Mục tiêu nghiên cứu - Xác định các nhân tố niềm tin ảnh hưởng đến thái độ chia sẻ thông tin của nhân viên ảnh hưởng đến ý định chia sẻ thông tin về thị trường khách du lịch, đặc điểm tâm
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác
Tác giả luận văn
Thân Thị Thùy Linh
Trang 4Trong suốt hơn hai năm học tập và nghiên cứu, đến nay, tôi đã hoàn thành xong luận văn tốt nghiệp thạc sỹ Để có được kết quả như hôm nay, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ từ Quý thầy cô, các đồng nghiệp, các bạn học viên, người thân cũng như các tổ chức, cá nhân cùng các anh chị sinh viên đang công tác tại các đơn vị kinh doanh du lịch
Trước tiên,tôi xin chân thành gởi lời cảm ơn đến Quý thầy cô trường Đại học Nha Trang đã nhiệt tình giảng dạy, truyền đạt kiến thức cho tôi trong suốt thời gian theo học tại trường
Tôi xin cảm ơn sự quan tâm, tạo điều kiện giúp đỡ của Lãnh đạo trường Cao đẳng VHNT & Du Lịch Nha Trang, xin cảm ơn Lãnh đạo và các anh chị Trung tâm xúc tiến du lịch thuộc Sở Văn Hóa, Thể Thao và Du Lịch Khánh Hòa dã tạo điều kiện
và hỗ trợ tôi trong thời gian thực hiện đề tài Xin cảm ơn ban lãnh đạo và các anh chị
em nhân viên các khách sạn – nhà hàng cũng như các anh chị cựu sinh viên đang làm việc trong các khách sạn 3 – 5 sao đã giúp đỡ tôi trong quá trình điều tra, thu thập số liệu Xin gởi lời cảm ơn đến tập thể học viên lớp Cao học Quản trị kinh doanh khóa
2010 và gia đình đã góp ý và động viên tôi trong quá trình học tập
Đặc biệt, tôi muốn gửi lời cảm ơn chân thành đến TS Hồ Huy Tựu, người hướng dẫn khoa học của luận văn, đã giúp tôi tiếp cận thực tiễn, phát hiện đề tài và đã tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này
Cuối cùng, xin được gửi lời cảm ơn đến các thầy cô trong Hội đồng bảo vệ luận văn thạc sỹ đã góp thêm ý kiến để tôi hoàn thành tốt hơn luận văn này
Xin gởi lời cảm ơn chân thành đến tất cả mọi người
Trân trọng Thân Thị Thùy Linh
Trang 5trong các ngành khoa học xã hội.
Trang 6MỤC LỤC
MỤC LỤC i
DANH MỤC HÌNH iv
DANH MỤC BẢNG v
GIỚI THIỆU 1
1 Lý do hình thành đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 3
6 Cấu trúc Luận văn 4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT 5
VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 5
1.1 Tổng quan tài liệu 5
1.1.1 Các nghiên cứu trong nước 5
1.1.2 Các nghiên cứu trên thế giới 5
1.1.3 Đánh giá chung và định vị nghiên cứu của luận văn 6
1.2 Một số lý thuyết về hành vi 7
1.2.1 Lý thuyết về quan hệ thái độ - hành vi 7
1.2.2 Lý thuyết TRA 8
1.2.3 Lý thuyết TPB 9
1.2.4 Lý thuyết của Skinner 9
1.2.5 Thuyết hành vi của Mary Parker Pollet (1868 – 1933) 10
1.2.6 Thuyết hành vi của Watson (1878 _ 1958) 10
1.3 Các mô hình nghiên cứu chia sẻ thông tin 11
1.3.1 Mô hình Bock và các cộng sự 11
1.3.2 Mô hình Chiu và các cộng sự 12
1.3.3 Mô hình Lu & Hsiao 13
1.3.5 Mô hình So & Bolloju 15
1.4 Mô hình nghiên cứu đề xuất và các giả thuyết nghiên cứu 15
1.4.1 Mô hình nghiên cứu đề xuất 16
Trang 71.4.2 Thái độ đối với chia sẻ thông tin và mối quan hệ với ý định chia sẻ thông
tin 18
1.4.3 Tóm lượt các giả thuyết nghiên cứu 22
TÓM TẮT CHƯƠNG I 23
CHƯƠNG 2: MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM KINH DOANH CỦA 24
KHÁCH SẠN NHÀ HÀNG Ở NHA TRANG VÀ 24
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.1.Tổng quan về kinh doanh khách sạn 24
2.1.1.Thống kê các khách sạn trên địa bàn Nha Trang 24
2.1.2 Tình hình kinh doanh khách sạn trên địa bàn Nha Trang 24
2.1.3.Những thành tựu đạt được 27
2.1.4 Đánh giá chung 29
2.2 Phương pháp nghiên cứu 30
2.2.1 Đặc điểm đối tượng khảo sát (người lao động trong ngành) 30
2.2.2 Đo lường các khái niệm 30
2.3 Bảng câu hỏi điều tra 35
2.3.1 Nghiên cứu định tính thông qua phỏng vấn nhóm theo chủ đề 35
2.3.2 Nội dung và bố cục của bảng câu hỏi 35
2.4 Mẫu – Kích cỡ, cách chọn, cách thu 35
2.4.1 Phương pháp chọn mẫu 35
2.4.2 Kích thước mẫu 36
2.5 Các phương pháp phân tích 36
2.5.1 Phân tích độ tin cậy Cronbach’s alpha 36
2.5.2 Phân tích nhân tố khám phá EFA 36
2.5.3 Phương pháp phân tích hồi quy tuyến tính 37
CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 40
3.1 Các đặc điểm của mẫu điều tra 40
3.2 Giá trị các chỉ báo quan sát 42
3.3 Đánh giá mô hình đo lường 43
3.3.1 Phân tích các thang đo bằng hệ số tin cậy Cronbanch’s alpha 43
3.3.3 Phân tích thống kê mô tả cho các đo lường các cấu trúc khái niệm trong mô hình 51
Trang 83.3.4 Phân tích tương quan và hồi quy 57
TÓM TẮT CHƯƠNG 3 67
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN KẾT QUẢ VÀ CÁC GIẢI PHÁP 68
4.1 Bàn luận kết quả 68
4.2 Các giải pháp nhằm thúc đẩy hơn nữa ý định chia sẻ thông tin trong ngành kinh doanh khách sạn tại Nha Trang 71
4.2.1 Những người đứng đầu khách sạn nên tập trung xây dựng một thái độ tích cực cho các nhân viên của họ 72
4.2.2 Ban lãnh đạo cần có chính sách khen thưởng thích hợp cho những đóng góp hữu ích của nhân viên 72
4.2.3 Những người đứng đầu khách sạn nên thường xuyên động viên nhân viên chia sẻ thông tin, kiến thức: 73
4.2.4 Ảnh hưởng của người quản lý trong việc thúc đẩy ý định chia sẻ thông tin, kiến thức công việc của nhân viên 73
4.2.5 Những người đứng đầu khách sạn nên chỉ ra những suy nghĩ sai lầm của nhân viên 74
4.2.6 Những người đứng đầu khách sạn hãy làm cho ý định chia sẻ thông tin, kiến thức giữa các nhân viên xảy ra: 75
4.2.7 Vai trò của công nghệ: 75
TÓM TẮT CHƯƠNG 4 75
KẾT LUẬN - HẠN CHẾ - KIẾN NGHỊ 77
1 Kết luận 77
2 Các hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu trong tương lai 78
3 Kiến nghị 79
PHỤ LỤC 85
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Mô hình TRA 8
Hình 1.2: Mô hình TPB 9
Hình 1.3: Mô hình Hình thành ý định hành vi ở chia sẻ kiến thức 11
Hình 1.4: Mô hình Chia sẻ kiến thức trong cộng đồng ảo 12
Hình 1.5: Mô hình Hiểu được ý định tiếp tục chia sẻ thông tin trên blog 13
Hình 1.6: Mô hình Ý định và hành vi chia sẻ kiến thức rõ ràng 14
Hình 1.7: Mô hình Giải thích ý định chia sẻ và tái sử dụng kiến thức trong 15
Hình 1.8: Mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến chia sẻ thông tin trong 16
Hình 1.9: Quá trình thông tin 17
Hình 3.1.Biểu đồ tần số P-P Plot để khảo sát phân phối của phần dư 61
Hình 3.2.Biểu đồ tần số của phần dư chuẩn hóa 62
Hình 3.3.Biểu đồ tần số P-P plot để khảo sát phân phối của phần dư 64
Hình 3.4 Biểu đồ tần số của phần dư chuẩn hóa 64
Hình 3.5 Mô hình hồi quy các nhân tố ảnh hưởng đến ý định 66
Trang 10DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Kết quả kinh doanh du lịch trên địa bàn Nha Trang từ năm 2010 đến năm
2012 25
Bảng 3.1 Bảng phân bố mẫu theo giới tính 40
Bảng 3.2 Bảng phân bố mẫu theo độ tuổi 40
Bảng 3.3 Bảng phân bố mẫu theo chức danh 41
Bảng 3.4 Bảng phân bố mẫu theo tình trạng hôn nhân 42
Bảng 3.5 Các thông số thống kê mô tả của các biến quan sát 42
Bảng 3.6 Độ tin cậy của thang đo “Thái độ chia sẻ thông tin trong tổ chức” 43
Bảng 3.7 Độ tin cậy của thang đo “Chuẩn mực xã hội trong chia sẻ thông tin” 44
Bảng 3.8 Độ tin cậy của thang đo “Kiểm soát hành vi” 44
Bảng 3.9 Độ tin cậy của thang đo “Niềm tin về thông tin” 44
Bảng 3.10 Độ tin cậy của thang đo “Niềm tin giữa các cá nhân” 45
Bảng 3.11 Độ tin cậy của thang đo “Niềm tin về nhiệm vụ liên quan” 45
Bảng 3.12 Độ tin cậy của thang đo “Sự ủng hộ của tổ chức” 45
Bảng 3.13 Độ tin cậy của thang đo “Ý định chia sẻ thông tin” 46
3.3.2 Phân tích nhân tố khám phá EFA 46
Bảng 3.14 Phân tích nhân tố khám phá EFA cho các chỉ báo của các nhân tố phụ thuộc (lần đầu) 47
Bảng 3.15 Phân tích nhân tố khám phá EFA cho các chỉ báo của các nhân tố phụ thuộc (lần cuối) 48
Bảng 3.17 Phân tích thông kê mô tả cho thang đo “Thái độ chia sẻ thông tin” 51
Bảng 3.18 Phân tích thông kê mô tả cho thang đo “Chuẩn mực xã hội ” 52
Bảng 3.19 Phân tích thông kê mô tả cho thang đo “Kiểm soát hành vi” 53
Bảng 3.20 Phân tích thông kê mô tả cho thang đo “Niềm tin về thông tin” 53
Bảng 3.21 Phân tích thông kê mô tả cho thang đo “Niềm tin giữa các cá nhân” 54
Bảng 3.22 Phân tích thông kê mô tả cho thang đo “Niềm tin về nhiệm vụ liên quan”55 Bảng 3.23 Phân tích thông kê mô tả cho thang đo “Sự ủng hộ của tổ chức” 55
Bảng 3.24 Phân tích thông kê mô tả cho thang đo “Ý định chia sẻ thông tin” 56
Bảng 3.25 Ma trận hệ số tương quan giữa các thang đo trong mô hình 59
Bảng 3.26 Phân tích hồi quy của các biến độc lập với biến “thái độ” 60 Bảng 3.27: Bảng phân tích hồi quy của các biến độc lập đối với biến “ý định chia sẻ”63
Trang 11GIỚI THIỆU
1 Lý do hình thành đề tài
“Ngày nay, hoạt động du lịch đang phát triển với tốc độ nhanh và trở thành một hiện tượng phổ biến trong đời sống xã hội của các quốc gia Nó không chỉ giới hạn ở phạm vi từng quốc gia mà được mở rộng ra các châu lục Ngành du lịch ngày càng khẳng định vai trò, vị trí của mình trong nền kinh tế thế giới” (Đoàn Hương Lan,
2008) Việt Nam tuy phát triển chậm hơn so với các nước khác nhưng rất nhiều thuận
lợi trong việc phát triển du lịch Theo Tổng cục du lịch Việt nam năm 2012 Việt Nam
đã đón 6.847.678 lượt khách quốc tế, tăng 13,86% so với năm 2011 Không ngoài xu hướng phát triển chung của cả nước, du lịch được xem là một ngành mũi nhọn của thành phố Nha Trang Theo Loan Nguyễn năm 2012 du khách đến với Nha Trang
lịch 2012 với con số ấn tượng là 29.000 lượt, tăng 15% so với cùng kỳ năm 2011 Trong đó, khách quốc tế đạt 8.800 lượt, tăng 20% Các khách sạn từ 3-5 sao ở Nha Trang đạt công suất phòng tới 98% Riêng khách sạn 2 sao trở xuống đạt công suất 80-85% Những điểm nóng như Vinpearl Nha Trang, Novotel, Sunrise…không còn
du lịch khám phá, du lịch Mice, du lịch thuần túy, du lịch biển đảo, du lịch sinh thái,
du lịch văn hóa Điều này dẫn đến các khách sạn, nhà hàng tại Nha Trang trong thời gian gần đây mọc lên như nấm Theo Sở VHTT&DL Khánh Hòa năm 2012 mặc dù số lượng khách du lịch đến với Nha Trang ngày càng tăng, nhưng, thời gian lưu trú của khách du lịch không dài, khoảng từ 1 đến 2 ngày/khách, tỷ lệ quay lại thấp, và mức độ
nhiều nguyên nhân giải thích cho điều này như sản phẩm du lịch còn nghèo nàn Đầu
tư chất lượng dịch vụ không đồng bộ.Tình trạng xe lưu thông dày đặc, nạn móc túi, cướp giật, đeo bám bán hàng rong, quà lưu niệm kém chất lượng vẫn đang diễn ra tại thành phố Nha Trang Bên cạnh đó, Nha Trang nổi tiếng có bãi biển đẹp nhưng hiện đang rất mất trật tự và ô nhiễm, chưa tạo được sự an toàn cho du khách Ngoài những nguyên nhân trên tôi nhận thấy còn nguyên nhân sâu xa ở đây là con người Việt Nam
có thói quen “mạnh ai nấy làm, thân ai nấy lo” vì vậy sự hợp tác giữa các doanh
Trang 12các doanh nghiệp đa số kiến thức nhân viên còn hạn chế, mức độ hợp tác trong nội bộ còn lỏng lẻo Do đó, dẫn đến tình trạng nhân viên nắm bắt ít thông tin, không đủ kiến thức và cập nhật thông tin về du lịch để cung cấp cho du khách để du khách có sự lựa chọn chính xác, hợp lý và hài lòng Với những lý do trên tôi nhận thấy vấn đề chia sẻ thông tin trong du lịch hiện nay ở Nha Trang rất quan trọng
Gurteen (1999) cho rằng "Văn hóa Chia sẻ kiến thức" như là một phần của một sáng kiến quản lý tri thức Chỉ có hợp tác hiệu quả và tuyên truyền lâu dài kéo dài trong toàn công ty mới làm gia tăng kiến thức tổ chức Để làm phong phú thêm văn hóa hiện tại của công ty, Gurteen đề nghị rằng thay đổi phải bắt đầu từ cá nhân Mỗi nhân viên có phạm vi ảnh hưởng cùng với kiến thức cá nhân của mình, và đây là nơi
mà ông tin rằng một nền văn hóa chia sẻ kiến thức có thể bắt đầu Để tạo ra một nền văn hóa chia sẻ kiến thức bạn cần phải khuyến khích mọi người làm việc cùng nhau hiệu quả hơn, hợp tác và chia sẻ kiến thức, là phương tiện để giúp một tổ chức đáp ứng các mục tiêu kinh doanh của mình Bên cạnh đó, tăng cường chia sẻ kiến thức làm giảm thời gian và rào cản không gian giữa các công nhân tri thức, và cải thiện truy cập thông tin về kiến thức
Xuất phát từ thực tiễn và lý luận nêu trên, tôi chọn đề tài “CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH CHIA SẺ THÔNG TIN TRONG NGÀNH KINH DOANH KHÁCH SẠN TRÊN ĐỊA BÀN NHA TRANG” làm đề tài luận văn thạc
sỹ của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định các nhân tố niềm tin ảnh hưởng đến thái độ chia sẻ thông tin của nhân viên ảnh hưởng đến ý định chia sẻ thông tin về thị trường khách du lịch, đặc điểm tâm
lý, nhu cầu của khách du lịch, sản phẩm du lịch địa phương, chia sẻ kiến thức về chuyên môn nghiệp vụ của mỗi bộ phận
- Xác định nhân tố thái độ, chuẩn mực xã hội, kiểm soát hành vi ảnh hưởng đến
ý định chia sẻ thông tin
- Đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến ý định chia sẻ thông tin giữa các quản lý, các nhân viên trong mỗi bộ phận của khách sạn với nhau và đến kết quả hoạt động kinh doanh của khách sạn
Trang 13- Đề xuất mô hình nghiên cứu ảnh hưởng về ý định chia sẻ thông tin
- Đề xuất các giải pháp nhằm thay đổi thái độ chia sẻ thông tin và thúc đẩy ý định chia sẻ thông tin của các nhân viên trong các khách sạn 3 – 5 sao tại Nha Trang
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là nhân viên của các khách sạn 3 sao trở lên trên địa bàn thành phố Nha Trang, tập trung vào các quản lý và nhân viên của các bộ phận trong khách sạn (cụ thể bộ phận lễ tân, phòng Marketing, bộ phận buồng, bộ phận nhà hàng,
bộ phận bar)
4 Phương pháp nghiên cứu
Việc nghiên cứu thực hiện theo 2 giai đoạn:
Giai đoạn 1: sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính nhằm khẳng định và bổ sung những tiêu chí đánh giá, điều chỉnh thang đo và xây dựng bảng câu hỏi phục vụ cho quá trình nghiên cứu định lượng
Giai đoạn 2: sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng Dữ liệu được thu thập
từ 200 nhân viên của các khách sạn 3 sao trở lên trên địa bàn thành phố Nha Trang Phương pháp lấy mẫu thuận tiện được áp dụng thông qua các bảng câu hỏi được gởi trực tiếp đến các quản lý và nhân viên của các bộ phận Đối tượng trả lời bảng câu hỏi
là các quản lý và nhân viên của từng bộ phận đang làm việc trong các khách sạn 3-5 sao trên địa bàn thành phố Nha Trang Dữ liệu sau khi thu thập sẽ được lọc bằng phương pháp phân tích Độ tin cậy (Reliability Analysis) và Phân tích nhân tố EFA (Factor Analysis), phân tích tương quan và hồi quy để khảo sát việc chia sẻ thông tin trong các khách sạn 3 sao trở lên tại Nha Trang
5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Kết quả nghiên cứu khám phá các nhân tố ảnh hưởng đến ý định chia sẻ thông tin về thị trường khách, đặc điểm tâm lý, nhu cầu của khách du lịch, sản phẩm du lịch địa phương, chia sẻ kiến thức về chuyên môn nghiệp vụ trong các khách sạn 3 - 5 sao tại Nha Trang Trên cơ sở đó, các khách sạn 3- 5 sao sẽ thấy được tầm quan trọng của việc chia sẻ thông tin, kiến thức giữa các quản lý và nhân viên của từng bộ phận với nhau Để từ đó doanh nghiệp sẽ khuyến khích nhân viên trong doanh nghiệp cùng nhau chia sẻ thông tin để tất cả nhân viên đều biết rõ các thông tin liên quan đến
Trang 14khách du lịch nhằm mục đích phục vụ tối đa nhu cầu của khách làm cho khách cảm thấy thỏa mãn khi lưu trú tại khách sạn và du lịch tại Nha Trang
6 Cấu trúc Luận văn
Giời thiệu
Chương 1: Tổng quan tài liệu, cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu
Chương 2: Một số đặc điểm kinh doanh của khách sạn – nhà hàng ở Nha Trang và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Phân tích kết quả nghiên cứu
Chương 4: Bàn luận kết quả và giải pháp
Kết luận, hạn chế và kiến nghị
Trang 15CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT
VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1.1 Các nghiên cứu trong nước
Hiện nay, ở Việt Nam chỉ có một nghiên cứu nói về chia sẻ tài liệu, thông tin giữa các thư viện và chưa có nhiều nghiên cứu về lĩnh vực này Vì vậy, tôi xin đưa ra một nghiên cứu có liên quan như sau:
Trong bài viết “Một số vấn đề thiết lập hình thức mượn, chia sẻ tài liệu, thông tin giữa các thư viện Việt Nam” của tác giả Lê Văn Viết (2006) đã chứng tỏ việc mượn, chia sẻ tài liệu, thông tin giữa các thư viện là hình thức phục vụ bạn đọc khi sử dụng nguồn lực thông tin của các thư viện, cơ quan thông tin khác cả trong nước lẫn nước ngoài để đáp ứng nhu cầu đọc và thông tin của người dùng thư viện Việc mượn, chia sẻ tài liệu, thông tin giữa các thư viện có mục đích tạo ra những điều kiện tốt nhất để thỏa mãn một cách toàn diện và kịp thời những yêu cầu về tài liệu, thông tin của các cơ quan Đảng, Nhà nước, các tổ chức kinh tế, khoa học, giáo dục, văn hóa, các tổ chức chính trị, xã hội nghề nghiệp và các cá nhân, đồng thời phát huy với hiệu quả cao nhất vốn tài liệu, thông tin của các thư viện, cơ quan thông tin trong cả nước (Lê Văn Viết, 2006)
1.1.2 Các nghiên cứu trên thế giới
Keith và Alan (2002) trong nghiên cứu “Beliefs and attitudes afecting antentions
to share information in an organizational setting” đã sử dụng mô hình TRA để khám phá ra những niềm tin và thái độ ảnh hưởng đến ý định chia sẻ thông tin trong một môi trường tổ chức Mô hình của họ chỉ ra rằng một số niềm tin ảnh hưởng tới quyền
sở hữu so với việc quản lý thái độ Nghiên cứu đã chỉ ra rằng mô hình ban đầu của họ
là không đầy đủ và cho rằng niềm tin ảnh hưởng thêm hai thái độ đó là giá trị cho cảm xúc và làm việc gì nhờ sự giúp đỡ Sự kết hợp của ba thái độ lần lượt ảnh hưởng đến ý định chia sẻ thông tin
David Gurteen (1999) trong nghiên cứu “Creating a Knowledge Sharing Culture” đã chứng minh rằng “chia sẻ kiến thức là sức mạnh” Nếu mọi người hiểu rằng chia sẻ kiến thức của họ giúp họ làm việc hiệu quả hơn, giúp họ tự phát triển bản thân và phát triển nghề nghiệp Và ông đã tìm ra những lý do mà nên động viên mọi người chia sẻ đó là:
Trang 16Kiến thức ngày càng ngắn ngủi Nếu không sử dụng kiến thức đó nó sẽ nhanh chóng mất đi giá trị của nó Bằng cách chia sẻ kiến thức của bạn, bạn có được nhiều hơn những gì bạn mất Chia sẻ kiến thức là một quá trình hiệp đồng Nếu tôi chia sẻ một ý tưởng sản phẩm hay một cách làm việc với một người khác Sau đó đưa ý tưởng của tôi vào câu từ hoặc viết nó ra sẽ giúp tôi định hình và cải thiện ý tưởng đó Nhưng nếu tôi được đối thoại với người khác, sau đó tôi sẽ được hưởng lợi từ kiến thức của họ, từ những hiểu biết của họ thì ý tưởng của tôi sẽ được nâng cao hơn nữa Với lý do đó David Gurteen cho rằng: ngày nay để thực hiện được hầu hết mọi thứ trong một tổ chức đòi hỏi phải có sự nỗ lực hợp tác Nếu bạn cố gắng làm việc một mình bạn có khả năng thất bại Nhưng nếu bạn cởi mở với đồng nghiệp, chia sẻ với họ sẽ giúp bạn đạt được mục tiêu của bạn
Yao Zhao và các cộng sự (2002) trong nghiên cứu “The Impact of Information Sharing on Supply Chain Performance” đã nghiên cứu giá trị của việc chia sẻ thông tin và làm thế nào để sử dụng thông tin có hiệu quả liên quan đến nhu cầu trong chuỗi cung ứng Với mục đích này, họ đã phát triển và phân tích hai mô hình Mô hình đầu tiên tập trung vào việc giảm chi phí hàng tồn kho trong hai giai đoạn chuỗi cung ứng
mà nhà sản xuất có năng lực sản xuất hạn chế Mô hình thứ hai đặc trưng cho việc cải thiện dự báo chính xác trong một giai đoạn nhiều chuỗi cung ứng phải đối mặt với nhu cầu văn phòng phẩm Tác giả đã phân tích đánh giá định kỳ và xác định được số lượng tác động của việc chia sẻ thông tin, cũng như tác động của tần số và thời gian chia sẻ thông tin về hoạt động của nhà sản xuất
1.1.3 Đánh giá chung và định vị nghiên cứu của luận văn
Mặc dù có một số nghiên cứu trên thế giới về vấn đề chia sẻ thông tin trong một
tổ chức Ở trong nước cũng có một số nghiên cứu liên quan đến thái độ đó là nghiên cứu của Lê Ngọc Đức (2008) về thái độ của người tiêu dùng với xu hướng mua sản phẩm trong nghiên cứu “Khảo sát một số yếu tố ảnh hưởng đến xu hướng sử dụng thanh toán điện tử”; Lê Quang Bình (2008) về thái độ người tiêu dùng đối với chiêu thị trong việc xây dựng giá trị thương hiệu kem đánh răng tại thị trường thành phố Hồ Chí Minh Nhưng theo sự tìm hiểu của tôi thì ở Việt Nam hiện chưa có một nghiên cứu nào nghiên cứu về thái độ của nhân viên đối với ý định chia sẻ thông tin trong nghành kinh doanh khách sạn Vì vậy, đề tài này sử dụng mô hình TRA để khám phá
ra những niềm tin và thái độ ảnh hưởng đến ý định chia sẻ thông tin Đồng thời, mở
Trang 17rộng mô hình nghiên cứu của Keith và Alan (2002) trong nghiên cứu “Niềm tin và thái độ ảnh hưởng đến ý định chia sẻ thông tin trong một tổ chức” ; “Ý định hành vi hình thành ở chia sẻ tri thức” (Bock và cộng sự, 2005); “Giải thích ý định chia sẻ và tái sử dụng kiến thức trong bối cạnh hoạt động của dịch vụ công nghệ thông tin” (So
& Bolloju, 2005) để vận dụng vào môi trường kinh doanh khách sạn ở Việt Nam, cụ thể là trên địa bàn thành phố Nha Trang Đề tài này góp phần cung cấp một cái nhìn mới về chia sẻ thông tin đối với các tổ chức kinh doanh khách sạn
1.2.1 Lý thuyết về quan hệ thái độ - hành vi
Thái độ thường dẫn đến hành vi, nhưng đôi khi hành vi lại ảnh hưởng đến thái
độ do quá trình bất hòa nhận thức Bất hòa ở đây được hiểu là xung khắc, không tương hợp Leon Frestinger đã đưa ra học thuyết bất hòa nhận thức vào cuối thập niên
50 của thế kỷ 20 Thuyết này đề cập đến sự không tương hợp mà cá nhân có thể nhận thấy giữa hai hay nhiều thái độ hoặc giữa thái độ và hành vi Sự không tương hợp tạo nên một áp lực không mấy thoải mái và cũng chính áp lực này khuyến khích chúng ta thay đổi để giữ trạng thái ổn định Vậy làm thế nào để giảm sự bất hòa? Cần phải:
- Xác định tầm quan trọng của các yếu tố tạo ra sự bất hòa Khi chúng ta cho rằng yếu
tố tạo bất hòa là không quan trọng thì chúng ta sẽ không phải chịu áp lực này
- Mức độ ảnh hưởng của bản thân đến các yếu tố tạo ra sự bất hòa Nếu nhận thấy sự bất hòa là kết quả không thể kiểm soát được, thì hiếm khi chúng ta chấp nhận thay đổi thái độ
- Nhận biết phần thưởng có thể đi kèm với bất hòa Nếu đi kèm với bất hòa rất lớn là một phần thưởng rất có giá trị thì chúng ta có khuynh hướng giảm áp lực cố hữu về bất hòa
(Phạm Minh Hạc, 2005)
Trang 181.2.2 Lý thuyết TRA
Mô hình TRA
Hình 1.1: Mô hình TRA (Nguồn: Davis et al, 1989) Yếu tố quyết định đến hành vi cuối cùng không phải là thái độ mà là ý định hành vi Ý định bị tác động bởi thái độ và quy chuẩn chủ quan Thái độ đối với một hành động là bạn cảm thấy như thế nào khi làm một việc gì đó Quy chuẩn chủ quan
là người khác cảm thấy như thế nào khi bạn làm việc đó (gia đình, bạn bè, đồng nghiệp…) (Lê Thị Kim Tuyết,2008)
Quy chuẩn chủ quan Thái độ
Trang 191.2.3 Lý thuyết TPB
Mô hình TPB
Hình 1.2: Mô hình TPB (Nguồn: Ajzen, 1991)
Mô hình TPB khắc phục nhược điểm của mô hình TRA bằng cách thêm vào một biến nữa là hành vi kiểm soát cảm nhận Nó đại diện cho các nguồn lực cần thiết của một người để thực hiện một công việc bất kỳ Mô hình TPB được xem như tối ưu đối với mô hình TRA trong việc dự đoán và giải thích hành vi của người tiêu dùng trong cùng một nội dung và hoàn cảnh nghiên cứu (Lê Thị Kim Tuyết, 2008)
1.2.4 Lý thuyết của Skinner
Cho rằng hành vi của người lao động sẽ lập lại với các hoạt động trong cơ
quan, đơn vị nếu họ nhận được những giá trị tích cực và ngược lại, các hành vi đó sẽ không lập lại nếu họ không nhận được những giá trị tích cực Những nhà quản trị sẽ lưu ý những giá trị nhận được tích cực của nhân viên để dẫn đến những đóng góp tích
Quy chuẩn chủ quan Thái độ
Niềm tin kiểm
soát và sự dễ
sử dụng
Hành vi kiểm soát cảm nhận
Trang 20cực, đồng thời tránh những giá trị nhận được không đầy đủ, không tích cực để hạn chế những phản ứng tiêu cực
(Nguyễn Hòa, 2009)
1.2.5 Thuyết hành vi của Mary Parker Pollet (1868 – 1933)
Tác giả cho rằng trong quá trình làm việc người lao động có mối quan hệ giữa
họ với nhau và giữa họ với một thể chế tổ chức bao gồm:
Quan hệ giữa công nhân với công nhân
Quan hệ giữa công nhân với các nhà lãnh đạo, quản trị
Đồng thời tác giả cũng nhấn mạnh hiệu quả của lãnh đạo, quản trị phụ thuộc vào việc giải quyết các mối quan hệ này Đối với quan điểm về hành vi con người tác giả cho rằng hoạt động của con người phụ thuộc nhiều vào các yếu tố tâm lý xã hội Chính các yếu tố này tạo nên các quan hệ tốt đẹp trong quá trình lao động Từ đó mà có thể đạt hiệu quả cao trong quá trình làm việc (Phạm Minh Hạc,2005)
1.2.6 Thuyết hành vi của Watson (1878 _ 1958)
Theo Watson, mọi phản ứng, hành vi được phân loại theo hai tiêu chí: đó là phản ứng tiếp thu hay di truyền; phản ứng bên trong hay phản ứng bên ngoài Kết quả là trong hành vi được chia ra thành các phản ứng:
- Bên ngoài hay tiếp thu nhìn thấy được ( chơi quần vợt, mở cửa…)
- Bên trong và tiếp thu nhưng ở dạng dấu kín ( tư duy – mà thuyết hành vi gọi là ngôn ngữ bên ngoài)
- Bên ngoài nhìn thấy được và di truyền ( vỗ tay, hắt hơi… cũng như các phản ứng yêu thương, cáu giận…)
- Bên trong dấu kín và di truyền, là phản ứng các tuyến nội tiết Ông còn phân biệt giữa phản ứng bản năng (đưa tay ra với bắt…) và phản ứng cảm xúc ( các kích thích có đặc điểm nội tâm, liên quan đến cơ thể chủ thể) (Phạm Minh Hạc,2005)
Trang 211.3 Các mô hình nghiên cứu chia sẻ thông tin
1.3.1 Mô hình Bock và các cộng sự
Hình 1.3: Mô hình Hình thành ý định hành vi ở chia sẻ kiến thức
(Nguồn: Bock và các cộng sự, 2005) Bock và các cộng sự (2005) đã chỉ ra rằng kiến thức của cá nhân không phải dễ dàng biến đổi thành kiến thức của tổ chức Thay vào đó, mỗi cá nhân có xu hướng tích lũy kiến thức khác nhau với nhiều lý do khác nhau Mô hình nghiên cứu này là sự phát triển tích hợp các yếu tố hỗ trợ cho việc chia sẻ kiến thức của các cá nhân Tác giả đã sử dụng thuyết hành động hợp lý TRA và thêm vào các nhân tố: động cơ bên ngoài, tâm lý xã hội và các yếu tố không khí tổ chức ảnh hưởng đến ý định chia sẻ kiến thức của cá nhân
Quy chuẩn chủ quan
Ý định chia sẻ kiến thức
Không khí tổ chức Liên kết
Trang 221.3.2 Mô hình Chiu và các cộng sự
Hình 1.4: Mô hình Chia sẻ kiến thức trong cộng đồng ảo
(Nguồn: Chiu và các cộng sự, 2006) Chiu và các công sự (2006) đã xây dựng mô hình chia sẻ kiến thức trong cộng đồng ảo Họ cho rằng để nuôi dưỡng một cộng đồng ảo thì điều cần thiết đó là các
Quan hệ
tương tác xã
hội
Các kết quả mong đợi của cộng đồng
Các kết quả mong đợi của cá nhân
Chất lượng kiến thức
Số lượng kiến thức chia sẻ
Nhận thức chiều
Kích thước quan hệ
Kích thước cơ cấu
Trang 23thành viên phải sẵn sàng chia sẻ kiến thức với nhau Bài viết này tác giả đã tích hợp các lý thuyết về nhận thức xã hội và lý thuyết tư bản xã hội để xây dựng mô hình cho việc điều tra các động cơ đằng sau việc chia sẻ kiến thức của người dân trong cộng đồng ảo Nghiên cứu này cho rằng yếu tố quan hệ tương tác xã hội, sự tin tưởng, chỉ tiêu có đi có lại, xác định, tầm nhìn chung và ngôn ngữ chung sẽ ảnh hưởng đến chia
sẻ kiến thức của các cá nhân trong cộng đồng ảo
1.3.3 Mô hình Lu & Hsiao
Hình 1.5: Mô hình Hiểu được ý định tiếp tục chia sẻ thông tin trên blog
(Nguồn: Lu & Hsiao, 2007)
Lu & Hsiao (2007) đã xây dựng mô hình này nhằm mục đích kiểm tra động cơ thúc đẩy hành vi của cá nhân có ý định tiếp tục sử dụng blog Các yếu tố trong nghiên cứu bao gồm: kiến thức tự hiệu quả, các định mức chủ quan, thông tin phản hồi và kết quả mong đợi của cá nhân là những yếu tố quyết định tiếp tục chia sẻ thông tin trên
Các kết quả mong đợi của
cá nhân
Ý định tiếp tục cập nhật blog
Trang 24các blog Tác giả đã sử dụng các số liệu điều tra ngẫu nhiên được thu thập từ 155 người sử dụng của một trang web phổ biến tại Đài Loan (Wretch blog) Và kết quả của nghiên cứu này cho thấy yếu tố tự hiệu quả và kết quả mong đợi của cá nhân có ảnh hưởng trực tiếp đến ý định chia sẻ thông tin trên blog Ngoài ra, yếu tố thuyết phục xã hội cũng gián tiếp tác động thông qua tự hiệu quả và kết quả cá nhân mong đợi về ý định chia sẻ thông tin
1.3.4 Mô hình Reychav & Weisberg – 2010
Hình 1.6: Mô hình Ý định và hành vi chia sẻ kiến thức rõ ràng
và kiến thức ngầm (Nguồn: Reychav & Weiberg, 2010) Reychav & Weisberg (2010) đã xây dựng mô hình ý định và hành vi chia sẻ kiến thức rõ ràng và kiến thức ngầm nhằm làm sáng tỏ cách thức mà trong đó ý định chia sẻ kiến thức rõ ràng và ngấm ngầm tác động thực tế đến hành vi chia sẻ kiến thức Tác giả đã sử dụng số liệu điều tra được thu thập từ 278 công nhân làm trong ngành công nghệ cao Kết quả cho thấy rằng yếu tố ý định chia sẻ kiến thức rõ ràng ảnh hưởng rõ ràng đến hành vi chia sẻ kiến thức trên cả hai mức độ trực tiếp và gián tiếp Ngược lại, yếu tố hành vi chia sẻ kiến thức ngầm ảnh hưởng trực tiếp đến ý định chia sẻ kiến thức ngầm với một mức độ lớn hơn và ít ảnh hưởng gián tiếp bởi các ý định chia sẻ kiến thức rõ ràng Nghiên cứu này cung cấp một công cụ tiềm năng có
Ý định chia sẻ kiến
thức rõ ràng
Hành vi chia sẻ kiến thức rõ ràng
Hành vi chia sẻ kiến thức ngầm
Ý định chia sẻ kiến
thức ngầm
Trang 25thể sẽ được áp dụng cho mục đích quản lý việc đo lường ý định và hành vi chia sẻ kiến thức rõ ràng và kiến thức ngầm
1.3.5 Mô hình So & Bolloju
Hình 1.7: Mô hình Giải thích ý định chia sẻ và tái sử dụng kiến thức trong
bối cảnh các dịch vụ công nghệ thông tin hoạt động
(Nguồn: So & Bolloju, 2005)
So & Bolloju (2005) đã xây dựng mô hình này mục đích cung cấp một sự hiểu biết về ý định của các chuyên gia trong việc chia sẻ và tái sử dụng kiến thức trong bối cảnh của các hoạt động dịch vụ công nghệ thông tin Nghiên cứu này đã chỉ ra rằng các yếu tố thái độ, kiểm soát hành vi nhận thức đều ảnh hưởng trực tiếp về ý định chia
sẻ kiến thức Ngoại trừ yếu tố quy chuẩn chủ quan có ảnh hưởng đến ý định chia sẻ kiến thức trong các hoạt động dịch vụ công nghệ thông tin và ý định tái sử dụng kiến thức đó Tuy nhiên, hạn chế của nghiên cứu này là kích thước mẫu tương đối nhỏ đã hạn chế việc rút ra ý nghĩa thống kê
1.4 Mô hình nghiên cứu đề xuất và các giả thuyết nghiên cứu
Thái độ
(S _ ATT)
Ý định chia sẻ kiến thức (S_BI)
Ý định tái sử dụng kiến thức (R_BI)
Quy chuẩn chủ quan (R_SN)
Kiểm soát hành
vi nhận thức (R_PBC)
Thái độ (R_ATT)
Trang 261.4.1 Mô hình nghiên cứu đề xuất
Dựa vào các mô hình nghiên cứu trước đây, tôi xin đề xuất mô hình nghiên cứu của mình như sau:
Hình 1.8: Mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến chia sẻ thông tin trong
Ngành kinh doanh khách sạn tại Nha Trang 1.4.1.1 Khái niệm thông tin
Keith và Allan (2002) cho rằng thông tin là một nguồn tài nguyên cần được liên kết với các mục tiêu của doanh nghiệp để mang lại lợi ích cho tổ chức Điều này bao gồm các thông tin được chia sẻ giữa những người có thể làm cho tăng lợi ích của tổ chức
Theo Nguyễn Hưu Lam (1996) Thông tin được định nghĩa là quá trình trao đổi giữa người gửi và người nhận Chúng ta nghĩ về thông tin như quá trình trao đổi các
Chuẩn mực xã hội
Trang 27thông điệp bằng lời nói hoặc chữ viết giữa hai người Tuy nhiên, để hiểu thông tin trong tổ chức khái niệm trên cần được mở rộng Chữ viết và lời nói không chỉ là những kênh cho thông tin, và bộ phận phát và nhận không phải bao giờ cũng là người Trong nhiều tổ chức hiện đại, rất nhiều thông điệp được chuyển bằng những hệ thống thông tin quản lý phức tạp nơi mà dữ liệu được nhập từ rất nhiều nguồn và được phân tích bằng máy tính, sau đó được chuyển cho người nhận bằng điện tử
1.4.1.2 Các yếu tố của thông tin
Các yếu tố cơ bản của quá trình thông tin được trình bày qua sơ đồ
Hình 1.9: Quá trình thông tin
(Nguồn: Nguyễn Hữu Lam, 2011)
1.4.1.3 Khái niệm chia sẻ kiến thức
Kiến thức được coi là một nguồn tài nguyên quan trọng và có ý nghĩa trong việc thực hiện chiến lược và ảnh hưởng đến lợi thế cạnh tranh của tổ chức (Alavi và Leidner, 2001)
Từ một quan điểm cá nhân, kiến thức được định nghĩa là một niềm tin hợp lý làm tăng một thực thể năng lực cho hành động hiệu quả (Huber, 2001; Nonaka, 1994)
Quá trình giải mã
Quá trình
mã hóa
Thông điệp nhận được
Nguồn với
thông tin được
giao tiếp
Người nhận thông điệp và đưa ra phản hồi
Thông điệp và kênh
Phản hồi
Trang 28Chia sẻ kiến thức đòi hỏi phải có mong muốn đóng góp vào các mục tiêu nhóm Chia sẻ kiến thức có thể được coi là hành vi được ưa thích dẫn tới những kết quả có lợi cho tổ chức Những hình thức khác của hành vi được ưa thích như hiệu quả và hành vi vai trò tăng thêm thường gắn liền với cam kết và tương đồng xã hội (Ellemers
và các cộng sự, 1999)
Chia sẻ kiến thức có thể được hiểu là các hoạt động giúp các cộng đồng con người làm việc với nhau, hỗ trợ việc trao đổi tri thức của họ, cho phép học tập và tăng cường khả năng của họ nhằm đặt được những mục tiêu cá nhân và tổ chức (Chiu và các cộng sự, 2006)
Chia sẻ kiến thức liên quan đến sự sẵn lòng của các cá nhân trong một tổ chức
để chia sẻ với những người khác những kiến thức mà mình biết được hoặc tạo ra (Gibbert và Krause, 2002)
1.4.1.4 Ý định chia sẻ thông tin, kiến thức
Ý định chia sẻ thông tin là mong muốn của mỗi cá nhân trong tổ chức được chia
sẻ cho đồng nghiệp những thông tin mà mình biết như về thị trường, về sản phẩm, về nhu cầu của khách
Nếu bạn có ý định chia sẻ kiến thức thì đó là cách để giúp bạn, bộ phận của bạn, nhóm hoặc tổ chức đáp ứng các mục tiêu của mình, sau đó thực hiện nó trong phạm vi ảnh hưởng của mình và khuyến khích người khác làm như vậy Vì vậy, chia sẻ ở đây không có nghĩa chỉ là cho đi, mà bạn cần biết đặt câu hỏi để mọi người có sự phản hồi, nói cho mọi người những gì bạn đang làm hay lý do tại sao bạn làm nó, yêu cầu mọi người cho ý kiến và nói ra suy nghĩ của họ Có như vậy, ý tưởng của bạn mới trở thành hiện thực và được sử dụng có hiệu quả (David Gurteen, 1999) Cho nên khi bạn có ý định chia sẻ kiến thức thì hãy chia sẻ nó để công việc của bạn ngày càng phát triển hơn
1.4.2 Thái độ đối với chia sẻ thông tin và mối quan hệ với ý định chia sẻ thông tin 1.4.2.1 Thái độ đối với chia sẻ thông tin trong tổ chức
Theo Philip Kotler: “Thái độ là sự đánh giá tốt hay xấu của cá thể được hình thành trên cơ sở những tri thức hiện có bền vững về một khách thể hay ý tưởng nào
đó, những cảm giác do chúng gây ra và phương hướng hành động có thể có” (Vũ Trọng Hùng, 2001)
Trang 29Hai nhà tâm lý học người Mỹ là W.I.Thomas và F.Znaniecki lần đầu tiên vào năm 1918 đã đưa ra khái niệm về thái độ khi cho rằng: “Thái độ là định hướng chủ quan của cá nhân có hành động hay không hành động khác mà được xã hội chấp nhận” Hai ông cũng cho rằng: “Thái độ là trạng thái tinh thần của cá nhân đối với một giá trị” (Nguyễn Thị Hồng Cẩm, 2012)
Triandis và các cộng sự (1979) đã xây dựng mô hình ba thành phần của thái độ bao gồm: nhận thức, cảm xúc và hành vi Theo mô hình này, thái độ được xem là có
ba thành phần: nhận thức gồm có kiến thức về đối tượng; cảm xúc là những đánh giá tích cực hay tiêu cực về đối tượng; và hành vi là ý định hoặc hành vi dự định thực hiện đối với đối tượng
Thái độ đối với chia sẻ thông tin được xác định như mức độ cảm xúc tích cực về chia sẻ thông tin của một người (Ajzen và Fishbein, 1980)
Chia sẻ thông tin rất có thể xảy ra khi nhân viên cảm thấy rằng việc khuyến khích vượt quá chi phí (Kelly và Thibaut, 1978) Ví dụ, trong dự án ShareNet Siemens, phần thưởng rõ ràng là động cơ thúc đẩy nhân viên chia sẻ thông tin Tương
tự, thông tin của chương trình bảo hiểm Mileage dẫn đến sự tăng trưởng bùng nổ trong đăng ký chia sẻ thông tin của nhân viên
Vậy làm thế nào để nhân viên có thái độ tích cực trong việc chia sẻ thông tin trong một tổ chức Nếu mọi người hiểu rằng chia sẻ kiến thức của họ giúp họ làm công việc của họ hiệu quả hơn, giúp họ giữ lại công việc của họ, giúp họ phát triển cá nhân của họ và phát triển nghề nghiệp thì việc chia sẻ thông tin sẽ trở thành hiện thực 1.4.2.2 Quan hệ giữa thái độ chia sẻ thông tin và ý định chia sẻ thông tin
Dựa trên mô hình TPB, ý định để thực hiện các loại hành vi khác nhau có thể được dự đoán với độ chính xác cao từ thái độ đối với hành vi Định mức chủ quan, kiểm soát hành vi và những ý định chiếm đáng kể phương sai trong hành vi thực tế (Ajzen, 1991) Lý thuyết này được tìm thấy để được hỗ trợ bởi bằng chứng thực nghiệm (Taylor và Todd, 1995) Theo lý thuyết, yếu tố quyết định quan trọng nhất của hành vi cá nhân là hành vi ý định Người ta tin rằng ý định mạnh mẽ hơn để tham gia vào một hành vi thì khả năng hiệu quả của nó sẽ càng cao Ý định thực hiện một hành
vi là yếu tố quyết định trực tiếp của thực tế thực hiện các hành vi Một nhân viên lễ tân có nhiều khả năng để chia sẻ thông tin nếu cô ta có ý định mạnh mẽ để chia sẻ nó
Trang 30Cá nhân có ý định thực hiện một hành vi là một sự kết hợp của các thái độ đối với thực hiện các hành vi, chuẩn mực xã hội và kiểm soát hành vi
Theo Ajzen (1991) định nghĩa thái độ là “mức độ mà một người có một đánh giá thuận lợi hay bất lợi hoặc thẩm định các hành vi trong câu hỏi” Hay nói cách khác,
nó là niềm tin của hành vi tích cực hay tiêu cực của một cá nhân về việc thực hiện hành vi cụ thể, và nó được coi là tiền đề đầu tiên về ý định hành vi Một cá nhân có ý định thực hiện một hành vi nhất định khi họ đánh giá nó một cách tích cực
Ví dụ, một nhân viên thị trường có ý định cao để chia sẻ thông tin về thị hiếu, tâm lý của khách du lịch với đồng nghiệp khác nếu anh ấy tin rằng chia sẻ các kiến thức ấy là một ý tưởng mang lại lợi ích
Thái độ được xác định bởi niềm tin của cá nhân về những hậu quả của việc thực hiện hành vi Thái độ được cho là có ảnh hưởng trực tiếp đến ý định hành vi
H1: Thái độ có ảnh hưởng dương đến ý định chia sẻ thông tin
1.4.2.3 Chuẩn mực/quy chuẩn xã hội trong chia sẻ thông tin và mối quan hệ với
ý định chia sẻ thông tin trong tổ chức
Chuẩn mực xã hội được coi là tiền đề thứ hai về ý định hành vi Ajzen (1991) định nghĩa nó là “cảm nhận áp lực xã hội để thực hiện hoặc không thực hiện hành vi” Điều đó có nghĩa là chuẩn mực xã hội trong chia sẻ thông tin là cảm nhận của các cá nhân chịu ảnh hưởng của áp lực xã hội để thực hiện hoặc không thực hiện hành vi chia sẻ thông tin Hay nói cách khác, chuẩn mực xã hội chính là nhận thức của hầu hết những người quan trọng với cô hay anh ấy nghĩ rằng cô ấy hoặc anh ấy nên hay không nên thực hiện các hành vi chia sẻ thông tin
Ví dụ, một nhân viên lễ tân có ý định chia sẻ cách xử lý tình huống với đồng nghiệp để khi gặp lại tình huống đó thì mọi người sẽ xử lý tốt hơn nếu cô ấy nhận thấy trưởng bộ phận lễ tân nghĩ rằng cô ấy nên chia sẻ thông tin đó giữa các nhân viên lễ tân khác Vì vậy, chuẩn mực xã hội được cho là có tác động trực tiếp đến ý định hành vi
H2: Chuẩn mực xã hội có ảnh hưởng dương đến ý định chia sẻ thông tin
1.4.2.4 Kiểm soát hành vi chia sẻ thông tin và mối quan hệ với ý định chia sẻ thông tin trong tổ chức
Ajzen (1991) định nghĩa kiểm soát hành vi là “nhận thức dễ dàng hoặc khó khăn trong việc thực hiện các hành vi và nó được giả định để phản ánh kinh nghiệm trong
Trang 31quá khứ cũng như những trở ngại dự kiến” Vì vậy, nó đề cập đến mức độ mà một cá nhân cảm thấy rằng thực hiện hoặc không thực hiện các hành vi trong câu hỏi là thuộc
ý chí kiểm soát của mình
Theo lý thuyết Fromthe, mặc dù mọi người giữ thái độ tích cực đối với hành vi
và tin rằng người khác cũng sẽ đồng tình với hành vi đó, họ không có khả năng để tạo thành một ý định mạnh mẽ để thực hiện một hành vi nếu họ tin rằng họ không có bất
kỳ nguồn tài nguyên hoặc cơ hội làm như vậy Vì vậy, nhận thức kiểm soát hành vi có thể ảnh hưởng đến hành vi trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua ý định hành vi Việc bổ sung xây dựng này có thể nâng cao mô hình TPB từ lý thuyết ban đầu của hành động hợp lý (TRA) Nó được cho là có ảnh hưởng trực tiếp đến ý định hành vi
H3: Kiểm soát hành vi có ảnh hưởng dương đến ý định chia sẻ thông tin
1.4.2.5 Niềm tin về thông tin và mối quan hệ với thái độ chia sẻ thông tin
Constant và các cộng sự phát hiện ra các mối liên hệ giữa các loại thông tin và thái độ của một cá nhân về việc chia sẻ nó Fishbein và Ajzen, trong lý thuyết của họ
về lý luận hành động (TRA) đã đề xuất một mối quan hệ liên kết giữa niềm tin, thái
độ, ý định và hành vi Niềm tin về thông tin ảnh hưởng đến thái độ của cá nhân về thông tin đó Keith và Alan đã kiểm tra làm thế nào để nhân viên sử dụng thông tin,
và họ sử dụng cấu trúc mô hình TRA để khám phá ra niềm tin về thông tin là yếu tố quyết định đến thái độ của một cá nhân về việc chia sẻ thông tin đó (Constant và các cộng sự, 1994)
H4: Niềm tin về thông tin có ảnh hưởng dương đến thái độ chia sẻ thông tin 1.4.2.6 Niềm tin giữa các cá nhân và mối quan hệ với thái độ chia sẻ thông tin Constant và các cộng sự (1994); Blau (1967); Organ và Konovsky (1989) lập luận rằng khi hai cá nhân chịu ảnh hưởng của xã hội và bối cảnh của tổ chức, đặc biệt
là không xác định được kết quả của sự hợp tác trao đổi thông tin, các mối quan hệ trao đổi là một yếu tố quan trọng quyết định đến thái độ chia sẻ thông tin của họ Các nhân viên tin rằng mối quan hệ lẫn nhau của họ với những người khác có thể cải thiện thông qua thông tin của họ được chia sẻ và những người có mong muốn nhận được sự công bằng và có đi có lại có thể có thái độ tích cực đối với chia sẻ thông tin (Huber, 2001) Vì vậy, khi các cá nhân có sự tin tưởng lẫn nhau thì họ sẽ có thái độ tích cực trong việc chia sẻ thông tin
H5: Niềm tin giữa các cá nhân có ảnh hưởng dương đến thái độ chia sẻ thông tin
Trang 321.4.2.7 Niềm tin về nhiệm vụ liên quan và mối quan hệ với thái độ chia sẻ thông tin Như đã nói trong phần giả thuyết H4, niềm tin ảnh hưởng đến thái độ của một người về một đối tượng Điều này dẫn đến ý định của cá nhân ảnh hưởng đến hành vi liên quan Như vậy, khi các nhân viên trong một tổ chức tin rằng chia sẻ thông tin lẫn nhau là nhiệm vụ cần thiết, liên quan đến công việc của họ, giúp cho công việc của họ hoàn thiện hơn Và nếu họ làm việc tốt thì hoạt động của tổ chức đó cũng phát triển hơn Điều này sẽ ảnh hưởng đến thái độ của các nhân viên đối với việc chia sẻ thông tin
H6: Niềm tin về nhiệm vụ liên quan có ảnh hưởng dương đến thái độ chia sẻ thông tin
1.4.2.8 Sự ủng hộ của tổ chức và mối quan hệ với thái độ chia sẻ thông tin
Các chỉ tiêu của tổ chức cũng ảnh hưởng đến quá trình chia sẻ thông tin Thậm chí, nếu các nhân viên có tư tưởng có đi thì phải có lại (nghĩa là khi nhân viên này chia sẻ một thông tin gì đó thì nhân viên kia cũng phải chia sẻ lại), điều này cản trở sự trao đổi thông tin lẫn nhau Tuy nhiên, chia sẻ vẫn có thể xảy ra nếu người quản lý tin rằng thông tin đó mang lại lợi ích cho tổ chức Vì khi tổ chức ủng hộ sự chia sẻ thông tin thì hiển nhiên sẽ có những chính sách khuyến khích sự chia sẻ đó Điều này dẫn đến nhân viên sẽ có thái độ tích cực trong việc chia sẻ thông tin Brief và Motowidlo
đã xác định cam kết của tổ chức là hành động ủng hộ xã hội O’Reilly và Chatman cho rằng niềm tin gắn liền với sự chia sẻ thông tin, thực hiện các hoạt động vì lợi ích của tổ chức hơn là vì lợi ích cá nhân (Trích Keith và Alan, 2002)
H7: Sự ủng hộ của tổ chức có ảnh hưởng dương đến thái độ chia sẻ thông tin 1.4.3 Tóm lượt các giả thuyết nghiên cứu
Mô hình sẽ được dùng để kiểm định nhóm giả thuyết về quan hệ giữa các nhân
tố thái độ chia sẻ thông tin và ý định chia sẻ thông tin; chuẩn mực xã hội với ý định chia sẻ thông tin; kiểm soát hành vi với ý định chia sẻ thông tin; niềm tin về thông tin, niềm tin giữa các cá nhân, ủng hộ của tổ chức, niềm tin về nhiệm vụ liên quan với thái
độ của nhân viên ảnh hưởng đến ý định chia sẻ thông tin
H1: Thái độ có ảnh hưởng dương đến ý định chia sẻ thông tin
H2: Chuẩn mực xã hội có ảnh hưởng dương đến ý định chia sẻ thông tin
H3: Kiểm soát hành vi có ảnh hưởng dương đến ý định chia sẻ thông tin
H4: Niềm tin về thông tin có ảnh hưởng dương đến thái độ chia sẻ thông tin H5: Niềm tin giữa các cá nhân có ảnh hưởng dương đến thái độ chia sẻ thông tin
Trang 33H6: Niềm tin về nhiệm vụ liên quan có ảnh hưởng dương đến thái độ chia sẻ thông tin
H7: Sự ủng hộ của tổ chức có ảnh hưởng dương đến thái độ chia sẻ thông tin TÓM TẮT CHƯƠNG I
Chương 1 đã giới thiệu đôi nét về tình hình nghiên cứu trong nước và trên thế giới về vấn đề chia sẻ thông tin kiến thức trong một tổ chức Để các thành viên trong một tổ chức muốn chia sẻ thông tin cho nhau thì cũng phải phụ thuộc vào một số yếu
tố thúc đẩy các nhân viên này đi đến ý định chia sẻ thông tin Do đó, trong chương này tôi cũng trình bày một số cơ sở lý thuyết liên quan đến chia sẻ thông tin, thái độ
và ý định – hành vi của nhân viên trong một tổ chức
Bên cạnh đó, chương này cũng đã tổng hợp một số mô hình nghiên cứu trước đây liên quan đến vấn đề chia sẻ thông tin Từ đó, hình thành nên mô hình nghiên cứu đề xuất, làm cơ sở cho phần nghiên cứu tiếp theo
Trang 34CHƯƠNG 2: MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM KINH DOANH CỦA
KHÁCH SẠN NHÀ HÀNG Ở NHA TRANG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1.Tổng quan về kinh doanh khách sạn
2.1.1.Đặc điểm của kinh doanh khách sạn
- Kinh doanh khách sạn phụ thuộc vào tài nguyên du lịch tại các điểm du lịch: tài nguyên du lịch là yếu tố thúc đẩy, thôi thúc con người đi du lịch Nơi nào không có tài nguyên du lịch nơi đó không thể có khách du lịch tới
- Kinh doanh khách sạn đòi hỏi dung lượng vốn đầu tư lớn: do yêu cầu về tính chất lượng cao của sản phẩm khách sạn, đòi hỏi các thành phần của cơ sở vật chất kỹ thuật của khách sạn cũng phải có chất lượng cao Tức là chất lượng của cơ sở vật chất kỹ thuật của khách sạn tăng lên cùng với sự tăng lên của thứ hạng khách sạn
- Kinh doanh khách sạn đòi hỏi dung lượng lao động trực tiếp tương đối lớn: sản phẩm của khách sạn chủ yếu mang tính chất phục vụ và sự phục vụ này không thể cơ giới hóa được Mặt khác, lao động trong khách sạn có tính chuyên môn hóa khá cao Thời gian lao động lại phụ thuộc vào thời gian tiêu dùng của khách, thường kéo dài 24/24 giờ mỗi ngày Do vậy, cần phải sử dụng một số lượng lớn lao động phục vụ trực tiếp trong khách sạn
- Kinh doanh khách sạn mang tính quy luật: kinh doanh khách sạn chịu sự chi phối của một số quy luật như: quy luật tự nhiên, quy luật kinh tế - xã hội, quy luật tâm lý của con người…
(Nguyễn Văn Mạnh, 2004)
2.1.2 Tình hình kinh doanh khách sạn trên địa bàn Nha Trang
Trang 35Bảng 2.1: Kết quả kinh doanh du lịch trên địa bàn Nha Trang từ năm 2010 đến năm 2012
Chỉ
Tiêu
ĐVT
Số Lượng
% tăng
so với năm trước
Số Lượng
% tăng
so với năm trước
Số Lượng
% tăng
so với năm trước
Trang 36Nhận xét: nhìn vào bảng 1.1 ta thấy các chỉ tiêu lượt khách do các cơ sở lưu trú phục vụ và ngày khách do các cơ sở lưu trú phục vụ tăng lên qua các năm Điều này chứng tỏ hoạt động kinh doanh du lịch trên địa bàn thành phố Nha Trang ngày càng phát triển kéo theo sự phát triển của hoạt động kinh doanh khách sạn Sự phát triển này một phần là do yếu tố tài nguyên thiên nhiên Khánh Hòa có bờ biển dài hơn 200
km và gần 200 hòn đảo lớn nhỏ cùng nhiều vịnh biển đẹp như vịnh Văn Phong, vịnh Nha Trang (một trong 29 vịnh đẹp nhất thế giới), vịnh Cam Ranh, với khí hậu ôn hòa, nhiệt độ trung bình 26°C, có hơn 300 ngày nắng trong năm, và nhiều di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh nổi tiếng như: Tháp bà Ponagar, thành cổ Diên Khánh, các di tích của nhà bác học Yersin…Với những lợi thế đó Khánh Hòa đã trở thành một trong những trung tâm du lịch lớn của Việt Nam Ngoài ra nhờ sự quan tâm đẩy mạnh công tác xúc tiến, quảng bá, ký kết hợp tác du lịch với các tỉnh bạn trong khu vực như Lâm Đồng, Phú Yên…Bên cạnh hoạt động của cơ quan Nhà nước, doanh nghiệp kinh doanh du lịch cũng đẩy mạnh hoạt động quảng bá ở nước ngoài để thu hút khách quốc tế từ các thị trường tiềm năng như: Nga, Đức, Pháp, Anh, Tây Ban Nha, Úc, Mỹ, Nhật, Hàn Quốc và Trung Quốc Nhiều đơn vị đã mở rộng mạng lưới, đặt các văn phòng đại diện bán hàng ở nước ngoài, tham gia các hội chợ du lịch quốc
tế, tổ chức các chuyến đi tiếp cận các đối tác tiềm năng ở nhiều thị trường mục tiêu để
mở rộng quan hệ và tìm cơ hội hợp tác Đặc biệt, với sự ủng hộ của các doanh nghiệp
lữ hành, tỉnh đã tổ chức Hội nghị xúc tiến du lịch với sự tham dự của 28 hãng hàng không, 19 đơn vị lữ hành trong nước và quốc tế nhằm thu hút khách du lịch quốc tế bay thẳng đến sân bay Cam Ranh Nhờ chiến lược giảm giá phòng khách sạn (từ 20 – 50%), giảm giá dịch vụ, Vietnam Airlines đã có nhiều chuyến bay đi và đến Cam Ranh – Incheon (Hàn Quốc) Đặc biệt, trong tháng 12/2010, hãng Hàng không Vladivostok đã mở đường bay thẳng từ vùng Viễn Đông (Nga) sang Cam Ranh
Trang 37Ngược lại với sự gia tăng của hai chỉ tiêu lượt khách và ngày khách, hai chỉ tiêu ngày khách lưu trú bình quân và công suất sử dụng buồng ngủ có năm thì tăng nhưng không đáng kể, có năm lại giảm Đặc biệt, ngày khách lưu trú bình quân của các năm thì không có năm nào vượt quá 3 ngày Điều này cho thấy dịch vụ du lịch tại thành phố Nha Trang chưa đa dạng, chất lượng dịch vụ còn kém, giá cả cao, sản phẩm du lịch ít phong phú Phần lớn doanh nghiệp du lịch thuộc loại nhỏ, năng lực quản lý thấp, đội ngũ nhân lực du lịch yếu về trình độ ngoại ngữ và kinh nghiệm Dẫn đến du lịch Nha Trang chưa giữ chân được khách, chưa kéo dài được thời gian lưu trú của khách
2.1.3.Những thành tựu đạt được
Tính đến tháng 12/2010, toàn tỉnh có 455 cơ sở lưu trú (kể cả nhà khách), với 11.730 phòng Tổng số cơ sở lưu trú đã được thẩm định, xếp hạng là 326, trong đó có:
05 khách sạn 5, 04 khách sạn 4, 20 khách sạn 3, 77 khách sạn 2, 90 khách sạn 1, 132 nhà nghỉ du lịch đạt tiêu chuẩn tối thiểu, còn lại 110 cơ sở chưa được xếp hạng và 19 nhà khách – nhà nghỉ của các cơ quan đơn vị đóng trên địa bàn
Các phương tiện vận chuyển du lịch ngày càng được tăng cường về số lượng cũng như chất lượng và chủng loại, đảm bảo nhu cầu phục vụ du lịch cùng mạng lưới taxi, xe bus với hàng trăm đầu xe vận chuyển khách
Các loại hình dịch vụ du lịch tiếp tục phát triển với quy mô và sản phẩm ngày càng đa dạng, hấp dẫn du khách, đặc biệt là các hoạt động tham quan, nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí thể thao trên biển, du lịch sinh thái biển, du lịch sinh thái núi, du lịch sinh thái đồng quê, du lịch lặn biển, du lịch văn hóa gắn với làng nghề, với cộng đồng dân
cư, du lịch Mice, tổ chức các sự kiện văn hóa du lịch quốc gia và quốc tế trên địa bàn thành phố ngày càng phát triển
Năng lực tổ chức sự kiện văn hóa du lịch và kinh doanh du lịch đã có bước tiến
bộ khá rõ nét
Nhằm tạo động lực thu hút đầu tư du lịch tại địa phương, những năm qua công tác đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển du lịch, du lịch kết hợp với dân sinh bằng nguồn ngân sách Trung ương, ngân sách địa phương và các nguồn vốn khác
đã và đang được đẩy mạnh
Trang 38Ngoài ra, các dự án đầu tư hạ tầng vừa phục vụ dân sinh vừa phục vụ Du lịch bằng nguồn ngân sách địa phương và các nguồn vốn khác như: các công trình chỉnh trang trung tâm thành phố Nha Trang và phụ cận (nâng cấp đường Trần Phú, các tuyến nội thành, xây dựng kè bờ biển và hệ thống Công viên ven biển Nhà văn hóa tỉnh và quảng trường 2/4, biểu tượng tháp Trầm Hương); đường lên khu du lịch Hòn Bà; đường Nguyễn Tất Thành từ Nam Nha Trang đi Sân bay Cam Ranh; đường Phạm Văn Đồng (với Cầu Trần Phú mới) từ Bắc Nha Trang đi Quốc lộ 1A; đường từ Khánh Hòa (Khánh Lê) đi Lâm Đồng (Đà Lạt); cải tạo và nâng cấp (đợt đầu ) sân bay quốc tế Cam Ranh…với vốn đầu tư khá lớn Ngoài ra, một số công trình cũng đang được tiếp tục triển khai đầu tư như: xây Kè sông Cái Nha Trang; nâng cấp đường vào khu du lịch Ba Hồ Ninh Hòa, khu du lịch Suối Tiên Diên Khánh…
Nhờ tích cực đầu tư hạ tầng, tình hình đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật của các doanh nghiệp kinh doanh du lịch trong và ngoài nước có nhịp độ tăng nhanh so với nhiều năm trước với quy mô ngày càng lớn, trong đó đáng kể là các dự án phát triển
du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí; các trung tâm hội nghị hội thảo, các tổ hợp phục vụ sự kiện mang tầm quốc gia, khu vực và quốc tế…
Từ năm 2006 đến nay, tổng vốn đăng ký đầu tư của doanh nghiệp vào lĩnh vực
du lịch (chỉ tính các dự án đã được cấp phép đầu tư và đang triển khai đầu tư) đạt trên 28.300 tỷ đồng Trong đó, một số dự án lớn đã hoàn thành và đưa vào sử dụng như:
- Khu du lịch Vinpearl, gồm: Quần thể khách sạn 5 sao; Công viên Văn hóa; Cáp treo; Khu Resort 5 sao; Làng du lịch sinh thái và Thế giới nước Vinpearl – đảo Hòn Tre (Tổng vốn đầu tư trên 1000 tỷ đồng)
- Khu nghỉ dưỡng cao cấp Sunrise 12, 14 Trần Phú (146 tỷ đồng)
- Khu du lịch sinh thái Evason Hideaway at Ana Mandara – Ninh Hòa (97 tỷ đồng)
- Khu du lịch và giải trí Nha Trang gắn với công trình Trung tâm Hội nghị quốc
tế và sân Golf (573 tỷ và đang tiếp tục đầu tư)
- Khu du lịch Hòn Tằm Biển Nha Trang (401 tỷ giai đoạn 1, đang tiếp tục đầu tư)
- Khách sạn Viễn Đông (100 tỷ đồng)
- Khách sạn Novotel Nha Trang – 50 Trần Phú (160 tỷ đồng)
- Khách sạn Sheraton Nha Trang – 26, 28 Trần Phú (1.210 tỷ đồng)
Trang 39Ngoài ra, một số dự án, công trình đã và sẽ đưa vào hoạt động trong đó có:
- Trung tâm Thương mại – Khách sạn Hoàn Cầu (20 Trần Phú 350 tỷ đồng)
- Khách sạn kết hợp văn phòng cho thuê (38 Trần Phú 494 tỷ đồng)
- Khách sạn Thắng Lợi (04 Paster Nha Trang 126 tỷ đồng)
- Khu du lịch Hải Đảo – Nha Trang (163 tỷ đồng)
Trong năm vừa qua, ngành du lịch của Tỉnh tiếp tục đạt được kết quả khả quan
và có nhiều mặt tiến bộ rõ nét Cơ sở vật chất kỹ thuật được nâng cấp và đầu tư mới với tiêu chuẩn chất lượng cao, hiện nay toàn tỉnh có hơn 455 cơ sở lưu trú du lịch, với quy mô 11.730 phòng, số lượng buồng (phòng) đạt tiêu chuẩn xếp hạng cũng như số lượng phòng tiêu chuẩn 4-5 sao đã vượt kế hoạch Đặc biệt, một số cơ sở hạ tầng cho loại hình Du lịch Mice tiếp tục được đầu tư, tạo điều kiện tổ chức thành công các sự kiện, lễ hội có quy mô Quốc gia và Quốc tế, làm nổi bật các hoạt động văn hóa du lịch, góp phần quảng bá mạnh mẽ hình ảnh Nha Trang – Khánh Hòa trong và ngoài nước
Công tác quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn tỉnh tiếp tục tăng cường Công tác quy hoạch, đầu tư xây dựng, phát triển năng lực kinh doanh; công tác thông tin quảng bá, xúc tiến du lịch và phát triển du lịch văn hóa; công tác an ninh trật tự, vệ sinh môi trường; công tác tổ chức đào tạo nguồn nhân lực du lịch đã được quan tâm
và đẩy mạnh Đã tham gia góp ý, thẩm định 54 dự án đầu tư, đồ án quy hoạch, thỏa thuận địa điểm đầu tư cho các dự án đầu tư về du lịch trên địa bàn tỉnh; tham gia khảo sát thực địa về thỏa thuận địa điểm đầu tư 10 dự án, thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường 07 dự án đầu tư về du lịch trên địa bàn tỉnh (Trích báo cáo Tổng kết
05 năm chương trình phát triển du lịch Khánh Hòa (2006 – 2010) và báo cáo tổng kết công tác năm 2011, triển khai phương hướng nhiệm vụ năm 2012)
2.1.4 Đánh giá chung
Kết quả hoạt động của du lịch Khánh Hòa trong những năm qua đã phát huy được tiềm năng và lợi thế đặc thù về du lịch biển, du lịch văn hóa, lịch sử, danh lam thắng cảnh, du lịch sinh thái biển – núi, du lịch kết hợp các lễ hội, tổ chức sự kiện, hội nghị, hội thảo Qua đó, đã phát huy tốt vai trò là ngành kinh tế trọng điểm của tỉnh, của trung tâm du lịch biển khu vực duyên hải Nam Trung Bộ
Công tác quản lý nhà nước về du lịch đã được tăng vường Các mặt công tác quy hoạch, đầu tư xây dựng, phát triển năng lực kinh doanh, công tác thông tin xúc tiến
Trang 40quảng bá du lịch, công tác an ninh trật tự và vệ sinh môi trường, công tác tổ chức cán
bộ, đào tạo nguồn nhân lực đã được quan tâm và đẩy mạnh
Hoạt động du lịch đã có những đóng góp tích cực vào quá trình phát triển kinh tế xã hội địa phương, vào việc thực hiện thắng lợi chương trình hành động quốc gia về du lịch, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế với tỷ trọng GDP du lịch dịch vụ ngày càng tăng, tác động mạnh mẽ đến sự phát triển các ngành kinh tế khác và đặc biệt là hiệu quả xã hội từ hoạt động du lịch mang lại
(Lược trích báo cáo tổng kết 05 năm chương trình phát triển du lịch Khánh Hòa (2006 – 2010) và báo cáo tổng kết công tác năm 2011, triển khai phương hướng nhiệm vụ năm 2012)
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Đặc điểm đối tượng khảo sát (người lao động trong ngành)
Lao động trong khách sạn có một số đặc điểm sau:
- Sản phẩm là dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn, vì vậy lao động trong khách sạn chủ yếu là lao động dịch vụ
- Tính chuyên môn hóa cao dẫn đến khó thay thế lao động
- Khó có khả năng cơ khí hóa, tự động hóa dẫn đến số lượng lao động nhiều trong cùng một thời gian và không gian (chưa kể sự có mặt của người tiêu dùng), nhiều loại chuyên môn nghề nghiệp dẫn đến việc khó khăn trong tổ chức quản lý điều hành
- Thời gian làm việc của hầu hết bộ phận trong khách sạn kinh doanh lưu trú và
ăn uống phụ thuộc vào thời gian tiêu dùng của khách
- Cường độ lao động không đồng đều mang tính thời điểm cao, đa dạng và phức tạp
- Các đặc điểm về độ tuổi, giới tính, hình thức, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, ngoại ngữ
- Các đặc điểm của quy trình tổ chức lao động (giờ trong ngày, ngày trong tuần, tuần trong tháng, tháng trong năm)
( Nguyễn Văn Mạnh, 2004)
2.2.2 Đo lường các khái niệm
2.2.2.1 Thang đo thái độ của nhân viên đối với chia sẻ thông tin trong tổ chức (ATT)