BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG ------ HÀ VĂN CHUNG NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA HÀM LƯỢNG VITAMIN B6 VÀ CHẤT KHOÁNG KẼM, SELEN LÊN SINH TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ SỐNG CỦA CÁ CHIM
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
- -
HÀ VĂN CHUNG
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA HÀM LƯỢNG VITAMIN B6 VÀ CHẤT KHOÁNG (KẼM, SELEN) LÊN SINH TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ SỐNG CỦA CÁ CHIM VÂY VÀNG (Trachinotus blochii Lacepede, 1801)
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Nha Trang , 06/2013
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
- -
HÀ VĂN CHUNG
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA HÀM LƯỢNG VITAMIN B6 VÀ CHẤT KHOÁNG (KẼM, SELEN) LÊN SINH TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ SỐNG CỦA CÁ CHIM VÂY VÀNG (Trachinotus blochii Lacepede, 1801)
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: NUƠI TRỒNG THỦY SẢN
Mã số: 62 60 70
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS LẠI VĂN HÙNG
Nha Trang , 06/2013
Trang 3LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng vitamin B6
và chất khoáng (Kẽm, Selen) lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá chim vây vàng
(Trachinotus blochii Lacepede, 1801)” là công trình nghiên cứu của tôi Các kết quả
thu được trong luận văn này là thành quả nghiên cứu độc lập của cá nhân tôi
Tôi xin cam đoan các kết quả, số liệu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào Tôi xin chịu trách nhiệm trước Nhà trường, Bộ Giáo dục & Đào tạo và pháp luật về lời cam đoan này
Học viên
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin gửi lời cám ơn chân thành đến Ban Giám hiệu, Khoa Nuôi trồng Thủy sản Trường Đại học Nha trang, là nơi tôi đã được học tập, rèn luyện và tu dưỡng trong suốt những năm tháng học Đại học và Cao học vừa qua
Xin chân thành biết ơn sâu sắc đến Thầy giáo hướng dẫn, PGS TS Lại Văn Hùng
về sự dìu dắt, động viên và những lời khuyên quý báu trong suốt thời gian tôi học tập cũng như tiến hành thí nghiệm và hoàn thành luận văn này Tôi xin bày tỏ lòng tri ân các Thầy Cô trong Khoa Nuôi trồng Thủy sản-Trường Đại học Nha Trang đã tận tâm giảng dạy, giúp đỡ tôi trau dồi kiến thức và tu dưỡng để tôi từng bước trưởng thành Xin được cám ơn bộ môn Kỹ Thuật Nuôi Trồng thủy sản, Trại thực nghiệm Nuôi trồng Hải sản, đã tạo điều kiện về cơ sở, phương tiện, hệ thống thí nghiệm giúp cho đề tài được thực hiện thuận lợi; Th.s Ngô Văn Mạnh, KS Hoàng Văn Dần và toàn bộ anh
em trại sản xuất thực nghiệm hải sản Đường Đệ đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện thí nghiệm và hoàn thành luận văn; Viện Công nghệ Sinh học và Môi trường Trường Đại học Nha Trang đã giúp tôi phân tích mẫu làm cơ sở cho việc thực hiện và hoàn thành đề tài
Đặc biệt là lời biết ơn đến gia đình đã động viên và giúp đỡ tôi rất nhiều cả về vật chất và tinh thần trong suốt những năm tháng học tập cũng như nghiên cứu thực hiện
đề tài
Cuối cùng xin cám ơn tất cả mọi người đã giúp đỡ, chia sẻ để tôi có được kết quả như ngày hôm nay
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 3
1.1.Vị trí phân loại và một số đặc điểmcủa cá chim vây vàng: 3
1.1.1 Vị trí phân loại 3
1.1.2 Một số đặc điểm của cá chim vây vàng 3
1.1.2.1 Phân bố 3
1.1.2.2 Đặc điểm dinh dưỡng và sinh trưởng 4
1.1.2.3 Một số đặc điểm sinh học sinh sản 5
1.2 Tình hình sản xuất giống và nuôi thương phẩm cá chim vây vàng 6
1.2.1 Trên thế giới 6
1.2.1.1 Tình hình sản xuất giống cá chim vây vàng 6
1.2.1.2 Tình hình nuôi thương phẩm cá chim vây vàng 7
1.2.2 Tình hình sản xuất giống và nuôi cá chim vây vàng trong nước 9
1.2.2.1 Tình hình sản xuất giống 9
1.2.2.2 Tình hình nuôi thương phẩm cá chim vây vàng 12
1.3Những nghiên cứu về vai trò và nhu cầu của một số vitamin và khoáng chất trong thức ăn ở cá 12
1.3.1 Vai trò và nhu cầu của vitamine B6 12
1.3.2 Vai trò và nhu cầu của Zn và Se 14
1.3.2.1 Vai trò và nhu cầu của Zn 14
Trang 6CHƯƠNG 2: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
2.1 Địa điểm, thời gian và đối tượng nghiên cứu 18
2.1.1 Địa điểm nghiên cứu 18
2.1.2.Thời gian thực hiện đề tài 18
2.1.3 Đối tượng nghiên cứu 18
2.2 Phương pháp nghiên cứu 18
2.2.1 Vật liệu nghiên cứu 18
2.2.2 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 20
2.2.3 Bố trí thí nghiệm 21
2.2.4 Chăm sóc và quản lý 23
2.2.5 Quy trình chế biến và bảo quản thức ăn thí nghiệm 25
2.3 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu 28
2.3.1 Phương pháp thu thập mẫu và cân đo cá 28
2.3.2.Phương pháp phân tích thành phần sinh hóa của thức ăn 28
2.3.3 Phương pháp xử lý số liệu 29
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 31
3.1 Các số liệu về môi trường trong thời gian thí nghiệm 31
3.2 Ảnh hưởng của hàm lượng kẽm trong thức ăn lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá chim vây vàng giai đoạn giống 31
3.2.1 Ảnh hưởng của hàm lượng kẽm trong thức ăn lên sinh trưởng 31
3.2.1.1 Ảnh hưởng của hàm lượng kẽm lên sinh trưởng chiều dài 31
3.2.1.2 Ảnh hưởng của hàm lượng kẽm lên sinh trưởng khối lượng 33
3.2.2 Ảnh hưởng của kẽm lên hệ số thức ăn 36
3.2.3 Ảnh hưởng của hàm lượng kẽm đến tỷ lệ sống của cá chim giống 37
Trang 73.3 Ảnh hưởng của hàm lượng selen lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá chim vây
vàng giai đoạn giống, 37
3.3.1 Ảnh hưởng của hàm lượng selen lên sinh trưởng 37
3.3.1.1 Ảnh hưởng của hàm lượng selen lên sinh trưởng chiều dài 37
3.3.1.2 Ảnh hưởng của hàm lượng selen lên sinh trưởng khối lượng 39
3.3.2 Ảnh hưởng của Selen lên hệ số thức ăn 41
3.3.3 Ảnh hưởng của hàm lượng selen đến tỷ lệ sống của cá chim giống 43
3.4 Ảnh hưởng của vitamin B6 lên sinh trưởng và tỉ lệ sống của cá chim vây vàng giai đoạn giống 44
3.4.1 Ảnh hưởng của vitamin B6 lên sinh trưởng 44
3.4.1.1 Ảnh hưởng của vitamin B6 lên sinh trưởng chiều dài 44
3.4.1.2 Ảnh hưởng của hàm lượng vitamin B6 lên sinh trưởng khối lượng 46
3.4.2 Ảnh hưởng của vitamin B6 lên hệ số thức ăn 48
3.4.3 Ảnh hưởng của hàm lượng vitamin B6 đến tỷ lệ sống của cá chim giống 50
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 51
1 KẾT LUẬN 51
2 ĐỀ XUẤT: 51
TÀI LIỆU THAM KHẢO 52
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DLG : Daily Length Gain (Tốc độ sinh trưởng hàng ngày về chiều dài)
DWG : Daily Weight Gain (Tốc độ sinh trưởng hàng ngày về khối lượng)
FAO : Food and Agriculture Organization (Tổ chức Nông Lương của LHQ)
FCR : Food Converson Rate (Hệ số chuyển đổi thức ăn)
L1, L2 : Chiều dài của cá lúc bắt đầu và kết thúc thí nghiệm
NT : Nghiệm thức
DC : Đối chứng
SD : Standard Deviation (Độ lệch chuẩn)
SE : Standard Error (Sai số chuẩn)
Se : Selen
SGR : Specific Growth Rate (Tốc độ tăng trưởng đặc trưng)
SGRL(W) : Tốc độ tăng trưởng đặc trưng về chiều dài (khối lượng)
SR : Survival Rate (Tỷ lệ sống)
TB : Trung bình
VTM : Vitamin
W1, W2 : Khối lượng của cá lúc bắt đầu và kết thúc thí nghiệm
LG,WG : Tốc độ tăng trưởng tương đối về chiều dài, khối lượng
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1: Cá chim vây vàng (Trachinotus blochii Lacepede, 1801) 3
Hình 2.1 Hệ thống bể lắng lọc nước 19
Hình 2.2: Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 20
Hình 2.3: Hệ thống bể thí nghiệm 24
Hình 2.4: Quy trình sản xuất thức ăn 25
Hình 2.5: Công đoạn sấy thức ăn 26
Hình 2.6 : Thức ăn sau khi hoàn thành 26
Hình 2.7: Thức ăn dùng trong thí nghiệm 27
Hình 2.8: Cân, đo cá trong thí nghiệm 28
Hình 3.1 : Ảnh hưởng của kẽm lên tốc độ sinh trưởng tương đối về chiều dài của cá chim vây vàng 33
Hình 3.2: Ảnh hưởng của kẽm lên tốc độ sinh trưởng theo ngày về khối lượng của cá chim vây vàng 34
Hình 3.3 Ảnh hưởng của kẽm lên hệ số thức ăn của cá chim vây vàng 36
Hình 3.4: Ảnh hưởng của selen lên tốc độ sinh trưởng tương đối về chiều dài của cá chim vây vàng giai đoạn giống 38
Hình 3.5: Ảnh hưởng của selen lên sinh trưởng khối lượng của cá chim vây vàng 40
Hình 3.6: Ảnh hưởng của selen đến hệ số thức ăn của cá chim vây vàng 42
Hình 3.7: Ảnh hưởng của hàm lượng vitamin B6 tốc độ sinh trưởng tương đối về chiều dài của cá chim vây vàng 46
Hình 3.8: Ảnh hưởng của vitamin B6 lên tốc độ sinh trưởng khối lượng 47
Hình 3.9:Ảnh hưởng của vitamin B6 lên hệ số thức ăn của cá chim vây vàng 49
Trang 10DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Sinh trưởng và phát triển của cá chim vây vàng [6] 4
Bảng 1.2 : Nhu cầu một số vitamin của họ cá Samonidae (mg/kg thức ăn) 13
Bảng 1.3: Tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá chép nuôi bằng thức ăn công nghiệp với các hàm lượng kẽm khác nhau.[9] 16
Bảng 1.4: Ảnh hưởng của hàm lượng Se và vitamin E có trong thức ăn tới sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá da trơn 17
Bảng 2.1: Thành phần thức ăn dùng thí nghiệm kẽm (Zn) 21
Bảng 2.2: Thành phần dinh dưỡng của thức ăn thí nghiệm selen (Se) 22
Bảng 2.3: Thành phần thức ăn dùng thí nghiệm vitamin B6 23
Bảng 3.1: Diễn biến các yếu tố môi trường trong thí nghiệm khoáng 31
Bảng 3.3: Ảnh hưởng của hàm lượng kẽm lên sinh trưởng chiều dài của cá chim vây vàng giai đoạn giống 32
Bảng 3.4: Ảnh hưởng của hàm lượng kẽm lên sinh trưởng khối lượng 33
Bảng 3.5: Ảnh hưởng của hàm lượng kẽm lên tỷ lệ sống và hệ số thức ăn của cá chim vây vàng giai đoạn giống 36
Bảng 3.6: Ảnh hưởng của hàm lượng selen lên sinh trưởng chiều dài 37
Bảng 3.7: Ảnh hưởng của hàm lượng selen lên sinh trưởng khối lượng 39
Bảng 3.8: Ảnh hưởng của selen lên hệ số thức ăn và tỉ lệ sống của cá chim vây vàng giai đoạn giống 42
Bảng 3.9: Ảnh hưởng của vitamin B6 lên sinh trưởng chiều dài 45
Bảng 3.10: Ảnh hưởng của hàm lượng vitamin B6 lên sinh trưởng khối lượng 46
Bảng 3.11: Ảnh hưởng của vitamin B6 lên hệ số thức ăn và tỉ lệ sống của cá chim vây vàng giai đoạn giống 49
Trang 11MỞ ĐẦU
Bờ biển nước ta dài 3.260 km, trải dài từ Bắc xuống Nam, với nhiều sông, suối
đổ ra biển tạo thành các hệ sinh thái ven biển như đầm, phá, hệ sinh thái vùng cửa sông, hồ nước mặn ven biển, các bãi triều, rừng ngập mặn, các vũng, vịnh ven biển thuận lợi cho phát triển nuôi trồng thủy sản biển và nuôi nước lợ phong phú Trong đó, diện tích vùng triều có khả năng phát triển nuôi trồng thủy sản 1.130.000 ha, diện tích các eo vịnh khoảng 500.000 - 700.000 ha Nhằm tận dụng tối đa diện tích và nâng cao hiệu quả kinh tế của mặt nước cũng như đa dạng hóa các đối tượng nuôi, nghề nuôi biển nước ta ngày càng phát triển mạnh mẽ Cùng với các đối tượng nuôi phổ biến như
cá bớp, cá chẽm , cá mú thì cá chim vây vàng (Trachinotus blochii Lacepede, 1801)
cũng đang là đối tượng được người dân chú trọng Đây là loài cá nổi, ưa hoạt động, dễ nuôi, có khả năng nuôi ở mật độ cao trong lồng hoặc trong ao ở cả thủy vực nước lợ và nước mặn Đây là đối tượng có tốc độ sinh trưởng nhanh và có giá trị kinh tế cao được thị trường trong và ngoài nước như Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan, Singapone…
ưa chuộng, giá bán tại thị trường trong nước từ 120.000 – 180.000 đồng/kg, giá bán trên thị trường thế giới từ 6 - 8 USD/kg và cá phi lê từ 25 - 35 USD/kg [1, 3, 6]
Chính vì vậy cá chim vây vàng đang được nuôi rất phổ biến không chỉ ở nước
ta mà còn ở nhiều nước trên thế giới như Đài Loan, Trung Quốc, Indonesia… TạiViệt Nam cá chim vây vàng được nuôi chủ yếu ở Quảng Ninh, Khánh Hòa, Vũng Tàu, Kiên Giang… và dần đang phát triển nuôi ở hầu hết các tỉnh ven biển [6]
Mặc dù hiện nay đã cho sinh sản nhân tạo được cá chim vây vàng song vẫn còn nhiều vấn đề cần nghiên cứu nhằm hoàn thiện quy trình sản xuất giống đặc biệt là dinh dưỡng cho cá, để nâng cao tỷ lệ sống trong sản xuất cũng như chất lượng con giống nhằm cung ứng đầy đủ con giống cho nhu cầu nuôi thịt ngày càng tăng và phát triển nuôi theo hướng bền vững
Việc xác định thức ăn có hàm lượng các chất dinh dưỡng phù hợp với từng giai đoạn phát triển trong quá trình sản xuất giống, có ý nghĩa rất lớn đến sinh trưởng và tỷ
lệ sống của cá Nhất là nhu cầu về các loại vitamin cũng như nhu cầu về các chất khoáng như selen và kẽm trong thức ăn của cá Từ thực tiễn trên, chúng tôi tiến hành
thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng vitamin B6 và chất khoáng
Trang 12(Kẽm, Selen) lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá chim vây vàng (Trachinotus blochii Lacepede, 1801)”
Mục tiêu của đề tài:
Xác định hàm lượng vitamin B6 và chất khoáng (Zn, Se) tối ưu để từ đó đề xuất
tỷ lệ hợp lý trong thức ăn, nhằm nâng cao tỷ lệ sống cũng như sinh trưởng góp phần từng bước hoàn thiện quy trình sản xuất và ương nuôi cá chim vây vàng
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:
Kết quả của đề tài sẽ cung cấp những thông tin mới cho những nghiên cứu về dinh dưỡng giai đoạn giống cho cá biển nói chung và cho cá chim vây vàng nói riêng
Từ đó làm cơ sở khoa học để sản xuất thức ăn công nghiệp phục vụ cho nuôi cá chim vây vàng giống, góp phần nâng cao năng suất, tỷ lệ sống cũng như chất lượng con giống Đồng thời cũng làm cơ sở cho các nghiên cứu để sản xuất thức ăn nuôi thương phẩm cá chim vây vàng
Nội dung nghiên cứu:
1 Ảnh hưởng của hàm lượng vitamin B6 đến tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá chim vây vàng giai đoạn giống
2 Ảnh hưởng của hàm lượng Zn và Se đến tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá chim vây vàng giai đoạn giống
Trang 13CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 Vị trí phân loại và một số đặc điểmcủa cá chim vây vàng:
1.1.1 Vị trí phân loại
Cá chim vây vàng (Trachinotus blochii Lacepede, 1801) hay còn gọi là cá song
mũi hếch, tên tiếng Anh là snubnose pompano, hệ thống phân lọai của cá này như sau: Nghành: Chordata
Lớp: Actinopterygii
Bộ: Perciformes
Họ: Carangidae
Loài: Trachinotus blochii (Lacepede, 1801) [30]
Hình 1.1: Cá chim vây vàng (Trachinotus blochii Lacepede, 1801)
1.1.2 Một số đặc điểm của cá chim vây vàng
1.1.2.1 Phân bố
Cá chim vây vàng được tìm thấy nhiều ở vùng biển mở thuộc Thái Bình Dương, Đại Tây Dương và Ấn Độ Dương Tại khu vực Châu Á cá chim vây vàng phân bố ở Nhật Bản, Indonesia, Trung Quốc, Đài Loan và Việt Nam Đây là loài cá nổi, ưa hoạt động, sống chủ yếu ở tầng giữa và tầng mặt thuộc vùng biển ấm Cá giống thường sống thành đàn quanh các vũng, vịnh và cửa sông có đáy cát hoặc cát bùn, đến cỡ trưởng thành cá di cư ra sống độc lập ở ngoài khơi xa bờ quanh các rạn san hô, đá ngầm có độ sâu từ 7 m nước trở lại [21] Đây cũng là loài rộng muối, có thể sống được ở độ mặn 3-33 ppt, nhiệt độ thích hợp từ 22 – 28o
Trang 14mg/l Mặc dù loài ăn nổi thiên về động vật, song trong quá trình nuôi cá chim vây vàng không ăn thịt đồng loại, có thể nuôi được với mật độ cao, cá cũng sử dụng tốt các loại thức ăn công nghiệp và là loài có giá trị kinh tế (giá bán từ 4 – 6 USD/Kg) nên đã trở thành đối tượng nuôi hấp dẫn ở nhiều nước thuộc Châu Á – Thái Bình Dương [1, 3, 6, 23]
1.1.2.2 Đặc điểm dinh dưỡng và sinh trưởng
Cá chim vây vàng ăn tạp thiên về động vật, cường độ bắt mồi của cá mạnh, đặc biệt là lúc chiều tối Thức ăn ưa thích của cá trưởng thành ngoài tự nhiên là thân mềm như mực, hai mảnh vỏ và giáp xác Giai đoạn nhỏ thức ăn chủ yếu là động vật phù du như luân trùng, copepoda, cỡ cá lớn hơn ăn các loài tôm , cá nhỏ và các mảnh vụn hữu
cơ Trong điều kiện nuôi, thức ăn cho cá con ngoài sinh vật phù du (tảo, luân trùng, ấu
trùng artemia), sau giai đoạn này cá được tập chuyển đổi từ thức ăn sống sang thức ăn
tổng hợp, giai đoạn nuôi thương phẩm cá cũng sử dụng các loại thức ăn công nghiệp hoặc cá tạp Trong quá trinh nuôi vỗ cá bố mẹ, thức ăn được sử dụng là cá tạp, mực, thức ăn tổng hợp dạng viên Bên cạnh đó để nâng cao chất lượng trứng và ấu trùng người ta còn bổ sung thêm vitamin E, C và B vào thức ăn cho cá mẹ vào trước mùa sinh sản khoảng một tháng [1, 3, 23, 25, ]
Tốc độ sinh trưởng của cá chim vây vàng tương đối nhanh, kích thước lớn nhất bắt gặp ngoài tự nhiên là 3.400 g Cá sinh trưởng chậm ở giai đoạn đầu và tăng nhanh sau khi đạt cỡ 50g trở lên, nhưng tốc độ sinh trưởng lại chậm lại khi cá đạt cỡ trên 1000g Cá con một ngày tuổi có chiều dài 2 mm, sau 35 ngày tuổi đạt cỡ 34 mm [1, 6]
Bảng 1.1: Sinh trưởng và phát triển của cá chim vây vàng [6]
Ngày tuổi Chiều dài trung bình Tốc độ phát triển
Trang 15Cỡ cá 4,9 - 6,7g nuôi bằng thức ăn công nghiệp có hàm lượng protein 47 %, lipit 15% sau một tháng cá đạt cỡ 14,4 - 26,5 g Trong nuôi thương phẩm bằng lồng trên biển, cá giống cỡ 19- 26 g cho ăn bằng thức ăn công nghiệp hàm lượng protein 43% sau 5 tháng nuôi cá đạt khối lượng từ 608- 610 g Trường hợp nuôi bằng cá tạp sau 10-
12 tháng nuôi từ cỡ 10- 15 g cá có thể đạt 800 - 1000 g Tùy thuộc vào điều kiện nuôi (chế độ dinh dưỡng, môi trường, đặc biệt là nhiệt độ nước) sau 2-3 năm nuôi cá đạt cỡ trưởng thành (1,600 - 2,000 g) và một số con có thể thành thục tham gia sinh sản [1, 6 24]
1.1.2.3 Một số đặc điểm sinh học sinh sản
Mùa vụ sinh sản ngoài tự nhiên của cá chim vây vàng ở vùng địa lý khác nhau thì khác nhau Ví dụ ở Trung Quốc mùa vụ sinh sản từ tháng 4 đến tháng 9 trong khi tại Đại Loan có thể cho cá sinh sản nhân tạo từ tháng 3 đến tháng 10 Quá trình sinh sản của cá chim vây vàng không tuân theo chu kỳ trăng hàng tháng như nhiều loài
cá biển khác [6, 23]
Tuổi và kích thước thành thục của cá chim vây vàng ngoài tự nhiên tương đối muộn, cá thành thục ở độ tuổi 7+ - 8+ Tuy nhiên, trong điều kiện nuôi nhân tạo cá có thể thành thục sớm hơn Theo Juniyanto và CTV, (2008), trong điều kiện nuôi nhốt để
cá đạt được cỡ thành thục và trở thành cá bố mẹ phải mất khoảng 3 năm khi đó khối lượng cơ thể đạt từ 1,8- 2,5 kg Thực tế cho thấy cá chim vây vàng nuôi lồng bằng thức ăn công nghiệp tại vùng biển Khánh Hòa có tuổi thành thục sớm hơn (khoảng 15-
16 tháng nuôi) và kích cỡ cũng nhỏ hơn (từ 1,5- 1,7 kg) Như vậy tuổi và kích thước thành thục của cá chim vây vàng phụ thuộc rất lớn vào vùng địa lý và các điều kiện nuôi khác So với nhiều loài cá biển khác (cá mú, cá chẽm, cá măng, cá chim florida) thì sức sinh sản của cá chim vây vàng thấp hơn Sức sinh sản tuyệt đối của cá chim vây vàng dao động từ 400.000 – 600.000 ngàn trứng/cá cái khi cá bố mẹ được kích thích sinh sản bằng hormone thì số lượng trứng của mỗi đợt đẻ thường chiếm khoảng 60-70
% lượng trúng trong buồng trứng Cá chim vây vàng là loài đẻ trứng nổi, sau khi đẻ trứng nổi trong môi trường nước nhờ giọt dầu, đường kính nước sau khi trương nước 0,80- 0,85mm sau khi đẻ, trứng không thụ tinh sẽ chìm xuống đáy[1, 6, 23, 27]
Trang 161.2 Tình hình sản xuất giống và nuôi thương phẩm cá chim vây vàng
1.2.1 Trên thế giới
1.2.1.1 Tình hình sản xuất giống cá chim vây vàng
Trong những năm gần đây, bên cạnh cá chim vây vàng thì nhiều loài cá khác trong giống cá chim được các tác giả quan tâm nghiên cứu sản xuất giống Trong
nghiên cứu của Ho và ctv cho biết: Cá bố mẹ của loài Trachinotus ovatus cỡ 2,8 – 3,6
kg, được tiêm bằng hormone HCG 1000 – 1600 IU kết hợp với 30 – 50 µg LRHA/kg Sau 10 -16 giờ cá đẻ, lượng trứng thu được từ 1,6-3,0 triệu/120-180 cá bố mẹ và tỷ lệ thụ tinh từ 55-77 % Ở điều kiện nhiệt độ nước 24-25o C và độ mặn 32‰ thì sau 32 –
33 giờ trứng nở ra ấu trùng Khi mới nở ấu trùng có chiều dài 2,8 mm, sau 40 ngày ương đạt 38,8 mm và sau 80 ngày đạt cỡ 89,4 mm Main và CTV, 2007 nghiên cứu
trên loài Trachinotus carolinus cho thấy cá bố mẹ cho ăn bằng thức ăn tổng hợp, mặc
dù sinh trưởng nhanh nhưng sức sinh sản thấp hơn và tỷ lệ trứng thụ tinh (0 – 91% ) kém ổn định hơn so với cá cho ăn bằng cá tạp và mực Trong các biện pháp kích thích
cá sinh sản như điều chỉnh môi trường, tiêm hormone (HCG và GnLH) thì tỷ lệ sống của cá con 10 ngày tuổi của nhóm cá tiêm hormone thấp hơn so với cá bố mẹ không tiêm, tuy nhiên nhóm tiêm hormone lại có sức sinh sản cao hơn và nhóm tiêm bằng HCG cho số lượng trứng nhiều hơn nhóm tiêm bằng GnLH kết hợp với DOM Cũng nhóm tác giả này khi kích thích cho cá bố mẹ (khối lượng từ 1,2 – 1,7 kg) sinh sản bằng cách tiêm hormone HCG với liều lượng 1000 IU/kg cá cái và liều lượng cho cá đực bằng ½ cá cái cho thấy, cá đẻ trứng sau 40 -48 giờ kể từ sau khi tiêm, số lượng trứng đạt 5,3 triệu/30 cá bố mẹ, tỷ lệ thụ tinh từ 19,3 – 48,2 %, ở nhiệt độ 26oC, độ mặn 36 ppt, sau 24 giờ kể từ khi thụ tinh trứng nở ra ấu trùng Nghiên cứu này chính
là cơ sở cho những nghiên cứu cho sinh sản cá chim vây vàng (Trachinotus carolinus)
trong sản xuất nhân tạo loài cá này với thức ăn bằng cá tạp và mực dùng làm thức ăn cho cá bố mẹ, đồng thời dùng hormone HCG để kích thích sinh sản cho cá chim vây vàng [1, 6, 23, 25]
Năm 2003 tại phòng thí nghiệm cá biển Mote, đã nhập đàn cá bố mẹ cá chim
vây vàng Trachinotus carolinus với điều kiện sinh thái được kiểm soát Cá có khối
lượng từ 388 g - 1650 g, theo nghiên cứu tại đây thì loài này sinh sản vào mùa xuân và
Trang 17quá trình nghiên cứu khi đặt bể cá bố mẹ ngoài trời với hệ thống lọc tuần hoàn đã làm cho lượng amoniac có thời điểm lên tới 4 ppm dẫn tới một số cá thể bố mẹ bị chết Trong nghiên cứu này người ta cũng cho thấy rằng thức ăn phù hợp với loài cá này là hai dòng luân trùng và sau đó là nauplius của copepoda trong khoảng 10 ngày đầu Nghiên cứu này cho là cơ sở trong việc sử dụng thức ăn trong ương nuôi ấu trùng với thức ăn của giai đoạn đầu là luân trùng và nauplius của copepod.[1, 2131]
Qua những nghiên cứu ở trên cho thấy, cá chim vây vàng có tốc độ sinh trưởng tương đối nhanh, dể dàng sử dụng các loại thức ăn do con người cung cấp, có thể nuôi với mật độ cao và cho năng suất cao Do có giá trị kinh tế cao, dể nuôi nên cá chim vây vàng được coi là đối tượng nuôi quan trọng ở nhiều nước, điều này cũng thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu nhằm phát triển kỷ thuật sản xuất giống nhân tạo phục vụ cho nhu cầu của người nuôi Tuy nhiên các tác giả vẫn chưa đi sâu vào nghiên cứu những giải pháp kỷ thuật nhằm nâng cao chất lượng trứng, ấu trùng và hiệu quả ương giống
1.2.1.2 Tình hình nuôi thương phẩm cá chim vây vàng
Cá chim vây vàng (Trachinotus blochii) được sản xuất giống đầu tiên tại
Đài Loan vào năm 1989, sau đó công nghệ sản xuất giống lan rộng ra nhiều nước như Trung Quốc, Indonesia và Việt Nam Mặc dù dể nuôi, giá trị kinh tế cao, được coi là đối tượng nuôi quan trọng ở nhiều nước như Đài Loan, Trung Quốc, Hồng Kông, Malaysia, Singapore… song tỷ trọng cá chim vây vàng nuôi trên thế giới lại chiếm không đáng kể [6] (FAO,2007)
Hiện nay, các loài giống cá chim được nuôi khá phổ biến ở nhiều nước trên thế giới vì chúng có giá trị kinh tế cao và nguồn giống cung cấp khá chủ động Loài
Trachinotus ovatus, T carolinus được nuôi nhiều ở các nước Bắc Trung Mỹ đặc biệt
là ở Mỹ (Main và CTV,2007) Loài T blochii thì được nuôi phổ biển ở các nước Châu
Á đặc biệt là Trung Quốc, Đài Loan, Singapo, Malaysia, Philippin và Việt Nam.[1, 3,
Trang 18vây vàng ở nồng độ muối 19‰, cá được cho ăn bằng thức ăn của Aquafeed (Protein =
43 %, Lipit = 10 %), sau 4 tháng nuôi từ cỡ bắt đầu thả 10 g cá đạt khối lượng 110 g
Cá chim là loài nuôi phổ biến ở Đài Loan, năm 1986 Lâm Phiệt Đường đã thu gom
126 con cá chim vây vàng loại nhỏ, vừa và lớn nuôi chung với nhau Năm 1989 bắt đầu thực nghiệm cho sinh sản nhân tạo, qua 5 lần tiêm kích dục tố và có 4 lần cho đẻ thành công, tổng số lượng trứng thu được trên 900 vạn trứng trong đó thụ tinh trên
500 vạn trứng, qua nhiều hình thức thực nghiệm ương nuôi cuối cùng thu được 38,6 vạn giống kích cỡ 2 – 3 cm Đây là lần đầu tiên sinh sản nhân tạo cá chim vây vàng thành công, đến năm 1997 Đài Loan có 20 trại sản xuất giống cá chim vây vàng với sản lượng giống đạt 38 triệu con cỡ 2 – 3 cm để phục vụ cho nhu cầu nuôi trong nước
và xuất khẩu, giá con giống từ 0,04 – 0,06 USD/con và tính đến năm 2001 nước này
đã sản xuất giống cá nhân tạo của 46/60 loài cá biển nuôi Trong đó có một số loài
thuộc giống cá chim như Trachinotus blochii, T falcatus và T ovatus [5, 6, 25, 30]
Lazo và CTV, (1998) đã nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng protein từ 35 - 45% lên
sinh trưởng của cá chim Trachinotus carolinus cho thấy hàm lượng protein thích hợp
cho cá chim là 45 % Nghiên cứu của Tatuman và CTV(2004) cũng cho rằng hàm
lượng protein tối thiểu cho cá chim Trachinotus ovatus sinh trưởng nhanh nhất là 45%
[6, 25, 31]
Theo Chou, (1997) cá chim vây vàng là đối tượng nuôi chính ở Singapore, cá giống được nhập từ Đài Loan Thức ăn cho cá ăn chủ yếu vẫn là cá tạp Thouard
(1989) thí nghiệm nuôi cá chim Trachinotus goodie cỡ cá thả 15 g trong lồng, sau 5
tháng nuôi cá đạt cỡ 300g khi cho ăn thức ăn công nghiệp với hàm lượng protein 50%
và đạt 260g khi cho ăn bằng cá tạp, tỷ lệ sống 83 – 90% [1, 6,]
Năm 1993 trung tâm chuyển giao công nghệ trường Đại học Trung Sơn kết hợp với Trạm nghiên cứu giống thủy sản Quảng Đông – Trung Quốc nghiên cứu cho sinh sản nhân tạo thành công cá chim vây vàng trên quy mô nhỏ (ương nuôi ấu trùng trong
bể xi măng) Năm 1998 trung tâm kết hợp với công ty trách nhiệm hữu hạn giống thủy sản Thắng Lợi- Hải Nam- Trung Quốc nghiên cứu sản xuất thành công trên quy mô lớn (ương nuôi ấu trùng trong ao đất và bể xi măng) [1, 15]
Trang 19Lan và ctv, (2007) đã thử nghiệm ương giống cá chim vây vàng cỡ 4,9 – 6,7 g, thả nuôi trong lồng trên biển với mật độ 222 con/m3, cho ăn bằng thức ăn công nghiệp dạng viên có hàm lượng protein 47% và lipid 15%, sau 30 ngày ương cá đạt cỡ 14,4 – 26,4 g, tỷ lệ sống 90%, năng suất 2,8 – 5,3 kg cá giống/m3, hệ số chuyển đổi thức ăn từ 0,89 – 1,86 Sau đó các tác giả này lại thử nghiệm nuôi thương phẩm với cỡ cá giống
19 – 26g và được thả trong các lồng có thể tích 100m3 với mật độ 96 con/m3, cá được cho ăn bằng thức ăn công nghiệp (protein 43% và lipid 12%), sau 146 ngày nuôi cá đạt
cỡ 577 – 640 g, tỷ lệ sống 99,2 – 99,5 %, năng suất đạt 54,6 – 64,3 kg/m3, hệ số chuyển đổi thức ăn từ 2,43 – 2,76.[1, 6]
Tại philippines có hai loài cá chim vây vàng được nuôi phổ biến đó là
Trachinotus carolinus và T.blockii Họ thường nuôi lồng trên biển với kích cỡ lồng là
18x18x8m với thức ăn công nghiệp có chứa 42% protein [1, 3]
Ở Indonesia, trước đây cá chim vây vàng được nhập giống từ Đài Loan về nuôi Từ nguồn cá nuôi thương phẩm này, trung tâm phát triển biển Batam đã tuyển chọn được đàn cá bố mẹ và nuôi vỗ với tỷ lệ đực: cái là 1:1 trong lồng và cho ăn bằng
cá tạp kết hợp với thức ăn công nghiệp có bổ sung vitamin E, C, B.… Khẩu phần ăn từ
3- 5% và đã cho sinh sản nhân tạo thành công bằng cách tiêm kích dục tố HCG 250 IU
kết hợp với Fibrogen 50 IU, tỷ lệ nở của trứng từ 60- 70% Ấu trùng được đưa vào ương trong bể xi măng có thể tích 10 m3 với mật độ từ 10- 15 ấu trùng/ L, thức ăn sử
dụng là tảo đơn bào (Nannochloropsis sp.), luân trùng, ấu trùng Artemia và thức ăn
tổng hợp, sau 35 ngày ương cá đạt cỡ 3,0- 3,5cm, tỷ lệ sống 20- 25% nhưng mật độ ương thấp và tỷ lệ dị hình ở cá vẫn cao (5%) [1, 6, 21]
1.2.2 Tình hình sản xuất giống và nuôi cá chim vây vàng trong nước
1.2.2.1 Tình hình sản xuất giống
Đế chủ động trong việc sản xuất con giống, 2006 Trường cao đẳng Thủy Sản Bắc Ninh đã thực hiện thành công dự án “Nhập công nghệ sản xuất giống cá chim vây vàng”, Cá bố mẹ đã thành thục có khối lượng từ 2 – 6 kg/con được nhập từ Trung Quốc (nước chuyển giao công nghệ) về nuôi vỗ bằng thức ăn là cá tạp Qua 2 lần nhập
cá bố mẹ cho thấy tỷ lệ sống của cá rất thấp sau 1 tháng nuôi (đợt 1: chết 39/40 con, đợt 2: chết 30/40 con) do thời gian vận chuyển lâu và thay đổi môi trường nuôi Những
Trang 20LRHa/kg cá Ấu trùng được ương trong bể xi măng với mật độ từ 10 – 15 con/ lít cho
ăn bằng luân trùng và ấu trùng copepoda nuôi từ ao, khi cá đạt cỡ cá hương thì đưa ra
ao ương thành cá giống lớn hơn Kết quả cho thấy tỷ lệ sống của cá bố mẹ từ 2,5 – 25%, tỷ lệ thành thục > 63,5% , tỷ lệ đẻ > 73,3%, tỷ lệ thụ tinh 15,3 – 80%, tỷ lệ nở 28 – 56%, tỷ lệ sống của cá hương 31 – 35% và cá giống là 50 – 62%; khi kết thúc dự án trường đã sản xuất được 104.486 con cá giống cỡ 4 – 6cm [3] Tuy nhiên, công nghệ nhập cũng có những hạn chế như tỷ lệ sống của cá bố mẹ nhập về thấp, tỷ lệ thụ tinh,
tỷ lệ nở không ổn định, khó kiểm soát sự lây lan bệnh dịch và không chủ động được nguồn thức ăn tươi sống; công nghệ này chỉ có thể áp dụng được ở các tỉnh phía bắc như Quảng Ninh nơi có điều kiện sinh thái gần giống với các tỉnh phía nam Trung Quốc Do vậy, nghiên cứu thử nghiệm sản xuất giống nhân tạo cá chim vây vàng tại các tỉnh Nam Trung Bộ, nơi có điều kiện sinh thái và tiềm năng lớn để phát triển nghề nuôi cá biển là rất cần thiết [1, 6]
Nhằm đa dạng hóa đối tượng nuôi, góp phần tăng sản lượng cá nuôi cho toàn Ngành, cũng như chủ động được nguồn giống cho người nuôi, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia đã phối hợp với Trường Cao đẳng Thủy sản, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I thực hiện dự án nhập công nghệ sản xuất nhân tạo cá chim vây vàng
do Trung tâm chuyển giao công nghệ Trường Đại học Trung Sơn Trung Quốc chuyển giao
Sau 2 năm triển khai tại Trại Nuôi trồng Thủy sản 4 (Trường Cao đẳng Thủy sản), dự án đã hoàn thành với kết quả cao Tỷ lệ thành thục đạt 84,7%, vượt 4,7% so với chỉ tiêu của dự án, tỷ lệ rụng trứng đạt 86,58%, vượt 16,58% so với chỉ tiêu; tỷ lệ
nở từ trứng thụ tinh đạt 83,46%, vượt 3,46% so với chỉ tiêu; tỷ lệ sống từ cá bột lên các hương (cỡ 2 cm) đạt 32,42%, đạt chỉ tiêu đề ra; tỷ lệ sống từ các hương lên cá giống 50 – 62,5%, vượt 12,5% so với chỉ tiêu Tổng số lượng cá hương đạt 310.660 con, vượt 10.660 con so với chỉ tiêu Tổng số lượng cá giống sản xuất được 165.040 con, vượt chỉ tiêu 15.040 con so với chỉ tiêu [6, 32, 33, 36]
Khánh Hòa là tỉnh miền Trung đi đầu về thử nghiệm sản xuất giống cá chim vây vàng và nghiên cứu nuôi thương phẩm Đề tài “Thử nghiệm sản xuất giống cá
chim vây vàng (Trachinotus blochii Lacepede, 1801) tại Khánh Hòa” do PGS.TS Lại
Trang 21Văn Hùng (Trường Đại học Nha Trang) làm chủ nhiệm Sở NN&PTNT chủ trì đã được Hội đồng Khoa học công nghệ cấp tỉnh nghiệm thu đạt loại xuất sắc [6]
Năm 2010, trung tâm Giống hải sản Nam Định đã phối hợp với Trường Cao đẳng Thủy sản Bắc Ninh sản xuất thành công giống cá chim vây vàng Những con giống này sau đó được đưa xuống các vùng nuôi thuộc huyện Giao Thủy, Nghĩa Hưng (Nam Định)
Như vậy, để đa dạng hóa đối tượng nuôi và chủ động nguồn con giống với chất lượng tốt cho người nuôi thì việc tập trung đầu tư cho nghiên cứu phát triển và chuyển giao công nghệ sản xuất giống cá biển nói chung và cá chim vây vàng nói riêng cho người nuôi lúc này là rất quan trọng để đạt mục tiêu trên
Cá chim vây vàng là đôi tượng dễ nuôi và có giá trị kinh tế cao, mặc dù có vùng
phân bố tự nhiên ở Việt Nam nhưng rất ít khi bắt gặp Nhận thức được tiềm năng của đối tượng này, nhiều người nuôi cá lồng ở cá tỉnh Quảng Ninh, Khánh Hòa đã nhập giống từ Đài Loan về nuôi, thức ăn sữ dụng chủ yếu là cá tạp, sau thời gian nuôi 10-
12 tháng đạt cỡ thương phẩm 800- 1000 g Năm 2004 phân viện nuôi trồng thủy sản
đã tiến hành nhập cá hương cá chim vây vàng về nuôi, cá được cho ăn bằng cá tạp, sau
6 tháng nuôi cá đạt khối lượng trung bình 545 g/con và sau 9 tháng nuôi đạt 722g Năm 2005 viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản một đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu đặc điểm sinh học, kỷ thuật nuôi thương phẩm và tạo đàn cá hậu bị của 5 loài cá biển kinh tế”, trong đó có cá chim vây vàng Kết quả của đề tài cho thấy sau 6 tháng nuôi cá chim vây vàng bằng thức ăn công nghiệp Proconco và cá tạp với cỡ cá thà là 22g cá đạt 450 g so với thức ăn là cá tạp thì cá nuôi bằng thức ăn công nghiệp sinh trưởng chậm hơn Cá chim vây vàng giống cỡ 22g nuôi trong lồng có thể tích 20 m3 với 3 mật
độ nuôi là 330 và 600 con/lồng đạt tỷ lệ sống 58,6 – 68,2 %, khối lượng từ 461,2 – 470,2 g và mật độ nuôi càng cao tỷ lệ sống, tốc độ sinh trưởng thấp và tỷ lệ phân đàn cao hơn so với mật độ thấp Trong khi đó, cá chim vây vàng giống cỡ 21,1 g được sản xuất tại địa phương nuôi trong ao đất tại Quảng Ninh nuôi bằng thức ăn công nghiệp nhập từ Trung Quốc với mật độ 1,5 và 2,5 con/m2, sau thời gian nuôi 3 tháng cá đạt khối lượng 257 – 261 g, tỷ lệ sống 95 – 96 % [Thái Thanh Bình & Trần Thanh, 2008]
và cao hơn so với cá nuôi trong lồng bằng nguồn giống nhập từ Đài Loan Qua đó cho
Trang 22thấy, việc nhập giống từ các nước khác về ngoài giá giống cao thì tỷ lệ sống khi ương, nuôi cũng thấp hơn do môi trường nuôi thay đổi [1, 6, 33, 35]
1.2.2.2 Tình hình nuôi thương phẩm cá chim vây vàng
Hầu hết các mô hình nuôi đều cho thấy, cá chim vây vàng có sức sinh trưởng nhanh, có thể nuôi ở môi trường nước lợ, mặn với các hình thức như nuôi trong lồng lưới hoặc trong ao đất Cá ít bệnh, tuy nhiên khả năng chịu rét kém, gặp thời tiết lạnh
cá ngừng ăn và có thể chết
Để nuôi thành công loài cá này, người nuôi cần phải làm tốt công tác kỹ thuật,
xử lý trước khi nuôi, không dùng cá tạp vì dễ làm ô nhiễm nước và truyền bệnh cho cá Hiện nay, các nhà khoa học đang tiếp tục nghiên cứu để giảm chi phí thức ăn, đặc biệt
là nghiên cứu nuôi cá bằng thức ăn công nghiệp, phòng và trị bệnh cho cá
Năm 2010, Trung tâm Giống hải sản Nam Định đã phối hợp với Trường Cao đẳng Thủy sản Bắc Ninh sản xuất thành công giống cá chim trắng vây vàng Những con giống này sau đó được đưa xuống các vùng nuôi thuộc huyện Giao Thủy, Nghĩa Hưng (Nam Định) Sau thời gian từ 4 - 6 tháng nuôi, cá thương phẩm đạt trọng lượng
từ 0,6 – 0,7 kg Qua 2 năm, các mô hình nuôi cá chim trắng vây vàng ở Nam Định đều đạt hiệu quả cao so với các đối tượng nuôi khác, trung bình lãi trên dưới 300 triệu
đồng/ha [1, 6,33,35]
Cá chim vây vàng là đối tượng nuôi mới, đang được phát triển ở các tỉnh Nam Trung bộ, cho hiệu quả kinh tế cao Tại Khánh Hòa, bà con nuôi thử trong ao đất và
lồng bè Theo khảo sát một số hộ ở các huyện Ninh Hòa, Cam Lâm và TP Cam Ranh
(Khánh Hòa) thì hầu hết người nuôi đều có lãi
Hiện nay cá chim vây vàng đang được nuôi nhiều ở các tỉnh như Bạc Liêu, Cà
Mau, Sóc Trăng, Khành Hòa, Quảng Ninh, Phú Yên… bởi đặc tính rộng muối của nó 1.3 Những nghiên cứu về vai trò và nhu cầu của một số vitamin và khoáng chất trong thức ăn ở cá
1.3.1 Vai trò và nhu cầu của vitamine B6
Vitamin B6 là một hợp chất tan trong nước được phát hiện vào năm 1930 nhưng đến 1934 thì mới biết đến chức năng của nó và 1938 tách chiết B6 từ cám gạo
Trang 23Sau thời gian nghiên cứu cho thấy B6 có ba hình thức chuyển hóa cho nhau đó là pyridoxal, pyridoxaine và pyridoxine Chúng đều bền vững khi đun sôi trong acid và kiềm nhưng không bền khi có các chất oxy hóa Tuy nhiên, dưới tác dụng của ánh sáng vitamin B6 bị phân hủy nhanh.[37]
Các dạng của B6 hoạt động giống như một coenzyme của nhiều enzyme khác nhau trong cơ thể và tham gia chủ yếu vào quá trình trao đổi chất và thực hiện các chức năng sau:
Tham gia vào quá trình chuyển hóa aminoacid, glucose và lipid
Tham gia vào quá trình tổng hợp các hợp chất dẫn truyền xung thần kinh
Tham gia vào sự trao đổi chất của histamine
Hỗ trợ trong việc tổng hợp hemoglobin
Tham gia vào quá trình biểu hiện gen [4, 10]
Khi chúng ta cung cấp một lượng vitamin B6 không đủ sẽ làm cho vật nuôi kém
ăn, chậm lớn, rối loạn thần kinh làm biểu hiện cá không có phản ứng khi có tiếng động
và khi cá chết thì hiện tượng chết cứng diễn ra rất nhanh [2, 4, 10]
Sự thiếu hụt Vitamin B6 sẽ dẫn đến tăng sự biểu hiện của mRNA albumin, pyridoxal phosphate sẽ ảnh hưởng đến biểu hiện gen của glycoprotein IIb bằng cách tương tác với các yếu tố phiên mã khác nhau, kết quả là ức chế sự kết tập tiểu cầu nhưng khi tăng nồng độ nội bào của vitamin này sẽ dẫn đến giảm sự sao chép của hormon glucocorticoid [38]
Bảng 1.2 : Nhu cầu một số vitamin của họ cá Samonidae (mg/kg thức ăn)
Trang 24Những nghiên cứu trước đây cho thấy mặc dù nhu cầu vitamin B6 của cá hồi thấp song lượng bổ sung lại cao hơn khoảng 4 lần, có thể là do trong quá trình chế biến thức ăn bị hao hụt do nhiệt độ hay trong quá trình bảo quản bị biến đổi hoặc tùy vào từng dạng vitamin B6 bổ sung vào thức Trong thí nghiệm về nhu cầu cá chim vây vàng tôi thí nghiệm ở ba hàm lượng 10, 20, 30 mg/kg thức ăn để đánh giá mức cần bổ sung vào thức ăn ở hàm lượng thấp (10 mg/kg thức ăn), ở hàm lượng trung bình (20/kg thức ăn) và ở hàm lượng bổ sung cao (30 mg/kg ) Từ đó làm cơ sở cho những nghiên cứu khác với nhu cầu vitamin B6 của cá chim vây vàng từ đó đưa ra hàm hượng bổ sung thích hợp
1.3.2 Vai trò và nhu cầu của Zn và Se
Ngoài các nguyên tố tạo thành các hợp chất hữu cơ như cacbon, hydro, oxy, nito thì còn khoảng hơn hai mươi nguyên tố vô cơ khác được xem là hết sức cần thiết cho cơ thể động vật bao gồm cả tôm và cá Tùy vào nồng độ của chúng trong cơ thể
mà người ta có thể chia thành hai nhóm chính là nguyên tố vi lượng và đa lượng
Các khoáng chất là hết sức cần thiết cho cơ thể, chúng tham gia vào nhiều thành phần cấu tạo nên các hợp chất quan trọng, đồng thời tham gia vào nhiều quá trình quan trọng của cơ thể, nhìn chung chúng có một số chức năng như sau:
Chúng đóng một vai trò quan trọng trong việc điều hòa áp suất thẩm thấu do đó điều hòa quá trình trao đổi nước và khoáng chất trong cơ thể, các nguyên tố này còn là thành phần của các mô mềm trong cơ thể động vật, là thành phần quan trọng của việc truyền xung thần kinh và co cơ, khoáng chất còn là thành phần quan trọng trong việc điều hòa cân bằng acid-baso qua điều hòa pH và các dịch cơ thể khác.[2, 4, 10]
Ngoài ra khoáng chất còn là thành phần thiết yếu của rất nhiều enzym, vitamin, kích thích tố, và các sắc tố hô hấp, hoặc là tiền nhân tố trong quá trình trao đổi chất, chất xúc tác và kích hoạt enzyme
Kẽm và selen là hai nguyên tố vi lượng nhưng có vai trò đặc biệt quan trọng trong cơ thể [10, 14]
1.3.2.1 Vai trò và nhu cầu của Zn
Kẽm được đánh giá là một nguyên tố vi lượng quan trọng trong dinh dưỡng của
Trang 25 Kẽm là thành phần thiết yếu của hơn 80 metalloenzymes, bao gồm carbonic anhydrase (cần thiết cho việc vận chuyển khí cacbon dioxit trong máu và tiết HCl trong dạ dày), các quá trình dehydro hóa hay còn gọi là quá trình tách hydro
Kẽm là nguyên tố hoạt động cùng các enzyme quan trọng trong cơ thể bao gồm arginase, enolase, peptidase nhiều, và decarboxylase oxalacetic
Kẽm còn là thành phần quan trọng của các hệ thống enzyme tổng hợp và chuyển hóa protein, chất béo và chuyển hóa carbohydrate, đặc biệt trong quá trình tổng hợp và trao đổi chất của các axit nucleic (RNA) và protein
Mặc dù chưa được chứng minh, song kẽm được đề xuất đóng một vai trò quan trọng trong hoạt động của các hormone như insulin, glucagon, corticotrophin, FSH và LH
Ngoài ra kẽm còn đóng vai trò tích cực trong việc chữa lành các vết thương [5,2018]
1.3.2.2 Nhu cầu của kẽm :
Theo một số nghiên cứu trước đây thì người ta đã biết nhu cầu cá hồi là 15-30 mg/kg thức ăn
Yêu cầu kẽm của cá hồi vân và cá chép là 15 - 30 mg/kg thức ăn [9]
Song khi mà hàm lượng kẽm quá cao lại gây ra các tác hại cho cá : ở nồng độ cao, kẽm làm ảnh hưởng tới sự tăng trưởng, phát triển và tỷ lệ sống của cá (Tuurala và Soivio, 1982) Kẽm tích tụ trong mang cá và điều này cho thấy giảm hiệu quả trong hô hấp tại cá mô mang dẫn đến tử vong do thiếu oxy máu (Crespso et al, 1979) [10]
Theo một số nghiên cứu trước đây thì hàm lượng kẽm gây độc còn phụ thuộc vào hàm lượng Ca trong thức ăn Ví dụ tốc độ tăng trưởng của cá hồi sẽ giảm khi hàm lượng Zn trong thức ăn là 20 mg/kg thức ăn và hàm lượng Ca là 0,1 mg/kg thức ăn nhưng khi mà hàm lượng Zn cũng như vậy nhưng hàm lượng Ca là 5 mg/kg thức ăn lại không thấy có sự giảm tốc độ tăng trưởng như vậy [2, 4, 5, 8, 9]
Trang 26Bảng 1.3: Tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá chép nuôi bằng thức ăn
công nghiệp với các hàm lượng kẽm khác nhau.[9]
bổ sung hàm lượng kẽm thích hợp trong thức ăn cho cá chim vây vàng đồng thời cũng đưa ra nhận xét nếu bổ sung ở hàm lượng cao có ảnh hưởng như thế nào tới cá
1.3.3.Vai trò và nhu cầu của Selen
Selenium là một thành phần thiết yếu của các enzyme glutathione peroxidase nhằm bảo vệ các mô tế bào đồng thời chống quá trình oxy hóa trong cơ thể
Đồng thời Se còn làm giảm khả năng gây độc của Hg đối với cá
Selen tham gia trong quá trình sinh tổng hợp ubiquinone (coenzyme Q và tham gia vào quá trình vận chuyển electron) và ảnh hưởng đến quá trình hấp thụ vitamin E
Nhu cầu của Se phụ thuộc vào thành phần của vitamin E có trong thức ăn
Động vật thủy sản nói chung, cá nói riêng có thể hấp thụ các chất khoáng tồn tại trong nước bằng hai con đường hấp thu chủ yếu là qua mang và con đường hấp thu qua thức ăn
Trong nhiều nghiên cứu cho thấy khi hàm lượng Se trong nước cao (40-150 µg/l) sẽ gây độc cho cá Đối với nhiều loài cá có tốc độ tăng trưởng tốt nhất khi thức ăn có hàm lượng Se là 0,15 mg/kg thức ăn và có bổ sung vitamin C, E
Thức ăn cho cá chép, khi bổ sung muối của Se với hàm lượng 0,05 - 0,1 mg/kg thức ăn cùng với phospho, lipid sẽ cho tốc độ tăng trưởng nhanh và hệ số thức
Trang 27ăn thấp, khi hàm lượng Se trong thức ăn của cá tăng sẽ làm cho hàm lượng trong các mô cũng tăng theo Thường nhu cầu của cá vào khoảng 0,25 mg/ kg thức ăn khô, đồng thời có bổ sung vitamin E với hàm lượng 30 mg/kg thức ăn [5, 7, 8, 13, 18, 20]
Bảng 1.4: Ảnh hưởng của hàm lượng Se và vitamin E có trong thức ăn tới sinh
Trang 28CHƯƠNG 2: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Địa điểm, thời gian và đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Địa điểm nghiên cứu
Trại thực nghiệm Nuôi Trồng Hải Sản (Đường Đệ -Nha Trang-Khánh Hòa)
2.1.2.Thời gian thực hiện đề tài
Từ tháng 3 đến tháng 9 năm 2012
2.1.3 Đối tượng nghiên cứu
Cá chim vây vàng Trachinotus blochii (Lacepede, 1801) từ 3,5 đến 15 cm
Nguồn gốc cá: Cá được sản xuất tại trại thực nghiệm Hải Sản Đường Đệ Trường Đại Học Nha Trang
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Vật liệu nghiên cứu
Bể thí nghiệm bằng composite ( thể tích 100 L)
Lưới phủ bể thí nghiệm
Hệ thống dẫn và sục khí
Hóa chất xử lý nước: chlorine
Test pH, nhiệt kế rượu, test oxy
Vợt, thau, xô, ca, ống thay nước…
Nguyên liệu chế biến thức ăn, vitamin, khoáng bổ sung vào thức ăn cho cá
Cá chim giống
Trang 29Hình 2.1 Hệ thống bể lắng lọc nước
Trang 302.2.2 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu
Hình 2.2: Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng vitamin (B6), kẽm và selen
Cá chim vây vàng giai đoạn 3,5 cm đến 15 cm
Trang 312.2.3 Bố trí thí nghiệm
Mỗi thí nghiệm trên hình 2.1 được bố trí với 3 mức bổ sung khác nhau vào thức
thức ăn cho cá chim vây vàng giống, tương ứng với 3 nghiệm thức: NT1, NT2, NT3 và thêm một nghiệm thức đối chứng (không bổ sung vitamin B6, khoáng chất ) Mỗi thí nghiệm được lặp lại ba lần
Đối với thí nghiệm khoáng:
-Thí nghiệm đối với kẽm: dựa trên những nghiên cứu trước đây với mức hàm lượng bổ sung kẽm trong thức ăn thấp hơn 30mg/ kg thức ăn là phù hợp song cũng có những nghiên cứu cho rằng hàm lượng Zn bổ sung còn ảnh hưởng tới hàm lượng Ca có trong thức ăn Trong nghiên cứu của chúng tôi thành phần dinh dưỡng cơ bản như bảng 2.2 trong đó bổ sung thêm kẽm với hàm lượng 30, 35, 40 mg/kg (sản phẩm là ZnO 99,8% của công ty trách nhiệm hữu hạn Long Sinh) thức ăn tương ứng với NT1, NT2, NT3
- Thí nghiệm Se: Thành phần dinh dưỡng cũng tương tự như bảng 2.2 và bổ sung thêm selen với hàm lượng 0,2, 0,3, 0,4 mg/kg thức ăn tương ứng với NT1, NT2, NT3 trong thí nghiệm (với Se bổ sung là Sodium selenite 1%)
Trang 32Bảng 2.2: Thành phần dinh dưỡng của thức ăn thí nghiệm selen (Se)
Đối với thí nghiệm vitamin B6:
Hàm lượng vitamin B6 trong thức ăn còn phụ thuộc thành phần protein trong thức ăn cũng như dạng vitamin B6
-Thành phần dinh dưỡng cũng tương tự như bảng 2.1g song bổ sung thêm vitamin B6 với hàm lượng là 10, 20, 30 mg/kg thức ăn tương ứng với NT1, NT2, NT3 trong thí nghiệm (B6 với thành phần chiếm 99% của công ty trách nhiệm hữu hạnh Long sinh)
Trang 33Bảng 2.3: Thành phần thức ăn dùng thí nghiệm vitamin B6
Cá chim vây vàng Trachinotus blochii (Lacepede, 1801) giai đoạn giống đƣợc
lấy trực tiếp từ trại thực nghiệm hải sản với khối lƣợng trung bình đối với thí nghiệm selen và kẽm là 2,36g ± 0,12 và đối với thí nghiệm vitamin B6 là 1,66 g ± 0,06 Chiều dài trung bình đối với thí nghiệm selen và kẽm là 4,45 cm ± 0.15 và với thí nghiệm vitamin B6 là 3,97 cm ± 0,04 Cá đƣợc lọc đồng đều theo cỡ, khỏe mạnh, không dị tật
và đƣợc tuyển chọn cho vào mỗi bể thí nghiệm là 30 con Thời gian thí nghiệm với vitamin B6 là 32 ngày, Zn là 32 ngày và thí nghiệm đối với selen là 40 ngày
Trang 34Chế độ cho ăn: Cá được cho ăn với khẩu phần 5% mỗi ngày và mỗi ngày tăng lên 5% lượng thức ăn của ngày trước đó Hàng ngày cá được cho ăn 4 lần 7 giờ, 10 giờ, 14 giờ và 17 giờ
Chế độ thay nước:
Đối với thí nghiệm selen và kẽm trong thời gian thí nghiệm từ ngày đầu đến ngày 18 thì thay nước 2 ngày/lần, từ ngày 18 cho đến lúc kết thúc thí nghiệm thì thay nước ngày/lần
Đối với thí nghiệm vitamin B6 thì thay nước ngày/lần
Các yếu tố môi trường được theo dõi ở các bể 2 lần/ ngày vào lúc 7 giờ 30 và 16 giờ 30
Theo dõi tình trạng bắt mồi cũng như tình hình sức khỏe của cá hàng ngày
Các yếu tố môi trường và chế độ chăm sóc quản lý được duy trì như nhau ở tất cả các nghiệm thức
Trang 352.2.5 Quy trình chế biến và bảo quản thức ăn thí nghiệm
Nguyên liệu của thức ăn thí nghiệm gồm bột cá, bột mực, bột rong biển, bột đậu nành và một số các chất bổ sung khác Vitamin (B6) và chất khoáng (Zn, Se) phối trộn
vào thức ăn sau đó được chế biến dưới dạng viên khô
Cách chế biến thức ăn: Căn cứ vào nhu cầu Protein, Lipid của cá chim giống
giai đoạn giống đã được nghiên cứu trong thí nghiệm trước của Huỳnh Thư Thư về lipid và protein cũng như dựa trên thành phần dinh dưỡng của các nguyên liệu, chúng tôi tiến hành tính toán công thức thức ăn Thức ăn được sản xuất theo quy trình hình 2.3
Hình 2.4: Quy trình sản xuất thức ăn
Các nguyên liệu được cân theo tỷ lệ nhất định Sau đó phối trộn các thành phần vi lượng với nhau trước (trong quá trình phối trộn thức ăn cần lưu ý hòa tan vitamin B6, Zn và Se vào nước, tiếp đến phối trộn các thành phần đa lượng, sau cùng trộn hai hỗn hợp này với nhau cho thật đều, bổ sung nước vừa đủ tạo thành một hỗn hợp dẻo Hỗn hợp dẻo được ép sợi qua máy LEPRATIQUE với các kích cỡ sợi thức ăn khác nhau cho phù hợp với từng giai đoạn phát triển của cá Thức
ăn sau khi ép sợi được rải đều ra các khay, sau đó đưa vào tủ hấp cách thủy trong vòng 5 phút trước khi cho vào tủ sấy Thức ăn được làm khô bằng tủ sấy ở nhiệt
độ 60o
C trong vòng 10 tiếng, sau đó tiến hành tạo viên cho phù hợp với kích cỡ miệng của cá Thức ăn được bảo quản trong túi nilon ở nhiệt độ -20oC
Trang 36Hình 2.5: Công đoạn sấy thức ăn
Hình 2.6 : Thức ăn sau khi hoàn thành
Trang 37Hình 2.7: Thức ăn dùng trong thí nghiệm
Trang 382.3 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu
2.3.1 Phương pháp thu thập mẫu và cân đo cá
Hình 2.8: Cân, đo cá trong thí nghiệm
Khối lượng được xác định bằng cân điện tử có độ chính xác 0,1 g Chiều dài được đo bằng giấy oly có độ chính xác 1mm
Thu 15 con để theo dõi hàng tuần bằng phương pháp ngẫu nhiên
Khối lượng và chiều dài thu thập vào thời điểm bắt đầu và kết thúc thí nghiệm
để tính toán các thông số tăng trưởng
2.3.2.Phương pháp phân tích thành phần sinh hóa của thức ăn
Phân tích thành phần dinh dưỡng trong thức ăn được thực hiện tại Viện Công Nghệ Sinh Học và Môi Trường – ĐH Nha Trang
Phân tích Protein thô theo phương pháp Kjenldal
Phân tích lipid thô theo phương pháp Frolch với hỗn hợp dung môi Chloroform: MeOH
Độ ẩm: sấy mẫu ở nhiệt độ 105oC trong 18h đến khi khối lượng không đổi
Trang 39Trong đó: L1, L2: Chiều dài cá (cm) tại thời điểm t1 và t2
W1, W2: khối lượng cá (g) tại thời điểm t1 và t2
Hệ số thức ăn (Feed Converson Ratio):
FCR =
Trong đó: Wtasd: khối lượng thức ăn cá sử dụng
W2: Tổng khối lượng cá khi kết thúc thí nghiệm
W1: Tổng khối lượng cá khi bắt đầu thí nghiệm
Tỷ lệ sống (Survival Rate) (%):
SR = x 100
Trong đó: F2: số lượng cá sau thí nghiệm F1: số lượng cá trước thí nghiệm
Trang 40 Xử lý số liệu
Số liệu thu được ở các thí nghiệm được xử lý trên phần mềm SPSS 16,0 và được phân tích bằng phương pháp ANOVA một yếu tố Sự sai khác giữa các nghiệm thức được so sánh theo phương pháp Ducan’s multiple range test Sự sai khác có ý nghĩa được xem xét khi P < 0,05 Số liệu được trình bày trong báo cáo là giá trị trung bình (TB) ± Sai số chuẩn(SE)