* Tìm hiểu và phân tích cấu trúc và quan hệ thị trường ngành hàng cá tra-cá basa tại Kiên Giang, ước lượng phân bổ lợi ích, chi phí và doanh thu giữa các tác nhân trong chuỗi giá trị cá
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
Người hướng dẫn khoa học:
PGS TS NGUYỄN THỊ KIM ANH
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin kính gửi lời chân thành cám ơn đến Ban Giám hiệu, quý Thầy Cô Trường Đại học Nha Trang, đặc biệt quý thầy cô tham gia giảng dạy lớp cao học Quản trị Kinh doanh 2009 Kiên Giang đã nhiệt tình truyền đạt kiến thức, kinh nghiệm, hỗ trợ và giúp đỡ cho tôi trong suốt thời gian theo học tại Trường
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lời chân thành cảm ơn PGS TS Nguyễn Thị Kim Anh đã rất nhiệt tình, tâm huyết ủng hộ, tận tình hướng dẫn tôi thực hiện và hoàn thành luận văn cao học này
Xin bày tỏ lòng biết ơn đến Ban Giám hiệu Trường CĐ KTKT Kiên Giang, Sở Nông nghiệp và PTNT Kiên Giang, Ban Giám đốc Công ty Kiên Hùng, Công ty Kisimex Kiên Giang, Hội nuôi trồng huyện Tân Hiệp Kiên Giang, các hộ nuôi, thương lái đã tham gia phỏng vấn; cũng như các bạn bè, đồng nghiệp, gia đình đã hỗ trợ, tạo mọi điều kiện thuận lợi, động viên, giúp đỡ tôi về thời gian, vật chất, tinh thần để tôi hoàn thành luận văn này
Luận văn này chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được những ý kiến đóng góp chân thành của Quý thầy cô và các bạn
Trân trọng
Lớp Cao học Quản trị kinh doanh 2009 Kiên Giang
Trường Đại Học Nha Trang
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực
Những kết luận, giải pháp và kiến nghị của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào
Tác giả luận văn
ONG THỊ TÚ ANH
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CN &
CTCBXK Công ty chế biến xuất khẩu
VASEP Hiệp hội các doanh nghiệp chê biến và xuất khẩu thủy sản
Trang 6DANH MỤC BẢNG, BIỂU, SƠ ĐỒ VÀ HÌNH VẼ
Bảng 1.1.Bản đồ chuỗi giá trị 15
Bảng 1.2.Bảng Quản trị thị trường .18
Bảng 1.3.Bảng các loại Quản trị thị trường 19
Bảng 1.4.Bảng các chỉ số tác nhân nắm vai trò chủ chốt trong QLTT 20
Bảng 1.5.Bảng Đánh giá độ tin cậy của chuỗi giá trị 21
Bảng 1.6.Bảng Nâng cấp chuỗi giá trị 23
Bảng 1.7.Bảng Các yếu tố thúc đẩy và cản trở nâng cấp 24
Bảng 1.8 Bảng Sản lượng cá da trơn ở Đông Nam Á 26
Bảng 1.9.Bảng Sản lượng cá da trơn nuôi tại Mỹ giai đoạn 2005-2010 26
Bảng 1.10.Bảng Sản lượng cá da trơn nuôi tại Trung Quốc giai đoạn 2005-2010 27
Bảng 2.Bảng Thực đo mực nước tại các trạm 29
Bảng 3.1.Nhu cầu thức ăn công nghiệp 2010-2015 37
Bảng 3.2.Quy trình công nghệ chế biến cá tra Fillet đông lạnh 42
Bảng 3.3.Ước lượng chi phí và lợi nhuận của các tác nhân trong chuỗi 52
Bảng 3.4 Phân phối lợi nhuận giữa các tác nhân – Trường hợp cung ứng cho thị trường xuất khẩu 54
Bảng 3.5 Phân phối lợi nhuận giữa các tác nhân – Trường hợp cung ứng cho thị trường nội địa 55
Bảng 3.6 Phân phối lợi nhuận giữa các tác nhân – Trường hợp cung ứng cho thị trường xuất khẩu 56
Hình 1 Chuỗi giá trị 13
Hình 2 Sơ đồ tỉnh Kiên Giang 29
Hình 3.1 Chuỗi giá trị cá tra-cá basa tại Kiên Giang 39
Hình 3.2 Giá cá thu mua ở các thương lái đến tháng 8/2010 49
Hình 3.3 Phân bố giá trị tăng thêm trong chuỗi từ hộ nuôi đến công ty chế biến xuất khẩu .54
Hình 3.4 Phân bố giá trị tăng thêm trong chuỗi từ hộ nuôi đến người tiêu dùng nội địa .54
Trang 7Hình 3.5 Phân bố giá trị tăng thêm trong chuỗi từ hộ nuôi đến công ty chế biến xuất khẩu 55 Hình 4 Mô hình hợp tác dọc trong chuỗi giá trị cá tra-cá basa 59
Trang 8MỤC LỤC
Trang bìa phụ
Lời cảm ơn 3
Lời cam đoan 4
Danh mục các từ viết tắt 5
Danh mục bảng biểu, sơ đồ, hình vẽ 6
Mục lục 8
MỞ ĐẦU 10
1 Tính cấp thiết của đề tài 10
2 Mục tiêu nghiên cứu 11
3 Câu hỏi nghiên cứu 11
4 Đối tượng nghiên cứu 12
5 Phạm vi nghiên cứu 12
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 13
1.1 Cơ sở lý luận 13
1.1.1 Khái niệm chuỗi giá trị (Value chain) 13
1.1.2 Tầm quan trọng của phân tích chuỗi giá trị 15
1.1.3 Phương pháp xác định chuỗi giá trị 15
1.1.4 Nâng cấp trong chuỗi giá trị 22
1.2 Cơ sở thực tiễn 25
1.2.1 Tổng quan thị trường cá tra-cá basa thế giới và Việt Nam 25
1.2.2 Tình hình nghiên cứu chuỗi giá trị ngành hàng cá tra- cá basa trong nước 28
CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 29
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 29
2.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội 30
2.2 Phương pháp nghiên cứu 32
2.2.1 Phương pháp thu thập tài liệu 32
Trang 92.2.2 Phương pháp phân tích chuỗi giá trị 33
2.2.3 Phương pháp chuyên gia 33
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 34
3.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ cá tra-cá basa tỉnh Kiên Giang 34
3.1.1 Tình hình sản xuất 34
3.1.2 Các dịch vụ hậu cần cho sản xuất cá tra-cá basa 36
3.1.3 Tình hình chế biến và tiêu thụ cá tra-cá basa 38
3.2 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 38
3.2.1 Hộ nuôi 39
3.2.2 Thương lái 41
3.2.3 Công ty chế biến xuất khẩu 41
3.2.4 Nhà nhập khẩu 46
3.2.5 Người buôn bán sỉ 46
3.2.6 Người buôn bán lẻ 46
3.3 Tình hình cạnh tranh mặt hàng cá tra-cá basa 47
3.4 Tổ chức vận hành thị trường 48
3.4.1.Tiến trình xác lập giá 48
3.4.2.Phương thức giao dịch và thanh toán 50
3.5.Kết quả thực hiện thị trường 50
3.5.1.Phân tích chi phí và lợi nhuận biên cho mỗi tác nhân 50
3.5.2 Cơ cấu giá trị tăng thêm và tỷ suất lợi nhuận biên trong chuỗi giá trị 54
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO 60
Phụ lục 1 61
Phụ lục 2 65
Phụ lục 3 66
Phụ lục 4 68
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong xu thế thương mại toàn cầu đang phát triển nhanh chóng với nhiều chiều hướng như hiện nay, không phải bất cứ quốc gia nào tham gia thị trường quốc tế cũng có thể dễ dàng thuận lợi giao dịch ngoại thương mà không gặp cản trở Các doanh nghiệp xuất khẩu
cá da trơn Việt Nam đã vấp phải vụ tranh chấp thương mại đầu tiên khi bị Hiệp Hội Các Chủ Trại Cá Nheo Mĩ kiện bán phá giá các sản phẩm cá tra-cá basa phi lê vào thị trường này Vụ kiện kéo dài 2 năm, để lại cho các doanh nghiệp Việt Nam nhiều bài học và cũng nhiều vấn đề, trong đó có việc tìm thị trường mới cho sản phẩm và xem xét nhìn nhận lại công tác thị trường ở chính các doanh nghiệp
Sau khi kết thúc vụ kiện bán phá giá cá tra, basa vào thị trường Mĩ với quyết định của
US ITC cho phép áp mức thuế chống bán phá giá lên sản phẩm phi lê cá da trơn của Việt Nam, việc xuất khẩu của cá tra, basa chững lại, đầu ra vướng mắc do xuất khẩu sang thị trường lớn nhất gặp cản trở, công tác tìm thị trường đầu ra cho sản phẩm cá vào thời điểm này mang ý nghĩa quyết định và quan trọng hơn bao giờ hết Việc tìm thị trường đầu ra còn giúp doanh nghiệp xuất khẩu cá tra, basa tổ chức chặt chẽ khâu định vị và phát triển thị trường trong công tác xúc tiến xuất khẩu cũng như mở rộng thị trường trong nước một cách đúng đắn, nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của tỉnh nhà trong khu vực ĐB SCL Kiên Giang là một trong những địa phương thuộc vùng Tây sông Hậu, cùng với cây lúa, còn có thế mạnh phát triển nuôi các loại cá nước ngọt, trong đó con cá tra, cá basa đang được xúc tiến nuôi trên diện rộng theo phương thức công nghiệp và bán công nghiệp (CN & BCN) Quanh năm được hưởng nguồn nước ngọt và phù sa của sông Hậu đổ về, Kiên Giang hiện có 5 tuyến kênh trục và 49 tuyến kênh ngang, 85% dân cư sinh sống dọc theo các tuyến kênh này Với biên độ nhiệt 20 - 350c (pH trong nước là 6 - 7,5) được chi phối bởi chế độ nhật triều biển Tây; đất thịt pha sét đã cơ bản được rửa phèn đó là những điều kiện thuận lợi để địa phương này phát triển nuôi cá tra CN&BCN Hiện nay, diện tích nuôi cá tra, cá basa của tỉnh rộng gần 80 ha, song mới có 5 hộ ương cá giống và
42 hộ đang nuôi khoảng 37 ha cá tra BCN
Trang 11Theo quy hoạch thì năm 2010, diện tích nuôi cá tra của tỉnh vào khoảng 74 ha Đến năm 2015 nâng lên 364 ha Địa bàn nuôi là dọc các tuyến kênh trục Rạch Giá - Long Xuyên, tuyến kênh Đòn Dông, tuyến kênh xáng Chưng Bầu, tuyến kênh xáng KH1 thuộc các xã Tân Hiệp A, Tân Thành, Tân An, Tân Hiệp B, Thạnh Đông B, Tân Hội và Thạnh Đông, Giồng Giềng và Gò Quao Quá trình thực hiện, tỉnh còn kết hợp nuôi cá tra-cá basa trên đất ruộng theo mô hình 2 lúa + 1 thủy sản, diện tích là 800 ha (gồm nhiều loại cá, trong đó có cá tra) Thực ra, cách đây 5 năm, nông dân huyện Tân Hiệp đã đi đầu toàn tỉnh khi đưa con cá tra vào nuôi dưới dạng thâm canh và thâm canh cải tiến Qua thu hoạch cho thấy, số hộ có lãi là 60%, còn 20% hòa vốn và 20% thì lỗ nặng Nhưng điều đáng nói là qua thực tế sản xuất, con cá tra đang thực sự cuốn hút nhiều hộ đầu tư vốn để nuôi thả
Với mong muốn góp phần giải quyết tìm hướng đi mới cho giá trị sản phẩm thủy sản này của tỉnh nhà, tôi đã lựa chọn đề tài: “Chuỗi giá trị sản phẩm thủy sản – Trường hợp nghiên cứu mặt hàng cá tra - cá basa tỉnh Kiên Giang”
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu chung: Phân tích chuỗi giá trị cá tra, cá basa tại địa bàn nghiên cứu, từ
đó đưa ra những gợi ý chính sách nhằm hoàn thiện chuỗi giá trị cá tra-cá basa Kiên Giang
- Mục tiêu cụ thể:
* Hệ thống hoá cơ sở lý luận cơ bản về chuỗi giá trị
* Tìm hiểu và phân tích cấu trúc và quan hệ thị trường ngành hàng cá tra-cá basa tại Kiên Giang, ước lượng phân bổ lợi ích, chi phí và doanh thu giữa các tác nhân trong chuỗi giá trị cá tra-cá basa;
* Đề xuất định hướng và các khuyến nghị để hoàn thiện chuỗi giá trị cá tra-cá basa tỉnh Kiên Giang
3 Câu hỏi nghiên cứu
- Chuỗi giá trị cá tra-cá basa ở Kiên Giang có cấu trúc, tổ chức và hoạt động như thế nào?
- Có những tác nhân chủ yếu nào tham gia chuỗi giá trị cá tra-cá basa Kiên Giang?
Trang 12- Chi phí – Lợi nhuận trong chuỗi giá trị được phân bổ như thế nào giữa các tác nhân?
- Khả năng liên kết hiệu quả các tác nhân trong chuỗi giá trị cá tra như thế nào?
4 Đối tượng nghiên cứu
Những vấn đề thực tiễn về chuỗi giá trị cá tra-cá basa tại địa bàn nghiên cứu Cụ thể là sẽ điều tra, khảo sát, đánh giá các tác nhân chủ yếu tham gia chuỗi giá trị cá tra-cá basa tại tỉnh Kiên Giang bao gồm: hộ nuôi, thương lái, công ty chế biến
Trang 13CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Khái niệm chuỗi giá trị (Value Chain)
Khái niệm chuỗi giá trị
Chuỗi giá trị là một sáng tạo học thuật của GS Michael Porter, học giả Marketing lừng lẫy Ông đưa thuật ngữ này lần đầu tiên vào năm 1985 trong cuốn sách Phân tích về lợi thế cạnh tranh, khi khảo sát kỹ các hệ thống sản xuất, thương mại và dịch vụ đã đạt tới
tầm ảnh hưởng rất lớn ở Mỹ và các quốc gia phát triển khác
Theo Michael Porter chuỗi giá trị là chuỗi của các hoạt động từ khâu đầu tiên đến khâu cuối cùng của sản phẩm bao gồm các hoạt động chính và các hoạt động bổ trợ để tạo nên lợi thế cạnh tranh của sản phẩm Theo đó khi đi qua lần lượt các hoạt động của chuỗi mỗi sản phẩm nhận được một số giá trị Các hoạt động chính là các hoạt động liên quan đến việc chuyển đổi về mặt vật lý, quản lý sản phẩm cuối cùng để cung cấp cho khách hàng Các hoạt động bổ trợ nhằm hỗ trợ cho các hoạt động chính
Hình 1 Chuỗi giá trị (nguồn: www.12manager.com)
Các hoạt động chính bao gồm hậu cần đến, sản xuất, hậu cần ngoài, marketing và bán hàng, dịch vụ khách hàng Hậu cần đến liên quan đến việc nhận, lưu trữ, dịch chuyển đầu vào sản phẩm Sản xuất là hoạt động chuyển nguyên vật liệu đầu vào thành sản phẩm cuối cùng Hậu cần ngoài gồm những hoạt động kết hợp thu thập, lưu trữ và phân phối sản phẩm từ nhà sản xuất đến người mua Marketing và bán hàng là những hoạt động liên quan đến việc quảng cáo, khuyến mại, lựa chọn kênh phân phối, quản trị mối quan hệ
Trang 14trong kênh và định giá Dịch vụ khách hàng (dịch vụ sau bán hàng) liên quan đến việc cung cấp dịch vụ nhằm gia tăng, duy trì giá trị của sản phẩm
Các hoạt động bổ trợ bao gồm các hoạt động như thu mua, phát triển công nghệ, quản trị nguồn nhân lực, cơ sở hạ tầng của công ty Thu mua liên quan đến chức năng mua nguyên vật liệu đầu vào bao gồm nguyên vật liệu, các nhà cung cấp, máy móc…Phát triển công nghệ liên quan tới các bí quyết, quy trình, thủ tục, công nghệ được sử dụng Quản trị nguồn nhân lực bao gồm các hoạt động liên quan tới chiêu mộ, tuyển dụng, đào tạo, phát triển và quản trị thù lao cho người lao động trong công ty Cơ sở hạ tầng công ty bao gồm quản lý chung, lập kế hoạch quản lý, tuân thủ luật pháp, tài chính, kế toán, quản
lý chất lượng, quản lý cơ sở vật chất…
Phân biệt giữa chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng
Theo định nghĩa chuỗi cung ứng, chuỗi cung ứng là đường link liên kết các dòng
chảy sản phẩm, dịch vụ, thông tin từ nhà cung cấp đầu tiên tới khách hàng cuối cùng Các hoạt động của chuỗi cung ứng như thu mua nguyên vật liệu, vận chuyển, chuyển hoá các đầu vào thành sản phẩm, phân phối các sản phẩm tới khách hàng đều tồn tại trong chuỗi giá trị Hay nói cách khác chuỗi cung ứng đại diện cho các hoạt động chính của chuỗi giá trị, là tập con của chuỗi giá trị
Mối quan hệ giữa chuỗi giá trị và phân tích ngành hàng
Phân tích chuỗi giá trị hỗ trợ cho phân tích ngành hàng, đưa ra các yếu tố mới tăng cường khả năng phân tích ngành hàng, và dựa trên bộ khung của phân tích ngành hàng
Ngành hàng
- Xu hướng và đặc điểm thị trường
- Quan hệ giữa các bên tham gia
Trang 151.1.2 Tầm quan trọng của phân tích chuỗi giá trị
Cùng với phân công lao động mạnh mẽ và việc bố trí các công đoạn sản xuất rộng khắp trong nền kinh tế toàn cầu, tính cạnh tranh theo hệ thống đóng vai trò ngày một quan
trọng hơn
Tính hiệu quả trong sản xuất chỉ là điều kiện cần cho khả năng thâm nhập vào nền
kinh tế toàn cầu
Để thu lợi một cách bền vững từ việc tham gia vào nền kinh tế toàn cầu cần hiểu rõ
tính năng động của các yếu tố trong toàn bộ chuỗi giá trị
1.1.3 Phương pháp xác định chuỗi giá trị
Các bước mô tả chuỗi giá trị:
• Xác định rõ mục tiêu
• Xác định thị trường cuối cùng
• Xác định các chức năng và hoạt động
• Xác định tác nhân tham gia vào các chức năng
• Mô tả liên kết giữa các tác nhân
Vẽ bản đồ chuỗi giá trị
Chọn điểm bắt đầu: Phụ thuộc vào mục đích của từng đối tượng
Bảng 1.1 Bản đồ chuỗi giá trị Lĩnh vực quan
Phân phối thu
nhập toàn cầu
Người tiêu dùng cuối cùng trong ngành sản phẩm
Ngược lại toàn bộ chuỗi từ người bán lẻ đến thương lái và nhà sản xuất
Vai trò của đơn
mua độc lập
Bên mua độc lập, bán buôn
Ngược lại tới người sản xuất và cung ứng trong cùng chuỗi, và hướng lên tới đơn vị bán lẻ
Thiết kế Các cơ sở thiết kế, Hướng lên tới người bán lẻ ở các thị trường
Trang 16Lĩnh vực quan
quảng cáo độc lập, và các hãng lớn có thương hiệu quốc tế
cuối cùng khác nhau và ngược lại tới người sản xuất và cung ứng
Vai trò của đơn
vị sản xuất chủ
chốt
Các hãng lớn lắp ráp sản phẩm
Hướng lên tới cơ sở bán lẻ và ngược lại tới người cung ứng và các cơ sở cung ứng cho
họ
Đơn vị cung
ứng cấp 1
Các hãng lớn cung ứng vật tư cho hãng lắp ráp
Hướng lên tới hãng lắp ráp và người tiêu dùng có thể ở nhiều ngành sản phẩm khác nhau Ngược lại tới người cung ứng và các
cơ sở cung ứng cho họ Đơn vị cung
ứng cấp 2 và 3
Phần lớn là các hãng nhỏ
Hướng lên tới khách hàng ở các ngành khác nhau Ngược lại tới người cung ứng và các
cơ sở cung ứng cho họ
Đơn vị sản xuất
Hướng lên tới cơ sở sản xuất lớn, thương mại và thị trường tiêu dùng cuối cùng Ngược lại tới người cung ứng máy móc và thiết bị
Hộ sản xuất
nông nghiệp Trang trại
Hướng lên tới cơ sở chế biến, thương mại và khách hàng của họ Ngược lại tới cơ sở cung cấp đầu vào
Các doanh
nghiệp nhỏ và
trang trại
Trang trại nhỏ và các doanh nghiệp công nghiệp vừa và nhỏ
Người mua trong một số chuỗi giá trị khác nhau ; người cung ứng đầu vào
Người sản xuất
và buôn bán phi
chính thức
Làm việc tại nhà và buôn bán nhỏ hè phố
Hướng lên tới cơ sở chế biến, lắp ráp hoặc các tổ chức phân phối khác Ngược lại tới cơ
sở bán lẻ
Trang 17- Các số liệu đi kèm với bản đồ chuỗi giá trị:
(i) giá trị tổng sản lượng;
(ii) giá trị sản lượng ròng (tổng sản lượng trừ đi chi phí đầu vào trung gian);
(iii) chu chuyển vật chất của hàng hoá trong chuỗi;
(iv) chu chuyển của các dịch vụ, tư vấn và kỹ năng trong chuỗi;
(v) khả năng tạo việc làm, có thể phân biệt theo hợp đồng/không có hợp đồng, giới, tuổi, dân tộc;
(vi) đặc điểm của khu vực bán sản phẩm: bán buôn/bán lẻ, tập trung tiêu thụ và một số người mua lớn, số lượng người mua;
(vii) xuất nhập khẩu đến/từ vùng nào?
- Quản trị thị trường có vai trò điều phối quan trọng trong quá trình toàn cầu hóa các khâu trong chuỗi giá trị
- Phân biệt giữa điểm nút (có thể thay đổi từ tác nhân này sang tác nhân khác theo thời gian) và vai trò dẫn dắt trong chuỗi giá trị (nắm thương hiệu/marketing hay nắm vai trò điều phối và quản lý)
- Quyền lực trong chuỗi giá trị có thể thực hiện trong 2 dạng : (i) ảnh hưởng đến chiều hướng phát triển của chuỗi (buyer- or supplier-driven); (ii) chủ động quản lý và điều phối sự vận hành của các khâu trong chuỗi để đưa ra các hoạt động mong muốn
Trang 18- Có thể so sánh quản trị thị trường với hệ thống chính trị 3 chức năng của chính phủ: lập pháp, hành pháp và tư pháp
(i) Lập pháp: đặt ra luật chơi: mức chi phí cạnh tranh, khả năng cung ứng, chất lượng, giá thành, giao hàng đúng hạn, tiêu chuẩn quốc tế (ISO9000, ISO14000, SA8000, SPS, HACCP)
(ii) Hành pháp: hỗ trợ các tác nhân cung cấp các hàng hoá/dịch vụ theo luật chơi
Hỗ trợ trực tiếp: chất lượng sản phẩm Hỗ trợ gián tiếp: buộc các hãng cấp một hỗ trợ các hãng cấp hai đạt được các tiêu chuẩn
(iii) Tư pháp: giám sát để thưởng phạt các tác nhân trong việc thực hiện luật chơi
Bảng 1.2 Quản trị thị trường Tác nhân bên trong chuỗi giá trị Tác nhân bên ngoài chuỗi giá trị
Lập pháp Đặt ra các tiêu chuẩn về cung ứng
như thời điểm giao hàng, mật độ giao hàng và chất lượng
Tiêu chuẩn môi trường Tiêu chuẩn lao động trẻ em
…
ứng để đạt được các tiêu chuẩn
NGO giám sát các tiêu chuẩn lao động
Các công ty chuyên nghiệp giám sát tiêu chuẩn ISO
Hành pháp Quản lý chuỗi cung ứng để hỗ trợ
người cung ứng đạt được tiêu chuẩn Hiệp hội sản xuất hỗ trợ các thành viên đạt được tiêu chuẩn
Cơ sở cung cấp dịch vụ chuyên môn
có độ tin cậy cao (thời đại theo đuổi nhu cầu hàng loạt của khách hàng), không nhất thiết các tác nhân sẽ bị đào thải nếu không đáp ứng tiêu chuẩn, mà vấn đề là hệ thống hành
Trang 19pháp phải trợ giúp các tác nhân phạm tội đạt được tiêu chuẩn đề ra và theo đuổi mục tiêu dài hạn
(vi) Độ sâu và độ thẩm thấu của quản trị thị trường : Độ sâu : mức độ tác động của quản trị đến các hoạt động cốt lõi của các tác nhân Độ thẩm thấu : quyền lực và luật chơi được bao nhiêu tác nhân áp dụng
Các loại quản trị thị trường
- Phân biệt theo vai trò của bên mua và bên bán trong chuỗi giá trị:
(i) Người mua dẫn dắt (buyer-driven) : các ngành sử dụng nhiều lao động, thường
có trong hệ thống sản xuất hướng tới xuất khẩu và liên kết mạng, vai trò quan trọng nhất thuộc về các doanh nghiệp lớn phụ trách bán lẻ, marketing, đặt thương hiệu Ví dụ : nông sản, may mặc, đồ chơi, dụng cụ gia đình, điện tử gia đình, thủ công
(ii) Người bán dẫn dắt (supplier-driven) : người sản xuất nắm được các công nghệ mấu chốt và đóng vai trò điều phối các khâu trong chuỗi, sử dụng nhiều vốn, thường do đầu tư nước ngoài nắm, phản ánh trật tự của công nghiệp hoá thay thế hàng nhập khẩu Ví
dụ : ô tô, máy bay, máy tính, bán dẫn, máy công nghiệp
Bảng 1.3 Các loại quản trị thị trường
Người dẫn dắt chuỗi hàng
hoá toàn cầu
(R&D) Sản xuất
Thiết kế Marketing
Đầu vào trung gian Sản phẩm công nghiệp nặng
Hàng tiêu dùng thường xuyên
Máy tính
Trang phục Giày dép
Trang 20Máy bay Đồ chơi Loại sở hữu của các
doanh nghiệp chế tác
phương, thường đặt ở các nước đang phát triển
- Giả thuyết về chuyển đổi từ chuỗi giá trị người mua dẫn dắt sang người bán dẫn dắt về quản trị thị trường: chuyển từ hoa lợi dựa trên các hoạt động hữu hình sang vô hình (phần mềm) sử dụng nhiều tri thức và kỹ năng do hệ thống tổ chức đem lại (tạo ra rào cản gia nhập) Các tài sản vô hình có thể tìm thấy trong tất cả các khâu của chuỗi giá trị, tuy nhiên tập trung nhiều nhất ở khâu thiết kế, nhãn hiệu và điều phối chuỗi Do cạnh tranh tăng lên, nên khâu nhãn hiệu và marketing đóng vai trò quan trọng nhất trong chuỗi Tuy nhiên mức độ lan toả của các tài sản vô hình có thể trải ra rất rộng nên có thể cùng tồn tại trong cùng một chuỗi giá trị dạng người mua dẫn dắt và người bán dẫn dắt
Bảng 1.4 Các chỉ số tác nhân nắm vai trò chủ chốt trong quản trị thị trường
Tỷ lệ trong tổng doanh thu
bán của chuỗi
Không hẳn là chỉ số tốt do có thể chỉ là cơ sở buôn lại các vật liệu và không có nhiều ảnh hưởng
Tỷ lệ trong tổng giá trị gia
tăng của chuỗi
Chỉ số này tốt hơn cho việc đo lường quy mô vì nó phản ánh tỷ lệ trong tổng hoạt động
Tỷ lệ trong tổng lợi nhuận
của chuỗi
Có thể là một chỉ số tốt cho quyền lực trong chuỗi, nhưng cũng có thể sinh ra từ việc nắm giữ độc quyền đối với các nguồn lực tự nhiên (ví dụ bạch kim) và có thể không có nhiều ảnh hưởng đối với quá trình chế biến về sau
Tỷ suất lợi nhuận Chỉ số tồi vì các tác nhân nhỏ cũng có thể có lợi
nhuận cao nhưng có ít ảnh hưởng
Tỷ lệ trong sức mua của Chỉ số tốt về quyền lực, đặc biệt trong trường hợp
Trang 21chuỗi xảy ra bất bình đẳng trong đó hãng phụ thuộc vào
bên cung cung ứng ít hơn so với bên mua Nắm giữ các công nghệ chủ
chốt và năng lực riêng biệt
Chỉ số tốt đối với chuỗi do người bán dẫn dắt (như ngành ô tô) vì giúp xác định năng lực riêng biệt của hãng trong chuỗi, trong khi đó các hãng nhỏ chỉ hỗ trợ các phần còn lại trong chuỗi
Thủ tục đặt hàng Đấu thầu tự do, giá cả được
thoả thuận trước khi hợp đồng được ký kết
Không cần đấu thầu hoặc bên bán đã được định trước, giá
cả được xác định khi giao hợp đồng
Quan hệ hợp đồng Bên cung ứng chỉ sản xuất
khi nhận được hợp đồng viết tay
Bên cung ứng có thể linh động về yêu cầu của bên đặt hàng và có thể sản xuất mà chưa cần hợp đồng
Kiểm định chất
lượng
Mức độ phụ thuộc Bên bán có nhiều nguời
mua, và bên mua có nhiều người bán
Chỉ có một vài khách hàng cho bên bán, và bên mua cũng chỉ có vài nhà cung ứng
Hỗ trợ kỹ thuật Hiếm khi cần hỗ trợ kỹthuật,
và phải trả tiền
Chuyển giao công nghệ liên tục
Trang 22Liên lạc Ít và thường qua kênh chính
thức Chủ yếu tập trung vào phòng thu mua
Thường xuyên và thường qua kênh phi chính thức
Thông qua nhiều kênh khác nhau như kỹ sư, phòng tổ chức, phòng điều hành
Mở rộng tín dụng Phạt hoặc không có mở rộng
tín dụng
Dễ nhận được mở rộng tín dụng, thời hạn vay dài và lãi suất ưu đãi
Điều kiện thanh
toán với việc thuê
ngoài
Chậm và thông qua các thủ tục của khu vực phi chính thức
Thanh toán khi giao hàng
1.1.4 Nâng cấp trong chuỗi giá trị
Nâng cấp trong chuỗi giá trị khác với đổi mới công nghệ do nâng cấp đề cập tới vấn đề tốc độ thay đổi tương đối so với đối thủ cạnh tranh
- Nâng cấp theo quy trình: tăng hiệu quả của quy trình bên trong hơn so với các đối thủ, kể cả trong một khâu (ví dụ tăng công suất sử dụng dự trữ, giảm hư hại sản phẩm), và giữa các khâu trong chuỗi (ví dụ việc giao hàng đúng hạn, chia thành nhiều lần nhỏ)
- Nâng cấp sản phẩm: đưa ra các sản phẩm mới hoặc cải thiện các sản phẩm hiện
có nhanh hơn các đối thủ, kể cả trong một khâu và giữa các khâu trong chuỗi
- Nâng cấp chức năng: thêm giá trị gia tăng thông qua thay đổi một số hoạt động trong hãng (ví dụ như nhận thêm/hoặc thuê ngoài các dịch vụ kế toán, hậu cần và kiểm định chất lượng) hoặc chuyển trọng tâm các hoạt động tới các khâu khác trong chuỗi giá trị (ví dụ từ chế tác sang thiết kế)
- Nâng cấp chuỗi: chuyển đến một chuỗi giá trị mới
• Con đường nâng cấp:
- Quy trình: chuyển từ lắp ráp thiết bị sang sản xuất thiết bị
- Sản phẩm: sản xuất thiết bị tự thiết kế
- Chức năng: sản xuất thiết bị có thương hiệu riêng
Trang 23- Chuỗi: chuyển sang chuỗi giá trị mới, ví dụ từ sản xuất TV sang màn hình máy tính
• Các chỉ số cho việc nâng cấp
Bảng 1.6 Nâng cấp trong chuỗi
Nâng cấp quy trình
- Trong từng khâu R&D, thay đổi hệ thống hậu
cần và quản lý chất lượng, đầu tư máy móc mới
Giảm chi phí, tăng chất lượng và khả năng giao hàng, giảm thời gian đưa hàng tới thị trường, cải thiện lợi nhuận, thúc đẩy thương hiệu
- Giữa các khâu R&D, cải tiến quản lý chuỗi
cung ứng, khả năng kinh doanh điện tử, hỗ trợ trao đổi trong chuỗi cung ứng
Giảm giá thành sản phẩm cuối cùng, tăng chất lượng của sản phẩm cuối cùng, giảm thời gian đưa hàng tới thị trường, cải thiện lợi nhuận cho cả chuỗi, thúc đẩy thương hiệu
Nâng cấp sản phẩm
- Trong từng khâu Mở rộng phòng thiết kế và
marketing, thúc đẩy các bộ phận chức năng phát triển sản phẩm mới
Tỷ lệ sản phẩm mới trong tổng doanh thu (các sản phẩm được giới thiệu trong một vài năm trước đó)
Tỷ lệ sản phẩm có thương hiệu trong tổng doanh thu
- Giữa các khâu Hợp tác với bên cung ứng và
khách hàng để phát triển sản phẩm mới - ứng dụng kỹ thuật đồng bộ (concurrent
Số nhãn hiệu có bản quyền Tăng giá trị trên một đơn vị sản phẩm mà không giảm thị phần
Trang 24engineering) Nâng cấp chức năng
- Trong từng khâu Đạt được các chức năng tạo
ra giá trị gia tăng cao hơn hoặc thuê ngoài các chức năng có giá trị gia tăng thấp
Phân công lao động trong chuỗi Các chức năng đạt được trong một khâu cụ thể của chuỗi
chuỗi hoặc rời bỏ các khâu hiện tại
Tăng lợi nhuận, tăng kỹ năng, tăng tiền lương
và chuyển sang chuỗi mới, thêm các hoạt động mới trong chuỗi mới
Tăng lợi nhuận, tỷ lệ doanh thu từ khu vực sản xuất mới
Bảng 1.7 Các yếu tố thúc đẩy và cản trở nâng cấp
Trong
hãng
- Ngăn cản của cấp quản lý trung
gian đối với hoạt động mới
- Sai lầm của quản lý cao cấp
trong việc cam kết các nguồn lực cho phát triển sản phẩm mới
- Thiếu các kỹ năng cần thiết
- Ban quản lý cam kết nâng cấp
- Hệ thống R&D được quản lý hiệu quả
- Định chế hoá hệ thống cải tiến thường xuyên
Ngoài
hãng
- Bên mua ngăn cản bên cung ứng
tự đưa ra thiết kế riêng
- Sở hữu trí tuệ
- Thiếu nguồn nhân lực có đủ kỹ
năng trong nền kinh tế
- Cơ sở hạ tầng cho công nghệ
thông tin kém
- Tác nhân chủ chốt thúc đẩy và hỗ trợ nâng cấp của các tác nhân khác trong chuỗi
Trang 25• Phân phối lợi ích trong chuỗi giá trị
- Lợi nhuận không phải là chỉ số duy nhất phản ánh lợi ích thu được từ chuỗi giá trị
- Phân phối trong chuỗi giá trị được phản ảnh qua lợi ích đem lại cho tác nhân đóng góp vốn, lao động và tài nguyên thiên nhiên trong từng khâu của chuỗi giá trị
- Lợi ích cần được phản ánh qua thu nhập ròng (tổng doanh thu trừ đi chi phí đầu vào trung gian) chứ không phải tổng doanh thu
- Lợi ích thu được phụ thuộc vào hoa lợi và rào cản gia nhập
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Tổng quan thị trường cá tra thế giới và Việt Nam
Các nước sản xuất chính
Cá tra thuộc bộ cá da trơn, là bộ cá được nuôi nhiều ở Đông Nam Á, Mỹ, Trung
Quốc, một ít ở Nam Mỹ Các loài chính có tên khoa học như Ictalurus punctatus (cá nheo Mỹ), Pangasius spp (cá tra), Pangasius hypophthalmus, Silurus asotus, Leiocassi
longirostris, Pelteobagrus fulvidraco, trong đó các loài pangasius, Ictalurus punctatus, Silurus asotus được nuôi với khối lượng lớn nhất và tập trung ở Việt Nam, Mỹ và Trung
Quốc chiếm trên 99% tổng sản lượng
- Đông Nam Á: Cá tra được nuôi phổ biến hầu hết ở các nước Ðông Nam Á, là
một trong các loài cá nuôi quan trọng nhất của khu vực này Bốn nước trong hạ lưu sông
Mê Kông đã có nghề nuôi cá tra truyền thống là Thái Lan, Capuchia, Làovà Việt Nam do
có nguồn cá tra tự nhiên phong phú Là khu vực sản xuất cá da trơn quan trọng của thế giới Trong đó, nhiều nhất là Việt Nam, tiếp đến là Thái Lan, Inđônêxia, Malaixia Các nước khác trong khu vực sản xuất không đáng kể Inđônêxia và Campuchia có sự tăng trưởng rất nhanh trong giai đoạn 2005-2010
Trang 26Bảng 1.8.Sản lượng cá da trơn nuôi ở Đông Nam Á giai đoạn 2005-2010 (ĐV:tấn)
Nguồn: FAO
+ Việt Nam: Kể từ sau năm 2005 đến nay, Việt Nam nổi lên trở thành nước sản
xuất và xuất khẩu cá da trơn lớn nhất thế giới, xuất khẩu đạt 894.489 tấn với kim ngạch xuất khẩu hơn 2 tỷ USD Sự thành công của Việt Nam chắc chắn sẽ làm cho nhiều nước ở Đông Nam Á quan tâm hơn đến đối tượng này
- Mỹ: Theo số liệu thống kê của FAO, năm 2010 tổng sản lượng cá da trơn của Mỹ
đạt 285.970 tấn, đối tượng nuôi chính là loài có tên khoa học Ictalurus punctatus Cá da trơn ở Mỹ được nuôi chủ yếu ở 4 bang là Ababana, Ankansas, Louisiana và Misissipi Tuy nhiên, những năm gần đây giá thành sản phẩm tăng do giá xăng và giá thức ăn tăng
đã gây khó khăn cho người nuôi Hơn nữa, thị trường cá da trơn Mỹ đang bị cạnh tranh bởi cá da trơn từ nước ngoài (Trung Quốc, Việt Nam, Nam Mỹ) nên nghề nuôi cá da trơn
ở Mỹ hiện gặp rất nhiều khó khăn, sản xuất thu hẹp dần
Bảng 1.9.Sản lượng cá da trơn nuôi tại Mỹ giai đoạn 2005-2010
Trang 27- Trung Quốc: Nổi lên trở thành nhà xuất khẩu cá da trơn lớn thứ hai vào Mỹ (chỉ
sau Việt Nam) Hiện tại Trung Quốc chiếm khoảng 27% tổng sản lượng cá da trơn nhập khẩu vào Hoa Kỳ Xuất phát từ nhu cầu thị trường quốc tế và nội địa rất lớn nên sản lượng cá da trơn nuôi của Trung Quốc kể từ năm 2005 tăng rất nhanh, đạt 648.098 tấn vào năm 2010, tăng hơn 300.000 tấn so với năm 2009 và tăng gần 400.000 tấn so với năm
2008 Các đối tượng nuôi chính là Silurus asotus, Ictalurus punctatus, Pelteobagrus
- Nam Mỹ: Cũng có nhiều nước nuôi cá da trơn như Braxin, Costa Rica, Ecuađo,
Chilê nhưng nhìn chung quy mô nuôi ở các nước này còn nhỏ so với các nước ở khu vực khác, đặc biệt là so với cá tra của Việt Nam Vì vậy, khả năng phát triển trong tương lai của họ sẽ khó cạnh tranh một khi Việt Nam vẫn giữ được lợi thế về giá và chất lượng sản phẩm Tính đến năm 2010, tổng sản lượng cá da trơn của Braxin đạt 2.769 tấn, tăng
20,3% so với năm 2009, trong đó cũng chủ yếu là loài Ictalurus punctatus Cũng sản xuất
loài cá này nhưng ở Costa Rica sản lượng chỉ đạt 189 tấn
Trong thập kỷ trước, cá da trơn chỉ chủ yếu được tiêu thụ tại thị trường nội địa thì nay đã trở thành một mặt hàng được thương mại rộng rãi trên thị trường quốc tế và là mặt hàng được tiêu thụ phổ biến ở các thị trường Mỹ, Châu Âu và Đông Nam Á Cá tra Việt
Nam và cá nheo Mỹ (Ictalurus punctatus) là hai loài được tiêu thụ chính trên thị trường quốc tế, trong khi các loài cá da trơn khác như Clarias sp chủ yếu được tiêu thụ nội địa ở
châu Á và châu Phi
Trang 28Tại Mỹ, cá da trơn được xếp thứ 5 trong số các mặt hàng được tiêu thụ phổ biến nhất tại nước này sau tôm, cá ngừ, cá hồi và cá minh thái Tuy nhiên, ngành sản xuất cá
da trơn của Mỹ lại đang gặp nhiều khó khăn khi chi phí sản xuất tăng cao Hiện nay, một
số bang nuôi cá da trơn như bang Missisipi (bang có diện tích nuôi cá da trơn lớn nhất nước Mỹ) đã đóng cửa và các trang trại còn lại cũng rất vất vả trong việc duy trì sản lượng nuôi Trong khi đó nhu cầu cá da trơn trên thị trường này sẽ còn tăng cao do nguồn cung các loài cá thịt trắng khác như cá minh thái, cá tuyết hiện nay đều giảm Người Mỹ cũng ưa chuộng loại cá này vì giá thành hợp lý, dễ chế biến và bổ dưỡng Vì vậy, trong thời gian tới Mỹ sẽ tăng cường nhập khẩu cá da trơn nhằm bù đắp lượng thiếu hụt trên thị trường
Tại các thị trường Châu Âu, bao gồm Đông Âu như Nga và Ba Lan, cá tra của Việt Nam đã trở thành một “hiện tượng” trong 2 năm trước đây Ở Châu Á và châu Phi, cá da trơn đã trở thành một thực phẩm phổ biến đối với người tiêu dùng và trong những năm gần đây đã xuất hiện một làn sóng mới của philê cá tra đông lạnh từ Việt Nam bằng con đường thâm nhập vào các chuỗi siêu thị và nhà hàng thuỷ sản ở các thành phố lớn ở châu
Á
1.2.2 Tình hình nghiên cứu chuỗi giá trị ngành hàng cá tra trong nước
Trong những năm qua, Việt Nam đã có một số đề tài nghiên cứu về thị trường nông sản như lúa gạo, cà phê, cao su, và sản phẩm chăn nuôi Các nghiên cứu này đã chỉ
ra được chuỗi giá trị của mỗi ngành hàng, đồng thời đề cập đến khả năng cạnh tranh của chúng trên thị trường trong nước cũng như quốc tế Ví dụ như: “Đánh giá khả năng cạnh tranh của mặt hàng cà phê” do nhóm nghiên cứu ICARD, 2005, “Tham gia của người nghèo trong chuỗi giá trị ngành hàng sắn” do nhóm nghiên cứu bao gồm Luigi Cuna, Karl Rich, Nguyễn Trung Kiên, Nguyễn Đỗ Anh Tuấn 7/2010
Tuy nhiên, các nghiên cứu về thị trường thuỷ sản, đặc biệt là ngành hàng cá tra và basa vẫn còn hạn chế Mặc dù cũng đã có một số nghiên cứu đề cập đến ngành hàng cá tra
và basa, song chưa có nghiên cứu nào về chuỗi giá trị ngành hàng cá tra được thực hiện tại tỉnh Kiên Giang trong thời gian gần đây
Trang 29CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
Hình 2 Sơ đồ tỉnh Kiên Giang
Kiên Giang thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long, nằm ở phía tây Nam của Việt Nam, diện tích đất tự nhiên 6.346 km2 Dân số 1.705.539 người, mật độ dân số 268 người/
km2, nguồn lao động dồi dào 1.121.000 người
Khí hậu có nhiều thuận lợi: ít thiên tai, không rét, không có bão đổ bộ trực tiếp,
ánh sáng và nhiệt lượng dồi dào thuận lợi cho cây trồng vật nuôi sinh trưởng Nhiệt độ trung bình hàng năm 26.4oC đến 280C
Thủy văn: toàn tỉnh có 3 con sông lớn chảy qua là sông Cái Lớn, sông Cái Bé và
sông Giang Thành
Tình hình mực nước và mặn trên một số kênh trục chính ngày 21/4/2011
Mực nước: Số liệu thực đo tại các trạm từ ngày 10-19/4/2011
Bảng 2 Bảng thực đo mực nước tại các trạm
Trang 303 Giồng Riềng (chợ Giồng Riềng) 0,26 -0,02 0,36 0,01
Mực nước cao nhất, thấp nhất so với cùng kỳ năm 2010:
- Mực nước cao nhất: Cao hơn từ 0,05 ÷ 0,21m
- Mực nước thấp nhất: Cao hơn từ 0,03 ÷ 0,16m
Kiên Giang lấy nước ngọt từ sông Mê Kông và nước mưa Cả hai nguồn này đều đặc trưng theo mùa một cách rõ rệt Lượng nước bình quân của sông Mê Kông chảy qua ĐBSCL hơn 460 tỷ m3 và vận chuyển khoảng 150-200 triệu tấn phù sa Chính lượng nước và khối lượng phù sa đó trong quá trình bồi bổ lâu dài đã tạo nên Đồng bằng ngày nay
Nguồn nước mặt: Kiên Giang là tỉnh có nguồn nước ngọt của nhánh sông Hậu
nhưng lại ở đầu nguồn nước mặn của vịnh Rạch Giá, nguồn nước phụ thuộc rất lớn vào lưu lượng ở đầu nguồn tại Châu Ðốc vào mùa mưa là 5.400 m3/s, mùa kiệt 300 m3/s tại cuối nguồn ở Cần Thơ lưu lượng trung bình là 835 m3/s, tháng lớn nhất là 12.680 m3/s
Tỉnh Kiên Giang có 626.904 ha diện tích đất tự nhiên Trong đó, diện tích đất nông nghiệp là 402.644 ha, chiếm 64,22%; diện tích đất lâm nghiệp có rừng là 122.774, chiếm 19,58%, diện tích đất chuyên dùng là 35.412 ha, chiếm 5,65%; diện tích đất ở là 10.090
ha, chiếm 1,61% và diện tích đất chưa sử dụng và sông suối đá là 55.984 ha, chiếm 8,93%
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Từ năm 2001 đến nay, tốc độ tăng trưởng GDP của Kiên Giang luôn ổn định ở mức khá cao Giai đoạn 2001 – 2005, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 11,1% Giai đoạn
2006 – 2010, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đạt 11,6% Tỉnh phấn đấu trong giai đoạn 2011 – 2015 sẽ đạt tốc độ tăng trưởng GDP từ 14 – 15%, GDP bình quân đầu người đạt mức 1.800 USD (theo tỷ giá 1994), tương đương với 2.464 USD (theo tỷ giá 2008) Đồng thời, chuyển hướng cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp và dịch vụ, đến năm
2015 tỷ trọng nông – lâm – thuỷ sản 29,1%, công nghiệp – xây dựng 32,4%, dịch vụ 38,5% Sản lượng lúa đạt từ 3,5 – 3,6 triệu tấn/năm
Dân số - Dân tộc: Theo kết quả điều tra 2009, tỉnh Kiên Giang có 1.497.639 người
Trang 31Trong đó người dân tộc thiểu số chiếm 14,43%; số người trong độ tuổi lao động xã hội toàn tỉnh là 718.405 người, chiếm 47,96% dân số
Trên địa bàn tỉnh có trên 10 dân tộc, đông nhất là dân tộc Kinh có 1.281.592 người, chiếm 85,57%; Các dân tộc thiểu số như dân tộc Khơ-me có 182.058 người, chiếm 12,16%; dân tộc Hoa có 32.693 người, chiếm 2,18%; dân tộc Tày có 204 người, chiếm 0,01%; dân tộc Chăm có 362 người, chiếm 0,02%; các dân tộc khác: dân tộc Nùng có 40 người, dân tộc Ngái có 88 người, dân tộc Mông, Gia rai, Ê-đê, Mnông, Phù Lá, La Hủ,
có 730 người, chiếm 0,05% Tỉnh Kiên Giang có đồng bào dân tộc thiểu số chủ yếu là đồng bào dân tộc Khơ-me, sống tập trung chủ yếu ở 8 huyện: Gò Quao, Châu Thành, Giồng Riềng, Hòn Ðất, An Biên, Kiên Lương, Vinh Thuận và thị xã Rạch Giá Ðồng bào Khmer sống tập trung nhất là ở huyện Gò Quao có 45.043 người, chiếm 31,44% dân số trong huyện
Trình độ dân trí: Tính đến hết năm 2010 đã phổ cập giáo dục tiểu học cho 11 huyện với số xã là 87, tỷ lệ người biết chữ chiếm 97% Số học sinh phổ có trên 340.000 em; số giáo viên phổ thông toàn tỉnh có khoảng 10.000 người Số bệnh viện, phòng khám khu vực 28; số bác sỹ và trình độ cao hơn có 463 người, y sỹ có 1.001 người, y tá có 422 người, nữ hộ sinh có 274 người
Về Viễn thông Kiên Giang là doanh nghiệp Nhà nước, được tách ra từ Bưu Điện Tỉnh Kiên Giang từ năm 2008, là đơn vị thành viên trực thuộc Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam, có chức năng hoạt động sản xuất kinh doanh và phục vụ chuyên ngành Viễn thông - Công nghệ thông tin Ngoài việc kinh doanh, còn phải đảm bảo thông tin liên lạc phục vụ sự chỉ đạo của cơ quan Đảng, chính quyền các cấp, phục vụ các yêu cầu thông tin trong đời sống xã hội trên địa bàn toàn tỉnh, là nhiệm vụ chính trị chủ yếu của Viễn Thông Kiên Giang Về tổ chức, Viễn Thông Kiên Giang có 14 đơn vị kinh tế trực thuộc, 6 phòng chức năng và Trung tâm điều hành viễn thông; tổng số lao động trên 600 người Những năm qua cùng với tinh thần nỗ lực phấn đấu và lao động sáng tạo của Cán bộ-CNVC đã xây dựng được một mạng lưới Viễn thông – Công nghệ thông tin hiện đại
và rộng khắp trên địa bàn toàn tỉnh.Giáo dục và đào tạo
Tỉnh đã hoàn thành và giữ vững thành quả xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học
Trang 32phát triển rộng khắp; xóa được lớp học 3 ca, xóa phòng tạm, xây được một số trường đạt chuẩn quốc gia, cải thiện một bước đáng kể hệ thống cơ sở giáo dục
Về đào tạo, tỉnh đã phát triển và điều chỉnh hợp lý mạng lưới và đa dạng hóa ngành nghề đào tạo ở các trường trung học chuyên nghiệp, các cơ sở dạy nghề trong tỉnh,
đã tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động học nghề, góp phần tăng nhanh tỷ lệ lao động qua đào tạo, đáp ưng yêu cầu nguồn nhân lực của tỉnh
Tỉnh có 5 trường cao đẳng, Trường Cao đẳng Cộng đồng, Trường Cao đẳng
KT-KT có khoa Nuôi trồng Thủy sản đào tạo trình độ cao đẳng và trung cấp chuyên ngành thủy sản Đây là điều kiện thuận lợi để nâng cao trình độ khoa học kỹ thuật cho lực lượng lao động trong ngành thủy sản tỉnh
Giao thông nông thôn cũng được mở rộng, điện ánh sáng đã dần đi vào các vùng
xa, phục vụ người dân sinh họat cũng nuôi nuôi trồng
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp thu thập tài liệu
* Tài liệu thứ cấp trong đề tài gồm:
- Các tài liệu đã được công bố trên sách, tạp chí, các công trình nghiên cứu trong
và ngoài nước
- Các chính sách phát triển kinh tế, chính sách khuyến ngư, số liệu tổng quan sản xuất, xuất nhập khẩu cá tra của thế giới và Việt Nam được thu thập tại Cục Thống kê tỉnh, Trung tâm Tin học và Thống kê - Bộ NN&PTNT, Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản (VASEP), Tổng Cục thống kê
- Tình hình chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Kiên Giang được thu thập từ Cục Thống kê Kiên Giang và báo cáo kinh tế xã hội của tỉnh Kiên Giang
- Thực trạng sản xuất, chế biến, tiêu thụ, xuất khẩu cá tra, cá basa Kiên Giang được thu thập từ Sở NN&PTNT, Sở Thương mại- Du lịch, Hội Thuỷ sản tỉnh Kiên Giang và qua mạng Internet
* Phương pháp xác định các tác nhân
Phương pháp tiếp cận của chúng tôi là tìm hiểu trước hết các thành phần tham gia một cách độc lập Tiếp đến chúng tôi nghiên cứu chuỗi giá trị cụ thể đối với mỗi thành phần tham gia trước khi sử dụng thông tin này để dựng nên một bức tranh toàn cảnh về
Trang 33chuỗi giá trị tổng quan ngành cá tra, cá basa tỉnh Kiên Giang Đầu tiên, chúng tôi đã áp dụng một phương pháp tiếp cận kiểu “kim tự tháp” để tìm hiểu thành phần tham gia tập trung vào nhóm đối tượng có ít thành viên nhất – đó là các nhà xuất khẩu lớn – và sau đó tìm ra các mối liên kết ở phía trên bao gồm thương lái, nông dân sản xuất cá tra
Để thu thập số liệu, đề tài sử dụng phương pháp PRA để phỏng vấn sâu, trao đổi với các nông hộ, các tác nhân khác về hoạt động của chuỗi giá trị cá tra, tìm hiểu những khó khăn trong từng khâu
Theo đó, đề tài sẽ sử dụng những bảng hỏi khác nhau để phỏng vấn các đối tượng tham gia chuỗi giá trị cá tra Kiên Giang, bao gồm:
- Nhóm thứ nhất là những hộ nuôi cá tra Có 5 hộ ương cá giống, 37 hộ dân tại dọc các tuyến kênh trục Rạch Giá - Long Xuyên, tuyến kênh Đòn Dông, tuyến kênh xáng Chưng Bầu, tuyến kênh xáng KH1 thuộc các xã Tân Hiệp A, Tân Thành, Tân An, Tân Hiệp B, Thạnh Đông B, Tân Hội và Thạnh Đông (là các huyện diện tích nuôi cá tra, cá basa lớn nhất trong tỉnh) được phỏng vấn
- Nhóm thứ hai là các thương lái chuyên thu gom cá (nhà thu mua) từ các ao nuôi
để bán lại cho công ty chế biến hoặc người bán lẻ Do đối tượng này tham gia chuỗi giá trị
cá tra, cá basa Kiên Giang không nhiều nên có 5 đối tượng được phỏng vấn
- Nhóm thứ ba là dành cho công ty chế biến xuất khẩu cá tra trên địa bàn tỉnh Kiên Giang
2.2.2 Phương pháp phân tích chuỗi giá trị
Bao gồm các bước
- Lập bản đồ ngành hàng;
- Khảo sát cấu trúc và quan hệ thị trường;
- Ước lượng chi phí, lợi ích và doanh thu biên của các tác nhân trong chuỗi giá trị;
- Phân tích khả năng nâng cấp của các tác nhân trong chuỗi giá trị
2.2.3 Phương pháp chuyên gia
Để thực hiện đề tài, chúng tôi đã tham khảo ý kiến của các chuyên gia trong lĩnh vực thuỷ sản tại địa phương để có cái nhìn tổng quát về ngành sản xuất cá tra tại Việt Nam nói chung và tỉnh Kiên Giang nói riêng, cũng như những định hướng, chính sách của
Trang 34CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ cá tra của Kiên Giang
3.1.1 Tình hình sản xuất
UBND tỉnh Kiên Giang đã ban hành quyết định 2987/QĐ-UBND ngày 26/11/2009
về việc phê duyệt Kế họach phát triển nuôi cá tra công nghiệp, bán công nghiệp tỉnh Kiên giang giai đoạn 2010-2015 do Phó chủ tịch tỉnh Ô.Văn Hà Phong ký Trong tỉnh có 5 huyện, thành phố có tổ chức nuôi cá tra, cá basa công nghiệp, bán công nghiệp trên diện tích 56,34 ha (Tân Hiệp, Châu thành, Hòn Đất, Tp.Rạch Giá, Giồng Riềng và Gò Quao) Tổng diện tích mặt nước thả nuôi 36,38 ha, đạt sản lượng bình quân 9.630 tấn, năng suất bình quân 265 tấn/ha; đạt 80,84% về diện tích và 120,37% về sản lượng
A Huyện Tân Hiệp
Nhờ có hệ thống kênh trục khá tốt dẫn nước ngọt từ sông Hậu về nên việc nuôi cá tra, cá basa công nghiệp tại đây có nhiều thuận lợi Năm 2010, toàn huyện có 39 ha nuôi
cá tra, cá basa công nghiệp tại 9 xã và thị trấn trong đó, xã Thạnh Đông A có diện tích nuôi cá tra, cá basa công nghiệp lớn nhất (14ha), chiếm 35,89% Cá tra, cá basa được nuôi trong 35ao; có 19 hộ với 58 ao có quy mô tương đối lớn Các hộ nuôi diện tích từ 0,5-2 ha phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa quy mô lớn và mức độ thâm canh hóa cao, mật
độ thả giống từ 30-70 con/m2 Mùa vụ thả giống từ tháng 5-6 và thu họach cá thịt vào tháng 1-2 năm sau
Năm 2010, sản lượng cá thịt thu được gần 9.000 tấn Năm 2010 do giá cá thịt giảm mạnh, trong khi giá thức ăn và các lọai vật tư, chi phí khác đều tăng làm cho một số hộ nuôi cá bị lỗ nặng Hiện nay, trong huyện đang nuôi 29,1 ha cá tra công nghiệp của 19 hộ dân, mật độ thả giống từ 10-70 con/m2 , sản lượng thu hoạch 8.546 tấn, năng suất bình quân 294,7 tấn/ha Trong đó: 7 hộ lãi ( từ 27-504 triệu đồng); 12 hộ lỗ vốn ( từ 119-1.004 triệu đồng)
B Huyện Châu Thành
Vùng nuôi cá tra, cá basa tập trung tại 3 xã Mong Thọ A, Mong Thọ, Mong Thọ B
và Thạnh Lộc Năm 2010 có 13 hộ nuôi, diện tích thả giống 4,22 ha, mật độ nuôi từ 6-80