1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia xuất khẩu của doanh nghiệp chế biến việt nam

73 979 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 865,87 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu - Hệ thống hóa lý thuyết về xuất khẩu và hành vi xuất khẩu của doanh nghiệp; - Lược khảo các nghiên cứu về quyết định tham gia xuất khẩu của doanh nghiệp; - Tổng hợp

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công

bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác

Tác giả

Phạm Tiến Lâm

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và viết luận văn này, tôi luôn nhận được

sự hướng dẫn tận tình, những lời động viên, khích lệ, sự thấu hiểu và sự giúp đỡ to lớn từ quý Thầy Cô giáo, Gia đình và Bạn bè của tôi Nhân đây, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến những người đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Thầy Lê Kim Long, giảng viên hướng dẫn nghiên cứu chính của tôi Nếu không có những lời nhận xét, góp ý quý giá để xây dựng đề cương luận văn và sự hướng dẫn nhiệt tình, tận tâm của Thầy trong suốt quá trình nghiên cứu thì luận văn này đã không hoàn thành Tôi cũng học được rất nhiều

từ Thầy về kiến thức chuyên môn, tác phong làm việc và những điều bổ ích khác Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Thầy Phạm Thế Anh và Cô Nguyễn Thị Hồng Đào đã tận tình hướng dẫn thêm tôi trong suốt thời gian nghiên cứu và viết luận văn này

Tôi cũng xin gởi lời cảm ơn chân thành đến quý Thầy, Cô giáo ở Khoa Kinh Trường Đại học Nha Trang nơi tôi được học tập và nghiên cứu đã giảng dạy, giúp đỡ tôi trong suốt khóa học này Quý Thầy, Cô đã đem đến cho tôi những kiến thức và kinh nghiệm vô giá cho cuộc đời của tôi

tế-Sau cùng, lời cảm ơn đặc biệt nhất dành cho bố mẹ, anh chị em, bạn bè Những

cố gắng của tôi để hoàn thành luận văn này là dành cho họ Xin cảm ơn những giúp đỡ, chia sẻ, động viên và khuyến khích của họ giúp tôi hoàn thành luận văn này

Nha Trang, tháng 5 năm 2013

Trang 5

MỤC LỤC

Trang bìa i

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC BẢNG BIỂU, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ vi

MỞ ĐẦU 1

1 Đặt vấn đề 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 4

5 Kết cấu của luận văn 4

CHƯƠNG I: LÝ THUYẾT VỀ HÀNH VI XUẤT KHẨU CỦA DOANH NGHIỆP VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ NGHỊ 5

1.1 Lý thuyết về xuất khẩu 5

1.1.1 Các khái niệm 5

1.1.2 Các lý thuyết về hoạt động xuất khẩu 5

1.1.2.1 Lý thuyết của trường phái trọng thương 5

1.1.2.2 Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith 6

1.1.2.3 Lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo 8

1.1.3 Các hình thức của hoạt động xuất khẩu 8

1.1.3.1 Xuất khẩu trực tiếp 8

1.1.3.2 Xuất khẩu gia công uỷ thác 9

1.1.3.3 Xuất khẩu uỷ thác 9

1.1.3.4 Buôn bán đối lưu 10

1.1.3.5 Xuất khẩu theo nghị định thư 11

1.1.3.6 Xuất khẩu tại chỗ 11

1.1.3.7 Gia công quốc tế 11

1.1.3.8 Tạm nhập tái xuất 11

1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu 12

1.1.4.1 Yếu tố chính trị 12

1.1.4.2 Yếu tố kinh tế 12

Trang 6

1.1.4.3 Yếu tố luật pháp 12

1.1.4.4 Yếu tố cạnh tranh 13

1.1.4.5 Yếu tố văn hoá 14

1.2 Lý thuyết về hành vi xuất khẩu của các doanh nghiệp 14

1.3 Khung phân tích lý thuyết về quyết định xuất khẩu của doanh nghiệp 16

1.4 Lược khảo các nghiên cứu liên quan 17

Chương II: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM 21

2.1 Tình hình xuất khẩu chung của Việt Nam 21

2.2 Thị trường và các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay 26

2.3 Giá trị gia tăng trong xuất khẩu sản phẩm Việt Nam 28

2.4 Chương trình khuyến khích xuất khẩu 29

Chương III: PHÂN TÍCH DỮ LIỆU, THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ KIỂM ĐỊNH MÔ HÌNH 32

3.1 Mô tả dữ liệu nghiên cứu 32

3.2 Mô hình quyết định tham gia xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam 39

3.2.1 Mô hình nghiên cứu đề nghị và định nghĩa các biến 39

3.2.2 Đo lường các biến và các giả thuyết nghiên cứu 401

3.3 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 434

3.3.2 Kết quả nghiên cứu 467

3.3.3 Thảo luận kết quả nghiên cứu 489

3.3.3.1 Đặc trưng doanh nghiệp đối với quyết định tham gia xuất khẩu 489

3.3.3.2 Môi trường bên ngoài đối với quyết định tham gia xuất khẩu 501

Chương IV: KẾT LUẬN VÀ GỢI Ý CHÍNH SÁCH 523

4.1 Kết luận 523

4.2 Các hàm ý chính sách về quyết định xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam 534

4.2.1 Về phía doanh nghiệp 545

4.2.2 Về phía chính phủ 567

4.3 Hạn chế và hướng mở rộng cho các nghiên cứu tiếp theo 60

TÀI LIỆU THAM KHẢO 61

PHỤ LỤC BẢNG CÂU HỎI ĐIỀU TRA CỦA WORLD BANK 65

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

AFTA Khu vực mậu dịch tự do ASEAN

APEC Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á- Thái Bình Dương ASEAN Hiệp hội các nước Đông Nam Á

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 3.1 Phân bố mẫu loại hình các doanh nghiệp 32

Bảng 3.2 Hoạt động xuất khẩu theo ngành 33

Bảng 3.3 Nhóm tuổi của doanh nghiệp xuất khẩu và không xuất khẩu 34

Bảng 3.4 So sánh một số chỉ tiêu giữa doanh nghiệp xuất khẩu và không xuất khẩu 35

Bảng 3.5 Quy mô doanh nghiệp xuất khẩu và không xuất khẩu 35

Bảng 3.6 Trình độ học vấn của người đứng đầu doanh nghiệp 36

Bảng 3.7 Kinh nghiệm của người đứng đầu doanh nghiệp trước khi điều hành 37

Bảng 3.8 Thống kê mô tả số năm làm việc của người đứng đầu doanh nghiệp với doanh nghiệp nước ngoài 38

Bảng 3.9 Phân bố mẫu số năm làm việc của người đứng đầu doanh nghiệp với doanh nghiệp nước ngoài 39

Bảng 3.10 Định nghĩa các biến độc lập trong mô hình 40

Bảng 3.11 Kỳ vọng dấu của các biến độc lập trong mô hình 43

Bảng 3.12 Thống kê mô tả các biến đặc trưng doanh nghiệp 44

Bảng 3.13 Phân bố mẫu Loại hình sở hữu 45

Bảng 3.14 Phân bố mẫu biến Yếu tố nước ngoài FDI 46

Bảng 3.15 Thống kê mô tả các biến Môi trường bên ngoài 46

Bảng 3.16 Kết quả ước lượng mô hình hồi quy Probit 48

DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 2.1: Biểu đồ kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá và cán cân thương mại của Việt Nam giai đoạn 2005-2012 24

Biểu đồ 2.2: Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam trong năm 2012 27

Biểu đồ 2.3: Xuất khẩu dệt may của Việt Nam 2011-2012 28

Biểu đồ 2.4: Xuất khẩu điện thoại và các linh kiện điện tử của Việt Nam trong năm 2011-2012 28

Biểu đồ 3.1: Trình độ lao động trong doanh nghiệp 37

DANH MỤC SƠ ĐỒ Sơ đồ mô hình nghiên cứu đề nghị 21

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Quan điểm “phi thương bất phú” đã có từ xa xưa, nó có nghĩa là ở bất kì nơi nào nếu không có hàng hóa dịch vụ buôn bán thì không thể giàu có được Quan điểm trên ngày nay không chỉ dừng lại ở phạm vi quốc gia mà mang tính chất quốc tế Thương mại quốc tế là hoạt động mang tính chất sống còn đối với một quốc gia, thể hiện mức tiêu dùng của một quốc gia, phát huy được lợi thế so sánh của một quốc gia so với các quốc gia khác Thương mại quốc tế còn tạo tiền đề cho quá trình phân công lao động xã hội, tạo

cơ hội cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, mở rộng quan hệ hợp tác kinh doanh với nhiều nước trên thế giới

Việt Nam đang tiến hành công cuộc công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước Ngay

từ sau đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986 nền kinh tế Việt Nam chuyển đổi từ

cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) Đảng và Nhà nước đã chỉ rõ nhiệm vụ trọng tâm của chương trình kinh tế bao gồm: chương trình lương thực, thực phẩm; chương trình hàng tiêu dùng; chương trình hàng xuất khẩu Từ chỗ chỉ sản xuất và trao đổi với các quốc gia trong hệ thống XHCN như Liên Xô, Đông Âu Việt Nam đã mở cửa quan hệ với các quốc gia khác trên thế giới Đặc biệt là sau giai đoạn 1994 khi chính phủ Hoa Kỳ dỡ

bỏ lệnh cấm vận đối với Việt Nam, chúng ta đã có cơ hội quan hệ hợp tác với hơn 220 quốc gia và các tổ chức trên thế giới về nhiều mặt như: kinh tế, chính trị, văn hóa, y tế, giáo dục, và tham gia vào nhiều tổ chức kinh tế khu vực và thế giới như: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Diễn đàn hợp tác Á - Âu (ASEM), Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) Việc trở thành thành viên chính thức của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) cũng như việc tham gia ký kết 7 Hiệp định thương mại

tự do trong khu vực ASEAN (ATIGA; ASEAN - Trung Quốc; ASEAN - Hàn Quốc; ASEAN - Ấn Độ; ASEAN – Úc – Niu Dilân; ASEAN - Nhật Bản và Việt Nam - Nhật Bản) càng tạo ra nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam mở rộng thị trường ra bên ngoài, tham gia sâu hơn vào quá trình hội nhập kinh tế thế giới, từ đó thúc đẩy ngoại thương của đất nước ngày càng phát triển

Trang 10

Việt Nam là một trong những nước có tỉ lệ nhập khẩu hàng năm rất lớn, cán cân thương mại luôn trong tình trạng thâm hụt một thời gian dài Chỉ đến 2012, lần đầu tiên sau hơn 20 năm đổi mới chúng ta mới có được thặng dư thương mại (0.3 tỷ USD), một tín hiệu đáng mừng trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế kéo dài Chính sách thương mại thường có liên quan đến chính sách đầu tư kinh tế và thu hút đầu tư nước ngoài Vì vậy, Việt Nam cần có chính sách thương mại hợp lý để góp phần vào tăng trưởng kinh tế Xuất khẩu là một bộ phận của hoạt động ngoại thương, đóng góp một tỷ trọng vô cùng lớn vào cán cân thương mại nói riêng và tổng sản phẩm quốc dân (GNP) của đất nước nói chung Xuất khẩu không chỉ tạo nguồn vốn vô cùng quan trọng để đất nước đang phát triển như nước ta hiện nay có thể thu được ngoại tệ để nhập khẩu máy móc, trang thiết bị hiện đại vào sản xuất, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước mà còn góp phần không nhỏ vào việc giải quyết và tạo công ăn việc làm cho người lao động, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và mở rộng mối quan hệ hợp tác giữa Việt Nam với nhiều quốc gia trên thế giới Nhận thức được vai trò quan trọng của xuất khẩu đối với sự phát triển đất nước là con đường để Việt Nam thâm nhập sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu, hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới nên việc thúc đẩy phát triển xuất khẩu là một trong những chủ trưởng lớn, quan trọng của Đảng và Nhà nước ta nhằm thực hiện đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, từng bước đưa đất nước ta từ một nước

có nền nông nghiệp lạc hậu thành đất nước công nghiệp phát triển tầm nhìn 2020

Xuất phát từ thực tiễn trên về tầm quan trọng của hoạt động xuất khẩu đối với nền

kinh tế Việt Nam, tác giả chọn đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia

xuất khẩu của doanh nghiệp chế biến Việt Nam” cho luận văn Thạc sỹ Đề tài sử dụng

dữ liệu “Điều tra doanh nghiệp về năng suất lao động và môi trường đầu tư ở Việt

Nam” do Ngân hàng thế giới (World Bank–WB, 2005) thực hiện qua việc phỏng vấn trực

tiếp với chủ đầu tư và giám đốc của 1.150 doanh nghiệp trong nước và nước ngoài đang đầu tư vào ngành công nghiệp chế biến ở Việt Nam Điều tra cung cấp số liệu cấp vi mô

về môi trường đầu tư ở Việt Nam và các chỉ tiêu hoạt động của doanh nghiệp Dựa trên số liệu mà WB điều tra, chúng ta có thể tiến hành nghiên cứu các yếu tố nào có thể ảnh hưởng đến quyết định xuất khẩu của doanh nghiệp, sự khác biệt nào giữa các doanh nghiệp trong cùng ngành ảnh hưởng đến quyết định xuất khẩu, vai trò của môi trường bên

Trang 11

ngoài đến quyết định tham gia thị trường xuất khẩu Thông qua nghiên cứu, tác giả đề xuất các kiến nghị giúp cho doanh nghiệp có các chính sách phù hợp để điều chỉnh và phát triển hoạt động xuất khẩu Ngoài ra, kết quả nghiên cứu từ đề tài cũng giúp cho chính phủ có được cái nhìn tổng quát và có được chính sách thiết thực nhằm xúc tiến, hỗ trợ cho hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp trong thời gian tới

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Hệ thống hóa lý thuyết về xuất khẩu và hành vi xuất khẩu của doanh nghiệp;

- Lược khảo các nghiên cứu về quyết định tham gia xuất khẩu của doanh nghiệp;

- Tổng hợp và phân tích tình hình xuất khẩu của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, trong đó bao gồm đánh giá vai trò của hoạt động xuất khẩu đối với nền kinh tế Việt Nam;

- Xây dựng mô hình nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia xuất khẩu của các doanh nghiệp chế biến tại Việt Nam;

- Xác định vai trò của các đặc trưng doanh nghiệp trong quyết định tham gia xuất khẩu;

- Xác định vai trò của các yếu tố môi trường bên ngoài trong quyết định tham gia xuất khẩu của doanh nghiệp;

- Đề xuất giải pháp nhằm giúp cho doanh nghiệp cải thiện và mở rộng hoạt động xuất khẩu trong thời gian tới;

- Đưa ra các kiến nghị cho Chính phủ nhằm xây dựng được những chính sách phù hợp và thiết thực nhằm hỗ trợ hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia xuất khẩu của doanh nghiệp chế biến tại Việt Nam;

- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu 1.150 doanh nghiệp trong nước

và doanh nghiệp nước ngoài đang đầu tư vào ngành công nghiệp chế biến tại Việt Nam; mẫu nghiên cứu do Ngân hàng thế giới (WB) thực hiện điều tra năm 2005

Trang 12

4 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu trên được tiến hành dựa trên hai phương pháp:

- Nghiên cứu định tính: Nghiên cứu lược khảo lý thuyết trong và ngoài nước về xuất khẩu và hành vi xuất khẩu của doanh nghiệp; tổng hợp và phân tích hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam trong giai đoạn hiện nay; vai trò của xuất khẩu đối với việc tăng trưởng và phát triển kinh tế của Việt Nam

- Nghiên cứu định lượng: Nghiên cứu xây dựng khung phân tích và mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia xuất khẩu của doanh nghiệp; thực hiện ước lượng dựa trên dữ liệu từ Điều tra doanh nghiệp của Ngân hàng thế giới để từ đó xác định chiều hướng và mức độ tác động của các nhân tố bên trong về đặc trưng doanh nghiệp và các nhân tố môi trường bên ngoài đến quyết định tham gia xuất khẩu của doanh nghiệp Nghiên cứu sử dụng phần mềm STATA 11.0 cho các phân tích định lượng

5 Kết cấu của luận văn

Luận văn gồm có 4 chương sau đây:

CHƯƠNG I: LÝ THUYẾT VỀ HÀNH VI XUẤT KHẨU CỦA CÁC DOANH

NGHIỆP VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ NGHỊ

CHƯƠNG II: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM

CHƯƠNG III: PHÂN TÍCH DỮ LIỆU, THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

VÀ KIỂM ĐỊNH MÔ HÌNH

CHƯƠNG IV: KẾT LUẬN VÀ GỢI Ý CHÍNH SÁCH

Trang 13

CHƯƠNG I: LÝ THUYẾT VỀ HÀNH VI XUẤT KHẨU CỦA DOANH NGHIỆP VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ NGHỊ 1.1 Lý thuyết về xuất khẩu

1.1.1 Các khái niệm

Xuất khẩu hay xuất cảng, trong lý luận thương mại quốc tế là việc bán hàng hóa và dịch vụ cho nước ngoài, trong cách tính toán cán cân thanh toán quốc

tế theo IMF là việc bán hàng hóa cho nước ngoài (Wikipedia, 2012)

Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật (Luật thương mại Việt Nam, 2005)

Như vậy, xuất khẩu là việc bán hàng hoá hoặc dịch vụ cho nước ngoài trên cơ sở dùng tiền tệ làm phương tiện thanh toán Cơ sở của hoạt động xuất khẩu là hoạt động mua bán trao đổi hàng hoá (bao gồm cả hàng hoá hữu hình và hàng hoá vô hình) trong nước Khi sản xuất phát triển và trao đổi hàng hoá giữa các quốc gia có lợi, hoạt động này mở rộng phạm vi ra ngoài biên giới của quốc gia hoặc thị trường nội địa và khu chế xuất ở trong nước

Xuất khẩu là một hoạt động cơ bản của hoạt động ngoại thương.Nó đã xuất hiện từ lâu đời và ngày càng phát triển Từ hình thức cơ bản đầu tiên là trao đổi hàng hoá giữa các nước, đến nay nó đã phát triển mạnh mẽ và được thể hiện thông qua nhiều hình thức Hoạt động xuất khẩu ngày nay diễn ra trên phạm vi toàn cầu, trong hầu hết các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế, không chỉ là hàng hoá hữu hình mà cả hàng hoá vô hình với tỷ trọng ngày càng lớn

1.1.2 Các lý thuyết về hoạt động xuất khẩu

1.1.2.1 Lý thuyết của trường phái trọng thương

Lý thuyết trọng thương là nền tảng cho các tư duy kinh tế từ năm 1500 đến năm

1800 Lý thuyết này cho rằng sự phồn vinh của một quốc gia được đo bằng lượng tài sản

mà quốc gia đó cất giữ và thường được tính bằng vàng Theo lý thuyết này chính phủ nên

Trang 14

xuất khẩu nhiều hơn nhập khẩu và nếu thành công chính phủ sẽ nhận được giá trị thặng

dư mậu dịch được tính theo vàng từ các nước khác Để một nước có thể thặng dư mậu dịch thì:

- Thặng dư (mậu dịch) thương mại được thực hiện bởi các công ty buôn bán độc quyền của Nhà nước, hoạt động nhập khẩu bị hạn chế và hoạt động xuất khẩu được trợ cấp

- Các cường quốc thực dân luôn cố tìm cách đạt được thặng dư mậu dịch với các thuộc địa của họ Họ coi đây như là một phương tiện khác để có thêm thu nhập Họ thực hiện điều này không chỉ bằng cách giữ độc quyền thương mại thực dân mà còn ngăn cản các nước thuộc địa sản xuất Do đó, các nước thuộc địa phải xuất khẩu nguyên liệu thô, kém gía trị hơn và nhập khẩu những sản phẩm có giá trị cao hơn

Lý thuyết trọng thương mang lại lợi ích cho các cường quốc thực dân, vì thế chính sách ngoại thương của trường phái này theo hướng:

- Giá trị xuất khẩu càng nhiều càng tốt, nghĩa là không những số lượng hàng hoá xuất khẩu phải nhiều mà còn phải ưu tiên xuất khẩu những hàng hoá có giá trị cao hơn hàng hoá có giá trị Người ta đánh giá thấp việc xuất khẩu nguyên liệu và cố sử dụng nguyên liệu để sản xuất trong nưóc rồi đem xuất khẩu thành phẩm

- Giữ nhập khẩu ở mức độ tối thiểu, giành ưu tiên cho nhập khẩu nguyên liệu, hạn chế hoặc cấm nhập khẩu thành phẩm nhất là hàng xa xỉ

- Khuyến khích chở hàng hoá bằng tàu của nước mình vì như vậy vừa bán được hàng hóa mà còn tận dụng được cả những món lợi nhuận khác như: cước vận tải, phí bảo hiểm,

Ảnh hưởng của lý thuyết trọng thương đã bị mờ nhạt đi sau năm 1800 Các cường quốc thực dân không hạn chế sự phát triển công nghiệp của các nước thuộc địa của họ, nhưng các thủ đoạn hợp pháp vẫn buộc chặt quan hệ thương mại của các nước thuộc địa với chính quốc

1.1.2.2 Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith

Không như trường phái trọng thương, Adam Smith cho rằng: “sự giàu có của mỗi quốc gia phụ thuộc vào số hàng hoá và dịch vụ có sẵn hơn là phụ thuộc vào vàng” Theo

Trang 15

Adam Smith, nếu thương mại không bị hạn chế theo nguyên tắc phân công thì các quốc gia có lợi ích từ thương mại quốc tế nghĩa là mỗi quốc gia có lợi thế về mặt điều kiện tự nhiên hay do trình độ sản xuất phát triển cao sẽ sản xuất ra những sản phẩm nhất định mà mình có lợi thế với chi phí thấp hơn so với các nước khác Ông phê phán sự phi lý của lý thuyết trọng thương và chứng minh rằng: mậu dịch sẽ giúp cả hai bên đều gia tăng tài sản Theo ông, nếu mỗi quốc gia đều chuyên môn hoá vào những ngành sản xuất mà họ có lợi thế tuyệt đối, thì họ có thể sản xuất được những sản phẩm có chi phí thấp hơn so với nước khác để xuất khẩu, đồng thời lại nhập khẩu về những hàng hoá mà nước này không sản xuất được hoặc sản xuất được nhưng chi phí sản xuất cao hơn giá nhập khẩu

Nhờ sự chuyên môn hoá các nước có thể gia tăng hiệu quả của họ do người lao động sẽ lành nghề cao hơn do công việc của họ được lặp lại nhiều lần, người lao động không phải mất thời gian trong việc chuyển sản xuất sản phẩm này sang sản phẩm khác,

do làm một công việc lâu dài, người lao động sẽ có nhiều kinh nghiệm và có các sáng kiến, các phương pháp làm việc tốt hơn

Mặc dù Adam Smith cho rằng, thị trường chính là nơi quyết định nhưng ông vẫn nghĩ lợi thế của một nước có thể là do lợi thế tự nhiên hay do nỗ lực cả nước đó Lợi thế

tự nhiên liên quan đến các điều kiện tự nhiên và khí hậu Lợi thế do nỗ lực là lợi thế có thể có được do sự phát triển của kỹ thuật và sự lành nghề

Ngày nay người ta thường buôn bán, trao đổi các loại hàng hoá đã được sản xuất công phu hơn là các nông phẩm hay tài nguyên thiên nhiên nguyên khai thác hoặc sản phẩm thô Quá trình sản xuất ra loại hàng hoá này phần lớn phụ thuộc vào lợi thế do nỗ lực, thường là kỹ thuật chế biến và khả năng sản xuất các loại sản phẩm khác biệt với những sản phẩm khác Lợi thế tuyệt đối so sánh số lượng của một loại sản phẩm có thể được sản xuất ra ở hai nước khác nhau với cùng một điều kiện sản xuất Giả sử Việt Nam

có lợi thế tuyệt đối so với Hàn Quốc về sản xuất gạo trong khi đó Hàn Quốc có lợi thế tuyệt đối về sản xuất vải Đó là lợi thế tuyệt đối tương hỗ, trong trường hợp nếu mỗi nước chuyên môn hoá loại sản phẩm mà mà nước đó có lợi thế tuyệt đối thì tổng sản phẩm của

cả hai nước có thể tăng lên

Trang 16

1.1.2.3 Lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo

Theo lý thuyết này, mỗi quốc gia có nhiều hiệu quả thấp hơn so với các nước khác trong việc sản xuất các loại sản phẩm vẫn cần phải tham gia vào hoạt động xuất khẩu vì

nó có thể tạo ra lợi ích không nhỏ mà nếu bỏ qua quốc gia đó sẽ mất đi cơ hội để phát triển Nói cách khác, trong điểm bất lợi vẫn có những điểm thuận lợi để khai thác khi tham gia vào hoạt động xuất khẩu, những quốc gia có hiệu quả thấp trong việc sản xuất ra các loại hàng hoá sẽ có thể chuyên môn hoá sản xuất hàng hoá ít bất lợi nhất để trao đổi với các quốc gia khác và nhập về những hàng hoá mà việc sản xuất ra đã gặp rất nhiều khó khăn và bất lợi Từ đó, nền kinh tế tham gia vào thương mại quốc tế có thể tiết kiệm được nguồn lực của mình và thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển

1.1.3 Các hình thức của hoạt động xuất khẩu

Hoạt động xuất khẩu về cơ bản là việc bán hàng hoá và dịch vụ cho một quốc gia khác Tuy nhiên, hiện nay hoạt động xuất khẩu được các doanh nghiệp vận dụng dưới nhiều hình thức khác nhau, thể hiện ở một số hình thức chủ yếu sau:

1.1.3.1 Xuất khẩu trực tiếp

Xuất khẩu trực tiếp là việc xuất khẩu các hàng hoá và dịch vụ mà doanh nghiệp sản xuất ra hoặc thu mua từ các đơn vị sản xuất trong nước, sau đó xuất khẩu những sản phẩm

đó ra nước ngoài thông qua các tổ chức của mình

Các bước tiến hành một thương vụ xuất khẩu trực tiếp trong trường hợp doanh nghiệp không tự sản xuất ra sản phẩm:

- Ký hợp đồng nội, mua hàng và trả tiền hàng cho các đơn vị sản xuất trong nước

- Ký hợp đồng ngoại, giao hàng và thanh toán tiền hàng với bên nước ngoài

Hình thức này có ưu điểm là lợi nhuận thu được của các đơn vị kinh doanh thường cao hơn các hình thức khác Với vai trò là người bán hàng trực tiếp, doanh nghiệp có thể nâng cao uy tín của mình thông qua quy cách và phẩm chất hàng hoá, tiếp cận thị trường

và nắm bắt được nhu cầu thị hiếu của khách hàng Tuy nhiên, hình thức này đòi hỏi doanh nghiệp phải ứng trước một lượng vốn khá lớn để sản xuất, thu mua hoặc có thể gặp rất

Trang 17

nhiều khó khăn, rủi ro như: không xuất được hàng, không thu mua được hàng, bị thanh toán chậm hay do thay đổi tỷ giá, lạm phát…

1.1.3.2 Xuất khẩu gia công uỷ thác

Theo hình thức này, các doanh nghiệp kinh doanh hàng xuất khẩu đứng ra nhập nguyên liệu hoặc bán thành phẩm cho các doanh nghiệp gia công, sau đó thu hồi thành phẩm để xuất lại cho bên nước ngoài Doanh nghiệp sẽ được hưởng phí uỷ thác theo thoả thuận với các doanh nghiệp trực tiếp chế biến Các bước tiến hành của hình thức này:

- Ký kết hợp đồng gia công uỷ thác với các đơn vị trong nước

- Ký kết hợp đồng gia công với nước ngoài và nhập nguyên liệu

- Giao nguyên liệu gia công (theo định mức đã thoó thuận gián tiếp giữa đơn vị chế biến trong nước với bên nước ngoài)

- Xuất lại thành phẩm cho bên nước ngoài

- Thanh toán phí gia công cho đơn vị chế biến (do bên nước ngoài trả và được hưởng phí uỷ thác gia công

Hình thức này có ưu điểm là không cần bỏ vốn vào kinh doanh nhưng vẫn thu được lợi nhuận, ít rủi ro, việc thanh toán được bảo đảm vì đầu ra chắc chắn Song còn đòi hỏi rất nhiều thủ tục xuất và nhập khẩu, do đó để thực hiện tốt hình thức này các doanh nghiệp cần phải có những cán bộ kinh doanh có kinh nghiệm về nghiệp vụ xuất nhập khẩu

Hình thức xuất khẩu theo đơn đặt hàng của nước ngoài cũng tương tự như hình thức này, chỉ khác là đơn vị sản xuất phải tự tìm lấy nguồn nguyên liệu để sản xuất ra các sản phẩm theo đúng yêu cầu theo đơn đặt hàng

1.1.3.3 Xuất khẩu uỷ thác

Trong hình thức này, các doanh nghiệp kinh doanh hàng xuất khẩu đứng ra đóng vai trò là trung gian xuất khẩu, làm thay cho các đơn vị sản xuất (bên có hàng) những thủ tục cần thiết để xuất khẩu hàng và hưởng phần trăm theo giá trị hàng xuất khẩu đã được thoả thuận Các bước tiến hành của hình thức này:

- Ký hợp đồng nhận uỷ thác xuất khẩu cho các đơn vị sản xuất trong nước

Trang 18

- Ký hợp đồng với bên nước ngoài, giao hàng và thanh toán tiền hàng

- Nhận uỷ thác xuất khẩu cho các đơn vị trong nước

Hình thức này có ưu điểm là mức độ rủi ro thấp, ít trách nhiệm, người đứng ra xuất khẩu không phải là người chịu trách nhiệm cuối cùng, đặc biệt là không cần vốn để mua hàng, nhận tiền nhanh ít thủ tục và tương đối tin cậy

1.1.3.4 Buôn bán đối lưu

Buôn bán đối lưu là phương thức giao dịch mà trong đó xuất khẩu kết hợp chặt chẽ với nhập khẩu, người bán đồng thời là người mua, lượng hàng trao đổi có giá trị tương đương với giá trị lô hàng đã xuất Mục đích xuất khẩu không phải là nhằm thu ngoại tệ

mà nhằm thu về một lượng hàng hoá giá trị xấp xỉ giá trị của lô hàng đã xuất

Có rất nhiều loại hình buôn bán đối lưu như: hàng đổi hàng, trao đổi bù trừ, chuyển giao nghĩa vụ, mua lại sản phẩm

- Hình thức hàng đổi hàng là việc một bên dùng hàng hóa để đổi lấy một lượng hàng tương đương và không có thanh toán trong hình thức này

- Hình thức trao đổi bù trừ là hình thức trong đó hai bên sẽ tiến hành trao đổi hàng hóa trong một thời gian dài và sẽ dùng một tài khoản chung để theo dõi nghiệp vụ giao nhận hàng của cả hai bên Đến cuối kỳ hai bên sẽ thanh toán tiền chênh lệch theo tính toán Hàng hóa có thể là một loại hàng hóa nhất định hoặc nhiều mặt hàng khác nhau trong một thời gian nhất định

- Mua đối lưu là hình thức một bên sẽ ký kết hợp đồng mua hàng có thanh toán và cam kết, sau đó một khoảng thời gian nhất định sẽ bán cho bên kia một lượng hàng hoá khác và cũng được nhận tiền thanh toán Giá trị của hai hợp đồng này không nhất thiết phải bằng nhau, thời gian thông thường từ 1 - 5 năm với danh mục hàng hoá được mở rộng rãi

- Chuyển giao nghĩa vụ là hình thức mua bán đối lưu trong đó một bên có quyền chuyển nghĩa vụ thanh toán cho bên thứ ba

- Hình thức mua lại sản phẩm là hình thức một bên tiến hành nhập khẩu máy móc thiết bị nhưng không thanh toán ngay mà sẽ trả dần bằng sản phẩm do chính máy móc thiết bị đó sản xuất ra

Trang 19

1.1.3.5 Xuất khẩu theo nghị định thư

Đây là hình thức xuất khẩu hàng hoá (thường là trả nợ) được ký theo nghị định thư giữa hai chính phủ Xuất khẩu theo hình thức này có ưu điểm là khả năng thanh toán được bảo đảm (do Nhà nước trả cho đơn vị sản xuất)

1.1.3.6 Xuất khẩu tại chỗ

Đây là hình thức mới nhưng nó đã thể hiện rõ khá nhiều ưu điểm và đang được phổ biến rộng rãi Đặc điểm của hình thức này là hàng hóa không bắt buộc phải vượt qua khỏi biên giới quốc gia để đến tay khách hàng Do vậy, không nhất thiết phải có hợp đồng phụ trợ như: hợp đồng vận tải, bảo hiểm, thủ tục hải quan, và như vậy sẽ giảm được chi phí vận chuyển cũng như các chi phí khác có liên quan, hơn nữa độ rủi ro thấp vì kinh doanh trong môi trường hoàn toàn quen thuộc

1.1.3.7 Gia công quốc tế

Gia công quốc tế là hình thức trong đó bên nhận gia công nhập nguyên liệu hoặc bán thành phẩm của bên đặt gia công để chế biến ra thành phẩm theo yêu cầu của bên đặt gia công sau đó giao lại và nhận thù lao gọi là phí gia công

Ưu điểm của hình thức này là giúp bên nhận gia công tạo công ăn việc làm cho người lao động, nhận được các thiết bị công nghệ tiên tiến để phát triển sản xuất Đây là hình thức được áp dụng phổ biến ở các nước đang phát triển có nguồn nhân lực dồi dào Đối với nước đặt gia công cũng được hưởng lợi vì họ tận dụng được nguồn nhân công rất lớn với giá rẻ, cũng như tận dụng được nguồn nguyên vật liệu sẵn có của bên nước nhận gia công

1.1.3.8 Tạm nhập tái xuất

Nội dung của hình thức này là xuất khẩu những hàng hóa đã nhập trước đây và chưa tiến hành các hoạt động chế biến Mục đích của hình thức này là thu về một lượng ngoại tệ lớn hơn số bán ra ban đầu

Trang 20

Hàng hóa có thể đi từ nước xuất khẩu tới nước tái xuất khẩu rồi từ nước tái xuất khẩu sang nước nhập khẩu Nước tái xuất khẩu sẽ thu tiền của nước nhập khẩu và trả tiền cho nước nhập khẩu

1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu

1.1.4.1 Yếu tố chính trị

Yếu tố chính trị là những nhân tố khuyến khích hoặc hạn chế quá trình quốc tế hóa hoạt động kinh doanh Chẳng hạn, chính sách của chính phủ có thể làm tăng sự liên kết các thị trường và thúc đẩy tốc độ tăng trưởng hoạt động xuất khẩu bằng việc dỡ bỏ các hàng rào thuế quan, phi thuế quan, thiết lập các mối quan hệ trong cơ sở hạ tầng của thị trường Khi không ổn định về chính trị sẽ cản trở sự phát triển kinh tế của đất nước và tạo

ra tâm lý không tốt cho các nhà kinh doanh

1.1.4.2 Yếu tố kinh tế

Yếu tố kinh tế như tỷ giá hối đoái, lãi suất ngân hàng, tác động đến hoạt động xuất khẩu ở tầm vĩ mô và vi mô Ở tầm vĩ mô, chúng tác động đến đặc điểm và sự phân

bổ các cơ hội kinh doanh quốc tế cũng như quy mô của thị trường Ở tầm vi mô, các yếu

tố kinh tế lại ảnh hưởng đến cơ cấu tổ chức và hiệu quả của doanh nghiệp Các yếu tố giá

cả và sự phân bổ tài nguyên ở các thị trường khác nhau cũng ảnh hưởng tới quá trình sản xuất, phân bố nguyên vật liệu, vốn, lao động và do đó ảnh hưởng tới giá cả và chất lượng hàng hoá xuất khẩu

1.1.4.3 Yếu tố luật pháp

Mỗi quốc gia có hệ thống luật pháp riêng dễ điều chỉnh các hoạt động kinh doanh quốc tế ràng buộc các hoạt động của doanh nghiệp Các yếu tố luật pháp ảnh hưởng tới hoạt động xuất khẩu trên những mặt sau:

- Quy định về giao dịch hợp đồng, bảo hộ quyền tác giả, quyền sở hữu trí tuệ

- Quy định về lao động, tiền lương, thời gian lao động, thời gian nghỉ ngơi, đình công, bãi công

- Quy định về cạnh tranh, độc quyền, các loại thuế

Trang 21

- Quy định về vấn đề bảo vệ môi trường, tiêu chuẩn chất lượng, giao hàng, thực hiện hợp đồng

- Quy định về quảng cáo, hướng dẫn sử dụng

1.1.4.4 Yếu tố cạnh tranh

Cạnh tranh, một mặt thúc đẩy cho các doanh nghiệp đầu tư máy móc thiết bị, nâng cấp chất lượng và hạ giá thành sản phẩm, Nhưng mặt khác nó cũng dễ dàng đẩy lùi các doanh nghiệp không có khả năng phản ứng hoặc chậm phản ứng với sự thay đổi của môi trường kinh doanh

Qua mô hình các doanh nghiệp có thể thấy được các mối đe dọa hay thách thức với cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong ngành là trung tâm Xuất phát từ đây doanh nghiệp có thể đề ra sách lược hợp lý nhằm hạn chế đe dọa và tăng cường khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp mình

- Sự đe doạ của các đối thủ cạnh tranh tiềm tàng: các đối thủ này chưa có kinh nghiệm trong việc thâm nhập vào thị trường quốc tế song nó có tiềm năng lớn về vốn, công nghệ, lao động và tận dụng được lợi thế của người đi sau, do đó dễ khắc phục được những điểm yếu của các doanh nghiệp hiện tại để có khả năng chiếm lĩnh thị trường Chính vì vậy, một doanh nghiệp phải tăng cường đầu tư vốn, trang bị thêm máy móc thiết

bị hiện đại để tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm, nhưng mặt khác phải tăng cường quảng cáo, áp dụng các biện pháp hỗ trợ và khuyếch trương sản phẩm giữ gìn thị trường hiện tại, đảm bảo lợi nhuận dự kiến

- Sức ép của người cung cấp: nhân tố này có khả năng mở rộng hoặc thu hẹp khối lượng vật tư đầu vào, thay đổi cơ cấu sản phẩm hoặc sẵn sàng liên kết với nhau để chi phối thị trường nhằm hạn chế khả năng của doanh nghiệp hoặc làm giảm lợi nhuận dự kiến, gây ra rủi ro khó lường trước được cho doanh nghiệp Vì thế hoạt động xuất khẩu có nguy cơ gián đoạn

- Sức ép người tiêu dùng: trong cơ chế thị trường, khách hàng thường được coi là

“thượng đế” Khách hàng có khả năng làm thu hẹp hay mở rộng quy mô chất lượng sản phẩm mà không được nâng giá bán sản phẩm Một khi nhu cầu của khách hàng thay đổi

Trang 22

thì hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung và hoạt động xuất khẩu nói riêng cũng phải thay đổi theo cho phù hợp

- Các yếu tố cạnh tranh trong nội bộ ngành: khi hoạt động trên thị trường quốc tế, các doanh nghiệp thường hiếm khi có cơ hội dành được vị trí độc tôn trên thị trường mà thường bị chính những doanh nghiệp sản xuất và cung cấp các loại sản phẩm tương tự cạnh tranh gay gắt Các doanh nghiệp này có thể là doanh nghiệp của quốc gia nước sở tại, quốc gia chủ nhà hoặc một nước thứ ba cùng tham gia xuất khẩu mặt hàng đó Trong một số trường hợp các doanh nghiệp sở tại này lại được chính phủ bảo hộ do đó doanh nghiệp khó có thể cạnh tranh được với họ

1.1.4.5 Yếu tố văn hoá

Yếu tố văn hoá hình thành nên những loại hình khác nhau của nhu cầu thị trường, tác động đến thị hiếu của người tiêu dùng Doanh nghiệp chỉ có thể thành công trên thị trường quốc tế khi có sự hiểu biết nhất định về phong tục tập quán, lối sống, mà điều này lại khác biệt ở mỗi quốc gia Vì vậy, hiểu biết được môi trường văn hoá sẽ giúp cho doanh nghiệp thích ứng với thị trường để từ đó có chiến lược đúng đắn trong việc mở rộng thị trường xuất khẩu của mình

1.2 Lý thuyết về hành vi xuất khẩu của các doanh nghiệp

Lý thuyết về hành vi xuất khẩu của doanh nghiệp đã được nghiên cứu rất nhiều trong hơn ba thập kỷ qua Không có mô hình chung được phát triển cho các kết quả thực nghiệm về hành vi xuất khẩu của doanh nghiệp Trong khi đó có một loạt các phương pháp tiếp cận để giải thích hành vi xuất khẩu thì lý thuyết giai đoạn được xem là hàng đầu Lý thuyết giai đoạn đề xuất rằng: các doanh nghiệp di chuyển qua các giai đoạn kế tiếp khi họ quốc tế hóa các hoạt động kinh doanh của họ Hay nói cách khác, các doanh nghiệp sẽ tham gia xuất khẩu vào thị trường quốc tế khi trải qua các giai đoạn giai đoạn độc lập (tìm hiểu thị trường, lợi nhuận mong muốn,…) sau đó là giai đoạn kết hợp với chi phí tham gia thị trường

Mô hình được phát triển vào giữa năm 1970 của các học giả Bắc Âu của trường Uppsala Hohanson và Wiedersheim (1975) đề xuất một mô hình nhấn mạnh tầm quan

Trang 23

trọng của các yếu tố như thông tin, đặc điểm của doanh nghiệp, môi trường của doanh nghiệp, và việc mở rộng ngoài khu vực của doanh nghiệp Mô hình này nhấn mạnh vai trò của việc mua lại thông tin của các doanh nghiệp cùng các giai đoạn của quá trình quốc tế

Bilkey và Tesar (1997) đề xuất một mô hình xuất khẩu xem như một quá trình học tập trong đó các doanh nghiệp dần dần trở nên quen thuộc với thị trường và các hoạt động nước ngoài Dựa trên giả định rằng doanh nghiệp là một thích ứng, tổ chức học tập, MacConnell (1979) mở rộng lý thuyết cổ điển của doanh nghiệp bằng cách liên hệ hành

vi xuất khẩu của doanh nghiệp với cơ cấu tổ chức, chức năng của nó

Mô hình Cavusgil (1982) nghiên cứu hành vi xuất khẩu là một quá trình bao gồm các quyết định của Ban Giám đốc trong một khoảng thời gian Mô hình này chỉ ra rằng doanh nghiệp sẽ khích lệ hoặc hạn chế quá trình quốc tế của doanh nghiệp Barret và Wilson (1986) đề xuất một mô hình tập trung vào tác động của các thuộc tính quản lý hành vi xuất khẩu của doanh nghiệp, chẳng hạn như đặc điểm cá nhân của các nhà quản

lý, thái độ đối với kinh doanh quốc tế và định hướng đến kế hoạch hoạt động nước ngoài

Denis (1990) khi nghiên cứu về hoạt động xuất khẩu chỉ ra hai cách tiếp cận trong nghiên cứu hành vi doanh nghiệp xuất khẩu vừa và nhỏ Thứ nhất, dựa trên lý thuyết về việc nghiên cứu về hành vi doanh nghiệp nhỏ khi xuất khẩu và xuất phát từ kỳ vọng chủ

sở hữu quản lý và nhận thức, điểm mạnh và điểm yếu của doanh nghiệp, những trở ngại

và cơ hội, và kết quả của viêc nghiên cứu trước đó Thứ hai, dựa trên mô hình chiến lược, chú trọng vào hiệu quả quá trình phát triển xuất khẩu của bản thân doanh nghiệp (yếu tố quản lý) và các yếu tố môi trường bên ngoài (công nghiệp, điều kiện quốc gia xuất khẩu,

và các điều kiện tiếp cận thị trường nước ngoài, ) (Julien, PA , Joyal, Ramangalahy, 1997)

Bernard và Jensen (2001) nghiên cứu về vấn đề: tại sao một doanh nghiệp lại xuất khẩu, các yếu tố nào ảnh hưởng đến quyết định xuất khẩu của doanh nghiệp Hai tác giả

đã nghiên cứu hành vi xuất khẩu của doanh nghiệp, tìm ra hai yếu tố đặc điểm doanh nghiệp (kinh nghiệm, chi phí tham gia xuất khẩu) và các yếu tố môi trường bên ngoài doanh nghiệp (ngoại tác, trợ cấp của chính phủ, tỷ giá) ảnh hưởng đến quyết định tham gia xuất khẩu của các doanh nghiệp Luận văn này tác giả kế thừa khung lý thuyết và phát triển nghiên cứu trên phù hợp với môi trường Việt Nam

Trang 24

1.3 Khung phân tích lý thuyết về quyết định xuất khẩu của doanh nghiệp

Bernard và Jensen (2001) đã đề cập đến việc doanh nghiệp quyết định xuất khẩu dựa trên sự hợp lý tối đa hóa lợi nhuận, việc này cũng như quyết định thị trường cho một sản phẩm mới Các doanh nghiệp cân nhắc lợi nhuận mong muốn của hiện tại và trong tương lai từ quyết định tham gia vào thị trường nước ngoài dựa trên bất kì chi phí cố định nào Bernard và Jensen (2001) đã thực hiện việc đo lường qua một vài giai đoạn, đầu tiên

là việc phác thảo quyết định của các doanh nghiệp trong giai đoạn độc lập sau đó là nhiều giai đoạn kết hợp với chi phí tham gia thị trường

Giai đoạn độc lập: giả định của Bernard và Jensen là các doanh nghiệp luôn có khả năng sản xuất tại mức tối đa hóa lợi nhuận xuất khẩu qit* nếu như doanh nghiệp tham gia vào thị trường nước ngoài Và trong giai đoạn đầu này sẽ không có chi phí tham gia vào thị trường và doanh nghiệp nhận được lợi nhuận Πit

Πit (Xit, Zit) = pt · qit∗ − cit(Xit , Zit |qit∗ ) (1.1)

Trong đó: Pt là giá của hàng hóa bán ra tại nước ngoài

Cit là chi phí biến đổi của lượng hàng hóa qit* Nhân tố bên ngoài là các nhân tố có thể ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp (các yếu tố thuộc môi trường bên ngoài như tỷ giá hối đoái, trợ cấp của chính phủ, môi trường ngành, các yếu tố tác động từ chính phủ…), được kí hiệu là Xit Các yếu tố đặc trưng của doanh nghiệp (các yếu tố bên trong đặc trưng cho từng doanh nghiệp như kinh nghiệm xuất khẩu, loại hình doanh nghiệp, nguốn vốn…) được kí hiệu là Zit Loại hình doanh nghiệp là yếu tố quan trọng tác động đến khả năng tham gia xuất khẩu của doanh nghiệp bao gồm độ tuổi, quy mô doanh nghiệp, số lượng lao động, năng lực sản xuất, loại hình sở hữu doanh nghiệp Bên cạnh những cú sốc về nhu cầu sản phẩm, Bernard và Jensen tập trung vào việc nghiên cứu tìm thêm các nhân tố ngoại tác khác gây ảnh hưởng đến khả năng tham gia xuất khẩu của doanh nghiệp bao gồm cả việc trợ cấp trực tiếp và

Trang 25

gián tiếp đến hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp làm giảm hoặc tăng chi phí đầu vào cần thiết như là lao động có kỹ năng cao hoặc vốn chuyên dùng

Nếu lợi nhuận dự kiến (Πit) lớn hơn 0, theo đó doanh nghiệp sẽ xuất khẩu Hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp trong thời kỳ t được đo bởi biến Yit

Yit=1 doanh nghiệp sẽ xuất khẩu nếu Πit ≥ 0

Yit=0 doanh nghiệp sẽ không xuất khẩu nếu Πit < 0

1.4 Lược khảo các nghiên cứu liên quan

Nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm về hành vi xuất khẩu của doanh nghiệp đã được thực hiện từ khá lâu trên thế giới Tuy nhiên, đây còn là một lĩnh vực nghiên cứu còn khá mới mẻ với đối tượng là các doanh nghiệp tại Việt Nam Phần lớn các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới tập trung phân tích các nhân tố đặc trưng bên trong của doanh nghiệp có ảnh hưởng thế nào đến quyết định xuất khẩu của doanh nghiệp (Aiken, 1997),

và tại sao một doanh nghiệp lại tiến hành hoạt động xuất khẩu (Bernard và Jensen, 2001) Trong thời gian gần đây, một hướng nghiên cứu mới đã tập trung phân tích quyết định xuất khẩu của doanh nghiệp, trong đó chú trọng tác động lan tỏa của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment – FDI) đến hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp trong nước

Do tính chất đề tài còn khá mới mẻ với các doanh nghiệp Việt Nam nên theo tìm hiểu của tác giả hiện tại có rất ít nghiên cứu chuyên sâu về các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia xuất khẩu của các doanh nghiệp chế biến Việt Nam, mặc dù trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu về hành vi xuất khẩu của doanh nghiệp nói chung và quyết định xuất khẩu của doanh nghiệp nói riêng Trong luận văn này, tác giả sẽ tập trung tiếp cận lý thuyết hành vi xuất khẩu của các doanh nghiệp và nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia xuất khẩu của doanh nghiệp tại Việt Nam

Arnold và Hussinger (2005) kế thừa phát triển nghiên cứu của Bernard và Jensen (2001) cũng đã tìm hiểu tại sao một doanh nghiệp lại bắt đầu tham gia xuất khẩu, xem xét các mối quan hệ nhân quả giữa năng suất và xuất khẩu trong sản xuất của các doanh nghiệp Đức Tác giả đã tìm thấy một liên hệ nhân quả từ năng suất cao với sự hiện diện trong thị trường nước ngoài, sự khác nhau giữa doanh nghiệp xuất khẩu và không xuất

Trang 26

khẩu Kết quả nghiên cứu sử dụng mô hình Probit cho thấy được một số đặc điểm của doanh nghiệp như quy mô (được đo bằng số lao động), chi phí nghiên cứu phát triển, mức lương bình quân lao động có ảnh hưởng đến quyết định xuất khẩu của các doanh nghiệp Ngoài ra, để phân tích xem sự tham gia trong thị trường quốc tế có góp phần giúp các doanh nghiệp cải thiện hơn không tuy nhiên lại không tìm thấy bằng chứng đáng kể cho việc này Tác giả đã kết luận rằng, các công ty có năng suất cao tự chọn mình vào thị trường xuất khẩu, trong khi hoạt động xuất khẩu lại không đóng một vai trò quan trọng đối với năng suất của các công ty Đức

Abor, Adjasi và Hayford (2008) khi nghiên cứu về mối quan hệ của các doanh nghiệp FDI (1991 - 2002) tới các doanh nghiệp ở Ghana đã tìm ra được ảnh hưởng của các doanh nghiệp FDI tới đến các quyết định quyết định xuất khẩu của doanh nghiệp trong nước và các doanh nghiệp FDI ảnh hưởng thế nào đến hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp này Nhóm tác giả cũng sử dụng mô hình Probit đã thu được một số kết quả quan trọng Thứ nhất, hoạt động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

có ảnh hưởng tích cực đến quyết định xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu các doanh nghiệp Ghana Thứ hai, tìm ra được các yếu tố đặc điểm doanh nghiệp như độ tuổi, tỷ trọng xuất khẩu, quy mô, lợi nhuận có ảnh hưởng đến quyết định tham gia xuất khẩu của doanh nghiệp Những phát hiện này có ý nghĩa quan trọng đối với chính sách để khuyến khích dòng vốn FDI đầu tư hơn vào trong nước

Aitken (1997) là một một trong những tác giả tiên phong nghiên cứu định lượng về

lý thuyết hành vi xuất khẩu của các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đối với hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp nội địa Nghiên cứu tìm hiểu về ngành công nghiệp chế biến của Mexico trong giai đoạn 1980 - 1990 Nghiên cứu của tác giả sử dụng mô hình Probit cho thấy khả năng tham gia xuất khẩu của các doanh nghiệp Mexico có mối liên hệ tương quan với các công ty đa quốc gia Nghiên cứu cũng cho thấy được các doanh nghiệp khi quyết định tham gia xuất khẩu không liên quan tới mức độ tập trung của các nhà xuất khẩu trong cùng ngành Cuối cùng, nghiên cứu đề xuất chính phủ cần có hoạt động khuyến khích các doanh nghiệp xuất khẩu tiềm năng lựa chọn xây dựng nhà máy gần các doanh nghiệp nước ngoài để có thể học hỏi được những kinh nghiệm từ các doanh nghiệp này từ đó cắt giảm chi phí gia nhập thị trường xuất khẩu

Trang 27

Kokko (2001) khi tìm hiểu ngoại tác xuất khẩu từ doanh nghiệp nước ngoài đến doanh nghiệp nội địa Uruguay bằng cách sử dụng tỷ trọng doanh thu của các doanh nghiệp nước ngoài trong cùng ngành Tác giả cũng sử dụng mô hình hồi quy Probit, nghiên cứu thu được kết luận quan trọng đó là các doanh nghiệp nước ngoài làm tăng khả năng tham gia xuất khẩu của các doanh nghiệp Uruguay đồng thời các doanh nghiệp nước ngoài tham gia vào thị trường này sau năm 1973 mới tác động tích cực đến khả năng gia nhập thị trường xuất khẩu của doanh nghiệp nội địa

Vũ Hoàng Cường (2000) đã nghiên cứu về hành vi của các doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình chuyển đổi xuất khẩu từ nền kinh tế tập trung sang hệ thống thị trường Tác giả đã điều tra vai trò của sự thay đổi khu vực trong việc tìm hiểu sự hình thành chiến lược xuất khẩu của doanh nghiệp Nghiên cứu đã tìm ra mô hình có ảnh hưởng hành vi xuất khẩu trong những đặc tính doanh nghiệp, cơ cấu thị trường nội địa và đặc điểm vị trí là các biến giải thích Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng sự khác biệt trong nhận thức về các điều kiện thị trường nội địa là có ảnh hưởng đến sự thay đổi trong hành

vi xuất khẩu của doanh nghiệp Bên cạnh đó tác giả còn nghiên cứu mối quan hệ giữa chiến lược xuất khẩu, chiến lược cạnh tranh trong nước và vị trí của doanh nghiệp trong thị trường nội địa được phân tích bằng cách sử dụng mô hình Logit Kết quả cho thấy chiến lược xuất khẩu có liên quan đáng kể với chiến lược cạnh tranh trong nước và vị trí tương đối của các doanh nghiệp trong thị trường trong nước

Anwar và Nguyễn Phi Lân (2011) nghiên cứu về các nhân tố tác động đến hành vi xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam, trong đó tập trung tìm hiểu về lan tỏa xuất khẩu từ FDI, sử dụng dữ liệu chéo từ các doanh nghiệp chế biến năm 2000 Kết quả ước lượng từ

mô hình chọn mẫu Heckman cho thấy quy mô doanh nghiệp, năng lực tài chính và chất lượng nguồn nhân lực có tác động cùng chiều và có ý nghĩa đến quyết định tham gia xuất khẩu của doanh nghiệp trong khi khoảng cách về công nghệ giữa doanh nghiệp Việt Nam

và doanh nghiệp FDI có ảnh hưởng ngược chiều và có ý nghĩa

Với mô hình nghiên cứu tương tự, Nguyễn Thị Hồng Đào và Phạm Thế Anh (2012) phân tích ảnh hưởng của các yếu tố đặc trưng doanh nghiệp đến hành vi xuất khẩu

và kiểm định sự tồn tại của hiệu ứng lan tỏa xuất khẩu của FDI đến các doanh nghiệp chế biến Việt Nam trong năm 2003 và 2004 Kết quả nghiên cứu cho thấy kinh nghiệm xuất

Trang 28

khẩu là yếu tố quan trọng nhất tác động đến quyết định gia nhập thị trường xuất khẩu của doanh nghiệp Bên cạnh đó, doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có tỷ trọng nhập khẩu cao thì có nhiều khả năng tham gia xuất khẩu hơn

1.5 Mô hình nghiên cứu đề nghị

Tương tự các những nghiên cứu trước đây (Aitken, 1997; Bernard và Jensen, 1999; Bernard và Jensen, 2001…), tác giả sử dụng mô hình hồi quy Probit để phân tích các nhân

tố ảnh hưởng đến biến mục tiêu là quyết định tham gia xuất khẩu của doanh nghiệp Các biến độc lập được chia thành hai nhóm: (i) các yếu tố bên trong đặc trưng cho từng doanh nghiệp (Kinh nghiệm xuất khẩu, độ tuổi, quy mô, loại hình sở hữu,…), và (ii) các yếu tố thuộc môi trường bên ngoài (Mức độ cạnh tranh, chính sách kinh tế vĩ mô,…) Trong đó,

đề tài tập trung nghiên cứu hành vi xuất khẩu của doanh nghiệp với quyết định có tham gia thị trường xuất khẩu hay không, và nhấn mạnh vai trò của những nhân tố đặc trưng riêng của doanh nghiệp vì đây là có thể là những yếu tố quan trọng tạo nên sự khác biệt

về quyết định tham gia xuất khẩu ở cấp doanh nghiệp Những nhân tố thuộc môi trường bên ngoài được đưa vào mô hình nhằm kiểm soát tác động của môi trường chung tác động đến khả năng tham gia xuất khẩu của các doanh nghiệp trong ngành

NHÂN TỐ BÊN TRONG

- Kinh nghiệm xuất khẩu

- Điều kiện vận tải

QUYẾT ĐỊNH THAM GIA XUẤT KHẨU CỦA DOANH NGHIỆP

Sơ đồ mô hình nghiên cứu đề nghị

Trang 29

Chương II: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU CỦA

VIỆT NAM 2.1 Tình hình xuất khẩu chung của Việt Nam

Việt Nam xuất phát điểm là một nước nông nghiệp lạc hậu Sau khi thống nhất đất nước chúng ta gặp vô vàn khó khăn khi vừa phải ổn định tình hình trong nước, mặt khác vừa bị Hoa Kỳ cấm vận trên trường quốc tế Giai đoạn trước những năm 1986, Việt Nam

là một quốc gia có nền kinh tế kế hoạch theo mô hình của các nước xã hội chủ nghĩa, với mục tiêu đề ra là cơ bản ổn định tình hình kinh tế - xã hội, ổn định đời sống nhân dân Tuy nhiên, mục tiêu này đã không thực hiện được do những sai lầm về tổng điều chỉnh giá - lương - tiền cuối năm 1985 đã đưa nền kinh tế đất nước đến những khó khăn mới Nền kinh tế-xã hội lâm vào khủng hoảng trầm trọng: siêu lạm phát xuất hiện và kéo dài, số người bị thiếu đói tăng, bội chi ngân sách lớn, Tình hình này làm cho trong Đảng cộng sản Việt Nam và ngoài xã hội có nhiều ý kiến tranh luận xoay quanh ba vấn đề lớn

đó là cơ cấu sản xuất, cải tạo xã hội chủ nghĩa, cơ chế quản lý kinh tế Trước những bức thiết cần phải cải tạo chính trị lẫn kinh tế đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986 đã vạch ra nền kinh tế Việt Nam chuyển đổi từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) Đảng và Nhà nước đã chỉ rõ nhiệm vụ trọng tâm của chương trình kinh tế bao gồm chương trình lương thực, thực phẩm; chương trình hàng tiêu dùng; chương trình hàng xuất khẩu

“Đổi mới” chính là định hướng mà Đảng đã chỉ ra để đưa đất nước thoát khỏi tình trạng khủng hoảng Trong báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương khoá VII tại

Đại hội toàn quốc lần thứ VIII của Đảng tháng 6 năm 1996 khẳng định: “Tiếp tục thực

hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa dạng hoá các quan hệ đối ngoại Hợp tác nhiều mặt, song phương và đa phương với các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi ” Với khẳng định sáng suốt trên Việt Nam đã gửi tới cộng đồng quốc tế

“thông điệp về hội nhập”, khẳng định Việt Nam muốn làm bạn với bốn phương, và đã, đang có thế cùng lực mới để làm đối tác tin cậy của bốn phương Quá trình chuẩn bị cho

Trang 30

việc tham gia tổ chức WTO sân chơi của toàn thế giới được chuẩn bị khá kỹ lưỡng Tháng 7/1995, Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) Tháng 12/1995 chính thức tham gia khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) Tháng 3/1996, Việt Nam cùng với 9 nền kinh tế Châu Á và 15 nền kinh tế thuộc Liên minh Châu Âu, là những sáng lập viên Diễn đàn Kinh tế Á - Âu (ASEM) Ngày 18/11/1998, trở thành thành viên Diễn đàn Hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC) Đặc biệt tháng 7/2000 chúng ta ký Hiệp định Thương mại song phương với Hoa

Kỳ (BTA), có hiệu lực từ tháng 12/2001 – việc gia nhập WTO trở nên dễ dàng hơn với Việt Nam Quá trình trên thực sự là những bước đi quan trọng, là sự "cọ xát" từng bước trong tiến trình hội nhập

Sau 12 năm ròng rã theo đuổi mục tiêu gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Việt Nam cuối cùng trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức vào tháng 1 năm

2007 Trong hơn 5 năm qua, mặc dù tình hình kinh tế thế giới có nhiều biến động phức tạp khó lường, đặc biệt là cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, kinh

tế vĩ mô Việt Nam cơ bản ổn định, duy trì tốc độ tăng trưởng, tỷ lệ lạm phát luôn được kiềm chế, tiềm lực và quy mô kinh tế tăng lên Việt Nam đã ra khỏi tình trạng nước kém phát triển Trong giai đoạn 5 năm gia nhập (2007-2011) tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 5 năm đạt 7%/năm Tổng số vốn đầu tư toàn xã hội gấp 2,5 lần so với giai đoạn

2001 - 2005, đạt 42,9% GDP Quy mô GDP năm 2010 tính theo giá thực tế đạt 101,6 tỉ USD, gấp 3,26 lần so với năm 2000 GDP bình quân theo đầu người 1.168USD Trong 5 năm 2006-2010, tổng số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) thực hiện 45 tỉ USD, vượt 77,8% so với kế hoạch Tổng số vốn FDI đăng ký mới và bổ sung đạt 146 tỉ USD, gấp 7 lần so với giai đoạn 2001-2005 Hội nhập kinh tế thế giới, đã phá được thế bao vây cấm vận, tạo được sự bình đẳng trong thương mại quốc tế Hoạt động kinh tế đối ngoại trong

đó nòng cốt là ngoại thương thay đổi rõ rệt Thị trường được rộng mở tới 149 nền kinh tế thành viên Kim ngạch xuất khẩu liên tục tăng trưởng qua các năm Kim ngạch xuất khẩu hàng năm của Việt Nam tăng hàng năm từ chỗ 699 triệu USD năm 1986 lên mức 15 tỷ USD năm 2001 và 114,6 tỷ USD năm 2012 tức tăng hơn 7,6 lần so với năm 2001

Trang 31

Biểu đồ 2.1: Biểu đồ kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá

và cán cân thương mại của Việt Nam giai đoạn 2005-2012

(Nguồn: Tổng cục Thống kê, 2012)

Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam tăng trưởng qua các năm Trong 2009 do khủng hoảng kinh tế toàn cầu ảnh hưởng đến nhu cầu tiêu dùng của thế giới nên xuất khẩu gặp khó khăn kim ngạch xuất khẩu giảm 1,1% so với năm trước đó, bên cạnh đó trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế toàn cầu 2007 - 2009 thâm hụt cán cân thương mại cũng bị ảnh hưởng lớn luôn ở mức hai con số Năm 2011 tình hình đã dần được cải thiện, tổng kim ngạch xuất khẩu đạt mức cao nhất từ trước tới nay, vượt xa so với mức kỷ lục đã đạt được trong năm 2010 đồng thời vượt xa so với mức kế hoạch đề ra (80 tỷ USD) Kim ngạch xuất khẩu bình quân đầu người 2011 đạt 1127 USD/người, cao hơn nhiều so với mức 831 USD/người đã đạt được vào năm 2010 và trước khi gia nhập WTO (năm 2006

là 559,2 USD/người) Tỷ lệ xuất khẩu/ GDP 2011 đạt 80% (năm 2010 là 70,9%) Mức tăng tuyệt đối hoạt động xuất khẩu 2011 so với 2010 lên đến hơn 24 tỷ USD, cũng là mức tăng lớn nhất từ trước tới nay tương ứng với tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu đạt 33.3% Tốc độ tăng này có ý nghĩa quan trọng xét về 4 mặt: cao nhất tính từ năm 1997 đến nay; cao nhất so với tốc độ tăng của các ngành, lĩnh vực khác; cao gấp trên 3 lần tốc độ tăng theo chỉ tiêu kế hoạch đề ra (10%); hệ số giữa tốc độ tăng xuất khẩu/ tốc độ tăng GDP lên

Trang 32

đến 5,5 lần- cao nhất từ trước tới nay Có thể thấy xuất khẩu đã trở thành động lực chủ yếu của tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam

Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu cả nước năm 2012 đạt gần 228,37 tỷ USD, tăng 12,1% so với năm 2011, trong đó xuất khẩu đạt 114,57 tỷ USD, tăng 18,2% so với năm 2011, bao gồm: khu vực kinh tế trong nước đạt 42,3 tỷ USD, tăng 1,3%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (gồm cả dầu thô) đạt 72,3 tỷ USD, tăng 31,2% Nếu không kể dầu thô thì kim ngạch hàng hoá xuất khẩu của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài năm nay đạt 63,9 tỷ USD, tăng 33,5% so với năm trước Nếu loại trừ yếu tố giá, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu năm 2012 tăng 18,9%, và nhập khẩu là 113,79 tỷ USD, tăng 6,6% Cán cân thương mại hàng hoá cả nước xuất siêu 780 triệu USD (trong khi năm 2011 nhập siêu 9,84 tỷ USD)

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu trong năm 2012 tăng cao chủ yếu ở khu vực có vốn đầu tư nước ngoài với các mặt hàng như: Điện tử, máy tính và linh kiện; điện thoại các loại và linh kiện, hàng dệt may, giày dép, Các mặt hàng trên đều thuộc nhóm hàng có tỷ trọng gia công cao, điều này phản ánh hiệu quả xuất khẩu và lượng ngoại tệ thực thu thấp Mức tăng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đóng góp 17,7 điểm phần trăm vào mức tăng chung, trong khi đó khu vực kinh tế trong nước chỉ đóng góp 0,6 điểm phần trăm

Về thị trường hàng hóa xuất khẩu của nước ta năm 2012, EU vươn lên là thị trường tiêu thụ hàng hóa lớn nhất với kim ngạch đạt 20,3 tỷ USD, tăng 22,5% so với năm 2011

và chiếm 17,7% tổng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu Một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực vào thị trường EU chiếm tỷ trọng cao là: điện thoại chiếm 43% tổng kim ngạch điện thoại xuất khẩu; giày dép chiếm 36%; máy tính chiếm 19%; hàng dệt may chiếm 16%, tiếp đến

là Hoa Kỳ 19,6 tỷ USD, tăng 15,6% và chiếm 17,1%; ASEAN 17,3 tỷ USD, tăng 27,2%

và chiếm 15,1%; Nhật Bản 13,1 tỷ USD, tăng 21,4% và chiếm 11,4%; Trung Quốc 12,2

tỷ USD, tăng 10% và chiếm 10,7%

Có thể thấy được trong hơn 20 năm qua, xuất khẩu đã đóng góp tỷ trọng lớn nhất vào tăng trưởng kinh tế Tỷ lệ xuất khẩu trên GDP của cả nước đã tăng lên vững chắc từ 37,1% năm 1990 lên 68,1% năm 2008 và 78,3% năm 2011 (Nguyễn Quang Hiệp, 2012) Các điều kiện nghiêm ngặt của thị trường nhập khẩu đã khuyến khích áp dụng các quy

Trang 33

định về môi trường và an toàn vệ sinh thực phẩm, phương pháp sản xuất thân thiện môi trường Hoạt động xuất khẩu phát triển đã góp phần tạo thêm nhiều việc làm, tăng thu nhập, nâng cao trình độ của người lao động, xóa đói giảm nghèo, nhất là đối với khu vực nông thôn khi các khu công nghiệp dần thay thế diện tích đất nông nghiệp Tuy nhiên, giá trị của hàng hóa xuất khẩu thấp, chủ yếu dựa vào khai thác các yếu tố về điều kiện tự nhiên và nguồn lao động rẻ Chi phí xuất khẩu của Việt Nam cao hơn gấp khoảng 1,6 - 1,7 lần mức trung bình của khu vực Năm 2007, chi phí xuất khẩu của Việt Nam là 701 USD, mức trung bình của khu vực khoảng 500 USD1 Xuất khẩu tăng trưởng nhanh nhưng chưa bền vững và rất dễ bị tổn thương bởi các cú sốc từ bên ngoài như sự biến động của giá cả trên thị trường thế giới hay sự xuất hiện của các rào cản thương mại mới

do nước ngoài áp đặt

Mặt khác, chính sách phát triển xuất khẩu trong thời gian qua quá chú trọng đến chỉ tiêu về số lượng, chưa thật sự quan tâm đến chất lượng và hiệu quả xuất khẩu Chưa khai thác một cách hiệu quả lợi thế cạnh tranh xuất khẩu dựa vào công nghệ, trình độ lao động, quản lý,… để tạo ra các nhóm hàng xuất khẩu có khả năng cạnh tranh cao, có hàm lượng khoa học, công nghệ cao, có khả năng tham gia vào khâu tạo ra giá trị gia tăng cao trong chuỗi giá trị toàn cầu Bên cạnh đó, mở rộng xuất khẩu đang có nguy cơ làm cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, suy giảm đa dạng sinh học và ô nhiễm môi trường Tăng trưởng xuất khẩu chủ yếu dựa vào việc khuyến khích khai thác tài nguyên thiên nhiên và

sử dụng ngày càng nhiều các yếu tố đầu vào gây ô nhiễm môi trường Cơ hội về thu nhập

và việc làm dựa vào xuất khẩu chưa thật sự bền vững đối với nhóm xã hội dễ bị tổn thương là người có thu nhập thấp, khu vực nông nghiệp, khoảng cách giàu nghèo gia tăng

Nhìn chung, xuất khẩu đang đang làm thay đổi dần bộ mặt của đất nước ta nhưng kèm theo đó cũng nảy sinh không ít các vấn đề phức tạp Cần có một cơ chế, biện pháp và đặc biệt là sự định hướng rõ ràng từ phía chính phủ, sự phối hợp với các doanh nghiệp tận dụng lợi thế cạnh tranh nhằm hướng tới một nền xuất khẩu bền vững, nâng cao về chất lượng và mang tính hiệu quả

1 Theo WB: Chi phí xuất khẩu bao gồm chi phí giấy tờ, hành chính, bốc dỡ, lưu kho, vận chuyển đường bộ cho 1 container 20 ft Năm 2007, mức chi phí xuất khẩu của Việt Nam là 701 USD, Ấn Độ: 846 USD, Indonexia: 546 USD, Malayxia: 481 USD, Trung Quốc: 335 USD - Nguồn: Doiry Bussiness 2007, WB

Trang 34

2.2 Thị trường và các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Ngàn USD

Biểu đồ 2.2: Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của doanh nghiệp Việt Nam

trong năm 2012

(Nguồn: Tổng cục Hải quan, 2012)

Năm 2012 được là năm đáng nhớ khi lần đầu tiên kim ngạch xuất khẩu cả nước vượt 100 tỷ USD ( 114.6 tỷ USD) và cũng là lần đầu tiên trong 20 năm Việt Nam xuất siêu (0.3 tỷ YSD) Theo số liệu của Tổng cục Hải quan, trong 2012 Việt Nam có 22 mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu vượt 1 tỷ USD Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam là dệt may, điện thoại, dầu thô, máy vi tính-sản phẩm điện tử và linh kiện, giày dép, hàng thủy sản, gạo… Có hai mặt hàng xuất khẩu trên 10 tỷ USD là dệt may và điện thoại- các linh kiện.Trong đó, dệt may là mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất với hơn 15

tỷ USD, chiếm 13,2% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước Tiếp theo là điện thoại- các linh kiện với 12,7 tỷ USD chiếm 11.1%, dầu thô (8,2 tỷ USD), máy vi tính (7,8 tỷ USD), giày dép (7,2 tỷ USD)…

Trang 35

Biểu đồ 2.3: Xuất khẩu dệt may của Việt Nam 2011-2012

(Nguồn: Tổng cục Hải quan, 2012)

Hàng dệt may Việt Nam xuất khẩu sang hơn 50 thị trường Trong đó, Mỹ, EU, Nhật Bản và Hàn Quốc là 4 đối tác lớn nhất nhập khẩu chủ yếu Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may sang 4 thị trường này là 12,96 tỷ USD Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may sang Mỹ năm 2012 đạt gần 7,5 tỷ USD (tăng 8.7% so với năm 2011) ,chiếm gần 50% tổng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này

Biểu đồ 2.4: Xuất khẩu điện thoại và các linh kiện điện tử

của Việt Nam 2011-2012

(Nguồn: Tổng cục Hải quan, 2012)

Vị trí thứ 2 trong danh mục các mặt hàng xuất khẩu nhiều nhất là nhóm hàng điện thoại các loại và linh kiện với kim ngạch 12,7 tỷ USD Năm 2010 mặt hàng trên đạt kim ngạch xuất khẩu 2.3 tỷ USD và đến 2011 với kim ngạch xuất khẩu đạt 6.8 tỷ USD xếp vị

Trang 36

trí thứ 4 và 2012 vươn lên vị trí thứ 2 đạt 12.7 tỷ USD về kim ngạch xuất khẩu và thứ 6

về kim ngạch nhập khẩu Có 28 nước nhập khẩu mặt hàng điện thoại các loại và linh kiện

từ Việt Nam trong đó, EU nhập khẩu nhiều nhất với 5.66 tỷ USD (tăng 93% so với năm 2011) chiếm 44.5% kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này của cả nước Tiếp theo là Hoa Kỳ với 1.5 tỷ USD (tăng gấp 3 lần so với 2011); Nga 771 triệu USD (tăng 44% so với năm 2011) Tuy nhiên, xuất khẩu sang thị trường Hồng Kông lại suy giảm đạt 530 triệu USD giảm gần 20% so với năm trước

Dầu thô là mặt hàng đứng thứ 3 về kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam với hơn 8,2

tỷ USD trong 2012 Chín quốc gia nhập khẩu mặt hàng dầu thô của Việt Nam đó là Hàn Quốc, Mỹ, Indonexia, Malaysia; Nhật bản, Australia, Singapore, Thái lan, Trung Quốc Trong đó, có 4 nước kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD là Malaysia, Nhật Bản, Australia, Trung Quốc Nhật Bản và Australia là 2 nước mà chúng ta xuất khẩu nhiều nhất chiếm hơn 60% tổng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này Các đối tác chính nhập khẩu mặt hàng này là Nhật Bản 2.5 triệu tấn tăng 51.9%; Australia 1.7 triệu tấn tăng 26.3%; Trung Quốc 1.03 triệu tấn giảm 9%; Malaysia 1.007 triệu tấn…(Tổng cục Hải quan, 2012)

Mặt hàng gạo xếp vị trí thứ 10 trong kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam Kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này trong năm 2012 là 3.6 tỷ USD tăng 0.4% so với năm 2011 Trung Quốc vẫn là đối tác nhập khẩu gạo lớn nhất của Việt Nam với hơn 2 triệu tấn tăng gấp 6 lần so với năm 2011 chiếm 26% kim ngạch xuất khẩu gạo cả nước Philipin 1.1 triệu tấn tăng 14.2%; Indonesia 930 nghìn tấn giảm 50.6%; Malaysia 765 nghìn tấn tăng 44.2%; Bờ Biển Ngà 480 nghìn tấn tăng 64% (Tổng cục Hải quan, 2012)

Cà phê đứng vị trí thứ 11 trong tổng kim ngạch xuất khẩu Tổng lượng cà phê xuất khẩu của cả nước năm 2012 đạt 1.73 triệu tấn (tăng 37.5% đạt giá trị xuất khẩu với 3.6 tỷ USD)

2.3 Giá trị gia tăng trong xuất khẩu sản phẩm Việt Nam

Nông nghiệp đang là ngành tạo ra ngoại tệ để phục vụ hoạt động của các ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ Tuy nhiên, cơ cấu xuất nhập khẩu theo ngành cho thấy khu vực nông - lâm - thủy sản luôn xuất siêu, còn khu vực công nghiệp, xây dựng và dịch

Ngày đăng: 05/03/2015, 14:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Abor, J. and S. Harvey (2008), ‘Foreign Direct Investment and Employment: Host Country Experience’, Macroeconomics and Finance in Emerging Market Economies, Vol 1(2), pp. 213–25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Macroeconomics and Finance in Emerging Market Economies
Tác giả: Abor, J. and S. Harvey
Năm: 2008
2. Aitken, B.J., H. Gửrg và Strobl, E. (1997), “Spillovers, Foreign Investment, and Export Behavior”, Journal of International Economics 43, 103–132 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Spillovers, Foreign Investment, and Export Behavior”, "Journal of International Economics 43
Tác giả: Aitken, B.J., H. Gửrg và Strobl, E
Năm: 1997
3. Aitken, B.J. và Harrison, A.E. (1999), “Do Domestic Firms Benefit from Direct Foreign Investment? Evidence from Venezuela”, American Economic Review 89, 605–618 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Aitken, B.J. và Harrison, A.E. (1999), “Do Domestic Firms Benefit from Direct Foreign Investment? Evidence from Venezuela”, "American Economic Review 89
Tác giả: Aitken, B.J. và Harrison, A.E
Năm: 1999
4. Andrew B.Bernard, J.Bradford Jensen (1999),“ Exceptional Exporter performance: cause, effect, or both?”, Journal of International Economics 47, 1–25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Andrew B.Bernard, J.Bradford Jensen (1999),“ Exceptional Exporter performance: cause, effect, or both?”, "Journal of International Economics 47
Tác giả: Andrew B.Bernard, J.Bradford Jensen
Năm: 1999
5. Andrew B.Bernard, J.Bradford Jensen and Robert Z.Lawrence (1995), “Exporter, Jobs and Wages in U.S. Manufacturing: 1976-1987”, Brookings Papers on Economic Activity, Microeconomics, pp 67-119 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Exporter, Jobs and Wages in U.S. Manufacturing: 1976-1987”, "Brookings Papers on Economic Activity, Microeconomics
Tác giả: Andrew B.Bernard, J.Bradford Jensen and Robert Z.Lawrence
Năm: 1995
7. Andrew B.Bernard and J.Bradford Jensen, 2001, “Why some firms Export”. The Review of Economics and Statistics. Vol.86, No.2 (May,2004), pp 561-569 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Why some firms Export”. "The Review of Economics and Statistics
8. Anwar, S. and Nguyễn Phi Lân (2011), “Foreign direct investment and Export spillovers: Evidence from Vietnam”, International Business Review 20, pp 177–193 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Foreign direct investment and Export spillovers: Evidence from Vietnam”, "International Business Review 20
Tác giả: Anwar, S. and Nguyễn Phi Lân
Năm: 2011
9. Bernard, Andrew B và Bradford Jensen (2004a), “Exporting and Productivity in the USA”, Oxford Review of Economic Policy 20 , pp 343–357 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Exporting and Productivity in the USA”, "Oxford Review of Economic Policy
10. Bernard, Andrew B và Bradford Jensen ( 1 9 9 7 ) , “ E x p o r t e r s , S k i l l U p g r a d i n g a n d t h e W a g e G a p ” , Journal of International Economics 47, pp 1-25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Exporters, Skill Upgrading and the Wage Gap
Tác giả: Andrew B. Bernard, Bradford Jensen
Nhà XB: Journal of International Economics
Năm: 1997
11. Bernard,A. B., and J. Wagner (1997), “Exports and Success in German Manufacturing”, Review of World Economics/Weltwirtschaftliches Archiv 133 (1):134–137 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Exports and Success in German Manufacturing”, "Review of World Economics/Weltwirtschaftliches Archiv
Tác giả: Bernard,A. B., and J. Wagner
Năm: 1997
12. Bernard, A. B., and J. Wagner (2000), “Export Entry and Exit by German Firms” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Export Entry and Exit by German Firms
Tác giả: Bernard, A. B., and J. Wagner
Năm: 2000
13. Bernard, A. B., J. Eaton, B. Jensen, and S. Kortum (2003),” Plants and Productivity in International Trade”, American Economic Review 93 (4): 1268–1290 Sách, tạp chí
Tiêu đề: American Economic Review
Tác giả: Bernard, A. B., J. Eaton, B. Jensen, and S. Kortum
Năm: 2003
14. Bernard, A. B., Jensen, J.B, R e d d i n g , S . J , Schott, P. K (2007), “Firm in International Trade”, Journal of International Economics 21, pp 105-130 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Firm in International Trade”, "Journal of International Economics 21
Tác giả: Bernard, A. B., Jensen, J.B, R e d d i n g , S . J , Schott, P. K
Năm: 2007
15. Bộ Công thương (2013), Báo cáo thực trạng hoạt động ngoại thương giai đoạn 2001 – 2012, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thực trạng hoạt động ngoại thương giai đoạn 2001 – 2012
Tác giả: Bộ Công thương
Năm: 2013
16. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2013), Kỷ yếu 25 năm đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu 25 năm đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam
Tác giả: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Năm: 2013
38. Website: http://voer.edu.vn/module/khoa-hoc-xa-hoi/vai-tro-cua-hoat-dong-xuat-khau-doi-voi-su-phat-trien-cua-moi-quoc-gia.html Link
39. Website:http://fad.danang.gov.vn/default.aspx?id_NgonNgu=VN&amp;id_ThucDon_Sub=200&amp;TinChinh=0&amp;id_TinTuc=2048&amp;TrangThai=BanTin Link
40. Website:http://www.vietrade.gov.vn/tin-tuc/20-tin-tuc/3310-hi-ngh-tng-kt-chng-trinh-xuc-tin-thng-mi-quc-gia-nm-2012.html Link
41. Website:http://www.baomoi.com/Hoat-dong-xuc-tien-thuong-mai-No-luc-ca-trong-va-ngoai-nuoc/45/9466988.epi Link
42. Website:http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/kinh-te-thi-truong-XHCN/2013/19626/Nam-2012-tiep-mot-mua-xuat-khau-thang-loi.aspx Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ mô hình nghiên cứu đề nghị - các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia xuất khẩu của doanh nghiệp chế biến việt nam
Sơ đồ m ô hình nghiên cứu đề nghị (Trang 28)
Bảng 3.1: Phân bố mẫu Loại hình các doanh nghiệp - các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia xuất khẩu của doanh nghiệp chế biến việt nam
Bảng 3.1 Phân bố mẫu Loại hình các doanh nghiệp (Trang 40)
Bảng 3.2 Hoạt động xuất khẩu theo ngành - các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia xuất khẩu của doanh nghiệp chế biến việt nam
Bảng 3.2 Hoạt động xuất khẩu theo ngành (Trang 41)
Bảng 3.3 Nhóm tuổi của doanh nghiệp xuất khẩu và không xuất khẩu            ĐVT: Doanh nghiệp  DN Không xuất - các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia xuất khẩu của doanh nghiệp chế biến việt nam
Bảng 3.3 Nhóm tuổi của doanh nghiệp xuất khẩu và không xuất khẩu ĐVT: Doanh nghiệp DN Không xuất (Trang 42)
Bảng 3.5: Quy mô doanh nghiệp xuất khẩu và doanh nghiệp không xuất khẩu                             ĐVT: Doanh nghiệp  Số người  DN Không xuất khẩu  DN xuất khẩu - các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia xuất khẩu của doanh nghiệp chế biến việt nam
Bảng 3.5 Quy mô doanh nghiệp xuất khẩu và doanh nghiệp không xuất khẩu ĐVT: Doanh nghiệp Số người DN Không xuất khẩu DN xuất khẩu (Trang 43)
Bảng 3.6: Trình độ học vấn của người đứng đầu doanh nghiệp - các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia xuất khẩu của doanh nghiệp chế biến việt nam
Bảng 3.6 Trình độ học vấn của người đứng đầu doanh nghiệp (Trang 44)
Bảng 3.7: Kinh nghiệm của người đứng đầu doanh nghiệp trước khi điều hành - các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia xuất khẩu của doanh nghiệp chế biến việt nam
Bảng 3.7 Kinh nghiệm của người đứng đầu doanh nghiệp trước khi điều hành (Trang 45)
Bảng 3.8: Thống kê mô tả số năm làm việc của người đứng đầu doanh nghiệp với  doanh nghiệp nước ngoài - các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia xuất khẩu của doanh nghiệp chế biến việt nam
Bảng 3.8 Thống kê mô tả số năm làm việc của người đứng đầu doanh nghiệp với doanh nghiệp nước ngoài (Trang 46)
Bảng 3.9: Phân bố mẫu Số năm làm việc của người đứng đầu doanh nghiệp với  doanh nghiệp nước ngoài - các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia xuất khẩu của doanh nghiệp chế biến việt nam
Bảng 3.9 Phân bố mẫu Số năm làm việc của người đứng đầu doanh nghiệp với doanh nghiệp nước ngoài (Trang 46)
Bảng 3.11: Kỳ vọng dấu của các biến độc lập trong mô hình - các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia xuất khẩu của doanh nghiệp chế biến việt nam
Bảng 3.11 Kỳ vọng dấu của các biến độc lập trong mô hình (Trang 51)
Bảng 3.12 Thống kê mô tả các biến đặc trưng doanh nghiệp - các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia xuất khẩu của doanh nghiệp chế biến việt nam
Bảng 3.12 Thống kê mô tả các biến đặc trưng doanh nghiệp (Trang 52)
Bảng 3.14: Phân bố mẫu biến Yếu tố nước ngoài FDI - các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia xuất khẩu của doanh nghiệp chế biến việt nam
Bảng 3.14 Phân bố mẫu biến Yếu tố nước ngoài FDI (Trang 53)
Bảng 3.13: Phân bố mẫu Loại hình sở hữu - các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia xuất khẩu của doanh nghiệp chế biến việt nam
Bảng 3.13 Phân bố mẫu Loại hình sở hữu (Trang 53)
Bảng 3.16: Kết quả ước lượng mô hình hồi quy Probit - các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia xuất khẩu của doanh nghiệp chế biến việt nam
Bảng 3.16 Kết quả ước lượng mô hình hồi quy Probit (Trang 55)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm