1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ảnh hưởng của rào cản phi thuế quan đến hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp chế biến thủy sản tỉnh khánh hòa

97 1K 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 1,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, các quốc gia công nghiệp phát triển, một mặt luôn đòi hỏi việc mở cửa thị trường và tự do thương mại, mặt khác lại đưa ra nhiều rào cản tinh vi, phức tạp hơn nhằm bảo hộ sản x

Trang 1

-

LƯU MINH TRỌNG

ẢNH HƯỞNG CỦA RÀO CẢN PHI THUẾ QUAN ĐẾN HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU CỦA CÁC DOANH NGHIỆP CHẾ BIẾN THỦY SẢN

TỈNH KHÁNH HÒA

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Nha Trang – 2013

Trang 2

-  -

LƯU MINH TRỌNG

ẢNH HƯỞNG CỦA RÀO CẢN PHI THUẾ QUAN ĐẾN HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU CỦA CÁC DOANH NGHIỆP CHẾ BIẾN THỦY SẢN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi tên là Lưu Minh Trọng – Học viên Cao học khóa 2011 – Trường Đại học Nha Trang xin cam đoan luận văn được hoàn thành trên kết quả nghiên cứu của bản thân tôi và trên cơ sở sự hỗ trợ của giáo viên hướng dẫn, các kết quả nghiên cứu trong luận văn chưa được công bố trong bất bỳ nghiên cứu khoa học nào khác, các số liệu thứ cấp đều được trích dẫn

Chữ ký của học viên

Trang 4

CÁC CHỮ VIẾT TẮT

trồng thủy sản APEC Asia - Pacific Economic Cooperation Diễn đàn hợp tác kinh tế

châu Á – Thái Bình Dương

các nhà bán lẻ Anh quốc

Scheme

Chương trình quản lý và kiểm soát sinh thái

nông nghiệp

thực phẩm Hoa Kỳ

sản xuất nông nghiệp tốt

Trade

Hiệp định chung về thuế quan và mậu dịch

HACCP Hazard Analysis and Critical Control

Point

Hệ thống phân tích mối nguy và kiểm soát điểm tới hạn

Standardization

Tổ chức tiêu chuẩn quốc tế

Hoa Kỳ

NAFIQUAD National –Agro –Forestry- Fisheries Cục quản lý chất lượng

Trang 5

Quality Assurance Department Nông lâm thủy sản Việt

Development

Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế

bán phá giá hàng năm

sinh và kiểm dịch động thực vật

thương mại UNTACD United Nations Conference on Trade

and Development

Diễn đàn của liên hợp quốc

về thương mại và phát triển

Agriculture

Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ

Exporters and Producers

Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang Bảng 1.1 - Các nước bị kiện tiêu biểu (Từ tháng 01/1955 đến tháng

6/2010)

20

Bảng 1.2 - Mức điểm quan trọng của các nhân tố tác động đến khả

năng đáp ứng những tiêu chuẩn SPS của thị trường EU

32

Bảng 2.2 - Loại hình doanh nghiệp và số lượng lao động sử dụng của

các doanh nghiệp thủy sản tham gia khảo sát

36

Bảng 3.2 - Danh sách 20 doanh nghiệp thủy sản lớn nhất Việt Nam

Bảng 3.7 - Thống kê một số quy định tiêu biểu của EU đối thủy sản

nhập khẩu (giai đoạn 1996 – 2012)

59

Bảng 3.8 - Mức thuế chống bán phá đối với mặt hàng tôm và cá da trơn

của một số doanh nghiệp thủy sản tỉnh Khánh Hòa

65

Bảng 3.9 - Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng những biện

pháp SPS và TBT của doanh nghiệp khi xuất vào thị trường Mỹ

69

Bảng 3.10 - Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng những biện

pháp SPS và TBT của doanh nghiệp khi xuất vào thị trường EU

70

Bảng 3.11 - Những ảnh hưởng tích cực của những biện pháp phi thuế

quan

72

Trang 7

DANH MỤC CÁC HÌNH

Trang Hình 1.1 - Quy trình thủ tục đánh giá việc tuân thủ khi các doanh

nghiệp xuất khẩu thủy sản tới EU

26

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Trang

Biểu đồ 2.3 - Đối tượng khách hàng của các doanh nghiệp xuất khẩu sang thị

Biểu đồ 3.1 - Giá trị và tỷ lệ tăng trưởng xuất khẩu thủy sản của Việt

Nam giai đoạn từ 1993-2011

Biểu đồ 3.7 - Giá trị xuất khẩu thủy sản của tỉnh Khánh Hòa sang thị

trường Mỹ và EU giai đoạn 2007 - 2012

49

Biểu đồ 3.8 - Tỷ trọng của xuất khẩu thủy sản trong tổng giá trị xuất

khẩu của tỉnh Khánh Hòa

51

Biểu đồ 3.9 - Cơ cấu thị trường của thủy sản Khánh Hòa (2008 - 2012) 53 Biểu đồ 3.10 - Các biện pháp phi thuế quan mà doanh nghiệp thủy sản 62

Trang 8

Trang

đã gặp phải tại thị trường Mỹ

Biểu đồ 3.11 - Các biện pháp phi thuế quan mà doanh nghiệp thủy sản

đã gặp phải tại thị trường EU

62

Biểu đồ 3.12 - Các biện pháp phi thuế quan thường xuyên nhất và khó

khăn nhất mà doanh nghiệp thủy sản gặp phải tại thị trường Mỹ

63

Biểu đồ 3.13 - Các biện pháp phi thuế quan thường xuyên nhất và khó

khăn nhất mà doanh nghiệp thủy sản gặp phải tại thị trường EU

63

Biểu đồ 3.14 - Xu hướng của những biện pháp SPS và TBT tại thị

trường Mỹ và EU

66

Biểu đồ 3.15 - Phản ứng của doanh nghiệp khi bị áp dụng các biện pháp

phi thuế quan

Biểu đồ 3.18 - Thứ tự các khoản mục đầu tư làm tăng chi phí thích ứng

của doanh nghiệp

68

Biểu đồ 3.19 - Phản ứng của doanh nghiệp khi bị áp đặt thuế chống bán

phá giá

71

Biểu đồ 3.20 - Những tác động tích cực khác đối với doanh nghiệp thủy

sản khi đáp ứng những yêu cầu SPS và TBT

Trang 9

1.4 Những nhân tố cản trở doanh nghiệp trong việc đáp ứng các rào cản

phi thuế quan

26

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRA KHẢO SÁT VÀ ĐẶC

ĐIỂM CỦA DOANH NGHIỆP THAM GIA KHẢO SÁT

33

CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA RÀO CẢN PHI THUẾ

QUAN TẠI THỊ TRƯỜNG MỸ VÀ EU ĐẾN HOẠT ĐỘNG XUẤT

KHẨU CỦA CÁC DOANH NGHIỆP CHẾ BIẾN THỦY SẢN TỈNH

KHÁNH HÒA

39

3.1 TỔNG QUAN VỀ XUẤT KHẨU THỦY SẢN CỦA VIỆT NAM

VÀ TỈNH KHÁNH HÒA SANG THỊ TRƯỜNG MỸ VÀ EU

3.2 KHÁI QUÁT VỀ RÀO CẢN PHI THUẾ QUAN ĐƯỢC ÁP

DỤNG TẠI HAI THỊ TRƯỜNG MỸ VÀ EU ĐỐI VỚI THỦY SẢN

54

Trang 10

VIỆT NAM

3.2.1 Các rào cản phi thuế quan Hoa Kỳ áp dụng đối với thủy sản nhập

khẩu từ Việt Nam

54

3.2.2 Các rào cản phi thuế quan Liên minh Châu Âu áp dụng đối với

hàng thủy sản nhập khẩu từ Việt Nam

58

3.3 ẢNH HƯỞNG CỦA RÀO CẢN PHI THUẾ QUAN TẠI THỊ

TRƯỜNG MỸ VÀ EU ĐẾN HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU CỦA CÁC

DOANH NGHIỆP CHẾ BIẾN THỦY SẢN TỈNH KHÁNH HÒA

62

3.3.1 Những biện pháp phi thuế quan chính được áp dụng tại thị trường

Mỹ và EU

62

3.3.4 Nhận thức của doanh nghiệp về thị trường, rào cản phi thuế quan 73 CHƯƠNG 4: CÁC GIẢI PHÁP GIÚP DOANH NGHIỆP THỦY SẢN

TỈNH KHÁNH HÒA VƯỢT QUA RÀO CẢN PHI THUẾ QUAN TẠI

4.3 Giải pháp giúp doanh nghiệp thủy sản vượt qua rào cản phi thuế

quan của thị trường Mỹ và EU

79

Phụ lục

Trang 11

PHẦN MỞ ĐẦU

1.Tính cấp thiết của đề tài

Hiện nay, Việt Nam đã xuất khẩu được nhiều mặt hàng có lợi thế cạnh tranh ra thị trường thế giới, trong đó thủy sản được đánh giá là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực với kim ngạch xuất khẩu tăng nhanh, cụ thể đã tăng hơn 03 lần từ 02 tỷ USD năm 2002 lên 6,1 tỷ USD vào năm 2011 [21] Trong những năm qua, Mỹ và EU vẫn tiếp tục là hai thị trường chính của các doanh nghiệp thủy sản Việt Nam Năm

2011 xuất khẩu thủy sản của Việt Nam đạt giá trị hơn 6,1 tỷ USD trong đó thị trường

EU chiếm 21,6% (1,3 tỷ USD), thị trường Mỹ chiếm 19% (1,2 tỷ USD) [18] Theo nguyên tắc của WTO, các thành viên phải cam kết cắt giảm dần thuế quan và bãi bỏ các biện pháp bảo hộ phi thuế quan như hạn ngạch, cấp phép nhập khẩu, v v ngoại trừ những trường hợp cần thiết hoặc nguy cấp để tiến đến tự do hóa thương mại toàn cầu Tuy nhiên, các quốc gia công nghiệp phát triển, một mặt luôn đòi hỏi việc mở cửa thị trường và tự do thương mại, mặt khác lại đưa ra nhiều rào cản tinh vi, phức tạp hơn nhằm bảo hộ sản xuất trong nước như chống bán phá giá, biện pháp chống trợ cấp, các quy định và tiêu chuẩn kỹ thuật, đối kháng trả đũa trong hoạt động thương mại, các rào cản về truy xuất nguồn gốc của hàng hóa nhập khẩu, kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm Đây là thách thức lớn mà ngành thủy sản của Việt Nam đã, đang và sẽ tiếp tục phải đối mặt tại các thị trường xuất khẩu chủ lực, trong đó có Mỹ và EU Trong thời gian qua, biện pháp phi thuế quan được áp dụng tại thị trường Mỹ và EU đã gây nên những ảnh hưởng nhất định cho hoạt động xuất khẩu thủy sản của Việt Nam

Khánh Hòa là một tỉnh ven biển ở Nam Trung Bộ có nhiều lợi thế để phát triển ngành thủy sản, với khoảng 50 doanh nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu (chiếm bình quân khoảng 50% kim ngạch xuất khẩu toàn tỉnh) Bên cạnh những thành công đã đạt được, các doanh nghiệp thủy sản tỉnh Khánh Hòa cũng đang chịu ảnh hưởng từ rào cản phi thuế quan được áp dụng tại những thị trường nhập khẩu chính Với mục đích nghiên cứu rào cản phi thuế quan được áp dụng tại thị trường nhập khẩu gây ảnh hưởng như thế nào cho hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp chế biến thủy sản tỉnh Khánh Hòa và từ đó đề xuất những giải pháp nhằm giúp các doanh nghiệp thủy sản vượt qua rào cản này nên học viên đã tiến hành đề tài: “Ảnh hưởng của rào cản phi thuế quan đến hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp chế biến thủy sản tỉnh Khánh Hòa”

Trang 12

2 Tổng quan các nghiên cứu có liên quan

a Nghiên cứu trên thế giới:

- Nghiên cứu “The Impact of Sanitary and Phytosanitary measures on

developing coutries” của tác giả Henson và đồng sự thực hiện vào năm 1999 và 2000

đã sử dụng cách tiếp cận dựa trên sự liệt kê về số lượng những tiêu chuẩn để đánh giá

sự cản trở và nghiêm ngặt của những quy định trong ngành thực phẩm của EU và Mỹ [10] Họ cũng đã so sánh những quy định về chất lượng thực phẩm, chế độ đảm bảo

an toàn thực phẩm của EU và Mỹ với nhau và nhận dạng sự khác nhau giữa chúng Ba nguồn thông tin chính đã được các tác giả thu thập: dữ liệu về những quy định (chẳng hạn như số lượng các quy định), dữ liệu về tần suất bị giữ lại, dữ liệu về sự than phiền

từ ngành công nghiệp gặp phải những quy định phân biệt đối xử và số thông báo tới các cơ quan quốc tế về việc thực hiện những quy định này Tuy nhiên, cách tiếp cận của tác giả vẫn có hạn chế do những tiêu chuẩn là một đại diện ít thuyết phục cho sự hạn chế đối với hoạt động thương mại Không có mối tương quan thật sự giữa số lượng biện pháp phi thuế quan được áp dụng và ảnh hưởng của chúng tới hoạt động thương mại Hơn nữa, ước tính dựa trên sự xuất hiện của các biện pháp có thể bị sai lệch bởi những báo cáo không đồng nhất của các quốc gia và sự không đồng nhất trong cách đo lường ở các quốc gia đó

- Trong nghiên cứu “A case study of Phytosanitary barriers and US –

Japanese apple trade”, hai tác giả Calvin and Krissoff đã ước tính mức tương đương

thuế quan của những quy định kỹ thuật trong ngành táo [10] Tương đương thuế quan được thiết lập bằng cách tính toán giá thêm vào giữa hàng hóa nhập khẩu và sản phẩm

so sánh được với chúng tại thị trường nhập khẩu Họ đã so sánh giá táo xuất khẩu của

Mỹ với giá táo ở thị trường nước ngoài (đã xem xét đến tác động của chi phí vận chuyển) Kết quả thu được cho thấy nguyên nhân của sự chênh lệch giá hàng tháng là

do hai nhóm tác nhân, gồm mức thuế quan và mức tương đương thuế quan của những rào cản kỹ thuật

- Nghiên cứu “Information versus product adaption: the role of standards in

trade”, tác giả Moenius đã sử dụng mô hình hấp dẫn đối với thương mại song phương

trong phân tích của mình Phân tích này bao gồm việc thiết lập một phương trình với những sai số phần dư, mà xem đó là do ảnh hưởng từ những rào cản phi thuế quan [10]

Qui mô Fij = G *(Mia*Mjb) * Dijc

Trang 13

Fij : là dòng từ điểm i đến điểm j

Mi và Mj: là quy mô kinh tế liên quan đến địa điểm này

Dij : biểu thị cho khoảng cách giữa hai địa điểm

G, a, b,c : là những hằng số

Dự đoán về hoạt động thương mại song phương được thiết lập với giả định thương mại là hoàn toàn tự do Phân tích này khám phá xem liệu rằng sự tồn tại của những rào cản phi thuế quan làm dòng thương mại thấp đi hoặc cao hơn Ảnh hưởng thương mại của những rào cản phi thuế quan sẽ là chênh lệch giữa dòng thương mại được dự đoán với dòng thương mại thực tế khi có những rào cản phi thuế quan Mẫu được Moneius sử dụng gồm 471 ngành kinh doanh tại 12 nước châu Âu từ năm 1980 đến 1985 Kết quả nghiên cứu cho thấy một tiêu chuẩn có được sự tham gia của hai quốc gia tạo nên một ảnh hưởng tích cực đối với thương mại của hai quốc gia đó

- Nghiên cứu “Import restrictions in the presence of a health risk”, hai tác

giả Pouarlbery và Lee đã sử dụng cách tiếp cận dựa trên đánh giá mối nguy [10] Phương pháp này kết hợp đánh giá mối nguy với tính toán chi phí – lợi ích để đo lường ảnh hưởng của những rào cản phi thuế quan Một quy định có được coi là rào cản phi thuế quan hay không là dựa trên ảnh hưởng về phúc lợi Tính toán chi – lợi ích kết hợp với đánh giá mối nguy cung cấp những chi phí và lợi ích phúc lợi của những loại NTBs này Tính bảo hộ sẽ xuất hiện khi những mối nguy là nhỏ và chi phí của nó vượt quá so với lợi ích mang lại Tình huống nghiên cứu là chính phủ Mỹ đã bảo hộ bằng thuế quan để chống lại thịt bò philê nhập khẩu từ những quốc gia có nguy cơ lây nhiễm bệnh lở mồm, long móng Kết quả nghiên cứu cho thấy nước nhập khẩu sẽ tối

đa hóa phúc lợi xã hội nếu chính phủ thiết lập một mức thuế phù hợp, mà tại mức đó tổn thất dự đoán đối với ngành sản xuất thịt bò trong nước nếu bệnh lở mồm long móng truyền vào đàn gia súc của Mỹ sẽ ngang với bằng mức thuế dự định áp dụng cho sản phẩm thịt bò

b Nghiên cứu trong nước

Những nghiên cứu ở Việt Nam về ảnh hưởng của rào cản phi thuế quan chưa nhiều, chủ yếu dừng ở mức độ định tính và định lượng đơn giản, chưa đi sâu vào một ngành cụ thể

- Trong “Nghiên cứu các rào cản trong thương mại quốc tế và đề xuất các

giải pháp đối với Việt Nam” tác giả Đinh Văn Thành và cộng sự đã tổng hợp những

rào cản thuế quan, phi thuế quan được áp dụng trong thực tiễn, chiều hướng sử dụng ở

Trang 14

từng thị trường, những rào cản thương mại mà Việt Nam đang áp dụng và các giải pháp để vượt qua rào cản thương mại tại các thị trường [3] Tuy nhiên, nghiên cứu này chưa đề cập đến ảnh hưởng của rào cản thương mại đối với hoạt động xuất khẩu

- Nghiên cứu “Thực trạng và giải pháp để doanh nghiệp Việt Nam vượt qua

rào cản thương mại quốc tế”, tác giả Trần Thanh Long đã thống kê những cảnh báo

thương mại và số lượng các vụ kiện để mô tả ảnh hưởng của rào cản thương mại đối với xuất khẩu [4] Nghiên cứu đã chỉ ra những ảnh hưởng tiêu cực của rào cản thương mại như làm tăng chi phí của doanh nghiệp, thủ tục khắt khe, làm chệch hướng hoạt động thương mại so với khi thương mại tự do; cùng với đó là những tác động tích cực như tăng cường nhận thức cho doanh nghiệp và chính quyền, thúc đẩy doanh nghiệp tăng cường đầu tư để vượt qua rào cản thương mại, tăng cường kinh nghiệm đối phó với những rào cản Tuy nhiên, những kết quả này chỉ có được dựa trên kinh nghiệm và lập luận của tác giả, nghiên cứu chưa có những kết quả định lượng

Như vậy, những nghiên cứu về ảnh hưởng của rào cản phi thuế quan đã phác họa nên một tập hợp đa hướng phức tạp của những ảnh hưởng, chẳng hạn như ảnh hưởng đến lượng nhập khẩu, mức giá của sản phẩm, mức độ phúc lợi của các đối tượng có liên quan, những chi phí phát sinh do rào cản phi thuế quan Nhìn chung, các nghiên cứu đã sử dụng một trong các phương pháp sau để phân tích như: cách tiếp cận dựa vào sự liệt kê (Inventory –based approach), cách tiếp cận thông qua sự khác biệt

về giá (Price differential approach), cách tiếp cận dựa vào mô hình hấp dẫn (Gravity – based approach), tương đương thuế quan (Tariff equivalent), đo lường chi phí – lợi ích dựa trên sự đánh giá mối nguy (Risk assessment – based cost –benefit measures) Những nghiên cứu được nêu ra có thể không thấu đáo và đầy đủ nhưng chúng là những tham khảo quan trọng cho chủ đề đo lường rào cản phi thuế quan

Những phương pháp trên chỉ phát huy tác dụng trong điều kiện nguồn dữ liệu sẵn có Tuy nhiên, điều này rất khó đạt được ở những nước đang phát triển như Việt Nam Với ưu điểm của phương pháp điều tra khảo sát là rất hữu ích khi thiếu thông tin

từ những nguồn khác Bên cạnh đó phương pháp này có thể nhận dạng những rào cản thương mại bị che đậy và khó khăn để đo lường như thủ tục hành chính Kết hợp với những phỏng vấn sâu sẽ cung cấp những hiểu biết đáng kể về rào cản phi thuế quan

mà các quốc gia đang phát triển gặp phải khi xuất khẩu vào thị trường của những nước phát triển Vì vậy, học viên nhận thấy phương pháp điều tra khảo sát (Survey – based approach) là lựa chọn phù hợp trong nghiên cứu của mình Cần lưu ý rằng cách tiếp

Trang 15

cận này có giới hạn chính là tốn kém và yêu cầu kỹ năng đặc biệt trong thiết kế và phát bản câu hỏi điều tra

3 Mục tiêu nghiên cứu

a Mục tiêu tổng quát

Nghiên cứu ảnh hưởng của rào cản phi thuế quan tại thị trường Mỹ và EU đến hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp chế biến thủy sản tỉnh Khánh Hòa

b Mục tiêu cụ thể

- Hệ thống hóa lý thuyết về rào cản phi thuế quan trong kinh doanh quốc tế

- Xác định những rào cản phi thuế quan khác nhau ở thị trường Mỹ và EU đối với thủy sản nhập khẩu từ Việt Nam

- Phân tích ảnh hưởng của rào cản phi thuế quan ở thị trường Mỹ và EU đối với các doanh nghiệp chế biến thủy sản tỉnh Khánh Hòa

- Đề xuất các giải pháp nhằm giúp doanh nghiệp chế biến thủy sản tỉnh Khánh Hòa vượt qua rào cản phi thuế quan

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

a Đối tượng nghiên cứu: Các rào cản phi thuế quan ở thị trường Mỹ và EU

và ảnh hưởng của chúng đối với hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp chế biến thủy sản tỉnh Khánh Hòa

b Phạm vi nghiên cứu: Rào cản phi thuế quan mà các doanh nghiệp chế biến

thủy sản của tỉnh Khánh Hòa gặp phải tại thị trường Mỹ và EU từ năm 2001 cho đến năm 2012

5 Phương pháp nghiên cứu:

a Phương pháp nghiên cứu:

Sử dụng phương pháp điều tra khảo sát Các doanh nghiệp sẽ hoàn thành 45 câu hỏi khảo sát Các câu hỏi này tập trung vào đặc điểm doanh nghiệp; những rào cản phi thuế quan doanh nghiệp đang phải đối mặt; ảnh hưởng của chúng đến chi phí, khả năng cạnh tranh, duy trì thị phần và cả những ảnh hưởng tích cực; mức độ cạnh tranh

từ những công ty khác, thị trường đang hướng đến, nhận thức của doanh nghiệp về rào cản phi thuế quan

Trang 16

nhà nước trên lĩnh vực thủy sản

c Phương pháp chọn mẫu

- Tổng thể là 22 doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa có hoạt động xuất khẩu sang thị trường Mỹ và EU

- Chọn mẫu theo phương pháp thuận tiện

- Kích thước mẫu: N = 20 (Trong nghiên cứu, học viên dự kiến tiến hành khảo sát tại một số doanh nghiệp thủy sản đại diện cho các doanh nghiệp thủy sản của tỉnh Khánh Hòa)

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo luận văn gồm có 03 chương: Chương 1: Cơ sở lý thuyết

Chương 2: Phân tích ảnh hưởng của rào cản phi thuế quan tại thị trường Mỹ và EU đến hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp chế biến thủy sản tỉnh Khánh Hòa Chương 3: Các giải pháp giúp doanh nghiệp thủy sản tỉnh Khánh Hòa vượt qua rào cản phi thuế quan tại thị trường Mỹ và EU

Trang 17

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 RÀO CẢN PHI THUẾ QUAN TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

1.1.1 Khái niệm

Hội nhập vào nền kinh tế thế giới và giao thương với các nước, các khối thương mại tự do như EU, NAFTA, APEC… đặt các doanh nghiệp trước 02 loại rào cản lớn đó là:

 Rào cản thuế quan (Custom duty barriers)

 Rào cản phi thuế quan (Non –tariff trade barriers)

Trong thương mại quốc tế hiện nay, rào cản thuế quan giữa các quốc gia ngày càng giảm đi nhờ chế độ tối huệ quốc, chế độ ưu đãi thuế quan phổ cập, hiệp định thuế quan ưu đãi… Bên cạnh biện pháp bảo hộ bằng thuế, nhiều rào cản phi thuế quan đã được thiết lập Mức độ cần thiết và lý do sâu xa dẫn đến việc bảo hộ sản xuất nội địa ở từng nước cũng khác nhau, đối tượng bảo hộ cũng khác nhau khiến cho các rào cản phi thuế quan càng trở nên đa dạng Trong lý thuyết về thương mại có nhiều định nghĩa khác nhau về rào cản phi thuế quan

- Theo giáo sư kinh tế học John C Beghin: “Rào cản phi thuế quan bao gồm hàng

loạt các chính sách can thiệp của chính phủ ngoài chính sách về thuế quan và có tác động đến thương mại hàng hóa, dịch vụ và các yếu tố của quá trình sản xuất” [6]

- Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế OECD, các rào cản phi thuế

quan bao gồm tất cả các rào cản thương mại ngoài thuế quan, ví dụ các biện pháp đối

kháng và áp thuế chống bán phá giá, hạn chế xuất khẩu tự nguyện, trợ cấp doanh nghiệp, hàng rào kỹ thuật đối với thương mại và các trở ngại đối với hoạt động xây dựng và cung cấp dịch vụ [6]

Tổ chức Thương mại Thế giới đưa ra định nghĩa về các biện pháp phi thuế

quan và các hàng rào phi thuế quan:“Biện pháp phi thuế quan là những biện pháp

ngoài thuế quan, liên quan hoặc ảnh hưởng đến sự luân chuyển hàng hóa giữa các nước” Bên cạnh định nghĩa đó, WTO cũng chỉ ra “Rào cản phi thuế quan là những biện pháp phi thuế quan mang tính cản trở đối với thương mại mà không dựa trên cơ

sở pháp lí, khoa học hoặc bình đẳng” [6]

1.1.2 Phân loại các rào cản phi thuế quan trong thương mại quốc tế

1.1.2.1 Nhóm các biện pháp hạn chế định lượng

Hạn chế định lượng là những biện pháp phi thuế quan điển hình cản trở luồng

di chuyển tự do của hàng hóa giữa các nước Đây là những biện pháp nhằm trực tiếp

Trang 18

giới hạn khối lượng hoặc giá trị hàng hóa nhập khẩu vào một quốc gia, do đó có tính chất bảo hộ rất cao

(a) Cấm nhập khẩu: Đây là biện pháp bảo hộ cao nhất, gây hạn chế lớn

nhất đối với thương mại quốc tế Trong thương mại quốc tế có nhiều trường hợp cấm nhập khẩu như: cấm hoàn toàn, cấm theo mùa, cấm tạm thời, cấm vận, cấm sản phẩm nhạy cảm, tạm dừng cấp phép nhập khẩu Các nước trên thế giới chỉ được sử dụng cấm nhập khẩu cho mục tiêu chính đáng như bảo vệ sức khỏe con người, tài nguyên thiên nhiên, an ninh quốc phòng, hay trong trường hợp khẩn cấp nhằm bảo hộ cán cân thanh toán, an ninh lương thực quốc gia Vì thế những hàng hóa thuộc danh mục hàng hóa cấm nhập khẩu của các quốc gia thường là vũ khí, đạn dược, ma tuý, hóa

chất độc hại

(b) Hạn ngạch nhập khẩu: Hạn ngạch nhập khẩu là qui định của nhà

nước về số lượng hoặc giá trị một mặt hàng nào đó được nhập khẩu từ một thị trường trong một thời gian nhất định Có nhiều loại hạn ngạch khác nhau như hạn ngạch toàn cầu, hạn ngạch song phương, hạn ngạch theo mùa, hạn ngạch đối với sản phẩm nhạy cảm, hạn ngạch xuất khẩu nhằm giảm bớt sự khan hiếm lương thực hay nguồn nguyên liệu nào đó, hạn ngạch liên quan đến bán hàng hoá trong nội địa

Hạn ngạch nhập khẩu thường được áp dụng bằng cách cấp giấy phép nhập khẩu cho một số công ty Khi hạn ngạch nhập khẩu được qui định cho một loại mặt hàng nào đó thì Nhà nước đưa ra một mức nhập khẩu nhất định đối với mặt hàng đó trong một thời gian nhất định, không kể nguồn gốc hàng hóa đó từ đâu đến Khi hạn ngạch qui định cho cả mặt hàng và thị trường thì hàng hóa đó chỉ được nhập khẩu từ

thị trường đã định với số lượng bao nhiêu, trong thời hạn bao lâu

(c) Giấy phép nhập khẩu: Hàng hóa muốn thâm nhập vào lãnh thổ một

nước phải xin giấy phép nhập khẩu của cơ quan chức năng Theo cách sử dụng, giấy

phép được chia làm hai loại: giấy phép chung và giấy phép riêng Giấy phép chung

được áp dụng cho tất cả các nước hoặc giới hạn ở một số nước còn giấy phép riêng sử

dụng cho một số nước riêng lẻ

(d) Hạn chế xuất khẩu tự nguyện và thoả thuận về thị trường: Trước

năm 1995, GATT cấm sử dụng hạn ngạch nhập khẩu nên một số nước đã sử dụng biện pháp hạn chế xuất khẩu "tự nguyện" Hạn chế xuất khẩu tự nguyện là một thoả thuận song phương giữa hai chính phủ Nước xuất khẩu sẽ giới hạn xuất khẩu một số sản phẩm nhất định tới nước nhập khẩu Ngành công nghiệp đang phải cạnh

Trang 19

tranh gay gắt với hàng nhập khẩu, sẽ gây áp lực với chính phủ để đàm phán về hạn chế xuất khẩu từ nước khác nhằm giảm bớt áp lực cạnh tranh

Các nhà xuất khẩu "bắt buộc" phải chấp nhận số lượng đó hoặc bị đe dọa nhận được các hành động khắc nghiệt hơn nếu không chấp nhận thoả thuận tự nguyện hạn chế số lượng xuất khẩu Hạn chế xuất khẩu tự nguyện từng là công cụ quan trọng để hạn chế thương mại và đ ư ợ c sử dụng khá rộng rãi Trong khi hạn ngạch được áp dụng chung thì hạn chế xuất khẩu tự nguyện chỉ áp dụng với một số nước xuất khẩu chủ yếu, do đó tạo ra sự phân biệt đối xử giữa các thành viên và rõ ràng vi phạm nguyên tắc tối huệ quốc

1.1.2.2 Nhóm các biện pháp quản lý giá cả:

Các biện pháp quản lý giá nhập khẩu hay giá bán trong nước có thể tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới xuất nhập khẩu hàng hoá Các biện pháp quản lý giá cả giúp cho quốc gia nhập khẩu kiểm soát giá cả các mặt hàng nhập khẩu vào quốc gia mình từ đó bảo hộ sản xuất trong nước, ví dụ các biện pháp trị giá tính thuế hải quan, các loại phụ phí, hay ấn định giá nhập khẩu tối đa hoặc tối thiểu, v.v

(a) Trị giá tính thuế hải quan: Việc xác định trị giá tính thuế hải quan tùy

tiện có thể bóp méo hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá WTO quy định giá tính thuế cho hàng nhập khẩu là giá giao dịch, tức là giá đã trả hay phải trả cho hàng hoá để xuất khẩu đến nước nhập khẩu có tính đến những điều chỉnh nhất định như phí hoa hồng, môi giới, đóng gói…

WTO không cho phép xác định trị giá tính thuế quan theo các cách sau: giá nhập khẩu tối thiểu; giá bán trong nước của hàng hóa tương tự được sản xuất tại nước có hàng hoá cần xác định trị giá hải quan; một hệ thống cho phép chấp nhận giá cao hơn trong hai loại giá sử dụng để xác định trị giá tính thuế quan của hàng hoá; giá bán của hàng hoá tại thị trường nước xuất khẩu; định giá trên cơ sở giả định hay tuỳ tiện

(b) Giá bán tối đa: Giá bán tối đa trong nước đối với một hàng hoá nào đó có

thể hạn chế nhập khẩu, đặc biệt đối với những nhà sản xuất không có khả năng cạnh

tranh cao

(c) Phí thay đổi: Những loại phí thay đổi cản trở đáng kể thương mại do tính

không minh bạch của chúng

(d) Phụ thu: Tất cả các loại phí và phụ thu (không phải thuế xuất nhập khẩu

và các loại thuế nội địa khác) đánh vào hàng xuất nhập khẩu chỉ được giới hạn ở

Trang 20

mức t ư ơ n g ứng chi phí dịch vụ thực sự bỏ ra và không được sử dụng để bảo hộ gián tiếp các sản phẩm trong nước, hay như thuế xuất nhập khẩu, hay cho mục đích thu ngân sách

1.1.2.3 Nhóm các biện pháp tài chính và tiền tệ: Là những biện pháp qui định sự tham gia, chi phí cho việc chuyển đổi ngoại tệ đối với nhập khẩu và xác định các điều kiện thanh toán Các biện pháp này có thể làm tăng chi phí xuất nhập khẩu

(a) Các yêu cầu thanh toán trước: Giá trị của giao dịch nhập khẩu và/hoặc

thuế nhập khẩu liên quan được yêu cầu thanh toán tại thời điểm áp dụng hoặc cấp giấy phép nhập khẩu

(b) Tiền gửi nhập khẩu trước: Nghĩa vụ gửi trước một tỷ lệ phần trăm giá trị

của giao dịch nhập khẩu trong một thời gian cho phép trước khi nhập khẩu, không cho phép áp dụng lãi suất đối với tiền gửi

(c) Yêu cầu giới hạn tiền mặt: Nghĩa vụ gửi toàn bộ hoặc một phần số

tiền liên quan đến giá trị giao dịch trong ngân hàng ngoại thương trước khi mở thư tín dụng, việc thanh toán có thể được yêu cầu bằng ngoại tệ

(d) Trả trước thuế hải quan: Thanh toán trước toàn bộ hoặc một phần giá trị

thuế Tiền gửi có thể trả lại đối với các hạng mục sản phẩm nhạy cảm Tiền gửi được trả lại khi các sản phẩm đã được sử dụng hoặc các thùng hàng được trả lại hệ thống giao nhận

(e) Tỷ giá hối đoái đa dạng: Khi tính thuế nhập khẩu, người ta qui định việc

chuyển đổi ngoại tệ ra tiền trong nước theo tỷ giá xác định

(f) Quản lý ngoại hối: Đây là biện pháp nhằm hạn chế sử dụng ngoại hối, cân

bằng cán cân thanh toán, ổn định tỷ giá hối đoái, bảo vệ dự trữ ngoại hối và ngăn chặn nguồn vốn đầu tư chuyển ra nước ngoài Theo chế độ này, tất cả các nguồn thu ngoại hối phải tập trung vào ngân hàng hoặc những cơ quan quản lý ngoại hối Việc

sử dụng ngoại hối phải được sự cho phép của các cơ quan có thẩm quyền

(g) Thuế nội địa nhập khẩu: Các nước áp dụng biện pháp thuế nhập khẩu

nội địa để hạn chế nhập khẩu thông qua làm tăng chi phí nhập khẩu, từ đó làm giảm sức cạnh tranh của hàng nhập khẩu vào trong nước

- Thuế tiêu thụ đặc biệt: là loại thuế gián thu do người sản xuất và

người nhập khẩu nộp khi bán hàng hóa đó Thuế này được cấu thành trong giá bán hàng hóa và người tiêu dùng phải chịu qua việc mua hàng

- Thuế giá trị gia tăng: là một loại thuế gián thu đánh vào giá trị tăng thêm

Trang 21

của sản phẩm qua mỗi khâu luân chuyển Thuế giá trị gia tăng có điểm khác cơ bản so với thuế doanh thu là chỉ người bán hàng (hoặc dịch vụ) lần đầu phải nộp thuế giá trị giá tăng trên toàn bộ doanh thu bán hàng, còn người bán hàng (hoặc dịch vụ) ở khâu tiếp theo chỉ phải nộp thuế cho phần giá trị tăng thêm Đến cuối chu kỳ sản xuất, kinh doanh hoặc cung cấp dịch vụ, tổng số thuế thu được ở các công đoạn

sẽ khớp với số thuế tính trên giá bán hàng hóa hoặc dịch vụ cho người tiêu dùng cuối cùng

1.1.2.4 Nhóm các biện pháp về hành chính:Trong số các biện pháp quản

lý hành chính, biện pháp thủ tục hành chính có tính bảo hộ khá rõ, ví dụ đặt cọc, thủ tục hải quan, chính sách mua sắm chính phủ,v.v… WTO đưa ra một số biện pháp hành chính như:

 Qui định về quảng cáo

1.1.2.5 Nhóm biện pháp hàng rào kỹ thuật

Quy định và tiêu chuẩn kỹ thuật đa dạng và không giống nhau giữa các quốc gia Việc có quá nhiều các quy định và tiêu chuẩn kỹ thuật khác nhau như vậy gây không ít khó khăn cho nhà sản xuất và nhà xuất khẩu Các quy tắc và tiêu chuẩn đó

có thể được các chính phủ xác lập một cách tùy tiện, che đậy dưới danh nghĩa chính đáng nhưng thực chất là để bảo hộ nền sản xuất trong nước Từ đó, các quy tắc và tiêu chuẩn kỹ thuật này trở thành rào cản trong thương mại quốc tế Tất nhiên, vẫn có những quy tắc và tiêu chuẩn kỹ thuật được thiết lập bởi những lý do hoàn toàn hợp lý như bảo vệ môi trường, an toàn an ninh quốc gia, bảo vệ lợi ích người tiêu dùng, v.v Vì vậy, câu hỏi đặt ra ở đây là làm thế nào để đảm bảo rằng các quy tắc, tiêu chuẩn kỹ thuật thật sự là hữu ích chứ không tùy tiện hoặc trở thành cái cớ để bảo hộ sản xuất trong nước

(a) Các nhà kinh tế học Donna Roberts, Timothy E Josling, và David Orden đã phân loại các rào cản kỹ thuật dựa trên 03 tiêu chí là công cụ chính sách, phạm vi và mục tiêu điều chỉnh

Trang 22

- Phân loại rào cản kỹ thuật dựa trên công cụ chính sách: Cấm nhập bao gồm

cấm toàn phần và cấm từng phần; Thông số kỹ thuật bao gồm các tiêu chuẩn trong quá trình sản xuất, các tiêu chuẩn sản phẩm và các tiêu chuẩn đóng gói; Thông tin trên sản phẩm bao gồm yêu cầu về nhãn mác và kiểm soát các khiếu nại

- Phân loại rào cản kỹ thuật dựa trên phạm vi áp dụng: gồm áp dụng đồng

loạt; áp dụng chung cho các quốc gia xuất khẩu; áp dụng khác biệt giữa các quốc gia

- Phân loại rào cản kỹ thuật dựa trên mục tiêu điều chỉnh: các biện pháp bảo

vệ động thực vật; các biện pháp an toàn vệ sinh thực phẩm; các biện pháp nhằm bảo

vệ môi trường

(b) Theo John Skorburg hàng rào kỹ thuật trong thương mại có thể được chia làm 03 nhóm sau:

- Các quy định về dịch tễ vệ sinh an toàn (Sanitary and phytosanitary): gồm

những quy định được các quốc gia đưa ra để bảo vệ sức khoẻ con người, vật nuôi và cây trồng

- Các biện pháp đối với người tiêu dùng: gồm các biện pháp quy định về

chất lượng và an toàn thực phẩm như nhãn mác, đóng gói, dư lượng thuốc trừ sâu, hàm lượng dinh dưỡng và tạp chất,…

- Các biện pháp thương mại: gồm các biện pháp được thực hiện nhằm ngăn

chặn gian lận thương mại như chứng từ vận chuyển và tài chính, các tiêu chuẩn nhận dạng và các tiêu chuẩn đo lường

(c) Đối với các rào cản kỹ thuật hiện đang được áp dụng nhiều trong thương mại quốc tế, ta có thể phân chúng thành 3 loại cơ bản:

- Tiêu chuẩn về chất lượng và quy cách sản phẩm

Việc hàng hóa xuất khẩu đạt tiêu chuẩn về chất lượng là yêu cầu hết sức hợp

lý và chính đáng của các quốc gia nhập khẩu nhằm đảm bảo quyền lợi cho người tiêu dùng Tuy nhiên, chất lượng là một khái niệm rất rộng và phức tạp do đó nhiều quốc gia đã lợi dụng để dựng lên rào cản về chất lượng đối với hàng nhập khẩu, chỉ cần không trái với hiệp định rào cản thương mại của WTO Các rào cản này hình thành chính từ sự chênh lệch về trình độ phát triển giữa các quốc gia Các nước đang và kém phát triển sẽ khó có thể đáp ứng được những yêu cầu của các nước phát triển do trình

độ khoa học công nghệ còn chưa cao

Hiện nay, hệ thống quản lý chất lượng ISO 9000 gần như là yêu cầu bắt buộc đối với các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu Ngoài ISO 9000, nhiều các hệ

Trang 23

thống khác cũng đang được các doanh nghiệp Việt Nam xem xét và tiến hành áp dụng, như ISO 14001 – Hệ thống quản lý môi trường, HACCP – Hệ thống phân tích, xác định và kiểm soát các điểm nguy hại trọng yếu trong quá trình chế biến thực phẩm, GMP – Quy chế thực hành sản xuất tốt trong lĩnh vực dược và thực phẩm, OHSAS 18001 – Hệ thống quản lý an toàn và sức khỏe nghề nghiệp, SA 8000 – Hệ thống trách nhiệm xã hội và các hệ thống quản lý chất lượng tích hợp hoặc đặc thù như ISO 22000 – Hệ thống quản lý an toàn thực phẩm (food chains), v v

Về quy cách sản phẩm, các quốc gia cũng đưa ra quy định rất chặt chẽ liên quan đến kích thước, hình dáng thiết kế, độ dài, các chức năng của sản phẩm

Bao bì, nhãn mác của sản phẩm cũng được quy định chặt chẽ Bao bì sản phẩm ngoài các yêu cầu phải phù hợp với việc tái sinh, sử dụng lại và không gây ô nhiễm môi trường, còn phải đáp ứng các quy định về mẫu mã và kích cỡ bao bì Việc bao gói và bảo quản phải được xác nhận của cơ quan có thẩm quyền để đảm bảo chất lượng của hàng hoá Trên bao bì phải ghi rõ hướng dẫn cách vận chuyển, lưu kho

và các hướng dẫn chuyên môn khác bằng những ngôn ngữ cần thiết

Luật pháp của các nước thường quy định hết sức nghiêm ngặt về ghi nhãn hàng hoá Các nước yêu cầu trên nhãn hàng hoá phải ghi đầy đủ thông tin cần thiết về sản phẩm và nhà sản xuất bằng những ngôn ngữ theo quy định của từng nước để giúp khách hàng lựa chọn và đảm bảo an toàn cho khách hàng khi sử dụng Nhãn hàng phải đáp ứng quy định thì sản phẩm mới được lưu thông trên thị trường

-Tiêu chuẩn về vệ sinh thực phẩm và an toàn cho người sử dụng

Các biện pháp quản lý về vệ sinh thực phẩm và an toàn cho người tiêu dùng bao gồm tất cả các luật, nghị định, quy định, yêu cầu và thủ tục liên quan như các tiêu chuẩn đối với sản phẩm cuối cùng; các phương pháp sản xuất và chế biến, các thủ tục xét nghiệm, giám định, chứng nhận và chấp thuận; những xử lý cách ly bao gồm các yêu cầu liên quan đến việc vận chuyển cây trồng, vật nuôi; các chất trong quá trình nuôi dưỡng chúng, trong quá trình vận chuyển; những quy định về phương pháp thống

kê, thủ tục chọn mẫu và các phương pháp đánh giá rủi ro

- Tiêu chuẩn về môi trường

Sau một thời gian dài chạy theo lợi nhuận, phát triển ồ ạt, không quan tâm đến môi trường sinh thái, các quốc gia đã nhận thấy tầm quan trọng của môi trường và thực hiện nhiều biện pháp để bảo vệ môi trường, trong đó có việc đưa ra các tiêu chuẩn về môi trường đối với hàng hoá nhập khẩu Tuy nhiên, do WTO cho phép các

Trang 24

quốc gia sử dụng các biện pháp bảo hộ vì mục đích môi trường nên họ đã dựng lên những rào cản về môi trường đối với hàng hoá nhập khẩu Hệ thống rào cản môi trường trong thương mại quốc tế hiện nay rất đa dạng và được áp dụng khác nhau ở các nước tuỳ vào điều kiện cụ thể của mỗi nước Nhìn chung, những rào cản về môi trường thường được áp dụng trong thương mại quốc tế bao gồm:

+ Các phương pháp chế biến và sản xuất theo quy định về môi trường: Những quy định và tiêu chuẩn về phương pháp chế biến được áp dụng để hạn chế chất thải ô nhiễm và lãng phí tài nguyên không tái tạo Đây là những tiêu chuẩn đối với công nghệ, quá trình sản xuất sản phẩm nhằm đánh giá quá trình sản xuất có gây ô nhiễm và huỷ hoại môi trường hay không

+ Các yêu cầu về đóng gói bao bì: Các chính sách đóng gói bao gồm những quy định liên quan đến nguyên vật liệu đóng gói, những quy định về tái sinh, về xử

lý và thu gom sau quá trình sử dụng… Những tiêu chuẩn và quy định liên quan đến đặc tính tự nhiên của sản phẩm và nguyên liệu đóng gói, đòi hỏi việc đóng gói phải phù hợp với việc tái sinh hay dùng lại

+ Nhãn môi trường: Sản phẩm được dán nhãn sinh thái nhằm mục đích thông báo cho người tiêu dùng biết sản phẩm đó là tốt hơn về mặt môi trường

+ Phí, thuế và các khoản thu liên quan đến môi trường: Các khoản này được gọi chung là phí môi trường và được áp dụng nhằm ba mục tiêu chính: thu lại các chi phí phải sử dụng cho môi trường, thay đổi cách ứng xử của cá nhân và tập thể đối với các hoạt động có liên quan tới môi trường và thu quỹ cho các hoạt động bảo vệ môi

trường Thông thường có các loại phí sau: Phí sản phẩm được áp dụng cho các sản

phẩm gây ô nhiễm như có chứa các hoá chất độc hại (như xăng pha chì) hoặc có một

số thành phần cấu tạo của sản phẩm gây khó khăn cho việc thải loại sau sử dụng; Phí

đối với chất thải được áp dụng với các chất gây ô nhiễm thoát vào không khí, nước

hoặc đất hoặc gây tiếng ồn, các khoản phí này có thể được đánh vào thời điểm tiêu thụ (trong trường hợp này tương đương với phí sản phẩm), hoặc có thể thu dưới hình

thức phí đối với người sử dụng để trang trải chi phí xử lý chất ô nhiễm; Phí hành

chính được áp dụng để trang trải các chi phí dịch vụ của Chính phủ và được thu dưới

hình thức phí cấp giấy phép, đăng ký, phí kiểm định và kiểm soát Cơ sở của việc đánh thuế hay thu phí là vì mục đích môi trường, dựa trên nguyên tắc người gây ô nhiễm và người sử dụng các nguồn lực môi trường phải chịu phí

Ngoài các hình thức trên, rào cản kỹ thuật trong thương mại còn tồn tại dưới

Trang 25

những hình thức khác như các biện pháp an ninh ví dụ việc các nước đưa ra các quy định hạn chế nhập khẩu, thậm chí cấm nhập khẩu vì những lý do an ninh, các tiêu chuẩn an toàn cho người lao động như việc một số quốc gia sẽ không nhập khẩu hàng hoá từ những doanh nghiệp không đáp ứng được các điều kiện an toàn cho người lao động

Các nước dựa vào nhiều lý do khác nhau để đưa ra các tiêu chuẩn như bảo vệ thị trường, người tiêu dùng và môi trường trong nước cho nên rào cản kỹ thuật trong thương mại quốc tế rất đa dạng và phức tạp

1.1.2.6 Nhóm các biện pháp bảo vệ thương mại tạm thời

Các biện pháp bảo vệ thương mại tạm thời hiện nay chủ yếu bao gồm các biện pháp tự vệ, chống trợ cấp và chống bán phá giá

(a) Biện pháp tự vệ: Theo đó các nước có thể hạn chế nhập khẩu tạm thời

bằng cách tăng thuế nhập khẩu hoặc áp dụng hạn chế định lượng nếu cơ quan điều tra của nước này chứng minh khối lượng hàng hóa nhập khẩu tăng lên đáng kể và gây tổn hại nghiêm trọng hoặc đe dọa gây tổn hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất nội địa đang sản xuất mặt hàng tương tự hoặc mặt hàng trực tiếp cạnh tranh Việc cho phép nâng mức độ bảo hộ tạm thời này giúp ngành sản xuất nội địa có đủ thời gian thích ứng trước sức cạnh tranh của hàng ngoại nhập Do đó thời hạn tối đa áp dụng biện pháp này cho một sản phẩm cũng chỉ kéo dài trong vòng 08 tháng

(b) Biện pháp chống trợ cấp:

Theo WTO trợ cấp được hiểu là bất kỳ hỗ trợ tài chính nào của Nhà nước hoặc một tổ chức công (Trung ương hoặc địa phương) dưới một trong các hình thức sau mang lại lợi ích cho các doanh nghiệp/ngành sản xuất: (i) Hỗ trợ trực tiếp bằng chuyển tiền vay (ví dụ n h ư cấp vốn, cho vay, góp cổ phần) hoặc hứa chuyển (ví dụ như bảo lãnh cho các khoản vay); (ii) Miễn hoặc cho qua những khoản thu lẽ ra phải đóng (ví dụ như ưu đãi thuế, tín dụng); (iii) Mua hàng, cung cấp các dịch vụ hoặc hàng hóa (trừ cơ sở hạ tầng chung); (iv) Thanh toán tiền cho một nhà tài trợ hoặc giao cho một đơn vị tư nhân tiến hành các hoạt động (i), (ii) và (iii) nêu trên theo cách mà chính phủ vẫn làm

Các khoản hỗ trợ này được hiểu là mang lại lợi ích cho đối tượng được hưởng

hỗ trợ nếu nó được thực hiện theo cách mà một nhà đầu tư tư nhân, một ngân hàng thương mại … bình thường sẽ không khi nào làm như vậy (vì đi ngược lại những tính toán thương mại thông thường) Theo quy định của WTO, trợ cấp là hình thức được

Trang 26

phép, nhưng là trong giới hạn và điều kiện nhất định Trợ cấp có thể chia t h à n h 0 3 loại trợ cấp và mỗi loại có quy chế áp dụng khác nhau:

Thứ nhất là trợ cấp bị cấm (hay còn gọi là trợ cấp đèn đỏ), trợ cấp bị cấm

bao gồm trợ cấp xuất khẩu và trợ cấp nhằm ưu tiên sử dụng hàng nội địa so với hàng nhập khẩu Hiện nay tất cả các thành viên của WTO đều cấm hai hình thức trợ cấp trên Trong đó, trợ cấp xuất khẩu được nhận dạng căn cứ vào kết quả xuất khẩu, ví

dụ thưởng xuất khẩu, trợ cấp nguyên liệu đầu vào để xuất khẩu, miễn thuế hoặc giảm thuế cao hơn mức mà sản phẩm tương tự bán trong nước được hưởng, ưu đãi bảo hiểm xuất khẩu, ưu đãi tín dụng xuất khẩu, v v

Thứ hai là loại trợ cấp không bị khiếu kiện (trợ cấp đèn xanh): trợ cấp không

bị khiếu kiện bao gồm: Trợ cấp không cá biệt: tức là các loại trợ cấp không hướng tới một (một nhóm) doanh nghiệp/ngành/khu vực địa lý nào Tiêu chí để hưởng trợ cấp là khách quan; không cho phép cơ quan có thẩm quyền cấp khả năng tuỳ tiện xem xét và không tạo ra hệ quả ưu đãi riêng đối với bất kỳ đối tượng nào

Các trợ cấp không bị khiếu kiện (dù cá biệt hay không cá biệt): Trợ cấp cho hoạt động nghiên cứu do các công ty, tổ chức nghiên cứu tiến hành (với một số điều kiện về loại và mức trợ cấp cụ thể); Trợ cấp cho các khu vực khó khăn (với tiêu chí xác định cụ thể về mức thu nhập bình quân hoặc tỷ lệ thất nghiệp); Trợ cấp nhằm hỗ trợ điều chỉnh các điều kiện sản xuất cho phù hợp với môi trường kinh doanh mới

Thứ ba là loại trợ cấp không bị cấm nhưng có thể bị khiếu kiện (còn gọi là

trợ cấp đèn vàng), trợ cấp không bị cấm nhưng có thể bị khiếu kiện bao gồm tất cả các loại trợ cấp có tính cá biệt (trừ các loại trợ cấp đèn xanh) Các nước thành viên

có thể áp dụng các hình thức trợ cấp này nhưng nếu gây thiệt hại cho nước thành viên khác hoặc ngành sản xuất sản phẩm tương tự của nước thành viên khác thì có thể bị kiện ra WTO

Thuế chống trợ cấp (còn gọi là thuế đối kháng) là khoản thuế bổ sung (ngoài thuế nhập khẩu thông thường) đánh vào sản phẩm nước ngoài được trợ cấp Đây chính là biện pháp chống trợ cấp (còn gọi là biện pháp đối kháng) nhằm vào các nhà sản xuất, xuất khẩu nước ngoài được trợ cấp (thông qua thủ tục điều tra chống trợ cấp do nước nhập khẩu tiến hành) chứ không nhằm vào chính phủ nước ngoài đã thực hiện việc trợ cấp WTO cũng quy định các cơ chế xử lý khác mang tính đa phương cho trường hợp này

Mức thuế chống trợ cấp được tính riêng cho từng nhà sản xuất, xuất khẩu

Trang 27

nước ngoài và không cao hơn biên độ trợ cấp xác định cho họ Trường hợp các nhà sản xuất, xuất khẩu nước ngoài không được lựa chọn để tham gia cuộc điều tra thì mức thuế chống trợ cấp áp dụng cho họ không cao hơn biên độ trợ cấp trung bình của tất

cả các nhà sản xuất, xuất khẩu nước ngoài được lựa chọn điều tra Mức thuế chống trợ cấp được rà soát lại sau khi áp thuế một thời gian, thường là theo từng năm Cơ quan

có thẩm quyển sẽ điều tra lại để xem xét tăng hoặc giảm mức thuế hoặc chấm dứt việc áp thuế chống trợ cấp nếu có yêu cầu Việc áp thuế chống trợ cấp không được kéo dài quá 05 năm kể từ ngày có quyết định áp thuế hoặc kể từ ngày tiến hành rà soát lại trừ khi cơ quan có thẩm quyền nhận thấy rằng việc chấm dứt áp thuế sẽ dẫn đến việc tái trợ cấp hoặc gây thiệt hại

Không phải lúc nào nước nhập khẩu cũng được áp dụng biện pháp chống trợ cấp đối với nhà sản xuất, xuất khẩu khi có hiện tượng hàng hóa của nhà sản xuất, xuất khẩu đó được trợ cấp

Theo quy định của WTO thì việc áp dụng biện pháp chống trợ cấp chỉ được thực hiện nếu cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu sau khi tiến hành điều tra, ra kết luận khẳng định sự tồn tại đồng thời của 03 điều kiện: Hàng hóa nhập khẩu được trợ cấp (với biên độ trợ cấp – tức trị giá phần trợ cấp trên giá hàng hóa liên quan không thấp hơn 01%); Ngành sản xuất của nước nhập khẩu bị thiệt hại đáng kể hoặc

bị đe dọa thiệt hại đáng kể hoặc ngăn cản đáng kể sự hình thành của ngành sản xuất trong nước (gọi chung là yếu tố “thiệt hại”); Có mối quan hệ nhân quả giữa việc hàng nhập khẩu được trợ cấp và thiệt hại nói trên Các vấn đề về trình tự, thủ tục kiện chống trợ cấp và các điều kiện áp dụng được quy định tại hiệp định SCM bao gồm các nguyên tắc chung có liên quan đến trợ cấp, biện pháp đối kháng (mà tất cả các thành viên WTO phải tuân thủ) ngoài ra pháp luật của từng quốc gia cũng quy định cụ thể

về trình tự, thủ tục và điều kiện áp dụng của biện pháp đối kháng

(c) Biện pháp chống bán phá giá:

Kế thừa Hiệp định GATT (Hiệp định chung về Thuế quan và Mậu dịch), Hiệp định về Chống Bán phá giá trong khuôn khổ của WTO năm 1994 đã định nghĩa:

“Một sản phẩm bị coi là bán phá giá nếu n hư giá xuất khẩu của sản phẩm đó được

xuất khẩu từ một nước này sang một nước khác thấp hơn mức giá có thể so sánh được của sản phẩm tương tự tiêu dùng tại nước xuất khẩu theo các điều kiện thương mại thông thường”

- Các biện pháp chống lại hành động bán phá giá: Bao gồm các biện pháp

Trang 28

tạm thời; các cam kết; và biện pháp chính thức

+ Các biện pháp tạm thời: Biện pháp này có thể được áp dụng dưới các hình thức như thuế hoặc đặt cọc khoản tiền tương đương với khoản thuế chống bán phá giá

dự kiến; hoặc cho thông quan nhưng bảo lưu quyền đánh thuế và nêu rõ mức thuế nhập khẩu thông thường và mức thuế chống bán phá giá dự kiến sẽ áp dụng Các biện pháp tạm thời được áp dụng khi:

 Cơ quan điều tra tiến hành điều tra theo đúng thủ tục, gửi thông báo và tạo điều kiện cho các bên quan tâm cung cấp thông tin và trình bày ý kiến;

 Có kết luận sơ bộ về việc xảy ra bán phá giá và dẫn đến thiệt hại cho ngành sản xuất trong nước;

 Cơ quan điều tra kết luận rằng biện pháp tạm thời là cần thiết để ngăn chặn thiệt hại trong quá trình điều tra

Biện pháp tạm thời chỉ được áp dụng sớm nhất là 60 ngày sau khi bắt đầu điều tra và sẽ duy trì càng ngắn càng tốt, không được quá 04 tháng hoặc trong trường hợp cần thiết thì cũng không được quá 06 tháng Trường hợp cơ quan điều tra xác định rằng khoản thuế thấp hơn biên độ phá giá đã đủ để khắc phục thiệt hại thì thời hạn áp dụng biện pháp tạm thời có thể là 06 hoặc 09 tháng

+ Các cam kết: Việc điều tra có thể ngừng hoặc kết thúc mà không cần áp dụng biện pháp tạm thời hoặc thuế chống bán phá giá nếu các nhà xuất khẩu tự nguyện cam kết tăng giá hoặc ngừng xuất khẩu phá giá vào thị trường đang điều tra và được cơ quan điều tra nhất trí rằng biện pháp này sẽ khắc phục được thiệt hại

Cơ quan điều tra sẽ không chấp nhận cho các nhà xuất khẩu cam kết giá nếu thấy việc cam kết là không khả thi Nếu cơ quan điều tra chấp nhận việc cam kết giá thì cuộc điều tra phá giá vẫn có thể được hoàn tất nếu nhà xuất khẩu muốn như vậy và cơ quan điều tra đồng ý Trong trường hợp này, nếu điều tra đi đến kết luận là không phá giá hoặc không gây thiệt hại thì việc cam kết sẽ đương nhiên chấm dứt

Cơ quan điều tra có thể đề nghị nhà xuất khẩu cam kết giá nhưng nhà xuất khẩu không bắt buộc phải cam kết

+ Biện pháp chính thức: Nếu kết quả điều tra chính thức đi đến quyết định

cuối cùng cho thấy có sự tồn tại việc bán phá giá, tổn thất cho ngành sản xuất sản phẩm tương tự ở trong nước do việc bán phá giá gây ra và có mối quan hệ nhân quả giữa chúng, thì quyết định cuối cùng sẽ là quy định thu thuế Chống bán phá giá chính thức đối với tất cả các nguồn bị coi là bán phá giá và gây tổn hại, trừ những nguồn đã

Trang 29

có cam kết và được chấp nhận

Cơ quan điều tra sẽ tính thuế chống bán phá giá một cách riêng lẻ cho mỗi nhà sản xuất hay xuất khẩu hàng nhập khẩu bán phá giá Trong trường hợp cơ quan điều tra giới hạn việc xem xét, thì bất kỳ khoản thuế chống bán phá giá nào được áp dụng với hàng nhập khẩu từ nhà sản xuất hay xuất khẩu không có trong danh sách xem xét sẽ không vượt qua biên độ phá giá trung bình được xác định đối với những nhà sản xuất hay xuất khẩu được chọn

Mức thuế chống bán phá giá chính thức không vượt quá biên độ phá giá đã được xác định trong quyết định cuối cùng, tốt nhất là mức thuế thấp hơn biên độ phá giá cuối cùng, nếu nó đủ để khắc phục thiệt hại do hành động bán phá giá gây ra Công ty bị điều tra hành động bán phá giá sẽ được hưởng một tỷ lệ thuế đặc biệt thấp hơn nếu cung cấp tài liệu đúng hạn để phục vụ cho việc phân tích của cơ quan điều tra (trả lời tự nguyện), trừ khi các tài liệu đó không thể sử dụng được

Thuế chống bán phá giá có thể được áp dụng thu trên những sản phẩm được nhập khẩu để tiêu thụ trong thời gian không quá 90 ngày trước khi áp dụng các biện pháp tạm thời nếu cơ quan có thẩm quyền xác định sản phẩm được bán phá giá, chẳng hạn như:

 Đã từng bán phá giá gây thiệt hại hoặc người nhập khẩu đã biết hoặc sau

đó biết rằng người xuất khẩu bán phá giá và việc bán phá giá này gây ra thiệt hại;

 Thiệt hại nghiêm trọng gây ra bởi lượng hàng bán phá giá lớn trong khoảng thời gian ngắn Điều chỉnh thuế chống bán phá giá sẽ được áp dụng với điều kiện là các nhà nhập khẩu có liên quan đã có cơ hội để phát biểu ý kiến phản biện

Thời gian thu thuế chống bán phá giá là 05 năm Thời gian này có thể được rút ngắn nếu bên có liên quan chứng minh được rằng thiệt hại do bán phá giá sẽ không xảy

ra nữa khi bãi bỏ việc áp thuế chống bán phá giá Hết thời hạn 05 năm, nếu cơ quan có thẩm quyền phát hiện ra tình trạng bán phá giá sẽ phát sinh và gây thiệt hại trong trường hợp chấm dứt thu thuế chống bán phá giá thì thuế chống bán phá giá sẽ tiếp tục có hiệu lực trong một thời hạn 05 năm nữa

- Thực trạng bán phá giá trên thế giới trong thời gian qua:

Năm 1994, vòng đàm phán Uruguay kết thúc với sự ra đời của WTO và một

số hiệp định liên quan đến thương mại quốc tế, trong đó có Hiệp định về chống bán

Trang 30

phá giá của WTO Đây chính là cơ sở pháp luật quốc tế mà các nước thành viên WTO phải tuân theo khi thực thi và áp dụng biện pháp chống bán phá giá Các nước chưa là thành viên WTO cũng được khuyến nghị nên thực hiện theo các quy định của WTO, trong đó có quy định liên quan đến chống bán phá giá Các vụ kiện bán giá xảy ra trên thế giới ngày càng tăng về số lượng chủ thể tham gia và ngày càng mở rộng phạm vi hàng hoá áp dụng Không phải tất cả các cuộc điều tra chống bán phá giá đều

có kết luận dẫn đến áp dụng thuế chống bán phá giá Số lượng lớn các cuộc điều tra chống bán phá giá cũng phần nào cho thấy biện pháp bán phá giá để chiếm lĩnh thị trường trong chiến lược kinh doanh của các công ty, tập đoàn, hay của một số nước riêng biệt nào đó Tuy nhiên, trước áp lực cạnh tranh ngày càng gay gắt cho hàng hóa nội địa, nhiều quốc gia đã tăng cường sử dụng các biện pháp bảo đảm thương mại công bằng của WTO, trong đó có chống bán phá giá

Bảng 1.1 Các nước bị kiện tiêu biểu (Từ tháng 01/1955 đến tháng 6/2010)

1.2 ĐẶC ĐIỂM CỦA NHỮNG RÀO CẢN PHI THUẾ QUAN

Theo quan điểm của hai tác giả Deardorff and Stern [10] thì rào cản phi thuế quan có một loạt những đặc điểm quan trọng sau đây:

- Làm giảm lượng nhập khẩu

- Làm tăng giá hàng hóa nhập khẩu Những rào cản phi thuế quan thành công trong việc giảm lượng nhập khẩu tới mức độ là chúng làm tăng giá thực tế và giá chìm của những sản phẩm nhập khẩu đối với những người có nhu cầu

- Sự đa dạng của những rào cản phi thuế quan Các rào cản phi thuế quan phong phú về hình thức Nhờ đặc điểm này mà phạm vi ảnh hưởng của rào cản phi

Trang 31

thuế quan sẽ thay đổi theo thời gian, khả năng và mức độ đáp ứng mục tiêu của chúng

Do đó, nếu một quốc gia sử dụng rào cản phi thuế quan để phục vụ một mục tiêu cụ thể nào đó sẽ có nhiều sự lựa chọn mà không bị bó hẹp trong khuôn khổ một công cụ duy nhất như thuế quan

- Sự không chắc chắn, rõ ràng của những rào cản phi thuế quan Phần lớn chính sách của chính phủ là không rõ ràng trong việc thi hành, điều này dường như rất đúng đối với những rào cản phi thuế quan Quả vậy, một vài ví dụ thực tế như những cuộc điều tra chống bán phá giá và thuế đối kháng được nhận dạng là những rào cản phi thuế quan hoàn toàn đúng nghĩa bởi sự không rõ ràng mà chúng áp đặt cho thương mại quốc tế Mặc dù những rào cản đó có thể hạn chế thương mại một cách rõ ràng, nhưng có thể là ngược lại nếu chúng được thi hành một cách không rõ ràng Tầm quan trọng của sự không rõ rằng và chắc chắn của rào cản phi thuế quan là rất dễ hiểu đối với những người kinh doanh thương mại hiện nay

- Chi phí cho tổn thất xã hội do những rào cản phi thuế quan gây ra

- Những nguồn chi phí khác do rào cản phi thuế quan gây ra Ngoài chi phí về tổn thất theo quan điểm truyền thống thì cũng có một vài chi phí phát sinh liên quan đến việc thực thi hàng rào phi thuế quan Đầu tiên là những chi phí để vận hành trực tiếp chúng, ví dụ như những nguồn lực để rào cản phi thuế quan được thi hành Thứ hai, những nguồn lực bị mất để tìm kiếm sự bảo hộ và những hiện tượng liên quan Đó

là thời gian và những nguồn lực khác bị lãng phí khi những cá nhân và hãng sản xuất tìm kiếm sự bảo đảm cơ hội lợi nhuận và những lợi ích khác được tạo ra từ một rào cản phi thuế quan

Bên cạnh những đặc điểm nêu trên thì rào cản phi thuế còn có một số đặc điểm nổi bật khác như:

- Một hàng rào phi thuế quan có thể đồng thời đáp ứng nhiều mục tiêu với hiệu quả cao Mỗi quốc gia thường theo đuổi nhiều mục tiêu trong chính sách kinh tế, thương mại của mình, bao gồm:

+ Bảo hộ sản xuất trong nước, khuyến khích phát triển một số ngành nghề + Bảo đảm an toàn sức khỏe con người, động thực vật, môi trường

+ Hạn chế tiêu dùng

+ Đảm bảo cân bằng cán cân thanh toán

+ Đảm bảo an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội

+ Để đáp lại hành động thương mại không bình đẳng…

Trang 32

Các hàng rào phi thuế quan có thể đồng thời phục vụ hiệu quả nhiều mục tiêu khác nhau nêu trên trong khi công cụ thuế quan không khả thi hoặc không hữu hiệu để thực hiện

- Hình thức thể hiện của các hàng rào phi thuế quan rất phong phú nên nhiều hàng rào phi thuế quan chưa chịu sự điều chỉnh của các quy tắc thương mại Các rào cản phi thuế quan thường mang tính “mập mờ” nên dù tác động của chúng có thể lớn nhưng lại là tác động ngầm và được che đậy hoặc biện hộ bằng cách này hoặc cách khác Hiện nay, các hiệp định của WTO chỉ mới điều chỉnh việc sử dụng một số hàng rào phi thuế quan nhất định Theo đó, tất cả các hàng rào phi thuế quan hạn chế định lượng đều không được phép

Một số hàng rào phi thuế quan tuy nhằm mục tiêu hạn chế nhập khẩu và bảo

hộ sản xuất trong nước nhưng vẫn được WTO cho phép áp dụng với điều kiện tuân thủ những quy định cụ thể, tính rõ ràng và khách quan Chẳng hạn như các tiêu chuẩn kỹ thuật, biện pháp kiểm dịch động thực vật, biện pháp tự vệ, thuế chống bán phá giá, các biện pháp chống trợ cấp, thuế đối kháng và một số hình thức hỗ trợ nông nghiệp Thậm chí với những hàng rào phi thuế quan chưa xác định được là có phù hợp hay không với các quyết định của WTO, các nước vẫn có thể tiếp tục áp dụng mà chưa bị yêu cầu cắt giảm hay loại bỏ Những hàng rào phi thuế quan này có thể do WTO chưa

có quyết định điều chỉnh hoặc có nhưng rất chung chung và trên thực tế rất khó có thể xác định được tính phù hợp của những hàng rào phi thuế đó

- Dự đoán việc áp dụng các hàng rào phi thuế quan là rất khó khăn, vì trên thực tế chúng thường được vận dụng trên cơ sở dự đoán chủ quan, đôi khi tùy tiện của nhà chức trách về sản xuất và nhu cầu tiêu thụ trong nước

Bên cạnh đó, các hàng rào phi thuế quan đôi khi cũng làm nhiễu tín hiệu của thị trường mà người sản xuất dựa vào đó để ra quyết định Chẳng hạn như giá thị trường, khi bị làm sai lệch, nó sẽ không phản ánh trung thực về lợi thế cạnh tranh thật

sự, chỉ dẫn sai việc phân bổ nguồn lực trong nội bộ nền kinh tế Do đó, khả năng xây dựng kế hoạch đầu tư, sản xuất, kinh doanh hiệu quả trong trung và dài hạn của những nhà sản xuất bị hạn chế

Tác động của các hàng rào phi thuế quan thường khó có thể lượng hóa được rõ ràng như tác động của thuế quan Bản thân mức độ bảo hộ của mỗi hàng rào phi thuế quan cũng chỉ có thể được ước lượng một cách tương đối Cũng vì mức độ bảo hộ của các hàng rào phi thuế quan không dễ xác định nên rất khó xác định một lộ trình tự do

Trang 33

hóa thương mại rõ ràng như với bảo hộ bằng thuế quan

1.3 ẢNH HƯỞNG CỦA RÀO CẢN PHI THUẾ QUAN

Mặc dù có nhiều lý do biện hộ cho việc áp dụng rào cản phi thuế quan, nhưng tựu chung chúng ta có thể khẳng định rào cản phi thuế quan có ảnh hưởng nhất định đến hoạt động thương mại, cả tích cực lẫn tiêu cực cho các bên có liên quan

1.3.1 Ảnh hưởng tích cực đối với hoạt động xuất khẩu:

Nói đến rào cản thương mại người ta thường nghĩ đến yếu tố tiêu cực của nó đối với hoạt động xuất khẩu, nhưng thực tế chúng cũng có nhiều tác động tích cực đến hoạt động xuất khẩu:

- Rào cản thương mại nói chung và rào cản phi thuế quan nói riêng sẽ kích thích doanh nghiệp giảm chi phí kinh doanh để có thể bán được sản phẩm trong điều kiện bị áp thuế nhập khẩu cao cộng với các chi phí để đáp ứng các rào cản phi thuế quan được quốc gia nhập khẩu đưa ra

- Rào cản phi thuế quan kích thích các doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ, kỹ thuật, để tạo ra các sản phẩm đáp ứng yêu cầu của nước nhập khẩu về chất lượng, về các tiêu chuẩn môi trường, về vệ sinh an toàn thực phẩm… nhờ đó mà nâng cao uy tín sản phẩm trên thị trường trong và ngoài nước

- Rào cản phi thuế quan kích thích các doanh nghiệp xây dựng các tiêu chuẩn quản trị chất lượng sản phẩm ở doanh nghiệp như xây dựng tiêu chuẩn G.A.P, ISO, HACCP, GMP…, xây dựng thương hiệu, nhãn mác và quan tâm đến việc xác lập quyền sở hữu trí tuệ… để vượt qua các rào cản thương mại mang tính kỹ thuật từ nước nhập khẩu

- Rào cản phi thuế quan được lập ở chính nước xuất khẩu giúp ngăn chặn những sản phẩm có chất lượng không đảm bảo, sử dụng nguyên vật liệu không phù hợp ra thị trường thế giới nhằm bảo vệ uy tín quốc gia trong hoạt động thương mại quốc tế Ngoài ra, những biện pháp được áp dụng giúp Chính phủ ở nước xuất khẩu tham gia điều tiết hoạt động xuất khẩu Ví dụ: bằng biện pháp tạm dừng xuất khẩu những mặt hàng nhạy cảm trong các trường hợp cần thiết, giúp Chính phủ lập lại cân đối cung cầu trong nước, góp phần ổn định hoạt động kinh tế - xã hội [6]

1.3.2 Tác động hạn chế của các rào cản phi thuế quan đối với hoạt động xuất khẩu:

Khi xem xét mối quan hệ giữa rào cản phi thuế quan và hoạt động thương mại phải hoàn toàn thừa nhận rằng rào cản phi thuế quan có khả năng gây nên những trở

Trang 34

ngại cho hoạt động thương mại [11] Những ảnh hưởng thương mại của rào cản phi thuế quan có thể dễ dàng được phân thành 03 loại như sau:

 Những rào cản đó ngăn cản hoạt động thương mại do áp đặt một lệnh cấm nhập khẩu hoặc do việc tăng cao những chi phí sản xuất và marketing

 Những rào cản đó làm đổi hướng hoạt động thương mại từ một đối tác thương mại này sang một đối tác khác bởi việc đặt ra quy định phân biệt đối xử giữa các nhà cung cấp tiềm năng

 Những rào cản đó là những biện pháp làm giảm hoạt động thương mại bằng cách làm tăng chi phí hoặc nâng cao những rào cản cho tất cả những nhà cung cấp tiềm năng muốn xâm nhập thị trường

Dẫn đến hậu quả hàng hóa xuất khẩu bị hạn chế hoặc không được chấp nhận tại thị trường nhập khẩu, doanh nghiệp mất nhiều thời gian và chi phí để đáp ứng những rào cản phi thuế quan, làm giảm sức cạnh tranh của sản phẩm Ở tầm quốc gia

sẽ dẫn đến các cuộc chiến thương mại, thực hiện các biện pháp trả đũa lẫn nhau

Xuất phát từ quan điểm xem rào cản thương mại là một thực tế khách quan và các doanh nghiệp cần có những chuyển động để thích ứng với chúng Trong nghiên cứu này, học viên tập trung khai thác ở khía cạnh rào cản phi thuế quan làm phát sinh những chi phi thích ứng đối với doanh nghiệp, từ đó tác động làm méo mó hoạt động thương mại Hay nói cách khác, chi phí thích ứng chính là biểu hiện cho sự cản trở của rào cản phi thuế quan đối với hoạt động xuất khẩu Chi phí để đáp ứng rào cản phi thuế quan bao gồm:

- Chi phí thích ứng: Đó là những chi phí cần thiết mà một công ty/ doanh

nghiệp phải bỏ ra để đáp ứng những tiêu chuẩn, quy định của thị trường nhập khẩu Những chi phí này có thể bao gồm: những chi phí để điều chỉnh, thay đổi đối với sản phẩm và hoạt động sản xuất nhằm đáp ứng những yêu cầu của thị trường nhập khẩu hoặc thực hiện những thủ tục đánh giá sự tuân thủ cả trước khi xuất khẩu lẫn tại cảng đến (cảng của quốc gia xuất khẩu đến)

- Chi phí sản xuất khác: Sự khác biệt trong những tiêu chuẩn hoặc những thủ

tục đánh giá sự tuân thủ cũng có khả năng tạo ra những chi phí sản xuất tăng thêm đối với nhà xuất khẩu Thứ nhất, mức độ tiết kiệm chi phí sẽ bị suy giảm do doanh nghiệp cần sản xuất một sản phẩm riêng biệt cho thị trường nội địa Thứ hai, vốn dành cho việc sản xuất theo những tiêu chuẩn tại thị trường nội địa của nhà xuất khẩu dường như kém hiệu quả hơn so với việc sản xuất theo những tiêu chuẩn kỹ thuật tại thị

Trang 35

trường nhập khẩu

Ở thị trường nào mà những tiêu chuẩn và thủ tục tuân thủ làm chi phí cung cấp của nhà xuất khẩu vượt xa so với nhà sản xuất nội địa, nó sẽ trở thành một rào cản thương mại thật sự Đối với một vài sản phẩm xuất khẩu được bán với giá trung bình, những chi phí thích ứng tăng thêm sẽ đóng vai trò như một rào cản khi chúng làm cho giá của sản phẩm vượt quá giá trung bình Thậm chí những chi phí thích ứng tăng thêm sẽ làm giảm khả năng cạnh tranh và doanh thu của các nhà xuất khẩu tại các quốc gia khác Trong một vài trường hợp những tiêu chuẩn và những thủ tục này tạo ra

sự phân biệt đối xử, thiên vị dành cho những nhà sản xuất trong nước và chống lại những nhà xuất khẩu nước ngoài Những tiêu chuẩn và quy định của một quốc gia sẽ phản ánh thể chế thương mại của quốc gia đó Thật vậy, những nhà sản xuất trong nước đã quen thuộc với việc hoạt động theo những thể chế đó Tuy nhiên, đối với nhà sản xuất nước ngoài cần phải học hỏi và dần trở nên quen với những thủ tục khác biệt

so với những cái được thực hiện ở đất nước họ Những chi phí thích ứng tăng thêm sẽ cực kỳ cao tại nơi có sự khác biệt về ngôn ngữ và những thủ tục thì thật sự thiếu tương thích hoặc thường xuyên thay đổi

Ví dụ: Những tác động làm méo mó hoạt động thương mại của những quy định SPS và TBT chủ yếu đến từ những chi phí để thích ứng và những yêu cầu về chứng nhận Thực tế, nhiều nghiên cứu đã được thực hiện nhằm ước tính những chi phí thích ứng đối với biện pháp SPS và TBT Tài liệu của FAO tại hội nghị lần thứ 06 của WTO cho thấy những chi phí thích ứng đối với những biện pháp phi thuế quan, đặc biệt là những biện pháp SPS, đã vượt qua tổng ngân sách dành cho phát triển của chính phủ tại một vài quốc gia kém phát triển [13]

Hai tác giả Aloui và Kenny đã ước tính chi phí thích ứng khoảng 03% trên tổng giá trị xuất khẩu của Maroc, trong khi đó tác giả Cato cùng với Otwell và Coze tìm thấy một chi phí ít hơn 03% giá trị xuất khẩu để thiết lập những biện pháp thích ứng về chất lượng và chi phí để duy trì việc thích ứng ít hơn 01% trên tổng giá trị tôm xuất khẩu của Nicaraqua [13]

Những thủ tục đánh giá việc tuân thủ khi xuất khẩu vào thị trường EU tạo ra những chi phí cho doanh nghiệp thủy sản Trước khi xuất khẩu vào thị trường EU, những nhà xuất khẩu sẽ chịu sự giám sát của một hệ thống kiểm tra trước, theo đó cơ quan có thẩm quyền tại nước xuất khẩu sẽ chứng nhận rằng các doanh nghiệp của họ tuân thủ những tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm ít nhất là ngang với những tiêu

Trang 36

chuẩn do EU quy định

Hình 1.1 Quy trình thủ tục đánh giá việc tuân thủ khi các doanh nghiệp xuất khẩu

thủy sản tới EU (Nguồn [11]) 1.4 NHỮNG NHÂN TỐ CẢN TRỞ DOANH NGHIỆP TRONG VIỆC ĐÁP ỨNG CÁC RÀO CẢN PHI THUẾ QUAN

Tác giả Henson và cộng sự đã đề cập tới một vấn đề rất đáng quan tâm khi nghiên cứu về ảnh hưởng của rào cản phi thuế quan (thường đúng với biện pháp SPS

và TBT) đó là những nhân tố cản trở doanh nghiệp trong việc đáp ứng những yêu cầu, quy định phi thuế quan tại thị trường nhập khẩu [11]

1.4.1 Tiếp cận những nguồn lực để đáp ứng những tiêu chuẩn

Một vấn đề lớn mà những quốc gia đang phát triển phải đối mặt là việc tiếp cận những nguồn lực để đáp ứng các tiêu chuẩn SPS tại thị trường nhập khẩu Những nguồn lực này bao gồm: thông tin về chính tiêu chuẩn SPS, những kiến thức về khoa học và kỹ thuật, kỹ thuật và công nghệ thích hợp, đội ngũ lao động có kỹ năng, những vấn đề về tài chính nói chung… Nếu những nguồn lực này không sẵn có tại địa phương, chúng có thể được tìm thấy ở nước ngoài, nhưng chi phí cho việc đáp ứng sẽ tăng lên một cách đáng kể Đối với những doanh nghiệp vừa và nhỏ, những chi phí này dường như là quá cao so với mức chịu đựng của họ

DN/ nhà máy được chấp thuận

Những tiêu chuẩn

của quốc gia/ EU

Thanh kiểm tra bởi nước xuất khẩu

Kiểm tra bởi chính quyền EU

Kiểm tra tại biên giới

Sự kiểm tra bắt buộc của cơ quan có thẩm quyền

Sự kiểm tra bắt buộc của cơ quan có thẩm quyền

Sự kiểm tra bắt buộc của cơ quan có thẩm quyền

Trang 37

Tình huống sau đây minh họa cho điều này: Việc đáp ứng những tiêu chuẩn SPS đối với thịt đông lạnh và tươi của Ấn Độ Ấn Độ từng không được đồng ý để xuất khẩu thịt tươi và đông lạnh vào EU Tuy nhiên, một vài công ty đã nâng cấp những tiêu chuẩn SPS của họ để đáp ứng những yêu cầu của EU Một công ty được phỏng vấn đã trả lời những vấn đề gặp phải để nhận được những kiến thức về kỹ thuật và những trang thiết bị sản xuất hiện đại Họ đã phải mời những chuyên gia từ Newzealand và Úc đồng thời nhập khẩu những thiết bị với giá cao Để lấy lại những chi phí này, công ty này của Ấn Độ đã phải mở rộng thị trường tới những thị trường có giá trị cao, đặc biệt là Trung Đông

1.4.2 Thời gian cho phép để đáp ứng:

Thời gian cho phép đối với việc đáp ứng những tiêu chuẩn SPS của những nước phát triển là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến chi phí thích ứng Nhiều quốc gia đang phát triển yêu cầu kéo dài thời hạn tuân thủ theo những quy định, một phần là do bị giới hạn về những nguồn lực Nếu những nhà xuất khẩu không đáp ứng trong thời hạn cho phép, họ có khả năng không được xuất khẩu hàng hóa đến quốc gia

đó Trong một thời gian ngắn như vậy, những chi phí được biểu hiện qua thu nhập bị mất đi có thể rất quan trọng Các nhà xuất khẩu cũng có thể mất khách hàng hoặc mất thị phần và ảnh hưởng đến kết quả xuất khẩu của doanh nghiệp trong một khoảng thời gian dài

Điển hình như xuất khẩu tôm của Ấn Độ vào EU Một nhà xuất khẩu tôm lớn của nước này đã phải chịu những tổn thất kinh tế đáng kể do việc phải đáp ứng những tiêu chuẩn vệ sinh của EU Xuất phát từ việc nâng lệnh cấm của EU đối với nhà xuất khẩu vào tháng 12 năm 1997 Công ty này đã nộp đơn yêu cầu cho việc được chấp nhận xuất khẩu vào EU từ cơ quan có thẩm quyền Tuy nhiên, những thay đổi được yêu cầu bởi cơ quan có thẩm quyền trước khi nhận được sự chấp thuận đã làm cho công ty mất một khoảng thời gian đáng kể để thực hiện Kết cục, công ty không thể xuất khẩu vào thị trường EU trong một khoảng thời gian dài hơn (thêm 03 tháng) và trong suốt khoảng thời gian đó, những đối thủ cạnh tranh lớn, những doanh nghiệp đã nhận được sự chấp thuận, đã bắt đầu việc xuất hàng vào thị trường EU Những chi phí

về kinh tế là quá lớn đến nỗi đe dọa đến khả năng xuất khẩu của doanh nghiệp

1.4.3 Phản ứng từ Chính phủ tại các quốc gia đang phát triển

Một vài nhà xuất khẩu được phỏng vấn trong nghiên cứu của tác giả Henson

đã cho rằng chính phủ của họ quá chậm trong việc phản ứng lại với những thay đổi

Trang 38

trong tiêu chuẩn SPS tại những thị trường xuất khẩu chính Hậu quả là khoảng thời gian để cho các doanh nghiệp xuất khẩu đáp ứng những yêu cầu bị giảm rõ rệt, chi phí

và tổn thất tăng lên, thậm chí trong một số trường hợp là rất nghiêm trọng làm cho khả năng xuất khẩu của doanh nghiệp bị hạn chế

Ví dụ minh họa: vào năm 1997, trong ngành thủy sản của Ghana, khu vực những doanh nghiệp tư nhân đã chỉ trích về việc thiếu những bước chuẩn bị cho những quy định mới, mặc dù EU đã cho phép một khoảng thời gian thỏa đáng để thực hiện Đầu năm 1998 việc xuất khẩu bị ngừng theo ý kiến của của Ủy ban tiêu chuẩn của Ghana Một đoàn thanh tra thủy sản của EU đã đến vào tháng 02 năm 1998 Vào tháng

06 năm 1998, Ủy ban tiêu chuẩn Ghana được sự chấp thuận của EU trở thành cơ quan

có thẩm quyền để cấp giấy phép cho những doanh nghiệp và những chuyến tàu xuất khẩu đến EU Nhiều nhà máy và chuyến hàng đã được chấp thuận và hoạt động vận tải bằng đường biển đã được tái khởi động, nhưng đến tháng 01 năm 1999 Ghana vẫn chưa thể quay về mức xuất khẩu như trước đây

1.4.4 Bản chất của chuỗi marketing

Những thủ tục đánh giá việc chấp hành những biện pháp SPS thì rất khó và tốn nhiều chi phí để áp dụng đối với chuỗi cung ứng của những nước đang phát triển Chuỗi cung ứng có xu hướng quá dài, quá phân tán và manh mún hơn so với những quốc gia phát triển Kết quả là việc thiết lập hệ thống truy xuất nguồn gốc và đảm bảo chất lượng nguồn cung ứng là hầu như không thể, đặc biệt tại những doanh nghiệp nhỏ Tình huống xuất khẩu thịt bò của Zimbabue tới thị trường EU Zimbabue đã rất thành công trong việc đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu thịt bò vào EU Tuy nhiên, phần lớn thịt bò được xuất khẩu bởi những doanh nghiệp/ nông trại lớn Mức độ tham gia của những nông trại nhỏ là rất thấp

Những tiêu chuẩn được áp đặt bởi EU yêu cầu phải truy nguyên nguồn gốc của gia súc trong chuỗi cung cấp Ví dụ: doanh nghiệp xuất khẩu được yêu cầu chứng minh rằng gia súc từ khu vực không bị bệnh bò điên và khu vực an toàn với nhiều dịch bệnh Hơn nữa, những yêu cầu gần đây đối với việc truy xuất nguồn gốc của từng cá thể trong chuỗi cung cấp bắt buộc phải có cả mã kí hiệu và thẻ đính trên tai của gia súc Chi phí cho việc đáp ứng những yêu cầu này có thể quá mức đối với những doanh nghiệp nhỏ Hơn nữa, chi phí để thực hiện sẽ thấp đi rõ rệt nếu những động vật (gia súc) được mua từ một số lượng nhỏ những trang trại được thiết lập quan hệ sẵn Hiển nhiên, những doanh nghiệp xuất khẩu có xu hướng chấp nhận nguồn cung cấp từ

Trang 39

những nhà cung cấp lớn hơn là từ những nhà cung cấp nhỏ bất kể nơi đâu sẵn có tại Ghana

1.4.5 Phương pháp sản xuất

Đôi khi những tiêu chuẩn SPS của EU không tương thích với hệ thống sản xuất tại những nước đang phát triển Những hệ thống này cần được thay đổi nhanh chóng để đáp ứng Mức độ quan trọng của những đầu tư mới được yêu cầu thì vượt quá bản chất của vấn đề Ví dụ: những vấn đề liên quan đến thời tiết như thời tiết quá nóng, cơ sở hạ tầng yếu kém…

1.4.6 Những vấn đề về hậu cần và vận chuyển

Vận chuyển trong trường hợp bằng đường hàng không đối với những sản phẩm dễ hỏng, có thể được xem là một rào cản lớn cho những sản phẩm đã đáp ứng những yêu cầu SPS Minh họa về tình huống của Kenya: Vấn đề chính mà những doanh nghiệp xuất khẩu vào thị trường EU của quốc gia này phải đối mặt là vận chuyển Đối với những nhà xuất khẩu nhỏ, vấn đề này càng lớn hơn nữa.Thực tế, năng lực của ngành hàng không quá yếu đến nỗi sản phẩm của họ được vận chuyển đến Pháp phải qua trung chuyển ở Ý Phải mất nhiều thời gian hơn để vận chuyển hàng hóa đến Pháp và làm tăng chi phí, giảm giá thực nhận của nhà xuất khẩu tới mức gần với lợi nhuận biên Một số nhà xuất khẩu tại quốc gia này đã nói rằng những doanh nghiệp mới và ở quy mô nhỏ không có nguồn lực nào khác như những công ty lớn Vấn đề này là do sự bất cập của ngành hàng không Vấn đề này chỉ rõ sự thiếu hụt cơ

sở vật chất và nguồn lực cần thiết để chắc chắn rằng sản phẩm vẫn đảm bảo những yêu cầu vệ sinh suốt chuỗi cung ứng

1.4.7 Tiếp cận thông tin

Mặc dù việc tham gia để tiếp cận thông tin và hiệu quả của việc làm này đã được viện dẫn, nhưng tiếp cận thông tin về những yêu cầu SPS tại thị trường nước ngoài vẫn có thể là một vấn đề Nó có thể gây nên sự chậm trễ hoặc khó khăn cho doanh nghiệp Tại các quốc gia châu Á Thái Bình Dương có sự tiếp cận khá tốt đối với những thông tin về những biện pháp SPS của EU Tuy nhiên một số nước đang phát triển khác việc này là hết sức khó khăn Tình huống về khả năng tiếp cận thông tin tại Ghana: năm 1996 văn phòng chính phủ của Ghana thông báo rằng những quy định mới của EU đã được thông qua và có hiệu lực vào ngày 01 tháng 7 năm 1997 Trong

đó hệ thống HACCP sẽ được yêu cầu đối với thủy sản nhập khẩu của EU Tuy nhiên,

do việc thực hiện được trì hoãn 01 năm cho những quốc gia châu Á và Thái Bình

Trang 40

Dương Ghana nhận được thông tin về quy định mới này thông qua những hiệp định được ký kết với EU tại Brusel, đại sứ của nước này tại Brusel và cả thông qua văn phòng của Hội đồng Châu Âu tại Ghana Liên minh châu Âu đã đưa ra những trợ giúp đáng kể vào năm 1997 Chính phủ Ghana rõ ràng tin tưởng họ đã được lợi từ kênh thông tin với EU như những quốc gia châu Á – Thái Bình Dương và những quốc gia khác phải tốn nhiều nỗ lực hơn để đáp ứng những yêu cầu của EU Mặc dù, những tiêu chuẩn của quốc gia và quốc tế được xem là những vấn đề quan trọng, nhưng yêu cầu của hải quan cũng không kém phần quan trọng Nếu không nói là rất quan trọng trong nhiều trường hợp Hải quan có thể là một nguồn thông tin quan trọng và chuyên về những quy định được yêu cầu bởi những nước phát triển Những nhà phân phối sản phẩm cũng đóng vai trò quan trọng trong vấn đề này

1.4.8 Nhận thức

Một vấn đề quan trọng tại nhiều quốc gia đang phát triển là mức độ nhận thức

và hiểu về những biện pháp SPS Điều này rõ ràng cũng có tương đồng với cách tiếp cận về thông tin ở trên Những nỗ lực đáng kể đã được các tổ chức như WTO, FAO và UNCTAD thực hiện nhằm làm tăng nhận thức về những tiêu chuẩn SPS của chính phủ tại các quốc gia đang phát triển Xa hơn nữa, nhiều chính phủ tại các quốc gia đang phát triển đã tổ chức các hội thảo trong nỗ lực nhằm nâng cao nhận thức cá nhân về trách nhiệm đối với vấn đề SPS một cách liên tục, ví dụ vấn đề thanh tra tại cảng, vấn

đề chuỗi cung ứng thực phẩm Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp do nhận thức về tầm quan trọng của những tiêu chuẩn và ảnh hưởng của chúng đối với kết quả xuất khẩu còn khá hạn chế Kết cục là phản ứng ban đầu đối với những biện pháp SPS mới được

áp dụng thường là trì hoãn và không hoan nghênh, ủng hộ

1.4.9 Hệ thống pháp luật bên trong

Mức độ và đặc điểm của hệ thống pháp luật đối với vấn đề SPS ở những nước đang phát triển ảnh hưởng đến khả năng của các quốc gia này trong việc đáp ứng những tiêu chuẩn Nếu những tiêu chuẩn SPS được thực hiện thích hợp tại các quốc gia xuất khẩu thì chuỗi cung ứng thực phẩm sẽ quen với việc vận hành trong môi trường tuân theo khuôn khổ và quy định chặt chẽ, sẽ đánh giá cao những yêu cầu cần phải đáp ứng Hơn nữa, cơ quan thẩm quyền sẽ dễ dàng thực hiện và cấp thủ tục đánh giá sự tuân thủ theo yêu cầu từ những nước phát triển nếu họ có sẵn hệ thống quyền lực bắt buộc mọi các nhân, tổ chức phải tuân thủ Những nước đang phát triển sẽ nhận thấy rằng điều khó khăn nhất để đáp ứng những tiêu chuẩn chính là hệ thống pháp luật

Ngày đăng: 05/03/2015, 14:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Minh Đức 2007, The Catfish Antidumping in Perfect and Imperfect Competition and the Role of Aquaculture in Farmers’ Happiness. Ph.D. Dissertation.Auburn University, USA Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Catfish Antidumping in Perfect and Imperfect Competition and the Role of Aquaculture in Farmers’ Happiness
3. Đinh Văn Thành 2004, Nghiên cứu các rào cản trong thương mại quốc tế và đề xuất các giải pháp đối với Việt Nam, Bộ Thương mại, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu các rào cản trong thương mại quốc tế và đề xuất các giải pháp đối với Việt Nam
Tác giả: Đinh Văn Thành
Nhà XB: Bộ Thương mại
Năm: 2004
4. Trần Thanh Long 2010, Thực trạng và giải pháp để doanh nghiệp Việt Nam vượt rào cản thương mại, Doanh nghiệp và Thương mại quốc tế, số 4 – tháng 4/2010, trang 21-28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và giải pháp để doanh nghiệp Việt Nam vượt rào cản thương mại
5. Võ Thanh Thu 2002, Những giải pháp về thị trường cho sản phẩm thủy sản xuất khẩu của Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những giải pháp về thị trường cho sản phẩm thủy sản xuất khẩu của Việt Nam
Tác giả: Võ Thanh Thu
Năm: 2002
6. Võ Thanh Thu 2011, Cẩm nang rào cản thương mại quốc tế đối với mặt hàng nông lâm thủy sản của Việt Nam, NXB Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang rào cản thương mại quốc tế đối với mặt hàng nông lâm thủy sản của Việt Nam
Nhà XB: NXB Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh
7. Đoàn Văn Trường 2006, Bán phá giá phương pháp xác định mức phá giá và mức độ thiệt hại, NXB Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bán phá giá phương pháp xác định mức phá giá và mức độ thiệt hại
Nhà XB: NXB Khoa học và kỹ thuật
8. Nguyễn Duy Ý 2012, Thách thức của xuất khẩu thủy sản Việt Nam, diễn đàn, truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2012, http://www.ringring.vn/user/nguyenduyy/177204 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thách thức của xuất khẩu thủy sản Việt Nam
9. Zweig.D ,ect 2005, Việt Nam: Nghiên cứu ngành thủy sản, Chương trình Quỹ Ủy thác toàn cầu của Nhật Bản dành cho phát triển thủy sản bền vững của Việt Nam và Ngân hàng Thế giới, Hà Nội.II. Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ngành thủy sản
10. Deardorff.A and Stern.A 1997, Measurement of non-tariff barriers, Economics Department working papers no.179, OECD, Paris Sách, tạp chí
Tiêu đề: Measurement of non-tariff barriers
Tác giả: Deardorff.A, Stern.A
Nhà XB: OECD
Năm: 1997
11. Henson S.J. 1997, Impact of santitary and phytosanitary measures on developing countries, The University of Reading, UK Sách, tạp chí
Tiêu đề: Impact of santitary and phytosanitary measures on developing countries
12. Nakakeeto.G 2011, The impact of technical measures on Agriculture: A case of Sách, tạp chí
Tiêu đề: The impact of technical measures on Agriculture: A case of
Tác giả: Nakakeeto.G
Năm: 2011
13. Sara A. Wong 2007, The effect of SPS and TBT measures on banana and pineapple trade in Ecuador, ESPAE –Graduate School of Management, Ecuador.III. Các trang web Sách, tạp chí
Tiêu đề: The effect of SPS and TBT measures on banana and pineapple trade in Ecuador
Tác giả: Sara A. Wong
Nhà XB: ESPAE –Graduate School of Management, Ecuador
Năm: 2007

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Các nước bị kiện tiêu biểu (Từ tháng 01/1955 đến tháng 6/2010) - ảnh hưởng của rào cản phi thuế quan đến hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp chế biến thủy sản tỉnh khánh hòa
Bảng 1.1. Các nước bị kiện tiêu biểu (Từ tháng 01/1955 đến tháng 6/2010) (Trang 30)
Hình 1.1. Quy trình thủ tục đánh giá việc tuân thủ khi các doanh nghiệp xuất khẩu - ảnh hưởng của rào cản phi thuế quan đến hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp chế biến thủy sản tỉnh khánh hòa
Hình 1.1. Quy trình thủ tục đánh giá việc tuân thủ khi các doanh nghiệp xuất khẩu (Trang 36)
Bảng 1.2 .  Mức điểm quan trọng của các nhân tố tác động đến khả năng đáp ứng những - ảnh hưởng của rào cản phi thuế quan đến hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp chế biến thủy sản tỉnh khánh hòa
Bảng 1.2 Mức điểm quan trọng của các nhân tố tác động đến khả năng đáp ứng những (Trang 42)
Bảng 2.1. Đặc điểm các doanh nghiệp thủy sản được khảo sát - ảnh hưởng của rào cản phi thuế quan đến hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp chế biến thủy sản tỉnh khánh hòa
Bảng 2.1. Đặc điểm các doanh nghiệp thủy sản được khảo sát (Trang 45)
Bảng 2.2. Loại hình doanh nghiệp và số lượng lao động sử dụng của các doanh nghiệp - ảnh hưởng của rào cản phi thuế quan đến hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp chế biến thủy sản tỉnh khánh hòa
Bảng 2.2. Loại hình doanh nghiệp và số lượng lao động sử dụng của các doanh nghiệp (Trang 46)
Bảng 3.1. Cơ cấu mặt hàng thủy sản xuất khẩu 2009 - 2011 (ĐVT: triệu USD ) - ảnh hưởng của rào cản phi thuế quan đến hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp chế biến thủy sản tỉnh khánh hòa
Bảng 3.1. Cơ cấu mặt hàng thủy sản xuất khẩu 2009 - 2011 (ĐVT: triệu USD ) (Trang 53)
Bảng .2. Danh sách 20 doanh nghiệp thủy sản lớn nhất Việt Nam năm 2011 - ảnh hưởng của rào cản phi thuế quan đến hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp chế biến thủy sản tỉnh khánh hòa
ng 2. Danh sách 20 doanh nghiệp thủy sản lớn nhất Việt Nam năm 2011 (Trang 53)
Bảng 3.3. Cơ cấu sản phẩm thủy sản Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ năm 2012 - ảnh hưởng của rào cản phi thuế quan đến hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp chế biến thủy sản tỉnh khánh hòa
Bảng 3.3. Cơ cấu sản phẩm thủy sản Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ năm 2012 (Trang 56)
Bảng 3.7. Thống kê một số quy định tiêu biểu của EU đối thủy sản nhập khẩu (giai - ảnh hưởng của rào cản phi thuế quan đến hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp chế biến thủy sản tỉnh khánh hòa
Bảng 3.7. Thống kê một số quy định tiêu biểu của EU đối thủy sản nhập khẩu (giai (Trang 69)
Bảng 3.8. Mức thuế chống bán phá đối với mặt hàng tôm và cá da trơn của một số - ảnh hưởng của rào cản phi thuế quan đến hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp chế biến thủy sản tỉnh khánh hòa
Bảng 3.8. Mức thuế chống bán phá đối với mặt hàng tôm và cá da trơn của một số (Trang 75)
Bảng 3.9. Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng những biện pháp SPS và TBT - ảnh hưởng của rào cản phi thuế quan đến hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp chế biến thủy sản tỉnh khánh hòa
Bảng 3.9. Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng những biện pháp SPS và TBT (Trang 79)
Bảng 2.11. Những ảnh hưởng tích cực của những biện pháp phi thuế quan - ảnh hưởng của rào cản phi thuế quan đến hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp chế biến thủy sản tỉnh khánh hòa
Bảng 2.11. Những ảnh hưởng tích cực của những biện pháp phi thuế quan (Trang 82)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w