1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ảnh hưởng của mật độ nuôi đến chất lượng môi trường nước, tốc độ tăng trưởng, bệnh và hiệu quả kinh tế của cá tra pangasius hypophthalmus sauvage, 1878 nuôi thâm canh trong ao đất tại xã châu bình , giồng trôm, bến tre

114 494 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 3,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Diễn biến độ trong trung bình của các nghiệm thức mật độ thí nghiệm qua các tháng nuôi...41 Bảng 4.9: Biến động của hàm lượng TSS trung bình ở 2 ao của các nghiệm thức mật độ nuôi khác n

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này được hoàn thành dựa trên các kết quả nghiên cứu của tôi và các kết quả của nghiên cứu này chưa được dùng cho bất cứ luận văn cùng cấp nào khác

Tác giả

Nguyễn Văn Dũng

Trang 2

Xin cảm ơn các anh chị lớp cao học nuôi trồng thủy sản 2006, các anh chị tại Chi cục Nuôi trồng thủy sản Bến Tre đã chia sẻ, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện

Trang 3

MỤC LỤC

1.1 Đặt vấn đề…… 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 1

1.3 Các nội dung nghiên cứu chính 1

Chương 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2 2.1 Đặc điểm sinh học của cá tra 2

2.1.1 Hệ thống phân loại 2

2.1.2 Hình thái 2

2.1.3 Đặc điểm sinh sản và phân bố 3

2.1.4 Sinh trưởng và dinh dưỡng 4

2.2 Nghề nuôi cá tra trên thế giới và Việt Nam 5

2.2.1 Nghề nuôi cá tra trên thế giới 5

2.2.2 Nghề nuôi cá tra tại Việt Nam 6

2.2.3 Nghề nuôi cá tra tại Bến Tre 7

2.3 Đặc điểm và những biến động của các yếu tố môi trường trong các hệ thống nuôi cá da trơn 7

2.3.1 Những nghiên cứu của thế giới 7

2.3.1.6 Ảnh hưởng của ô nhiễm chất hữu cơ trong ao nuôi cá da trơn thâm canh 9

2.3.2 Những nghiên cứu của Việt Nam 10

2.3.2.7 Chỉ tiêu sinh vật - vi khuẩn tổng số 12

2.3.2.8 Ảnh hưởng của ô nhiễm chất hữu cơ trong ao nuôi cá da trơn thâm canh 12

2.3.2.9 Vấn đề ô nhiễm trong việc phát triển nghề nuôi cá tra thâm canh 13

2.4 Tình hình nghiên cứu bệnh cá tra trên thế giới và tại Việt Nam 14

2.4.1 Tình hình nghiên cứu bệnh cá da trơn trên thế giới 14

Trang 4

3.3.Phương pháp nghiên cứu: 20

3.3.4 Theo dõi một số yếu tố môi trường 23

3.3.6 Phương pháp xử lý số liệu 25

Chương 4: KẾT QUẢ THẢO LUẬN 26 4.1 Đặc điểm tự nhiên tỉnh Bến Tre 26

4.1.1 Vị trí địa lý 26

4.1.2 Đặc điểm khí hậu, thủy văn 26

4.1.3 Đặc điểm thủy lý, thủy hóa của nguồn nước 28

4.2 Đánh giá ảnh hưởng của mật độ nuôi lên chất lượng môi trường nước 28

4.2.1 Sự biến động của các yếu tố thủy hóa 28

4.2.2 Sự biến động của các yếu tố thủy lý 39

4.2.3 Ảnh hưởng của mật độ nuôi cá tra đến số lượng vi khuẩn tổng số trong ao 44

4.3 Ảnh hưởng của mật độ nuôi lên sinh trưởng của cá tra 46

.4 Ảnh hưởng của mật độ nuôi lên sức khỏe của cá 48

4.4.1 Một số bệnh xảy ra trong thời gian nghiên cứu 48

4.4.2 Đánh giá mối liên quan giữa mật độ nuôi và bệnh 51

4.4.3 Ảnh hưởng của mật độ nuôi đến tỷ lệ sống của cá 52

4.5 Ảnh hưởng của mật độ nuôi lên hiệu quả kinh tế 53

Chương 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 55 5.1 Kết luận 55

5.2 Đề xuất 55

TÀI LIỆU THAM KHẢO 56 1 Tiếng Việt: 56

2 Tiếng Anh: 59

Trang 5

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Thành phần thức ăn ở dạ dày cá tra trong tự nhiên 4

Bảng 2.2: Diện tích và sản lượng cá tra của Việt Nam từ năm 2005 - 2009 6

Bảng 2.3: Diện tích và sản lượng cá tra của tỉnh Bến Tre từ năm 2005 - 2009 7

Bảng 3.1: Các thông số kỹ thuật của 06 ao thí nghiệm 20

Bảng 4.1: Biến động hàm lượng DO trung bình vào buổi sáng ở các nghiệm thức nuôi có mật độ khác nhau (mg O2/L) 29

Bảng 4.2: Biến động hàm lượng DO trung bình vào buổi chiều tại các nghiệm thức nuôi có mật độ khác nhau (mg O2/L) 30

Bảng 4.3: Biến động pH ở các nghiệm thức nuôi có mật độ khác nhau 32

Bảng 4.4: Hàm lượng NH3 trung bình của 2 ao ở các nghiệm thức 33

có mật độ nuôi khác nhau 33

Bảng 4.5: Biến động hàm lượng NO3- trung bình của 2 ao ở các nghiệm thức nuôi có mật độ nuôi khác nhau 35

Bảng 4.6: Biến động của hàm lượng BOD5 trung bình ở 2 ao của các nghiệm thức mật độ nuôi khác nhau (mg/L) 37

Bảng 4.7 : Diễn biến nhiệt độ tại các nghiệm thức nuôi có mật độ khác nhau (oC) 39

Bảng 4.8 Diễn biến độ trong trung bình của các nghiệm thức mật độ thí nghiệm qua các tháng nuôi 41

Bảng 4.9: Biến động của hàm lượng TSS trung bình ở 2 ao của các nghiệm thức mật độ nuôi khác nhau (mg/L) 43

Bảng 4.10 Mật độ vi khuẩn tổng số trung bình của các nghiệm thức mật độ thí nghiệm qua các tháng nuôi (x 104 CFU/ml) 44

Bảng 4.11: Khối lượng cá nuôi tại các nghiệm thức nuôi mật độ khác nhau (g/con) 46

Bảng 4.12: Tăng trọng của cá nuôi tại các nghiệm thức nuôi mật độ khác nhau (g/con/ngày) 46

Bảng 4.13: Một số bệnh xảy ra trong thời gian nghiên cứu ở cả 3 nghiệm thức mật độ nuôi khác nhau 48

Bảng 4.14: Tần số xuất hiện bệnh ở 3 nghiệm thức mật độ thí nghiệm 51

Bảng 4.15: Tỷ lệ sống của cá đến khi thu hoạch 52

Bảng 4.16: Hiệu quả kinh tế ở 3 nghiệm thức mật độ thí nghiệm .53

Trang 6

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1 Cá tra - Pangasianodon hypophthalmus 3

Hình 4.1: Sự biến động hàm lượng Oxy hòa tan vào buổi sáng tại các nghiệm thức nuôi có mật độ khác nhau 29

Hình 4.2: Sự biến động hàm lượng Oxy hòa tan vào buổi chiều tại các nghiệm thức nuôi có mật độ khác nhau 31

Hình 4.3: Biểu đồ giá trị của hàm lượng NH3 tại 3 nghiệm thức nuôi có mật độ khác nhau 34 Hình 4.4: Diễn biến NO3- trung bình ở 3 nghiệm thức mật độ thí nghiệm 36

Hình 4.5: Diễn biến BOD5 trung bình ở 3 nghiệm thức nuôi với mật độ khác nhau 37

Hình 4.6 Diễn biến nhiệt độ trung bình buổi sáng ở 3 nghiệm thức mật độ thí nghiệm 40

Hình 4.7 Diễn biến nhiệt độ trung bình buổi chiều ở 3 nghiệm thức mật độ thí nghiệm 40

Hình 4.8: Diễn biến độ trong trung bình ở 3 nghiệm thức có mật độ nuôi khác nhau 42

Hình 4.9: Diễn biến TSS trung bình ở 3 nghiệm thức mật độ thí nghiệm 43

Hình 4.10: Biến động mật độ vi khuẩn tổng số tại trung bình của các nghiệm thức thí nghiệm 45

Hình 4.11: Biểu đồ sinh trưởng khối lượng của cá tại các nghiệm thức thí nghiệm theo thời gian nuôi 47

Hình 4.12: Bệnh gan thận mủ 50

Hình 4.13: Bệnh trắng mang, trắng gan và Bệnh xuất huyết, phù đầu, phù mắt 50

Hình 4.14: Bệnh vàng da 50

Hình 4.15: Tỷ lệ sống của cá tra tại 3 nghiệm thức mật độ khi kết thúc vụ nuôi 52

Hình 4.16: Biểu đồ tỷ suất lợi nhuận của cá tra tại 3 nghiệm thức mật độ sau khi kết thúc vụ nuôi 53

Trang 7

Chương 1 GIỚI THIỆU

1.1 Đặt vấn đề

Trong những năm gần đây nghề nuôi cá tra xuất khẩu phát triển rất mạnh ở các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, trong đó có Bến Tre, trong năm 2009 sản lượng cá tra sản xuất được trong toàn vùng gần 1 triệu tấn và giá trị xuất khẩu hơn 1 tỷ USD Tuy nhiên việc phát triển nuôi không theo quy hoạch và các quy định về quản lý chưa đồng bộ và chặt chẽ, dẫn đến việc người dân phát triển nuôi ồ ạt tự phát, thả nuôi với mật độ cao và tùy tiện với mục đích là có được sản lượng cao Đa phần các cơ sở nuôi đều không chú ý đến ảnh hưởng của môi trường nuôi và sự xuất hiện bệnh trên các ao nuôi

Đến nay vẫn chưa có nghiên cứu chính thức nào để khuyến cáo cho người dân chọn mật độ thả nuôi cá tra phù hợp nhằm không ảnh hưởng lớn đến môi trường, cá nuôi có tốc độ tăng trưởng tốt, hạn chế dịch bệnh và đặc biệt là nuôi có hiệu quả kinh

tế cao Hiện tại hầu hết các cơ sở nuôi ở các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long (trong đó

có Bến Tre) chọn mật độ thả nuôi phụ thuộc vào vị trí, độ sâu ao nuôi và nguồn vốn đầu tư

Xuất phát từ những vấn đề trên, việc thực hiện đề tài “ Ảnh hưởng của mật độ nuôi đến chất lượng môi trường nước, tốc độ tăng trưởng, bệnh và hiệu quả kinh tế của

cá tra (Pangasius hypophthalmus Sauvage, 1878) nuôi thâm canh trong ao đất tại xã

Châu Bình - Giồng Trôm - Bến Tre” là rất cần thiết Qua kết quả nghiên cứu sẽ có cơ

sở để khuyến cáo cho người dân hoặc đưa ra quy định quản lý về mật độ nuôi nhằm hạn chế ô nhiễm môi trường, cá có tốc độ tăng trưởng tốt, ít dịch bệnh và hiệu quả kinh tế cao

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

- Xác định được mật độ nuôi phù hợp nhằm hạn chế ô nhiễm môi trường, giảm thiểu dịch bệnh, nhưng cá nuôi có tốc độ tăng trưởng tốt và hiệu quả kinh tế cao nhất

- Khuyến cáo cho người dân mật độ nuôi phù hợp nhằm phát triển nuôi cá tra thâm canh theo hướng bền vững và mang lại hiệu quả

1.3 Các nội dung nghiên cứu chính

- Xác định ảnh hưởng của mật độ cá tra nuôi tới sinh trưởng, tỷ lệ sống và sản lượng cá tra nuôi thương phẩm trong ao đất

- Xác định ảnh hưởng của mật độ cá tra nuôi tới chất lượng môi trường nước ao nuôi

Trang 8

Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Đặc điểm sinh học của cá tra

2.1.1 Hệ thống phân loại

Loài cá tra nuôi được mô tả lần đầu bởi Sauvage năm 1878 ở Campuchia, tên khoa học của cá tra có nhiều tên khác nhau Trước đây, cá tra được xếp vào họ

Shilbeidae và tên khoa học của chúng là Pangasius micronemus Bleeker, 1847 [34],

[12] Ngoài ra, ở Thái Lan, Indonesia, Malaysia, cá tra còn có tên khoa học khác là

Pangasius sutchi [39] Gần đây một số tác giả lại xếp cá tra vào một giống khác Pangasianodon hypophthalmus [55] Theo kết quả định danh lại của Roberts và Vidthayanon (1991) cá tra có tên khoa học là Pangasius hypophthamus [68] Fishbase

(www.fishbase.org, 9/2008) cá tra có hệ thống phân loại như sau:

Ngành động vật có xương sống: Vetebrata

Lớp cá xương: Osteichthyes

Bộ cá nheo: Silurifomes

Họ cá tra: Pangasiidae

Giống cá Tra: Pangasianodon

Loài cá Tra: Pangasianodon hypophthamus (Sauvage, 1878)

Tên tiếng Anh: Sutchi catfish

Tên thương mại: Tra catfish

2.1.2 Hình thái

Cá tra có vẩy bị thoái hóa, mắt nhỏ hoặc tiêu biến, có cơ quan hô hấp phụ và có khả năng hô hấp qua da, qua xoang miệng vì vậy chúng có khả năng sống lâu trong bùn, trên cạn nhưng phải đảm bảo đủ độ ẩm cho da Cá có thể tồn tại trong môi trường nước có hàm lượng oxy hòa tan thấp, nước bị nhiễm phèn có pH=4 (pH<4 cá bị sốc sẽ

bỏ ăn), ít chịu đựng được nhiệt độ thấp hơn 15oC và lớn hơn 39oC

Trang 9

Hình 2.1 Cá tra - Pangasianodon hypophthalmus

2.1.3 Đặc điểm sinh sản và phân bố

Cá tra thành thục chậm so với các loài cá da trơn khác, chúng thành thục sinh dục vào cuối mùa khô và đầu mùa mưa Mùa vụ sinh sản của cá basa kéo dài từ tháng

2 đến tháng 6, trong khi đó mùa vụ sinh sản của cá tra từ tháng 3 đến tháng 8 đối với

cá nuôi bè, nhưng đối với cá tra nuôi ao thì thời gian này ngắn hơn, từ tháng 6 đến tháng 8 Sự thành thục của cá tra cái cũng diễn ra vào cuối mùa khô và đầu mùa mưa [40] Sinh sản cá tra lần đầu tiên được công bố tại Thái Lan vào năm 1959, sau đó là ở Indonesia vào năm 1981 và ở Malaysia năm 1983 Ở Việt Nam, sinh sản nhân tạo cá tra vào năm 1981 nhưng kết quả đạt được rất thấp, cho đến năm 1995 với công trình nghiên cứu của Philip Cacot, đã sản xuất giống nhân tạo thành công 2 đối tượng cá tra

và cá basa, chính thành quả này đã mở ra triển vọng lớn cho nghề nuôi cá tra Cá bố

mẹ nuôi vỗ trong ao hay bè đều cho kết quả sinh sản nhân tạo tốt với các loại hormon thông thường là HCG và Ovaprim [40]

Cá tra phân bố nhiều trên lưu vực sông Mekong và sông Chaophraya - Thái Lan [68] Ở Việt Nam cá tra phân bố trên sông Tiền, sông Hậu, rất nhiều ở vùng hạ lưu Cá tra giống được vớt chủ yếu trên sông Tiền, cá trưởng thành chỉ thấy trong ao nuôi, rất

ít khi tìm thấy ngoài tự nhiên [34] Theo Cacot (1998), ở hạ lưu sông Cửu Long có 11 loài chủ yếu thuộc giống Pangasius, trong đó có 8 loài có kích thước lớn (chiều dài lơn

hơn 50 cm) [39] Đặc biệt có 2 giống loài cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) và

cá basa (Pangasius bocourti) được nuôi rất nhiều ở Đồng bằng sông Cửu Long

Trang 10

2.1.4 Sinh trưởng và dinh dưỡng

2.1.4.1 Đặc điểm sinh trưởng

Cá tra tăng trưởng tương đối nhanh, cá tra cùng cá vồ cờ (Pangasius sanitwongsei) là hai loài cá tăng trưởng rất nhanh nhất trong 10 loài thuộc họ

Pangasiidae [57] Cá tra bột hết noãn hoàng có chiều dài trung bình từ 1 - 1,1 cm, sau

14 ngày ương đạt 2,0 - 2,3 cm và có trọng lượng là 0,52 g Cá 5 tuần tuổi đạt 1,28 - 1,5

g chiều dài 5 - 6 cm Sau 1 năm cá đạt 0,7 - 1,5 kg và đến 3 - 4 tuổi đạt 3 - 4 kg Cá còn nhỏ tăng nhanh về chiều dài, khi cá đạt 2,5 kg là bước vào thời kỳ tích lũy mỡ, cần

có chế độ nuôi dưỡng thích hợp để phát dục tốt Tuy nhiên tốc độ tăng trưởng còn tùy thuộc rất lớn vào mật độ nuôi, chất lượng và số lượng thức ăn cung cấp Độ béo cũng tăng dần theo sự phát triển của cá, ở năm đầu tiên độ béo tăng nhanh nhất, qua các năm sau độ béo biến đổi không đáng kể: cá có trọng lượng 11,2 g có độ béo 0,99%, cá

560 g có độ béo 1,6%, nhưng cá 3 tuổi nặng 3,62 kg có độ béo là 1,62% Cá đực có độ béo cao hơn cá cái [32]

và cá hương, chúng thích ăn mồi sống, nhưng trong quá trình phát triển thì chúng thích

ăn mồi chết và phổ thức ăn rất rộng

Theo Trần Thanh Xuân (1994), khi nghiên cứu thành phần thức ăn trong dạ dày của cá tra đánh bắt trong tự nhiên có tỉ lệ thành phần thức ăn trong dạ dày được trình bày ở Bảng 2.1 [32]

Bảng 2.1 Thành phần thức ăn ở dạ dày cá tra trong tự nhiên

Trang 11

Cũng như các loài cá khác, khi bắt đầu ăn thức ăn ngoài, cá tra ăn phiêu sinh động vật Thức ăn ưa thích của chúng là nhóm Cladocera, nhóm Rotifer cũng xuất hiện trong dạ dày nhưng do kích thước nhỏ nên vai trò dinh dưỡng của Rotifera không cao Trong điều kiện ương nuôi trên bể, chúng có thể sử dụng nhiều loại thức ăn như: Artemia, trùn chỉ, Moina, Rotifera, thức ăn chế biến…Tuy nhiên, ấu trùng Artemia và trùn chỉ cho tỉ lệ sống cao và sinh trưởng của cá tốt nhất [10]

Cá tra 3 - 4 ngày tuổi có thể bắt đầu ăn lẫn nhau và chúng tiếp tục ăn nhau nếu

cá ương không cho ăn thức ăn đầy đủ Khi khảo sát cá bột vớt trong tự nhiên vẫn thấy chúng ăn lẫn nhau ngay trong các đáy chứa cá bột vớt được, ngoài ra còn trong dạ dầy của chúng có rất nhiều phần cơ thể và mắt cá con các loài cá khác [1]

Cá con 20 ngày tuổi sử dụng hiệu quả thức ăn chế biến [30] Cá tra càng lớn, phổ thức ăn của chúng càng rộng Nhìn chung, loài cá này có tập tính ăn thiên về động vật Trong ao, bè nuôi chúng có thể sử dụng được tấm, cám, rau, bèo, phế phẩm các nhà máy chế biến thủy sản, thức ăn tự chế dạng ẩm với hàm lượng protein thấp Đặc điểm này có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển nuôi rộng rãi loài cá này [12], [30] Cá tra có khả năng thích nghi với nhiều loại thức ăn có hàm lượng protein khác nhau, trong điều kiện thiếu thức ăn cá có thể sử dụng các loại thức ăn bắt buộc như mùn bã hữu cơ, thức ăn có nguồn gốc từ động vật [32]

2.2 Nghề nuôi cá tra trên thế giới và Việt Nam

2.2.1 Nghề nuôi cá tra trên thế giới

Cá tra và cá basa phân bố tự nhiên ở một số nước Đông Nam Á như Campuchia, Thái Lan, Indonesia và Việt Nam Đây là 2 loài cá có giá trị kinh tế cao, được nuôi phổ biến hầu hết ở các nước Đông Nam Á và là một trong những loài cá nuôi quan trọng nhất khu vực này Ba nước trong khu vực hạ lưu sông Mekong có nghề nuôi cá tra truyền thống là Campuchia, Thái Lan và Việt Nam, do có nguồn cá tự nhiên phong phú Ở Campuchia tỷ lệ cá tra thả nuôi chiếm 98% trong 3 loài họ cá tra, chỉ có 2% là cá basa và vồ đém Một số nước trong khu vực như Malaysia, Indonesia cũng đã nuôi cá tra có hiệu quả từ thập niên 70 - 80 của thế kỷ XX [19]

Ở Thái Lan và Campuchia thì cá Pangasius sutchi được nuôi trong ao và bè Từ

trước nhóm cá Pangasius được nuôi trong những bè nổi bằng tre ở Thái Lan và Campuchia Hê thống nuôi này cũng được áp dụng ở Châu Âu và Mỹ [62] Trước đây

nhu cầu về sản phẩm cá catfish (Cá heo Mỹ - Ictalurus punctatus Rafinesque) đối với

Trang 12

cá catfish tăng lên Nếu như năm 1970 các nhà nuôi ở Mỹ chỉ sản xuất 2.580 tấn thì năm 2001 đã lên tới 271.000 tấn Các trại nuôi cá catfish chủ yếu tập trung ở đồng bằng sông Missisipi, Alabama, Arkansas và Louisiana [58]

2.2.2 Nghề nuôi cá tra tại Việt Nam

Nuôi cá tra, basa ở Việt Nam đã có từ những năm 50 của thế kỷ XX, xuất phát

từ Đồng bằng sông Cửu Long, ban đầu chỉ nuôi ở quy mô nhỏ, nhằm tự cung tự cấp thực phẩm Các hình thức nuôi chủ yếu là tận dụng ao hầm, mương vườn và nguồn thức ăn sẵn có Cuối thập niên 90, nghề nuôi cá tra, basa đã có những bước tiến vượt bậc, các doanh nghiệp đã tìm được thị trường xuất khẩu, các nhà khoa học đã thành công trong quy trình sản xuất giống và kỹ thuật nuôi thâm canh đạt kết quả cao Việc chủ động sản xuất giống cá tra, basa nhân tạo, đáp ứng đủ nhu cầu sản xuất đã mở ra khả năng sản xuất hàng hóa tập trung phục vụ cho xuất khẩu và tiêu dùng nội địa [19]

Ở khu vực miền Tây Nam bộ hệ thống nuôi cá tra, basa đặc trưng là nuôi bè, nuôi ao, đăng quầng ở vùng sông Hậu tỉnh Ðồng Tháp và An Giang Nghề nuôi cá da trơn trên bè bắt đầu vào những năm 1968, khi nhóm người Việt Nam sinh sống ở Campuchia sơ tán về hạ lưu sông Mekong do tình hình chiến tranh [66] Ðiều kiện tự nhiên ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long là yếu tố quan trọng nhất mang tính quyết định đến hiệu quả của nghề nuôi cá tra và cá ba sa

Trong những năm qua do thị trường xuất khẩu được mở rộng, giá xuất khẩu tốt, nên sản lượng cá tra, basa nuôi ở bè, ao hầm, đăng quầng trên bãi bồi các triền sông mỗi năm đều tăng Theo ước tính, diện tích nuôi cá tra thâm canh ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long năm 2009 khoảng 6.511,5 ha, sản lượng cá ước đạt khoảng 887.000 tấn và giá trị xuất khẩu đạt hơn một tỷ USD

Bảng 2.2: Diện tích và sản lượng cá tra của Việt Nam từ năm 2005 - 2009

Trang 13

2.2.3 Nghề nuôi cá tra tại Bến Tre

Tại Bến Tre, nghề nuôi cá tra cũng đang được đầu tư phát triển với tốc độ rất nhanh Theo số liệu của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Bến Tre thì diện tích

ao nuôi cá tra thâm canh của tỉnh đến cuối năm 2009 là: 715 ha và sản lượng là 90.000 tấn/năm

Bảng 2.3: Diện tích và sản lượng cá tra của tỉnh Bến Tre từ năm 2005 - 2009

để nâng cao năng suất và cải thiện thịt cá, việc thay nước được thực hiện liên tục Trong khi hệ thống ao xử lý hầu như không được quan tâm để xử lý nước thải trước khi thải ra môi trường, điều này đã làm suy giảm môi trường nghiêm trọng

2.3 Đặc điểm và những biến động của các yếu tố môi trường trong các hệ thống nuôi cá da trơn

2.3.1 Những nghiên cứu của thế giới

2.3.1.1 Nhiệt độ

Zimmermann (1998) thì nhận định rằng nếu nhiệt độ cao hơn 34oC diễn ra trong thời gian dài thì động vật thuỷ sản sẽ không sống được và tất nhiên thời gian còn phụ thuộc vào giai đoạn phát triển, nếu nhiệt độ <19oC hoặc > 42oC thì tôm cá sẽ bị chết [24] Riêng đối với cá da trơn theo NRC (1993) thì nhiệt độ từ 26 - 30oC là lý

Trang 14

2.3.1.2 pH

Theo (Boyd, 1990) thì khoảng tối ưu cho tôm cá nước ngọt phát triển và sinh sản là từ 6,5 - 9,0 Điểm chết đối với chúng là pH < 4 và pH > 11 [37]

2.3.1.3 Oxy hòa tan (DO)

Nuôi cá ở mật độ cao, ao nuôi cũng thường xảy ra hội chứng thiếu oxy cục bộ

do sự gia tăng hàm lượng CO2 trong nước, pH giảm, NO2- tăng và biến động của một

số yếu tố môi trường khác [70]

Theo Rogers và Fast (1988) cho rằng tôm cá sẽ bị sốc nếu hàm lượng DO < 2,0

mg/L trong thời gian dài [38] Lawson (1995), Boyd (1998) và Timmons et al (2002)

cho rằng hàm lượng oxy hoà tan lý tưởng phải lớn hơn 5,0 mg/L đến bão hòa [56], [36], [74]

2.3.1.4 Tổng vật chất lơ lửng (TSS)

Vật chất lơ lửng trong ao nuôi thủy sản thường do phù sa, vật chất hữu cơ và phiêu sinh vật tạo nên Vật chất lơ lửng thường đi vào ao nuôi thông qua nguồn nước cấp, nước mưa hoặc do bởi sóng gió hay dòng nước chảy mạnh làm xói lở bờ

ao Phần lớn những vật chất này sẽ lắng tụ xuống đáy ao, nhưng một phần sẽ lơ lững trong nước trong thời gian dài gây nên độ đục trong nước Ngoài ra ao nuôi tôm cá nước đục còn do phiêu sinh thực vật có trong ao thì đây là yếu tố có lợi, vì chúng là thức ăn cho tôm cá, trong khi đó độ đục do vật chất phù sa hay vật chất hữu cơ thì ít nhiều sẽ gây hại cho đối tượng nuôi và hàm lượng này thích hợp cho

ao nuôi dao động trong khoảng 10 - 50 mg/L [36]

Theo Lawson (1995), hàm lượng TSS thích hợp trong ao nuôi thuỷ sản phải nhỏ hơn 80 mg/L [56]

2.3.1.5 Hàm lượng muối Nitrate (NO 3 - )

Nitrate có trong thủy vực là do quá trình nitrate hóa, NO2- bị oxy hóa thành

NO3-Vi khuẩn tham gia vào quá trình nitrate hóa ở cá thủy vực nước ngọt có vi khuẩn Nitrobacter europara Vi khuẩn này phân bố rất ít trong thủy vực nước sạch, nghèo dinh dưỡng, quá trình nitrate hóa chỉ xảy ra khi có mặt oxy, trong môi trường yếm khí với sự có mặt của hydrate carbon sẽ xảy ra quá trình phản nitrate hóa, quá trình này khử nitrate qua nitrite thành NO, N2O, NH2OH, NH3 và N2 Vi khuẩn tham gia quá trình này bao gồm các loài kỵ khí không bắt buộc như Bacillus, Pseudomonas [73]

Trong điều kiện hiếu khí, chúng oxy hóa các hợp chất hữu cơ bằng oxy hòa tan trong nước, còn trong điều kiện kỵ khí chúng oxy hóa các hợp chất hữu cơ bằng con

Trang 15

đường khử hydro để chuyển hydro cho nitrate và nitrite Quá trình này không có lợi vì

nó làm mất nitơ trong thủy vực và tạo thành các chất độc hại cho thủy sinh vật như

NH3, NO2- [64]

Theo Boyd (1998) nitrate là dạng đạm không độc nhưng với hàm lượng quá cao cũng không có lợi cho tôm cá, khi hàm lượng nitrate trong nước cao sẽ làm tảo phát triển quá mức Theo nhận định của ông thì hàm lượng NO3- thích hợp trong ao nuôi thuỷ sản từ 0,2 - 3,0 mg/L [36] Riêng Lawson (1995) đã nhận xét hàm lượng NO3-thích hợp cho ao nuôi thuỷ sản là nhỏ hơn 3,0 mg/L [56]

2.3.1.6 Ảnh hưởng của ô nhiễm chất hữu cơ trong ao nuôi cá da trơn thâm canh

Nuôi cá thâm canh làm cho môi trường nước xung quanh giàu chất hữu cơ và

có nguy cơ bị ô nhiễm Thức ăn dư thừa và phân cá làm cho hàm lượng chất dinh dưỡng và vật chất hữu cơ lơ lửng trong nước tăng và vì thế lượng tiêu hao sinh học và

ô nhiễm môi trường tăng [61] Hàm lượng chất hữu cơ trong nước thải từ ao nuôi cá trê thâm canh rất cao [76] và hơn 64% đạm tổng và 77% lân tổng từ thức ăn thất thoát

ra môi trường nước [75]

Trong thuỷ vực không bị ô nhiễm thường nitơ nhỏ hơn 1 mg/L còn khi trong hiện tượng tảo nở hoa thì nitơ hữu cơ thường ở nước 2 -3 mg/L [37] Nghiên cứu của

Penczak et al (1982) ước tính trong 123 kg nitơ tiêu thụ thì chỉ có 27,2 kg được tích luỹ

Với 22% nitơ tiêu thụ được tích luỹ và 78% thải ra thì trong đó có khoảng 30% được tích luỹ trong vòng chuyển hoá [65]

Nếu nuôi lồng bè ở vùng có nước bề mặt tương đối tĩnh và chất hữu cơ nguồn vào cao thì bùn đáy hay nước của những lồng bè nuôi này dễ bị thiếu oxy trong thời gian dài Trong trường hợp này dễ dàng sinh ra ammoni, H2S và CH4 (mê-tan) Lượng ammoni thoát ra ở bên ngoài lồng bè và thêm vào đó là sự xáo trộn nền đáy sẽ xảy ra hiện tượng ammoni hoà tan vào nước nhanh dẫn đến tổng hàm lượng nitơ (TN) tăng lên nhanh chóng [46]

Gần đây các nhà khoa học rất quan tâm đến sự ô nhiễm vật chất hữu cơ từ nuôi trồng thuỷ sản và đề xuất các biện pháp để xử lý chất thải từ nuôi thuỷ sản [58] Tuy nhiên, việc lắp đặt hệ thống xử lý cho trại nuôi tôm, cá ở quy mô lớn chi phí rất cao Nước thải từ nuôi thuỷ sản được sử dụng cho các hoạt động xản suất nông nghiệp trong hệ thống nuôi thuỷ sản kết hợp dẫn đến sự bền vững về kỹ thuật cùng như về khía cạnh môi trường [53], [43] Theo Boyd (1998) nguồn nitơ vào ao nuôi chủ yếu từ thức ăn, lượng nitơ cao chủ yếu do sản phẩm thải của cá và thức ăn dư thừa, có 26,8%

Trang 16

Để tận dụng nguồn dinh dưỡng trong hệ thống ao nuôi một cách hiệu quả, một thí nghiệm về nuôi ghép cá trê lai và cá rô phi thâm canh với mục tiêu tận dụng nguồn dinh dưỡng dư thừa đã được Nguyễn Thanh Long và Yi (2004) thực hiện và kết quả là nhu cầu nitơ để sản xuất 1 kg cá dao động 52,1 - 52,4 g và nhu cầu lân là 6 g trong hệ thống nuôi ghép và 57,5 g trong hệ thống nuôi đơn, đồng thời thải ra môi trường một lượng 17,6 - 21,7 g nitơ và 3 g lân [16]

2.3.2 Những nghiên cứu của Việt Nam

2.3.2.1 Nhiệt độ

Theo Lê Như Xuân (1994) thì khoảng nhiệt độ thích hợp cho sự phát triển của

cá nhiệt đới là 25 - 30oC [31] Như vậy với khí hậu nhiệt đới gió mùa của vùng Đồng bằng sông Cửu Long, có nhiệt độ trung bình 26 - 28oC, là phù hợp cho sự phát triển và sinh trưởng của cá nói chung

Huỳnh Trường Giang và ctv (2007) đã so sánh nhiệt độ ở các ao nuôi cá tra tại An

Giang kết quả báo cáo cho thấy nhiệt độ dao động từ 27,5 - 34oC là tốt đối với cá tra [8]

2.3.2.2 pH

Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Dung (2001) pH tại các ao nuôi cá tra thâm canh tại An Giang dao động từ 6,5 - 7 [5] và nghiên cứu của Lê Bảo Ngọc (2004) tại các ao nuôi ở huyện Thốt Nốt, Thành phố Cần Thơ thì biến động từ 8,06 - 8,20 [18]

Theo Dương Thúy Yên (2003) thì cá tra có thể sống trong điều kiện môi trường

có pH rất thấp (khoảng 4,0), do đó ảnh hưởng của pH, nhất là pH thấp lên cá tra nuôi

là ít xảy ra Ngoài ra, sự biến động pH theo ngày đêm phụ thuộc vào mật độ phiêu sinh vật thực vật [33]

Huỳnh Trường Giang và ctv (2007) thì nhận định rằng sự thâm canh hóa càng

cao, mật độ thả nuôi cao, thức ăn cung cấp tăng dần theo năng suất dẫn đến sự tích tụ về dinh dưỡng làm cho tảo phát triển mạnh và làm pH của nước tăng cao vào giữa trưa [8]

2.3.2.3 Oxy hòa tan (DO)

Nồng độ oxy hòa tan tự do trong nước khoảng 8 - 10 ppm và sẽ dao động mạnh phụ thuộc vào nhiệt độ và các quá trình phân hủy các hợp chất và sự quang hợp của thực vật thủy sinh [11] Trong ao hồ nuôi thâm canh, lượng oxy trong nước được quyết định chủ yếu bởi các hoạt động sinh hóa, lượng oxy khuếch tán từ không khí chỉ có vai trò thứ yếu Khi oxy hòa tan thấp ảnh làm giảm hoạt động hoặc gây chết thủy sinh vật, do

đó, oxy hòa tan là một chỉ số quan trọng để đánh giá sự ô nhiễm nước của thủy vực [3]

Trang 17

Khi nghiên cứu trên đối tượng cá tra, Dương Nhựt Long và ctv (2004) cho rằng

hàm lượng thích hợp cho ao nuôi cá thâm canh là 3,5 - 6,5 ppm [17] Dương Thúy Yên

(2003) khi nghiên cứu về ngưỡng oxy dưới của cá tra đã kết luận rằng giá trị này nhỏ hơn 2,0 mg/L [33]

2.3.2.4 Nhu cầu ôxy sinh hóa - BOD

BOD là lượng ôxy cần thiết để vi sinh vật tiêu thụ trong quá trình phân hủy các chất hữu cơ trong nước ở điều kiện hiếu khí Ôxy sử dụng trong quá trình này là ôxy hòa tan trong nước

Chỉ số BOD chỉ là lượng ôxy mà sinh vật tiêu thụ trong phản ứng ôxy hóa các chất hữu cơ trong nước, chỉ số BOD càng cao chứng tỏ lượng chất hữu cơ có khả năng phân hủy sinh học trong nước càng lớn

Để xác định chính xác nhu cầu ôxy sinh hóa, cần phải đo sau 20 ngày, vì thực

tế tại thời điểm đo sau 20 ngày khoảng 98 ÷ 99% lượng chất hữu cơ trong nước bị ôxy hóa Việc đo như vậy cần nhiều thời gian chờ đợi kết quả, cho nên có thể đánh giá gần đúng bằng xác định BOD sau 5 ngày, vì tại thời điểm đo sau 5 ngày có khoảng 70 ÷ 80% các chất hữu cơ bị ôxy hóa Mặt khác có thể loại trừ được ảnh hưởng của lượng ôxy tiêu thụ trong quá trình nitrat hóa Chỉ tiêu này còn gọi là BOD5 [14], [29]

2.3.2.5 Tổng vật chất lơ lửng (TSS)

Theo kết quả nghiên cứu của Trương Quốc Phú và Yang Yi (2003) cho thấy vào thời điểm từ tháng 4 - tháng 6, tại một số điểm trên sông Hậu gần khu vực chợ thì hàm lượng TSS thường vượt quá 200 mg/L [20]

Kết quả khảo sát hàm lượng TSS trong các ao nuôi cá tra thâm canh của Lê Bảo Ngọc (2004) cho thấy hàm lượng này biến động rất lớn và cao (100 ± 273 mg/L, 112 ±

340 mg/L và 149 ± 415 mg/L) [18]

Theo TCVN 5945: 2005, tiêu chuẩn nước thải được đổ vào các vực nước thường được dùng làm nguồn nước cho mục đích sinh hoạt (mức A), tổng chất rắn lơ lửng phải ≤ 50 mg/L Ở mức B (50 mg/L< tổng chất rắn lơ lửng ≤100 mg/L), thì được

đổ vào các vực nước nhận thải khác trừ các thủy vực quy định ở mức A Nếu ở mức C (100 mg/L< tổng chất rắn lơ lửng ≤200 mg/L), chỉ được phép thải vào các nơi quy định (như hồ chứa nước thải được xây riêng, cống dẫn đến nhà máy xử lý nước thải

Trang 18

2.3.2.6 Hàm lượng muối Nitrate (NO 3 - )

Theo nghiên cứu của Huỳnh Trường Giang, Vũ Ngọc Út và Nguyễn Thanh Phương (2007) cho thấy hàm lượng NO3- biến thiên từ 0,122 - 18,00 mg/L và khác biệt

không có ý nghĩa giữa các ao cá khỏe và ao cá bệnh ( p>0,05), dao động từ 0,12 -

11,63 mg/L trong các ao cá khỏe và 0,188 - 18,00 mg/L tron g các ao cá bệnh Vào mùa khô hàm lượng NO3- cao nhất (4,031 ± 4,603 mg/L) và kh ác biệt có ý nghĩa so với các mùa còn lại Mặc dù nằm trong giới hạn cho phép và là yếu tố không gây độc đối với cá nhưng nếu hàm lượng NO3- trong nước cao sẽ gây ra hiện tượng phú dưỡng trong ao nuôi [8]

2.3.2.7 Chỉ tiêu sinh vật - vi khuẩn tổng số

Để đánh giá chất lượng nước, sự có mặt của vi sinh vật trong nước được quan tâm chủ yếu về ba mặt: sinh vật làm sạch nước, sinh vật làm ô nhiễm nước và những sinh vật chỉ thị cho tình trạng môi trường [29]

Phụ thuộc vào nguồn dinh dưỡng, vi khuẩn được chia thành 2 nhóm chính:

- Vi khuẩn dị dưỡng (Heterotrophic): Là vi khuẩn sử dụng các chất hữu cơ làm nguồn năng lượng và nguồn cacbon để thực hiện quá trình sinh tổng hợp Gồm có:

+ Vi khuẩn hiếu khí (Aerobes) cần ôxy hòa tan khi phân hủy chất hữu cơ để sinh sản và phát triển

+ Vi khuẩn kỵ khí (Anaerobes) chỉ hoạt động tốt trong điều kiện thiếu ôxy hoặc

sử dụng ôxy liên kết trong các hợp chất nitrat và sunphat

+Vi khuẩn tùy nghi (Facultative) là nhóm vi khuẩn có cơ chế phát triển trong điều kiện có hoặc không có ôxy hòa tan

- Vi khuẩn tự dưỡng (Autotrophic): Là các vi khuẩn có khả năng ôxy hóa chất

vô cơ để thu năng lượng và sử dụng khí CO2 làm nguồn cacbon cho quá trình sinh tổng hợp Thuộc nhóm này có vi khuẩn nitrat hóa, vi khuẩn lưu huỳnh, vi khuẩn sắt

2.3.2.8 Ảnh hưởng của ô nhiễm chất hữu cơ trong ao nuôi cá da trơn thâm canh

Nuôi cá thâm canh trong ao đất thì cá được cho ăn hoàn toàn bằng thức ăn tự chế hoặc thức ăn công nghiệp Thức ăn tự chế có hàm lượng đạm từ 20 - 30% Nếu cho ăn thừa thì thức ăn sẽ chìm xuống đáy ao, thối rữa tạo môi trường thuận lợi cho vi khuẩn phát triển Thức ăn thối rữa làm gia tăng sự phát triển của phiêu sinh vật trong nước, phiêu sinh chết sẽ ảnh hưởng làm ô nhiễm nguồn nước Theo Lê Huy Phước (2002) thì việc sử dụng phân bón và thức ăn có hàm lượng dinh dưỡng cao làm cho

Trang 19

nguồn nước thải từ các ao nuôi rất giàu các muối dinh dưỡng hoà tan, nhất là nitơ và phốt-pho Khi tổng hàm lượng đạm và tổng lân nâng cao dẫn đến hiện tượng phú dưỡng hóa nguồn nước, vì thế nguồn nước xung quanh các khu nuôi tập trung sẽ có sự thay đổi lớn hệ sinh vật của thuỷ vực, đồng thời làm ảnh hưởng trực tiếp đến các tính chất thuỷ lý hoá của nguồn nước [23]

Việc cung cấp thức ăn trong quá trình nuôi thuỷ sản sẽ tuỳ thuộc vào mô hình nuôi và đối tượng nuôi mà có thành phần và khẩu phần thích hợp Trong thời gian nuôi luôn có một lượng cac-bon và nitơ, ammonia, urea, bi-cacbonat, lân hoà tan, vitamine đưa vào ao nuôi Quan trọng hơn là những hợp chất thải của thức ăn và chất lắng gồm những hợp chất của cacbon, nitơ và lân nằm ở lớp bùn đáy Ô nhiễm chất hữu cơ sẽ tạo

ra hiện tượng phú dưỡng, khi tỷ lệ nitơ và phospho lớn hơn 12 thì sự phóng thích phú dưỡng sẽ do lân khống chế Hậu quả sẽ là sự nở hoa của rong tảo, tăng độ đục nước và

có thể tăng tính độc đối với tôm cá do sự phát triển của một số loài tảo độc [28]

Ở các bè nuôi cá da trơn, phần trăm vật chất lơ lửng hữu cơ trong tổng vật chất

lơ lửng khá cao, biến động từ 36,6% đến 48,9%, các phần tử hữu cơ có nguồn gốc từ thức ăn đã làm tổng vật chất hữu cơ lơ lửng tăng cao Mặc khác, độ trong của nước trong bè thường thấp hơn ngoài bè, do có sự hiện diện của thức ăn và các sản phẩm thải từ cá Tổng lượng đạm của lớp bùn đáy ở khu vực cuối nguồn cao hơn có ý nghĩa

so với giữa và đầu nguồn [21]

Một nghiên cứu của Lê Bảo Ngọc (2004) về đánh giá chất lượng môi trường ao nuôi

cá tra thâm canh ở xã Tân Lộc - huyện Thốt Nốt và Thành phố Cần Thơ đã đi đến kết luận tổng đạm và tổng lân cuối vụ nuôi tăng rất cao so với lúc mới thả cá Hàm lượng tổng đạm

và tổng lân trong bùn đáy ao lần lượt trước khi thả là 1,97 ±0,65 mg/g và 0,39 ± 0,16 mg/g

và tăng lên tương ứng khi thu hoạch là 4,98 mg và 2,19 ± 1,77 mg/g bùn khô [18]

Trương Quốc Phú (2007) khi nghiên cứu chất lượng nước và bùn đáy ao nuôi

cá tra thâm canh, kết luận một ao nuôi cá tra thâm canh với năng suất khoảng 500 tấn/vụ thì lượng thức ăn (thức ăn công nghiệp + tự chế) cung cấp vào ao khoảng 1.000 tấn (hệ số thức ăn = 2) Tổng lượng nitơ đưa vào ao khoảng 18,8 tấn, lượng phospho khoảng 4,2 tấn [22]

2.3.2.9 Vấn đề ô nhiễm trong việc phát triển nghề nuôi cá tra thâm canh

Hàm lượng dinh dưỡng tích lũy trong ao nuôi cá tra thâm canh rất cao, gấp nhiều lần so với các ao nuôi thâm canh các đối tượng khác Hàm lượng vật chất dinh

Trang 20

Như vậy lượng chất thải ra môi trường ước tính khoảng hơn 1 triệu tấn, trong đó chứa khoảng hơn 900.000 tấn chất hữu cơ, 29.000 tấn nitơ và 9.500 tấn phospho (tính trên vật chất khô), khoảng 250 - 300 triệu m3 nước thải và 8 -9 triệu tấn bùn thải [22]

Kết quả khảo sát của Trần Anh Dũng (2005) cho thấy có hai nguyên nhân chính gây ra hao hụt trong quá trình nuôi cá tra ở những năm gần đây là do: (i) môi trường bị

ô nhiễm, chất lượng nước vùng nuôi bị suy giảm, đặc biệt là do các yếu tố môi trường như pH, chất thải từ đồng ruộng, … từ đó phát sinh dịch bệnh trên cá nuôi; (ii) chất lượng con giống không đảm bảo nguyên nhân vì người sản xuất giống chạy theo số lượng nên dùng quá nhiều kháng sinh ở giai đoạn cá giống làm cho việc phòng trị bệnh trong giai đoạn nuôi cá thịt gặp nhiều khó khăn [7]

2.4 Tình hình nghiên cứu bệnh cá tra trên thế giới và tại Việt Nam

2.4.1 Tình hình nghiên cứu bệnh cá da trơn trên thế giới

Bệnh cá luôn được xem là một trong những tác nhân gây hao hụt lớn trong nghề nuôi cá trên thế giới và Việt Nam Nghề nuôi cá da trơn ở Mỹ và nhiều nước trên thế giới đã phát triển vào đầu những năm 1980 Cùng với sự phát triển của nghề nuôi, ngày càng có nhiều bệnh được phát hiện, bệnh gây thiệt hại lớn nhất cho nghề nuôi cá

da trơn ở Mỹ là bệnh nhiễm trùng máu do vi khuẩn Edwardsiella ictaluri gây ra trên

Cá Nheo Mỹ (Ictalurus punctatus Rafinesque) [47]

Giống Edwardsiella bao gồm hai loài đặc biệt gây bệnh trên cá đó là

Edwardsiella tarda [44], nhóm vi khuẩn này gây bệnh trên cá và cả những động vật khác và Edwardsiella ictaluri [50] chỉ gây bệnh trên cá Loài Edwardsiella tarda

thường gây hoại tử, thối rữa, nhiễm trùng máu trên các động vật nên có tên gọi là ES

(Edwardsiella septicaemia) Còn Edwardsiella ictaluri chỉ gây bệnh nhiễm trùng máu

trên cá da trơn nên có tên gọi là ESC (Edwardsiella septicaemia of catfish)

Bệnh Edwardsiella septicaemia xuất hiện đầu tiên trên các loài cá nhiệt đới ở

Châu Mỹ và Châu Á [59], tác nhân gây bệnh là E tarda Đặc điểm của E.tarda được

mô tả như sau: là vi khuẩn gram âm, hình que, di động yếu, đường kính khoảng 1µm, dài 2 - 3 µm, lên men đường, sinh khí, phát triển ở nồng độ muối 3‰ và chịu được

nhiệt độ cao [77] Vi khuẩn E.tarda được phân lập ở Nhật Bản với tên gọi đầu tiên là Paracolabacterium anguillimortiferum [51] Ở các loài cá khác nhau bệnh gây ra

những dấu hiệu bệnh lý không giống nhau Chúng gây bệnh mủ trên gan, thận ở Cá

Chình Nhật Bản (Anguilla japonica) [60], gây bệnh trên trên Cá Bơn (Paralichthys olivaceus) [62] Ở Mỹ E tarda gây bệnh nhiễm trùng máu cấp tính trên Cá Nheo (Ictalurus punctatus Rafinesque), bệnh gây ra những đốm trắng nhỏ trên da ở phần

Trang 21

đuôi, từ đó vết thương tổn có thể tạo thành vết loét sâu vào trong cơ, kèm theo hiện tượng xuất huyết hoại tử lỏng với mùi hôi đặc trưng do vi khuẩn có khả năng sinh H2S gây tỉ lệ hạo hụt cao [42] Ước tính thiệt hại hàng năm do bệnh nhiễm trùng máu trong nghề nuôi công nghiệp Cá Nheo ở Mỹ khoảng 60 triệu USD [71]

Bệnh Edwardsiella septicaemia of catfish là bệnh gây thiệt hại lớn nhất cho nghề nuôi Cá da trơn ở Mỹ, có tần số bắt gặp là 32,9% [48] bệnh được phát hiện lần đầu tiên vào năm 1976, đến 1979 được Hawke và ctv xác định là bệnh do một loài vi

khuẩn mới thuộc họ Enterobacteriaceae, có quan hệ gần gũi với E tarda được đặt tên

là E Ictaluri [47] Những nghiên cứu ban đầu cho rằng E ictaluri có ký chủ đặc hữu

là cá da trơn nên không phải là mối nguy đối với các loài cá khác trong cùng một ao Tuy nhiên, vi khuẩn có thể được phân lập từ đường ruột của nhiều loài cá khác nhau,

vì vậy những loài cá khác trong ao có thể là sinh vật mang mầm bệnh [69]

E ictaluri là một vi khuẩn gram âm, hình que ngắn, kích thước 0,75 x 1,5 - 2,5

µm, di động, yếm khí tùy tiện, không sinh bào tử, phản ứng oxidase âm tính, catalase dương tính và lên men đường glucose [72] Không sinh ra H2S và Indole âm tính Đây là

vi khuẩn mọc chậm trên môi trường tổng hợp Các môi trường thường được lựa chọn để nuôi cấy vi khuẩn này là TSA (Trypton soya agar) có bổ sung 5% máu cừu, BHIA (Brain heart infusion agar) và EIA (Edwardsiella ictaluri agar) Sau 36 - 48 giờ ủ ở 25 -

30oC mới xuất hiện những khuẩn lạc rất nhỏ (1 - 2 mm), hơi lồi, rìa bằng, không màu

Vi khuẩn phát triển tốt ở 25 - 30oC, có thể tồn tại được 3 - 4 tháng trong nước ao, bùn đáy, thực vật thủy sinh, sống sót tốt trong các mô đông lạnh [47], [49], [48], [69]

2.4.2 Tình hình nghiên cứu bệnh cá tra tại Việt Nam

Bệnh mủ gan được ghi nhận xuất hiện đầu tiên trên Cá Tra (Pangasianodon hypophthalmus Sauvage, 1878) nuôi ở Đồng bằng Sông Cửu Long vào cuối năm 1998

[45], khi nghề nuôi Cá Tra xuất khẩu trở nên phổ biến ở mức độ thâm canh cao Bệnh

có thể kéo dài hoặc gây chết cấp tính, gây tổn thất lớn trong nghề nuôi Cá bị bệnh có thể không biểu hiện dấu hiệu bất thường về bên ngoài, hoặc có một số dấu hiệu không đặc trưng như: giảm ăn, bơi lội lờ đờ, da nhạt màu, cá gầy yếu, bụng sưng to, có xuất huyết ở quanh miệng và hậu môn Giải phẫu nội tạng là phương pháp chẩn đoán lâm sàng tốt nhất cho bệnh này Nội quan cá bệnh xuất hiện nhiều đốm trắng từ 1 - 3 mm trên gan, thận, lá lách [6] Chính vì thế mà bệnh này còn được gọi với nhiều tên khác nhau như: bệnh đốm trắng, bệnh trắng gan, bệnh gan thận mủ, bệnh mủ gan thận, bệnh hoại tử nội tạng [9], [6], [41], [45], [54] Các cơ quan gan, thận, lá lách sưng to, đặc

Trang 22

Bệnh thường xảy ra vào mùa nước lũ, cao điểm vào tháng 7 và tháng 8 Tỉ lệ chết tích lũy từ 10 - 90% nếu không có biện pháp kỹ thuật kịp thời [6] Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu của Trần Thị Minh Tâm lại cho rằng bệnh thường xảy ra vào mùa mưa, nhất

là mùa nước rút tháng 11 - 12 hàng năm [25], [6], [45] Theo kết quả điều tra của Trần Anh Dũng (2005), tỉ lệ xuất hiện bệnh mủ gan ở An Giang trên Cá Tra trong mô hình nuôi ao là 61%, mô hình nuôi bè là 73,9%, mô hình nuôi đăng quầng là 88% [7]

Hiện nay, bên cạnh bệnh mủ gan còn có một số bệnh khác cũng gây thiệt hại đáng kể cho nghề nuôi Cá Tra như bệnh xuất huyết, vàng da, trắng gan trắng mang, bệnh do ký sinh trùng…

Theo nghiên cứu của Hứa Thị Phương Liên (1998) bệnh xuất huyết trên cá basa xảy ra gần như quanh năm không mang tính mùa vụ nhưng đôi khi có những thời điểm bệnh bộc phát cao độ vào tháng 2 - 3 đầu mùa khô, tháng 7 - 8 mùa nước lũ và tháng

11 mùa nước rút Cá basa bệnh có những biểu hiện: thịt có đốm đỏ, xoang miệng, vây xuất huyết, hậu môn sưng đỏ, mang đen, tữa ra Cá bệnh mất nhớt, bụng trướng to, có mùi hôi đặc trưng Cá giảm ăn hoặc bỏ ăn, hay nhào lộn bất thường, ngửa bụng trôi theo dòng nước hoặc uốn cong thân, bơi lội không định hướng Giải phẫu cá bệnh thấy gan đen bầm hoặc xuất huyết, dạ dày và ruột xuất huyết, xoang bụng chứa dịch vàng Trường hợp cấp tính bệnh gây chết cao 80 - 90% Trường hợp mãn tính thịt cá có điểm xuất huyết màu đỏ và giảm giá trị thương phẩm, hiện nay vẫn chưa có biện pháp phòng trị hữu hiệu [15]

Cũng như một số loài cá nước ngọt khác, bệnh trắng đuôi do vi khuẩn Pseudomonas cũng xuất hiện trên Cá Tra ở giai đọan cá hương, cá giống Thời kỳ đầu của bệnh, ở vị trí gần đuôi có một điểm trắng sau đó lan dần về phía trước cho đến vây lưng và vây hậu môn, cả đoạn thân sau màu trắng Bệnh nặng cá cắm đầu xuống dưới, đuôi hướng lên trên tạo thành góc vuông với mặt nước, còn gọi là cá “trồng cây chuối”, cá bệnh chết nhanh chóng và hàng loạt trước khi chết có hiện tượng co giật [9]

Cá Tra giống thường bị nhiễm các nhóm ký sinh trùng đơn bào và đa bào có chu kỳ phát triển trực tiếp không qua ký chủ trung gian như trùng bánh xe

(Trichodina), thích bào tử trùng (Myxobolus, Henneguya), trùng miệng lệch (Chilodonella), sán lá đơn chủ (Datylogyrus, Gyrodactylus), trùng mỏ neo (Lernaea)

Chúng gây thành dịch bệnh và làm thiệt hại nghiêm trọng cho nghề nuôi cá Cho đến nay đã phát hiện được 29 loài ký sinh trùng trên Cá Tra Trong đó nhóm ký sinh trùng

đơn bào (Protozoa) gặp 21 loài thuộc 10 giống: Cryptobia, Ceratomyxa, Myxobolus, Henneguya, Balantidium, Ichthyophthyrius, Epistylis, Apisoma, Trichodina, Tripatiella; sán lá đơn chủ (Monogenea) gặp 2 loài thuộc giống Thaparocleidus; sán dây (Cestoidea) gặp 2 loài: Lystocestus varvulus, Proteocephalus osculatus; sán lá

Trang 23

song chủ (Tremtoda) gặp 1 loài: Bucephalopsis gracilescens; giun tròn (Nematoda) gặp 2 loài: Spectatus pangasia, Cucullanus chabaudi; giáp xác (Crustacea) gặp một loài: Egasius sp [13]

Hiện nay, bệnh vàng da cũng gây thiệt hại lớn cho các mô hình nuôi Cá Tra trong bè, trong ao và nuôi đăng quầng Với dấu hiệu bệnh lý là cá giảm ăn, bỏ ăn, bơi

lờ đờ, da có màu vàng nghệ, vàng túi mật, đặc biệt cá chết rất nhanh và gần như hàng hoạt Có thể bắt gặp bệnh vàng da quanh năm, mặc dù vậy cao điểm của bệnh là vào những tháng mùa khô đối với nuôi đăng quầng; vào mùa lũ đặc biệt là thời điểm giao mùa từ mùa khô chuyển sang mùa mưa trong mô hình nuôi bè, còn đối với nuôi cá tra

ao bệnh thường tập trung vào thời gian lũ rút [7]

Trang 24

Chương 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Thời gian và địa điểm thực hiện

Thời gian thực hiện: 08 tháng (Từ tháng 8/2008 đến tháng 3/2009)

Địa điểm thực hiện đề tài: Các ao thí nghiệm được bố trí trên địa bàn xã Châu

Bình, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre

Vị trí các ao thí nghiệm của đề tài

Bản đồ hành chính tỉnh Bến Tre

Trang 25

3.2 Sơ đồ khối/phương pháp nghiên cứu:

Cá giống có kích cỡ đồng đều được thả nuôi tại các ao thực nghiệm

Thu mẫu phân tích và đo

đạc các chỉ tiêu môi

trường

Định kỳ xác định tốc tộ tăng trưởng của cá

Theo dõi tình hình bệnh xuất hiện trên các ao nuôi

thử nghiệm

Đánh giá hiệu quả kinh tế của từng ao nuôi thử nghiệm

Đánh giá phân tích kết quả nghiên cứu Đưa ra kết luận và đề xuất kiến nghị

Mật độ thả N1

(25con/m2)

Mật độ thả N2 (35con/m2)

Mật độ thả N3 (45con/m2)

Yếu tố

thủy lý

Yếu tố thủy hóa

Định kỳ

10 ngày xác định khối lượng trung bình

Định kỳ

10 ngày xác định tốc độ tăng trưởng

Các bệnh đã xuất hiện

Số lượng

cá chết

Đánh giá lợi nhuận trên tổng vốn đầu

Xác định phần trăm lợi nhuận mỗi ao

Số lần xuất hiện Yếu tố

thủy hóa

Trang 26

độ khác nhau: 25 con/m2, 35 con/m2 và 45 con/m2 Thí nghiệm đã được lặp lại 2 lần

Bảng 3.1: Các thông số kỹ thuật của 06 ao thí nghiệm

Thứ tự

ao

Diện tích (m 2 )

Mật độ (con/m 2 )

Độ sâu (m)

Lượng bùn đáy (cm)

- Chọn giống và thả giống: Cá tra giống được chọn mua từ một trại giống thuộc huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp Giống đưa vào thả nuôi thí nghiệm có kích cở trung bình khoảng 14gam/con (1,5cm) Trước khi thả nuôi, con giống cũng đã được kiểm tra bằng cách quan sát và giải phẫu 10 con cá ngẫu nhiên để đảm bảo đàn giống thả nuôi không bị các bệnh như: bệnh mủ ở gan thận, bệnh xuất huyết, bệnh trắng mang trắng gan Thời gian thả giống vào buổi sáng vào các ngày 19 và 20 tháng 8 năm 2008

- Thức ăn dùng và cách cho ăn: Thức ăn viên của Công ty CP đã được sử dụng trong suốt chu kỳ nuôi Cá được cho ăn 02 lần/ngày, buổi sáng vào lúc 9 – 10 giờ, buổi

Trang 27

chiều vào lúc 16 – 17 giờ Khẩu phần thức ăn cho cá dao động từ 1,5 – 5% khối lượng thân cá/ ngày tùy theo tháng nuôi khác nhau

- Quản lý môi trường nước ao nuôi: Trong 2 tháng đầu thay nước ao 2 – 3 ngày/1 lần, mỗi lần thay khoảng 20% lượng nước trong ao Từ tháng thứ 3 trở đi nước ao được thay hàng ngày, mỗi lần thay khoảng 30 – 40% lượng nước trong ao Trong quá trình nuôi các ao thí nghiệm được hút bùn 02 lần vào tháng thứ 3 và tháng thứ 5 của vụ nuôi Các chế phẩm vi sinh làm sạch môi trường đã không được sử dụng do thí nghiệm

đã lựa chọn kỹ thuật thay nước hàng ngày

3.3.2 Phương pháp theo dõi sinh trưởng của cá

- Định kỳ 10 ngày thu mẫu cá một lần để cân đo khối lượng cá, mỗi lần thu ngẫu nhiên 50 con Khối lượng cá được cân bằng cân đồng hồ hiệu Nhơn Hòa Việt Nam với độ chính xác 10 g Do điều kiện thiếu các dụng cụ tại địa phương, nên khi cá còn nhỏ thì 50 con cá được cân một lần rồi lấy giá trị trung bình, đến khi cá đạt khối lượng khoảng 50 gam/con trở lên thì cân từng con một để được xác định khối lượng định kỳ

- Sinh trưởng của cá thí nghiệm được tính toán theo các chỉ số như sau:

+ Giá trị trung bình được xác định theo công thức:

Trong đó : : Gía trị trung bình của chỉ tiêu cần xác định

n: Số lần xác định của chỉ tiêu

i: Gía trị của chỉ tiêu cần xác định

+ Độ lệch chuẩn của các giá trị trung bình được xác định theo công thức:

S: độ lệch chuẩn

n: số cỡ mẫu

: là số trung bình của mẫu số liệu

+ Sai số chuẩn:

Trang 28

SE: Sai số chuẩn

S: Độ lệch chuẩn

n: Số cỡ mẫu

+ Tốc độ tăng trưởng theo ngày của khối lượng cá được xác định theo công thức:

1 2

1 2

t t

W W DWG

W1: Khối lượng của cá ở thời điểm t1 (g/con)

W2: Khối lượng của cá ở thời điểm t2 (g/con)

t1, t2: là thời gian lúc đầu và lúc sau (theo thí nghiệm t2 – t1=10 ngày)

+ Phương pháp xác định số lượng cá khi thu hoạch:

Tổng sản lượng cá thu hoạch (g)

Số lượng cá khi thu hoạch (con) =

Trọng lượng trung bình của cá khi thu hoạch (g)

B: Số cá thả nuôi ban đầu (con)

3.3.3 Theo dõi sức khỏe cá trong các ao thí nghiệm

Hàng ngày, trạng thái hoạt động của cá trong ao đã được quan sát, theo dõi để phát hiện các dấu hiệu bất thường, đặc biệt là vào 2 buổi sáng sớm và chiều tối Khi

Trang 29

phát hiện dấu hiệu bất thường, mẫu cá bệnh đã được thu để quan sát, giải phẫu và mô

tả các dấu hiệu chính của bệnh bằng cảm quan: đốm trắng ở gan, thận; xuất huyết trên thân và trên các nội tạng; trắng gan và mang Số lần cá bị bệnh và số lượng cá chết ở mỗi ao đã được theo dõi và tổng hợp cụ thể để xác định tỷ lệ cá chết do bệnh trong suốt vụ nuôi

3.3.4 Theo dõi một số yếu tố môi trường

3.3.4.1 Các yếu tố thủy lý: nhiệt độ, độ trong, chất rắn lơ lửng

Nhiệt độ và độ trong của nước ao thí nghiệm được kiểm tra hàng ngày Nhiệt độ

đo ngày 2 lần vào 6h sáng và 14h chiều bằng nhiệt kế thủy ngân có độ chính xác 0,1 độ

Độ trong đo ngày một lần bằng đĩa secchi

Chất rắn lơ lửng (TSS) được đo 15 ngày 1 lần Mẫu nước thu đại diện cho các ao

và chỉ số TSS được đo bằng phưong pháp khối lượng xác định cặn trong nước thải (theo TCVN 4560-88) tại Trung tâm ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ tỉnh Bến Tre

3.3.4.2 Các yếu tố thủy hóa: pH, DO, BOD, NH 3 và NO 3 -

Chỉ số pH, DO được kiểm tra hàng ngày, 2 lần trong ngày, buổi sáng vào lúc 6 giờ và buổi chiều vào lúc 14 giờ Các yếu tố này được kiểm tra trực tiếp tại trại nuôi Hàm lượng oxy hòa tan của nước ao (DO) được đo bằng kit Aqua DO của Công ty CP Thái Lan Chỉ số pH được đo bằng máy đo có gắn điện cực của hãng Martini Italia

Các chỉ số đánh giá hàm lượng nitơ trong nước (NH3, NO3-) được kiểm tra 30 ngày/1 lần Mẫu nước được thu bằng batomét ở độ sâu 1m Hàm lượng NH3 trong nước được xác định bằng kit được sản xuất bởi hãng SERA của Đức tại trại nuôi, thông qua giá trị NH4 và pH Hàm lượng ion NO3- được xác định bằng phương pháp

so màu (theo TCVN 4562-88) tại phòng thí nghiệm của Trung tâm ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ tỉnh Bến Tre

Chất hữu cơ trong nước các ao thí nghiệm được đánh giá thông qua chỉ số BOD5 và được xác định 15 ngày/1 lần Mẫu nước dùng cho phân tích chỉ số này được lấy trước khi thay nước, giữ ở điều kiện phích lạnh và gởi phân tích tại phòng thí nghiệm của Trung tâm ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ tỉnh Bến Tre BOD5được phân tích bằng phương pháp đo sự hô hấp của vi sinh vật trong chai kín (chai đo oxytop) ở nhiệt độ 20oC, sau 5 ngày

Trang 30

3.3.4.3 Yếu tố sinh vật:

Nghiên cứu này thực hiện ở địa phương với điều kiện kinh phí hạn hẹp, nên chỉ

có số lượng vi khuẩn tổng số của nước ao được xác định đại diện cho chỉ tiêu sinh vật của môi trường nước ở các ao nuôi thí nghiệm

Mẫu nước dùng cho phân tích vi khuẩn tổng số được thu 15 ngày/1 lần, cách mặt nước 0,5m, ở các vị trí giữa ao và 4 góc ao trước thời điểm thay nước (mỗi điểm lấy 1 lít nước), sau đó trộn đều lại và lấy 1 lít giữ mẫu nước trong thùng lạnh cho đến khi phân tích

Phương pháp gián tiếp đã được sử dụng để phân tích số lượng vi khuẩn tổng số trong mẫu nước, nên đơn vị tính là CFU/ml (đơn vị khuẩn lạc/ml) Môi trường dinh dưỡng tổng hợp TSA (Tryptic Soy Agar) đã được dùng cho nghiên cứu này 0,1 ml mẫu nước sau khi đã pha loãng với nước muối sinh lý vô trùng (ở mức 100, 10-1, 10-2 ) được dàn đều trên mặt của môi trường TSA trong 2 hộp lồng Mẫu được ủ ở nhiệt độ 280C sau 24h Số lượng khuẩn lạc trong các đĩa lồng đã được đếm và tính giá trị trung bình

Số lượng vi khuẩn hiếu khí tổng số được xác định theo công thức:

xK V

V: Thể tích nước đưa vào nuôi cấy (thường lấy 100 µL (tức 0,1 mL))

K: Hệ số pha loãng 10; 100; 1000…

3.3.5 Đánh giá hiệu quả đợt nuôi

- Đánh giá sản lượng của các ao nuôi thí nghiệm sau khi thu hoạch (tấn/ha/vụ)

- Đánh giá lợi nhuận của các ao nuôi thí nghiệm trên cơ sở tổng vốn đầu tư, chi phí sản xuất và công lao động

Lợi nhuận (đồng) = Tổng vốn đầu tư – (chi phí sản xuất + công lao động)

- Tính phần trăm lợi nhuận (%): Dựa trên cơ sở số tiền lợi nhuận và tổng vốn đầu tư của các ao nuôi thí nghiệm

(CFU/mL)

Trang 31

Lợi nhuận (đồng) Phần trăm lợi nhuận(%) = x 100 Tổng vốn đầu tư (đồng)

Trang 32

Nhìn từ trên cao xuống, Bến Tre có hình giẻ quạt, đầu nhọn nằm ở thượng nguồn, các nhánh sông lớn như hình nan quạt xòe rộng ở phía đông Phía bắc giáp tỉnh Tiền Giang, có ranh giới chung là sông Tiền, phía Nam giáp tỉnh Trà Vinh, phía Tây giáp tỉnh Vĩnh Long, có ranh giới chung là sông Cổ Chiên, phía Đông giáp biển Đông, với chiều dài bờ biển là 65 km Những con sông lớn nối từ biển Đông qua các cửa sông chính (cửa Đại, cửa Ba Lai, cửa Hàm Luông và cửa Cổ Chiên), ngược về phía thượng nguồn đến tận Campuchia; cùng hệ thống kênh rạch chằng chịt khoảng 6.000

km đan vào nhau chở nặng phù sa chảy khắp ba dải cù lao (Nguồn http://www.bentre.gov.vn)

4.1.2 Đặc điểm khí hậu, thủy văn

 Đặc điểm khí hậu

Bến Tre nằm trong miền khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, nhưng lại nằm ngoài ảnh hưởng của gió mùa cực đới, nên nhiệt độ cao, ít biến đổi trong năm, nhiệt độ trung bình hằng năm từ 26oC - 27oC Trong năm không có nhiệt độ tháng nào trung bình dưới 20oC Hằng năm, mặt trời đi qua thiên đỉnh 2 lần (16 tháng 4 và 27 tháng 7) Lượng bức xạ khá dồi dào, trung bình đạt tới 160 kcal/cm2 Với vị trí nằm tiếp giáp với biển Đông, nhưng Bến Tre ít chịu ảnh hưởng của bão, vì nằm ngoài vĩ độ thấp (bão thường xảy ra từ vĩ độ 15o bắc trở lên) Ngoài ra, nhờ có gió đất liền, nên biên độ dao động ngày đêm giữa các khu vực bị giảm bớt (Nguồn http://www.bentre.gov.vn)

Trang 33

Tỉnh Bến Tre chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau và gió mùa tây nam từ tháng 5 đến tháng 11, giữa 2 mùa gió tây nam và đông bắc là 2 thời kỳ chuyển tiếp có hướng gió thay đổi vào các tháng 11 và tháng 4 tạo nên

2 mùa rõ rệt Mùa gió đông bắc là thời kỳ khô hạn, mùa gió tây nam là thời kỳ mưa

ẩm Lượng mưa trung bình hằng năm từ 1.250 mm - 1.500 mm Do thời tiết nóng ẩm nên thường có nạn dịch bệnh, và nấm mốc phát sinh, phát triển quanh năm (Nguồn http://www.bentre.gov.vn)

 Đặc điểm thủy văn

Chế độ thuỷ triều: Nằm kề bên biển Đông, những con sông Bến Tre không

những tiếp nhận nguồn nước từ Biển Hồ đổ về, mà hằng ngày, hằng giờ còn tiếp nhận nguồn nước biển do thủy triều đẩy vào Tuy mức độ mỗi sông, hoặc mỗi đoạn sông có khác nhau, song ở bất kỳ chỗ nào, từ Mỹ Thuận tới các cửa sông, mùa cạn hay mùa lũ, mực nước các sông hằng ngày đều có dao động theo sự chi phối của thủy triều (Nguồn http://www.bentre.gov.vn)

Biên độ thủy triều: Vùng biển Bến Tre thuộc phạm vi khu vực bán nhật triều

không đều Hầu hết các ngày đều có 2 lần nước lên, 2 lần nước xuống Chênh lệch giữa đỉnh - chân triều những ngày triều lớn có thể từ 2,5 m tới 3,5 m Chênh lệch giữa đỉnh - chân triều những ngày triều kém thường dưới hoặc xấp xỉ 1 m Biên bộ hằng ngày kỳ triều cường thường lớn gấp 1,5 lần đến 2 lần kỳ triều kém, song với vùng bán nhật triều điều chênh lệch này không lớn (Nguồn http://www.bentre.gov.vn)

Trong mỗi chu kỳ nửa tháng, bắt đầu là 1,2 ngày triều kém, đến giữa chu kỳ là triều cường, cuối chu kỳ là 1,2 ngày triều kém Kỳ nước cường thường xảy ra sau ngày không trăng (đầu tháng âm lịch) hoặc ngày trăng tròn (rằm, khoảng 2 ngày) (Nguồn http://www.bentre.gov.vn)

Nước mặt: Nước ngọt của các sông chảy qua Bến Tre được cung cấp bởi nước

ngọt từ sông Tiền Do điều tiết của Biển Hồ ở Campuchia, hằng năm từ tháng 6 đến tháng 9 có dòng nước chảy ngược vào Tông Lê Sáp, rồi vào Biển Hồ, để rồi từ tháng

12 đến tháng 5 năm sau lại từ Biển Hồ nước bổ sung cho dòng chảy sông Tiền, sông Hậu với tổng lượng nước khoảng 80 km3 (Nguồn http://www.bentre.gov.vn)

Song dòng chảy các sông ở tỉnh Bến Tre không đơn thuần do nước từ thượng nguồn đổ về, mà còn do thủy triền biển Đông theo các cửa sông xâm nhập sâu vào trong đất liền, tạo nên dòng chảy khá phức tạp trong những con sông lớn, nhỏ của tỉnh

Trang 34

4.1.3 Đặc điểm thủy lý, thủy hóa của nguồn nước

Nhiệt độ nước trung bình hàng năm từ 27oC - 29oC và sự dao động theo mùa thường không cao

Độ trong vào mùa khô thường cao vào khoảng 30 - 50 cm nhưng vào mùa lũ khi nước từ thượng nguồn đổ về mang theo nhiều phù sa làm độ trong giảm thấp chỉ từ

Hàm lượng NH3 < 1 mg/L

(nguồn Sở Nông nghiệp phát triển nông thôn tỉnh Bến Tre)

4.2 Đánh giá ảnh hưởng của mật độ nuôi lên chất lượng môi trường nước

4.2.1 Sự biến động của các yếu tố thủy hóa

 Hàm lượng Oxy hòa tan (DO)

Nhìn chung, ở tất cả các nghiệm thức, khi đo hàm lượng oxy hòa tan sáng và chiều đều nhận thấy, hàm lượng oxy hòa tan giảm dần theo thời gian Diễn biến DO sau 1 vụ nuôi thể hiện bảng 4.1:

Trang 35

Bảng 4.1: Biến động hàm lượng DO trung bình vào buổi sáng ở các nghiệm thức

43,2

b

059,078,2

5,32

a

052,038,2

2,35,1

5 , 2 5 , 1

b

059 , 0 8 , 1

2 , 2 5 , 1

a

035 , 0 34 , 1

5 , 1 1

7,25,1

b

049,02

33,1

a

039,071,1

3,22,1

7,25,1

b

039,095,1

2,25,1

a

068,046,1

2,2,1

24,1

b

053,064,1

2,22,1

a

035,035,1

8,12,1

23,1

b

047,068,1

23,1

a

041,03,1

5,11

8 , 1 1

b

04 , 0 4 , 1

5 , 1 1

a

043 , 0 2 , 1

4 , 1 1

Số liệu trình bày trên bảng là giá trị trung bình ± độ lệch chuẩn Số liệu cùng hàng có các chữ cái khác nhau thể hiện sai khác có ý nghĩa thống kê (p< 0,05)

Kết quả nghiên cứu được thể hiện rõ hơn ở hình 4.1

Hình 4.1: Sự biến động hàm lượng Oxy hòa tan vào buổi sáng tại các nghiệm thức

Trang 36

Xét hàm lượng DO vào buổi sáng tại các ao nuôi cho thấy, nghiệm thức nuôi với mật độ 25 con/m2 có hàm lượng DO cao nhất (2,9 mg/L trong tháng đầu tiên và 1,45 mg/L trong tháng cuối thí nghiệm) Mặc dù ao nuôi ở nghiệm thức 35 con/m2 có hàm lượng DO đạt 2,78 mg/L vào tháng đầu tiên và 1,4 mg/L tại tháng cuối đợt thí nghiệm thấp hơn so với ao nuôi mật độ 25 con/m2, tuy nhiên không có sự sai khác có ý nghĩa (p>0,05) Hàm lượng oxy đạt thấp nhất tại nghiệm thức nuôi với mật độ 45 con/m2, cụ thể là 2,38 mg/L trong tháng nuôi đầu tiên và 1,2 mg/L trong tháng nuôi cuối cùng Khi so sánh thống kê với các nghiệm thức có mật độ thấp hơn (25 và 35 con/m2) cho thấy có sự sai khác có ý nghĩa (p<0,05) ở tất cả các tháng trong chu kỳ nuôi

Diễn biến hàm lượng oxy hòa tan vào buổi chiều tại các ao có mật độ nuôi khác nhau cũng tương tự như buổi sáng Hàm lượng DO vào buổi chiều tại các ao được thể hiện ở bảng 4.2

Bảng 4.2: Biến động hàm lượng DO trung bình vào buổi chiều tại các nghiệm

5,55,2

b

046,067,3

5,45,2

a

072,04,3

6,475,2

5 , 3 2

b

036 , 0 74 , 2

2 , 3 2

a

042 , 0 33 , 2

3 85 , 1

6,35,2

b

074,003,3

6,35,2

a

07,061,2

2,32

5 , 3 2

b

073 , 0 83 , 2

5 , 3 5 , 2

a

093 , 0 37 , 2

3 5 , 1

5,32

b

043,069,2

35,2

a

061,025,2

32

5,32

b

049,047,2

32

a

073,007,2

35,1

5 , 3 2

b

042 , 0 36 , 2

5 , 2 2

a

07 , 0 99 , 1

3 5 , 1

Số liệu trình bày trên bảng là giá trị trung bình ± độ lệch chuẩn Số liệu cùng hàng có

các chữ cái khác nhau thể hiện sai khác có ý nghĩa thống kê (p< 0,05)

Trang 37

Kết quả cũng được thể hiện qua hình 4.2

Hình 4.2: Sự biến động hàm lượng Oxy hòa tan vào buổi chiều tại các nghiệm

thức nuôi có mật độ khác nhau

Ao nuôi mật độ nuôi 25 con/m2 có hàm lượng DO cao nhất (3,84 mg/L trong tháng đầu tiên và 2,52 mg/L trong tháng cuối thí nghiệm) Mặc dù ao nuôi ở nghiệm thức 35 con/m2 có hàm lượng DO đạt 3,67 mg/L vào tháng đầu tiên và 2,36 mg/L tại tháng cuối đợt thí nghiệm thấp hơn so với ao nuôi mật độ 25 con/m2, tuy nhiên không

có sự sai khác có ý nghĩa (p>0,05) Trong khi đó, hàm lượng DO đạt thấp nhất tại ao nuôi mật độ 45 con/m2, trung bình đạt 3,4 mg/L trong tháng nuôi đầu tiên và 1,99 mg/L trong tháng nuôi cuối cùng Khi so sánh thống kê với 2 nghiệm thức có mật độ nuôi thấp hơn (25 con và 35 con/m2) cho thấy có sự thấp hơn có ý nghĩa (p<0,05) ở tất

cả các tháng nuôi

Theo TCVN 6774: 2000 Chất lượng nước, chất lượng nước ngọt bảo vệ đời sống thủy sinh, hàm lượng DO đạt mức A là 5 mg/L Đối chiếu với hàm lượng DO của các nghiệm thức thí nghiệm cho thấy hầu hết các thời điểm đo đều < 5 mg/L, chỉ có một vài thời điểm > 5 mg/L của nghiệm thức nuôi mật độ 25con/m2 Mặc dù cá tra chịu được ngưỡng oxy thấp nhưng cũng ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển, đặc biệt là khi nuôi với mật độ cao

Những tháng đầu vụ nuôi, hàm lượng oxy hòa tan đạt mức khá cao là do hàm lượng chất hữu cơ trong ao còn ở mức độ thấp, cá còn nhỏ nên sinh khối thấp, lượng oxy tiêu hao do quá trình hô hấp của sinh vật trong ao và phân hủy chất hữu cơ của vi

Trang 38

tăng và làm hàm lượng oxy hòa tan (DO) thấp, thậm chí có ngày còn xuống tới 1 mg/L

ở ao có mật độ 45 con/m2 Tuy nhiên, cá tra là loài chịu được điều kiện khắc nghiệt, có ngưỡng oxy thấp (< 2 mg/L) [33], nên cá có khả năng sinh trưởng và phát triển ở điều kiện khi hàm lượng oxy hòa tan trong nước thấp

Ở cả 3 ao thí nghiệm, ôxy hòa tan trung bình giảm thấp cả buổi sáng vào tháng thứ 2 Nguyên nhân là do vào tháng thứ 2 của vụ nuôi thời tiết mưa nhiều, nước đục, gây hiện tượng tảo tàn

 Chỉ số pH của nước ao nuôi cá tra

Nhìn chung gía trị pH ở cả 3 ao đều có xu hướng giảm dần từ khi bắt đầu đến khi kết thúc thí nghiệm Mức chênh lệch pH trong ngày không lớn, những ngày có giá trị pH cao chủ yếu là do tác động của việc dùng vôi và tảo phát triển

Diễn biến pH sau 1 vụ nuôi thể hiện bảng 4.3

Bảng 4.3: Biến động pH ở các nghiệm thức nuôi có mật độ khác nhau

Số liệu trình bày trên bảng là giá trị min -max Số liệu cùng hàng có các chữ cái khác nhau thể hiện sai khác có ý nghĩa thống kê (p< 0,05)

Mật độ nuôi không ảnh hưởng đến giá trị pH của các nghiệm thức nuôi thí nghiệm Gía trị pH trong quá trình nuôi của 03 nghiệm thức nuôi thí nghiệm dao động

Tháng

nuôi

Tháng I 7,1 - 7,7b 7,2-8,2b 6,9 - 7,6b 7,1-8,1b 6,8 - 7,7a 7,1-7,7a Tháng II 6,8 - 7,5b 7,0-7,5b 6,8 - 7,5ab 6,9-7,5a 6,8 - 7,4a 7,0-7,6a Tháng III 6,7 - 7,3a 7,0-7,5a 6,8 - 7,3a 6,9-7,5a 6,7 - 7,3a 7,0-7,6a Tháng IV 6,8 - 7,1a 7,0-7,5b 6,3 - 7,2a 6,9-7,4ab 6,4 - 7,0a 6,9-7,3a Tháng V 6,7 - 7,1a 7,0-7,3a 6,7 - 7,1a 7,0-7,3a 6,6 - 7,1a 7,0-7,2a Tháng VI 6,4 - 7,3a 6,7-7,5a 6,3 - 7,1a 6,7-7,2a 6,4 - 7,2a 6,5-7,3a Tháng VII 6,5 - 7,1b 6,5-7,5a 6,4 - 7,2ab 6,5-7,2a 6,3 - 7,0a 6,5-7,3a

Trang 39

từ 6,3 - 7,7 vào buổi sáng và từ 6,5 - 8,2 vào buổi chiều Gía trị pH ở các nghiệm thức

có mật độ nuôi khác nhau tuy có sai khác nhưng sự sai khác không đáng kể

Theo Boyd (1990), pH thích hợp cho sự phát triển của cá là từ 6,5-9 thì kết quả nghiên cứu này cho thấy hoàn toàn phù hợp cho cá tra sinh sống và phát triển [37]

 Khí độc ammoniac - NH 3 trong ao nuôi

Hàm lượng NH3 ảnh hưởng lớn đến sức khỏe của cá nuôi Khi hàm lượng ammoniaccao trong nước, cá sẽ không bài tiết hết lượng ammoniac dư do đó lượng ammoniac trong máu sẽ tăng lên, ảnh hưởng đến sức khỏe của cá Hàm lượng ammoniac cao cũng ảnh hưởng đến mang và gan, làm tổn hại đến chức năng của các

cơ quan này. Nếu hàm lượng ammoniacquá cao, cá có xu hướng ngoi lên mặt nước để lấy ôxy từ không khí, dẫn đến gây “ sốc” (stress) cho cá, tạo điều kiện cho mầm bệnh

dễ dàng xâm nhập [29]

Do sự biến động của yếu tố pH trong các ao cá tra bố trí thí nghiệm không lớn

và nằm ở ngưỡng thích hợp nên hàm lượng NH3 của các ao đều nằm ở ngưỡng thích cho cá tra phát triển, hàm lượng khí NH3 qua các tháng được thể hiện trong bảng sau:

Bảng 4.4: Hàm lượng NH 3 trung bình của 2 ao ở các nghiệm thức

03,002,0

ab

005,0035,0

04,003,0

b

005,0055,0

07,006,0

03,0

b

005,0045,0

05,004,0

b

002,0055,0

06,005,0

02,001,0

ab

005,0025,0

03,002,0

b

005,0045,0

05,004,0

02 , 0

ab

005 , 0 035 , 0

04 , 0 03 , 0

b

01 , 0 06 , 0

07 , 0 05 , 0

03,002,0

ab

01,005,0

06,004,0

b

005,0065,0

07,006,0

03,002,0

ab

005,0055,0

06,005,0

b

01,007,0

08,006,0

04 , 0 03 , 0

b

005 , 0 065 , 0

07 , 0 06 , 0

b

005 , 0 075 , 0

08 , 0 07 , 0

Số liệu trình bày trên bảng là giá trị trung bình ± độ lệch chuẩn Số liệu cùng hàng có các chữ cái khác nhau thể hiện sai khác có ý nghĩa thống kê (p< 0,05)

Trang 40

Hình 4.3: Biểu đồ giá trị của hàm lượng NH 3 tại 3 nghiệm thức nuôi có mật độ

khác nhau

Các số liệu ở bảng 4.4 cho thấy, mật độ nuôi có ảnh hưởng đến hàm lượng NH3của các ao nuôi thí nghiệm Tại nghiệm thức nuôi 35 con/m2 có hàm lượng NH3 trung bình (dao động từ 0,025 – 0,065 mg/L), nhỏ hơn so với hàm lượng NH3 khi nuôi tại mật độ 45 con/m2 (dao động trung bình từ 0,045 – 0,075 mg/L), nhưng không có sự sai khác có ý nghĩa (p > 0,05) Hàm lượng NH3 nhỏ nhất tại 2 ao nuôi ở nghiệm thức nuôi mật độ 25 con/m2 (dao động trung bình từ 0,015 – 0,035 mg/L) Khi so sánh thống kê với các nghiệm thức có mật độ cao hơn (35 và 45 con/m2) cho thấy có sự sai khác có ý nghĩa (p<0,05) ở tất cả các tháng trong chu kỳ nuôi

Do sự biến động của yếu tố pH trong các ao cá tra bố trí thí nghiệm không lớn

và nằm ở ngưỡng thích hợp nên hàm lượng NH3 của các ao đều nằm ở ngưỡng thích cho cá tra phát triển Tuy nhiên có sự tăng cao hàm lượng NH3 của các mật độ nuôi vào tháng thứ 2, do vào thời điểm này cá chết nhiều, chất lượng nước trong ao nuôi bị

ô nhiễm

Khi hàm lượng ammoniac cao trong nước, cá sẽ không bài tiết hết lượng ammoniac dư do đó lượng ammoniac trong máu sẽ tăng lên, ảnh hưởng đến sức khỏe của cá Hàm lượng ammoniac cao cũng ảnh hưởng đến mang và gan, làm tổn hại đến chức năng của các cơ quan này. Nếu hàm lượng ammoniacquá cao, cá có xu hướng ngoi lên mặt nước để lấy ôxy từ không khí, dẫn đến gây “ sốc” (stress) cho cá, tạo điều kiện cho mầm bệnh dễ dàng xâm nhập [29]

 NO 3

trong ao nuôi (mg/L)

Ngày đăng: 05/03/2015, 14:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
6. Từ Thanh Dung và ctv (2004). Xác định vi khuẩn gây bệnh đốm trắng trên gan cá tra (Pangasius hypophthalmus). Tạp chí khoa học Đại học Cần Thơ 2004: 137- 142 Sách, tạp chí
Tiêu đề: (Pangasius hypophthal"m"us)
Tác giả: Từ Thanh Dung và ctv
Năm: 2004
7. Trần Anh Dũng (2005). Khảo sát các tác nhân gây bệnh trong nuôi cá tra (Pangasius hypophthalmus) thâm canh ở tỉnh An Giang. Luận văn tốt nghiệp cao học. Khoa thủy sản, Đại học Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: hypophthalmus
Tác giả: Trần Anh Dũng
Năm: 2005
14. Trần Thị Lan (2005). Diễn biến môi trường ao nuôi cá tra (Pangasianodon hypophthalmus Saugave, 1878 ) tại trại thực nghiệm Ninh Phụng. Luận văn tốt nghiệp đại học, Đại học thủy sản, Nha Trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pangasianodon hypophthalmus
Tác giả: Trần Thị Lan
Năm: 2005
15. Hứa Thị Phương Liên (1998). Nghiên cứu bệnh xuất huyết trên vi, xoang miệng cá basa (Pangasius bocourti) nuôi bè tại An Giang. LAThS. ĐHTS Sách, tạp chí
Tiêu đề: (Pangasius bocourti)
Tác giả: Hứa Thị Phương Liên
Năm: 1998
25. Trần Thị Minh Tâm và ctv (2003). Nghiên cứu bệnh đốm trắng trên cá tra (Pangasius hypophthalmus) nuôi công nghiệp. Báo cáo tổng kết, Viên nghiên cứu NTTS II Sách, tạp chí
Tiêu đề: (Pangasius hypophthalmus)
Tác giả: Trần Thị Minh Tâm và ctv
Năm: 2003
31. Lê Như Xuân, và ctv (1994). Cá tra (Pangasius micronemus Bleeker) một số đặc điểm sinh học và sinh sản nhân tạo. Tạp chí Thủy sản, tháng 2 năm 1994, pp 13 - 17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: (Pangasius micronemus Bleeker)
Tác giả: Lê Như Xuân, và ctv
Năm: 1994
32. Trần Thanh Xuân (1994). Cá tra (Pangasius micronenmus Bleeker), một số đặc điểm sinh học và sinh sản nhân tạo. Tạp chí thủy sản, tháng 2/1994: 13-17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pangasius micronenmus
Tác giả: Trần Thanh Xuân
Năm: 1994
40. Cacot. P (1999). Etude du cycle sexuel et maitrise de la reproduction de Pangasius bocouti (Sauvage, 1880) et Pangasius hypophthalmus (Sauvage, 1878) dans de delta due Mekong au Viet nam. PhD Thesis Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pangasius bocouti" (Sauvage, 1880) et Pangasius" hypophthalmus
Tác giả: Cacot. P
Năm: 1999
41. Crumlish.M, T. T. Dung, J. F. Turnbull, N. T. N Ngoc and H. W. Ferguson (2002). Identification of Edwardsiella ictaluri from diseased freshwater catfish Sách, tạp chí
Tiêu đề: Edwardsiella ictaluri
Tác giả: Crumlish.M, T. T. Dung, J. F. Turnbull, N. T. N Ngoc and H. W. Ferguson
Năm: 2002
44. Ewing, W.H., McWhorter, A,C., Escobar, M.R, and Lubin, A.H (1965), Edwardsiella, a new genus of Enterobacteriaceae based on a new species, Edwardsiella tarda. Internationnal Bulletin of Bacteriological Nomenclature and Taxonomy. 15:33-38 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Edwardsiella tarda
Tác giả: Ewing, W.H., McWhorter, A,C., Escobar, M.R, and Lubin, A.H
Năm: 1965
45. Ferguson H.W, Turbull J.F, Shinn A.P, Thompson K, Dung T T and Crumlish M (2001), Bacillary necrosis in farmed Pangasius hypophthalmus from the Mekong delta, Viet Nam. Journal of fish disease 24, 509-513 Sách, tạp chí
Tiêu đề: hypophthalmus
Tác giả: Ferguson H.W, Turbull J.F, Shinn A.P, Thompson K, Dung T T and Crumlish M
Năm: 2001
47. Hawke, J.P at el (1981), Edwardsiella ictaluri sp. nov., the causative agent of enteric septicemia of catfish. International Journal of Systematic bacteriology, oct 1981, p 396-400. Vol 31, No4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Edwardsiella ictaluri sp. nov
Tác giả: Hawke, J.P at el
Năm: 1981
54. Kei Yuasa, Edy Barkat Kholidin, Novita Panigoro, Kishio Hatai (2003). First isolation of Edwardsiella ictaluri from cultured striped catfish Pangasius hypophthalmus in Indonesia. Fish pathology, 38 (4), 181-183, 2003.12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ictaluri " from cultured striped catfish "Pangasius hypophthalmus
Tác giả: Kei Yuasa, Edy Barkat Kholidin, Novita Panigoro, Kishio Hatai
Năm: 2003
55. Komarudin. O and O. Pariselle (2000). Inflection of Thaparocleidus (Monogenea) on Pangasius djambal, Pangasius hypophthalmus and their hybrid reared in pond. Paper presented at the final meeting of the “Catfish Asia project”, 11-20 May. 2000. Indonesia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pangasius djambal, Pangasius hypophthalmus" and their hybrid reared in pond. Paper presented at the final meeting of the “Catfish Asia project
Tác giả: Komarudin. O and O. Pariselle
Năm: 2000
59. Meyer, F.P, and Bullock, G.L (1973). Edwardsiella tarda, a new pathogen of channel catfish (Ictalurus punctatus). Applied Microbiology. 25: 155-156 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Edwardsiella tarda", a new pathogen of channel catfish "(Ictalurus
Tác giả: Meyer, F.P, and Bullock, G.L
Năm: 1973
71. Shoemaker C.A, P.H. Klesius and J.A. Plumb (1997). Killing of Edwardsiella ictaluri by macrophages from channel catfish. Veterinary immunology and immunopathology. 58: 181-190 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Edwardsiella ictaluri
Tác giả: Shoemaker C.A, P.H. Klesius and J.A. Plumb
Năm: 1997
75. Udomkarn, C (1989). Integrated of catfish (Clarias macrocephalus) Cage culture with Tilapia in Earthen Pond. M.SC. Thesis. Asian Institute of Technology.Bangkok. Thailand Sách, tạp chí
Tiêu đề: (Clarias macrocephalus)
Tác giả: Udomkarn, C
Năm: 1989
77. Wakabayashi, H, and Egusa, S (1973). Edwardsiella tarda (Paracolobacterium anguillimortiferam) associated with pond-culture eel disease. Bulletin of the Japanese Society of Scientific Fisheries. 39: 931 - 936 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Edwardsiella tarda (Paracolobacterium
Tác giả: Wakabayashi, H, and Egusa, S
Năm: 1973
1. Nguy ễn Tường Anh, Nguyễn Hữu Thanh và Trần Minh Anh (1979). Sinh sản nhân tạo cá tra ở Thái Lan. Tập san KHKT, Đại học học Nông nghiệp IV Thành phố hồ Chí Minh, 2: 128-135 Khác
2. Ban chỉ đạo sản xuất và tiêu thụ cá tra và basa Việt Nam (2009). Báo cáo tổng kết năm 2009 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1 Cá tra - Pangasianodon hypophthalmus  2.1.3 Đặc điểm sinh sản và phân bố - ảnh hưởng của mật độ nuôi đến chất lượng môi trường nước, tốc độ tăng trưởng, bệnh và hiệu quả kinh tế của cá tra pangasius hypophthalmus sauvage, 1878 nuôi thâm canh trong ao đất tại xã châu bình , giồng trôm, bến tre
Hình 2.1 Cá tra - Pangasianodon hypophthalmus 2.1.3 Đặc điểm sinh sản và phân bố (Trang 9)
Bảng 2.1 Thành phần thức ăn ở dạ dày cá tra trong tự nhiên - ảnh hưởng của mật độ nuôi đến chất lượng môi trường nước, tốc độ tăng trưởng, bệnh và hiệu quả kinh tế của cá tra pangasius hypophthalmus sauvage, 1878 nuôi thâm canh trong ao đất tại xã châu bình , giồng trôm, bến tre
Bảng 2.1 Thành phần thức ăn ở dạ dày cá tra trong tự nhiên (Trang 10)
Bảng 2.2: Diện tích và sản lượng cá tra của Việt Nam từ năm 2005 - 2009 - ảnh hưởng của mật độ nuôi đến chất lượng môi trường nước, tốc độ tăng trưởng, bệnh và hiệu quả kinh tế của cá tra pangasius hypophthalmus sauvage, 1878 nuôi thâm canh trong ao đất tại xã châu bình , giồng trôm, bến tre
Bảng 2.2 Diện tích và sản lượng cá tra của Việt Nam từ năm 2005 - 2009 (Trang 12)
3.2. Sơ đồ khối/phương pháp nghiên cứu: - ảnh hưởng của mật độ nuôi đến chất lượng môi trường nước, tốc độ tăng trưởng, bệnh và hiệu quả kinh tế của cá tra pangasius hypophthalmus sauvage, 1878 nuôi thâm canh trong ao đất tại xã châu bình , giồng trôm, bến tre
3.2. Sơ đồ khối/phương pháp nghiên cứu: (Trang 25)
Bảng 3.1: Các thông số kỹ thuật của 06 ao thí nghiệm  Thứ tự - ảnh hưởng của mật độ nuôi đến chất lượng môi trường nước, tốc độ tăng trưởng, bệnh và hiệu quả kinh tế của cá tra pangasius hypophthalmus sauvage, 1878 nuôi thâm canh trong ao đất tại xã châu bình , giồng trôm, bến tre
Bảng 3.1 Các thông số kỹ thuật của 06 ao thí nghiệm Thứ tự (Trang 26)
Hình 4.1: Sự biến động hàm lượng Oxy hòa tan vào buổi sáng tại các nghiệm thức - ảnh hưởng của mật độ nuôi đến chất lượng môi trường nước, tốc độ tăng trưởng, bệnh và hiệu quả kinh tế của cá tra pangasius hypophthalmus sauvage, 1878 nuôi thâm canh trong ao đất tại xã châu bình , giồng trôm, bến tre
Hình 4.1 Sự biến động hàm lượng Oxy hòa tan vào buổi sáng tại các nghiệm thức (Trang 35)
Hình 4.2: Sự biến động hàm lượng Oxy hòa tan vào buổi chiều tại các nghiệm  thức nuôi có mật độ khác nhau - ảnh hưởng của mật độ nuôi đến chất lượng môi trường nước, tốc độ tăng trưởng, bệnh và hiệu quả kinh tế của cá tra pangasius hypophthalmus sauvage, 1878 nuôi thâm canh trong ao đất tại xã châu bình , giồng trôm, bến tre
Hình 4.2 Sự biến động hàm lượng Oxy hòa tan vào buổi chiều tại các nghiệm thức nuôi có mật độ khác nhau (Trang 37)
Bảng 4.3: Biến động pH ở các nghiệm thức nuôi có mật độ khác nhau - ảnh hưởng của mật độ nuôi đến chất lượng môi trường nước, tốc độ tăng trưởng, bệnh và hiệu quả kinh tế của cá tra pangasius hypophthalmus sauvage, 1878 nuôi thâm canh trong ao đất tại xã châu bình , giồng trôm, bến tre
Bảng 4.3 Biến động pH ở các nghiệm thức nuôi có mật độ khác nhau (Trang 38)
Bảng 4.4: Hàm lượng NH 3  trung bình của 2 ao ở các nghiệm thức   có mật độ nuôi khác nhau - ảnh hưởng của mật độ nuôi đến chất lượng môi trường nước, tốc độ tăng trưởng, bệnh và hiệu quả kinh tế của cá tra pangasius hypophthalmus sauvage, 1878 nuôi thâm canh trong ao đất tại xã châu bình , giồng trôm, bến tre
Bảng 4.4 Hàm lượng NH 3 trung bình của 2 ao ở các nghiệm thức có mật độ nuôi khác nhau (Trang 39)
Hình 4.3: Biểu đồ giá trị của hàm lượng NH 3  tại 3 nghiệm thức nuôi có mật độ  khác nhau - ảnh hưởng của mật độ nuôi đến chất lượng môi trường nước, tốc độ tăng trưởng, bệnh và hiệu quả kinh tế của cá tra pangasius hypophthalmus sauvage, 1878 nuôi thâm canh trong ao đất tại xã châu bình , giồng trôm, bến tre
Hình 4.3 Biểu đồ giá trị của hàm lượng NH 3 tại 3 nghiệm thức nuôi có mật độ khác nhau (Trang 40)
Hình 4.4: Diễn biến NO 3 -  trung bình ở 3 nghiệm thức mật độ thí nghiệm. - ảnh hưởng của mật độ nuôi đến chất lượng môi trường nước, tốc độ tăng trưởng, bệnh và hiệu quả kinh tế của cá tra pangasius hypophthalmus sauvage, 1878 nuôi thâm canh trong ao đất tại xã châu bình , giồng trôm, bến tre
Hình 4.4 Diễn biến NO 3 - trung bình ở 3 nghiệm thức mật độ thí nghiệm (Trang 42)
Hình 4.5: Diễn biến BOD 5  trung bình ở 3 nghiệm thức nuôi với mật độ khác nhau - ảnh hưởng của mật độ nuôi đến chất lượng môi trường nước, tốc độ tăng trưởng, bệnh và hiệu quả kinh tế của cá tra pangasius hypophthalmus sauvage, 1878 nuôi thâm canh trong ao đất tại xã châu bình , giồng trôm, bến tre
Hình 4.5 Diễn biến BOD 5 trung bình ở 3 nghiệm thức nuôi với mật độ khác nhau (Trang 43)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w