cầu địa phương và xuất khẩu
- Liên doanh liên kết cung cấp dịch vụ, tư vấn kỹ thuật, khoa học, công nghệ và các lĩnh vực liên quan tới nuôi trồng thủy sản cho các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước
- Tham gia công tác đào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật, khuyến ngư, tăng cường đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật cho địa phương; Thực hiện hợp tác trong nước và quốc tế về nghiên cứu và chuyển giao công nghệ, tổ chức công tác thông tin khoa học
kỹ thuật phục vụ công tác nghiên cứu khoa học công nghệ và phổ biến cho các cơ sơ sản xuất áp dụng
Trang 322.1.2 Cơ cấu tổ chức quản lý của Viện NCNTTS1
Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I
Mối quan hệ qua lại
Tổng số CBCNV của Viện là 391 người, trong đó có 15 tiến sỹ, 48 thạc sỹ, 182 đại học, 11 cao đẳng, 67 trung cấp và 68 khác được tổng hợp qua bảng số liệu sau:
VIỆN TRƯỞNG
Phòng Tài chính kế toán
Trung tâm chọn giống cá
rô phi Quảng Nam
Trung tâm Nghiên cứu thuỷ sản nước lạnh
Văn phòng
Phòng Sinh học- Thực nghiệm
Phòng Nguồn lợi và khai
Trung tâm Tư vấn thiết kế
và chuyển giao công nghệ TS
Phòng
Di truyền - Chọn giống
Trung tâm sản xuất tôm sạch bệnh
Trung tâm Quốc gia giống hải sản miền Bắc
TTQG giống thuỷ sản nước ngọt miền bắc Phòng Kế hoạch –
Khoa học
Trang 33Bảng 2.1: Thực trạng nhân lực Viện NCNTTS1 đến thời điểm 31/12/2011
Trình độ chuyên môn Trình độ tin
học soạn thảo văn bản trở lên
Trình độ ngoại ngữ Chia theo độ tuổi
50
Từ 51-
Trang 34Qua bảng số liệu trên cho thấy số lượng nhân lực của Viện phong phú, chất lượng nguồn khá cao, đội ngũ có trình độ đại học chiếm tỷ lệ 46,5%, đội ngũ có trình
độ trên đại học chiếm gần 16 %, đội ngũ trung cấp và cao đẳng chiếm 19,9%, đội ngũ
sơ cấp chỉ chiếm 17,3% Điều đó cho thấy chất lượng đội ngũ cán bộ có thể đáp ứng năng lực nghiên cứu khoa học Trong thời gian tới dự kiến số lượng Tiến sĩ, Thạc sĩ sẽ tăng lên khoảng 80 người, chiếm khoảng 20,5%
Bên cạnh trình độ chuyên môn, trình độ ngoại ngữ và tin học cũng khá đồng đều, hầu hết cán bộ viên chức đều có khả năng sử dụng vi tính chương trình soạn thảo văn bản, chiếm 80,5%, tiếng anh có thể giao tiếp được chiếm khoảng 40%, số có khả năng nghe nói đọc viết chiếm 18,5 %, chủ yếu tập trung vào đội ngũ cán bộ nghiên cứu
Ngoài ra, nhìn vào cơ cấu về tuổi ta thấy nguồn nhân lực trẻ, dưới 30 tuổi chiếm 43,5 %; trên 30 tuổi đến dưới 50 chiếm 46,6 % Với độ tuổi đó thì yếu tố ổn định, lâu dài luôn được duy trì, đáp ứng được nhu cầu của ngành, yêu cầu hiện đại hóa công nghiệp hóa của đất nước
Tuy nhiên, chất lượng, số lượng nguồn nhân lực cần phải tập trung hơn nữa, tăng cường số lượng Tiến sĩ và Thạc sĩ, tổ chức đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ để giảm bớt số lượng đội ngũ lao động có trình độ sơ cấp để tăng cường năng lực chuyên môn, đáp ứng chiến lược phát triển nguồn nhân lực của Viện
2.2 Thực trạng công tác quản lý tài chính tại Viện NCNTTS1
2.2.1 Các văn bản pháp quy chính liên quan đến công tác quản lý tài chính của Viện NCNTTS1
- Nghị định số 115/2005/NĐ-CP ngày 05/9/2005 quy định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức khoa học và công nghệ công lập;
- Thông tư số 12/2006/TTLT/ BKHCN-BTC-BNV ngày 05/06/2006 của Bộ Khoa học công nghệ - Bộ Tài chính – Bộ nội vụ hướng dẫn thực hiện Nghị định số
115 của Chính phủ;
- Nghị định số 96/2010/NĐ-CP ngày 20/9/2010 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 115/2005/NĐ-CP ngày 05/9/2005 quy định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức khoa học và công nghệ công lập;
Trang 35Ngoài ra, đối với Viện nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản I, sau một thời gian thực hiện thí điểm theo NĐ 115, ngày 30/7/2007, Bộ trưởng Bộ Thuỷ Sản đã ban hành Quyết định số 1042/QĐ-BTS về việc phê duyệt đề án chuyển đổi Viện nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản I sang hoạt động theo cơ chế tự trang trải kinh phí theo quy định tại Nghị định 115/2005/NĐ-CP của Chính phủ Ngày 24/10/2008, Bộ truởng Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành Quyết định 3281/QĐ-BNN-KHCN về việc giao các tổ chức khoa học và công nghệ công lập trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo Nghị định số 115/2005/NĐ-CP ngày 5/9/2005 của Chính phủ
Có thể nói, các văn bản trên đã tạo nên hành lang pháp lý quan trọng để Viện NCNTTS1 đổi mới cơ chế quản lý tài chính, thực hiện đầy đủ quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm Quản lý, sử dụng hiệu quả tài sản, nguồn nhân lực để phát triển và nâng cao chất lượng hoạt động cung cấp dịch vụ ngày một tốt hơn
Với cơ chế cởi mở, thông thoáng hơn đã tạo điều kiện cho Viện NCNTTS1 được tự chủ trong việc huy động các nguồn vốn đầu tư tăng cường cơ sở vật chất, đổi mới trang thiết bị, phát triển hoạt động sự nghiệp; Vay vốn các tổ chức tín dụng, huy động vốn từ các cán bộ viên chức trong đơn vị; từ các nhà đầu tư thông qua các hoạt động liên doanh, liên kết, do đó cơ sở vật chất của Viện được tăng cường, tạo điều kiện thuận lợi cho Viện mở rộng các hoạt động nghiên cứu, sản xuất dịch vụ phù hợp với chức năng nhiệm vụ được giao
Thực hiện theo hướng dẫn của Bộ, Viện NCNTTS1 đã ban hành quy chế chi tiêu nội bộ vào tháng 3/2007 và có sửa đổi bổ sung hàng năm Quy chế chi tiêu nội bộ được xây dựng và thảo luận công khai tại các phòng ban, đơn vị trực thuộc Viện, được báo cáo và thông qua tại Hội nghị cán bộ viên chức bằng phương thức bỏ phiếu kín với ít nhất 2/3 số đại biểu chính thức tán thành Sau khi có quy chế chi tiêu nội bộ, Viện đã nộp Lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và PTNT để báo cáo và Kho bạc Nhà nước Từ Sơn để làm căn cứ kiểm soát chi Qui chế chi tiêu của Viện được xây dựng dựa trên các văn bản pháp quy của nhà nước và đã thể hiện khá rõ ràng, đầy đủ về các mặt quản
lý tài chính, quản lý kinh tế, nhân lực, lao động
2.2.2 Thực trạng các nguồn thu của Viện NCNTTS1
2.2.2.1 Các nguồn thu của Viện NCNTTS1
Trang 36Nhóm 1 Kinh phí Ngân sách nhà nước bao gồm:
- Kinh phí thường xuyên
- Kinh phí đề tài, dự án cấp Nhà nước, cấp Bộ, cấp Cơ sở, cấp Tỉnh, kinh phí
đề tài, dự án điều tra cơ bản, thiết kế quy hoạch, kinh phí thẩm định dự án, nhiệm vụ môi trường, đào tạo
- Kinh phí các đề tài nhánh của các đề tài kinh phí Ngân sách nhà nước
- Vốn đối ứng các dự án quốc tế
- Kinh phí mua sắm trang thiết bị và sửa chữa lớn TSCĐ, đầu tư XDCB
Nhóm 2 Kinh phí các dự án ODA, NGO, các hợp đồng nhánh, hợp đồng phụ
của các dự án ODA, NGO
Nhóm 3 Các dự án, hợp đồng hợp tác nghiên cứu, liên doanh, liên kết với
nước ngoài do Viện, các đơn vị trực thuộc Viện trực tiếp ký kết
Nhóm 4 Nguồn thu khác: Kinh phí từ hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ;
Vốn khấu hao TSCĐ; Thu thanh lý TSCĐ được để lại theo quy định; Vốn huy động của các cá nhân; Vốn vay của các tổ chức tín dụng; Các nguồn tài chính hợp pháp khác
2.2.2.2 Cơ cấu các nguồn thu của Viện NCNTTS1
Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I trải qua một quá trình xây dựng và phát triển đến nay đã là một Viện nghiên cứu đa chức năng về lĩnh vực nghiên cứu – khuyến ngư – đào tạo trong nuôi trồng và bảo vệ nguồn lợi thủy sản vì vậy nhu cầu về tài chính rất lớn Viện đã nhận được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và các Bộ, Ngành, việc đầu tư cũng được tăng lên Hàng năm, ngân sách nhà nước cấp cho Viện theo chức năng, nhiệm vụ được giao và các đề tài dự án nghiên cứu khoa học, các chương trình mục tiêu, nhiệm vụ đột xuất Đây là nguồn kinh phí chủ yếu của Viện Bên cạnh đó, Viện đã chủ động quan hệ hợp tác với các đối tác nước ngoài ký kết các
dự án tài trợ, liên doanh liên kết để bổ sung thêm nguồn vốn cho Viện trong khi ngân sách nhà nước còn hạn hẹp
Trang 37Bảng 2.2: Nguồn tài chính của Viện NCNTTS1 năm 2008 - 2011
2 Nguồn Viện trợ, liên doanh liên kết 23,445 39% 16,311 29% 12,385 21% 14,772 19%
Tăng giảm qua các năm (năm sau so với năm trước) -7,134 -30% -3,926 -24% 2,387 19%
Tăng giảm qua các năm (năm sau so với năm trước) 12,998 140% 2,136 15% 1,239 8%
100
%
Tăng giảm qua các năm (năm sau so với năm trước) -3,824 -9% 2,754 5% 18,202 31%
(Nguồn: Báo cáo quyết toán tài chính Viện NCNTTS1 từ năm 2008 – 2011)
Trang 38Qua bảng trên ta thấy, các nguồn thu của Viện NCNTTS1 có sự tăng, giảm biến động qua các năm Nguồn tài chính năm 2009 giảm 3.824 triệu đồng (giảm 9%) so với năm 2008 trong đó nguồn ngân sách nhà nước giảm 9.688 triệu đồng (giảm 30%); nguồn kinh phí viện trợ, liên doanh liên kết giảm 7.134 triệu đồng (giảm 30%) so với năm 2008 Ngược lại, nguồn kinh phí từ các hoạt động SXDV lại tăng đáng kể, tăng 12.998 triệu đồng (tăng 140%) so với năm 2008 Nguồn tài chính năm 2010 tăng 2.754 triệu đồng (tăng 5%) so với năm 2009 Trong đó nguồn kinh phí ngân sách nhà nước cấp tăng 4.544 triệu đồng (tăng 17,4%); Nguồn viện trợ, liên doanh liên kết vẫn giảm 3.926 triệu đồng (giảm 24%) so với năm 2009 Nguồn thu từ các hoạt động SXKD vẫn tiếp tục tăng, tăng 2.136 triệu đồng ( tăng 15%) so với năm 2009 Nguồn tài chính năm
2011 tăng 18.202 triệu đồng (tăng 31%) so với năm 2010 Trong đó nguồn kinh phí ngân sách nhà nước cấp tăng 14.576 triệu đồng, tương ứng 47,6%; Nguồn kinh phí viện trợ, liên doanh liên kết tăng 2.387 triệu đồng, tương ứng 19%; Nguồn kinh phí từ các hoạt động SXKD tăng 1.239 triệu đồng, tương ứng 8% so với năm 2010
Trong cơ cấu nguồn tài chính, nguồn ngân sách nhà nước chiếm tỷ trọng trung bình 54% trong tổng số nguồn kinh phí của Viện, nó giữ vai trò quan trọng cho các hoạt động nghiên cứu và đầu tư xây dựng cơ bản, đầu tư trang thiết bị thí nghiệm, xây dựng các trung tâm nghiên cứu, thực nghiệm mới…Trước yêu cầu của việc nâng cao chất lượng nghiên cứu, tạo giống, lãnh đạo Viện đã xây dựng nhiều dự án xây dựng cơ
sở vật chất để Viện và các phân viện có được những trung tâm nghiên cứu thực nghiệm hiệu quả đạt chuẩn và đáp ứng tốt nhất nhu cầu về các giống thủy sản trong nước hiện nay
Nguồn kinh phí viện trợ, liên doanh, liên kết chiếm tỷ trọng trung bình 27% tổng số nguồn kinh phí của Viện, có thể nói đây là sự nỗ lực vô cùng của Ban Lãnh đạo Viện Ban lãnh đạo Viện đã không ngừng cố gắng tìm tòi, hợp tác với các đối tác nước ngoài để ký kết dự án, tìm nguồn về cho Viện hoạt động
Ngoài hai nguồn tài chính quan trọng trên thì nguồn kinh phí hoạt động SXKD cũng là một nguồn quan trọng Nguồn thu này đã không ngừng gia tăng từ năm 2008 đến năm 2011 Tỷ trọng nguồn thu này trong cơ cấu nguồn thu của Viện hiện nay vẫn còn thấp (dưới 20%) Đây là một trong những nguồn thu quan trọng khi Viện thực hiện cơ chế tự chủ tài chính theo Nghị định 115 của Chính Phủ Do vậy, Viện cũng
Trang 39cần có những chính sách mở rộng hoạt động SXKD để tăng khoản thu này trong các năm tới
* Nguồn ngân sách nhà nước cấp
Nguồn ngân sách nhà nước cấp luôn là nguồn vốn quan trọng nhất đảm bảo cho
sự hoạt động và phát triển của tổ chức khoa học và công nghệ Trong thời gian tới, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, chiến lược phát triển ngành thủy sản cũng đặt ra mục tiêu tăng cường nguồn tài chính cho hoạt động nghiên cứu các đề tài khoa học về thủy sản, nâng cao tỷ lệ chi ngân sách nhà nước cho phát triển ngành thủy sản, rút ngắn khoảng cách tụt hậu so với các nước trong khu vực
Trong xu hướng chi cho sự nghiệp nghiên cứu khoa học công nghệ thủy sản, nguồn ngân sách nhà nước cấp cho Viện dựa vào dự toán các đề tài nghiên cứu khoa học đã được duyệt, kinh phí hoạt động thường xuyên tương ứng với chức năng, nhiệm
vụ được giao và kinh phí đầu tư xây dựng cơ bản của các dự án, được thể hiện thông qua bảng số liệu sau:
Trang 40Bảng 2.3: Nguồn ngân sách nhà nước cấp của Viện NCNTTS1 năm 2008-2011
Đơn vị : triệu đồng
Số tiền Tỷ lệ % Số tiền Tỷ lệ % Số tiền Tỷ lệ % Số tiền Tỷ lệ %
1
Kinh phí thực hiện các nhiệm vụ KHCN 12,252 34% 14,011 54% 13,416 44% 23,043 51%
2
Kinh phí cấp cho hoạt động thường xuyên 5,136 14% 5,632 22% 5,735 19% 6,275 14%
3
(Nguồn: Báo cáo quyết toán tài chính Viện NCNTTS1 từ năm 2008 – 2011)