BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG --- NGUYỄN THỊ MINH NGUYỆT NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ VÀ CHẾ PHẨM SINH HỌC LÊN QUÁ TRÌNH SINH TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ SỐNG CỦA NGHÊU GIỐN
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
-
NGUYỄN THỊ MINH NGUYỆT
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ VÀ CHẾ PHẨM SINH HỌC LÊN QUÁ TRÌNH SINH TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ
SỐNG CỦA NGHÊU GIỐNG (Meretrix lyrata Sowerby, 1851)
ƯƠNG TRONG AO ĐẦM NƯỚC LỢ VEN BIỂN THÁI BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Nha Trang – 2013
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
NGUYỄN THỊ MINH NGUYỆT
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ VÀ CHẾ PHẨM SINH HỌC LÊN QUÁ TRÌNH SINH TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ
SỐNG CỦA NGHÊU GIỐNG (Meretrix lyrata Sowerby, 1851)
ƯƠNG TRONG AO ĐẦM NƯỚC LỢ VEN BIỂN THÁI BÌNH
CHUYÊN NGÀNH: NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
MÃ SỐ: 60 62 70 LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS LÊ ANH TUẤN
TS NGUYỄN QUANG HÙNG
Nha Trang – 2013
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn thạc sỹ này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các nội dung và kết quả trong luận văn này dựa trên cơ sở nguồn số liệu tự bản thân tôi trực tiếp triển khai, thu thập và phân tích Các tài liệu tham khảo sử dụng trong luận văn này với mục đích phân tích và so sánh đã được trích dẫn đầy đủ, minh bạch theo đúng quy định Kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực, chưa sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tác giả
Nguyễn Thị Minh Nguyệt
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn tới các đồng chí Lãnh đạo Sở Nông nghiệp & PTNT Thái Bình, Lãnh đạo Chi cục Nuôi trồng Thuỷ sản Thái Bình cùng toàn thể cán bộ công chức trong Chi cục đã tạo điều kiện hỗ trợ, giúp đỡ tôi trong thời gian học tập và thực hiện luận văn tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn giáo viên hướng dẫn TS Lê Anh Tuấn, TS Nguyễn Quang Hùng đã định hướng, hướng dẫn, góp ý và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện và hoàn thiện luận văn này
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các Giảng viên, Khoa Đào tạo ĐH-SĐH, Khoa Nuôi trồng Thuỷ sản Trường Đại học Nha Trang, Phòng đào tạo sau Đại học Viện Nghiên cứu Hải Sản đã hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành khoá học này
Để hoàn thành luận văn này, ngoài sự nỗ lực của bản thân tôi còn nhận được sự quan tâm, động viên của gia đình và bè bạn, sự giúp đỡ nhiệt tình của các tổ chức, cá nhân nơi tôi thực hiện đề tài
Xin được bày tỏ lòng cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất!
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC CÁC HÌNH vi
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I – TỔNG QUAN TÀI LIỆU 6
1.1 Đặc điểm tự nhiên, điều kiện khí hậu vùng ven biển 6
1.2 Đặc điểm sinh học của nghêu 7
1.2.1 Hệ thống phân loại 7
1.2.2 Đặc điểm hình thái 7
1.2.3 Đặc điểm phân bố 8
1.2.4 Đặc điểm dinh dưỡng 9
1.2.6 Đặc điểm sinh sản 10
1.3 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 11
1.4 Tình hình nghiên cứu trong nước 13
1.4.1 Nuôi nghêu bãi triều 13
1.4.2 Nuôi nghêu trong đầm, bể 16
CHƯƠNG 2 – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 18
2.2 Vật liệu nghiên cứu 18
2.3 Bố trí thí nghiệm 18
2.3 Phương pháp xác định các chỉ tiêu 19
2.3.1 Phương pháp thu và phân tích các chỉ tiêu thuỷ lý, thuỷ hoá 19
2.3.2 Phương pháp xác định chất đáy 20
2.3.3 Phương pháp thu và phân tích mẫu thực vật phù du 20
2.3.4 Theo dõi tăng trưởng và tỷ lệ sống của nghêu 20
Trang 62.3.5 Phân tích và xử lý số liệu 21
CHƯƠNG 3 – KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 22
3.1 Điều kiện môi trường thí nghiệm 22
3.1.1 Kết quả kiểm tra tỷ lệ cát bùn 22
3.1.2 Biến động các yếu tố thuỷ lý, thuỷ hoá 22
3.1.3 Kết quả phân tích định tính, định lượng tảo 25
3.1.3.1 Biến động thành phần loài TVPD trong quá trình thí nghiệm 25
3.1.3.2 Mật độ phân bố thực vật phù du 26
3.2 Tốc độ tăng trưởng của nghêu giống 27
3.2.1 Tăng trưởng về chiều dài 27
3.2.2 Tốc độ tăng trưởng khối lượng 29
3.3 Tỷ lệ sống của nghêu 29
3.4 Năng suất và hiệu quả kinh tế 31
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 33
A Kết luận 33
B Đề xuất 33
TÀI LIỆU THAM KHẢO 35
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Phương pháp thu thập các thông số yếu tố môi trường trong thời gian thí
nghiệm 19
Bảng 3.1: Điều kiện môi trường trong thời gian thí nghiệm 22
Bảng 3.2: Biến động mật đô TVPD theo tháng tại các ao thí nghiệm 26
Bảng 3.3: Tốc độ tăng trưởng về chiều dài của nghêu giống theo thời gian 28
Bảng 3.4: Tốc độ tăng trưởng về khối lượng của nghiêu giống theo thời gian 29
Bảng 3.5: Hạch toán kinh tế của các nghiệm thức thí nghiệm 31
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1: Hình thái vỏ nghiêu (M lyrata) 7
Hình 2.1: Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 18
Hình 2.2: Ao bố trí thí nghiệm về mật độ 19
Hình 3.1: Biến động nhiệt độ trong thời gian thí nghiệm 23
Hình 3.2: Biện động độ trong trong thời gian thí nghiệm 23
Hình 3.3: Biến động độ sâu trong thời gian thí nghiệm 24
Hình 3.4: Biến động pH trong thời gian thí nghiệm 24
Hình 3.5: Biến động độ mặn trong thời gian thí nghiệm 25
Hình 3.6: Tỷ lệ các ngành TVPD ở 2 ao thí nghiệm 26
Hình 3.7: Biến động mật độ TVPD theo tháng tại các ao thí nghiệm (tb/l) 27
Hình 3.8: Tỷ lệ sống của nghêu trong thời gian thí nghiệm 30
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Động vật thân mềm (Mollusca) hai mảnh vỏ (Bivalvia) là nhóm động vật thuỷ sản có mức độ đa dạng sinh học khá phong phú Đến nay, trên thế giới đã xác định có khoảng 8.000 loài hiện đang sống, 12.000 loài đã hoá thạch, phần lớn chúng phân bố ở biển, trong nước ngọt chỉ chiếm 10-15% [44] Ở Việt Nam đã xác định được khoảng 800 loài động vật thân mềm hai mảnh vỏ, trong đó có khoảng 26 loài có giá trị kinh tế cao, phân bố chủ yếu ở vùng bãi triều ven biển, bao gồm các loài phổ biến như: Nghêu (Meretrix), sò (Arca), vẹm (Mytilus), hàu (Ostrea), tu hài (Lutraria), phi (Sanguinolaria), ngán (Cyclina), vọp (Cyrena), vạng (Mactra), don (Claucomya), dắt (Aliodis), ngó (Dosinia) [37]
Sản lượng nhuyễn thể 2 mảnh vỏ (NTHMV) trên thế giới như hàu, nghêu, điệp và vẹm tăng ổn định từ những năm 90 và đạt mức kỷ lục năm 2002 là 12,4 triệu tấn, tăng trung bình khoảng 7,8%/năm Trong đó, sản lượng NTHMV nuôi tăng đều qua các năm,
từ 5,3 triệu tấn năm 1993 lên 10,4 triệu tấn năm 2002, tăng trung bình 10,7%/năm, chiếm 83,8% sản lượng nuôi năm 2002; trong khi sản lượng khai thác giảm 27,2% (năm 1993 là 1,9-2 triệu tấn) xuống còn 16,2% năm 2002 [32] Ở Việt Nam, theo thống kê của Tổng cục Hải Quan năm 2009 xuất khẩu nghêu của cả nước đạt 17.624 tấn, trị giá đạt trên 37,2 triệu USD, giá xuất khẩu trung bình đạt 2,11 USD/kg [41]
Họ nghêu (Veneridae) có khoảng 500 loài, phân bố rộng ở các nước ôn đới, nhiệt
đới Tại Việt Nam đã xác định được khoảng 40 loài thuộc 7 nhóm giống, phân bố dọc bờ
biển từ Bắc đến Nam, vùng ven biển phía Bắc có nghêu Dầu (Meretrix meretrix), nghêu Mật (Meretrix lusoria), vùng ven biển phía Nam có nghêu Bến Tre (Meretrix lyrata) phân
bố nhiều [41] Là nhóm động vật nhuyễn thể có tiềm năng lớn ở vùng triều nước ta, kỹ
thuật nuôi không phức tạp, chu kỳ nuôi ngắn, đầu tư ít nhưng có giá trị xuất khẩu Bên cạnh đó, nuôi nghêu còn là biện pháp tích cực để bảo vệ và phát triển nguồn lợi, góp phần làm sạch môi trường đáy vùng triều và đầm phá ven biển [41]
Tại Thái Bình, nghề nuôi nghêu Dầu (M meretrix) bắt đầu từ những năm 1990, tại 2
huyện ven biển Thái Thuỵ và Tiền Hải với hình thức nuôi tự phát, khi thấy hiệu quả cao
Trang 11nhiều hộ đã bắt đầu quây vùng nuôi; đến năm 2000, diện tích nuôi nghêu bãi triều đã tăng lên 800 ha, sản lượng đạt 7.000 tấn Năm 2001-2002, do ảnh hưởng của các yếu tố môi trường không thuận lợi, nghêu Dầu chết trên 80% diện tích nuôi Cùng năm đó, các hộ
dân đã di nhập giống nghêu Bến Tre (M lyrata) về nuôi; kết quả cho thấy, nghêu thích
ứng, sinh trưởng và phát triển tốt trong điều kiện môi trường của miền Bắc nói chung, Thái Bình nói riêng Đến năm 2008, nghêu nuôi tại Thái Bình được Trung tâm Quản lý chất lượng Nông - Lâm - Thuỷ sản vùng I kiểm tra giám sát, cấp giấy chứng nhận xuất xứ
để xuất khẩu vào thị trường các nước EU và có tên thương hiệu là nghêu Bến Tre (M
lyrata) Đến năm 2010, sản lượng nghêu nuôi của Thái Bình đạt 30.130 tấn/1.089 ha,
chiếm trên 1/3 sản lượng nghêu nuôi trong cả nước [24, 25] Năm 2011, Thái Bình đã quy hoạch tổng thể diện tích nuôi nghêu trong toàn tỉnh giai đoạn 2011-2015, tầm nhìn đến
2020 Trong đó mục tiêu đến 2015, diện tích nuôi nghêu (M lyrata) bãi triều là 3.000 ha,
sản lượng 105 ngàn tấn; đến 2020 là 5.000 ha, sản lượng 200 ngàn tấn [25]
Với tiềm năng diện tích bãi triều sẵn có đó, năm 2011 toàn tỉnh đã thả nuôi 6 tỷ con ngao giống (7.500 tấn), trong khi đó nguồn nghêu giống cung cấp tại chỗ có chất lượng nhưng số lượng hạn chế, chỉ đáp ứng được 15-20% nhu cầu, số lượng lớn (80%) nghêu giống được nhập về từ Trung Quốc hoặc các tỉnh Nam Bộ, do thời gian vận chuyển dài nên chất lượng con giống giảm, chi phí con giống tăng cao, khó kiểm soát được chất lượng, không chủ động được mùa vụ nuôi đã hạn chế đến năng suất và sản lượng [25, 27] Nguyên nhân số lượng nghêu giống tại chỗ chiểm tỷ lệ thấp là do các cơ sở sản xuất giống trong tỉnh chưa làm chủ được công nghệ sinh sản nhân tạo nghêu giống; bên cạnh đó diện tích bãi triều có thể ương được nghêu giống lại hạn chế, khoảng 250 ha nhưng chịu ảnh hưởng trực tiếp của sóng gió, mưa bão và nước ngọt trong nội đồng đổ ra biển từ các cửa sông lớn nên
tỷ lệ sống của nghêu giống ương bãi triều đạt thấp (40-60%) [24, 25]
Xuất phát từ thực tế trên, năm 2007-2008 một số hộ dân trong tỉnh đã mạnh dạn đi thăm quan học tập kinh nghiệm trong và ngoài nước, về đầu tư cải tạo một phần diện tích (5 ha) đầm nước lợ ngoài đê quốc gia nuôi tôm sú hiệu quả thấp sang ương nghêu giống, bước đầu đạt hiệu quả tốt [17] Kết quả đến năm 2010, diện tích ương nghêu giống trong đầm tăng lên 185 ha Ương nghêu giống trong đầm kỹ thuật đơn giản như: Hút bùn ra, bơm cát vào tạo môi trường chất đáy ao nuôi phù hợp với đặc điểm sinh học của nghêu, tu
Trang 12sửa bờ cống, cắm vây lưới Politylen để tránh địch hại tấn công và chăm sóc quản lý [27, 28] Đến nay, mô hình ương nghêu giống và nuôi nghêu thương phẩm trong đầm tại Thái Bình đã phát triển được từ 2-3 năm và được ngành tổng kết, đánh giá mang lại hiệu quả kinh tế cao, ổn định, xác định đây là đối tượng nuôi chủ lực trong thuỷ sản nước mặn, lợ của tỉnh [25] Kế hoạch đến 2015, diện tích ương nghêu giống trong đầm là 400 ha, đáp ứng được khoảng 50% lượng giống phục vụ cho nhu cầu nuôi nghêu thương phẩm bãi triều của người dân ven biển [6]
Ương nghêu giống trong đầm nước lợ có thể chủ động kiểm soát được các yếu tố đầu vào như con giống, môi trường, bệnh nghêu nâng cao tỷ lệ sống và hạn chế được các rủi
ro do bệnh dịch gây ra so với hình thức và đối tượng nuôi khác Tuy nhiên, phương pháp ương nghêu giống trong đầm hiện nay chủ yếu là dựa vào kinh nghiệm, trong khi đó: Cỡ nghêu giống đưa vào ương trong đầm dao động lớn (từ 1.000 con/kg đến trên 300 vạn con/kg), thông thường từ 40-100 vạn con/kg; Bộ NN&PTNT chưa ban hành quy trình kỹ thuật, người dân chưa có đầy đủ cơ sở khoa học về kỹ thuật ương nghêu giống nên hiệu quả mang lại còn thiếu ổn định và tồn tại như: (1) Chưa xác định được mật độ ương thích hợp theo từng giai đoạn sinh trưởng của nghêu để nâng cao tỷ lệ sống và hiệu quả kinh tế trên một đơn vị diện tích; (2) Nguồn thức ăn cung cấp cho nghêu sinh trưởng phụ thuộc chủ yếu vào mực nước thủy triều (thay nước khoảng 8-12 lần/tháng), thời gian còn lại nghêu thiếu thức ăn nên tốc độ sinh trưởng chậm, cỡ nghêu thu không đồng đều, tỷ lệ sống chưa cao…
Vì vậy, nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ và chế phẩm sinh học (CPSH) lên quá trình sinh
trưởng và tỷ lệ sống của nghêu giống (M lyrata) ương trong đầm nước lợ là cần thiết, làm
cơ sở bổ sung vào bản hướng dẫn kỹ thuật ương nghêu giống trong đầm nước lợ các giải pháp phù hợp với điều kiện thực tiễn sản xuất đang yêu cầu Đồng thời nhằm từng bước chủ động đáp ứng một phần nghêu giống cỡ lớn tại chỗ có chất lượng tốt, kịp thời vụ, kích
cỡ đồng đều cho nhu cầu nuôi nghêu thương phẩm bãi triều của tỉnh, nâng cao tỷ lệ sống, năng suất, sản lượng, giá thành thấp… tăng thu nhập, giải quyết việc làm, góp phần phát triển kinh tế - xã hội các xã ven biển
Chế phẩm sinh học (CPSH) đã được các nhà nghiên cứu sử dụng trên các đối tượng thuỷ sản như cá, tôm, động vật thân mềm; các kết quả nghiên cứu đều cho thấy việc
bổ sung CPSH đã góp phần hạn chế tỷ lệ chết của ấu trùng và con giống các loài 2 mảnh
Trang 13vỏ, ngoài ra CPSH còn góp phần kích thích sinh trưởng và tăng hiệu quả tiêu hoá thức ăn Mục đích của nghiên cứu này là để đánh giá ảnh hưởng của mật độ và chế phẩm sinh học
đến tốc độ sinhh trưởng và tỷ lệ sống của nghêu giống (M lyrata) ương trong đầm nước
lợ, so sánh kết quả trên cùng mật độ (5.000 con/m2) ở 2 thí nghiệm (mật độ và chế phẩm)
có và không sử dụng chế phẩm sinh học (Ezym biosule) ảnh hưởng đến tốc độ sinh trưởng
và tỷ lệ sống của nghêu giống (M lyrata) ương trong đầm nước lợ ven biển Trên cơ sở
đó xây dựng hoàn thiện bản hướng dẫn (sổ tay) kỹ thuật ương nghêu giống trong đầm nước lợ để khuyến cáo cho người dân Thái Bình áp dụng vào sản xuất [42, 51, 55, 58]
2 Mục tiêu của đề tài
- Tìm hiểu một số đặc điểm sinh học và khả năng thích ứng với môi trường của
nghêu giống (M lyrata) ương trong đầm nước lợ ven biển Thái Bình;
- Đề xuất mật độ ương nghêu giống hợp lý; trên cùng mật độ 5.000 con/m2 so sánh
kết quả giữa thí nghiệm mật độ với thí nghiệm bổ sung chế phẩm sinh học (Ezym biosule) ảnh hưởng đến tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ sống của nghêu giống (M lyrata) ương trong
đầm nước lợ ven biển;
- Bổ sung giải pháp kỹ thuật, xây dựng bản hướng dẫn (sổ tay) kỹ thuật ương nghêu giống trong đầm nước lợ ven biển tỉnh Thái Bình
3 Nội dung nghiên cứu
1 Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ lên tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ sống của nghêu giống ương trong đầm nước lợ ven biển;
2 Nghiên cứu ảnh hưởng của chế phẩm sinh học lên tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ sống của nghêu giống ương trong đầm nước lợ ven biển;
3 Đánh giá hiệu quả, hoạch toán kinh tế và phân tích khả năng ứng dụng vào thực tiễn sản xuất
4 Ý nghĩa khoa học thực tiễn của luận văn
a Ý nghĩa khoa học
- Kết quả của luận văn là cơ sở khoa học để bổ sung đối tượng nuôi mới trong vùng đầm nước lợ nuôi tôm hiệu quả thấp và đề xuất các giải pháp kỹ thuật xây dựng bản hướng dẫn kỹ thuật ương nghêu giống trong ao, đầm nước lợ
- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng để làm tài liệu tham khảo cho các
Trang 14nghiên cứu tiếp theo, giảng dạy trong các trường đại học, cao đẳng, trung học kỹ thuật và phổ thông
b Ý nghĩa thực tiễn
Thành công của luận văn làm cơ sở chuyển đổi một phần diện tích ao đầm nuôi tôm hiệu quả thấp sang ương nghêu giống, góp phần giải quyết việc làm, phát triển kinh tế thuỷ sản của tỉnh theo hướng hiệu quả và bền vững
Trang 15CHƯƠNG I – TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Đặc điểm tự nhiên, điều kiện khí hậu vùng ven biển
Vị trí địa lý: Vùng ven biển tỉnh Thái Bình có toạ độ từ 20o17'–22o44' vĩ độ Bắc;
106o06'–106o39' kinh độ Đông, được giới hạn từ cửa sông Thái Bình đến cửa sông Ba Lạt Phía Bắc giáp huyện Tiên Lãng thành phố Hải Phòng, phía Nam giáp huyện Giao Thuỷ tỉnh Nam Định, phía Đông giáp Vịnh Bắc Bộ, phía tây là các xã nội đồng của 2 huyện Thái Thuỵ và Tiền Hải Bờ biển có chiều dài 52 km, với 5 cửa sông lớn chảy ra biển (cửa sông Hóa, Diêm Điền, Trà Lý, Cửa Lân, Ba Lạt) và 4 con sông lớn chảy qua địa phận tỉnh (sông Hóa, sông Luộc, Trà Lý, sông Hồng) hàng năm chuyển ra biển khoảng 60–80 triệu tấn bùn cát bồi tích Địa hình bãi triều ven biển tương đối bằng phẳng, độ dốc khoảng 0,5m/1km, có nhiều luồng lạch, phía ngoài bãi triều có các cồn cát nổi tạo nên bức tường
chắn sóng, đây là điều kiện thuận lợi để phát triển nuôi nghêu [26, 28, 41]
Đặc điểm khí hậu: Thái Bình nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, mùa nóng và mưa
từ tháng 5 đến tháng 10; mùa lạnh và khô từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau Nhiệt độ trung bình trong năm từ 23–24oC, nhiệt độ thấp nhất là 4oC, cao nhất 38–39oC
Số giờ nắng trong năm từ 1.600–1.800 giờ Lượng mưa trung bình năm từ 1.500–1.900mm, cao nhất 2.528mm, thấp nhất 1.173mm Độ ẩm trung bình nhiều năm từ 85–90% [41, 27]
Chế độ thuỷ triều: Ven biển Thái Bình thuộc vùng có chế độ nhật triều thuần nhất, một tháng có 2 chu kỳ triều, một chu kỳ có 14 con triều Biên độ triều lớn nhất vào các tháng 6, 7 và tháng 12, 1 đạt tới 3,6–3,7 m Hàng năm có tới 176 ngày có đỉnh triều cao 3,0 m trở lên, biên độ triều trung bình 2,5 m, mực nước triều dâng cao nhất 3,9 m (so số 0 hải đồ) [27, 41]
Đặc điểm nền đáy: Chất đáy vùng triều ven biển Thái Bình chủ yếu là bùn, bùn cát Hàng năm lưu lượng nước từ thượng nguồn đổ về, kéo theo lượng bùn, trầm tích hữu cơ, hàm lượng muối khoáng và nhiều yếu tố khác với khối lượng lớn, bị các Cồn ven biển ngăn lại không cho trầm tích đổ ra biển Do đó, khu vực này được bồi đắp tạo nên vùng triều rộng, lớn khoảng 25.000 ha, có hàm lượng muối khoáng cao, trầm tích lớn, thời gian phơi bãi thuận lợi cho nuôi nhuyễn thể, đặc biệt là nuôi nghêu [27, 41]
Trang 161.2 Đặc điểm sinh học của nghêu
Loài nghêu Bến Tre: Meretrix lyrata (Sowerby, 1851)
Tên tiếng Anh: Lyrate Asiatic Hard Clam
Tên địa phương: Nghêu Bến Tre
Loài nghêu Bến Tre Meretrix lyrata (Sowerby, 1851) đã được Bộ Thủy sản Việt
Nam xếp vào danh mục các loài thủy sản có giá trị kinh tế cao ở Việt Nam [41]
1.2.2 Đặc điểm hình thái
Hình 1.1: Hình thái vỏ nghêu (M lyrata)
Các chi tiết cấu tạo và hình thái quan trọng của nghêu được các nhà nghiên cứu mô
tả như sau: Vỏ nghêu có hình tam giác, hai vỏ to bằng nhau, vỏ dày và chắc Chiều dài vỏ
Trang 17lớn hơn chiều cao vỏ Đỉnh vỏ nhô lên uốn cong về phía bụng Vòng sinh trưởng thô, phía trước của đỉnh vỏ mặt nguyệt thuôn dài, phía sau đỉnh vỏ có đai nề màu đen Mặt trong của vỏ màu trắng, trơn nhẵn; vết cơ khép vỏ trước nhỏ, hình bán nguyệt, vết cơ khép vỏ sau to hình trứng tròn Bên ngoài vỏ có màu trắng ngà, trắng xám hoặc nâu, trên mặt vỏ
có nhiều đường gân lồi gần như song song với nhau uốn cong theo miệng vỏ và thưa dần
về phía mặt bụng là những vòng sinh trưởng đồng tâm Nghêu lớn có chiều dài 40-50 mm, chiều cao 40-45 mm và chiều rộng 30-35 mm [41]
1.2.3 Đặc điểm phân bố
Theo nghiên cứu của Nguyễn Chính (1996), nghêu (M lyrata) phân bố chủ yếu ở
vùng biển ấm Tây Thái Bình Dương từ biển Đài Loan đến Việt Nam Ở Việt Nam chúng phân bố chủ yếu ở khu vực Tây Nam Bộ như: Tiền Giang, Bến Tre, Sóc Trăng, Bạc Liêu,
Theo nghiên cứu của Dương Văn Hiệp (2005), nghêu phân bố rộng trên các bãi triều,
độ sâu khoảng từ 1,5-4 m, chất đáy là cát pha bùn, trong đó cát chiếm khoảng 50-80% Nếu đáy toàn bùn nghêu dễ bị chết ngạt dưới bùn, đáy cát thuần nghêu không sống được
vì khô và nóng Nghêu là loài sống đáy và dùng chân rất phát triển để đào cát vùi mình, muốn hô hấp và dinh dưỡng nghêu đưa vòi lên mặt bãi và hình thành một lỗ nhỏ hình bầu dục màu vàng nhạt, nhìn lỗ ta có thể biết chỗ ở của nghêu để khai thác Vòi nghêu ngắn nên nghêu không thể chui được sâu, chỉ cách mặt đất chừng vài phân Khi trời nóng hoặc lạnh nghêu chui xuống sâu nhưng không quá 10 cm [11]
Trang 18Một số nghiên cứu khác cho thấy, nghêu có thể di chuyển từ chỗ này đến chỗ khác bằng chân trên mặt bãi nuôi, dùng chân phát triển để đào cát vùi mình Khi gặp điều kiện môi trường không thuận lợi (nhiệt độ, độ mặn), nghêu có thể di chuyển đi nơi khác bằng cách tiết ra một túi nhầy hoặc một dải chất nhầy để giảm nhẹ tỷ trọng cơ thể, nổi lên trong nước ở độ cao 1,2 m theo dòng nước triều di chuyển đi nơi khác [31, 41]
1.2.4 Đặc điểm dinh dưỡng
Thức ăn của nghêu biến đổi theo mùa, mùa xuân hè khí hậu ấm áp, cường độ chiếu sáng mạnh, thích hợp cho các loài tảo phát triển nên nghêu có nhiều thức ăn và lớn nhanh hơn [9, 33]
Phương thức bắt mồi của nghêu là bị động, khi triều dâng nghêu đưa vòi lên cát để lọc mồi ăn, chọn những hạt vụn hữu cơ, tảo có kích cỡ thích hợp Nhờ hoạt động của tiêm mao trên mang và dịch nhầy là sản phẩm tiết của các tế bào tuyến trên mô bì của mang, thức ăn được cuốn thành viên rồi chuyển về miệng Sau khi qua phần thực quản, thức ăn được chuyển vào dạ dày, tại đây chúng được tiêu hoá [41]
Giai đoạn ấu trùng thức ăn của nhóm Bivalvia là vi khuẩn (Bacteria), tảo Silic
(Diatoms), mùn bã hữu cơ (Detritus), nguyên sinh động vật (Flagellata) có kích thước nhỏ khoảng 10µ hoặc nhỏ hơn Giai đoạn trưởng thành ăn các loại mùn bã hữu cơ, tảo phù du [27, 59, 60]
Theo Nguyễn Hữu Phụng (1996), thành phần thức ăn chính của nghêu vùng Trà Vinh là mùn bã hữu cơ chiếm từ 75-90%, tảo chiếm từ 10-25% Trong thành phần tảo, tảo Silic chiếm 90-95%, tảo Giáp chiếm 3,3-6,6%, còn lại là tảo Lam, tảo Lục, tảo Vàng Ánh chiếm 0,8-1% [16]
Kết quả phân tích thành phần thức ăn trong dạ dày nghêu ở vùng biển Tân Thành của Trương Quốc Phú (1999) cho thấy, thức ăn chính của nghêu là mùn bã hữu cơ (chiếm 78,82-90,38%), phần còn lại là tảo (chiếm 9,62-21,18%) Những loài tảo bắt gặp trong dạ
dày nghêu đa số là những loài tảo đáy bùn (Epipelic algae) và có dạng tròn hoặc gần tròn như Coscinodiscus, Cyclotella do nghêu là loài sống vùi nên chúng bắt được nhiều tảo
đáy hơn các loài tảo phiêu sinh Mặt khác nghêu bắt mồi chọn lọc theo kích cỡ hạt thức ăn,
những loài tảo có kích thước lớn, dạng sợi như Chaetoceros, Skeletonema,
Bacteriastrum, nghêu khó bắt được, cỡ hạt thức ăn được tìm thấy trong ruột nghêu tối
Trang 19đa là 150µm Thành phần, số lượng thức ăn trong dạ dày nghêu có sự biến động theo mùa, mùa mưa tháng 9-10 mùn bã hữu cơ tăng, tảo giảm và ngược lại [18] Theo Quayle & Newkirk (1989), cỡ hạt thức ăn mà nhóm Bivalvia có thể bắt được là 10-100µm [60]
1.2.5 Đặc điểm sinh trưởng
Nghiên cứu của Nguyễn Việt Nam và Lê Thanh Lựu (2001) cho thấy, sức lớn của nghêu liên quan chặt chẽ với môi trường sống, nghêu sống ở vùng triều thấp sinh trưởng nhanh hơn vùng triều cao, ở vùng cửa sông có nhiều thức ăn, hàm lượng ôxy dồi dào nên quá trình trao đổi chất mạnh, lượng bắt mồi tăng, nghêu sinh trưởng nhanh Nghêu dầu 1 tuổi trọng lượng cá thể 5-7 g, 4 tuổi 12 g, về sau tăng càng chậm Hàng năm nghêu lớn nhanh từ tháng 4 đến tháng 9, hai năm đầu lớn nhanh, nhìn chung nghêu không sống quá
Theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Xuân Thu (2003), giới hạn chịu nhiệt cao của nghêu là 43oC, tăng lên 45oC nghêu chết toàn bộ Ở nhiệt độ 37,5oC nghêu sống được
10 giờ, ở 40oC nghêu sống được 5,3 giờ, ở nhiệt độ 42oC sống được 1,5 giờ Khi nhiệt độ giảm xuống 0oC các tơ mang ngừng hoạt động, ở nhiệt độ âm 2-3oC, sau 3 tuần nghêu chết 10% Nghêu có sức chịu đựng tốt với tỷ trọng cao, ở độ mặn 16-19‰ nghêu sinh trưởng tốt nhất, trong môi trường tự nhiên, nếu độ mặn biến đổi đột ngột sẽ gây chết hàng loạt, những vùng nước lũ kéo dài ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng của nghêu [36]
1.2.6 Đặc điểm sinh sản
Nghiên cứu của Appeldorn (1984), trên đối tượng Mya arenaria (soft shell clam)
cho thấy, tuyến sinh dục của nhóm Bivalvia thường phân tính, cũng có một số trường hợp lưỡng tính, kết quả từ 25 quần thể khác nhau cho thấy tỷ lệ đực là 48% và cái 25% [43]
Một số giống loài có tuyến sinh dục lưỡng tính như Pecten, Teredo còn lại đa số
là đơn tính Đặc biệt ở hầu (Crassostrea) có hiện tượng thay đổi tuyến sinhh dục, đực
chuyển thành cái và ngược lại, hiện tượng này lặp đi lặp lại suốt đời [2]
Trang 20Nghêu là loài phân tính đực cái, dựa vào hình dạng bên ngoài rất khó xác định giới tính Khi tuyến sinh dục thành thục, con cái có màu vàng, con đực có màu trắng sữa bao phủ khắp nội tạng [31, 15] Nghêu 1 năm tuổi có thể thành thục tuyến sinh dục, nghêu chỉ thành thục 1 lần/năm [41] Lượng trứng trong một con nghêu thành thục từ 4-6 triệu trứng [20] Mùa sinh sản của nghêu phụ thuộc vào từng vùng địa lý khác nhau, thường từ tháng
5 đến tháng 9 Hoạt động sinh sản của cá thể đực và cái tương tự nhau và diễn ra nhờ sự
co giãn của cơ khép vỏ, vỏ mở ra và khép lại nhanh, mạnh tạo thành lực ép đẩy tinh trùng hoặc trứng thoát ra ngoài Thông thường con đực phóng tinh trùng sớm hơn con cái ở cùng một thời gian kích thích (con đực phóng tinh từ 1-10 phút, con cái đẻ từ 10-20 phút sau khi kích thích) Trong mỗi đợt đẻ, cá thể đực và cái đẻ từ 4-6 lần trong thời gian từ 20-30 phút, tinh trùng có màu trắng đục, trứng có màu vàng nhạt [11, 15]
Theo Nguyễn Tác An và Nguyễn Văn Lục (1994), nghêu sinh sản hai kỳ trong năm, thời kỳ đầu vào tháng 3–5, thời kỳ thứ 2 vào lúc kết thúc mùa mưa khoảng tháng 10–11 hàng năm [1] Một số nghiên cứu khác, mùa sinh sản chính của nghêu từ tháng 5 đến tháng 7 và mùa phụ từ tháng 11 đến tháng 1 năm sau (có năm không thấy xuất hiện mùa phụ) với mật độ nghêu giống xuất hiện thấp hơn, tỷ lệ đực/cái trong tự nhiên là 1/1 [41] Theo kết quả nghiên cứu của Trương Quốc Phú (1999), tại vùng biển Tiền Giang cho thấy: Nghêu cỡ 1,6 cm (500 mg) sau 12 tháng nuôi đạt trung bình 3,5 cm có thể thành thục và tham gia sinh sản lần đầu tiên, sức sinh sản tuyệt đối trung bình của nghêu đạt từ 2.747.000-4.031.000 trứng/cá thể Một số cá thể nghêu có hiện tượng lưỡng tính, chiếm tỷ
lệ 6,82% Nghêu ở Tiền Giang không sinh sản trong thời gian từ tháng 11-2 (lúc này tuyến sinh dục ở giai đoạn 0, 1 và 2) Từ tháng 3 trở đi nghêu bắt đầu sinh sản, tập trung
từ tháng 3-6, rải rác từ tháng 7-10, tháng 6 là đỉnh điểm của mùa sinh sản, chỉ sinh sản một lần trong năm [19]
1.3 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Nghêu (M lyrata Sowerby, 1851) là loài nhuyễn thể 2 mảnh vỏ có giá trị kinh tế được
nhiều nước trên thế giới khai thác giống tự nhiên và nuôi thương phẩm Nghêu phân bố chủ yếu ở vùng biển ấm Tây Thái Bình Dương từ biển Đài Loan đến Việt Nam, tập trung nhiều
ở Nam Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia, Philippine, Úc, Ấn Độ, Việt Nam [48]
Trang 21Trung Quốc là nước dẫn đầu về nuôi nhuyễn thể, sản lượng tăng từ 86.900 tấn năm
1950 lên 15,5 triệu tấn năm 2009, chiếm 80,3% tổng sản lượng nhuyễn thể và 80,2% sản lượng nhuyễn thể nuôi Tỉnh Triết Giang sản lượng nuôi nhuyễn thể là 900 tấn/120.000 ha, trong đó lượng nghêu nuôi chiếm gần 85% Tại đây, quy trình nuôi nghêu trong ao đất được chia ra làm 2 giai đoạn, thả nghêu giống cỡ 16-20 vạn con/kg nuôi lên cỡ 600-1.000 con/kg; nuôi trong 2 năm nghêu đạt kích cỡ 30-60 con/kg [32, 41]
Ở Thái Lan, nghề nuôi nghêu bắt đầu từ những năm 1973, nguồn giống được nhập
từ Malaysia về nuôi tại tỉnh Satun, từ đó nuôi nghêu phát triển lan rộng ở các tỉnh phía Nam Thái Lan Quá trình nuôi được tiến hành theo các bước như: Thu giống chuẩn bị bãi nuôi thả giống quản lý, chăm sóc thu hoạch Nghêu giống cỡ 5.000 con/kg
sau 12–15 tháng nuôi thu được nghêu có kích thước > 31,8 mm [45, 47, 53, 57]
Theo Mao and Su (2006), tại Đài Loan kỹ thuật nuôi nghêu được Nhật Bản giới thiệu công nghệ nuôi vào năm 1925, nghêu được nuôi rộng rãi trên các bãi triều ven biển Đến nay nghêu được nuôi trong các ao nước lợ, đặc biệt ở bờ biển phía tây để kiểm soát chất lượng nước [54]
Kỹ thuật nuôi nghêu ở Đài Loan gần đây đã nghiên cứu tỷ lệ và thành phần các loại thức ăn bổ sung trong ao nuôi nghêu thương phẩm Tỷ lệ tiêu thụ thức ăn tỷ lệ thuận với kích thước cơ thể và trong phạm vi tập trung nhiều thức ăn thì đặc điểm tiêu hoá của chúng có mối quan hệ mật thiết với nền đáy [56, 57] Để tối đa hoá sản lượng và lợi nhuận, nghêu được nuôi với các mật độ khác nhau từ 55-455 con/m2 Kết quả cho thấy, mật độ thả có tác động đến tốc độ tăng trưởng và sản lượng nghêu nuôi, 200-244 con/m2
là mật độ tối ưu nhưng với mật độ cao hơn thì tốc độ tăng trưởng chậm lại Ngoài ra các yếu tố môi trường trong thí nghiệm như pH 7,9-8,4, DO 4,2-11,2 mg/l, độ mặn 30-35%o dường như không có mối quan hệ ảnh hưởng trực tiếp với tốc độ tăng trưởng của nghêu, ngoại trừ yếu tố nhiệt độ ao nuôi là ảnh hưởng lớn đến tăng trưởng của nghêu [52]
Theo nghiên cứu của Chien và Hsu (2006), kỹ thuật nuôi nghêu trong ao đất tại Đài
Loan được thí nghiệm trên nghêu M lusoria với các nghiệm thức bố trí thành phần và
loại thức ăn bổ sung khác nhau Để xác định loại thức ăn và tỷ lệ cho ăn tối ưu tới tốc độ tăng trưởng, thí nghiệm được tiến hành trên 6 loại thức ăn bổ sung khác nhau: Bột đậu
nành, bột thịt cá, thức ăn thương mại cho nghêu, men bánh mỳ, tảo Nannochloropsis
Trang 22oculata và tảo Tetraselmis chui với tỷ lệ cho ăn của mỗi loại là 20, 200 và 633 gam/l
Nghêu được bố trí thí nghiệm với các kích cỡ ban đầu là 7-11 g, 12-17 g và 18-26 g Kết quả thí nghiệm cho thấy, tỷ lệ hấp thụ thức ăn trên nghêu giảm dần theo các loại thức ăn
bổ sung là bột đậu nành, thức ăn thương mại cho nghêu, bột thịt cá, men bánh mỳ, tảo
Nannochloropsis và tảo Tetraselmis chui [46]
Để phát triển nghề nuôi nghêu ở quy mô trong ao bền vững và thành công, Chien và Hsu khuyến cáo nên bổ sung thành phần hỗn hợp các loại thức ăn nhân tạo nhằm tăng tỷ
lệ sống và tốc độ tăng trưởng cho nghêu nuôi, quản lý ổn định ao nuôi nghêu có thức ăn
tự nhiên, nhằm bổ sung các khoáng vi lượng và các cơ chất đảm bảo chất lượng thịt sản phẩm, tăng tỷ lệ sống, tăng khả năng kháng bệnh và năng suất nuôi
Modassir (1990) nghiên cứu sinh trưởng và sức sản xuất của M casta ở cửa sông
Mandovi (Ấn Độ) cho thấy tốc độ sinh trưởng trung bình là 3 mm/tháng, sức sản xuất trung bình là 31,38 g/m2/năm (theo vật chất khô) và chỉ số B/P là 3,4 [56]
Ho (1991) nghiên cứu sinh trưởng của M lusoria nuôi trong ao và bể, cỡ giống thả
1g (chiều dài 15,9 mm) với 6 mật độ khác nhau từ 60–360 con/m2 Sau 11 tháng nuôi, nghêu đạt 16,7 g (40,2 mm) ở lô nuôi trong ao, nghêu nuôi trong bể ở mật độ 60 và 360 con/m2 đạt 8,3 g (31,7 mm) và 3,9 g (24,6 mm) [49]
1.4 Tình hình nghiên cứu trong nước
1.4.1 Nuôi nghêu bãi triều
Theo Lê Trung Kỳ và La Xuân Thảo (2004), Ở Việt Nam hoạt động nuôi nghêu ở Bến Tre bắt đầu từ những năm 1970, nghêu giống có sẵn trong các bãi triều tự nhiên; sau đó chuyển sang Tiền Giang và Trà Vinh năm 1995 [12] Nghêu là loài ăn lọc thụ động, được nuôi ở các vùng biển cạn, chất đáy nghêu phân bố là cát pha bùn, tỷ lệ cát 60–70% [41] Kết quả nghiên cứu của Trương Quốc Phú (1999), tốc độ sinh trưởng nghêu thay đổi theo mùa, mùa sinh trưởng nhanh từ tháng 5-9, chậm từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau Nhân tố chính ảnh hưởng đến tốc độ sinh trưởng là độ mặn, sóng gió, hàm lượng chất
lơ lửng trong nước Tốc độ sinh trưởng về khối lượng nhanh hơn sinh trưởng về chiều dài, tốc độ tăng trọng của nghêu trong mùa mưa nhanh hơn mùa khô [18]
Như văn Cẩn, Chu Chí Thiết và Martin S Kumar (2009), nghiên cứu ảnh hưởng của
mật độ đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của 2 cỡ nghêu giống (M lyrata) nuôi ở bãi triều
Trang 23trong điều kiện nhiệt độ trung bình thấp của miền Bắc là 23,59±2,40oC cho thấy, mật độ nuôi ảnh hưởng rõ rệt tới tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ sống của nghêu ở cả 2 kích cỡ khác nhau Tốc độ tăng trưởng, tỷ lệ sống và tỷ lệ gia tăng khối lượng nghêu nuôi tăng theo tỷ
lệ nghịch với mật độ nuôi, mật độ càng cao thì tốc độ sinh trưởng càng chậm, tỷ lệ gia tăng khối lượng và tỷ lệ sống càng giảm Đối với cỡ nghêu 1 cm, mật độ nuôi 2 tấn/ha cho hiệu quả cao nhất Cỡ nghêu 1,7 cm, mật độ 3,4 tấn/ha cho hiệu quả kinh tế nhất Trong cùng mật độ nuôi (3 tấn/ha), nghêu cỡ 1 cm có tốc độ sinh trưởng nhanh hơn 1,7
cm và cho hiệu quả kinh tế cao hơn [6]
Theo kết quả nghiên cứu về sinh học và kỹ thuật nuôi nghêu ở Gò Công Đông của tác giả Trương Quốc Phú (1999), mùn bã hữu cơ là thành phần thức ăn chính của nghêu (chiếm 78,82-90,38%), tảo chiếm tỷ lệ thấp (9,62-21,18%), trong đó một số giống loài
của tảo Silic Coscinodiscus, Cyclotella, Nitzschia chiếm 93,18%, tảo Lam 4,55%)
Thành phần thức ăn biến đổi theo mùa, mùa mưa lượng mùn bã hữu cơ tăng, tảo giảm, mùa khô biến đổi ngược lại [19]
Trương Quốc Phú (1999), tương quan giữa chiều dài và khối lượng của nghêu là Wtt=0,0138L3,7639 (R2=0,9975) và Wthịt=0,0034L3,6582 (R2=0,9959) Tốc độ sinh trưởng khối lượng nhanh hơn chiều dài, sinh trưởng phần vỏ và phần thân mềm đồng thời trong suốt vòng đời Nghêu sinh trưởng chậm từ tháng 10-4 và nhanh từ 5-9 Tốc độ sinh trưởng tuyệt đối 1,72 mm/tháng (73%) và 789,47 mg/tháng (27,02%), sinh trưởng chậm nhất vào khoảng tháng 12-1, nhanh vào tháng 7 Các yếu tố độ muối, sóng gió và hàm lượng vật chất lơ lửng là những yếu tố chính ảnh hưởng đến sinh trưởng của nghêu [18] Nghêu cỡ lớn có khả năng chịu đựng nồng độ muối thấp tốt hơn cỡ nghêu nhỏ, độ mặn 4‰ là giới hạn giới của nghêu, 16‰ là độ mặn an toàn cho hoạt động sống của nghêu Trong môi trường trao đổi nước kém, tại thời điểm NH3 có hàm lượng là 0,0256-0,0425 mg/l (N-NH4 tổng số 1,033-1,333 mg/l) nghêu chết 50% sau 14-19 giờ Nghêu cỡ lớn có khả năng sống trong môi trường khô tốt hơn nghêu cỡ nhỏ, thời gian sống của nhóm nghêu
có (chiều dài) L = 4,9 cm sau 97-191 giờ (trung bình 146 giờ), nhóm L = 3,8 cm sau 46-95 giờ (trung bình 76 giờ), nhóm L = 2,4 cm sau 59-73 giờ (trung bình 64 giờ) [18]
Nghiên cứu của Lê Thanh Tùng (2011), ảnh hưởng của mật độ nuôi đến sinh trưởng,
tỷ lệ sống và năng suất của 2 cỡ nghêu giống M lyrata ở các vùng bãi triều ven biển cho
Trang 24thấy: Mật độ nuôi không ảnh hưởng đến tỷ lệ thịt nghêu mà ảnh hưởng tới tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ sống của nghêu Mật độ cao làm tăng cạnh tranh về nguồn dinh dưỡng, nơi sống, có thể dẫn tới suy giảm sức sống của nghêu nuôi trước điều kiện bất thường của thời tiết [34]
Kết quả nghiên cứu của Lê Thanh Tùng (2011) về TVPD và thức ăn của nghêu nuôi tại vùng triều ven biển Thái Bình đã bắt gặp 189 loài thực vật phù du, thuộc 5 nghành khác nhau là tảo Silic (Bacillariophycophyta), tảo giáp (Dinoflagellata), tảo lam
(Cyanobacteria), tảo lục (Chlorophyta) và tảo mắt (Euglenophyta) Trong đó tảo silic luôn
chiếm ưu thế với số lượng 121 loài (chiếm 66%), sau đó là tảo giáp với 31 loài (chiếm 17%), tảo mắt có 13 loài (chiếm 7%), tảo lam và tảo lục có 12 loài (chiếm 6%) [34] Khi phân tích thành phần loài TVPD trong ruột nghêu nuôi tại vùng triều ven biển Thái Bình cho thấy có 139 loài thuộc 5 ngành tảo, trong đó tảo silic chiếm ưu thế lớn với
57 loài (chiếm 41%), sau đó là tảo lục 43 loài (31%), tảo mắt 19 loài (14%), tảo lam 13 loài (9%) và thấp nhất là nhóm tảo giáp 7 loài (5%) Từ kết quả này cho thấy, tỷ lệ thức
ăn trong ruột nghêu so với ngoài môi trường nước có sự tương đồng, trong đó loài tảo Silic có sự tương đồng cao hơn so với các nhóm khác, tảo lục và tảo mắt bắt gặp trong dạ dày nghêu nhiều hơn ngoài môi trường nước Có loài bắt gặp mật độ cao ngoài môi
trường nước (Skeletonema costatum) nhưng không tìm thấy trong dạ dày nghêu và ngược
lại ở khu vực vùng triều huyện Thái Thuỵ trong dạ dày nghêu có tới 35 loài tảo lục nhưng chỉ bắt gặp 3 loài ngoài môi trường nước [34]
Theo Báo cáo của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (2011), diện tích nuôi nghêu năm 2010 trong cả nước là trên 15.000 ha, sản lượng đạt trên 85.000 tấn, xuất khẩu được gần 19.000 tấn sản phẩm, trị giá trên 40 triệu USD (dự kiến năm 2011, diện tích nuôi nghêu trong cả nước là 15.600 ha, sản lượng đạt 123.500 tấn) Trong đó sản lượng cao nhất là Thái Bình 30.130 tấn/1.089 ha, Nam Định 18.751 tấn/1.709 ha, Bến Tre 7.500 tấn/ 3.645 ha Tuy nhiên, cho đến nay hình thức nuôi nghêu bãi triều vẫn chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, chưa có quy trình hay tài liệu kỹ thuật chính thức Mật độ nuôi trung bình trong cả nước là 120–150 con/m2, năng suất 5–6 tấn/ha; cao nhất Thái Bình mật độ nuôi >
300 con/m2, năng suất > 30 tấn/ha Trong khi đó, nguồn giống phục vụ cho nuôi nghêu thương phẩm phần lớn dựa vào khai thác tự nhiên từ các bãi triều thuộc các tỉnh Tiền
Trang 25Giang, Bến Tre, Cà mau, Bạc Liêu Tuy nhiên, do chưa quản lý tốt nên nguồn nghêu giống tự nhiên ngày một giảm dần, lượng giống sản xuất nhân tạo chỉ đạt khoảng 1 tỷ con Trong khi nhu cầu giống cần 22,5 tỷ con để nuôi trong 16 tháng, tính ra trong 1 năm (12 tháng) cần gần 17 tỷ nghêu giống [3]
1.4.2 Nuôi nghêu trong đầm, bể
Kỹ thuật nuôi nghêu giống, nghêu thịt của ngư dân các tỉnh Bến Tre, Tiền Giang bằng hình thức nuôi trong các kênh mương gần bãi triều hoặc trong ruộng có đáy cát bùn dày trên 10 cm Ương nghêu giống từ cỡ 2-6 vạn con/kg, mật độ 8-20 triệu con/1.000 m2, thu giống đạt kích thước 800 con/kg; thả cỡ giống 400-600 con/kg sau 9-12 tháng nuôi đạt 40-60 con/kg [19]
Kết quả nuôi nghêu trong ao nuôi tôm sú nhằm cải thiện tình trạng ô nhiễm môi trường, đa dạng hoá đối tượng và phát triển nuôi bền vững tại Thừa Thiên Huế cho thấy, tốc độ sinh trưởng có sự khác nhau về các vùng nuôi trong tỉnh, các khu vực thấp triều, đáy cát, bùn và độ mặn ổn định 10‰, mực nước 1,2 m, cỡ giống thả 150–200 con/kg, mật
độ 30–50 con/m2 là thích hợp Tỷ lệ sống trung bình 50–70%, năng suất 4,2–6,6 tấn/ha Nghêu sinh trưởng chậm khi độ mặn giảm, màu sắc của nghêu thay đổi theo nền đáy ao nuôi [41]
Theo Chu Chí Thiết và ctv (2009), nuôi nghêu thành công trong điều kiện ao quy
mô nhỏ, nền đáy tốt nhất là cát bùn (tỷ lệ 80/20), độ mặn 10-25‰ Nghêu có trọng lượng 300-500 con/kg, tỷ lệ sống trung bình 55-90%, nuôi ở mật độ 90 con/m2 cho tăng trưởng nhanh hơn so với 120 con/m2 [30]
Nghiên cứu của Ngô Thị Thu Thảo, Đào Thị Mỹ Dung và Võ Minh Thế (2012) nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung chế phẩm sinh học đến sinh trưởng và tỷ lệ sống
của nghêu (M lyrata) giai đoạn giống cho thấy, việc bổ sung định kỳ chế phẩm sinh học
vào bể ương thì mật độ vi khuẩn Bacillus tăng cao, dao động 7,1x104 - 9,8x104 CFU/ml
và khác biệt với nghiệm thức không bổ sung chế phẩm sinh học, mật độ Bacillus đạt thấp
và giảm dần qua các lần thu mẫu Ở nghiệm thức thí nghiệm, bổ sung gián tiếp chế phẩm sinh học để nuôi tảo làm cho mật độ vi khuẩn Bacillus cao hơn ở nghiệm thức đối chứng
và thấp hơn kết quả bổ sung trực tiếp chế phẩm vào bể ương Sau 90 ngày nuôi, tốc độ tăng chiều dài của nghêu đạt cao (0,39% ngày) khi được bổ sung trực tiếp CPSH vào môi
Trang 26trường và thấp nhất (0,23%/ngày) ở nghiệm thức đối chứng [35] Kết quả nghiên cứu của Trương Quốc Phú [18] cho thấy, tăng trưởng chiều dài của nghêu trong điều kiện bãi nuôi
tự nhiên có thể đạt 7,3%/tháng Tốc độ tăng trưởng về khối lượng của nghêu cao nhất (1,37%/ngày) khi được bổ sung trưc tiếp CPSH, tiếp đến bổ sung gián tiếp (1,25%/ngày)
và thấp nhất (1,02%/ngày) không bổ sung CPSH Kết quả này cao hơn kết quả nghiên cứu nuôi nghêu của Trương Quốc Phú (1999) tại vùng biển tỉnh Tiền Giang Tỷ lệ sống của nghêu đạt cao (98,3%) ở nghiệm thức bổ sung CPSH trực tiếp và đạt thấp (76,7%) trong điều kiện không bổ sung CPSH [35]
Nghiên cứu của Jintana Nugranad (1999), tỷ lệ sống và tăng trưởng của bào ngư
Haliotis midae khi cho ăn khẩu phần có bổ sung CPSH, tỷ lệ sống tăng 8-34% tuỳ theo
nhóm kích thước Bổ sung CPSH cũng đồng thời làm tăng khả năng kháng lại vi khuẩn
Vibrio anguillarium của bào ngư khi thực hiện thí nghiệm cảm nhiễm [50] Angel (2009)
sử dụng Lactobacillus sp bổ sung vào hệ thống ương hàu giống Crassostrea corteziensis,
nhận thấy vi khuẩn này có khả năng tiết ra hoạt chất hạn chế sự phát triển của các nhóm
vi khuẩn gây bệnh, đồng thời kích thích sinh trưởng và tăng hiệu quả hấp thu thức ăn của hàu [42]
Kết quả khảo nghiệm ương nghêu giống trong đầm nước lợ tại Thái Bình cho thấy, nghêu thích nghi, sống, sinh trưởng tốt trong điều kiện ao đầm nước lợ được cải tạo phù hợp với đặc điểm sinh học của chúng, tốc độ tăng trưởng tuỳ theo cỡ giống thả, cỡ nghêu giống càng nhỏ thì tốc độ sinhh trưởng càng nhanh Nghêu lớn nhanh từ tháng 4-10 trong điều kiện nhiệt độ và độ mặn ổn định, tuy nhiên vào thời gian tháng 8-9 do ảnh hưởng của mưa lớn, độ mặn có thời điểm giảm thấp < 7‰ (trong đó có những đợt độ mặn giảm < 4%o và thời gian kéo dài trên 7 ngày, nghêu ngừng sinh trưởng, tỷ lệ sống giảm từ 7-25%) [7]
Trang 27CHƯƠNG 2 – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Thí nghiệm được thực hiện trong 02 đầm nước lợ ngoài đê quốc gia xã Đông Minh huyện Tiền Hải tỉnh Thái Bình
- Thời gian thực hiện là 90 ngày, từ 20/5-20/8/2012
2.2 Vật liệu nghiên cứu
- Nghêu Bến Tre (M lyrata)
- Chế phẩm sinh học Enzyme biosub sản phẩm của Công ty CP thuốc Thú y Trung
ương I
2.3 Bố trí thí nghiệm
- Thí nghiệm được bố trí cùng một thời gian trong 02 ao, có chung nguồn nước cấp, diện tích 2.000 m2/ao Thí nghiệm có 5 nghiệm thức (Hình 2.2 Sơ đồ khối bố trí thí nghiệm), mỗi nghiệm thức lặp lại 3 lần (tổng số 15 đơn vị thí nghiệm), diện tích 50 m2/đơn vị thí nghiệm, được ngăn cách bằng xăm lưới (Politylen) cỡ mắt lưới 2a = 2,5-3,0 mm
Hình 2.1: Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ và CPSH lên quá trình sinh trưởng và tỷ lệ sống
của nghêu giống (M lyrata Sowerby, 1851) ương trong ao đầm nước lợ ven biển
Ảnh hưởng của mật độ lên sinh
trưởng và TLS Ảnh hưởng của CPSH lên sinh trưởng và TLS
Hạch toán hiệu quả kinh tế
Kết luận
Trang 28- Cỡ nghêu giống thả ban đầu 40.000 con/kg, chiều dài dao động từ 2,93±0,14 đến 3,43±0,13 mm, trong đó:
+ Thí nghiệm mật độ: Có 04 nghiệm thức (không bổ sung CPSH) bố trí theo 4 mật
độ nuôi khác nhau là 3.000 con/m2 (NT1), 4.000 con/m2 (NT2), 5.000 con/m2 (NT3) và 6.000 con/m2 (NT4)
+ Thí nghiệm CPSH: Có 01 nghiệm thức, mật độ 5.000 con/m2 (NT5), được bổ sung
trực tiếp chế phẩm sinh học Enzym biosub (Hình d phụ lục 3), lượng 0,8 g/m3 (8 g/10 m3), thời gian 3-5 ngày/lần vào các ngày triều kém
Hình 2.2: Ao bố trí thí nghiệm về mật độ 2.3 Phương pháp xác định các chỉ tiêu
2.3.1 Phương pháp thu và phân tích các chỉ tiêu thuỷ lý, thuỷ hoá
Bảng 2.1: Phương pháp thu thập yếu tố môi trường trong thời gian thí nghiệm
Nhiệt độ (oC) 2 lần/ngày (6h và 14h) Máy đo HANA
Độ trong (cm) 2 lần/ngày (6h và 14h) Đĩa Secchi
Trang 29- Phương pháp phân tích: Các thông số môi trường oC, pH, độ trong, độ mặn, độ sâu được đo ở hiện trường tại 3 điểm khác nhau trong ao nuôi
2.3.2 Phương pháp xác định chất đáy
- Xác định tỷ lệ cát bùn bằng phương pháp lắng gạn , thu mẫu đại diện trên 2 ao nuôi theo mặt cắt chéo, dùng ống nhựa đường kính Φ 20x20 cắm xuống nền đáy khoảng 10 cm, thu lấy mẫu đất trong ống Chất đáy thu được mang về để ráo và trộn đều trước khi phân tích Cho 100 gam chất đáy trộn với 200 ml nước máy, chuyển hỗn hợp sang ống đong có dung tích 500 ml, để lắng trong 2-3 giờ Xác định tỷ lệ phần trăm thể tích cát hoặc bùn chia cho tổng thể tích của chất đáy, lặp lại 3 lần để lấy số trung bình [41]
- Số lượng: 2 lần, trong đó 01 lần trước khi thả giống và 01 lần cuối vụ nuôi
2.3.3 Phương pháp thu và phân tích mẫu thực vật phù du
- Phương pháp thu và phân tích mẫu TVPD theo Hallegraeff et al., 2004 (manual for Harmul Algae Study - UNESCO) Cụ thể, mẫu định tính được thu bằng lưới thực vật phù
du đường kính 30cm, kích thước mắt lưới 20 µm Phương pháp thu kéo nhiều lần từ tầng đáy lên tầng mặt Mẫu định lượng được thu đồng thời với thể tích 10 lít/mẫu Cả 2 loại mẫu được đựng trong 02 lọ nhựa, cố định tại hiện trường bằng dung dịch Lugol 3 ml/lít mẫu, lắc đều và bảo quản trong bóng tối chuyển Trung tâm Quan trắc và Cảnh báo Môi trường biển - Viện Hải sản phân tích Tại phòng thí nghiệm, mẫu được để lắng, siphon và
cô đặc còn 5-10 ml, bổ sung Lugol và bảo quản trong nhiệt độ và ánh sáng phòng Khi phân tích, mẫu tảo được đếm bằng buồng đếm Sedgewick-Rafter dưới kính hiển vi huỳnh quang Nikon E600, độ phóng đại 100-1000 lần
- Địa điểm lấy mẫu đại diện trên 2 ao thí nghiệm
- Thời gian lấy mẫu 1 lần/tháng vào kỳ nước kém
2.3.4 Theo dõi tăng trưởng và tỷ lệ sống của nghêu
- Thu thập số liệu: Thời gian thu mẫu 10 ngày/lần/nghiệm thức, vị trí thu mẫu đại diện tại 5 điểm theo mặt cắt chéo, số lượng mẫu thu > 45 cá thể/lần/nghiệm thức Dụng cụ thu mẫu bằng Đĩa sứ có bán kính 20 cm, xúc sâu xuống đáy khoảng 2-2,5 cm, sau đó cho mẫu vào rổ nhựa dày để loại bỏ cát bùn
- Phương pháp xác định tăng trưởng bằng chiều cao vỏ, dùng thước đo chia vạch theo mm kết hợp giấy ôly (ở giai đoạn cỡ giống nhỏ) và thước kẹp kỹ thuật (cỡ giống lớn
Trang 30> 3 mm); xác định trọng lượng toàn thân (gam/con) bằng Kân điện tử, có trọng lượng tối
đa khi kân là 120 gam, sai số 0,02 g
- Xác định tỷ lệ sống (%) = (Số nghêu thu hoạch/số nghêu giống thả) x 100
- Xác định tốc độ tăng trưởng ngày theo công thức của Jara (1997)
+ Tăng trưởng chiều dài tương đối (%/ngày): LSGR (%) = 100x(lnL2-lnL1)/t
Trong đó: L1 (mm): chiều dài vỏ tại thời điểm t1
L2 (mm): chiều dài vỏ tại thời điểm t2 t: là thời gian nuôi
+ Tăng trưởng khối lượng tương đối (%/ngày): WSGR (%)=100x(lnW2-lnW1/t)
Trong đó: W1 (g): Khối lượng ngao tại thời điểm t1
W2 (g): Khối lượng ngao tại thời điểm t2 và t là thời gian nuôi
- Hệ số phân đàn (CV) giữa các cá thể ngao tính theo công thức của Wang (1998):
CV (%) = 100 x SD/M, trong đó: SD là độ lệch chuẩn của ngao ở mỗi công thức, M là trọng lượng toàn thân trung bình
- Xác định hiệu quả kinh tế bằng phương pháp hạch toán kinh tế
Lãi thí nghiệm = Tổng thu – tổng chi
2.3.5 Phân tích và xử lý số liệu
Sử dụng phần mềm Microsotf Excel 2003 để tính các giá trị trung bình, độ lệch chuẩn và vẽ đồ thị Sử dụng phương pháp phân tích ANOVA trong SPSS 16.0 để so sánh thống kê các giá trị trung bình giữa các nghiệm thức ở mức ý nghĩa P<0,05
Trang 31CHƯƠNG 3 – KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Điều kiện môi trường thí nghiệm
3.1.1 Kết quả kiểm tra tỷ lệ cát bùn
Thí nghiệm được bố trí tại 2 ao nước lợ ngoài đê quốc gia, trong điều kiện nền đáy
ao được cải tạo, bổ sung cát mịn (cát được lấy tại Cồn cát ven biển nơi có nghêu giống phân bố) phù hợp với đặc điểm sinh học của nghêu Chất đáy trước khi thả giống ở 02 ao thí nghiệm có tỷ lệ cát/bùn là 88:12%; trong thời gian thí nghiệm, định kỳ theo chế độ thuỷ triều tiến hành thay nước (8-12 lần/tháng) kết hợp phơi mặt đầm từ 2-4 giờ/lần để cải thiện nền đáy (hạn chế khí độc, tăng độ khoáng hóa cho đất), định kỳ 1 tháng/lần phun doa nước phá váng tầng mặt để kích thích ngao sinh trưởng và thau rửa các vẫn cặn hữu
cơ trên mặt ao nuôi
Sau 3 tháng, tỷ lệ cát/bùn tại 02 ao thu được dao động 84:16% đối với ao thí nghiệm mật độ và 83:17% đối với ao thí nghiệm chế phẩm Kết quả này có thể do lượng phù sa có trong nước biển đưa vào ao nuôi qua quá trình thêm, thay nước (trung bình 1,33%/tháng) Tuy nhiên, ở thí nghiệm được bổ sung CPSH tỷ lệ phù sa cao hơn so với thí nghiệm mật
độ, nguyên nhân có thể do được bổ sung CPSH trực tiếp đã góp phần làm tăng khả năng phân huỷ các cặn bã hữu cơ có trong môi trường thành mùn hữu cơ (làm tăng giá trị dinh dưỡng trong thức ăn cho nghêu), mặt khác mật độ bố trí các nghiệm thức ở thí nghiệm bổ sung CPSH thấp hơn nên quá trình lưu thông nước được thuận lợi hơn
3.1.2 Biến động các yếu tố thuỷ lý, thuỷ hoá
Bảng 3.1: Điều kiện môi trường trong thời gian thí nghiệm Thông số
Trang 32- Kết quả cho thấy, nhiệt độ trung bình giữa 02 ao trong quá trình thí nghiệm không
có sự chênh lệch lớn, dao động từ 31,4±1,53 đến 31,96±2,7oC Trong đó, ở thí nghiệm mật độ, nhiệt độ dao động trong khoảng (27,75-37oC) rộng hơn so với thí nghiệm bổ sung (28,8-34,1oC) Nguyên nhân nhiệt độ giữa 2 ao thí nghiệm có sự khác nhau là do CPSHvào một số thời điểm kiểm tra tại 02 ao đang tiến hành thay nước mới, tuy nhiên nhiệt độ biến động trong ngày ở 2 ao thí nghiệm không vượt quá 5oC và nằm trong giới hạn phù hợp cho nghêu sinh trưởng
Hình 3.1: Biến động nhiệt độ trong thời gian thí nghiệm
- Độ trong trung bình giữa 02 ao thí nghiệm dao động từ 43,74±6,93 đến 47,03±7,002 cm, trong đó: thí nghiệm bổ sung (NT5) độ trong duy trì trong khoảng ổn định hơn (32-56 cm) so với thí nghiệm mật CPSHđộ (34-68 cm), có thể NT5 thường xuyên duy trì được mật độ tảo ổn định nên độ trong ở mức thấp hơn
Trang 33- Độ sâu mực nước ở 2 ao trong thời gian thí nghiệm dao động trung bình từ 0,88±0,17 đến 0,89±0,173 m, không có sự chênh lệch lớn, thuận lợi cho nghêu sinh trưởng
Hình 3.3: Biến động độ sâu trong thời gian thí nghiệm
- pH ở 2 ao trong thời gian thí nghiệm nhìn chung dao động trong ngưỡng thích hợp,
ở thí nghiệm mật độ pH (7,24-8,6) thấp hơn so với thí nghiệm chế phẩm (7,82-8,6), tuy nhiên biến động pH trong ngày ở mức cho phép, phù hợp cho nghêu sinh trưởng
Hình 3.4: Biến động pH trong thời gian thí nghiệm
- Độ mặn giữa 2 ao thí nghiệm không có sự chênh lệch lớn, dao động trung bình ở mức thấp, từ 13,53±5,8 đến 13,62±5,81%o Do ở một số thời điểm vào đầu tháng 6 và cuối tháng 8, ảnh hưởng các đợt mưa lớn (100-200 mm/đợt) nên độ mặn giảm có thời điểm 4%o, nhưng ở mức chậm, trong thời gian ngắn (2 ngày) không gây sốc làm chết nghêu nuôi
Trang 34Hình 3.5: Biến động độ mặn trong thời gian thí nghiệm
3.1.3 Kết quả phân tích định tính, định lượng tảo
3.1.3.1 Biến động thành phần loài TVPD trong quá trình thí nghiệm
Tại 06 mẫu đƣợc phân tích trên 2 ao trong thời gian thí nghiệm đã xác định đƣợc tổng số 37 loài thực vật phù du thuộc 4 ngành tảo, trong đó:
- Ngành tảo Mắt (Euglenophyta) có 1 loài chiếm 2,7%
- Ngành tảo Giáp (Pyrrophyta) có 2 loài chiếm 5,4%
- Ngành tảo Lam (Cyanobactaria) có 4 loài chiếm 10,8%
- Ngành tảo Silic (Bacillariophyta) có 30 loài chiếm 81,1%
Kết quả cho thấy, thành phần loài thực vật phù du tại các mẫu thu đƣợc có sự khác nhau rõ rệt, trong đó ngành tảo Silic (Bacillariophyta) có số lƣợng loài lớn nhất (81,1%), chúng có mặt ở trên toàn bộ các mẫu với số lƣợng loài nhiều nhất; tiếp đến là ngành tảo Lam (Cyanobactaria) có 4 loài, chiếm 10,8%; tảo Giáp (Pyrrophyta) có 2 loài chiếm 5,4%; tảo Mắt (Euglenophyta) có số lƣợng loài thấp nhất, 01 loài chiếm 2,7% và chỉ bắt gặp ở 01 mẫu vào tháng 6 ở ao thí nghiệm bổ sung (CP T6) Kết quả này cũng phù hợp với kết quả phân tích thành phần loài TVPD troCPSHng ruột nghêu nuôi tại vùng triều ven biển Thái Bình của tác giả Lê Thanh Tùng Viện NCHS (cấu trúc thành phần loài của các ngành tảo đƣợc thể hiện trong hình 3.9)
Trang 35Hình 3.6: Tỷ lệ các ngành TVPD ở 2 ao thí nghiệm
Trong đó, thí nghiệm bổ sung CPSH tháng 7 (CP T7) và tháng 8 (CP T8) có thành phần loài thực vật phù du phong phú nhất với 21 loài trong tổng số 37 loài, chiếm 56,8% tổng số loài bắt gặp; tiếp đến là ao thí nghiệm bổ sung chế phẩm tháng 6 (CP T6) với 17 loài, chiếm 45,9%; 3 mẫu ở ao thí nghiệm mật độ tháng 6, 7, và 8 (MĐ T6, MĐ T7 và MĐ T8) có số loài thực vật phù du tương đương nhau với 16 loài, chiếm 43,2% (phụ lục 1) Trong các loài thực vật phù du, không có loài chiếm ưu thế về mật độ mà chỉ có một
số loài có tần suất bắt gặp cao là: Amphiprora alata Kutzing; Cerataulina compacta Ostenfeld; Gyrosigma spenceri (W Quekett) Cleve; Melosira moniliformis (Müller) Agardh; Oscillatoria margaritifera (Kützing) ex Gomont; Pleurosigma affine Grunow;
Pleurosigma angulatum W Smith, Protoperidinium quinquecorne Abé; Chaetoceros compressus Lauder; Pleurosigma rectum Donkin,
Tảo Lam - Cyanophyta
10,8%
Trang 36không có sự chênh lệch rõ nét nhưng mật độ giữa 2 ao thí nghiệm có sự khác biệt qua các tháng nuôi (bảng 3.3), nhìn chung ở ao thí nghiệm bổ sung CPSH mật độ TVPD cao hơn (từ 1.650-4.650 tb/l) so với ao thí nghiệm mật độ Mật độ tảo thấp, ngoài nguyên nhân không được bổ sung CPSH vào các ngày triều kém, còn có thể do bố trí mật độ các nghiệm thức cao, các vây lưới ngăn cách giữa các nghiệm thức cũng là nguyên nhân làm giảm lưu tốc dòng chảy mang theo các loài tảo trong quá trình thêm thay nước và hạn chế khả năng khuyếch tán nhiệt độ và ôxy giữa không khí với môi trường cung cấp cho tảo phát triển
Mật độ TVPD ở 2 ao có dấu hiệu giảm dần theo các tháng nuôi, tương ứng với mức
độ biến động của pH Nguyên nhân mật độ TVPD giảm dần, một phần là do cường độ bức xạ mặt trời thay đổi làm nhiệt độ nước giảm, kết hợp vào thời điểm mùa mưa của miền Bắc nên tảo phát triển chậm hơn
Hình 3.7: Biến động mật độ TVPD theo tháng tại các ao thí nghiệm (tb/l)
3.2 Tốc độ tăng trưởng của nghêu giống
3.2.1 Tăng trưởng về chiều dài
Trang 37Bảng 3.3: Tốc độ tăng trưởng chiều dài của nghêu giống theo thời gian
CV (%) 17,55±0,97bc 16,04±0,42ab 17,8±0,9bc 14,2±1,7a 20,1±0,24c
* Trong cùng một hàng, các giá trị trung bình có ký tự (a, b, c, d) viết lên trên không giống
nhau thì khác nhau có ý nghĩa (P<0,05)
Chiều dài trung bình của nghêu ở các mật độ được thể hiện bằng tăng trưởng chiều dài theo ngày (LSGR) bảng 3.4:
+ Kết quả nghiên cứu cho thấy: Mật độ nuôi có ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng về chiều dài của nghêu, mật độ nuôi càng cao thì tăng trưởng về chiều dài của nghêu càng chậm, tuy nhiên kết quả của thí nghiệm ở mật độ nuôi 4.000 và 5.000 con/m2 tăng trưởng chiều dài khác biệt không có ý nghĩa (p>0,05), điều đó cho thấy ở mật độ trên 3.000 con/m2 và dưới 5.000 con/m2 không ảnh hưởng nhiều tới tốc độ tăng trưởng về chiều dài của nghêu Sự khác biệt được thể hiện rõ ở mật độ nuôi cao nhất NT4 (6.000 con/m2), tốc
độ tăng trưởng về chiều dài đạt thấp nhất (0,66%/ngày) so với các mật độ nuôi dưới 5.000 con/m2 là NT1, NT2, NT3 Cùng với chiều dài cuối và chiều dài tăng cả đợt của nghêu nuôi mật độ 6.000 con/m2 (NT4) thấp và khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05) so với mật độ 3.000 con/m2 (NT1)
+ Kết quả thí nghiệm cũng cho thấy, CPSH có ảnh hưởng rõ nét đến tốc độ tăng trưởng về chiều dài của nghêu giống, thí nghiệm mật độ 5.000 con/m2 được bổ sung CPSH vào các ngày triều kém, có tốc độ tăng trưởng về chiều dài là 1,15%/ngày, cao hơn 0,35% và khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05) so với thí nghiệm mật độ (NT3) đối chứng là 0,8%/ngày