BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG *************** HUỲNH THƯ THƯ NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA HÀM LƯỢNG PROTEIN, LIPID VÀ VITAMIN D3 TRONG THỨC ĂN LÊN SINH TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ SỐN
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
***************
HUỲNH THƯ THƯ
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA HÀM LƯỢNG PROTEIN, LIPID VÀ VITAMIN D3 TRONG THỨC ĂN LÊN SINH TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ SỐNG CỦA CÁ CHIM VÂY VÀNG
(Trachinotus blochii Lacepède, 1801) GIAI ĐOẠN GIỐNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NHA TRANG, 2012
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
***************
HUỲNH THƯ THƯ
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA HÀM LƯỢNG PROTEIN, LIPID VÀ VITAMIN D3 TRONG THỨC ĂN LÊN SINH TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ SỐNG CỦA CÁ CHIM VÂY VÀNG
(Trachinotus blochii Lacepède, 1801) GIAI ĐOẠN GIỐNG
Chuyên ngành : Nuôi trồng Thuỷ sản
Mã số: 60.62.70
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN: PGS TS LẠI VĂN HÙNG
NHA TRANG, 2012
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu thu được trong báo cáo này là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào
Nha Trang, tháng 11 năm 2012
Học viên
Huỳnh Thư Thư
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình cao học cũng như luận văn tốt nghiệp này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình từ nhiều tổ chức và cá nhân Qua đây, tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến:
Ban Giám hiệu Trường Đại học Nha Trang, tập thể cán bộ, giảng viên Khoa Nuôi trồng Thủy sản; Khoa Sau Đại học, Viện Công nghệ Sinh học và Môi trường,
và quý Thầy, Cô giáo đã giảng dạy lớp Cao học Nuôi trồng Thủy sản Khóa 2010 -
2012, Trường Đại học Nha Trang
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến PGS TS Lại văn Hùng - người đã dành nhiều thời gian để định hướng, truyền đạt kiến thức chuyên môn cũng như những kinh nghiệm quý báu cho tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài Đồng thời, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến các thành viên (KS Hoàng Văn Dần, KS Nguyễn Văn Quân, KS Đinh Văn Thìn, KS Hà Văn Chung, KS Nguyễn Văn Thắng) trong Đề tài "Thử nghiệm sản xuất giống cá chim vây vàng (do PGS TS Lại Văn Hùng làm chủ nhiệm)", Trại Thực nghiệm Nuôi trồng Thủy sản Đường Đệ đã tạo điều kiện cơ sở vật chất cho tôi triển khai các thí nghiệm nghiên cứu của mình
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đến TS Nguyễn Địch Thanh, TS Lê Anh Tuấn, ThS Ngô Văn Mạnh và ThS Trần Văn Dũng, đã cung cấp tài liệu, kiến thức chuyên môn, đọc sửa bản thảo cho tôi trong quá trình hoàn thành luận văn
Nhân đây, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến Lãnh đạo Thanh tra Sở Nông
động viên và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và hoàn thành luận văn
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến gia đình và bạn bè những người đã luôn động viên, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và hoàn thành luận văn này
Nha Trang, tháng 11 năm 2012
Học viên
Huỳnh Thư Thư
Trang 5MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN 1
LỜI CẢM ƠN 2
MỤC LỤC 3
DANH MỤC BẢNG 5
DANH MỤC HÌNH 6
MỞ ĐẦU 8
CHƯƠNG I TỔNG QUAN 10
1.1 Một số đặc điểm sinh học của cá chim vây vàng 10
1.1.1 Vị trí phân loại và đặc điểm hình thái 10
1.1.2 Đặc điểm phân bố và sinh thái 11
1.1.3 Đặc điểm dinh dưỡng 12
1.1.4 Đặc điểm sinh trưởng 12
1.1.5 Đặc điểm sinh sản 13
1.2 Các nghiên cứu về dinh dưỡng trên cá biển và cá chim vây vàng 13
1.2.1 Protein 14
1.2.2 Lipid 16
1.2.3 Vitamin 20
1.3 Tình hình nghiên cứu cá chim vây vàng trên thế giới và Việt Nam 23
1.3.1 Tình hình nghiên cứu cá chim vây vàng trên thế giới 23
1.3.2 Tình hình nghiên cứu cá chim vây vàng ở Việt Nam 25
CHƯƠNG II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.1 Địa điểm, thời gian và đối tượng nghiên cứu 27
2.2 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 27
2.2.1 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 27
2.2.2 Bố trí thí nghiệm 28
2.2.2.1 Hệ thống thí nghiệm 28
2.2.2.2 Thức ăn thí nghiệm 28
2.2.2.3 Nguồn cá giống 29
2.2.3 Bố trí thí nghiệm 30
2.2.3.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng protein khác nhau lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá chim vây vàng giai đoạn giống (TN 1) 30
Trang 62.2.3.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng lipid trong thức ăn lên sinh
trưởng và tỷ lệ sống của cá chim vây vàng giai đoạn giống (TN2) 30
2.2.3.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng vitamin D3 trong thức ăn lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá chim vây vàng giai đoạn giống 30
2.2.4 Phương pháp phân tích thành phần sinh hóa của thức ăn 31
2.2.5 Chăm sóc và quản lý 31
2.2.6 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu 32
2.2.6.1 Phương pháp thu thập số liệu 32
2.2.6.2 Phương pháp xử lý số liệu 33
CHƯƠNG III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 34
3.1 Ảnh hưởng của hàm lượng protein lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá chim vây vàng giai đoạn giống (TN 1) 34
3.1.1 Các yếu tố môi trường trong thời gian thí nghiệm 34
3.1.2 Ảnh hưởng của hàm lượng protein lên tốc độ sinh trưởng của cá 34
3.1.3 Ảnh hưởng của hàm lượng protein lên hệ số thức ăn (FCR) của cá 36
3.1.4 Ảnh hưởng của hàm lượng protein lên tỷ lệ sống của cá 36
3.2 Ảnh hưởng của hàm lượng lipid lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá chim vây vàng giai đoạn giống (TN 2) 39
3.2.1 Các yếu tố môi trường trong thời gian thí nghiệm 39
3.2.2 Ảnh hưởng của hàm lượng lipid lên tốc độ sinh trưởng của cá 39
3.2.3 Ảnh hưởng của hàm lượng lipid lên hệ số thức ăn (FCR) của cá 41
3.2.4 Ảnh hưởng của hàm lượng lipid lên tỷ lệ sống của cá chim vây vàng giai đoạn giống 41
3.3 Ảnh hưởng của hàm lượng vitamin D3 lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá chim vây vàng giai đoạn giống (TN 3) 44
3.3.1 Các yếu tố môi trường trong thời gian thí nghiệm 44
3.3.2 Ảnh hưởng của hàm lượng vitamin D3 lên tốc độ sinh trưởng của cá 44
3.3.3 Ảnh hưởng của hàm lượng vitamin D3 lên hệ số thức ăn FCR 46
3.3.4 Ảnh hưởng của hàm lượng vitamin D3 lên tỷ lệ sống của cá 46
CHƯƠNG IV KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN 49
4.1 Kết luận 49
4.2 Đề xuất ý kiến 50
TÀI LIỆU THAM KHẢO 51
PHỤ LỤC 61
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Khẩu phần thức ăn cho cá chim vây vàng 12
Bảng 2.1 Các nghiệm thức thức ăn thí nghiệm 1 30
Bảng 2 Các nghiệm thức thức ăn thí nghiệm 2 30
Bảng 3 Các nghiệm thức thức ăn thí nghiệm 3 31
Bảng 3.1 Các yếu tố môi trường trong thời gian thí nghiệm 34
Bảng 3.2 Ảnh hưởng của protein lên sinh trưởng, tỷ lệ sống và FCR của cá 70
Bảng 3.3 Các yếu tố môi trường trong thời gian thí nghiệm 39
Bảng 3.4 Ảnh hưởng của lipid lên sinh trưởng, tỷ lệ sống và FCR của cá 70
Bảng 3.5 Các yếu tố môi trường trong thời gian thí nghiệm 44
Bảng 3.6 Ảnh hưởng của protein lên sinh trưởng, tỷ lệ sống và FCR của cá 70
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Đặc điểm hình thái của cá chim vây vàng 10
Hình 1.2 Bản đồ phân bố của cá chim vây vàng trên thế giới 11
Hình 2.1 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 27
Hình 2.2 Quy trình chế biến thức ăn 28
Hình 2.3 Phối trộn và hấp thức ăn 29
Hình 2.4 Cá chim giống 29
Hình 2.4 Vệ sinh bể cá 31
Hình 2.5 Xác định khối lượng cá 32
Hình 3.1 Ảnh hưởng của hàm lượng protein lên SGRL (%/ngày) 34
Hình 3.2 Ảnh hưởng của hàm lượng protein lên SGRW (%/ngày) 35
Hình 3.3 Ảnh hưởng của hàm lượng protein lên khối lượng cuối của cá (We) 36
Hình 3.4 Ảnh hưởng của hàm lượng protein đến hệ số FCR của cá 36
Hình 3.5 Ảnh hưởng của hàm lượng protein lên tỷ lệ sống của cá 37
Hình 3.6 Ảnh hưởng của hàm lượng lipid lên tốc độ sinh trưởng đặc trưng SGRL 40
Hình 3.7 Ảnh hưởng của hàm lượng lipid lên tốc độ sinh trưởng đặc trưng SGRW 40
Hình 3.8 Ảnh hưởng của hàm lượng lipid lên khối lượng cuối của cá (We) 41
Hình 3.9 Ảnh hương của hàm lượng lipid lên hệ số FCR của cá 41
Hình 3.10 Ảnh hưởng của hàm lượng lipid lên tỷ lệ sống của cá 42
Hình 3.11 Ảnh hưởng của hàm lượng vitamin D3 lên tốc độ sinh trưởng SGRL 44
Hình 3.12 Ảnh hưởng của hàm lượng vitamin D3 lên tốc độ sinh trưởng SGRW 45
Hình 3.13 Ảnh hưởng của hàm lượng vitamin D3 lên khối lượng cuối của cá (We) 45
Hình 3.14 Ảnh hưởng của hàm lượng vitamin D3 lên hệ số FCR của cá 46
Hình 3.15 Ảnh hưởng của hàm lượng vitamin D3 lên tỷ lệ sống của cá 46
Trang 9DANH MỤC TỪ VÀ THUẬT NGỮ VIẾT TẮT
Trang 10MỞ ĐẦU
tương đối rộng ở vùng biển nhiệt đới, Tây Thái Bình Dương, Nhật Bản, Đài Loan, Indonesia, và miền Nam Trung Quốc Ở nước ta, cá phân bố chủ yếu ở vịnh Bắc Bộ, miền Trung và Nam Bộ Cá chim vây vàng là loài cá nổi, ưa hoạt động, dễ nuôi, có khả năng nuôi với mật độ cao trong lồng hoặc trong ao ở cả thủy vực nước lợ và nước mặn Mặc dù là loài ăn thiên về động vật, song trong quá trình nuôi cá chim vây vàng không ăn thịt lẫn nhau Cá cũng sử dụng tốt các loại thức ăn công nghiệp,
dễ nuôi, thích ứng tốt với môi trường do đó đã và đang trở thành đối tượng nuôi hấp dẫn ở nhiều nước thuộc châu Á – Thái Bình Dương [45, 49] Đây là đối tượng có tốc độ sinh trưởng khá nhanh và giá trị kinh tế cao được thị trường trong và ngoài nước ưa chuộng Cá có kích cỡ thương mại 0,8 – 1,0 kg/con, giá trị kinh tế cao với giá bán thị trường trong nước 80.000 – 140.000 đồng/kg, thị trường xuất khẩu: Nhật Bản, Đài Loan, Trung Quốc, Hồng Kông, Mỹ, Singapore với giá 5 – 7 USD/kg
Cá chim vây vàng được sản xuất giống đầu tiên tại Đài Loan vào năm 1989 [89], sau đó công nghệ sản xuất giống lan rộng ra nhiều nước như Trung Quốc, Indonesia và Việt Nam Hiện nay, chúng ta đã tiến hành cho sinh sản nhân tạo thành công cá chim vây vàng [3] Tuy nhiên, đây là một đối tượng mới, chưa được nghiên cứu nhiều, đặc biệt là dinh dưỡng cho cá ở giai đoạn giống Trong khi đó, dinh dưỡng ở giai đoạn này ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá Chính vì vậy, việc xác định nhu cầu dinh dưỡng trong giai đoạn giống của cá chim vây vàng làm cơ sở để sản xuất thức ăn tổng hợp có ý nghĩa thực tiễn cao Trên thế giới, một vài công trình nghiên cứu về nhu cầu dinh dưỡng có trong thức ăn cho cá chim được thực hiện, tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào về hàm lượng vitamin D3 trong thức ăn được công bố
Hiện nay, chưa có thức ăn công nghiệp dùng riêng cho đối tượng nuôi này Người nuôi cá chim thường dùng thức ăn của các loại cá khác như: cá chẽm, cá giò hay sử dụng cá tạp làm nguồn thức ăn chính Cá tạp là nguồn thức ăn tương đối sẵn
có ở địa phương Tuy nhiên, nguồn thức ăn này có thể trở nên khan hiếm và đắt đỏ vào những ngày biển động Bên cạnh đó, kỹ thuật cho ăn và chăm sóc quản lý kém cũng có thể làm cho một lượng lớn thức ăn bị thất thoát và kéo theo đó nó có thể
Trang 11gây ra các vấn đề về ô nhiễm nghiêm trọng cho vùng nước Vì vậy, việc nghiên cứu nhu cầu dinh dưỡng của cá chim để làm cơ sở cho việc sản xuất thức ăn công nghiệp là cần thiết
Xuất phát từ những vấn đề trên và được sự đồng ý của Khoa Nuôi trồng
Thủy sản, Trường Đại học Nha Trang, tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh
hưởng của hàm lượng protein, lipid, vitamin D3 trong thức ăn lên sinh trưởng và
tỷ lệ sống của cá chim vây vàng Trachinotus blochii (Lacepède, 1801) giai đoạn giống” nhằm cung cấp thêm thông tin về nhu cầu dinh dưỡng của cá chim cũng như
cơ sở cho việc sản xuất thức ăn công nghiệp cho loài cá này
Mục tiêu của đề tài: Xác định hàm lượng protein, lipid, vitamin D3 thích
hợp trong thức ăn lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá chim vây vàng giai đoạn giống
Nội dung nghiên cứu:
1 Ảnh hưởng của hàm lượng protein trong thức ăn lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá chim vây vàng giai đoạn giống
2 Ảnh hưởng của hàm lượng lipid trong thức ăn lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá chim vây vàng giai đoạn giống
3 Ảnh hưởng của hàm lượng vitamin D3 trong thức ăn lên sinh trưởng và tỷ
lệ sống của cá chim vây vàng giai đoạn giống
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:
1 Kết quả của đề tài sẽ cung cấp những thông tin khoa học về nhu cầu protein, lipid và vitamin D3 của cá chim vây vàng giai đoạn giống phục vụ nghiên cứu, giảng dạy về cá biển nói chung
2 Đề tài làm cơ sở cho việc sản xuất thức ăn công nghiệp phục vụ cho nuôi
cá chim giống, góp phần nâng cao năng suất, tỷ lệ sống của đối tượng này
Trang 12CHƯƠNG I TỔNG QUAN 1.1 Một số đặc điểm sinh học của cá chim vây vàng
1.1.1 Vị trí phân loại và đặc điểm hình thái
Vị trí phân loại:
loại như sau [72]:
Hình 1.1: Đặc điểm hình thái của cá chim vây vàng
Nguồn: http://eol.org/pages/212401/overview
Tên tiếng Việt: Cá chim vây vàng, cá song mũi hếch,…
Tên tiếng Anh: Snubnose pompano
Đặc điểm hình thái:
Khi còn nhỏ, cá chim vây vàng có dạng hình trứng, khi trưởng thành cơ thể hình bầu dục và dẹp, mõm rộng tròn Hai hàm với dải răng cưa nhỏ; lưỡi không răng Trên đường bên vẩy sắp xếp thành hàng có khoảng 135 – 136 cái, chiều dài
so với chiều cao 1,6 – 1,7 lần [13]
Đầu cá nhỏ, chiều cao của đầu lớn hơn chiều dài đầu Cuống đuôi ngắn và dẹp Chiều dài của đầu so với môi 5,1 – 6,2 lần, so với đường kính mắt 3,9 – 4,3 lần
Trang 13Hốc mắt hẹp phía trước, màng mỡ mắt không phát triển Miệng tù và chếch, xương hàm trên lồi, hàm trên và hàm dưới có răng cưa nhỏ, răng phía sau thoái hóa Mặt trên lưỡi và môi có nhiều gai thịt, không có răng ở lưỡi Hai lỗ mũi nằm gần nhau
và ở môi trên Mép phía trước xương nắp mang có dạng hình cung tương đối lớn, mép sau cong Xương nắp mang sau phía sau trơn, màng nắp mang tách rời, mỗi tia mang có 8 – 9 tơ mang ngắn Phần đầu không có vảy, cơ thể có nhiều vảy nhỏ dính vào dưới da [31]
1.1.2 Đặc điểm phân bố và sinh thái
Cá chim vây vàng là loài phân bố phổ biến ở các vùng biển thuộc Đại Tây Dương, Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương [72] Ở châu Á, chúng phân bố tại các vùng biển thuộc: Nhật Bản, Australia, Indonesia, Trung Quốc, Việt Nam, Đài Loan… [72]
Cá chim vây vàng thích nghi với môi trường có độ mặn cao 30 – 32‰, tuy nhiên, chúng cũng có thể duy trì được sự sống ở độ mặn 5‰ [46] Nhiệt độ thích
- 6 mg/L [45]
Cá thể chưa trưởng thành sống thành đàn ở các vùng nước ven bờ hoặc vùng nước lợ gần cửa sông có đáy cát hoặc bùn Khi trưởng thành chúng có xu hướng sống đơn độc và di chuyển ra các vùng nước có độ sâu khoảng 7 m quanh các rạn san hô và đá ngầm [37]
Hình 1.2 : Bản đồ phân bố của cá chim vây vàng trên thế giới
Nguồn: http://www.discoverlife.org/
Trang 141.1.3 Đặc điểm dinh dưỡng
Cá chim vây vàng ăn tạp thiên về động vật, cường độ bắt mồi của cá mạnh, đặc biệt là lúc chiều tối Cá mới nở dinh dưỡng bằng noãn hoàng [13] Giai đoạn nhỏ thức ăn chủ yếu là động vật phù du như luân trùng, Copepoda, khi cá lớn hơn bắt đầu ăn được các loài tôm, cá nhỏ và mảnh vụn hữu cơ Thức ăn ưa thích của cá trưởng thành ngoài tự nhiên là các loài động vật không xương sống như: động vật thân mềm và giáp xác [30, 42]
Trong điều kiện nuôi, ở giai đoạn cá con, ngoài sinh vật phù du (tảo, luân trùng
và ấu trùng Artemia), người ta còn sử dụng các loại thức ăn tổng hợp để ương nuôi cá Giai đoạn nuôi thương phẩm, các loại thức ăn tổng hợp và cá tạp được sử dụng chủ yếu tùy theo điều kiện từng vùng nuôi Chế độ cho ăn trong quá trình ương cá chim vây vàng được cho ở bảng 1.1 [3]
Bảng 1.1 Khẩu phần thức ăn cho cá chim vây vàng Ngày tuổi Loại thức ăn Số lần cho ăn
(lần/ngày)
Mật độ thức ăn
1.1.4 Đặc điểm sinh trưởng
Cá chim vây vàng là loài có tốc độ sinh trưởng nhanh, kích thước cơ thể lớn
Cá trưởng thành ngoài tự nhiên có thể đạt tới chiều dài 110 cm, trung bình khoảng
40 cm, và khối lượng 5,5kg [18, 57]
Trứng sau khi thụ tinh sẽ nở ra ấu trùng trong khoảng thời gian 20 – 27 giờ tủy theo điều kiện môi trường, thích hợp nhất ở độ mặn 31 – 33‰, nhiệt độ 22 –
2,79 – 3,11 mm; sau 3 ngày tuổi, cá đạt kích thước từ 3,02 – 3,31 mm Ấu trùng lúc này chưa hình thành sắc tố, mắt, ống tiêu hóa, huyệt và vây đuôi trong suốt [58]
Trang 15Sau 25 – 30 ngày cá hương có kích thước 1,5 – 2,0 cm Sau 60 ngày có thể đạt kích thước giống 4 – 5 cm Trong điều kiện nuôi, cá có thể đạt tốc độ tăng trưởng
kích thước 0,7 – 2,3 kg [31], cá 3 – 4 năm tuổi có thể đạt kích thước từ 2,2 - 3,6kg [29, 31]
1.1.5 Đặc điểm sinh sản
Các nghiên cứu về đặc điểm sinh học sinh sản của cá chim vây vàng ngoài tự nhiên còn nhiều hạn chế Mùa vụ và bãi đẻ được xác định dựa vào thời gian và địa điểm thu ấu trùng Ở các vùng biển phía Đông và Nam nước Mỹ, mùa vụ sinh sản
từ tháng 2 đến tháng 9 [29] Ở các vùng nhiệt đới mùa vụ sinh sản có thể diễn ra quanh năm [14] Ở Trung Quốc, mùa vụ sinh sản của cá chim vây vàng diễn ra từ tháng 4 đến tháng 9, trong khi tại Đài Loan có thể kéo dài đến tháng 10 [45] Ấu trùng có thể thu được ở gần bờ hoặc ngoài khơi xa, thường ở những vùng cách bờ hơn 24 km [29, 30] Quá trình sinh sản của cá chim vây vàng không tuân theo chu
kỳ trăng hàng tháng như nhiều loài cá khác Tuổi và kích thước thành thục lần đầu
2,5 kg [45]
So với nhiều loài cá biển khác như cá mú, cá chẽm, cá măng, cá chim Florida, sức sinh sản của cá chim vây vàng thấp hơn Sức sinh sản tuyệt đối và tương đối của cá chim vây vàng thường dao động từ 0,4 – 0,6 triệu trứng/cá cái và 888 – 131 trứng/g cá cái Khi kích thích sinh sản bằng hormone, số lượng trứng đẻ lần đầu có thể chiếm 60 - 70% lượng trứng trong buồng trứng Trứng của cá chim vây vàng là loại trứng nổi, sau khi được thụ tinh, trứng sẽ nổi trong môi trường nước nhờ giọt dầu Đường kính trứng sau khi trương nước khoảng 0,80 – 0,85 mm Những trứng không được thụ tinh sẽ chìm xuống đáy và chết Trong sinh sản nhân tạo, sức sinh sản tương đối có thể dao động từ 880 – 131 trứng/g cá cái
1.2 Các nghiên cứu về dinh dưỡng trên cá biển và cá chim vây vàng
Động vật thủy sản nói chung cần phải sử dụng nguồn thức ăn để duy trì các hoạt động sống và chức năng sinh lý bình thường của cơ thể [4] Nghiên cứu về dinh dưỡng cá được quan tâm nghiên cứu nhiều từ giữa thế kỷ XX khi mà hình thức
Trang 16nuôi thâm canh và bán thâm canh bắt đầu được áp dụng trên nhiều loài cá Khi đó, nguồn thức ăn cần phải chủ động cung cấp thay vì chỉ dựa vào nguồn thức ăn tự nhiên [2]
1.2.1 Protein
Vai trò của protein:
Protein là phần chất hữu cơ chính của cơ thể động vật thủy sản (chiếm 60 - 80%) Protein có vai trò quan trọng trong việc xây dựng cấu trúc cơ thể: tạo mô mới, thay thế các tế bào chết, tạo nên các sản phẩm có hoạt tính sinh học cao, vận chuyển hồng cầu, kháng thể, năng lượng,… [4, 19] Protein đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của các giai đoạn đầu của ấu trùng động vật thủy sản, đặc biệt là các loài
cá [91] Hàm lượng protein thích hợp cho giai đoạn ấu trùng của cá thường từ 50 - 60% [60] Thiếu hụt protein là nguyên nhân gây ra dị hình ở cá: dị tật xương, cong vẹo xương sống, mất nắp mang và dị tật hàm dưới [91] Tuy nhiên, sự dư thừa protein cũng làm giảm sinh trưởng của cá liên quan đến sự bão hòa các axít amin trong ruột [93]
Nhu cầu Protein:
Nhu cầu protein của cá dao động trong khoảng từ 25 đến 60% tùy thuộc vào nhiều yếu tố Đối với nhóm cá ăn động vật, nhu cầu protein khoảng 40 - 60% Sở dĩ có
sự khác biệt như vậy là do một số nhân tố khác nhau như: kích cỡ, độ tuổi, trạng thái sinh lý của cá, các yếu tố sinh thái, mật độ ương, khẩu phần thức ăn hàng ngày của cá, chất lượng protein trong thức ăn cũng như nguồn gốc protein (tỉ lệ protein và năng lượng, thành phần axít amin và khả năng tiêu hóa protein) [4]
Khi động vật thủy sản sử dụng thức ăn không có protein hoặc hàm lượng protein quá thấp, cơ thể giảm khối lượng, bởi vì chúng sẽ sử dụng protein của cơ thể
để duy trì các chức năng sống tối thiểu để tồn tại Trái lại, nếu thức ăn được cung cấp quá nhiều protein thì protein dư không được cơ thể hấp thụ để tổng hợp protein mới mà sử dụng để chuyển hóa thành năng lượng hoặc thải ra ngoài Hơn nữa, cơ thể còn phải tốn năng lượng cho quá trình tiêu hóa protein dư thừa, vì thế sinh trưởng của cơ thể giảm [4]
Nhu cầu protein của cá giai đoạn giống cao hơn so với cá ở giai đoạn trưởng thành, đối với các loài cá khác nhau thì nhu cầu protein trong thức ăn cũng khác
Trang 17nhau Thông thường những loài cá dữ có nhu cầu protein cao hơn những loài cá
hiền, cá hanh đỏ (Chrysophrys major) và cá bơn sao (Pleuronectes platessa) 50 - 55%, cá mú chuột (Cromileptes altivelis) và cá vược mõm rộng (Micropterus
salmoides) 40 – 45%, trong khi, cá nheo (Lactalurus punctatus) chỉ từ 32 – 36 %,…
[88]
Nhu cầu protein ở cá có sự thay đổi tùy theo giai đoạn phát triển với xu hướng chung là giai đoạn còn non và thành thục sinh dục nhu cầu cao hơn liên quan đến việc xây dựng cấu trúc các cơ quan trong cơ thể cũng như tạo các sản phẩm sinh dục [4] Hàm lượng protein trong thức ăn của cá chim Florida thương phẩm thường ở mức 40% [79] trong khi giai đoạn giống thường tối thiểu 45% [50]
Nghiên cứu về ảnh hưởng của hàm lượng protein và lipid trên cá chim vây vàng (T
ovatus) giai đoạn giống, Wang và CTV [84] nhận thấy, tốc độ sinh trưởng của cá tỷ
lệ thuận với sự gia tăng của hàm lượng protein trong thức ăn (33, 37, 41, 45 và 49%)
ở cùng một hàm lượng lipid (6,5 hoặc 12,5%) nhưng lại thấp hơn ở hàm lượng lipid cao hơn Hàm lượng protein trong thức ăn từ 45 và 49% cho tốc độ sinh trưởng cao hơn và hệ số FCR thấp hơn so với hàm lượng protein 33, 37 và 41% Hiệu quả sử dụng thức ăn cũng cao hơn khi gia tăng hàm lượng protein từ 33 đến 41% Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, hàm lượng protein và lipid thích hợp ở cá chim vây vàng là 45 – 49% và lipid 6,5%
Khả năng tiêu hóa protein:
Khả năng tiêu hóa protein ở ấu trùng hạn chế hơn nhiều so với cá trưởng thành
do sự kém hoàn thiện về cấu trúc và chức năng của các cơ quan chuyên hóa Do đó, hàm lượng axít amin trong thức ăn của cá giai đoạn ấu trùng cao hơn so với các giai đoạn sau Khả năng tiêu hóa protein chỉ được hoàn thiện sau đó vài tuần tùy thuộc vào từng loài cá [69, 92]
Các thành phần dinh dưỡng khác trong thức ăn cũng có ảnh hưởng nhất định đến khả năng tiêu hóa protein ở cá Thức ăn chứa nhiều protein, ít cellulose làm tăng hoạt tính của trypsine và pepsine ảnh hưởng đến tốc độ tiêu hóa protein, trong khi đó, thức ăn chứa nhiều tinh bột làm giảm hoạt tính của một số enzyme tiêu hóa protein [4] Nghiên cứu khả năng tiêu hóa protein từ các nguồn khác nhau ở cá hồng
bạc (Lutjanus argentimaculatus) và cá mú (Epinephelus lanceolatus) cho thấy, hiệu
Trang 18quả tiêu hóa protein có nguồn gốc từ các loài sinh vật biển (cá, tôm, mực) cao hơn
so với nguồn động thực vật trên cạn (bột xương, bột thịt, bột đậu nành) [62]
Nhu cầu axít amin:
Axít amin là thành phần cơ bản cấu tạo nên protein và là thành phần quan trọng khi nghiên cứu nhu cầu protein ở cá [70] Quá trình sinh trưởng và phát triển của cá chỉ được đảm bảo trong trường hợp cung cấp đầy đủ các thành phần axít amin, đặc biệt là các axít amin không thay thế [71] Axít amin là nguồn năng lượng chính ở giai đoạn ấu trùng của hầu hết các loài cá xương biển [71] Axít amin bao gồm 2 nhóm: axít amin thiết yếu (không thay thế) và axít amin không thiết yếu (có thể thay thế) Trong đó, nhu cầu về axít amin thiết yếu là rất quan trọng vì cơ thể cá không thể tự tổng hợp được mà phải lấy trực tiếp từ thức ăn [4]
Động vật thủy sản nói chung cần 10 loại axít amin bao gồm: arginine, histidine, isoleucine, leucine, lysine, methionine, phenylalanine, theronine, trytophane và valine [2] Đối với các loại axít amin khác nhau thì nhu cầu của cá
cũng khác nhau Nhu cầu methionin và lysin cho cá giò (Rachycentron canadum)
giai đoạn giống là 1,19% và 2,38% [94] Thức ăn có bổ sung 5% taurine cho tốc độ sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn cao hơn trong ương cá giò giống [54] Thiếu hụt các axít amin thiết yếu trong khẩu phần ăn làm giảm tốc độ sinh trưởng, chuyển giai đoạn, giảm hiệu quả sử dụng thức ăn, giảm sức đề kháng, gây dị hình xương sống, đục thủy tinh thể,… ở nhiều loài cá [19, 48, 64, 68]
1.2.2 Lipid
Vai trò của lipid:
Lipid có vai trò rất quan trọng đối với cơ thể sinh vật nói chung và cá nói riêng Lipid là nguồn cung cấp năng lượng tốt nhất cho động vật thủy sản Lipid có khả năng chia sẻ vai trò năng lượng và chuyển hóa với các thành phần protein và carbohydrate đã được chứng minh trên nhiều loài cá Do đó, khi bổ sung lượng lipid thích hợp sẽ giảm nhu cầu protein ở cá Triglyceride là thành phần chủ yếu của lipid cung cấp năng lượng cho hoạt động sống của động vật thủy sản tồn tại dưới dạng glycogen và mỡ dự trữ trong gan, cơ và mô mỡ [4]
Lipid còn đóng vai trò quan trọng trong quá trình cấu tạo và hoạt hóa các enzyme, đặc biệt là thành phần phospholipid Phosphatidyl choline có khả năng hoạt
Trang 19hóa enzyme glucose 6 phosphatase và adenogentriphosphatase Ngoài ra, lipid là thành phần chính của nhiều hormone steroid Lipid tham gia vào quá trình cấu trúc màng tế bào, đặc biệt là lipid phân cực hay phospholipids Cấu trúc màng tế bào 2 lớp, đầu ưa nước và kỵ nước, cùng với những phân tử protein xuyên màng, đóng vai trò quan trọng trong việc vận chuyển các chất qua màng tế bào [4]
Ngoài ra, lipid còn hỗ trợ hấp thu các lipid khác và vận chuyển vitamin Phospholipids giữ vai trò quan trọng trong sự vận chuyển và hấp thụ lipid và tham gia vào các quá trình chuyển hóa chất dinh dưỡng trung gian trong cơ thể sinh vật Phospholipid đóng vai trò như chất nhũ tương hóa giúp các acid béo, muối mật và các chất hòa tan trong chất béo được hấp thu một cách dễ dàng Lipid còn là dung môi hòa tan các vitamin tan trong dầu như: A, D, E, K và hydrocarbon Do đó, trong khi hấp thu và vận chuyển trong cơ thể, lipid cũng mang theo các chất hòa tan trong lipid [4]
Nhu cầu lipid:
Nhu cầu lipid của động vật thủy sản được xác định dựa vào nhu cầu về năng lượng, acid béo cần thiết, phospholipid và cholesterol, đặc điểm sống và dự trữ lipid của loài, cá có nhu cầu năng lượng thấp hơn động vật trên cạn và có thể sử dụng lipid để làm năng lượng Kết quả nghiên cứu về nhu cầu lipid trong thức ăn cho cá, hàm lượng lipid thay đổi tùy theo loài Đối với các loài cá có khả năng sử dụng tinh bột tốt nhu cầu lipid trong thức ăn thấp, cá ăn động vật nhu cầu lipid cao [4] Ngoài
ra, nhu cầu này phụ thuộc rất lớn vào hàm lượng và chất lượng, nguồn cung cấp lipid cũng như các thành phần khác trong thức ăn, đặc biệt là protein Tỷ lệ protein/lipid thích hợp ở nhiều loài cá dao động từ 6/1 – 7/1 [4] Nhìn chung, 10 - 20% lipid trong khẩu phần của cá cho tốc độ sinh trưởng tối ưu mà không tạo ra một cơ thể quá béo [2, 22] Hàm lượng lipid quá cao sẽ ảnh hưởng xấu đến sinh trưởng, tỷ lệ sống và quá trình thành thục sinh dục của cá Hàm lượng lipid 22 và 27% cho sinh trưởng và tỷ lệ sống cao hơn so với hàm lượng 15% ở cá tráp,
(Sparus aurata), tuy nhiên, ở hàm lượng lipid 27%, gan cá bị nhiễm mỡ [16]
Các nghiên cứu về nhu cầu lipid trên cá chim vây vàng còn nhiều hạn chế Nhu cầu về lipid của cá chim có sự thay đổi lớn tùy theo giai đoạn phát triển với xu hướng chung là cao hơn ở giai đoạn lớn và thành thục sinh dục Ngoài ra, nhu cầu
Trang 20lipid có tương quan với thành phần protein và các thành phần khác có trong thức ăn Khẩu phần thức ăn chứa 8 hay 12% lipid với cùng mức protein 42% gia tăng tốc độ sinh trưởng của cá chim Florida giai đoạn giống [87] Tương tự, khẩu phần thức ăn chứa 8% lipid cho tốc độ sinh trưởng và hiệu quả chuyển hóa thức ăn tốt hơn tương ứng với sự gia tăng hàm lượng protein từ 30, 35, 40 lên 45% [50] Trong khi đó, khẩu phần thức ăn chứa hàm lượng protein và lipid quá cao (53% và 13%) làm giảm tốc độ sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn của cá chim [33]
Ngoài cá chim, các nghiên cứu về hàm lượng và tỷ lệ protein và lipid trên các loài cá biển khác được thực hiện khá đầy đủ, đặc biệt là cá giò Nhiều nghiên cứu trên loài cá này cho thấy, hàm lượng lipid 10 hay 15% cho tốc độ sinh trưởng, phát triển và tỷ lệ sống cao hơn so với mức lipid 5, 20 hay 25% [41, 85] Tuy nhiên, Chou và CTV [21] lại không thấy được sự khác biệt về tốc độ sinh trưởng và hệ số chuyển đổi thức ăn khi cho cá giò ăn với các mức lipid 6, 9, 15 và 18% Nguồn lipid khác nhau cũng ảnh hưởng đáng kể đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá giò, trong
đó, nguồn lipid từ dầu colza cho tốc độ sinh trưởng thấp hơn so với nguồn lipid từ
mỡ lợn, dầu bắp, dầu đậu nành và dàu gan cá Hơn nữa, cá được cho ăn lipid từ nguồn dầu cá hay dầu đậu nành cho hiệu quả sử dụng thức ăn, đặc biệt là protein cao hơn so với các nguồn lipid còn lại [41] Hàm lượng lipid bổ sung trong thức ăn
có tương quan với các thành phần dinh dưỡng khác, đặc biệt là carbohydrate và protein Theo Craig [23] tỷ lệ thích hợp lipid và cacbonhydrate trong khẩu phần thức ăn của cá giò là 3 và 36% Trong đó, tỷ lệ 8% lipid và 0% cacbonhydrate làm giảm tốc độ sinh trưởng cũng như hệ số chuyển đổi thức ăn của cá giò giống Tương
tự, Ducan và CTV [28] cũng nhận thấy rằng, tỷ lệ protein và lipid tối ưu cho sinh trưởng của cá giò giống là 47 và 8%
Khả năng tiêu hóa lipid:
So với các thành phần khác trong thức ăn như protein và carbohydrate, thành phần lipid trong thức ăn có khả năng tiêu hóa được 85 – 90% [4] Khả năng tiêu hóa lipid của cá được thể hiện ngay từ khi bắt đầu ăn thức ăn bên ngoài, đặc biệt là nguồn thức ăn sống Nhiều nghiên cứu đã chỉ rõ, các enzyme sẵn có trong thức ăn sống (tảo, luân trùng, Copepda, Artemia,… ) chính là nhân tố giúp cho cá có khả năng tiêu hóa được nguồn lipid ngay từ khi bắt ăn thức ăn ngoài Các nghiên cứu trên cá tráp vàng
Trang 21cho thấy, hệ tiêu hóa của loài cá này ở giai đoạn 45 ngày tuổi hoàn thiện hơn so với
21 ngày tuổi với sự hiện diện của tuyến chức năng trong dạ dày Khi cho cá ăn luân trùng làm giàu EPA hoặc DHA, hoạt tính của enzyme lipase tăng mạnh hơn so với luân trùng không làm giàu Ngoài ra, khả năng tiêu hóa lipid của cá còn phụ thuộc vào thành phần, hàm lượng các axít béo có trong thức ăn [43]
Nhu cầu axít béo:
Các loại axít béo, đặc biệt là axít thiết yếu đóng vai trò rất quan trọng đối với
sự sinh trưởng, phát triển và tỷ lệ sống của động vật thủy sản nói chung và các loài cá nói riêng Tuy nhiên, hầu hết các loài cá biển không có khả năng tổng hợp các axít béo thiết yếu mà chúng phải phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn thức ăn cung cấp từ bên ngoài Đây là vấn đề cần được chú ý trong quá trình cung cấp thức ăn cho cá bố mẹ
và ấu trùng trong sản xuất giống nhân tạo cá biển [75, 76] Nhu cầu các axít béo thiết yếu tùy thuộc vào nhóm cá, nếu như nhóm cá nước ngọt có nhu cầu cao hơn về các axít béo họ n - 6 thì các loài cá biển lại có nhu cầu cao hơn về các axít béo không no
họ n – 3, đặc biệt là giai đoạn ấu trùng Các axít béo không no giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp năng lượng [74], tạo nên cấu trúc và chức năng của màng tế bào [76, 90], vai trò trong quá trình dẫn truyền tín hiệu thần kinh,… [34]
Thiếu hụt axít béo không no là nguyên nhân gây ra các biểu hiện rối loạn: thối loét vẩy, vây, tăng tỷ lệ chết, tăng các biểu hiện viêm, giảm khả năng sinh sản, tăng tỷ lệ dị hình xương và nắp mang (cá chép, cá hồi và cá tráp,…), giảm sinh trưởng, ham ăn và tiêu thụ thức ăn [4, 17, 27, 65, 81] Đối với cá bố mẹ, sự thiếu hụt axít béo không no ảnh hưởng cấu đến sự thành thục, đẻ trứng, sức sinh sản, chất lượng sản phẩm sinh dục, tỷ lệ thụ tinh, tỷ lệ nở, tỷ lệ sống của ấu trùng ở nhiều nhóm cá nuôi (cá bơn, cá tráp, cá mú,…) [61, 73] Thiếu hụt axít béo không no ở ấu trùng gây ra các biểu hiện hình thành bóng hơi không bình thường ở cá tráp, hình thành sắc tố không bình thường ở cá bơn, không tụ tập thành đàn, không bắt mồi được trong điều kiện ánh sáng thấp ở cá trích và cá đuôi vàng,… [82]
Bổ sung đầy đủ axít béo không no (DHA) trong khẩu phần thức ăn của ấu trùng giúp nâng cao tỷ lệ sống và tốc độ sinh trưởng ở cá bơn, cá mú đỏ [27, 66, 74] Đồng thời, nâng cao khả năng chịu sốc về nhiệt độ, độ mặn, ôxy thấp, sốc cơ học,… tăng cường khả năng miễn dịch ở ấu trùng cá hanh đỏ, cá bơn, cá chẽm, cá mú và cá
Trang 22kèn sọc [47, 78] Ngoài ra, các loại axít béo không no có trong thức ăn sống còn góp phần quan trọng trong việc cung cấp enzyme, hình thành và hoàn thiện ống tiêu hóa
ở cá chẽm… [15]
1.2.3 Vitamin
Vai trò của vitamin:
Vitamin là những chất hữu cơ có bản chất hóa học khác nhau, cơ thể động vật có nhu cầu một lượng nhỏ trong thức ăn để đảm bảo sự sinh trưởng và phát triển bình thường Do đó về mặt số lượng, vitamin không phải là một hợp phần quan trọng của cơ thể như protein, lipid, carbohydrate mà nó có vai trò như là chất bổ dưỡng, giữ gìn sức khỏe cho động vật Hầu hết các vitamin có vai trò như một co - enzyme hoặc các tác nhân hỗ trợ các enzyme, tác nhân ôxy hóa,… thực hiện các phản ứng sinh hóa trong cơ thể Việc xác định nhu cầu vitamin ở cá cũng giống như các động vật khác thường là rất khó vì nhu cầu vitamin phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: tập tính dinh dưỡng, khả năng sinh tổng hợp vitamin của vi sinh vật sống trong ống tiêu hóa của cá, điều kiện nuôi dưỡng, điều kiện sinh lý…
Vitamin được chia thành 2 nhóm dựa trên khả năng hòa tan của chúng là: Vitamin tan trong nước: vitamin nhóm B, vitamin C, choline và Inositol Các vitamin nhóm này thường tham gia trong thành phần cấu tạo của các Coenzyme khác nhau và các vitamin tan trong chất béo: vitamin A, D, E, K Các vitamin tan trong nước có vai trò rất quan trọng đối với quá trình trao đổi chất ở động vật thủy sản (nhóm B), tham gia vào quá trình oxy hoá glucose, chất béo và các axít amin,…
để tạo năng lượng cho sự sinh trưởng và phát triển bình thường của cơ thể Do đó, vitamin nhóm B rất cần cho quá trình tiêu hoá, cho sinh trưởng và sinh sản và hoạt động bình thường của tế bào thần kinh Thiếu hụt vitamin này là nguyên nhân gây bệnh xuất huyết, lở loét ở cá, sắc tố không bình thường Trong khi đó, vitamin C lại
có vai trò quan trọng trong quá trình hydroxyl hoá các axít amin Thiếu vitamin C là nguyên nhân gây bệnh xuất huyết ở cá, dị hình xương, hình thành sắc tố không bình thường, chậm lành vết thương, giảm sức đề kháng của cá trước những biến đổi bất lợi của môi trường,… Sự thiếu hụt các vitamin khác cũng gây ra những rối loạn trong hoạt động sinh lý của cơ thể cá
Trang 23Các vitamin tan trong dầu cũng có vai trò quan trọng trong quá trình trao đổi protein, glucid, lipid và các chất khoáng Sự thiếu hụt vitamin A trong khẩu phần thức ăn là nguyên nhân gia tăng tỷ lệ dị hình, xuất huyết, sinh trưởng chậm Trong khi đó, thiếu hụt vitamin D thường gây ra các biểu hiện bệnh lý như sinh trưởng chậm, tăng lượng mỡ trong gan, gây co giật ở cá,… do vitamin này có liên quan đến khả năng hấp thu canxi và phốt pho Vitamin E lại đóng vai trò quan trọng trong các phản ứng ôxy hóa khử có tác dụng bảo vệ các chất dễ bị ôxy hóa như caroten, vitamin A, và các acid béo không no Vitamin K liên quan đến quá trình sinh tổng hợp các yếu tố làm đông máu Thiếu vitamin K gây tổn thương cơ quan tiêu hóa, xuất huyết nội quan…
Vitamin D và vitamin D3
Về mặt hóa học vitamin D là dẫn xuất của sterol Hai dạng phổ biến và quan trọng nhất của các vitamin nhóm D là D2 và D3 Các vitamin này được tạo thành từ các provitamin tương ứng D2 được tạo thành từ ecgosterol, D3 được tạo thành từ 7 dehydrocholesterol Vitamin D2 (ergocalciferol) có trong thực vật và vitamin D3
Vai trò dinh dưỡng quan trọng nhất của vitamin D là tăng cường khả năng hấp thu canxi từ thức ăn của ruột Thức ăn thiếu vitamin D, ở cá hồi có biểu hiện bệnh lý như tăng trưởng chậm, lượng mỡ trong gan tăng lên, sự thiếu hụt canxi sẽ gây nên hiện tượng co giật ở cá Đối với cá da trơn khi thức ăn thiếu vitamin D thì hàm lượng canxi và phospho trong máu và trong thân giảm xuống dẫn đến tình trạng huy động canxi và phospho dự trữ ở xương và mô gây nên hiện tượng cá tăng trưởng chậm Ngược lại, khi hàm lượng vitamin D trong thức ăn vượt quá nhu cầu, dẫn đến hàm lượng canxi và số lượng hồng cầu trong máu tăng lên, tuy nhiên không ảnh hưởng đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá
Nhu cầu vitamin D ở cá thay đổi theo loài và môi trường sống, đáng chú ý là yếu tố độ mặn Ở cá biển có nhu cầu vitamin dao động trong khoảng 1000 IU/1kg thức ăn khô, cá nước ngọt 900 IU/1kg thức ăn Nguồn nguyên liệu giàu vitamin D
là dầu cá, mỡ cá, dầu mực
Trang 24Vai trò của vitamin D3
Vitamin D3 được hấp thụ vào máu đến gan, sau đó chúng bị thủy phân để tạo thành 25 - hydroxy cholecalciferol (25(OH) - vitamin D3) ở gan, 1,25 (OH)2 -
- vitamin D3 có hoạt tính mạnh nhất, nó kích thích thành ruột tiết ra một loại protein vận chuyển Nhờ protein này, các ion canxi và phốt pho được hấp thụ vào máu, sau
đó, được chuyển vào xương Hoạt tính sinh học của vitamin D3 gấp 3 lần vitamin D2 khi nghiên cứu trên các loài cá hồi và cá da trơn ở Mỹ [8] Vitamin D3 có nhiều trong dầu cá, đặc biệt là dầu cá tuyết (2 - 10 μg/g), gan động vật, dầu và bột cá [5]
Chức năng sinh hóa của vitamin D3 là thúc đẩy sự hấp thụ canxi và phốt pho
ở ruột để duy trì sự khoáng hóa bình thường của xương Thiếu vitamin D3, cá hồi
có biểu hiện bệnh lý như tăng trưởng chậm, lượng mỡ trong gan tăng lên, hấp thụ canxi và phốt pho bị cản trở Do đó, cá thiếu vitamin D3 thường biểu hiện triệu chứng co giật điển hình [8, 10]
Các nghiên cứu về ảnh hưởng của vitamin D3 lên cá nói chung còn nhiều hạn chế Nhu cầu vitamin D3 ở cá hồi thường rất nhỏ, thậm chí khẩu phần không chứa cholecalciferol cá hồi cũng không có nhiều biểu hiện bất thường Trong thức
ăn viên của một số loài cá, hàm lượng vitamin D3 bổ sung phổ biến là 2000 - 3000 IU/kg thức ăn [10] Thức ăn thiếu hụt vitamin D3 thường gây ra biểu hiện dị hình xương và sắc tố không bình thường ở một số loài cá [35, 91] Ngược lại, dư thừa hàm lượng vitamin D3 (20.000 IU/100 g thức ăn) cũng gây ra rối loạn quá trình hình thành sắc tố ở da cá, sự tập trung bất thường của sắc tố melanin trên da cá bơn Nhật Bản [38] Bên cạnh vai trò cân bằng canxi và phốt pho nội bào trong quá trình hình thành xương, vitamin D3 còn đóng vai trò tăng sinh tế bào [83] Nghiên cứu
ảnh hưởng của hàm lượng vitamin D3 và D2 lên sinh trưởng của cá hồi (Salmo
gairdneri), Barnett và CTV (1982) nhận thấy, việc bổ sung vitamin D3 có tác dụng
kích thích sinh trưởng của cá hồi, trong đó, hàm lượng 1600 IU/kg cho tốc độ sinh trưởng cao hơn so với 800 IU/kg [12] Nhu cầu vitamin D3 ở cá nheo mỹ thường dao động từ 500 – 1000 IU/kg [11, 53] Nghiên cứu về ảnh hưởng của hàm lượng vitamin D3 lên cá giò giống, Nguyễn Thị Hà Trang (2010) cho thấy, hàm lượng 112 mg/kg cho tốc độ sinh trưởng cao nhất và hệ số chuyển đổi thức ăn thấp nhất [9]
Trang 251.3 Tình hình nghiên cứu cá chim vây vàng trên thế giới và Việt Nam
1.3.1 Tình hình nghiên cứu cá chim vây vàng trên thế giới
Hiện nay, các loài thuộc giống cá chim được nuôi khá phổ biến ở nhiều nước trên thế giới vì chúng có giá trị kinh tế cao và nguồn giống cung cấp khá chủ động, ví
dụ: loài Trachinotus carolinus được nuôi nhiều ở các nước Bắc Trung Mỹ, đặc biệt là
ở Mỹ [55]; loài Trachinotus ovatus được nuôi nhiều ở Đài Loan, Trung Quốc [40]; loài cá chim vây vàng (Trachinotus blochii) được nuôi nhiều ở các nước như Đài
Loan, Trung Quốc, Hồng Kông, Indonesia, Malaysia, Singapore và Việt Nam [1, 89]
Cá chim vây vàng được nuôi bằng nhiều hình thức như nuôi lồng, ao đất Nhiều nghiên cứu về nuôi thương phẩm các loài cá chim thuộc giống Trachinotus
đã được công bố Ở Mỹ cá chim Trachinotus carolinus được nuôi từ năm 1952
trong ao đất với năng suất 270 - 438kg/ha Thức ăn cho cá chủ yếu là cá tạp [24, 86] McMaster [56] thí nghiệm nuôi cá chim vây vàng ở độ mặn 19‰ bằng thức ăn công nghiệp (protein 43% và lipid 10%), cá đạt 110 g/con sau 4 tháng nuôi từ cỡ 10 g/con Lazo và CTV [50] đã nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng protein từ 30 –
45% lên sinh trưởng của cá chim Trachinotus carolinus cho thấy hàm lượng protein
thích hợp trong thức ăn cho cá chim là 45% Tương tự, nghiên cứu của Tatum [79]
cũng cho rằng hàm lượng protein tối thiểu cho cá chim Trachinotus ovatus sinh
trưởng nhanh nhất là 45%
Cá chim vây vàng là đối tượng nuôi chính ở Singapore với nguồn giống được nhập từ Đài Loan, thức ăn cho cá chủ yếu vẫn là cá tạp Chou và Lee [20] thí
nghiệm nuôi cá chim Trachinotus goodie (15 g/con) bằng thức ăn công nghiệp
(protein 50%) và cá tạp trong lồng Sau 5 tháng nuôi, cá đạt cỡ 300 g/con khi cho ăn thức ăn công nghiệp và 260 g/con khi cho ăn cá tạp, tỷ lệ sống từ 83 - 90% Lan và CTV [49] đã thử nghiệm ương giống cá chim vây vàng cỡ 4,9 – 6,7 g/con trong lồng với mật độ 222 con/m3, cho ăn thức ăn công nghiệp (protein 47% và lipid 15%), sau 30 ngày ương cá đạt cỡ 14,4 – 26,5 g, tỷ lệ sống 90%, năng suất 2,8 – 5,3
được cho ăn thức ăn công nghiệp (protein 43% và lipid 12%), mật độ 96 con/m3, sau 146 ngày nuôi đạt cỡ từ 577 – 640 g, tỷ lệ sống 99,2 – 99,5%, năng suất đạt
Trang 26Cá chim là loài nuôi phổ biến ở Đài Loan, loài cá này được cho sinh sản thành công lần đầu tiên vào năm 1989 bằng việc sử dụng kích dục tố Năm 1997, Đài Loan có 20 trại sản xuất giống cá chim vây vàng với sản lượng giống đạt 38 triệu con cỡ 2 – 3 cm để phục vụ cho nhu cầu nuôi trong nước và xuất khẩu, giá con giống từ 0,04 – 0,06 USD/con Tính đến năm 2001, nước này đã sản xuất được giống nhân tạo được 45/60 loài cá biển nuôi, trong đó có một số loài thuộc giống cá
chim như Trachinotus blochii, T falcatus và T ovatus [51, 89]
Ở Indonesia, trước đây cá chim vây vàng được nhập giống từ Đài Loan về nuôi Từ nguồn cá nuôi thương phẩm này, Trung tâm phát triển biển Batam đã tuyển chọn được đàn cá bố mẹ và nuôi vỗ với tỷ lệ đực: cái là 1: 1 trong lồng bằng thức là
cá tạp kết hợp với mực, thức ăn công nghiệp có bổ sung vitamin E, C, B,… cho ăn từ
3 – 5% khối lượng thân Hiện nay, người ta đã cho sinh sản nhân tạo thành công loài
cá này bằng cách tiêm kích dục tố HCG 250 IU kết hợp với Fibrogen 50 IU, tỷ lệ nở của trứng từ 60 – 70% Ấu trùng được đưa vào ương trong các bể xi măng có thể tích
10 m3 với mật độ từ 10 – 15 ấu trùng/L, thức ăn sử dụng là tảo đơn bào (Nannochloropsis sp.), luân trùng, ấu trùng artemia và thức ăn tổng hợp, sau 35 ngày ương cá đạt cỡ 3,0 – 3,5 cm, tỷ lệ sống từ 20 – 25%, và vấn đề khó khăn hiện nay là mật độ ương thấp và tỷ lệ dị hình ở cá giống vẫn cao (5%) [45]
Trong những năm gần đây, bên cạnh cá chim vây vàng, nhiều loài khác trong giống cá chim được các tác giả quan tâm nghiên cứu sản xuất giống Ho và
CTV [40] cho biết, cá bố mẹ của loài Trachinotus ovatus cỡ 2,8 – 7,6 kg, được
tiêm bằng hormone HCG 1000 – 1600 IU kết hợp với 30 – 50 µg sGnRH-A/kg, cá
đã đẻ sau 10 – 16 giờ kể từ khi tiêm, lượng trứng thu được từ 1,6 – 36,0 triệu/120 –
mặn 32‰ sau 32 – 33 giờ kể từ khi thụ tinh trứng nở ra ấu trùng Main và CTV [55]
kích thích sinh sản nhân tạo loài Trachinotus carolinus (khối lượng từ 1,2 – 1,7 kg)
bằng hormone HCG cá cái (1.000 IU/kg) và cá đực (500 IU/kg) cho thấy, cá đẻ trứng sau 40 – 48 giờ kể từ khi tiêm, số lượng trứng đạt 5,3 triệu/30 cá bố mẹ, tỷ lệ thụ tinh từ 19,3 – 48,2%, ở nhiệt độ 26oC, độ mặn 36‰, sau 24 giờ kể từ khi thụ tinh trứng nở ra ấu trùng
Trang 27Qua những nghiên cứu ở trên cho thấy, cá chim vây vàng có tốc độ sinh trưởng tương đối nhanh, dễ dàng sử dụng các loại thức ăn do con người cung cấp,
có thể nuôi với mật độ dày, tỷ lệ sống, năng suất nuôi cao Do có giá trị kinh tế cao,
dễ nuôi nên cá chim vây vàng được coi là đối tượng nuôi quan trọng ở nhiều nước, điều này cũng đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu nhằm phát triển kỹ thuật sản xuất giống nhân tạo phục vụ cho nhu cầu của người nuôi Tuy có nhiều nghiên cứu về dinh dưỡng cho cá chim vây vàng được công bố trên thế giới, nhưng chưa tìm thấy nghiên cứu nào về ảnh hưởng của yếu tố protein, lipid và vitamin lên sinh trưởng của cá chim vây vàng ở giai đoạn giống được công bố Do
đó, việc thực hiện các nghiên cứu về ảnh hưởng của các chất dinh dưỡng lên giai đoạn giống là rất quan trọng
1.3.2 Tình hình nghiên cứu cá chim vây vàng ở Việt Nam
Cá chim vây vàng là đối tượng dễ nuôi và có giá trị kinh tế cao, mặc dù có phân bố tự nhiên ở vùng biển Việt Nam nhưng rất ít khi bắt gặp Nhận thức được tiềm năng của đối tượng này, nhiều người nuôi cá lồng ở các tỉnh Quảng Ninh, Hải Phòng và Khánh Hòa đã nhập giống từ Đài Loan về nuôi, thức ăn sử dụng chủ yếu
là cá tạp, sau thời gian nuôi khoảng 10 – 12 tháng cá đạt cỡ thương phẩm 800 –
1000 g Năm 2004, Phân Viện nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản Bắc Trung bộ đã tiến hành nhập cá hương cá chim vây vàng về nuôi Cá được cho ăn bằng cá tạp, sau
6 tháng nuôi cá đạt khối lượng trung bình 545g/con và sau 9 tháng nuôi đạt 722 g/con Theo Lê Xân [6], cá chim vây vàng giống cỡ 22 g nuôi trong lồng có thể tích
khối lượng từ 461,2 – 470,2 g và tác giả cũng cho biết ở mật độ nuôi càng cao tỷ lệ sống, tốc độ sinh trưởng thấp và tỷ lệ phân đàn cao hơn so với mật độ thấp Ở giai đoạn giống 2 – 6 cm, ương nuôi cá chim vây vàng ở mật độ nuôi 400 con/m3 và thức ăn công nghiệp Inve cho kết quả tốt về tốc độ sinh trưởng, tỷ lệ sống và độ đồng đều của cá giống [3]
Trong khi đó, cá chim vây vàng giống cỡ 21,1 g được sản xuất tại địa phương nuôi trong ao đất tại Quảng Ninh bằng thức ăn công nghiệp nhập từ Trung Quốc với mật độ 1,5 và 2,5 con/m2, sau thời gian nuôi 3 tháng cá đạt khối lượng
257 – 261 g/con, tỷ lệ sống 95 – 96% [1] và cao hơn so với cá nuôi trong lồng bằng
Trang 28nguồn giống nhập từ Đài Loan Qua đó cho thấy, việc giống nhập từ các nước khác
về ngoài giá giống cao thì tỷ lệ sống khi ương, nuôi cũng thấp thấp do môi trường nuôi thay đổi
Để chủ động trong việc sản xuất con giống, năm 2006 Trường Cao đẳng Thủy sản Bắc Ninh đã thực hiện thành công dự án “Nhập công nghệ sản xuất giống
cá chim vây vàng” Cá bố mẹ đã thành thục có khối lượng từ 2 – 6 kg/con được nhập từ Trung Quốc (nước chuyển giao công nghệ) về nuôi vỗ bằng thức ăn là cá tạp Qua 2 lần nhập cá bố mẹ cho thấy tỷ lệ sống của cá rất thấp sau 1 tháng nuôi (đợt 1: chết 39/40 con, đợt 2: chết 30/40 con) do thời gian vận chuyển lâu và thay đổi môi trường nuôi Những cá bố mẹ còn lại khi thành thục được kích thích sinh sản bằng hormone HCG 1000 IU và 20 µg LRHa/kg cá Ấu trùng được ương trong
bể xi măng với mật độ từ 10 – 15 con/L, cho ăn bằng luân trùng và ấu trùng copepoda nuôi từ ao, khi cá đạt cỡ cá hương thì đưa ra ao ương thành cá giống lớn hơn Kết quả cho thấy tỷ lệ sống của cá bố mẹ từ 2,5 – 25%, tỷ lệ thành thục > 63,5%, tỷ lệ đẻ > 73,3%, tỷ lệ thụ tinh 15,3 – 80%, tỷ lệ nở 28 – 56%, tỷ lệ sống của
cá hương 31 – 35% và cá giống là 50 – 62,5%; khi kết thúc dự án đã thu được 104.486 con cá giống cỡ 4 – 6 cm [7]
Tuy nhiên, công nghệ nhập cũng có những hạn chế như: tỷ lệ sống cá bố mẹ thấp, tỷ lệ thụ tinh, tỷ lệ nở không ổn định, nguồn giống tạo ra khó thích ứng với điều kiện nuôi ở các tỉnh phía Nam nước ta,… Năm 2011, Lại Văn Hùng và Ngô
Văn Mạnh [3] đã cho sinh sản nhân tạo thành công cá chim vây (Trachinotus
blochii Lacepède, 1801) tại Khánh Hòa Điều này đã mở ra những triển vọng mới cho nghề nuôi cá chim vây vàng thương phẩm ở các tỉnh Nam Trung Bộ cũng như
cả nước do nguồn cá giống này thích ứng rất tốt với điều kiện nuôi thương phẩm ở nước ta
Các nghiên cứu về ương giống cá chim vây vàng ở nước ta còn nhiều hạn chế, đặc biệt là những nghiên cứu sâu về dinh dưỡng, các giải pháp kỹ thuật nâng cao tỷ lệ sống và chất lượng con giống Do đó, nghiên cứu ảnh hưởng của protein, lipid và vitamin D3 trong thức ăn lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá chim vây
Trang 29CHƯƠNG II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Địa điểm, thời gian và đối tượng nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu: Thí nghiệm được tiến hành tại Trại Thực nghiệm Nuôi trồng Thủy sản, Đường Đệ, Nha Trang, Khánh Hòa
Thời gian thực hiện: Thời gian tiến hành thí nghiệm từ tháng 05/2011 đến 05/2012
Đối tượng nghiên cứu: Cá chim vây vàng, giai đoạn giống cỡ 4 cm, được sản xuất tại Trại Thực nghiệm Nuôi trồng Thủy sản, Đường Đệ, Nha Trang, Khánh Hòa
2.2 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu
Hình 2.1 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng protein, lipid, vitamin D3 trong
thức ăn lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá chim vây vàng
Nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng protein:
40, 43, 46, 49, 52%
Nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng lipid:10, 12,
và 14%
Nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng vitamin D3:
0, 100, 115, 130 (mg/kg thức ăn )
Trang 30Hình 2.2 Hệ thống bể thí nghiệm
2.2.2.2 Thức ăn thí nghiệm
Nguyên liệu thí nghiệm chính gồm bột cá, bột đậu nành, cám gạo, dầu mực, dầu đậu nành, vitamin tổng hợp premix, khoáng và một số các chất bổ sung khác (Thành phần và tỷ lệ xem phụ lục) Cách chế biến thức ăn:
Hình 2.2 Quy trình chế biến thức ăn
Các nguyên liệu được cân theo tỷ lệ của từng nghiệm thức, sau đó được phối trộn với nhau, cho thêm nước cất để đạt được một hỗn hợp dẻo Hỗn hợp dẻo này được ép viên qua máy ChuSheng Foods của Đài Loan với các kích cỡ viên thức ăn khác nhau cho phù hợp với từng giai đoạn phát triển của cá Thức ăn sau khi ép viên
Sấy ở nhiệt độ 60oC, 12 h
Trang 31được rải đều ra các khay, sau đó đưa vào tủ hấp cách thủy trong vòng 5 phút trước
12 tiếng, sau đó tiến hành tạo viên cho phù hợp với kích cỡ miệng của cá Thức ăn
Hình 2.3 Phối trộn và hấp thức ăn
2.2.2.3 Nguồn cá giống
Cá chim vây vàng đưa vào thí nghiệm được sản xuất giống nhân tạo ngay tại Trại Thực nghiệm Nuôi trồng Thủy sản Cá giống được ấp nở và ương từ nguồn cá
bố mẹ cho kích thích sinh sản tại Vũng Ngán Trứng sau khi chuyển về được ấp nở
và ương đến giai đoạn 4 cm/con tại Trại Thực nghiệm Nuôi trồng Thủy sản Đường
Đệ Cá có kích cỡ ban đầu 4 cm/con, được thả nuôi với mật độ 30 con/bể (100 L)
Cá đưa vào thí nghiệm có kích cỡ đồng đều, khỏe mạnh, vận động linh hoạt, màu sắc tự nhiên tươi sáng, không dị hình hay có dấu hiệu lạ trên thân, không bị xây sát,… Nguồn cá cho một thí nghiệm có nguồn gốc như nhau, kích thước đồng đều
để hạn chế tối đa sai sót trong quá trình tiến hành thí nghiệm
Hình 2.4 Cá chim giống
Trang 32Bảng 2.1: Hàm lượng protein trong thức ăn (công thức và phân tích)
Bảng 2 Các nghiệm thức thức ăn thí nghiệm 2
- Thức ăn của thí nghiệm 3 được chuẩn bị tương tự thí nghiệm 1 và 2, trong
đó, hàm lượng protein và lipid là kết quả tốt nhất rút ra từ thí nghiệm 1 và thí nghiệm 2 Trong thí nghiệm này, vitamin D3 được bổ sung vào thức ăn với 3 mức khác nhau (100, 115, 130 mg/kg thức ăn khô) và lô đối chứng (không có vitamin
Trang 33D3) Thí nghiệm được tiến hành trong thời gian 5 tuần (từ ngày 25/03 – 02/04/2012) Mỗi nghiệm thức được thực hiện với 03 lần lặp (cùng thời điểm)
Bảng 3 Các nghiệm thức thức ăn thí nghiệm 3
Vitamin D3
(mg/kg thức ăn khô)
2.2.4 Phương pháp phân tích thành phần sinh hóa của thức ăn
Phân tích thành phần sinh hóa của thức ăn trước khi tiến hành thí nghiệm (sau khi phối trộn và sản xuất thức ăn) tại Viện Công nghệ Sinh học và Môi trường – Trường Đại học Nha Trang
- Protein thô: phân tích theo phương pháp Kjeldahl
- Lipid thô: Phân tích theo phương pháp Folch
2.2.5 Chăm sóc và quản lý
NH3 được đo 2 lần/ngày (7h, 14h) và duy trì trong phạm vi thích hợp với sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá chim vây vàng giai đoạn giống
- Chế độ cho ăn: Cá được cho ăn theo tỷ lệ 5% khối lượng thân Khẩu phần cho ăn được chia thành 4 lần/ngày và cho ăn vào lúc 7h, 10h, 13h và 16h
Hình 2.4 Vệ sinh bể cá
- Hàng ngày kiểm tra, theo dõi tình trạng sức khỏe cá, vớt bọt và thay nước 20%/ngày, định kỳ 3 ngày thay 80% lượng nước trong bể thí nghiệm
Trang 34+ Mỗi tuần vệ sinh bể một lần, dây sục khí, bổ sung nước vào hệ thống thí nghiệm để bù lượng nước thất thoát do siphon
ở tất cả các nghiệm thức
2.2.6 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu
2.2.6.1 Phương pháp thu thập số liệu
- Số liệu thứ cấp: Được thu thập từ sách báo, tạp chí, tài liệu tham khảo, các báo cáo khoa học, đề tài dự án có liên quan đến sản xuất giống và nuôi cá chim vây vàng, các tài liệu kỹ thuật nuôi cá biển khác có liên quan,…
- Số liệu sơ cấp: Được thu thập từ việc đo môi trường hàng ngày cũng như theo dõi, xác định khối lượng thân, chiều dài toàn thân của cá thí nghiệm định kỳ 7 ngày/lần
- Phương pháp thu thập các thông số môi trường:
Các thông số môi trường (nhiệt độ và ôxy hòa tan) được đo định kỳ 2
đo 2 ngày/lần hoặc khi có sự cố bất thường xảy ra
Các thông số này được đo bằng các thiết bị và dụng cụ chuyên dùng như: nhiệt kế thủy ngân, test pH, NH3, NO2, máy đo ôxy, khúc xạ kế,… Nhiệt độ (to)
tỷ trọng kế, chính xác đến 1‰ Ôxy hòa tan được đo bằng máy DO 200, chính xác đến 0,01 mg/l pH: đo bằng test pH có độ chính xác là 0,1 NO2 và NH3 được đo bằng test NH3, và NO2 chuyên dụng
- Phương pháp xác định tốc độ sinh trưởng của cá:
Hình 2.5 Xác định khối lượng cá
Trang 35Cá được cân khối lượng và đo chiều dài (tất cả số cá trong bể) trước và sau khi kết thúc thí nghiệm để tính toán các chỉ tiêu sinh trưởng Hàng tuần cá được đo chiều dài toàn thân (Khoảng cách từ mút mõm đến hết vây đuôi) và cân khối lượng
để xác định tốc độ tăng trưởng Khối lượng cá được cân bằng cân điện tử có độ chính xác đến 0,01 g Chiều dài toàn thân cá được đo bằng giấy kẻ ô ly kỹ thuật có
độ chính xác đến 1 mm
- Phương pháp xác định tỷ lệ sống:
Cá được theo dõi và kiểm tra hàng ngày, phát hiện và ghi lại những trường hợp cá bị chết trong bể để tính toán tỷ lệ sống Tỷ lệ sống cuối cùng được xác định bằng cách đếm toàn bộ số cá còn lại sau khi kết thúc thí nghiệm
2.2.6.2 Phương pháp xử lý số liệu
Các chỉ tiêu đánh giá và công thức kèm theo như sau:
- Xác định chỉ tiêu tăng trưởng:
SGRW =
t
W Ln W
Y: Số lượng cá thả ban đầu
- Hệ số thức ăn (FCR):
FCR =
WG Wtasd
WG: Khối lượng cá gia tăng (g: theo khối lượng tươi)
Số liệu được xử lý trên phần mềm SPSS 16.0 sử dụng phương pháp phân tích phương sai một yếu tố (One – way ANOVA) Sự khác biệt về giá trị trung bình của tốc độ sinh trưởng, tỷ lệ sống giữa các nghiệm thức được kiểm định bằng phép Duncan’s multiple range test Sự sai khác có ý nghĩa được xác định ở mức ý nghĩa P
< 0,05 Các số liệu trong thí nghiệm được trình bày dưới dạng trung bình (TB) ± Sai
số chuẩn (SE)
Trang 36CHƯƠNG III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Ảnh hưởng của hàm lượng protein lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá chim vây vàng giai đoạn giống (TN 1)
3.1.1 Các yếu tố môi trường trong thời gian thí nghiệm
Bảng 3.1: Các yếu tố môi trường trong thời gian thí nghiệm
Nhiệt độ
(oC)
Độ mặn (‰)
(mg/L)
(mg/L)
N-NH3 (mg/L)
Trong suốt thời gian thí nghiệm các yếu tố môi trường nước như nhiệt độ, độ
trì ổn định, phù hợp với điều kiện sinh trưởng và phát triển bình thường của cá chim vây vàng giai đoạn giống
3.1.2 Ảnh hưởng của hàm lượng protein lên tốc độ sinh trưởng của cá
Tốc độ sinh trưởng đặc trưng:
Ảnh hưởng của hàm lượng protein trong thức ăn lên tốc độ sinh trưởng đặc trưng của cá chim vây vàng giống được thể hiện ở Hình 3.1 và 3.2
Hàm lượng protein trong thức ăn có ảnh hưởng đáng kể đến tốc độ sinh trưởng đặc trưng về chiều dài của cá chim vây vàng giống Sau 4 tuần ương, cá được cho ăn thức ăn chứa hàm lượng protein 49% (2,38%/ngày) và 46% (2,21%/ngày) cho tốc độ sinh trưởng cao hơn so với mức protein 40% (1,61%/ngày), 43% (1,79%/ngày) và 52% (1,88%/ngày) (P < 0,05)
Hình 3.1 Ảnh hưởng của hàm lượng protein lên SGR L (%/ngày)
c
c
bc