Ý kiến đánh giá của doanh nghiệp và cán bộ công chức hải quan về ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý nhà nước về hải quan nói chung và hoạt động gia công xuất khẩu nói ri
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
Trang 3Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được
cảm ơn và các thông tin đã được trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn
gốc, các số liệu, kết quả là trung thực và chưa từng được công bố trong các công trình
nghiên cứu khác
Nghệ An, ngày tháng 10 năm 2014
Người cam đoan
Văn Đình Thành
Trang 4Thầy giáo T.S Lê Kim Long - Phó Trưởng khoa kinh tế Đại học Nha Trang, là người
trực tiếp hướng dẫn khoa học; Thầy đã dày công giúp đỡ Tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn tất luận văn thạc sĩ
Xin chân thành cám ơn đến Lãnh đạo, cán bộ công chức Cục hải quan Nghệ
An, Chi cục Hải quan Vinh, Chi cục hải quan cửa khẩu Cảng Nghệ An, Chi cục hải quan cửa khẩu Quốc tế Nậm Cắn, Chi cục Hải quan cửa khẩu Thanh Thủy, Chi cục kiểm tra sau thông quan, các phòng tham mưu và các doanh nghiệp đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho Tôi hoàn thành luận văn này
Mặc dù với sự nổ lực cố gắng của bản thân, luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Tôi mong nhận được sự góp ý chân thành của quý Thầy, quý Cô, đồng nghiệp và bạn bè để luận văn được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cám ơn!
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG viii
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HẢI QUAN ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG GIA CÔNG XUẤT KHẨU 5
1.1 Tổng quan về hoạt động gia công của doanh nghiệp 5
1.1.1 Khái niệm về gia công 5
1.1.2 Vai trò của hoạt động gia công đối với sự phát triển về kinh tế của nước ta hiện nay 8
1.2 Nội dung và quy trình quản lý của hải quan đối với hoạt động gia công xuất khẩu của các doanh nghiệp 11
1.2.2 Nội dung quản lý của hải quan đối với hoạt động gia công xuất khẩu của các doanh nghiệp 12
1.2.3 Quy trình quản lý của Hải quan đối với hoạt động GC xuất khẩu 16
1.3 Các nhân tố tác động đến công tác quản lý của hải quan đối với hoạt động gia công xuất khẩu 18
1.3.1 Môi trường pháp lý 18
1.3.2 Môi trường kinh doanh quốc tế 20
1.3.3 Năng lực của cơ quan quản lý 20
1.4 Tính tất yếu khách quan của việc thúc đẩy quản lý của hải quan đối với hoạt động gia công xuất khẩu hiện nay 21
1.4.1 Xuất phát từ yêu cầu hội nhập quốc tế 21
1.4.2 Xuất phát từ thực hiện chiến lược phát triển kinh tế hướng về xuất khẩu của Đảng và Nhà nước 22
1.4.3 Xuất phát từ nhu cầu nâng cao hiệu quả quản lý của hải quan đối với hoạt động gia công xuất khẩu 24
1.4.4 Xuất phát từ những bất cập hạn chế của pháp luật quản lý nhà nước về hải quan đối với hoạt động gia công xuất khẩu hiện nay 25
Trang 61.5 Kinh nghiệm trong và ngoài nước về quản lý hải quan đối với hoạt động gia công
xuất khẩu 26
1.5.1 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về hải quan đối với hoạt động gia công hàng hóa xuất khẩu của Hải quan Thanh Hóa 26
1.5.2 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về hải quan đối với hoạt động gia công hàng hóa xuất khẩu của Hải quan Trung Quốc 28
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIA CÔNG XUẤT KHẨU CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TẠI CỤC HẢI QUAN NGHỆ AN 32
2.1 Đặc điểm của Cục Hải quan Nghệ An 32
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 32
2.1.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy Cục Hải quan Nghệ An 35
2.1.3 Tổ chức hoạt động của Cục Hải quan Nghệ An 38
2.1.4 Tình hình quản lý chung 39
2.2 Thực trạng công tác quản lý hoạt động gia công xuất khẩu tại Cục Hải quan Nghệ An 43
2.2.1 Tình hình quản lý hoạt động gia công xuất khẩu tại Cục Hải quan Nghệ An 43 2.2.1.1 Ứng dụng CNTT trong quản lý đăng ký hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu của hợp đồng gia công xuất khẩu 44
2.2.1.2 Ứng dụng CNTT trong thanh khoản hợp đồng gia công xuất khẩu 45
2.2.1.3 Quản lý đối với hoạt động gia công có thời hạn trên 01 năm 48
2.2.1.4 Kết quả đạt được của công tác quản lý hoạt động gia công xuất khẩu tại Cục hải quan Nghệ An 48
2.2.2 Những khó khăn, vướng mắc trong quản lý nhà nước về hải quan đối với hoạt động gia công xuất khẩu 53
2.2.2.1 Đối với quản lý định mức nguyên vật liệu gia công xuất khẩu 53
2.2.2.2 Đối với quản lý nguyên phụ liệu trong nước cung ứng cho hợp đồng gia công xuất khẩu 54
2.2.2.3 Đối với quản lý máy móc, thiết bị, phế liệu, sản phẩm hỏng tiêu huỷ tại thị trường Việt Nam 55
2.2.2.4 Đối với quản lý các doanh nghiệp nội địa gia công cho các doanh nghiệp chế xuất 56
Trang 7tại Cục hải quan Nghệ An 56
2.2.3.1 Các hình thức gian lận 56
2.2.3.2 Các hạn chế trong quản lý gian lận 59
2.3 Đánh giá của doanh nghiệp và cán bộ công chức hải quan về công tác quản lý hoạt động gia công xuất khẩu tại Cục hải quan Nghệ An 62
2.3.1 Ý kiến đánh giá của doanh nghiệp và cán bộ công chức hải quan về thời gian thông quan hàng hoá 63
2.3.2 Ý kiến đánh giá của doanh nghiệp và cán bộ công chức hải quan về thủ tục hải quan nói chung và quản lý hoạt động gia công xuất khẩu nói riêng 67
2.3.3 Ý kiến đánh giá của doanh nghiệp và cán bộ công chức hải quan về kỷ năng, chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ công chức hải quan 71
2.3.4 Ý kiến đánh giá của doanh nghiệp và cán bộ công chức hải quan về công tác tuyên truyền, hỗ trợ và cung cấp thông tin cho người khai hải quan, người làm thủ tục thanh khoản hàng hoá gia công xuất khẩu 74
2.3.5 Ý kiến đánh giá của doanh nghiệp và cán bộ công chức hải quan về ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý nhà nước về hải quan nói chung và hoạt động gia công xuất khẩu nói riêng 78
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIA CÔNG XUẤT KHẨU CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TẠI CỤC HẢI QUAN NGHỆ AN 81
3.1 Quan điểm và mục tiêu phát triển của ngành hải quan đến năm 2020 81
3.1.1 Quan điểm phát triển 81
3.1.2 Mục tiêu phát triển 81
3.2 Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý hoạt động gia công xuất khẩu của các doanh nghiệp tại Cục hải quan Nghệ An 83
3.2.1 Nâng cao hiệu quả ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động quản lý của hải quan 83
3.2.2 Đẩy mạnh cải cách thủ tục hải quan 84
3.2.3 Nâng cao năng lực, trình độ và tăng cường công tác đào tạo cho đội ngũ cán bộ, lãnh đạo tại Cục hải quan Nghệ An 85
Trang 8những sơ hở trong các quy định pháp luật 87
3.2.5 Nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền, hỗ trợ, cung cấp thông tin cho người khai hải quan 89
3.2.6 Nâng cao chất lượng công tác quản lý rủi ro trong nghiệp vụ hải quan 91
3.2.7 Tăng cường công tác kiểm tra sau thông quan 92
3.2.8 Tăng cường sự phối hợp giữa các ngành, các cấp trong việc tổ chức kiểm tra, giám sát đối với các hoạt động gian lận thương mại 93
PHẦN KẾT LUẬN 94
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
PHỤ LỤC 1 101
PHỤ LỤC 2 103
PHỤ LỤC 3 107
Trang 9DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1 CBCC : Cán bộ công chức
2 CNTT : Công nghệ thông tin
3 GCXK : Gia công xuất khẩu
4 HQNA : Hải quan Nghệ An
5 KCN : Khu công nghiệp
6 KTSTQ : Kiểm tra sau thông quan
7 NGC : Nhập gia công
8 NSXXK : Nhập sản xuất xuất khẩu
9 TCHQ : Tổng cục Hải quan
10 VAT : Thuế giá trị gia tăng
11 VCIS : Hệ thống thông tin tình báo Hải quan Việt Nam
12 VNACCS: Hệ thống thông quan hàng hóa tự động
13 WTO : Tổ chức thương mại Thế giới
Trang 11Ở Việt Nam hầu hết các doanh nghiệp tham gia hoạt động gia công quốc tế với
tư cách là bên nhận gia công cho các doanh nghiệp nước ngoài nên hoạt động gia công quốc tế thường được gọi là gia công xuất khẩu Vì vậy gia công quốc tế thường được hiểu là một hành vi thương mại theo đó chủ hàng nước ngoài-bên đặt gia công giao cho doanh nghiệp Việt Nam với tư cách là bên nhận gia công nguyên vật liệu, bán thành phẩm, vật tư, công nghệ để sản xuất, lắp ráp, chế biến ra sản phẩm mới hoặc bán thành phẩm theo yêu cầu của bên đặt gia công, sau đó xuất trả chủ hàng nước ngoài hoặc bên nước ngoài khác do bên đặt gia công chỉ định và nhận khoản thù lao theo thoả thuận giữa các bên Như vậy, về bản chất gia công hàng hoá quốc tế là một hình thức xuất nhập khẩu hàng hoá Đồng thời, những tồn tại, vướng mắc trong khi thực hiện chế độ quản lý Nhà nước về hải quan đối với hoạt động gia công xuất khẩu
đã ít nhiều gây cản trở cho sự phát triển của phương thức kinh doanh này ở Việt Nam, tạo sự sơ hở cho một số doanh nghiệp lợi dụng để gian lận thương mại, gây thất thu cho ngân sách Nhà nước và ảnh hưởng đến uy tín của doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường quốc tế
Trong xu thế phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế, ngành Hải quan Việt Nam đang thực hiện những sứ mệnh quan trọng của mình nhằm góp phần tạo thuận lợi cho
Trang 12thương mại, thu hút đầu tư nước ngoài, đảm bảo nguồn thu cho ngân sách và bảo vệ an ninh quốc gia và cộng đồng Cục Hải quan Nghệ An thực hiện chức năng quản lý nhà nước về hải quan trên địa bàn tỉnh trong đó quản lý hoạt động gia công xuất khẩu là một trong những chức năng, nhiệm vụ trọng tâm của đơn vị trong khoảng 10 năm trở lại đây với sự mở cửa nền kinh tế, các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư nhiều hơn vào Việt Nam Hiện tại đang có 162 doanh nghiệp có hoạt động gia công xuất khẩu, chiếm 24,4% trên tổng số doanh nghiệp có hoạt động xuất nhập khẩu làm thủ tục tại Cục Hải quan Nghệ An Trong quá trình thực thi công việc, CBCC cục hải quan Nghệ An vẫn phát hiện có nhiều vi phạm của doanh nghiệp trong hoạt động gia công xuất khẩu, điển hình như : Xuất khống hàng hóa; Gian lận về định mức nguyên vật liệu sản xuất hàng xuất khẩu; Thay đổi chủng loại nguyên liệu nhập khẩu có giá trị cao bằng loại nguyên liệu sản xuất trong nước có giá trị thấp
Là một người trực tiếp làm công tác này tại Cục Hải quan Nghệ An, vì vậy, làm thế nào để hoàn thiện công tác quản lý các doanh nghiệp gia công xuất khẩu nhằm tạo ra sân chơi bình đẳng, đúng pháp luật cho các doanh nghiệp và tạo ra công ăn việc làm, thu nhập cho người dân cũng như tỉnh Nghệ An là câu hỏi thường trực đối với tôi
Vì vậy, tác giả đã quyết định lựa chọn hiện đề tài: “ Hoàn thiện công tác quản lý các
doanh nghiệp gia công xuất khẩu tại Cục Hải quan Nghệ An” làm chủ đề cho luận
văn thạc sỹ của mình
Cho đến nay, đã có một số nghiên cứu tiêu biểu về chủ đề này như Luận văn
thạc sỹ “Nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động gia công xuất khẩu tại Cục
Hải quan Thanh Hóa” hay luận văn thạc sỹ “Quản lý nhà nước về Hải quan đối với hoạt động gia công quốc tế tại Việt Nam” Tuy nhiên, hiện vẫn chưa có một nghiên
cứu nào về chủ đề này tại Cục Hải quan Nghệ An
2 Mục tiêu của nghiên cứu:
- Hệ thống hoá và góp phần bổ sung làm sáng tỏ những vấn đề lý luận, khái quát về quản lý hải quan đối với hoạt động gia công xuất khẩu;
- Phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý các doanh nghiệp gia công xuất khẩu tại Cục hải quan Nghệ An giai đoạn 2009-2013;
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý các doanh nghiệp gia công xuất khẩu tại Cục Hải quan Nghệ An
Trang 133 Phương pháp nghiên cứu
3.1 Phương pháp thu thập số liệu
- Số liệu thứ cấp cần thiết phục vụ cho đề tài được thu thập từ các nguồn: Cục hải quan Nghệ An, các Chi cục thuộc Cục hải quan Nghệ An, Cục thống kê và báo cáo kinh tế- xã hội hàng năm của tỉnh Nghệ An… Ngoài ra, luận văn còn sử dụng số liệu của các công trình nghiên cứu khoa học của nhiều tác giả về lĩnh vực mà đề tài quan tâm
- Số liệu sơ cấp được thu thập thông qua phiếu điều tra, khảo sát theo mẫu chuẩn bị sẵn Phiếu điều tra được thực hiện dựa trên số lượng các bộ công chức hải quan và các doanh nghiệp hoạt động xuất nhập khẩu hàng gia công qua các Chi cục thuộc Cục Hải quan Nghệ An nhằm khảo sát sự hài lòng của người khai hải quan về chính sách pháp luật và công tác quản lý nhà nước về hải quan đối với hoạt động gia công xuất khẩu
3.3 Phương pháp chuyên gia
Trong quá trình xây dựng hệ thống các chỉ tiêu để đánh giá mức độ hài lòng về công tác quản lý các doanh nghiệp gia công xuất khẩu tại Cục Hải quan Nghệ An tác giả còn sử dụng phương pháp chuyên gia
4 Tổng quan nghiên cứu của đề tài
Vấn đề nghiên cứu quản lý nhà nước về loại hình Gia công xuất khẩu cũng
đã có những đề tài nghiên cứu như đề tài :
- Đề tài thạc sỹ : “Nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động gia công xuất
khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Thanh Hóa” của tác giả Hoàng Ngọc Duyên
- Đề tài thạc sỹ : “Quản lý nhà nước về Hải quan đối với hoạt động gia công
quốc tế tại Việt Nam” của tác giả Vũ Thị Hạnh
Trang 14Tuy nhiên, các đề tài trên mới chỉ đi sâu vào phân tích khía cạnh hoàn thiện
về quản lý vĩ mô hoặc chỉ nghiên cứu khái quát, chưa đi sâu vào nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện và được tiếp cận một cách có hệ thống từ cơ sở lý luận đến thực tiễn, để từ đó đưa ra các giải pháp phù hợp, có tính thực tiễn để áp dụng nhằm hoàn thiện công tác quản lý hoạt động gia công xuất khẩu của các doanh nghiệp tại Cục Hải quan tỉnh, thành phố nói riêng và của ngành Hải quan nói chung
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu là thực trạng công tác quản lý hoạt động gia công xuất khẩu của các doanh nghiệp tại Cục Hải quan Nghệ An, các văn bản pháp luật quy định
về gia công xuất khẩu ở Việt Nam hiện nay và công tác quản lý các doanh nghiệp gia công xuất khẩu của Cục hải quan Nghệ An
- Phạm vi của luận văn: Chỉ nghiên cứu chủ yếu các doanh nghiệp gia công xuất khẩu trên địa bàn tỉnh do Cục Hải quan Nghệ An quản lý và các văn bản pháp luật về gia công của các doanh nghiệp Việt Nam cho thương nhân nước ngoài được gọi tắt là ‘‘gia công xuất khẩu’’, luận văn không nghiên cứu các văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động thuê thương nhân nước ngoài gia công hàng hoá cho các doanh nghiệp Việt Nam
- Thời gian: Phân tích, đánh giá thực trạng giai đoạn 2009-2013 và kiến nghị một số giải pháp có ý nghĩa đến năm 2020
6 Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được bố cục thành 3 chương như sau:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hải quan đối với hoạt động gia công xuất khẩu
- Chương 2: Thực trạng công tác quản lý các doanh nghiệp gia công xuất khẩu tại Cục Hải quan Nghệ An
- Chương 3: Một số biện pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý các doanh nghiệp gia công xuất khẩu tại Cục hải quan Nghệ An
Trang 15CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HẢI QUAN ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG GIA CÔNG XUẤT KHẨU 1.1 Tổng quan về hoạt động gia công của doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm về gia công
Trước khi đề cập cụ thể đến khái niệm chính xác về gia công, chúng ta nên có một cái nhìn tổng quát về nguồn gốc dẫn đến sự hình thành phương thức sản xuất này
Theo Đại từ điển Tiếng Việt do Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin in và phát
hàng năm 1999, “gia công hàng hoá là việc bỏ sức lao động để làm ra một thành
phẩm mới hay thực hiện một số công đoạn hay một số khâu trong quá trình sản xuất, chế tạo ra một sản phẩm nào đó”[7]
Tuy nhiên, khái niệm này quá rộng và hiểu như thế có thể dẫn đến việc đồng nhất hoạt động gia công hàng hoá với sản xuất hàng hoá vì trong nền sản xuất hàng hoá giản đơn việc bỏ thêm sức lao động chỉ đơn thuần là tiếp tục quá trình sản xuất, nó chưa mang tính chất thương mại vì hàng hoá được sản xuất và được tiêu thụ chỉ do một người sản xuất chịu trách nhiệm
Đến khi xã hội phát triển thì nền sản xuất hàng hoá không chỉ bó hẹp trong sản xuất hàng hoá giản đơn mà phát triển lên mức cao hơn với sự ra đời của thương nhân
Họ là cầu nối giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng, đảm bảo cho sự lưu thông hàng hoá trên thị trường Tại một khu vực cung và cầu hàng hoá không phải lúc nào cũng cân bằng, có nơi cầu về hàng hoá lớn nhưng cung không đủ do thiếu nhân công hoặc nguyên vật liệu, kỹ thuật Trong khi đó, có những nơi cung về hàng hoá rất dồi dào nhưng thiếu thị trường tiêu thụ Nắm bắt được điều này, thương nhân luôn tìm cách nắm bắt cơ hội thu lợi nhuận bằng cách cung cấp máy móc trang thiết bị, công nghệ, nguyên vật liệu, thuê nhân công ở những nơi có nguồn cung phù hợp và cung cấp hàng hoá đến những nơi có nhu cầu
Hoạt động này của thương nhân được gọi là hoạt động gia công hàng hoá trong thương mại Trong phương thức kinh doanh này, nhà sản xuất không cần bỏ vốn và lo đầu ra mà chỉ chuyên tâm vào sản xuất và thu tiền công, người đi thuê không phải lo
Trang 16sản xuất mà chỉ tập trung vào tìm kiếm thị trường tiêu thụ và tận dụng giá nguyên vật liệu và giá nhân công rẻ ở nơi sản xuất để tăng lợi nhuận
Luật thương mại Việt Nam năm 1997 cũng quy định “Gia công hàng hoá với
người nước ngoài là việc gia công trong thương mại, theo đó bên đặt gia công và bên nhận gia công là thương nhân có trụ sở chính hoặc nơi cư trú thường xuyên tại các nước khác nhau nhưng phải có một bên là thương nhân hoạt động thương mại tại Việt Nam”[8]
Nên hiểu căn cứ xác định ở đây là khu vực hải quan, hoạt động trao đổi mua bán giữa các thương nhân ở các khu vực hải quan vẫn được coi là hoạt động gia công quốc
tế Chẳng hạn như doanh nghiệp A trong khu chế xuất đặt gia công với doanh nghiệp
B ngoài khu chế xuất thì hoạt động này vẫn được coi là hoạt động gia công quốc tế
Luật Thương Mại Việt Nam năm 2005 đưa ra khái niệm về gia công trong
thương mại: “Gia công trong thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên nhận
gia công sử dụng một phần hoặc toàn bộ nguyên liệu, vật liệu của bên đặt gia công để thực hiện một hoặc nhiều công đoạn trong quá trình sản xuất theo yêu cầu của bên đặt gia công để hưởng thù lao gọi là phí gia công”[11]
Khi thương mại càng phát triển thì hoạt động gia công cũng phát triển với nhiều hình thức phong phú hơn nên khái niệm trên vẫn chưa bao quát hết các hình thức gia công trong thương mại hiện nay Trên thực tế có trường hợp bên đặt gia công chỉ cung cấp trang thiết bị kỹ thuật công nghệ mẫu mã còn bên nhận gia công sẽ cung cấp toàn
bộ nguyên vật liệu, tiến hành sản xuất và giao sản phẩm cho bên đặt gia công Bởi vậy nên hiểu hoạt động gia công trong thương mại theo nghĩa rộng hơn, nó bao gồm các hoạt động sản xuất, chế biến, chế tác, sửa chữa, tái chế, lắp ráp, phân loại, đóng gói hàng hoá của bên nhận gia công theo yêu cầu của bên đặt gia công
Trong quá trình vận động và phát triển xã hội, phân công lao động xã hội đã vượt khỏi phạm vi một quốc gia dẫn đến sự ra đời của các hoạt động kinh tế đối ngoại như xuất nhập khẩu, đầu tư nước ngoài Tuy vậy giữa các nước, các khu vực lại có sự chênh lệch về trình độ khoa học công nghệ, trình độ nhân công và điều kiện tự nhiên Thương nhân ở các nước phát triển hơn sẽ cung cấp máy móc thiết bị, công nghệ sản xuất và chuyên gia nước ngoài cho bên nhận gia công ở các nước kém phát triển hơn
Trang 17nhằm tận dụng nguồn nhân công và nguyên liệu rẻ ở các nước này Phương thức này tận dụng tối đa lợi thế tuyệt đối của từng nước bởi vậy nó mang lại lợi ích cho cả bên đặt gia công lẫn bên nhận gia công Và như vậy gia công hàng hoá quốc tế ra đời
Ở Việt Nam hầu hết các doanh nghiệp tham gia hoạt động gia công quốc tế với tư cách là bên nhận gia công cho các doanh nghiệp nước ngoài nên hoạt động gia công quốc tế thường được gọi là gia công xuất khẩu Vì vậy gia công quốc tế thường được hiểu là một hành vi thương mại theo đó chủ hàng nước ngoài-bên đặt gia công giao cho doanh nghiệp Việt Nam với tư cách là bên nhận gia công nguyên vật liệu, bán thành phẩm, vật tư, công nghệ để sản xuất, lắp ráp, chế biến ra sản phẩm mới hoặc bán thành phẩm theo yêu cầu của bên đặt gia công, sau đó xuất trả chủ hàng nước ngoài hoặc bên nước ngoài khác do bên đặt gia công chỉ định và nhận khoản thù lao theo thoả thuận giữa các bên Như vậy, về bản chất gia công hàng hoá quốc tế là một hình thức xuất nhập khẩu hàng hoá
Từ những định nghĩa trên ta có thể rút ra định nghĩa gia công quốc tế như sau: gia công quốc tế là một phương thức sản xuất hàng hóa xuất khẩu trong đó người đặt gia công ở một nước, cung cấp đơn hàng, hàng mẫu, máy móc thiết bị, nguyên phụ liệu hoặc bán thành phẩm …theo định mức cho trước cho người nhận gia công ở nước khác Người nhận gia công tổ chức quá trình sản xuất sản phẩm theo yêu cầu của khách Toàn bộ sản phẩm làm ra người nhận gia công sẽ giao lại cho người đặt gia
công để nhận tiền công
Gia công xuất khẩu và nhập sản xuất xuất khẩu (NSXXK) là hai khái niệm cần
phải phân biệt Thực sự, NSXXK là một phương thức kinh doanh xuất nhập khẩu
trong đó nhà nhập khẩu nhập nguyên vật liệu về để sản xuất chế biến ra sản phẩm xuất khẩu, một cách khái quát hơn NSXXK là nhập khẩu nguyên vật liệu để sản xuất hàng xuất khẩu Đây là hình thức mua đứt bán đoạn, Thương nhân (doanh nghiệp) nhập khẩu nguyên vật liệu và xuất khẩu sản phẩm được sản xuất từ nguyên vật liệu đó
Khác với nhập gia công xuất khẩu trong phương thức kinh doanh nhập khẩu nguyên liệu để sản xuất hàng xuất khẩu có hai hợp đồng riêng biệt: Hợp đồng nhập khẩu nguyên vật liệu và hợp đồng xuất khẩu sản phẩm
Trong phương thức kinh doanh NSXXK, người mua với người bán hoàn toàn độc lập, nhà nhập khẩu có quyền nhập khẩu nguyên vật liệu của những doanh nghiệp ở
Trang 18những nước khác nhau và xuất khẩu bán sản phẩm của mình cho một hay nhiều doanh nghiệp khác nhau ở những nước khác nhau Phương thức kinh doanh NSXXK là hệ quả của sự chênh lệch về trình độ công nghệ, kỹ thuật, về lợi thế các nguồn lực về tài nguyên, nhân công, giữa các cá nhân, giữa các khu vực và giữa các nước tạo ra
Giữa NSXXK và gia công xuất khẩu giống nhau trước hết ở bản chất và quy trình hoạt động :
- Về bản chất cả hai đều là xuất khẩu lao động tại chỗ
- Về quy trình hoạt động đều trải qua các công đoạn : nhập khẩu nguyên vật liệu - sản xuất chế biến sản phẩm - xuất khẩu
Nhưng giữa NSXXK và gia công xuất khẩu khác nhau ở những điểm cơ bản sau:
- Về tính độc lập tự chủ của chủ thể kinh doanh: trong phương thức gia công xuất khẩu, bên nhận gia công phụ thuộc vào bên đặt gia công về mẫu mã hàng hóa, nguyên vật liệu, số lượng, thị trường xuất khẩu… Còn trong phương thức NSXXK, người mua với người bán hoàn toàn độc lập, nhà nhập khẩu có quyền nhập khẩu nguyên vật liệu của những doanh nghiệp ở những nước khác nhau và xuất khẩu bán sản phẩm của mình cho một hay nhiều doanh nghiệp khác nhau ở những nước khác nhau
- Về chính sách tài chính, chính sách thuế quan: Việt Nam và nhiều nước trên thế giới cho phép miễn thuế nhập khẩu đối với nguyên liệu nhập khẩu để gia công hàng xuất khẩu, còn đối với tất cả các hình thức mua bán nguyên vật liệu, sản phẩm hàng hóa có thanh toán quốc tế đều phải chịu thuế xuất nhập khẩu Tại Việt Nam, NSXXK được hoàn thuế nguyên vật liệu nhập khẩu sau khi xuất khẩu sản phẩm và không phải thu thuế sản phẩm xuất khẩu
1.1.2 Vai trò của hoạt động gia công đối với sự phát triển về kinh tế của nước ta hiện nay
Hoạt động GC xuất khẩu tại Việt Nam hiện nay đang phát triển mạnh mẽ cả quy mô và tốc độ đã đem lại những lợi ích nhiều mặt về kinh tế, xã hội Trong điều kiện nền kinh tế nước ta hiện nay, vai trò của hoạt động GC xuất khẩu thể hiện ở các khía cạnh sau đây:
- Khai thác được lợi thế về nguồn nhân lực, giải quyết công ăn việc làm, góp phần cải thiện, nâng cao đời sống xã hội
Trang 19Nước ta là nước có lợi thế về nguồn nhân lực: lực lượng lao động dồi dào, trẻ
về độ tuổi, trình độ học vấn phổ thông tương đối khá, có khả năng tiếp thu nhanh những ứng dụng công nghệ mới… Hoạt động GC xuất khẩu phát triển cần thiết phải tuyển dụng nhân công vào làm việc trong các công ty, nhà máy do đó đã góp phần giải quyết nhiều công ăn việc làm, tạo cho người lao động có thu nhập ổn định, vì vậy
đã dần từng bước góp phần nâng cao đời sống xã hội
- Giải quyết được khó khăn về vốn đầu tư, khoa học công nghệ, đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và chiến lược hướng về xuất khẩu
Chính sách ưu đãi thuế đã khuyến khích doanh nghiệp đẩy mạnh đầu tư sản xuất xuất khẩu Hàng hóa xuất khẩu, hơn nữa là từ nguyên vật liệu nhập khẩu, đã mang tính chất công nghệ cao, phù hợp với thị trường thế giới, do đó yêu cầu doanh nghiệp phải đầu tư máy móc thiết bị với công nghệ thích hợp bằng nhiều hình thức vay vốn, liên doanh, sử dụng vốn trong nước, tiếp nhận đầu tư nước ngoài… và do vậy đã tranh thủ được vốn, khoa học công nghệ của nước ngoài, góp phần đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và chiến lược hướng về xuất khẩu
- Đẩy nhanh các hoạt động điều tiết vĩ mô của Nhà nước làm nền tảng cơ bản cho việc phát triển kinh tế một cách năng động
Có thể nói, mặc dù nền kinh tế thị trường phát triển và bị điều tiết bởi các quy luật nội tại của nó nhưng vai trò quản lý, điều tiết của Nhà nước là rất quan trọng, bảo đảm cho sự phát triển ổn định và bền vững của nền kinh tế Nhà nước ta đã xây dựng chiến lược phát triển kinh tế- xã hội 2011-2020: “Phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; chính trị- xã hội ổn định, dân chủ, kỷ cương, đồng thuận; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên
rõ rệt; độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; vị thế của Việt Nam trên trường quốc tiếp tục được nâng lên; tạo tiền đề vững chắc để phát triển cao hơn trong giai đoạn sau”
Với sự khẳng định vai trò quản lý điều tiết của Nhà nước, mọi hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá phải chịu sự quản lý trực tiếp của các cơ quan quản lý Nhà nước
và nằm trong cơ chế điều hành chung của Nhà nước đối với hoạt động của toàn bộ nền kinh tế Hoạt động gia công xuất khẩu là một trong những hành vi thương mại được điều chỉnh bởi Luật Thương mại của Việt Nam và các quy định pháp luật khác của
Trang 20Nhà nước Việt Nam đồng chời chịu sự quản lý trực tiếp của các cơ quan Nhà nước chuyên ngành như Bộ Thương mại, Tổng cục hải quan, Bộ Tài chính… trong đó sự điều hành chung của Chính phủ thông qua các văn bản pháp luật là cơ sở để các ngành chức năng triển khai nhiệm vụ quản lý trực tiếp
- Giúp tích lũy được kinh nghiệm trong tổ chức quản lý, trong tiếp cận thị trường quốc tế
Trong hoạt động GC xuất khẩu, doanh nghiệp nhận gia công được đối tác cung cấp nguyên vật liệu, máy móc, thiết bị, công nghệ cần thiết để gia công sản phẩm xuất khẩu, bên cạnh đó doanh nghiệp nhận gia công còn tiếp cận được các phương pháp quản lý do đối tác nước ngoài cung cấp để đáp ứng nhu cầu sản xuất ra sản phẩm đạt tiêu chuẩn đáp ứng nhu cầu của thị trường quốc tế về chất lượng, số lượng sản phẩm…
do bên giao gia công yêu cầu, từ đó giúp doanh nghiệp tích lũy được kinh nghiệm trong tổ chức quản lý và trong tiếp cận thị trường quốc tế
- Thông qua GC xuất khẩu có thể kết hợp xuất khẩu được nguồn tài nguyên, vật
tư nguyên liệu sẵn có trong nước, khai thác và phát triển thêm nguồn hàng cho xuất khẩu
Nguyên liệu nhập khẩu để gia công sản phẩm xuất khẩu thường là nguyên liệu chính có tiêu chuẩn kỹ thuật cao, nhưng chưa phải là toàn bộ đầu vào cho sản xuất xuất khẩu, phần nguyên liệu còn lại thị trường trong nước có thể cung cấp, đây là cơ hội khai thác, phát huy nguồn tài nguyên, nguyên liệu có sẵn trong nước Ngoài ra, sau thời gian đầu nhập nguyên liệu, các doanh nghiệp đầu tư sản xuất nguyên liệu thay thế nguyên liệu nhập khẩu hoặc sản xuất những nguyên liệu khác, hoặc sản xuất ra những sản phẩm khác làm cho nguồn hàng xuất khẩu mạnh hơn, đa dạng phong phú hơn
- Góp phần tăng thu ngoại tệ cho đất nước, giảm bớt sự mất cân đối cán cân thanh toán quốc tế, nâng cao hiệu quả hoạt động xuất nhập khẩu
Hoạt động xuất khẩu tạo ra giá trị gia tăng cao, từ máy móc thiết bị với công nghệ hiện đại, nguyên liệu nhập khẩu có chất lượng cao, thị trường lớn ổn định, đồng thời kéo theo việc xuất khẩu gián tiếp tài nguyên, nguyên phụ liệu, sản phẩm phụ để tăng nguồn thu ngoại tệ, góp phần giảm bớt thâm hụt cán cân thanh toán quốc tế Qua
đó nâng cao hiệu quả hoạt động xuất nhập khẩu, hướng dẫn hoạt động nhập khẩu hiệu quả để xuất khẩu thu ngoại tệ cao đồng thời cũng góp phần định hướng các hoạt động
Trang 21nhập khẩu, xuất khẩu khác cũng đạt hiệu quả cao về số lượng, chất lượng, sản phẩm, thị trường, …
- Nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế
Thông qua hoạt động GC xuất khẩu, doanh nghiệp tham gia mạnh mẽ vào quá trình phân công lao động quốc tế theo từng cấp độ khác nhau, theo từng ngành, từng lĩnh vực khác nhau; khi hoạt động GC xuất khẩu đủ mạnh đồng nghĩa với việc khẳng định vị trí, thương hiệu hàng xuất khẩu trên thị trường thế giới Như vậy hoạt động GC xuất khẩu góp phần thúc đẩy hiệu quả hoạt động xuất nhập khẩu, hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế
1.2 Nội dung và quy trình quản lý của hải quan đối với hoạt động gia công xuất khẩu của các doanh nghiệp
Quản lý hải quan đối với hoạt động GC xuất khẩu là việc cơ quan hải quan tổ chức quản lý đối với nguyên vật liệu GC từ khi nhập khẩu cho đến khi sản phẩm sản xuất thực xuất khẩu nhằm giám sát việc thực hiện chính sách ưu đãi thuế đối với nguyên vật liệu GC sản phẩm để xuất khẩu Trong phần này, luận văn trình bày nội dung quản lý nhà nước về hải quan đối với hoạt động GC xuất khẩu trong giai đoạn từ sau khi Luật hải quan được ban hành ở Việt Nam đến giai đoạn hiện nay
1.2.1 Khuôn khổ pháp lý điều chỉnh quản lý nhà nước về hải quan đối với hoạt động gia công xuất khẩu
Nhập nguyên vật liệu GC xuất khẩu là hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu cụ thể vì vậy hiện nay tại Việt Nam, việc quản lý nhà nước về Hải quan đối với loại hình nhập khẩu nguyên vật liệu GC xuất khẩu chịu sự chi phối của nhiều nguồn luật, trong đó chủ yếu là Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; Luật hải quan; Luật quản lý thuế và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan như sau :
+ Luật Hải quan số 29/2001/QH10 ngày 29/6/2001; Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Hải quan số 42/2005/QH11 ngày 29/11/2006;
+ Nghị định số 154/2005/NĐ-CP ngày 15/12/2005 của Chính Phủ quy định chi tiết một số Điều của Luật Hải quan về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan;
+ Thông tư 112/2005/TT-BTC ngày 15/12/2005 của Bộ Tài chính Hướng dẫn về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan;
Trang 22+ Luật Thuế xuất khẩu, Thuế nhập khẩu số 45/2005/QH11 ngày 14/6/2005;
+ Nghị định số 149/2005/NĐ-CP ngày 08/12/2005 của Chính Phủ Quy định chi tiết thi hành Luật Thuế xuất khẩu, Thuế nhập khẩu;
+ Luật quản lý thuế số 78/2006/QH11 ngày 29/11/2006;
+ Nghị định số 85/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính Phủ quy định chi tiết thi hành Luật quản lý thuế;
+ Thông tư số 59/2007/TT-BTC ngày 14/6/2007 của Bộ Tài chính Hướng dẫn thi hành thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, quản lý thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu;
+ Nghị định số 97/2007/NĐ-CP ngày 07/06/2007 của Chính Phủ quy định việc xử lý vi phạm hành chính và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính trong lĩnh vực hải quan;
+ Thông tư số 62/2007/TT-BTC ngày 14/06/2007 của Bộ Tài Chính Hướng dẫn thi hành Nghị định số 97/2007/NĐ-CP ngày 07/06/2007 của Chính Phủ quy định việc xử lý vi phạm hành chính và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính trong lĩnh vực hải quan
+ Thông tư số 116/2008/TT-BTC ngày 04/12/2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn thủ tục Hải quan đối với hàng hóa gia công với thương nhân nước ngoài
1.2.2 Nội dung quản lý của hải quan đối với hoạt động gia công xuất khẩu của các doanh nghiệp
Theo quy định hiện hành, nội dung quản lý nhà nước về hải quan đối với hoạt động GC xuất khẩu bao gồm các vấn đề chính sau:
- Chủ thể quản lý: Tổng Cục Hải quan mà trực tiếp quản lý là các đơn vị Hải quan địa phương gồm Cục Hải quan tỉnh, thành phố và Chi cục Hải quan trực thuộc
- Đối tượng quản lý: Tất cả hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thuộc hợp đồng GC xuất khẩu
- Công cụ quản lý: Sử dụng công cụ thuế thông qua hợp đồng gia công xuất khẩu
- Phương pháp quản lý: Sử dụng phương pháp quản lý hành chính đối với hoạt động GC xuất khẩu
Trang 23- Hình thức hợp đồng gia công: Hợp đồng gia công được lập thành văn bản hoặc các hình thức có giá trị tương đương văn bản bao gồm điện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu và các hình thức khác theo quy định của pháp luật;
+ Về chữ ký và con dấu trên hợp đồng: Đối với thương nhân nước ngoài phải
có chữ ký; đối với thương nhân Việt Nam ký, đóng dấu theo quy định của pháp luật Việt Nam; đối với thương nhân là hộ kinh doanh cá thể thì ký, ghi rõ họ tên; số, ngày chứng minh nhân dân, nơi cấp
+ Các chứng từ kèm theo hợp đồng do bên đặt gia công là thương nhân nước ngoài phát hành bằng hình thức điện tử thì bên nhận gia công là thương nhân Việt Nam ký, đóng dấu xác nhận
- Nội dung hợp đồng gia công: Phải thể hiện đầy đủ 10 điều khoản cơ bản sau: Tên, địa chỉ của các bên ký hợp đồng và bên gia công trực tiếp;
Tên, số lượng sản phẩm gia công;
Giá gia công;
Thời hạn thanh toán và phương thức thanh toán;
Danh mục, số lượng, trị giá nguyên liệu, phụ liệu, vật tư nhập khẩu và nguyên liệu, phụ liệu, vật tư sản xuất trong nước (nếu có) để gia công; định mức sử dụng nguyên liệu, phụ liệu, vật tư; định mức vật tư tiêu hao và tỷ lệ hao hụt nguyên liệu trong gia công;
Danh mục và trị giá máy móc thiết bị cho thuê, cho mượn hoặc tặng cho để phục vụ gia công (nếu có);
Biện pháp xử lý phế liệu, phế thải và nguyên tắc xử lý máy móc, thiết bị thuê mượn, nguyên liệu, phụ liệu vật tư dư thừa sau khi kết thúc hợp đồng gia công;
Địa điểm và thời gian giao hàng;
Nhãn hiệu hàng hoá và tên gọi xuất xứ hàng hoá;
Thời hạn hiệu lực của hợp đồng
Trường hợp bên đặt gia công và bên nhận gia công phát sinh giao dịch qua bên thứ ba thì phải thể hiện trên hợp đồng hoặc phụ lục hợp đồng hoặc văn bản, tài liệu có liên quan để chứng minh
- Phụ lục hợp đồng gia công là một bộ phận không tách rời của hợp đồng gia công Mọi sự thay đổi, bổ sung, điều chỉnh các điều khoản của hợp đồng gia công (kể
Trang 24cả gia hạn hợp đồng) được thể hiện bằng phụ lục hợp đồng trước thời điểm hợp đồng gia công hết hiệu lực và thông báo phụ lục này với cơ quan hải quan trước hoặc cùng thời điểm thương nhân Việt Nam làm thủ tục xuất khẩu, nhập khẩu lô hàng đầu tiên theo phụ lục hợp đồng đó Phụ lục hợp đồng gia công có đầy đủ chữ ký, con dấu như hợp đồng gia công theo quy định
Riêng trị giá nguyên liệu, vật tư nhập khẩu để gia công có thay đổi, bổ sung thì chấp nhận trị giá ghi trên hoá đơn thương mại của hồ sơ nhập khẩu, không bắt buộc phải mở phụ lục điều chỉnh Nếu một hợp đồng gia công có thời hạn hiệu lực trên một năm thì có thể tách hợp đồng thành nhiều phụ lục để thực hiện Thời gian thực hiện của mỗi phụ lục không quá một năm Trường hợp đặc biệt thời gian gia công một sản phẩm vượt quá một năm thì hợp đồng gia công/phụ lục hợp đồng gia công thực hiện theo từng sản phẩm (như: gia công đóng tàu, sữa chữa tàu biển,…)
+ Hàng GC không thuộc danh mục hàng cấm, danh mục hàng tạm dừng xuất nhập khẩu (nếu thuộc các danh mục này phải được phép của Bộ Công thương) Hàng hoá GC phải nằm trong lĩnh vực ngành nghề đăng ký kinh doanh, phạm vi giấy phép của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
+ Phương pháp quản lý: Sử dụng phương pháp quản lý hành chính đối với hoạt động GC xuất khẩu Cụ thể như: Tất cả hàng hóa xuất nhập khẩu của hợp đồng gia công đều phải làm thủ tục hải quan và chịu sự kiểm tra, giám sát của cơ quan hải quan Trừ một số trường hợp đặc biệt (như gia công kim cương, vàng bạc…) các trường hợp khác khi kiểm tra nguyên vật liệu nhập khẩu, cơ quan hải quan phải lấy mẫu niêm phong giao cho doanh nghiệp bảo quản làm cơ sở đối chiếu khi xuất khẩu sản phẩm
+ Toàn bộ sản phẩm GC phải được xuất trả cho chủ hàng nước ngoài hoặc khách hàng nước ngoài do bên thuê GC chỉ định, trừ một số sản phẩm do bên thuê GC thanh toán tiền thuê GC (sản phẩm này sẽ phải chịu thuế nhập khẩu và các loại thuế liên quan như hàng hóa nhập khẩu từ nước ngoài)
+ Việc thực hiện thủ tục hải quan đối với một hợp đồng gia công (gồm tiếp nhận hợp đồng, tiếp nhận định mức, làm thủ tục hải quan cho từng lô hàng xuất khẩu, nhập khẩu của hợp đồng, thanh khoản hợp đồng) được thực hiện tại một Chi cục Hải quan thuộc Cục Hải quan tỉnh, thành phố do thương nhân lựa chọn; cụ thể:
Tại Chi cục Hải quan nơi thương nhân có cơ sở sản xuất thực hiện hợp đồng gia công (kể cả cơ sở gia công lại), hoặc tại Chi cục Hải quan nơi có trụ sở của thương
Trang 25nhân (trụ sở chính hoặc trụ sở chi nhánh của thương nhân được thành lập theo quy định của pháp luật)
Trường hợp tại nơi có cơ sở sản xuất hoặc nơi có trụ sở chính, trụ sở chi nhánh của thương nhân không có tổ chức hải quan thì thương nhân được lựa chọn một Chi cục hải quan thuận tiện để đăng ký làm thủ tục hải quan
+ Chậm nhất 45 ngày làm việc, kể từ ngày hợp đồng gia công (hoặc phụ lục hợp đồng gia công) kết thúc hoặc hết hiệu lực, doanh nghiệp phải nộp đủ hồ sơ thanh khoản hợp đồng gia công (bao gồm cả phương án giải quyết nguyên liệu dư, máy móc, thiết bị tạm nhập, phế liệu, phế phẩm, phế thải) cho Chi cục Hải quan quản lý hợp đồng gia công Đối với những hợp đồng gia công tách ra thành nhiều phụ lục để thực hiện thì thời hạn nộp hồ sơ thanh khoản đối với từng phụ lục hợp đồng gia công thực hiện như thời hạn nộp hồ sơ thanh khoản hợp đồng gia công Các trường hợp được gia hạn nộp hồ sơ thanh khoản:
Thương nhân đồng thời thực hiện nhiều hợp đồng gia công và các hợp đồng này đều hết hiệu lực thực hiện tại một thời điểm nên không kịp chuẩn bị hồ sơ;
Đang có tranh chấp giữa các bên đặt gia công và bên nhận gia công liên quan đến hợp đồng gia công;
Các trường hợp vì lý do bất khả kháng khác thương nhân không thực hiện đúng thời hạn thanh khoản
Căn cứ các văn bản giải trình của thương nhân, Chi cục trưởng Chi cục hải quan quản lý hợp đồng gia công xem xét, gia hạn thời hạn nộp hồ sơ thanh khoản Thời hạn gia hạn chỉ được 01 lần và không quá 30 ngày
+ Đối với nguyên liệu, vật tư do bên nhận gia công trực tiếp mua từ nước ngoài
để cung ứng cho hợp đồng gia công:
Phải được thoả thuận trong hợp đồng gia công hoặc phụ lục hợp đồng về tên gọi, định mức, tỷ lệ hao hụt, số lượng, đơn giá, phương thức thanh toán, thời hạn thanh toán
Phải xin phép cơ quan có thẩm quyền trước khi ký hợp đồng gia công nếu nguyên liệu, vật tư cung ứng thuộc danh mục hàng hoá nhập khẩu phải có giấy phép; không được cung ứng nguyên liệu, vật tư thuộc danh mục hàng hoá cấm nhập khẩu, cấm xuất khẩu, tạm ngừng nhập khẩu, tạm ngừng xuất khẩu
Trang 26Thủ tục nhập khẩu, chính sách thuế, thủ tục hoàn thuế nhập khẩu thực hiện theo loại hình nhập nguyên liệu để sản xuất hàng xuất khẩu Cụ thể số thuế nhập khẩu được hoàn đối với nguyên liệu nhập khẩu tự cung ứng được xác định bằng
phương pháp phân bổ theo công thức sau :
Trị giá sản phẩm xuất khẩu từ nguyên phụ liệu tự cung ứng được xác định là
số lượng sản phẩm thực xuất khẩu nhân với giá tính thuế đối với hàng hóa xuất khẩu (FOB), tổng trị giá của các sản phẩm thu được được xác định là tổng trị giá sản phẩm xuất khẩu và doanh số bán của các sản phẩm để tiêu thụ nội địa được sản xuất từ nguyên phụ liệu nhập khẩu tự cung ứng cho hợp đồng GC
1.2.3 Quy trình quản lý của Hải quan đối với hoạt động GC xuất khẩu
Để thống nhất quản lý hoạt động GC xuất khẩu với thương nhân nước ngoài trong toàn ngành, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 117/2011/TT-BTC ngày 15/08/2011 hướng dẫn thủ tục hải quan đối với hàng hoá gia công với thương nhân nước ngoài, ngày 25/10/2011 Tổng cục trưởng Tổng cục hải quan ra Quyết định số 2344/QĐ-TCHQ quyết định về việc ban hành Quy trình nghiệp vụ quản lý hải quan đối với hàng hóa GC với thương nhân nước ngoài Quản lý nhà nước về hải quan đối với hoạt động GC với thương nhân nước ngoài được khái quát qua sơ đồ sau:
Trị giá sản phẩm xuất khẩu từ nguyên phụ liệu cung ứng
Số thuế nhập khẩu
nguyên phụ liệu tự cung
ứng được hoàn
= Tổng trị giá sản phẩm thu được từ các nguyên phụ liệu
tự cung ứng
X
Tổng số thuế nhập khẩu của nguyên liệu, vật tư tự cung ứng
Trang 27Sơ đồ 1.1: Sơ đồ quản lý nhà nước về hải quan đối với hoạt động gia công xuất khẩu
DOANH NGHIỆP NHẬP KHẨU SẢN XUẤT XUẤT KHẨU THANH KHOẢN
(Nguồn: Tổng cục Hải quan)
- Điều chỉnh định mức (nếu cần)
- Đăng ký làm thủ tục XK sản phẩm
- Đăng ký tái xuất máy móc thiết bị
- Lập bộ hồ sơ thanh khoản hợp đồng GC xuất khẩu gồm biểu mẫu và chứng từ theo quy định
- Gửi hồsơ thanh khoản đến cơ quan hải quan nơi làm thủ tục nhập khẩu
- Tổ chức kiểm tra định mức nguyên vật liệu (nếu cần)
- Kiểm tra sản phẩm xuất khẩu, đối chiếu với mẫu nguyên vật liệu đã lưu khi nhập khẩu và bảng đăng ký định mức sản phẩm GC xuất khẩu
- Thông quan lô hàng xuất khẩu
- Tiếp nhận hồ
sơ thanh khoản
- Kiểm tra hồ sơ thanh khoản
- Xác nhận hồ sơ thanh khoản hợp đồng GC xuất khẩu
niêm phong, giao
doanh nghiệp bảo
Trang 28Theo quy định của Luật Hải quan và các văn bản pháp lý liên quan, về nguyên tắc thủ tục hải quan và nội dung quản lý của hải quan đối với hoạt động GC xuất khẩu sản phẩm được áp dụng như đối với hàng hóa kinh doanh xuất nhập khẩu thông thường Tuy nhiên, do yêu cầu quản lý thuế (thuộc diện miễn thuế khi sản phẩm GC được xuất khẩu) nên thủ tục hải quan đối với loại hình này có thêm một số đặc điểm riêng
Để thực hiện một hợp đồng GC xuất khẩu sản phẩm, thủ tục hải quan thực hiện theo trình tự sau:
- Thông báo hợp đồng gia công nhập khẩu nguyên vật liệu, máy móc thiết bị thuê mượn của GC xuất khẩu, phụ lục hợp đồng GC xuất khẩu;
- Nhập khẩu nguyên vật liệu, đăng ký định mức sản phẩm xuất khẩu;
- Xuất khẩu sản phẩm;
- Tái xuất máy móc thiết bị;
- Thanh khoản hợp đồng GC xuất khẩu
1.3 Các nhân tố tác động đến công tác quản lý của hải quan đối với hoạt động gia công xuất khẩu
Trong giai đoạn hiện nay, sự phát triển mạnh mẽ của hoạt động xuất nhập khẩu, sự gia tăng của hoạt động GC xuất khẩu đòi hỏi cơ quan quản lý phải nâng cao năng lực quản lý, bên cạnh đó sự sửa đổi bổ sung Luật hải quan đã tạo cơ sở pháp lý cho việc quản lý hoạt động xuất nhập khẩu nói chung, hoạt động GC xuất khẩu nói riêng được thông thoáng và chặt chẽ
1.3.1 Môi trường pháp lý
Luật Hải quan được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 29/06/2001 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2002, sau 04 năm thực hiện đã phát huy hiệu quả tương đối toàn diện, đã được Chính phủ, cộng đồng doanh nghiệp đánh giá là đã tạo thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu, góp phần tích cực thúc đẩy phát triển kinh tế- xã hội, giữ gìn an ninh, thu hút đầu tư và hội nhập kinh tế quốc tế
Tuy nhiên, qua quá trình thực hiện Luật Hải quan cũng bộc lộ một số hạn chế chưa phù hợp với điều kiện thực tiễn: Chưa quy định những nguyên tắc đảm bảo cho thực hiện tối thiểu kiểm tra thực tế hàng hóa, chưa đảm bảo đủ cơ sở pháp lý cho việc triển khai thủ tục hải quan điện tử, chưa đáp ứng được yêu cầu tiến hành hiện đại hóa
Trang 29quản lý hải quan và hội nhập quốc tế Trong điều kiện Việt Nam đã là thành viên của
Tổ chức thương mại thế giới (WTO), theo những cam kết trong các hiệp định song phương và các nghĩa vụ của một thành viên WTO, Việt Nam phải thực hiện Hiệp định thuế quan và thương mại (Hiệp định trị giá GATT), Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPs), Công ước Kyoto về đơn giản
và thống nhất hóa thủ tục hải quan (Công ước Kyoto sửa đổi 1999), Công ước hệ thống mô tả hài hòa và mã hóa hàng hóa (Công ước HS), điều này đòi hỏi các quy định về hải quan phải được công khai, minh bạch, đơn giản hóa hơn nữa, đáp ứng được các chuẩn mực quốc tế; hài hòa với những quy định của các đối tác thương mại với Việt Nam, tạo hành lang pháp lý để thực hiện cải cách hành chính và hiện đại hóa hoạt động hải quan
Để đáp ứng các yêu cầu trên, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật hải quan sửa đổi bổ sung đã được Quốc hội khóa XI thông qua ngày 14/6/2005 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2006 Một trong những nội dung cơ bản được sửa đổi bổ sung trong Luật là:
- Luật sửa đổi đã bổ sung quy định về nguyên tắc kiểm tra hải quan theo phương pháp quản lý rủi ro, chủ yếu dựa trên cơ sở phân tích thông tin, đánh giá mức độ rủi ro
về vi phạm pháp luật hải quan, nguyên tắc này làm cơ sở cho việc quy định kiểm tra hồ
sơ, kiểm tra thực tế hàng hóa và kiểm tra sau thông quan (KTSTQ), đây là vấn đề mấu chốt của quản lý hải quan hiện đại Với nguyên tắc này mục tiêu đặt ra là : việc kiểm tra hải quan được tiến hành có trọng điểm dựa trên việc phân tích và xử lý thông tin để công chức hải quan có thẩm quyền quyết định mức độ kiểm tra, vừa tạo thuận lợi cho thương mại vừa đảm bảo quản lý nhà nước
- Quy định về KTSTQ: Luật sửa đổi đã mở rộng phạm vi KTSTQ đối với các trường hợp không chỉ có dấu hiệu vi phạm mà còn được thực hiện dựa trên cơ sở phân tích thông tin để cơ quan hải quan quyết định kiểm tra Luật hải quan trước đây quy định KTSTQ chỉ được thực hiện khi có dấu hiệu vi phạm pháp luật hải quan, quy định này tránh được việc cơ quan hải quan tùy tiện, kiểm tra tràn lan song lại đồng nghĩa với việc KTSTQ tức là doanh nghiệp có vi phạm pháp luật, do vậy một doanh nghiệp bị KTSTQ sẽ bị ảnh hưởng đến uy tín KTSTQ thực chất là khâu nghiệp vụ tiếp theo của kiểm tra hải quan, qua kiểm tra cơ quan hải quan có thêm
Trang 30thông tin để quyết định hình thức kiểm tra, giám sát thích hợp, cùng với việc mở rộng diện hàng hóa được miễn kiểm tra thực tế khi làm thủ tục hải quan thì cần thiết phải có biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn các vi phạm Trong hoạt động GC xuất khẩu, quy định nới rộng này giúp cơ quan hải quan có thể xây dựng kế hoạch KTSTQ định kỳ đối với những doanh nghiệp có định mức cao, nguyên vật liệu thuộc diện có thuế suất cao, sản phẩm GC thường xuyên tiêu thụ nội địa, thực hiện cùng lúc nhiều loại hình kinh doanh khác nhau (như vừa GC vừa NSXXK )
1.3.2 Môi trường kinh doanh quốc tế
Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2001-2010 được thông qua tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã đặt ra mục tiêu to lớn " tạo nền tảng để đến năm
2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại với Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) năm 2010 tăng trưởng gấp đôi năm 2000, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của sản phẩm, doanh nghiệp và nền kinh tế, nhịp độ tăng xuất khẩu gấp 2 lần nhịp độ tăng GDP, tổng thu ngân sách nhà nước tăng bình quân hàng năm 8,7%, trong đó thu từ thuế và phí chiếm 94,2% ” Việc đẩy mạnh kinh tế đối ngoại dẫn tới lưu lượng hàng hóa xuất nhập khẩu trên cả nước ngày càng tăng, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa năm 2005 đạt 32,2 tỷ USD, đến hết năm 2010 đạt 72,2 tỷ USD, kim ngạch nhập khẩu năm 2005 đạt 36,9 tỷ USD, đến hết năm
2010 đạt 84,8 tỷ USD; năm 2005 số lượng thương nhân tham gia hoạt động xuất nhập khẩu đạt 24.250, năm 2010 đạt khoảng 98.000 (các thương nhân được cấp mã
1.3.3 Năng lực của cơ quan quản lý
Trong thủ tục hải quan đối với hàng hóa GC xuất khẩu, cơ quan hải quan có thể ứng dụng các phương tiện kỹ thuật hiện đại để thông quan hàng hóa một cách
Trang 31nhanh chóng, giúp cho các doanh nghiệp giảm bớt các chi phí về thời gian, chi phí về lưu kho, lưu bãi hàng hóa thúc đẩy hoạt động GC phát triển Điều đó đòi hỏi cơ quan hải quan phải nâng cao năng lực làm việc, trau dồi kiến thức về chuyên môn nghiệp vụ, pháp luật, khoa học kỹ thuật, có như vậy mới giúp cho hoạt động xuất nhập khẩu nói chung và hoạt động GC xuất khẩu được nhanh chóng, giúp cho doanh nghiệp giảm bớt chi phí về thời gian, chi phí về lưu kho, lưu bãi hàng hóa Năng lực của cơ quan quản lý và trang thiết bị phục vụ công tác quản lý là hai yếu tố có tác động rất lớn đến công tác quản lý hải quan đối với hoạt động gia công quốc tế Nếu trình độ của cơ quan quản lý yếu kém, trang thiết bị phục vụ công tác chuyên môn lạc hậu hoặc không đủ sẽ dẫn đến việc doanh nghiệp lợi dụng chính sách ưu đãi, gây mất công bằng trong hoạt động sản xuất kinh doanh, hoặc làm mất nhiều thời gian, chi phí cho thủ tục liên quan đến hoạt động gia công quốc tế Năng lực của cơ quan quản lý thể hiện ở trình độ chuyên môn nghiệp vụ, khả năng tuyên truyền, hỗ trợ, cung cấp thông tin, đạo đức nghề nghiệp của người cán bộ; khả năng áp dụng các văn bản quy phạm pháp luật; khả năng ứng dụng công nghệ thông tin, khoa học kỹ thuật vào công việc
1.4 Tính tất yếu khách quan của việc thúc đẩy quản lý của hải quan đối với hoạt động gia công xuất khẩu hiện nay
1.4.1 Xuất phát từ yêu cầu hội nhập quốc tế
Việt Nam đã trở thành thành viên của WTO Đây là cơ hội lớn để Việt Nam hội nhập với thị trường quốc tế đồng thời cũng đặt ra nhiều thách thức về điều chỉnh cơ cấu kinh tế và pháp luật Kinh tế đối ngoại thể hiện sự giao thoa của mỗi quốc gia với nền kinh tế quốc tế Pháp luật trong lĩnh vực xuất khẩu nói chung và gia công xuất khẩu nói riêng đang chịu sự tác động trực tiếp hết sức to lớn của quá trình này
Với việc gia nhập WTO (tháng 11/2006), Việt Nam đã chính thức hội nhập sâu rộng và toàn diện vào nền kinh tế thế giới, mở rộng các quan hệ quốc tế song phương
và đa phương, các hoạt động giao lưu thương mại, xuất nhập khẩu hàng hoá tăng lên nhanh chóng Sản xuất trong nước phát triển ở mức độ cao vẫn tiếp tục cần nhập khẩu máy móc, thiết bị và nguyên vật liệu, hàng hoá xuất khẩu tiếp tục gia tăng Theo các báo cáo tổng hợp, đánh giá số liệu thống kê hàng năm của Cục Công nghệ thông tin và Thống
kê Hải quan – Tổng cục Hải quan cho thấy cụ thể như sau:
Trang 32- Xuất khẩu hàng hoá tăng bình quân trong thời kỳ 2001-2010 là 22,74%/năm;
năm 2009 kim ngạch xuất khẩu đạt 57,1 tỷ USD; năm 2010 kim ngạch xuất khẩu đạt 72,2
tỷ USD và năm 2011 kim ngạch xuất khẩu đạt 96,9 tỷ USD
- Nhập khẩu hàng hoá tăng bình quân trong thời kỳ 2001-2010 là 21,66%/năm;
năm 2009 kim ngạch nhập khẩu là 69,9 tỷ USD; năm 2010 kim ngạch nhập khẩu 84,8
tỷ USD và năm 2011 kim ngạch nhập khẩu 106,7 tỷ USD
Trong lĩnh vực gia công xuất khẩu thời gian tới vẫn tiếp tục phát triển hết sức mạnh mẽ Việt Nam tiếp tục là một địa chỉ đáng tin cậy trong lĩnh vực gia công đặc biệt là 3 lĩnh vực truyền thống là dệt may, da giày, thuỷ sản tiếp tục đạt kim ngạch lớn trong thời gian tới
Bên cạnh các doanh nghiệp hoạt động tích cực, tuân thủ đúng các quy định của pháp luật sẽ phát sinh các doanh nghiệp lợi dụng các ưu đãi đối với hoạt động gia công
để buôn lậu và gian lận thương mại Ngoài ra các tổ chức tội phạm quốc tế cũng sẽ tận dụng các cơ hội về những hạn chế trong công tác quản lý ở các nước chậm phát triển như Việt Nam để thực hiện các hành vi phạm pháp
Sự phát triển của thương mại quốc tế ngày một tăng mạnh mẽ, giữa các quốc gia luôn có sự hợp tác với nhau xuất phát từ ưu thế cạnh tranh riêng biệt của từng nước Xu thế toàn cầu hoá và các hiệp định tự do thương mại làm cho kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hoá của các quốc gia tăng lên nhanh chóng bao gồm cả xuất nhập khẩu thương mại và gia công quốc tế Bên cạnh đó là sự xuất hiện thương mại điện tử phát triển nhanh chóng và trở nên phổ biến Trong tiến trình này pháp luật về gia công xuất khẩu phải tạo cơ sở pháp lý để đưa hoạt động gia công đi đúng quỹ đạo và đóng góp quan trọng vào việc thực hiện thắng lợi tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta
1.4.2 Xuất phát từ thực hiện chiến lược phát triển kinh tế hướng về xuất khẩu của Đảng và Nhà nước
Trong báo cáo chính trị của Ban Chấp hành trung ương Đảng khoá X tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng về phương hướng, nhiệm vụ phát triển đất nước 05 năm (2011-2015) đã chỉ rõ chính sách đối ngoại của Việt Nam là ‘‘Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển; đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, đối
Trang 33tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế; vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh”
Khẳng định hội nhập kinh tế quốc tế là một xu thế tất yếu lớn của thế giới cũng đồng thời chỉ ra con đường phát triển không thể nào khác đối với các nước trong thời đại toàn cầu hóa là tham gia hội nhập kinh tế quốc tế Mở rộng hợp tác kinh tế quốc tế đối với nước ta có các thuận lợi và khó khăn đan xen với nhau nhưng về cơ bản thuận lợi vẫn là chủ yếu, như:
- Thứ nhất, Quá trình hội nhập giúp mở rộng thị trường để thúc đẩy thương mại
và các quan hệ kinh tế quốc tế khác, từ đó thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế-
xã hội
- Thứ hai, hội nhập cũng tạo động lực thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cải
thiện môi trường đầu tư kinh doanh, từ đó nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, của các sản phẩm và doanh nghiệp; đồng thời, làm tăng khả năng thu hút đầu tư vào nền kinh tế
- Thứ ba, hội nhập giúp nâng cao trình độ của nguồn nhân lực và nền khoa học
công nghệ quốc gia, nhờ hợp tác giáo dục- đào tạo và nghiên cứu khoa học với các nước và tiếp thu công nghệ mới thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài và chuyển giao công nghệ từ các nước tiên tiến
- Thứ tư, hội nhập làm tăng cơ hội cho các doanh nghiệp trong nước tiếp cận thị
trường quốc tế, nguồn tín dụng và các đối tác quốc tế
- Thứ năm, hội nhập tạo cơ hội để các cá nhân được thụ hưởng các sản phẩm
hàng hóa, dịch vụ đa dạng về chủng loại, mẫu mã và chất lượng với giá cạnh tranh; được tiếp cận và giao lưu nhiều hơn với thế giới bên ngoài, từ đó có cơ hội phát triển
và tìm kiếm việc làm cả ở trong lẫn ngoài nước
- Thứ sáu, hội nhập tạo điều kiện để các nhà hoạch định chính sách nắm bắt tốt
hơn tình hình và xu thế phát triển của thế giới, từ đó có thể đề ra chính sách phát triển phù hợp cho đất nước và không bị lề hóa
Vị thế của nước ta hiện nay đã được nâng cao trong cộng đồng quốc tế điều
đó đã củng cố niềm tin của nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp vào công cuộc đổi mới và tiền đồ tươi sáng của dân tộc Trong quan hệ kinh tế quốc tế hiện nay đang đặt ra nhiều khó khăn thách thức đối với các doanh nghiệp và đối với chính các cơ
Trang 34quan quản lý Vì vậy đối với các cơ quan quản lý phải có nhận thức đúng đắn để có các chương trình và bước đi phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhưng vẫn đảm bảo tạo thuận lợi cho hoạt động kinh tế đối ngoại phát triển
Trong thời gian tới do mức độ phát triển khác nhau của các nền kinh tế nên hoạt động gia công xuất khẩu nhằm tận dụng các ưu thế cạnh tranh của các quốc gia vẫn còn tiếp tục xu hướng phát triển mạnh mẽ Châu Á nói chung và Việt Nam nói riêng
sẽ là một địa chỉ ký kết các hợp đồng gia công của các tập đoàn kinh tế lớn của Mỹ, Châu Âu và Nhật Bản
Xuất phát từ thực tiễn đó công tác hoàn thiện pháp luật trong quản lý hoạt động gia công xuất khẩu đang đặt ra như một nhu cầu hết sức cấp bách hiện nay
1.4.3 Xuất phát từ nhu cầu nâng cao hiệu quả quản lý của hải quan đối với hoạt động gia công xuất khẩu
Hoạt động gia công xuất khẩu trong nhiều năm qua đã có những đóng góp quan trọng trong việc thực hiện chiến lược hướng về xuất khẩu nhằm tạo ra những ưu thế cạnh tranh quốc gia trong tiến trình hội nhập quốc tế Nhiều mặt hàng gia công xuất khẩu của Việt Nam đã tạo được uy tín cao với các đối tác nước ngoài đặc biệt là mặt hàng giày da, may mặc và thủy sản Thông qua các hợp đồng gia công xuất khẩu các doanh nghiệp Việt Nam đã từng bước tiếp cận được với trình độ quản lý tiên tiến của các nước trong khu vực và trên thế giới Bên cạnh đó kỹ năng lao động của người lao động cũng từng bước được nâng cao Cũng chính nhờ hoạt động gia công xuất khẩu đã giải quyết được một số lượng lớn công ăn việc làm cho người lao động
Tuy nhiên trong thực tế cũng còn nhiều doanh nghiệp lợi dụng gia công để gian lận thương mại, thậm chí lợi dụng danh nghĩa gia công để nhập khẩu nguyên liệu được miễn thuế nhưng lại bán ra thị trường nội địa để kiếm lời sau đó bỏ trốn khỏi nơi
cư trú Những hành vi lợi dụng gia công để gian lận thương mại nhằm thu lợi bất chính không những đã gây thất thu lớn cho ngân sách nhà nước mà còn tạo nên sự cạnh tranh thiếu lành mạnh giữa các doanh nghiệp Những hành vi vi phạm đó làm xấu đi hình ảnh về doanh nghiệp Việt Nam trong mắt bạn bè quốc tế
Chính vì vậy cần phải tăng cường công tác quản lý đối với hoạt động gia công xuất khẩu nhằm hạn chế tình trạng gian lận thương mại trong lĩnh vực gia công từng bước tiến đến loại bỏ hoàn toàn các hành vi gian lận thương mại trong gia công xuất khẩu
Trang 351.4.4 Xuất phát từ những bất cập hạn chế của pháp luật quản lý nhà nước
về hải quan đối với hoạt động gia công xuất khẩu hiện nay
Bên cạnh những mặt tích cực đã đạt được pháp luật về gia công xuât khẩu hiện hành cũng bộc lộ rất nhiều tồn tại hạn chế cần phải nghiên cứu để khắc phục kịp thời Tình trạng gian lận trong lĩnh vực gia công xuất khẩu vẫn đang thường xuyên diễn ra như một thách thức đối với các cơ quan quản lý nói chung và cơ quan hải quan nói riêng chứng tỏ các quy định của pháp luật đang có vấn đề cần phải nghiên cứu để bổ sung và sửa đổi cho phù hợp
Hiện nay trên cả nước còn tồn tại một số lượng khá lớn các hợp đồng gia công quá hạn nhưng doanh nghiệp không đến thanh khoản Nhiều trường hợp khi các cơ quan quản lý đến kiểm tra thì doanh nghiệp đã giải thể hoặc bỏ trốn khỏi địa chỉ đăng
ký kinh doanh
Về phía các doanh nghiệp gia công xuất khẩu, thực trạng cho thấy về các quy định của pháp luật về thủ tục hải quan đối với hàng gia công xuất khẩu tuy đã được đổi mới rất nhiều nhưng vẫn còn rườm rà, nhiều quy định về các thủ tục giấy tờ phải nộp khi đăng ký hợp đồng gia công, khi thanh khoản hợp đồng vẫn chưa phù hợp với tình hình gia công trên thị trường quốc tế Đặc biệt là các giấy tờ phải nộp quá nhiều khi thanh khoản hợp đồng gia công, có trường hợp bộ hồ sơ thanh khoản nặng đến hàng chục kg Về thời gian thanh khoản còn mất rất nhiều thời gian công sức của doanh nghiệp cũng như cơ quan hải quan
Công tác phối kết hợp giữa các cơ quan chức năng cũng còn bộ lộ nhiều hạn chế thiếu sót Thông tin về doanh nghiệp bỏ trốn, mất tích các cơ quan quản lý trên địa bàn có thể nắm được nhưng chưa có quy chế phối hợp để thông báo cho cơ quan hải quan biết Vì vậy tình trạng này đã xảy ra nhiều năm nhưng chưa có một giải pháp khắc phục thật sự hiệu quả
1.4.5 Xuất phát từ yêu cầu đổi mới phương pháp quản lý của cơ quan hải quan
Hải quan các nước đã và đang phải thay đổi để thích ứng với tình hình, nhằm mục đích tạo thuận lợi tối đa cho hoạt động thương mại quốc tế thông qua việc áp dụng kỹ thuật quản lý rủi ro, đầu tư trang thiết bị hiện đại, ứng dụng công nghệ thông
Trang 36tin trong quản lý hải quan, bảo đảm việc chấp hành và tuân thủ các quy định pháp luật nhằm bảo đảm an ninh, lợi ích kinh tế quốc gia, đồng thời bảo đảm an toàn cho dây chuyền cung ứng thương mại quốc tế
Hiện nay ngành Hải quan đang áp dụng phương pháp quản lý mới phù hợp với các chuẩn mực quản lý hải quan hiện đại đó là phương pháp quản lý rủi ro Phương pháp quản lý này dựa trên quá trình tiếp cận rủi ro một cách khoa học và có hệ thống nhằm nhận dạng, kiểm soát, phòng ngừa và giảm thiểu các hành vi vi phạm pháp luật của các đối tượng chịu sự quản lý của cơ quan hải quan Phương pháp quản lý rủi ro dựa trên cơ sở thu thập và phân tích thông tin để ra quyết định hình thức mức độ kiểm tra đối với từng lô hàng cụ thể Theo đó đối với các doanh nghiệp có quá trình chấp hành tốt pháp luật và tại thời điểm làm thủ tục hải quan cho lô hàng của doanh nghiệp
đó cơ quan hải quan không phát hiện được thông tin gì khác thì lô hàng của doanh nghiệp đó sẽ được miễn kiểm tra
Phương pháp quản lý rủi ro đã tạo cơ hội giải phóng nhanh chóng hàng hóa tại khu vực cửa khẩu và góp phần rất lớn để rút ngắn thời gian thông quan, giảm thiểu chi phí của doanh nghiệp Áp dụng phương pháp quản lý mới đòi hỏi cần rà soát lại toàn
bộ các quy định của pháp luật hiện hành liên quan đến hoạt động của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, các loại hình hàng hóa xuất nhập khẩu trong đó bao gồm cả hàng hóa gia công xuất khẩu
1.5 Kinh nghiệm trong và ngoài nước về quản lý hải quan đối với hoạt động gia công xuất khẩu
1.5.1 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về hải quan đối với hoạt động gia công hàng hóa xuất khẩu của Hải quan Thanh Hóa
Cục hải quan tỉnh Thanh Hóa có chức năng, nhiệm vụ về cơ bản giống như cục hải quan Nghệ An là kiểm tra, kiểm soát đối với hàng hoá xuất, nhập khẩu, thu thuế; điều tra chống buôn lậu và thống kê về hải quan Tại thời điểm hiện nay, Hải quan Thanh Hóa tập trung vào một số nhiệm vụ chính như chống buôn lậu hàng điện tử, buôn lậu ma tuý, các loại hàng hoá gây tổn hại đến an ninh và an toàn trong cộng đồng, chống gian lận thương mại trong hoàn thuế VAT
Trang 37Hải quan Thanh Hóa đặc biệt chú trọng vào nghiệp vụ quản lý rủi ro trong hoạt động hải quan nói chung và hoạt động gia công hàng hóa xuất khẩu nói riêng
Cơ sở pháp lý để xây dựng hệ thống quản lý rủi ro của Hải quan Thanh Hóa cũng dựa trên các quy định của pháp luật Đồng thời, Hải quan Thanh Hóa tự xây dựng văn bản hướng dẫn riêng cho mình Nhờ thống nhất quy định chung và dựa trên
hệ thống công nghệ thông tin thống nhất nên tiêu chí rủi ro được tất cả các thành viên thống nhất trong toàn Cục, thông tin về quản lý rủi ro được trao đổi giữa các đơn vị trong khối nhanh chóng và chính xác
Việc xác định các lô hàng có độ rủi ro cao sử dụng phương pháp xác định rủi ro dựa trên thông tin tình báo và các thông tin khác có liên quan đến lô hàng như thông tin về quá trình chấp hành pháp luật của doanh nghiệp, thông tin về chấp hành pháp luật về thuế, thông tin về lô hàng lấy từ hệ thống thông tin của doanh nghiệp vận tải, thông tin quản lý công dân, Thực tế, đối với lô hàng xuất nhập khẩu, cán bộ hải quan xác định rủi ro dựa trên hệ thống thông tin về quản lý rủi ro (trên đó các lô hàng đã được hệ thống cho điểm) lựa chọn một số lô hàng có điểm rủi ro cao hoặc lô hàng có nội dung phù hợp với danh mục những tiêu chí rủi ro do Hải quan Thanh Hóa ban hành, quyết định lựa chọn để kiểm tra (quyết định này được thực hiện bằng thủ công
và dựa hoàn toàn vào suy luận và kinh nghiệm của cán bộ xác định rủi ro)
Đối với lô hàng xuất nhập khẩu có tính chất phức tạp, việc xác định rủi ro được chia làm hai giai đoạn Giai đoạn 1 được xác định khi có thông tin bản lược khai hàng hóa gửi trước từ các hãng vận tải bằng đường điện tử (hoặc bằng fax, sau đó nhân viên hải quan nhập vào máy tính) Nhân viên hải quan căn cứ vào thông tin bản lược khai, thông tin tình báo, thông tin về thuế, thông tin vi phạm lựa chọn lô hàng phải kiểm tra thực tế Quy trình này được thực hiện nhờ vào các phần mềm tin học khác nhau và cũng dựa trên kinh nghiệm của cán bộ làm công tác xác định rủi ro Khi lô hàng lựa chọn phải kiểm tra thì Hải quan Thanh Hóa sẽ tự vận chuyển lô hàng đến địa điểm kiểm tra và thực hiện việc kiểm tra mà không cần có đại diện của doanh nghiệp chứng kiến Container được kiểm tra bí mật và Hải quan sẽ làm lại niêm phong sau khi hoàn thành việc mở container để kiểm tra Việc kiểm tra được thực hiện bằng các công cụ như máy soi kiện hàng, máy dò ma tuý… Nếu hàng hoá kiểm tra thực tế khác biệt so
Trang 38với khai báo nhưng không phải là hàng cấm thì chuyển thông tin cho bộ phận kiểm tra
để kiểm tra khi doanh nghiệp đăng ký tờ khai Đối với trường hợp hàng hoá khác với lược khai nhưng thuộc diện hàng cấm, có ảnh hưởng tới an ninh quốc gia thì thông tin
sẽ được chuyển cho bộ phận điều tra để bí mật kiểm tra về lô hàng này Việc kiểm tra
lô hàng sẽ được thực hiện chặt chẽ khi làm thủ tục và được xử lý nghiêm nếu phát hiện
có hành vi vi phạm Giai đoạn 2 được xác định khi doanh nghiệp xuất nhập khẩu thực hiện việc khai báo để làm thủ tục xuất nhập khẩu Tại giai đoạn này, lô hàng được lựa chọn để kiểm tra sẽ được thực hiện một cách tự động dựa trên những nhóm chỉ tiêu thông tin và hồ sơ rủi ro được bộ phận rủi ro ở cấp trung ương hoặc cấp vùng đưa vào
hệ thống Các hồ sơ rủi ro cũng thường xuyên được cập nhật[16]
1.5.2 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về hải quan đối với hoạt động gia công hàng hóa xuất khẩu của Hải quan Trung Quốc
Hải quan nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa là cơ quan giám sát, quản lý hoạt động xuất cảnh, nhập cảnh, xuất khẩu, nhập khẩu của quốc gia Hải quan tiến hành giám sát quản lý đối với phương tiện vận tải xuất nhập cảnh, hàng hoá, hành lý, bưu phẩm, bưu kiện và các vật phẩm khác xuất nhập khẩu, thu thuế xuất nhập khẩu và các thuế khác, thu phí, chống buôn lậu, thống kê hải quan và làm các thủ tục nghiệp vụ hải quan khác
Việc quản lý hàng hoá của Hải quan Trung Quốc rất chặt chẽ, Luật Hải quan Trung Quốc quy định: Hàng hoá nhập khẩu kể từ khi vào cửa khẩu đến khi kết thúc thủ tục hải quan, hàng xuất khẩu kể từ khi khai báo hải quan đến khi ra khỏi biên giới, quá cảnh, mượn đường, nhập cảnh cho đến khi xuất cảnh, đều phải chịu sự giám sát, quản lý của Hải quan
Nhiệm vụ và quyền hạn của Hải quan Trung Quốc rất lớn bao gồm: kiểm tra phương tiện vận tải xuất nhập cảnh, kiểm tra hàng hoá, vật phẩm xuất nhập khẩu và tiến hành bắt giữ những hành vi vi phạm Luật Hải quan
Việc quản lý đối với hàng gia công cho nước ngoài: Nội dung của hợp đồng phải phù hợp với yêu cầu giám sát, quản lý của cơ quan Hải quan và phải làm thủ tục hải quan theo quy định Các chi cục Hải quan làm thủ tục hải quan đối với hàng gia công 100% thực hiện bằng máy tính từ khâu tiếp nhận, đến khâu thanh khoản theo một chương trình kết nối giữa doanh nghiệp và Hải quan Những xí nghiệp gia công xuất
Trang 39khẩu phải có trách nhiệm cung cấp đầy đủ giấy phép, giấy tờ liên quan đã được phê chuẩn và hợp đồng gia công với cơ quan Hải quan, định mức tiêu hao để gia công thành một đơn vị sản phẩm do Hải quan thẩm định Hải quan Trung Quốc có một cơ quan chuyên trách thẩm định định mức hàng gia công, cơ quan này độc lập với các đơn vị Hải quan làm thủ tục trực tiếp, đối với những nguyên liệu nhập khẩu đã được
sử dụng vào sản xuất hàng gia công, thuộc danh mục quy định của Nhà nước được bảo thuế thì phải tiến hành làm thủ tục khấu trừ thuế với cơ quan Hải quan
Những nguyên liệu nhập khẩu đã thu thuế thì tiến hành làm thủ tục thoái thuế với cơ quan Hải quan Trong các trường hợp đặc biệt được cơ quan có thẩm quyền cho phép những nguyên liệu nhập khẩu hoặc những thành phẩm gia công phải tiêu thụ nội địa, cơ quan Hải quan căn cứ vào giấy phép được tiêu thụ trong nội địa để tiến hành thu thuế đối với nguyên liệu nhập khẩu bảo thuế, nếu thuộc vào những mặt hàng nhập khẩu hạn chế của Nhà nước thì phải nộp giấy phép nhập khẩu cho cơ quan Hải quan
Như vậy, pháp luật về gia công xuất khẩu của Trung Quốc gần giống với Hải quan Việt Nam nhưng có phần chặt chẽ hơn do Hải quan quản lý việc thẩm định định mức hàng gia công rất chặt chẽ và xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm
Một số kinh nghiệm có thể học tập từ Hải quan Trung quốc:
Thứ nhất, khuyến khích và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tham gia hoạt động gia công xuất khẩu trên cơ sở quy định rõ ràng về quyền và nghĩa vụ của các bên
Đối với các nước phát triển việc tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp tham gia vào hoạt động xuất nhập khẩu chính là việc nâng cao khả năng cạnh tranh của quốc gia đó vào quá trình toàn cầu hóa Một trong những vấn đề được quan tâm là thủ tục hải quan Việc giải quyết thủ tục hải quan nhanh chóng và thuận lợi làm giảm chi phí cho các doanh nghiệp và góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế Đối với các nước chậm phát triển thông thường hoạt động gia công diễn ra dưới hình thức nhận gia công cho doanh nghiệp nước ngoài Đối với các nước phát triển chi phí nhân công cao thì hoạt động gia công diễn ra theo chiều ngược lại là đặt nước ngoài gia công sản phẩm sau đó nhập khẩu tiêu thụ trơng nước hoặc xuất khẩu sang nước thứ ba Cả hai chiều hướng này đều cần phải tạo các điều kiện thuận lợi nhất cho doanh nghiệp trong quá trình tham gia vào phân công lao động quốc tế đặc biệt là quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra hết sức sâu sắc như hiện nay
Trang 40Để hoạt động gia công xuất khẩu tuân thủ đúng các quy định của pháp luật thì cần phải quy định rõ ràng về quyền và nghĩa vụ của bên đặt gia công và bên nhận gia công Các hành vi vi phạm đều bị xử lý nghiêm minh theo đúng quy định của pháp luật
Thứ hai, cần có sự phân loại doanh nghiệp để có biện pháp quản lý có trọng điểm
Số lượng các doanh nghiệp tham gia xuất nhập khẩu là rất lớn, tuy nhiên mức
độ chấp hành pháp luật của các doanh nghiệp là hoàn toàn khác nhau Vì vậy cơ quan hải quan phải phân loại doanh nghiệp theo từng nhóm: Nhóm có nguy cơ rủi ro cao, nhóm có nguy cơ rủi ro trung bình và nhóm có nguy cơ rủi ro thấp
Đối với hàng hóa cũng cần phân ra từng nhóm mặt hàng có nguy cơ rủi ro cao, nguy cơ rủi ro trung bình và nguy cơ rủi ro thấp, cơ quan hải quan tập trung nắm bắt tình hình từ nhóm có nguy cơ rủi ro cao và trung bình, ở nhóm có nguy cơ thấp dùng phương pháp chấm theo phân luồng ngẫu nhiên để đánh giá quá trình chấp hành pháp luật của doanh nghiệp Tỷ lệ thông thường áp dụng là từ 1 đến 5 % Đối với các lô hàng có rủi ro thấp vẫn phải được kiểm tra ngẫu nhiên
Nếu phát hiện nhóm nguy cơ rủi ro thấp có vi phạm pháp luật thì ngay lập tức được chuyển sang nhóm có nguy cơ cao đồng thời trừ điểm dựa trên mã số cuả doanh nghiệp đó Những lô hàng đã được thông quan sẽ bị cơ quan hải quan tiến hành kiểm tra sau thông quan trong thời hạn 5 năm kể từ ngày hàng hoá được thông quan
Thứ ba, pháp luật quản lý nhà nước về hải quan đối với hoạt động gia công xuất khẩu phải tạo cơ sở pháp lý để cơ quan Hải quan áp dụng phương pháp quản lý hiện đại
Toàn cầu hóa kinh tế là một xu thế tất yếu có ảnh hưởng đến mọi quốc gia trên thế giới Hoạt động thương mại ngày càng phát triển cùng với sự gia tăng nhanh chóng
về số lượng phương tiện vận tải xuất nhập cảnh Toàn cầu hóa cho phép các nước tận dụng cơ hội để phát triển, tuy nhiên cũng đặt ra nhiều khó khăn thủ thách cho tất cả các nước nhất là các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam
Hiện nay, lượng hàng hóa cần thông quan ở cửa khẩu rất lớn do vậy nếu kiểm tra hàng hóa theo phương pháp thủ công truyền thống (kiểm tra từng giao dịch, từng lô hàng) thì sẽ mất rất nhiều thời gian mà kết quảt phát hiện vi phạm không cao Do vậy muốn thông quan nhanh hàng hóa mà vẫn đảm bảo công tác quản lý thì cần thiết phải