1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

hiện trạng kỹ thuật nuôi và tình hình bệnh trên tôm chân trắng (penaeus vannamei boone, 1931) tại tỉnh quảng ngãi

105 308 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 24,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do vậy, việc tìm hiểu về quy trình kỹ thuật nuôi và tình hình dịch bệnh ở tôm chân trắng trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi là một nhu cầu cần thiết của địa phương và kết quả nghiên cứu này sẽ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

NGUYỄN VĂN NĂM

HIỆN TRẠNG KỸ THUẬT NUÔI VÀ TÌNH HÌNH BỆNH

TRÊN TÔM CHÂN TRẮNG (Penaeus vannamei Boone, 1931)

TẠI TỈNH QUẢNG NGÃI

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

NGUYỄN VĂN NĂM

HIỆN TRẠNG KỸ THUẬT NUÔI VÀ TÌNH HÌNH BỆNH

TRÊN TÔM CHÂN TRẮNG (Penaeus vannamei Boone, 1931)

TẠI TỈNH QUẢNG NGÃI

Chuyên ngành: Nuôi trồng thủy sản

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan các số liệu và kết quả đã nêu trong luận văn này là công trình nghiên cứu độc lập của tôi, những số liệu này là trung thực, chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác./

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành được luận văn này trước hết tôi xin gửi lời cảm ơn đến Ban

Giám hiệu, Khoa Sau đại học và Khoa Nuôi trồng thủy sản trường Đại học Nha Trang

luôn tạo mọi điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành khóa học này

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với sự hướng dẫn nhiệt tình chu đáo của

cô giáo PGS.TS Đỗ Thị Hòa đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình xây dựng đề cương, phương pháp nghiên cứu, điều tra và tổng hợp viết báo cáo khoa học này

Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Tài nguyên và Môi trường, Cục Thống kê, Chi cục Thú y, Trung tâm Khuyến nông – Khuyến ngư Quảng Ngãi; Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn các huyện Bình Sơn, Sơn Tịnh, Tư Nghĩa, Mộ Đức và Đức Phổ; UBND các xã có nuôi tôm chân trắng và bà con các hộ nuôi tôm trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi

Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến gia đình, đồng nghiệp đã động viên, chia sẽ và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập./

Tác giả

Nguyễn Văn Năm

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN ………i

LỜI CẢM ƠN ……… ii

MỤC LỤC ii

DANH MỤC HÌNH ……….vi

DANH MỤC BẢNG……… ….vii

DANH MỤC VIẾT TẮT ……… ………viii

MỞ ĐẦU 1

Chương I – TỔNG QUAN 3

1.1 Một số đặc điểm sinh học của tôm chân trắng 3

1.1.1 Hệ thống phân loại tôm chân trắng 3

1.1.2 Đặc điểm sinh học của tôm chân trắng 3

1.2 Tình hình nuôi tôm chân trắng trên thế giới và Việt Nam 6

1.2.1 Nuôi tôm chân trắng trên thế giới 6

1.2.2 Nuôi tôm chân trắng ở Việt Nam 7

1.2.3 Nuôi tôm chân trắng ở Quảng Ngãi 8

1.3 Tình hình nghiên cứu bệnh tôm chân trắng 8

1.3.1 Một số bệnh do virus ở tôm chân trắng nuôi thương phẩm 8

1.3.2 Các hướng nghiên cứu phòng bệnh virus ở tôm chân trắng 19

1.3.3 Các bệnh do vi khuẩn gây ra ở tôm chân trắng nuôi thương phẩm 19

1.3.4 Các nghiên cứu nhằm quản lý các bệnh nhiễm khuẩn ở tôm chân trắng 22

1.4 Tình hình dịch bệnh tôm chân trắng tại Việt Nam 24

1.5 Điều kiện tự nhiên tỉnh Quảng Ngãi 26

1.5.1 Đặc điểm khí hậu 26

1.5.2 Chế độ thủy văn 27

Chương II- PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29

2 1 Đối tượng nghiên cứu 29

2 2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 29

2 3 Phương pháp nghiên cứu 29

2.3.1 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu của đề tài 29

2.3.2 Điều tra thu thập số liệu 31

Trang 6

2.3.3 Phương pháp phân tích số liệu điều tra 32

Chương III – KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 34

3.1 Hiện trạng nghề nuôi tôm chân trắng ở Quảng Ngãi 34

3.1.1 Diện tích và sản lượng nuôi tôm chân trắng 34

3.1.2 Hình thức nuôi và năng suất nuôi tôm chân trắng ở Quảng Ngãi 35

3.1.3 Cơ sở hạ tầng nuôi tôm chân trắng 36

3.1.4 Tình hình sản xuất và cung cấp giống tôm chân trắng tại Quảng Ngãi 36

3.1.5 Về tổ chức sản xuất và tiêu thụ sản phẩm 37

3.2 Thông tin về người nuôi tôm chân trắng ở Quảng Ngãi 38

3.2.1 Tuổi và giới tính của người nuôi tôm chân trắng (bảng 3.4) 38

3.2.2 Trình độ học vấn của người nuôi tôm chân trắng ở Quảng Ngãi 39

3.2.4 Thâm niên của người trực tiếp nuôi tôm chân trắng 40

3 3 Hiện trạng kỹ thuật nuôi tôm chân trắng thương phẩm ở Quảng Ngãi 41

3.3.1 Các hình thức nuôi tôm chân trắng tại địa phương điều tra 41

3.3.2 Hệ thống công trình ao nuôi tôm chân trắng ở địa phương 42

3.3.3 Kỹ thuật tẩy dọn ao trước mỗi vụ nuôi 45

3.3.4 Kỹ thuật thả giống 48

3.3.5 Thời vụ và thời gian nuôi 50

3.3.5 Thức ăn và cách cho ăn 52

3.3.6 Quản lý các yếu tố môi trường ao nuôi tôm chân trắng 54

3.3.7 Tỷ lệ sống và năng suất nuôi tôm chân trắng tại Quảng Ngãi năm 2012 56

3.3.8 Nhật ký ao nuôi tôm 57

3.3.9 Thu hoạch 57

3.3.10 Kích cỡ và giá bán tôm chân trắng thương phẩm năm 2012 57

3.3.11 Đánh giá hiệu quả kinh tế-xã hội của nghề nuôi tôm chân trắng 57

3.4 Hiện trạng bệnh trên tôm chân trắng nuôi thương phẩm tại Quảng Ngãi 59

3.4.1 Tình hình bệnh ở tôm chân trắng tại Quảng Ngãi trong 5 năm gần đây 59

3.4.2 Một số bệnh thường gặp ở tôm chân trắng thương phẩm tại Quảng Ngãi 60

3.4.3 Mùa vụ xuất hiện 64

3.4.4 Phương pháp phòng bệnh, trị bệnh và khả năng chữa bệnh 66

3.4.5 Đề nghị các biện pháp cải tiến kỹ thuật và quản lý 71

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 73

Trang 7

1 Kết luận 73

1.1 Hiện trạng nghề nuôi tôm chân trắng của Quảng Ngãi 73

1.2 Hiện trạng kỹ thuật nuôi tôm chân trắng ở 230 hộ nuôi được điều tra 73

1.3 Hiện trạng bệnh tôm chân trắng nuôi tại Quảng Ngãi 74

1.4 Một số đề nghị cải tiến về kỹ thuật và quản lý 75

2 Kiến nghị 75

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 8

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1: Hình thái của tôm chân trắng (Penaeus vannamei) 3

Hình 1.2 Diện tích nuôi tôm chân trắng ở Việt Nam đã tăng nhanh sau năm 2008… 7

Hình 2.1 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu đề tài 29

Hình 2.2 Bản đồ vùng nuôi tôm chân trắng tỉnh Quảng Ngãi 30

Hình 3.1: Diễn biến diện tích (ha) và sản lượng (tấn) nuôi tôm chân trắng thương phẩm tại Quảng Ngãi trong khoảng thời gian từ 2008 – 2012 34

Hình 3.2: Tỷ lệ giới tính của những người trực tiếp nuôi tôm ở tỉnh Quảng Ngãi 39

Hình 3.3: Trình độ học vấn của các hộ nuôi tôm toàn tỉnh (n=230) 39

Hình 3.4: Thâm niên của người nuôi tôm chân trắng tại Quảng Ngãi (n=230) 40

Hình 3.5: Tần suất gặp các loại chất đáy của ao nuôi tôm chân trắng ở QN .44

Hình 3.6: Những bệnh thường gặp ở tôm chân trắng thương phẩm tại Quảng Ngãi 64

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Diện tích và sản lượng nuôi tôm chân trắng ở Việt Nam qua các năm 8

Bảng 1.2 Diện tích nuôi tôm chân trắng bị tác hại của bệnh qua các năm 25

Bảng 2.1: Vùng nghiên cứu và phân bố số mẫu điều tra 32

Bảng 3.1: Diện tích và sản lượng tôm chân trắng tại Quảng Ngãi 2008 – 2012 34

Bảng 3.2 Phân bố các hình thức nuôi tôm chân trắng tại các huyện thuộc tỉnh Quảng Ngãi trong năm 2012 35

Bảng 3.3: Tình hình sản xuất giống tôm chân trắng tại Quảng Ngãi 37

Bảng 3.4: Độ tuổi và giới tính của người nuôi tôm chân trắng ở Quảng Ngãi (n=230) 38

Bảng 3.5: Trình độ học vấn người nuôi tôm chân trắng ở các huyện thuộc tỉnh QN 39

Bảng 3.6: Phân bố các hình thức nuôi theo huyện điều tra 41

Bảng 3.7: Diện tích và độ sâu của ao nuôi tôm chân trắng ở Quảng Ngãi 42

Bảng 3.8: Hệ thống cấp thoát nước và ao chứa ở trang trại nuôi tôm chân trắng tại QN 43

Bảng 3.9: Tần suất (%) các thao tác kỹ thuật trong tẩy dọn ao trước mỗi vụ nuôi 45

Bảng 3.10: Kiểm dịch và người nuôi tự đánh giá chất lượng giống tôm chân trắng 49

Bảng 3.11: Mật độ thả nuôi tôm chân trắng thương phẩm tại Quảng Ngãi 49

Bảng 3.12: Thời vụ thả nuôi tôm chân trắng thương phẩm tại Quảng Ngãi năm 2012 51

Bảng 3.13: Thời gian của một vụ nuôi thương phẩm tôm chân chân trắng ở QN 52

Bảng 3.14: Hệ số thức ăn (FCR) trong nuôi tôm chân trắng thương phẩm 54

Bảng 3.15 Hoạt động quản lý môi trường ao nuôi của các nông hộ nuôi tôm chân trắng tại Quảng Ngãi 55

Bảng 3.16: Tỷ lệ sống và năng suất theo hình thức nuôi trong năm 2012 56

Bảng 3.17: Chi phí sản xuất và hiệu quả kinh tế của nghề nuôi tôm chân trắng tại Quảng Ngãi năm 2012 58

Bảng 3.18: Diện tích nuôi tôm chân trắng bị bệnh tại Quảng Ngãi 59

Bảng 3.19: Tình hình tôm chân trắng nuôi bị bệnh ở các nông hộ điều tra (n=230) 60

Bảng 3.20: Một số bệnh đã gặp ở tôm chân trắng thương phẩm tại Quảng Ngãi 2012 61

Bảng 3.21: Các dấu hiệu chính có ý nghĩa nhận biết của các bệnh thường gặp ở tôm chân trắng nuôi thương phẩm tại Quảng Ngãi 62

Bảng 3.22: Mùa vụ xuất hiện của các bệnh ở tôm chân trắng nuôi hương phẩm 65

Bảng 3.23: Các biện pháp phòng bệnh cho tôm chân trắng nuôi thương phẩm 66

Bảng 3.24: Các biện pháp trị bệnh và khả năng chữa trị 68

Trang 10

DANH MỤC VIẾT TẮT

Bộ NN&PTNT Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

Trang 11

MỞ ĐẦU

Nuôi tôm nước mặn, chủ yếu là nuôi tôm sú (Penaeus monodon) đã được hình

thành và phát triển ở Quảng Ngãi từ nhiều năm nay và nghề này đã mang lại hiệu quả kinh tế và xã hội cao cho người dân của các vùng ven biển Tuy nhiên, ngoài những đóng góp tích cực như đã nêu ở trên, thì nghề nuôi tôm sú ở tỉnh Quảng Ngãi đã gặp không ít khó khăn như môi trường ô nhiễm, chất lượng con giống giảm sút, dịch bệnh xuất hiện thường xuyên và gây ra các thiệt hại lớn cho nghề nuôi đối tượng này của địa phương

Tôm chân trắng (Penaeus vannamei Boone, 1931), có nguồn gốc từ Châu Mỹ,

được biết có nhiều ưu điểm như tỷ lệ sống cao, tốc độ tăng trưởng nhanh, nhu cầu về hàm lượng đạm trong thức ăn thấp, thời gian nuôi ngắn, có thể nuôi ở mật độ cao và cho năng suất cao hơn so với tôm sú Do vậy, từ năm 2001, tôm chân trắng đã được

nhập vào Việt Nam, được nuôi ở nhiều tỉnh ven biển thay thế dần cho tôm sú (Penaeus monodon) và bước đầu đã thu được một số thành công Người nuôi tôm ở Quảng Ngãi

bắt đầu nuôi loài tôm chân trắng từ năm 2004 và đến 2012 đã có 525 ha nuôi thương phẩm đối tượng này, chiếm 78% tổng diện tích có thể nuôi tôm của địa phương này Những năm đầu đưa tôm chân trắng vào nuôi ở Quảng Ngãi đã đạt kết quả cao về năng suất, sản lượng và hiệu quả kinh tế, nhưng khi đã có một số lượng lớn diện tích ở địa phương chuyển sang nuôi đối tượng này, thì người nuôi tôm lại tiếp tục phải đối mặt với tình hình dịch bệnh thường xuyên xuất hiện trên diện rộng và diễn biến ngày càng phức tạp Do vậy, việc tìm hiểu về quy trình kỹ thuật nuôi và tình hình dịch bệnh ở tôm chân trắng trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi là một nhu cầu cần thiết của địa phương

và kết quả nghiên cứu này sẽ làm cơ sở cho các cải tiến về kỹ thuật và quản lý dịch bệnh, giúp nghề nuôi tôm chân trắng của địa phương phát triển trong thế ổn định Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn nêu trên, được sự đồng ý của Trường Đại học Nha Trang, Khoa Đào tạo Sau Đại học và Khoa Nuôi trồng Thủy sản, tôi đã được phép

thực hiện đề tài “Hiện trạng kỹ thuật nuôi và tình hình bệnh trên tôm chân trắng

Penaeus vanamei Boone, 1931 tại tỉnh Quảng Ngãi” theo Quyết định số

985/QĐ-ĐHNT ký ngày 14 tháng 8 năm 2012

Mục tiêu của đề tài: Đánh giá hiện trạng về kỹ thuật nuôi, tình hình bệnh trên

tôm chân trắng thương phẩm nuôi tại Quảng Ngãi, làm cơ sở cho đề xuất các giải pháp

Trang 12

kỹ thuật hoặc biện pháp quản lý phù hợp để hạn chế dịch bệnh và góp phần ổn định nghề nuôi tôm chân trắng ở địa phương

Ý nghĩa của đề tài:

- Ý nghĩa khoa học: Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể bổ sung dữ liệu về các loại bệnh và quy trình kỹ thuật nuôi tôm chân trắng ở Việt Nam

- Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học để các nhà kỹ thuật và quản lý của địa phương đưa ra các biện pháp cải tiến kỹ thuật và có các giải pháp quản

lý nhằm hạn chế tác hại của dịch bệnh trong nuôi tôm chân trắng thương phẩm ở tỉnh Quảng Ngãi

Nội dung đề tài:

- Hiện trạng nghề nghề nuôi tôm chân trắng thương phẩm tại Quảng Ngãi

- Hiện trạng kỹ thuật nuôi tôm chân trắng thương phẩm tại tỉnh Quảng Ngãi

- Các loại bệnh thường gặp ở tôm chân trắng nuôi thương phẩm tại Quảng Ngãi

- Đề xuất các biện pháp cải tiến kỹ thuật và quản lý phù hợp để hạn chế bệnh nhằm phát triển nghề nuôi tôm chân trắng theo hướng ổn định

Trang 13

Chương I – TỔNG QUAN 1.1 Một số đặc điểm sinh học của tôm chân trắng

1.1.1 Hệ thống phân loại tôm chân trắng

Ngành chân khớp: Arthropoda

Lớp giáp xác: Crustacea

Bộ mười chân: Decapoda

Bộ phụ bơi lội: Natantia

Họ tôm he: Penaeidae

Giống: Penaeus/Litopenaeus

Loài: P vannamei Boone, 1931 [16]

Tên thường gọi:

- Tên tiếng Anh: Pacific White shrimp; Camaron blanco, Whiteleg shrimp

- Tên của FAO: Camaron patiblanco

- Tên Việt Nam: Tôm chân trắng

1.1.2 Đặc điểm sinh học của tôm chân trắng

a Đặc điểm phân bố

Tôm chân trắng Penaeus vannamei không phải là loài tôm bản địa ở Châu Á

Tôm chân trắng có nguồn gốc từ vùng biển xích đạo đông Thái Bình Dương kéo dài từ phía Nam Peru đến phía Bắc Mehico, nhiều nhất ở gần Ecuador [16]

Trang 14

có đốm vằn, chân bò có màu trắng ngà nên gọi là tôm chân trắng, chân bơi có màu vàng, các vành chân, đuôi có màu đỏ nhạt và xanh Râu tôm có màu đỏ gạch và dài gấp 1,5 lần thân, chủy tôm có 8 – 9 răng cưa ở gờ phía trên, có 2 – 4 (đôi khi có 5 – 6) răng cưa ở phía bụng Vỏ giáp của tôm có những gai gân và gai râu rất rõ, không có gai mắt và gai đuôi, không có rãnh sau mắt, đường gờ sau chủy khá dài Loài tôm này

có 6 đốt bụng, 3 đốt mang trứng, rãnh bụng rất hẹp, gai đuôi không phân nhánh [22]

c Đặc điểm dinh dưỡng

Tôm chân trắng là loài ăn tạp, giống như các loài tôm he khác, thành phần dinh dưỡng trong thức ăn của chúng cũng cần một tỷ lệ thích hợp các chất như protein, gluxit, lipit, vitamin, khoáng chất Thành phần dinh dưỡng thiếu hoặc không đủ các chất sẽ ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng và sức khỏe của tôm Khả năng chuyển hóa của tôm chân trắng rất cao, đòi hỏi thức ăn có hàm lượng protein không cao, 35%

protein được coi là thích hợp với tôm chân trắng, trong khi tôm sú (Penaeus monodon) cần 40% protein, tôm he Nhật Bản (Penaeus japonicus) cần là 60% protein trong khẩu

phần thức ăn [16]

Trong ao nuôi, tôm có thể ăn những thức ăn là mùn bã hữu cơ nên trong ruột luôn có thức ăn Chúng bắt mồi linh hoạt, khả năng bắt mồi tốt nên ít bị phân đàn hơn

so với các loài tôm khác [16]

d Đặc điểm sinh trưởng

Tôm chân trắng là loài có tốc độ tăng trưởng nhanh, đặc biệt là tháng nuôi đầu tiên, mỗi tuần có thể tăng 3 g với mật độ nuôi 100 con/m2, đến cỡ 30 g/con tôm lớn chậm dần 1g/tuần Do đó quá trình nuôi giai đoạn đầu cần chú ý tăng lượng thức ăn và đảm bảo thành phần dinh dưỡng nhằm tận dụng tối đa tốc độ tăng trưởng của tôm, rút ngắn thời gian nuôi [16]

Theo Viện Hải dương học Hawaii (1992), trong điều kiện nuôi thương phẩm mật độ 100 con/m2, sau 60 ngày nuôi có thể đạt 23 g/con Tuổi thọ của tôm chân trắng

ít nhất là 32 tháng [16]

e Môi trường sống

Trong tự nhiên tôm chân trắng sống nơi đáy cát, độ sâu 0 – 72m, nhiệt độ nước

25 – 32oC, độ mặn 28 – 34‰, pH từ 7,7 – 8,3 Tôm trưởng thành thích sống ở vùng ven biển, tôm con ưa sống ở vùng cửa sông nơi có nguồn dinh dưỡng dồi dào Ban

ngày tôm vùi mình dưới đáy, ban đêm đi kiếm ăn, tôm lột xác vào ban đêm Trong môi

Trang 15

trường thí nghiệm, hiếm khi quan sát thấy tôm ăn thịt lẫn nhau, nhờ tập tính này mà tỷ

lệ hao hụt trong quá trình nuôi thấp hơn tôm sú rất nhiều [22]

f Khả năng thích nghi với môi trường sống

- Độ mặn: Tôm chân trắng thích nghi với biên độ rộng muối từ 0 – 50‰, chúng

có thể sinh trưởng được trong cả nước ngọt, nước lợ và nước mặn Khoảng độ mặn thích hợp cho tôm phát triển là 10 – 30‰ [16]

- Nhiệt độ: Tôm chân trắng sống trong phạm vi từ 19 – 41oC, tuy nhiên nhiệt độ tốt nhất cho tôm sinh trưởng và phát triển là 25 – 32oC, nhưng chúng vẫn thích nghi được khi nhiệt độ thay đổi lớn Theo Wyban, J và ctv (1995), đối với cỡ tôm nhỏ hơn

10 g, nhiệt độ thích hợp tốt nhất cho sự phát triển là nhỏ hơn hoặc bằng 30oC, trong khi đó cỡ tôm lớn hơn 15 g thì không có sự khác biệt về tốc độ tăng trưởng ở nhiệt độ

27oC và 30oC Do đó nên chọn mùa vụ nuôi lúc tôm nhỏ vào những tháng có nhiệt độ cao và tôm lớn vào những tháng có nhiệt độ thấp hơn [16]

- Oxy hòa tan: Ngưỡng oxy thấp nhất là 1,2mg/lít, tôm càng lớn thì ngưỡng oxy càng cao, với tôm cỡ 2 – 4cm ngưỡng oxy thấp là 2mg/lít, cỡ tôm <2cm ngưỡng này

là 1,05mg/lít) [16]

g Đặc điểm sinh sản

Trong tự nhiên, tôm trưởng thành giao hợp và đẻ ở những vùng biển có độ sâu 70m, nhiệt độ từ 26 – 28oC, độ mặn khá cao 35‰ Trứng sau khi nở ra ấu trùng vẫn loanh quanh ở khu vực này, đến giai đoạn Postlarvae chúng bơi vào gần bờ và sinh sống ở đáy những vùng cửa sông cạn Nơi đây điều kiện môi trường rất khác biệt thức

ăn nhiều hơn, độ mặn thấp hơn, nhiệt độ cao hơn Sau một vài tháng tôm con trưởng thành, chúng bơi ngược ra biển và thực hiện cuộc sống, giao vĩ, sinh sản và hoàn thành vòng đời [22]

- Mùa vụ sinh sản: Khu vực có tôm phân bố tự nhiên quanh năm đều bắt được tôm cái mang trứng Mùa vụ sinh sản của tôm chân trắng có thể chênh lệch theo từng

vĩ độ Ven biển phía bắc Equado tôm đẻ từ tháng 3 đến tháng 8, nhưng đẻ rộ vào tháng

4 đến tháng 5 Ở biển Peru tôm đẻ từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau [16]

- Giao vĩ: Tôm chân trắng có túi tinh hở Tôm đực và tôm cái thường tìm nhau giao vĩ sau khi hoàng hôn, tôm đực phóng các chùm tinh từ cơ quan giao cấu cho dính vào đôi chân bò thứ 3 đến thứ 5 của con cái, con cái sẽ đẻ sau vài giờ, trong điều kiện nuôi tỷ lệ giao vĩ có kết quả rất thấp [22]

Trang 16

- Sức sinh sản: Tôm cái có khối lượng 35 – 45 g là có thể tham gia sinh sản Sức sinh sản tuyệt đối của tôm chân trắng là 10 – 25 vạn trứng/tôm mẹ Trứng có đường kính trung bình 0,22mm Sau khi trứng thụ tinh 14 – 16 giờ thì trứng nở ra ấu trùng Nauplius Quá trình biến thái của ấu trùng trải qua 6 giai đoạn Nauplius, 3 giai đoạn Zoea, 3 giai đoạn Mysis rồi đến Postlarvae [16,22]

1.2 Tình hình nuôi tôm chân trắng trên thế giới và ở Việt Nam

Tại các nước Châu Á, tôm chân trắng được đưa vào nuôi thử nghiệm từ năm

1978 – 1979 Tuy nhiên, chỉ đến năm 1996, loài tôm này mới được đưa vào nuôi thương phẩm ở Châu Á, bắt đầu là Trung Quốc, Đài Loan sau đó tới Phi-lip-pin, Indonesia, Thái Lan, Việt Nam, Malaysia và Ấn Độ Hiện nay, Trung Quốc là nước có ngành công nghiệp nuôi tôm chân trắng rất phát triển, đạt sản lượng 270.000 tấn trong năm 2002, và 300.000 tấn trong năm 2003, chiếm 71% tổng sản lượng của thế giới, cao hơn sản lượng hiện nay của cả khu vực Châu Mỹ [24]

Tại các quốc gia Châu Á khác, tôm chân trắng đang được phát triển nuôi như Thái Lan có sản lượng đạt 120.000 tấn trong năm 2003, Indonesia đạt 30.000 tấn trong năm 2003, Đài Loan, Phi-lip-pin, Malaysia và Ấn Độ sản xuất khoảng vài nghìn tấn/năm [24]

Tổng sản lượng tôm chân trắng ở Châu Á năm 2002 là 316.000 tấn, đến năm

2003 là 500.000 tấn, với tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 4 tỷ USD (FAO, 2003) Tuy nhiên, không phải tất cả các sản phẩm đều dành cho xuất khẩu, vì tại một

số nước Châu Á nhu cầu cho tiêu dùng trong nước là rất lớn [24]

Thái Lan là nước có nền nuôi tôm công nghiệp hàng đầu thế giới, trước đây họ

cũng nuôi tôm sú (Penaeus monodon) là chủ yếu, thì nay đã chuyển sang nuôi tôm

chân trắng là chủ yếu Năm 2006, sản lượng tôm chân trắng của Thái Lan đạt 500.000

Trang 17

tấn, chiếm 95% sản lượng tôm nuôi, trong khi đó ở Trung Quốc là 600.000 tấn chiếm 62% tổng sản lượng tôm nuôi của các quốc gia này [24]

Theo FAO, trong năm 2007, sản lượng tôm chân trắng của thế giới đã chiếm 80% tổng sản lượng tôm nuôi, trong đó 85% sản lượng này lại tập trung ở các nước Đông Á Các nước nuôi nhiều tôm chân trắng là Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia,

Malaysia, Phi-lip-pin, Ecuador, Mehico, Panama, Hunduras, Brazil, Mỹ [24]

Theo báo cáo tại hội nghị Goal (Globle Outlook For Aquaculture Leadership

2007 – tầm nhìn toàn cầu cho lãnh đạo nuôi trồng thủy sản) diễn ra tại Madrid (Tây Ban Nha) của Anderson, J., tôm chân trắng đang được phát triển nuôi ở nhiều quốc gia ngoài châu Mỹ và tốc độ tăng trưởng về sản lượng của tôm nuôi thế giới đang phụ thuộc vào tôm chân trắng, đặc biệt việc phát triển nuôi loài tôm này ở Châu Á là nhân

tố quyết định Sản lượng tôm chân trắng ở khu vực châu Á đã tăng lên 1,5 – 1,6 triệu tấn vào năm 2006 và ước đạt 1,8 triệu tấn năm 2009 [13]

1.2.2 Ở Việt Nam

Tôm Peneaus vannamei được đưa vào Việt Nam năm 2001, những năm sau đó

đối tượng này được nuôi ngày càng phổ biến nhưng tập trung chủ yếu ở các tỉnh ven biển miền Bắc và miền Trung Việt Nam Đến năm 2008, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn mới chính thức cho phép nuôi thương mại đối tượng này tại nhiều địa phương trong cả nước và đến nay, loài tôm này đã chiếm một vị trí quan trọng trong kim ngạch xuất khẩu thủy sản của nước ta

Bảng 1.1 Diện tích và sản lượng nuôi tôm chân trắng ở Việt Nam qua các năm

(Nguồn: Tóm tắt báo cáo tình hình nuôi tôm chân trắng của Tổng cục Thủy sản, 2012;

các dấu (-) thể hiện không tổng hợp được số liệu)

Theo thống kê của Bộ NN&PTNT, trong năm 2010, nuôi tôm chân trắng ở các tỉnh miền Trung và miền Bắc chiếm 72% diện tích, tương đương 17.960 ha, đem lại 414,6 triệu USD giá trị xuất khẩu tăng gấp rưỡi so với năm 2009, bằng 20% giá trị

Trang 18

xuất khẩu tôm chung và bằng 8% tổng giá trị xuất khẩu tất cả các sản phẩm thủy sản trong năm này

Hình 1.2 Diện tích nuôi tôm chân trắng ở Việt Nam đã tăng nhanh sau năm 2008

1.2.3 Nuôi tôm chân trắng ở Quảng Ngãi

Tôm chân trắng được đưa vào nuôi ở Quảng Ngãi từ năm 2004, với những ưu điểm vượt trội so với tôm sú và hiệu quả kinh tế đạt được, diện tích nuôi tôm chân trắng không ngừng được tăng lên qua từng năm Năm 2005, toàn tỉnh có 340 hộ nuôi tôm chân trắng trên đất cát, diện tích 85ha, không có dịch bệnh xảy ra, năng suất bình quân 9,4 tấn/ha, sản lượng đạt 800 tấn, cỡ tôm thu hoạch 60 – 70 con/kg, góp phần giải quyết việc làm xóa đói giảm nghèo cho nhân dân vùng bãi ngang ven biển Cao điểm

là các năm 2008 – 2009 diện tích nuôi tôm chân trắng đã lên đến 603,5 ha, sản lượng đạt trên 6.700 tấn và thay thế gần như hoàn toàn cho đối tượng tôm sú Đã có thời gian

do tốc độ phát triển nuôi tôm chân trắng trên đất cát quá nhanh, ở Quảng Ngãi không còn diện tích để mở rộng, người dân đã ồ ạt đi tìm cơ hội để hợp tác đầu tư nuôi tôm tại các tỉnh như Quảng Nam, Bình Định, Thừa Thiên Huế, Quảng Trị, Quảng Bình, Ninh Thuận, Bình Thuận,… Tuy nhiên, từ năm 2010 đến nay, do tình hình dịch bệnh thường xuyên xuất hiện, nên việc nuôi tôm chân trắng có xu hướng chững lại và giảm dần [17,18,34]

1.3 Tình hình nghiên cứu bệnh ở tôm chân trắng

1.3.1 Một số bệnh do virus ở tôm chân trắng nuôi thương phẩm

a Bệnh do virus gây ra hội chứng đốm trắng (White spot syndrome WSSV)

40000 ha

năm Diện tích

Trang 19

Từ lâu WSSV đã được biết đến như là một tác nhân nguy hiểm nhất đối với tôm

sú (Penaeus monodon) và các loài tôm he khác nuôi thương phẩm ở các nước châu Á

như ở Nhật Bản, Takahashi và cs (1994), Thái Lan, Wongteerasupaya và cs (1995), Đài Loan, Chou và cs (1995) và Việt Nam Đỗ Thị Hòa và cs (2004) Đến những năm cuối của thế kỷ 20, bệnh do WSSV đã xuất hiện và gây tác hại cho các loài tôm nuôi ở khu vực châu Mỹ La tinh như Mehico, Ecuador,… trong đó đặc biệt với tôm chân

trắng (Penaeus vannamei) và loài tôm xanh Thái Bình Dương-Litopenaeus stylirostris

nhiễm tự nhiên và gây tác hại như các loài khác nhau thuộc giống tôm he Penaeus spp, các loài thuộc giống Litopenaeus spp, giống Metapenaeus spp, các loài thuộc giống cua (Scylla spp), ghẹ (Portunus spp), tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii), Lightner (1996) và OIE (2009a) Riêng các loài tôm hùm (Hormarus spp; Panulirus spp) cũng có thể bị nhiễm WSSV ngoài tự nhiên nhưng tác hại lên loại vật chủ này

chưa thể hiện rõ ràng trong khi các biến đổi bệnh lý trong mô và tế bào đã rất đặc trưng, Wang và cs (1998) Flegel (2006) đã thông báo danh sách các loài giáp xác bị ảnh hưởng bởi WSSV, trong đó gồm có ít nhất 78 loài giáp xác khác nhau đã bị nhiễm

và gây tác hại bởi WSSV [50,56]

Chỉ sau vài năm xuất hiện, hội chứng đốm trắng ở giáp xác đã được nghiên cứu

ở các phòng thí nghiệm thuộc nhiều quốc gia và đã được đặt nhiều tên khác nhau: tại Trung Quốc, virus này có một số tên: HHNBV-Hypodermal and Hematopoetic Necrosis Baculovirrus, CV-China virus, SEEDV-Shrimp explosive epidemic virus Sangamaheswaran (2001) Tại Nhật Bản, virus này có tên: RV-PJ-rod shaped nuclear

virus in Penaeus japonicus, hoặc PRDV-Penaeus rod shaped DNA virus, Inouye và cs

(1994), Takahashi và cs (1994) Hay ở Thái Lan, virus này cũng được đặt tên: red disease virus, SEMBV-systemic ectodermal and mesodermal Baculovirus hay WSBV-white spot baculovirus, Wongteerasupaya và cs (1995) Ở Đài Loan, virus này

Trang 20

RDV-có tên WSSV- white spot syndrome virus Wang và cs (1995) Tuy đã RDV-có nhiều tên gọi khác nhau, nhưng WSSV vẫn là tên gọi thông dụng nhất của virus này, là tác nhân gây ra hội chứng đốm trắng-WSS [50,65,68]

Theo thông báo của nhiều tác giả, WSSV là virus có dạng hình que, có vỏ và acid nucleic là dsDNA Kích thước của các vi thể virus này đã được thông báo khác nhau tùy theo tác giả như Lightner (1996): 70-150 x 250-380nm, Inouye & cs (1994):

84 x 226nm (nucleocapsid), Takahashi và cs (1994): 83 x 275nm, Wongteerasupaya

và cs (1995):121-276nm, OIE (2009): 120-150 x 270-290nm, Paza, S (2010): 70-167 x120-420nm Van Hulten, V (2001) dựa vào trình tự của DNA đã xếp WSSV vào họ Nimaviridae [55,65,68]

Dựa vào dấu hiệu bệnh lý và tác hại của tôm khi mắc WSS, sự cảm nhiễm WSSV ở tôm được chia thành 2 dạng: dạng 1 gây tỷ lệ chết cao và bộc lộ các dấu hiệu đặc thù ở tôm bệnh chỉ trong vòng 2 tuần; dạng 2, WSSV tồn tại tiềm ẩn trong cơ thể

của một số loài giáp xác như tôm càng xanh (Macrobrachium sp), tôm hùm (Panulirrus spp hoặc Hormarus spp) sống hoang dã nhưng các động vật này không thể

hiện bất kỳ dấu hiệu nào của bệnh

Theo Sudha và cs (1998), đã dựa vào các dấu hiệu bệnh lý thường gặp ở tôm he khi bị nhiễm WSSV để chia diễn biến của bệnh thành 3 mức độ, bao gồm: Mức độ cấp tính và dưới cấp tính, các mô của vật chủ đã bị cảm nhiễm virus từ trung bình đến cao, tôm bị chết nhiều chỉ trong vòng 7-10 ngày và thể hiện rõ các đốm trắng tập trung chủ yếu ở giáp đầu ngực Mức độ trên cấp tính: tôm bệnh có màu hồng đỏ, các mô của tôm

đã bị cảm nhiễm virus ở mức độ rất cao và tôm bệnh có thể chết rất nhanh với tỷ lệ cao chỉ trong 2-3 ngày Mức độ 3 (mãn tính): thể hiện ở mức độ tôm bị nhiễm virus nhẹ, các dấu hiệu đốm trắng hoặc đỏ thân có thể không xuất hiện, tôm bệnh chết rải rác trong khoảng thời gian dài từ 15-28 ngày Tuy nhiên, ở mức độ bệnh này, cơ thể tôm vẫn mang virus và có thể lây nhiễm cho tôm khác [67]

Theo Lightner (1996) và Flegel (2006), biến đổi mô bệnh học đặc thù khi tôm

bị nhiễm WSSV thể hiện ở một số tổ chức cơ quan đích như: mang, dạ dày, cơ quan tạo máu, biểu mô vỏ Sự sao chép của virus này được thực hiện trong nhân tế bào và thường tồn tại một thể vùi hình cầu hay hình trứng, bắt màu tím của Hematoxylin (nhuộm với H & E) trong nhân của các tế bào bị virus xâm nhập [50]

Trang 21

Tại Iran, tôm chân trắng được nhập và nuôi ở quốc gia này vào năm 2004, hội chứng đốm trắng đã xảy ra ở loài tôm này vào năm 2008 Khi WSS xảy ra, tỷ lệ chết của tôm chân trắng 70-100% sau 7-30 ngày, Afsharnasab và cs (2009) Các tác giả này cho rằng, thời gian chết của tôm chân trắng khi bị nhiễm WSSV kéo dài hơn các loài

tôm khác Ở tôm he Ấn độ- P indicus, tỷ lệ chết 100% xảy ra trong vòng 5-7 ngày, ở tôm he Nhật Bản- P japonicus và tôm sú -P monodon khi bị nhiễm virus này có thể

chết 100% trong vòng 3 ngày, Momoyama và cs (1994), Vincen và cs (2004) Nghiên cứu của Granja và cs (2003) đã chỉ ra rằng, sự tồn tại một dạng tế bào apoptotic ở tôm chân trắng đã có vai trò làm giảm sự sao chép của virus, giúp tôm có thể chống đỡ và sống sót Briggs và cs (2004), cũng đã thông báo rằng, tôm chân trắng có khả năng kháng với WSSV cao hơn các loài tôm he khác [53]

Tổ chức thú y thế giới (OIE) và tổ chức liên minh nuôi trồng thủy sản toàn cầu (GAA-Global Aquaculture Alliance) cho rằng, bệnh đốm trắng xuất hiện ở các loài

tôm he châu Mỹ, đặc biệt là tôm chân trắng (P vannamei) nuôi ở các nước Trung và

Nam Mỹ vào những năm cuối của thế kỷ 20 là do một lượng rất lớn tôm đông lạnh có nguồn gốc từ châu Á đã được nhập vào các nước này, Lightner và cs (2004a) Các nhận định nêu trên đã dựa theo kết quả nghiên cứu của Nunan (1998), tác giả này đã dùng dịch chiết rút từ các con tôm he cấp đông nhập vào quốc gia này từ châu Á đã bộc lộ các dấu hiệu của bệnh WSSV, nghiền và lọc qua màng 0,45 µm, rồi cảm nhiễm vào các loài tôm he châu Mỹ Kết quả thí nghiệm cho thấy các dấu hiệu của bệnh WSS

đã xuất hiện và gây chết 70-100% tôm thí nghiệm [47]

Nghiên cứu của nhiều tác giả đã cho thấy, các chủng WSSV phân lập ở các vùng địa lý khác nhau có độc lực khác nhau Wang và cs (1999), đã thí nghiệm so sánh độc lực của WSSV thu được từ các quốc gia có dịch bệnh đốm trắng như: Trung Quốc,

Ấn Độ, Thái Lan, Mỹ (tại vùng Texas và California) Tác giả đã cảm nhiễm WSSV

trên 2 loài tôm: post larvae của tôm chân trắng P vannamei và tôm Farfantepenaeus duorarum ở giai đoạn ấu niên Kết quả cho thấy chủng phân lập từ Texas cho tỷ lệ chết

rất nhanh, dữ dội nhất trên cả 2 loài tôm được cảm nhiễm và chủng phân lập từ tôm hùm càng nước ngọt lại cho tỷ lệ chết thấp nhất

Một số nghiên cứu khác lại cho thấy độc lực của các chủng virus đốm trắng có liên quan tới độ lớn hay nhỏ của gen Kích thước bộ gen của WSSV có sự sai khác giữa các chủng WSSV đã phân lập ở các quốc gia, ở các vùng địa lý khác nhau Chủng

Trang 22

WSSV phân lập được ở Thái Lan đã được xác định có bộ gen khoảng 292,967 base pairs (Van Hulten et al., 2001), ở Trung Quốc là 305,107 bp (Yang et al., 2001) và ở Đài Loan, khoảng 307,287 bp (Marks, 2004) Gần đây một chủng WSSV mới được phân lập và đã phát hiện thấy có bộ gen lớn nhất từ trước đến nay khoảng 4,8 kbp (Marks et al., 2005) Lan et al (2002), đã cảm nhiễm ngược WSSV vào loài tôm

Penaeus clarkia, kết quả cho thấy chủng WSSV có kích thước của bộ gen là 305 kb đã gây chết 100% tôm nhanh hơn so với chủng WSSV có kích thước bộ gen lớn (4,8 kb) Tương tự như vậy, Marks et al.(2005), cũng đã chứng minh rằng kích thước bộ gen

của WSSV khác nhau thì khả năng gây chết ở tôm sú (P monodon) cũng khác nhau

Tác giả đã dùng chủng WSSV gây bệnh trên tôm sú nuôi ở Thái Lan làm thí nghiệm,

và kết quả thí nghiệm đã cho thấy, chủng có kích thước bộ gen nhỏ nhất là 293 kb (WSSV-TH) đã gây chết 100% tôm ở ngày thứ 8 sau khi tiêm, trong khi đó với chủng WSSV có bộ gen lớn hơn 312 kb (TH-96-II) thì gây chết chậm hơn và 100% tôm đã bị chết vào ngày thứ 17 sau khi tiêm [72,79]

Wongmaneeprateep et al, 2010 đã công bố hiện tượng tôm chân trắng nuôi ở Thái Lan bị bùng phát hội chứng đốm trắng (WSS) cấp tính do WSSV, tôm bệnh chuyển màu đỏ bầm và chết hàng loạt trong các ao nuôi thương phẩm Các tác giả này

đã thông báo về ảnh hưởng của nhiệt độ nước tới sự bùng phát và tác hại của WSSV tới tôm chân trắng Nhóm nghiên cứu này đã chứng minh được rằng, ở nhiệt độ 32

±10C bệnh đốm trắng đã không xuất hiện ở đàn tôm đã được cảm nhiễm WSSV sau 14 ngày, trong khi đó ở nhiệt độ 28 ±10C, tôm bị cảm nhiễm đã bắt đầu chết ở ngày thứ 2, chết 100% vào ngày thứ 5 (cảm nhiễm bằng phương pháp cho ăn) và bắt đầu chết vào ngày thứ 3 và chết hết vào ngày thứ 7 (cảm nhiễm bằng phương pháp ngâm) Đặc biệt, kết quả kiểm tra PCR đã cho thấy ở nhiệt độ 32 ±10C, virus WSSV đã bị đào thải hoàn toàn khỏi cơ thể tôm vào ngày thứ 7 kể từ khi bị cảm nhiễm Nghiên cứu này đã cho thấy, chọn một vụ nuôi tôm chân trắng có điều kiện nhiệt độ không dưới 320C cũng là một giải pháp phòng hội chứng đốm trắng (WSS) ở tôm hiệu quả [77]

WSS là bệnh có tính mùa vụ rõ ràng, bệnh có thể xảy ra quanh năm nhưng bắt gặp với tần số cao hơn vào mùa có nhiệt độ thấp, Đỗ Thị Hòa và cs (2004), Rodriguez

và cs (2003) và OIE (2009a) Sự bùng phát của bệnh có liên quan rất lớn đến sự biến động bất lợi của các yếu tố môi trường như nhiệt độ, độ mặn, pH, các khí độc trong ao (NH3…) Trong điều kiện cảm nhiễm in-vitro (nuôi cấy tế bào) và in-vivo (cảm nhiễm

Trang 23

trên post larvae), một chu kỳ sao chép của WSSV hoàn thành trong khoảng 20 giờ ở 25ºC [13,50]

b Hội chứng Taura (Taura syndrome virus -TSV)

Hội chứng Taura bùng phát lần đầu tiên ở một số trang trại nuôi tôm gần sông Taura ở Ecuador vào năm 1992, Jimenez và cs (1992) Đến 1994-1995, TSV đã nhanh chóng lây lan đến các vùng nuôi tôm biển của các quốc gia khác ở khu vực châu Mỹ như Hawai, bờ biển Thái Bình Dương của Ecuador, Mehico, Peru, Costarica, …TSV cũng đã được tìm thấy ở tôm nuôi ở các nước dọc bờ biển Đại Tây Dương: Brazil, Columbia, Venezuela, phía Tây Nam của nước Mỹ: Florida, nam California và Texas, Lightner (1996), OIE (2009b) Đến thời điểm giao mùa giữa năm 1998-1999, Tu, (1999) đã thông báo tôm chân trắng nuôi ở Đài Loan đã xuất hiện các dấu hiệu đỏ đuôi

và chết với tỷ lệ cao trong ao nuôi sau khi bỏ ăn 3 ngày và TSV đã được xác định là tác nhân gây ra hiện tượng chết này Sau năm 2009, TSV lại tiếp tục xuất hiện ở tôm chân trắng nuôi ở Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia, Malaysia [44,45,61]

Virus gây ra hội chứng Taura (TSV) được xếp vào họ Picornaviridae, có hình cầu đa diện (20 mặt), không có vỏ, kích thước của các hạt virus rất nhỏ (30-32nm), sao chép ở nguyên sinh chất của tế bào vật chủ TSV là virus có acid nucleic là ssRNA (single stranded RNA) Hiện nay các nhà khoa học đã xác định và lưu giữ được một số chủng khác nhau của TSV: nhóm châu Mỹ (TSV-HI), nhóm Đông-Nam châu Á, nhóm Belize (TSV-BZ) và Venezuela, và các chủng TSV thuộc nhóm Belize được cho là chủng TSV có độc lực mạnh nhất [37,56,61]

Khi nghiên cứu về khả năng sống sót của TSV, các nhà khoa học cho rằng, virus này có thể sống sót tốt trong mô của giáp xác bị đông lạnh, vì vậy các lô sản phẩm đông lạnh có thể là nguồn lây lan TSV từ quốc gia này sang quốc gia khác Brocket al (1995), đã cho biết tôm bị bệnh TS được cấp đông và lưu giữ ở 0ºC, virus trong các mô tôm bị bệnh TS vẫn có thể cảm nhiễm và gây chết tôm Vanpatten et al

(2004), đã thông báo chim mòng biển Larus atricilla là một trong những sinh vật

mang TSV và phát tán virus này làm cho hội chứng Taura (TS) lan tràn trên diện rộng Người ta đã phát hiện thấy gen của TSV trong phân của chim ở 48h sau khi cho chim

ăn xác của tôm bị bệnh do TSV và xác định được khả năng xâm nhập của TSV ở phân của chim vào tôm chân trắng trong điều kiện thí nghiệm Ngoài ra, việc di nhập tôm bố

Trang 24

mẹ và đàn tôm ấu trùng giữa các quốc gia không được quản lý tốt cũng là một con đường lây lan TSV ngày càng rộng rãi [45,50,56]

TSV cảm nhiễm và gây bệnh ở nhiều loài tôm he khác nhau Hiện tượng cảm

nhiễm tự nhiên đã được phát hiện ở tôm chân trắng L vannamei và tôm xanh Thái Bình Dương P Stylirostris, nhưng ở loài tôm xanh thì bệnh nhẹ hơn Mức độ mẫn cảm

với TSV của các loài tôm cũng rất khác nhau, trong số các loài tôm he phân bố ở châu

Mỹ, tôm chân trắng (L vannamei) mẫn cảm nhất và chịu tác hại lớn nhất khi bị nhiễm

TSV, có thể chết từ 40-90% tùy theo chủng virus và điều kiện môi trường [45,50,56] Trong điều kiện cảm nhiễm nhân tạo, nhiều loài tôm he phân bố ở Tây bán cầu

như P stylirostris, P setiferus, P schmitti, P duorarum, P aztecus và ở Đông bán cầu như P.monodon, P japonicus, P chinensis đã được thông báo có khả năng nhiễm TSV Tuy nhiên, qua thí nghiệm cảm nhiễm nhân tạo đã thể hiện 2 loài tôm P duorarum và P aztecus có khả năng kháng với TSV, Limsuwan và cs (2007), Pantoja

và cs (2008) Và một số nhà nghiên cứu khác, đã thông báo rằng, tôm sú P monodon

nuôi ở Thái Lan vào giữa năm 2004 cũng đã bị nhiễm bệnh này TS có thể xảy ra ở tất

cả các giai đoạn trong vòng đời của tôm, từ giai đoạn postlarvae PL14, giai đoạn ấu niên và giai đoạn trưởng thành [45,50,52,56]

TS thường xảy ra ở những đàn tôm nuôi ở độ mặn < 30‰ Khi nuôi tôm chân

trắng (P vannamei) ở độ mặn thấp 5-10 ‰, TSV có thể tồn tại tự do trong môi trường

nước tới 10 ngày để có thể gây bệnh và lây nhiễm theo trục ngang Ở độ mặn thấp, TSV vẫn có thể cảm nhiễm và gây chết tôm nhanh trong vài ngày [37]

Khi tôm chân trắng bị nhiễm TSV, bệnh có thể biểu hiện ở các thời kỳ bệnh lý khác nhau Thời kỳ cấp tính (Acute phase), tôm bệnh thể hiện sự hấp hối, cơ thể chuyển sang màu đỏ nhợt, đặc biệt là các phần phụ như quạt đuôi, chân bơi, nên bệnh này còn có tên là “bệnh đỏ đuôi-Tail red disease” Ngoài ra, tôm bị bệnh ở thời kỳ này còn có các dấu hiệu khác như sự dày mọng của các mép chân bơi, chân bò và quạt đuôi, vỏ kitin bị mềm, rỗng ruột và chết khi lột xác Thời kỳ bệnh này có thể gây chết

40-90% ở P vannamei Những biến đổi về mô bệnh học của các phần phụ, mang, dạ

dày và mô liên kết đã cho thấy những tế bào bị tổn thương với hiện tượng nhân tế bào

bị phân tán giống như rắc hạt tiêu (peppered) hoặc bị đông kết, các thể vùi hình cầu thường có đường kính 1-20µm bắt mầu từ hồng đến hồng tím Ở thời kỳ này của bệnh

Trang 25

TS, cơ quan lympho (LO) không bị ảnh hưởng và đây là sự khác biệt với pha cấp tính của bệnh đầu vàng [44,45,49,50]

Thời kỳ chuyển tiếp (Transition phase) của TS diễn ra ngắn, nhưng cũng kịp thể hiện một số dấu hiệu cơ bản, dễ nhận biết như tồn tại các tổn thương màu nâu, đen (sắc

tố melanin) trên vỏ kitin, rất giống với dấu hiệu của bệnh do nhiễm khuẩn Ở giai đoạn này, số lượng và mức độ ác liệt của các tổn thương lớp cuticul có giảm đi và bắt đầu xuất hiện sự ngưng kết tế bào máu ở các mô bệnh, các tổn thương này tạo nên những đám màu đen Những điểm nâu đen có thể còn là kết quả của sự bội nhiễm tác nhân cơ

hội là vi khuẩn Vibrio spp [44,45,49,50]

c Bệnh đục cơ do IMNV (Infectious myonecrosis virus) ở tôm chân trắng

IMNV được phát hiện lần đầu tiên gây bệnh trên tôm he chân trắng P vannamei

nuôi ở Brazil năm 2003, Lightner và cs (2004b) Virus cảm nhiễm và gây ra các vết hoại tử trắng đục ở vùng cơ vân ở phần bụng của tôm bệnh Khi tôm bị bệnh do IMNV, tỷ lệ chết có thể lên tới 40-60%, do đó đã gây thiệt hại đáng kể cho tôm chân trắng nuôi ở Brazil và ước tính thiệt hại này khoảng 20 triệu USD vào năm 2003, Tang

và cs (2005) Đến giữa năm 2006, bệnh do IMNV bắt đầu bùng phát ở tôm chân trắng nuôi ở một số đảo thuộc Indonesia như đảo Java, đảo Sumatra, Saengchan và cs (2007) Đến cuối 2006, đầu 2007, IMNV cũng được thông báo đã gây bệnh ở tôm chân trắng nuôi tại đảo Hải Nam-Trung Quốc và Thái Lan [48,57,78]

IMNV là virus thuộc giống Totivirus, họ Totiviridae, có vật chất di truyền là dsRNA, vi thể có hình cầu nhiều mặt, không có lớp vỏ bao, đường kính khoảng 40nm [57,76]

Theo Lightner và cs (2004b) và AGDAFF (2008), cho đến năm 2007, mọi phát hiện đều cho rằng ký chủ chính bị cảm nhiễm tự nhiên của IMNV là loài tôm chân

trắng- Penaeus vannamei., đây là loài tôm có sản lượng chiếm tới 65% sản lượng tôm nuôi toàn thế giới Trong cảm nhiễm nhân tạo, loài tôm chân trắng (P vannamei) đã

nhanh chóng bộc lộ các dấu hiệu đặc thù của bệnh đục cơ ở ngày thứ 6 sau cảm nhiễm

và gây ra tỷ lệ chết 20% Trong khi đó, bằng kỹ thuật lai DNA (in situ

hybridization-ISH) đã xác định rằng tôm sú (P monodon) và tôm xanh (L stylirostris) đều dương

tính với IMNV sau cảm nhiễm, nhưng bệnh lý chỉ bộc lộ ở tôm xanh vào ngày thứ 13 sau cảm nhiễm và không xảy ra hiện tượng chết ở cả 2 loài tôm này khi thí nghiệm kết thúc [69]

Trang 26

Giai đoạn ấu niên và gần trưởng thành ở tôm chân trắng đã được thông báo là rất nhạy cảm với IMNV Sự bùng phát của bệnh do IMNV thường có liên quan tới một

số vấn đề như trong vùng có nuôi tôm chân trắng, sự biến đổi đột ngột của các yếu tố môi trường (nhiệt độ và độ mặn), đây được xem như là các nhân tố ảnh hưởng đến sự bùng phát bệnh [48,59]

Bệnh do IMNV có thể phát ra ở dạng cấp tính hoặc mãn tính Bệnh ở dạng cấp tính thể hiện một số dấu hiệu đặc thù của bệnh kèm theo tỷ lệ chết khá cao, từ 40-70%, nhưng khi chuyển sang dạng mãn tính thì tỷ lệ chết thấp Các dấu hiệu của bệnh bao gồm: sự xuất hiện các vùng hoại tử màu trắng đục ở cơ của phần bụng, đặc biệt nơi nối tiếp giữa các đốt hoặc ở gần quạt đuôi Telson của tôm bệnh có thể bị hoại tử hoặc chuyển màu đỏ Cơ quan lympho (LO) thường có hiện tượng phì đại, to gấp 3-4 lần so với bình thường [59]

Để xác định sự cảm nhiễm của IMNV ở tôm biển cần kết hợp các phương pháp đơn giản và hiện đại như dựa vào các dấu hiệu bệnh đặc thù, phương pháp mô bệnh học, kỹ thuật RT-PCR (reverse trancription-polymerase chain reaction) và kỹ thuật lai DNA [48,57,62,77]

d Bệnh hoại tử cơ quan tạo máu và biểu mô dưới vỏ (IHHN-Infectious hypodermal and hematopoeitic necrosis)

Bệnh này được thông báo lần đầu tiên trên loài tôm xanh Thái Bình Dương (P stylirostris) nuôi siêu thâm canh trong hệ thống mương nổi ở Hawaii vào đầu những

năm 80 của thế kỷ 20 và gây tổn thất khoảng 0,5-1 tỷ USD trong năm 1981 Khi bệnh này mới xuất hiện ở các vùng nuôi tôm ở châu Mỹ, các nhà khoa học đã nghi ngờ rằng bệnh có nguồn gốc từ tôm sú đông lạnh được nhập khẩu từ châu Á, Lightner (1996) Đến nay, IHHNV đã được biết đến như là tác nhân gây bệnh phổ biến trên nhiều loài tôm biển nuôi ở các khu vực khác nhau trên thế giới, xuất hiện phổ biến ở các vùng nuôi tôm chủ yếu của thế giới: châu Á và Nam Mỹ Virus này đã được thông báo có

thể cảm nhiễm tự nhiên ở nhiều loài tôm he như L stylirostris, P vannamei, P monodon, P semisulcatus, P japonicus, P californiensis Một số loài tôm he khác cũng đã bị cảm nhiễm virus này nhưng trong điều kiện thí nghiệm như P setiferus, P duorarum, P aztecus, tuy nhiên cũng đã có thông báo về khả năng kháng với IHHNV của tôm he Ấn độ (P indicus) và tôm thẻ (P merguiensis) [37,50,58]

Trang 27

IHHNV thuộc giống parvovirus, có kích thước rất nhỏ, đường kính vi thể trung bình 20- 22nm, có vật chất di truyền là ssDNA Cho tới thời điểm này có ít nhất 4 chủng IHHNV đã phân lập được từ tôm nuôi bị bệnh ở các khu vực địa lý khác nhau, bao gồm: chủng 1 có nguồn gốc ở châu Mỹ, chủng 2 từ Đông Nam Á, chủng 3A từ Đông Phi, Ấn Độ và Australia và chủng 3B từ phía tây Ấn Độ-Thái Bình Dương (Madagasca, Mauritius và Tanzania) Lúc đầu, chủng 1 và 2 đã biết là cảm nhiễm trên

các loài tôm he quan trọng như P monodon và P vannamei, nhưng một thời gian sau

đó lại phát hiện thấy 2 chủng này không còn cảm nhiễm trên những loài tôm này nữa Chủng IHHNV 3A và 3B, khi giải trình tự gen của chúng đã phát hiện thấy 2 chủng này có “quan hệ họ hàng” gần gũi và 2 chủng virus này cũng đã được tìm thấy cảm

nhiễm trên tôm sú (P monodon) nuôi tại Đông Phi, Australia và khu vực đông Ấn

Độ-Thái Bình Dương [41]

Tác hại của IHHNV gây ra cho tôm nuôi phụ thuộc vào giống loài tôm, giai đoạn phát triển cũng như độc lực của các chủng IHHNV Bệnh IHHN được biết gây

tác hại lớn nhất ở loài tôm xanh Thái Bình Dương- P stylirostris, ở giai đoạn ấu niên

(> PL30), đã thường xảy ra ở dạng cấp tính với biểu hiện bệnh lý rõ ràng và gây tỷ lệ chết cao (> 90%) Tuy nhiên, bệnh này lại không xảy ra ở giai đoạn ấu trùng và giai đoạn nhỏ hơn postlarvae 30 Khi tôm đã trưởng thành, IHHN thường thể hiện ở dạng mãn tính và không thể bệnh lý rõ ràng và không gây chết, nhưng chúng có thể lây truyền virus cho các đàn ấu trùng nếu những con tôm này được tham gia sinh sản, Flegel (2006), Lightner (1996) và (2004), OIE (2009d) IHHNV cảm nhiễm trên tôm

chân trắng (P vannamei) thường ở dạng mãn tính, không gây chết, nên IHHN còn

được gọi bằng tên khác là hội chứng còi cọc dị hình (Runt-Deformity RDS) Các biểu hiện của tôm chân trắng bị bệnh IHHN là: tôm kém ăn, còi cọc, chậm lớn, cong vẹo chủy đầu, râu nhăn nhúm, vỏ kitin xù xì thô ráp, phân đàn cao [37,58,76]

Syndrome-Singhapan và cs (2004), đã thông báo về ảnh hưởng của IHHNV đối với tôm chân trắng nuôi trong ao đất Sau 120 ngày nuôi bằng thức ăn tổng hợp, tôm ở ao nuôi

đã (+) với IHHNV cho năng suất thấp hơn 4 lần, tỷ lệ sống thấp hơn 1,7 lần và FCR cao hơn 1,3 lần so với ao nuôi có đàn tôm (-) với IHHNV

Dấu hiệu mô bệnh học đặc trưng của IHNN là sự tồn tại của các thể vùi dạng Cowdry type-A bắt mầu hồng của Eosin, nằm trong nhân của tế bào đã bị phình, tạo ra

Trang 28

một vùng sáng Có thể tìm thấy thể vùi này ở các cơ quan có nguồn gốc từ lá phôi ngoài (mang, biểu mô dưới vỏ, các tế bào biểu mô ruột trước và ruột sau, hạch và dây thần kinh), các cơ quan có nguồn gốc từ lá phôi giữa (cơ quan tạo máu, tuyến anten, tuyến sinh dục, cơ quan lympho và các sợi cơ) Thể vùi dạng này dễ nhầm lẫn với thể vùi ở giai đoạn sớm của tôm khi bị cảm nhiễm WSSV Tuy nhiên, thể vùi của WSSV

sẽ nhanh chóng phì đại chiếm hết thể tích của nhân và chuyển sang mầu tím khi nhuộm với H & E IHHN ở thể mãn tính (RDS) ở tôm chân trắng rất khó chẩn đoán bằng phương pháp mô bệnh học truyền thống, do đó nên sử dụng các phương pháp khác như: PCR, dot-blot hoặc lai DNA (insitu hybridization-ISH) để có kết quả chẩn đoán chính xác nhất [37,47,58,76]

e Bệnh đầu vàng do virus (Yellow Head Virus Disease-YHVD)

Bệnh do virus đầu vàng (YHV) lần đầu tiên được ghi nhận xảy ra trên tôm sú P monodon nuôi ở miền Trung Thái Lan vào năm 1990, Limsuwan và cs (1991) và nó

được xem là một trong những tác nhân gây bệnh nguy hiểm chỉ sau WSSV ở Thái Lan, Lightner và cs (2004a), Flegel (2006) Chỉ sau vài năm xuất hiện, YHV đã lan rộng sang một số quốc gia ở khu vực Đông Nam Á và Ấn Độ Việc nhập khẩu tôm sống và đông lạnh từ Thái Lan vào Mỹ đã mở rộng sự phân bố WSSV, YHV vào khu vực châu

Mỹ và khi đó WSSV, YHV đã làm giảm đáng kể sản lượng tôm P setiferus nuôi ở

Texax [47,64]

Nghiên cứu của Nadala và cs (1997), đã cho rằng YHV gây bệnh ở tôm he là giống Rhabdovirus thuộc họ Rhabdoviridae, có nucleic acid là ssRNA, vi thể có dạng hình que, kích thước khoảng 44±6 x 173±13nm, sao chép trong nguyên sinh chất của tế bào vật chủ Tuy nhiên, theo nghiên cứu của Walker (2001), lại cho rằng YHV thuộc họ Coronaviridae Tuy nhiên, theo OIE (2009e), ICTV (International Committee on Taxonomy of Viruses) đã phân loại YHV thuộc họ Roniviridae, giống Okavirus [54,59,74]

YHV có thể gây bệnh trên hầu hết các loài tôm he, tuy nhiên ở ngoài tự nhiên

YHV chỉ được ghi nhận là tác nhân gây ra các trận dịch ở tôm sú (P monodon) và tôm chân trắng (P vannamei), nhưng một số loài tôm khác cũng được thông báo là đã bị cảm nhiễm YHV trong điều kiện tự nhiên như: Penaeus japonicus, P merguiensis, P stylirostris, P setiferus, Metapenaeus ensis, Palaemon styliferus và Euphasia superba Ngoài ra, từ các cảm nhiễm nhân tạo người ta đã phát hiện ra các loài tôm P

Trang 29

esculentus, P sztecus, P duorarum, Macrobrachium sintangense và Acetes sp cũng

mẫn cảm với virus này [41,50,59]

Để chẩn đoán bệnh YHV ở tôm, có nhiều phương pháp khác nhau đã được sử dụng Các dấu hiệu chính của bệnh là một trong những công cụ đã hỗ trợ rất nhiều trong công tác chẩn đoán Ngoài ra, một số test chẩn đoán nhanh như kiểm tra các tế bào máu, các tiêu bản nhuộm mang của tôm bệnh đã được sử dụng để chẩn đoán sơ

bộ Phương pháp mô bệnh học và kỹ thuật RT-PCR đã được dùng để chẩn đoán bệnh đầu vàng ở tôm tại nhiều phòng thí nghiệm [37,41,59]

Một số cơ quan đích của YHV ở tôm đã được xác định: mang, gan tụy, các tế bào máu, cơ quan Lympho (LO) Các biến đổi mô bệnh học ở tôm chân trắng khi bộc phát bệnh đầu vàng do cảm nhiễm YHV đã được xác định: các thể vùi (inclusion bodies) nhỏ tồn tại trong nguyên sinh chất của tế bào cơ quan đích, bắt màu tím (khi nhuộm với H & E), nhân tế bào có thể bị phân tán hoặc thoái hóa [37,41,59,63]

1.3.2 Các hướng nghiên cứu phòng bệnh virus ở tôm chân trắng

Khi các loại virus khác nhau cảm nhiễm và gây bệnh ở các loài tôm biển như

tôm chân trắng P vannamei thường gây ra tác hại lớn, bởi hiện nay vẫn chưa có thuốc

đặc trị và độc lực của tác nhân lại rất lớn Do vậy, trong thời gian gần đây đã có nhiều công trình nghiên cứu phòng các bệnh virus cho tôm theo các hướng khác nhau như:

bổ sung các chất có khả năng kích thích hệ thống miễn dịch ở tôm (immunostimulant) hay “vaccine” được tạo ra từ vỏ protein của WSSV (chủ yếu VP19 và VP28), lai tạo chọn giống để tạo ra các dòng tôm không mang các tác nhân gây bệnh nguy hiểm SPF (Specific Pathogen-Free) và dòng tôm kháng bệnh SPR (Specific Pathogen Resistance), dùng các sản phẩm có nguồn gốc từ thảo dược để kìm hãm sự phát triển của virus trong cơ thể tôm hay một số nghiên cứu của các tác giả khác dùng các giải pháp môi trường để hạn chế tác hại của virus

1.3.3 Các bệnh do vi khuẩn gây ra ở tôm chân trắng nuôi thương phẩm

Cũng giống như các loài tôm he châu Á, tôm chân trắng (Penaeus vannamei) cũng rất mẫn cảm với các loài khác nhau của vi khuẩn Vibrio spp, gây nên các bệnh lý như tạo phát sáng trong các trại sản xuất tôm giống do V Harveyi, gây ra tình trạng

bệnh gan tụy hay đường ruột mãn tính, hoặc tạo ra các thương tổn mòn cụt trên vỏ

kitin do V Parahaemolyticus, V alginolyticus, V Vulnificus, Lightner (1996), Flegel

Trang 30

(2006) Tuy nhiên, ở tôm chân trắng còn được biết là có thể bị bệnh do nhiễm các

giống vi khuẩn khác ngoài Vibrio spp [41,50]

a Bệnh hoại tử gan tụy ở tôm (Necrotising Hepatopancreatitis-NHP)

NHP đã được thông báo xảy ra lần đầu tiên tại Texas năm 1985 Các trận dịch khác cũng đã được ghi nhận ở nhiều quốc gia thuộc khu vực Nam Mỹ, bờ biển Thái Bình Dương và Đại Tây Dương như: Peru, Ecuador, Venezuela, Brazil, Costarica, Panama và Mexico NHP là một trong những bệnh nguy hiểm ở tôm he châu Mỹ, nó

có thể gây chết đến 95% tôm chân trắng [37,41,50]

Các loài tôm he châu Mỹ như: Penaeus vannamei, L stylirostris, Penaeus setiferus P aztecus và P californiensis đều được biết là mẫn cảm với vi khuẩn gây

bệnh NHP, tuy nhiên gây tác hại lớn đã được phát hiện thấy ở các giai đoạn cuối của

hậu ấu trùng, ấu niên và trưởng thành của loài tôm chân trắng (P vannamei) Ngoài

yếu tố vật chủ, thì một số yếu tố môi trường như độ mặn cao (>30‰) và nhiệt độ (>29ºC) kéo dài cũng được xem là các nhân tố nguy cơ ảnh hưởng lớn đến sự xuất hiện và tác hại của bệnh NHP trên tôm chân trắng [60,73]

Krol et al.(1991) đã công bố về việc phát hiện các loại vi khuẩn gây bệnh hoại

tử cơ quan gan tụy (NHP) ở tôm chân trắng Bằng cách dùng kính hiển vi điện tử truyền qua (TEM), các tác giả này đã phát hiện và nhận dạng ra 3 loại vi khuẩn cùng tham gia gây ra bệnh NHP: 1.Vi khuẩn giống với Rickettsia, dài 0,9µm và rộng 0,3µm chiếm chỗ trong nguyên sinh chất và vách tế bào; 2 Vi khuẩn dạng xoắn, tương tự như giống Spiroplasma; 3 Vi khuẩn dạng sợi ngắn mà trước đây chưa được thông báo là tác nhân gây bệnh ở tôm Loại vi khuẩn 2 và 3 chiếm chỗ ở vách của tế bào vật chủ Loại vi khuẩn này có đặc điểm gram âm, ký sinh nội bào, có kích thước nhỏ, có dạng que xoắn hoặc có thể có các hình dạng khác nhau, có hoặc không có tiên mao, thuộc nhóm alpha Proteobacteria thuộc bộ Ricketsiales đã được biết là tác nhân chính gây bệnh hoại tử gan tụy (NHP) ở tôm chân trắng [41,50,60]

Một số dấu hiệu chính đã được xác định là đặc thù cho bệnh NHP ở tôm chân trắng như tôm bơi chậm chạp gần bờ, giảm ăn, ruột rỗng, sinh trưởng giảm rõ rệt, tỷ lệ giữa khối lượng và chiều dài thân thấp (tôm bị óp), tổ chức gan tụy nhợt nhạt, hoại tử hay teo nhỏ, mềm hoặc hóa lỏng ở trung tâm, đôi khi có các vệt sọc nâu đen trên mô gan tụy Ngoài ra, tôm đã bị bệnh NHP có thể kèm theo các dấu hiệu nhiễm khuẩn cơ

Trang 31

hội như mang đen, các vết thương tổn mầu nâu, đen trên vỏ ki tin, các phần phụ bị mòn cụt [41,50]

Nhiều tác giả đã cho rằng, NHP là bệnh nhiễm khuẩn hệ thống, ở những con tôm chân trắng bị bệnh, người ta đã tìm thấy vi khuẩn ở nhiều tổ chức cơ quan khác nhau như gan tụy, cơ quan lympho (LO), các tế bào máu có nhiệm vụ thực bào, các tế bào biểu mô ở anten Trên tiêu bản mô bệnh học, các khuẩn lạc của vi khuẩn chiếm chỗ trong nguyên sinh chất của tế bào vật chủ, làm biến dạng cấu trúc hình ống của biểu mô gan tụy Ngoài ra, các vùng thương tổn ở gan tụy thường bị bao vây bởi nhiều

tế bào máu [41,42,50,60]

Hiện tượng gây chết tôm chân trắng khi bị bệnh NHP (necrosis hepatopancreactic) đã được quan sát thông qua một thí nghiệm in vivo Một nhóm tôm khỏe gồm 140 con tôm chân trắng được bố trí nuôi riêng rẽ và mỗi con tôm được cho ăn một miếng nhỏ (0,05g) mô gan tụy của tôm bị bệnh NHP, nhóm tôm đối chứng gồm 120 con cũng được cũng được cho ăn 1 miếng nhỏ (0,05g) mô gan tụy nhưng của tôm không bị bệnh NHP Sau 60 ngày ở nhiệt độ 300C, độ mặn 30%o, tôm ở nhóm thí nghiệm đã thể hiện bệnh lý của bệnh NHP và bắt đầu chết từ ngày thứ 16 đến ngày thứ

51, thời gian sống sót trung bình của các cá thể ở nhóm này là 34,5 ngày, mức bị chết hàng ngày trung bình là 0,09, trong khi đó chỉ số này ở hội chứng đốm trắng (WSS) là 0,40 và ở hội chứng Taura (TS) là 0,30 Vincent và cs (2004) và OIE (2010) đã đưa ra khuyến cáo người nuôi nên lựa chọn đàn tôm giống không nhiễm các mầm bệnh nguy hiểm (SPF) để phòng bệnh NHP Tuy nhiên, khi tôm chân trắng bị bệnh NHP, có thể dùng kháng sinh để trị bệnh Oxytetracycline hoặc Florfenicol là 2 loại kháng sinh đã được tổ chức OIE khuyến cáo có thể sử dụng để trị bệnh NHP ở tôm he nuôi, nếu phát hiện bệnh sớm và chữa trị kịp thời [60,73]

b Bệnh gây chết cấp tính ở tôm chân trắng do Streptococcus sp

Hasson và cs (2009) đã lần đầu tiên báo cáo về việc phát hiện bệnh nhiễm

khuẩn hệ thống ở tôm chân trắng nuôi do liên cầu khuẩn gram dương –Streptococcus

sp Các mẫu tôm chân trắng bị nhiễm cấp tính cầu khuẩn này đã bộc lộ bệnh lý bên

ngoài không rõ ràng, tuy nhiên, mô trong nội tạng đã thể hiện bị hoại tử và hemolymph của tôm bệnh bị đục mờ Các tác giả đã phát hiện một lượng rất lớn cầu khuẩn gram dương trong hemolymph, trong nguyên sinh chất của các tế bào máu và tồn tại ngoại bào trong các mô của tim, cơ quan lympho, mang, ruột, gan tụy, tuyến

Trang 32

anten và hạch thần kinh Loài Streptococus sp đã được phân lập từ tôm chân trắng bị

bệnh có các đặc điểm: khuẩn lạc nhỏ 0,3-0,5mm trên môi trường BA hay TSA có bổ sung 5% máu cừu ở nhiệt độ 280C, sau 24h Vi khuẩn này có thể mọc trong điều kiện yếm hoặc hiếu khí, phản ứng oxidase và catalase đều âm tính Khi nuôi cấy trong môi trường TSB, các cầu khuẩn đã nối thành các chuỗi dài từ 5-8 tế bào Khi phân loại bằng phương pháp truyền thống trên A-PI 20, cho thấy loài vi khuẩn này tương đồng

tới 99,9% với loài S uberis, nhưng khi định danh bằng kỹ thuật sinh học phân tử (PCR) lại cho thấy sự tương đồng với loài S porcinus [43]

Burgents và cs (2005) đã nghiên cứu về số phận của các tế bào vi khuẩn khi

xâm nhập vào cơ thể của tôm Một liều gây chết của Vibrio campbellii có gắn với các

phân tử protein huỳnh quang đã được tiêm vào cơ thể của mỗi con tôm thí nghiệm Số lượng tổng số của vi khuẩn đã tiêm vào sau 240 phút tồn tại trong mô của cơ quan Lympho được xác định bằng kỹ thuật real time - PCR cao hơn so với các mô khác trong cơ thể, bao gồm cả máu, nhưng % số vi khuẩn có thể nuôi cấy lại được từ cơ quan lympho lại thấp hơn các mô khác trong cơ thể

1.3.4 Các nghiên cứu nhằm quản lý các bệnh nhiễm khuẩn ở tôm chân trắng

Việc dùng hóa chất và kháng sinh để phòng và trị các bệnh nhiễm khuẩn ở tôm nuôi đã luôn để lại các tác dụng ngoài mong muốn lên môi trường, sức khỏe vật nuôi

và an toàn vệ sinh thực phẩm Do vậy, những năm gần đây, đã xuất hiện nhiều hướng nghiên cứu nhằm tạo ra các sản phẩm có hoạt tính như một probiotic từ các chủng vi khuẩn có lợi nhằm phòng và hạn chế tác hại của các bệnh nhiễm khuẩn ở tôm nuôi, đặc biệt là tôm chân trắng

Selvin và Lipton (2003) đã công bố kết quả sử dụng các chất chuyển hóa thứ cấp

từ sinh vật biển (MSM–Marine Secondary Metabolites) được chiết rút từ loài rong

biển (Ulva fascita) và loài hải miên (Dendrilla nigra) với dung môi là metanol có hoạt tính sinh học diệt tảo và diệt vi khuẩn gây bệnh trên tôm sú như: Vibro alginolyticus,

V harveyi và V fisheri Theo nhóm nghiên cứu này, vi khuẩn V.alginolyticus có thể

được xem là tác nhân gây bệnh thứ cấp của bệnh đốm trắng có thể được kiểm soát khi

dùng chế phẩm MSM trộn trong thức ăn cho tôm với liều lượng MSM từ U fasciata là 1000mg/kg tôm và từ D nigra 500mg/kg tôm [66]

Mdlolo và cs (2007) đã nghiên cứu thành phần hóa học và khả năng kháng

khuẩn của dịch chiết rút từ hai loài cây thuộc giống Phyllanthus spp (Phyllanthus parvulus và P burchellii) ở phía nam châu Phi và đã thông báo rằng, các sản phẩm

trao đổi chất thứ cấp trong dịch chiết từ lá của 2 loài thảo dược đã có khả năng ức chế

Trang 33

hầu hết các loài vi khuẩn sau: Escherichia coli, Pseudomonas aeruginosa, Proteus mirabilis, Serratia marcesens trong điều kiện thí nghiệm, thậm chí ở cả nồng độ thấp

0.16 ppm Một nghiên cứu khác Đỗ Thị Hòa và cs (1998) đã thử nghiệm khả năng

kháng vi khuẩn của dịch chiết rút từ củ tỏi và cây diệp hạ châu (Phyllanthus sp) bằng

phương pháp đào rãnh và đã thông báo rằng, dịch chiết rút từ 2 loại thảo dược này có

khả năng diệt khuẩn cao với một số vi khuẩn gây bệnh ở tôm và cá như: Vibrio parahaemolyticus, V alginolyticus và Aeromonas hydrophyla, đường kháng khuẩn có

độ lớn từ 1,8-2,0 cm khi được chiết rút với dung môi là cồn etylíc [51]

Vanichkull và cs (2010) đã thông báo rằng, khả năng kháng với vi khuẩn Vibrio haveyi của tôm chân trắng (P vannamei) đã tăng cao có ý nghĩa so với tôm đối chứng khi bổ sung vào thức ăn của tôm từ 25-50mg sản phẩm chiết rút từ củ nghệ (Curcuma longa) trong dung môi là cồn etylic/1kg thức ăn tôm [71]

Burgents và cs (2004) đã chứng minh rằng, khi bổ sung nấm men (Diamant V

XP yeast culture) vào thức ăn của tôm chân trắng với liều từ 0,5-1% khẩu phần thức ăn hàng này đã có tác dụng làm tăng có ý nghĩa tỷ lệ sống sót của tôm chân trắng khi bị

tấn công xâm nhập bởi Vibrio sp [38]

Balcázar và cs (2007) đã thông báo về hiệu quả của việc bổ sung các dòng vi

khuẩn có đặc tính probiotic là Bacillus subtilis, Roselbacter gallaeciensis và Pseudomonas aestumarina được phân lập từ đường ruột của tôm chân trắng, lên khả

năng sinh trưởng và sống sót của loài tôm này sau 28 ngày cho ăn [36]

Chiayvareesajja và cs (2006) đã phân tích về đặc điểm dược lý của kháng sinh oxytetrracyclin (OTC) trong cơ thể của tôm chân trắng trưởng thành Nghiên cứu này

đã chứng tỏ rằng, dư lượng của OTC đã được tìm thấy ở nhiều nội tạng, đặc biệt ở đường tiêu hóa và tại đây thuốc kháng sinh được đào thải ra môi trường Có tới gần 60% nồng độ thuốc đã dùng cho mỗi con tôm được tìm thấy trong đường ruột của nó

và đây chính là con đường chính để dư lượng kháng sinh OTC được đào thải ra ngoài

cơ thể [39]

Wang và Gu (2010) đã nghiên các probiotic được tạo ra từ các chủng vi khuẩn

như: Lactobacillus acidophillus; Rhodopeudomonas palustris và Bacillus coagulans,

rồi được bổ sung vào môi trường nước ao nuôi hàng ngày (với mật độ 1x107cfu/ml) kết quả đã ghi nhận sự ảnh hưởng có lợi lên sinh trưởng và phản ứng miễn dịch của tôm chân trắng (có khối lượng trung bình là 3,38g/con), các chủng vi khuẩn này đã cải thiện được khối lượng cuối cùng của tôm sau 35 ngày thí nghiệm so với đối chứng [75]

Thompson và cs (2010), đã thông báo rằng, từ 10 loài vi khuẩn thuộc giống

Vibrio, đã phát hiện ra 2 loài là V gazogenes và V alginolyticus có hoạt tính đối

kháng với các loài vi khuẩn khác trong giống này Do vậy, khi thức ăn tổng hợp được

Trang 34

bao bằng chất kitin hoặc kitin + vi khuẩn V gazogenes cho tôm chân trắng ăn, đã có

tác dụng làm giảm số lượng vi khuẩn Vibrio trong ruột tôm, thay đổi số lượng tế bào máu trong hemolymph và chất lượng của tổ chức gan tụy [70]

Kanmani và cs (2010) đã thông báo lần đầu tiên về loài vi khuẩn Streptococcus phocae không làm tan máu (non hemolytic) có nguồn gốc từ ruột của tôm he Ấn độ (P.indicus) đã có hoạt tính như một probiotic Loài vi khuẩn này có thể kìm hãm các vi

khuẩn gram dương và vi khuẩn gram âm bằng cách tiết ra chất kháng vi sinh vật có hoạt tính như bacteriocin hoặc cạnh tranh chiếm chỗ trong môi trường nước hay trong

cơ thể vật nuôi Khi bổ sung vào thức ăn cho tôm sú (P.monodon) một liều 10ml probiotic làm từ chủng vi khuẩn S phocae này đã duy trì được tỷ lệ sống của tôm sau cảm nhiễm Vibrio harveyi là 100%, trong khi đó chỉ có 50% tôm sống sót ở nghiệm

thức đối chứng [46]

1.4 Tình hình dịch bệnh ở tôm chân trắng tại Việt Nam

Sau thời gian nhập nội và phát triển đối tượng này tại Việt Nam từ năm 2001 đến nay, hiệu quả kinh tế xã hội mà đối tượng này mang lại là rất lớn Nhiều vùng môi trường bị suy thoái, không còn phù hợp cho việc nuôi tôm sú nữa đã chuyển sang nuôi tôm chân trắng đạt hiệu quả kinh tế cao Tuy nhiên, hiện nay dịch bệnh đã xuất hiện hầu hết ở các địa phương trong cả nước gây thiệt hại lớn về kinh tế cho người nuôi Theo báo cáo của Tổng cục Thủy sản năm 2009 [3] diện tích nuôi tôm chân trắng bị thiệt hại bởi dịch bệnh là 2.196 ha/16.611 ha thả nuôi, chiếm 13,2% cao hơn 9,5% so với cùng kỳ năm 2008 (470 ha/12.411 ha, chiếm 3,7%) Số lượng con giống thiệt hại khoảng 243 triệu con, ước giá trị thiệt hại khoảng 7 tỷ đồng Năm 2010 diện tích nuôi tôm chân trắng bị dịch bệnh là 2.039 ha/25.397 ha thả nuôi, chiếm 8% Cà Mau là tỉnh có diện tích tôm bị bệnh nhiều nhất chiếm 70,33% diện tích nuôi tôm trên

cả nước; sau đó là các tỉnh Ninh Thuận, Phú Yên và Quảng Ngãi Năm 2011, cả nước

có 3.590 ha diện tích nuôi tôm chân trắng bị dịch bệnh, các tỉnh có diện tích thiệt hại lớn là Long An, Sóc Trăng, Bạc Liêu Năm 2012 cả nước có 6.945 ha diện tích nuôi tôm chân trắng bị dịch bệnh, các tỉnh có diện tích thiệt hại lớn là Trà Vinh, Sóc Trăng

Trang 35

Bảng 1.2 Diện tích nuôi tôm chân trắng bị tác hại của bệnh qua các năm

Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012

TT Địa phương

DT dịch bệnh (ha)

% so với

DT nuôi

DT dịch bệnh (ha)

% so với

DT nuôi

DT dịch bệnh (ha)

% so với

DT nuôi

DT dịch bệnh (ha)

Trang 36

1.5 Điều kiện tự nhiên tỉnh Quảng Ngãi

1.5.1 Đặc điểm khí hậu

Quảng Ngãi nằm ở trung tâm khu vực Châu Á gió mùa, khí hậu một năm chia thành 2 mùa rõ rệt: Mùa khô từ tháng 01 đến tháng 8, thời tiết khô, nóng kéo dài; mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 12, thời tiết lạnh, ẩm ướt [34]

b Chế độ mưa

Quảng Ngãi là tỉnh có lượng mưa trung bình hàng năm 2.287mm, nhưng chỉ tập trung vào tháng 9 đến tháng 12, lượng mưa trong những tháng này chiếm 73 – 75% lượng mưa cả năm, còn các tháng khác thì khô hạn, khô nhất là tháng 3, lượng mưa trung bình trong tháng này chỉ đạt 25,9mm Trung bình hàng năm theo ước tính có 129 ngày mưa, sự phân phối lượng mưa không đều và mùa khô kéo dài gây khó khăn cho việc cung cấp nguồn nước cho nông nghiệp và NTTS [34]

d Chế độ gió và hướng gió chủ đạo theo mùa

Mùa đông, gió thịnh hành là gió Bắc và Đông Bắc, tốc độ gió trung bình 2,4 – 3,3 m/s; mùa hè có gió Đông và gió Đông Nam, tốc độ trung bình 2,86m/s Hàng năm

có trên 130 ngày có gió cấp 6 trở lên, số ngày hoạt động khai thác tốt trên biển là 220 – 230 ngày/năm Thời kỳ xuất hiện tốc độ gió lớn từ tháng 5 đến tháng 11 với tốc độ

Trang 37

cực đại từ 20 – 40 km/h Vào mùa gió Đông Bắc tàu thuyền phải di chuyển ngư trường vào phía Nam [34]

1.5.2 Chế độ thủy văn

a Thủy triều, dòng chảy và độ mặn

Vùng biển Quảng Ngãi có chế độ nhật triều không đều, hàng tháng có 18 – 22 ngày nhật triều, số ngày còn lại là bán nhật triều; độ lớn trung bình kỳ nước cường là 1,2 – 2 m, độ lớn trung bình kỳ nước kém là 0,5 m, thuận lợi cho việc phát triển NTTS nước lợ, mặn [34]

Chế độ dòng chảy do dòng triều lưu và hải lưu đóng vai trò quyết định Hiện tượng nước dâng có thể do dao động gió mùa hoặc do bão gây ra, có thể đạt độ cao từ 1,5 – 3m tùy theo hướng gió và vận tốc gió Thủy triều đưa nước mặn vào sâu trong vùng hạ lưu các con sông Trà Bồng, Trà Khúc, Châu Me, sông Vệ, sông Thoa, hình thành nên những vùng nước có tiềm năng cho NTTS nước lợ [34]

Độ mặn nước biển ổn định ở mức cao 33 – 34‰, nhưng độ mặn giảm dần ở các vùng cửa sông hoặc vào sâu trong sông Ảnh hưởng của thủy triều và các con sông đã làm cho độ mặn các vùng nước ven biển khác nhau tùy theo địa hình và mùa vụ trong năm (mùa khô, mùa mưa) Sự thay đổi độ mặn, nhiệt độ, khí hậu của từng vùng nước trong một năm đã quyết định mùa vụ nuôi tôm của từng vùng ở tỉnh Quảng Ngãi [34]

Quảng Ngãi có 4 con sông lớn là: Sông Trà Bồng, Sông Trà Khúc, Sông Vệ và sông Trà Câu và có 2 đầm phá: đầm An Khê và đầm Sa Huỳnh đã cung cấp nguồn nước phong phú phục vụ phát triển ngành nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản Tuy nhiên, do có nhiều cửa sông, nên vùng ven biển của Quảng Ngãi có độ mặn biến động theo mùa mưa, khô rất rõ rệt

Nguồn nước ngầm phân bố rộng từ đồng bằng đến vùng đất cát ven biển và có chất lượng tốt Dự báo có thể khai thác nước ngầm khu vực đồng bằng sông Vệ là 1.000 m3/ngày-đêm, khu vực đồng bằng Mộ Đức – Đức Phổ là 2.000 m3/ngày-đêm [34] Điều này cho phép tỉnh Quảng Ngãi phát triển nghề nuôi tôm trên cát, là hình thức nuôi tôm có sự dụng nước ngầm

c Bão, lũ lụt

Các trận bão đổ vào Quảng Ngãi thường tập trung từ tháng 9 đến tháng 12 dương lịch, nhất là các tháng 9,10 và 11, tần suất trung bình mỗi năm có khoảng 1,04

Trang 38

cơn bão xuất hiện và gây ảnh hưởng trực tiếp đến Quảng Ngãi, song cũng có năm có

từ 3 – 4 cơn bão ảnh hưởng trực tiếp và cá biệt cũng có năm không có cơn bão nào như năm 1991, 1997 [34]

Mưa lũ ở Quảng Ngãi thường tập trung từ tháng 10 đến tháng 12, lưu lượng dòng chảy mùa mưa lũ chiếm từ 60 – 75% dòng chảy của cả năm và có module dòng chảy lũ lớn nhất nước ta (khoảng 150 – 200 l/s/km2), tháng có lưu lượng dòng chảy lớn nhất là tháng 11, chiếm 25 – 30% lượng dòng chảy cả năm Tháng 5 – 6 trong một

số năm cũng xuất hiện lũ tiểu mãn, nhưng những trận lũ này thường có mức độ không lớn [34] Nắm được quy luật bão và lũ lụt ở địa phương là cơ sở quan trọng để các nhà quản lý và người nuôi tôm ở đây xác định mùa vụ nuôi tôm trong một năm để tránh bị thiệt hại bởi các yếu tố thời tiết này

Trang 39

Chương II- PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2 1 Đối tượng nghiên cứu

Nghề nuôi tôm chân trắng (Penaeus vanamei, Boone, 1931) thương phẩm (kỹ thuật nuôi và tình hình bệnh) ở Quảng Ngãi

2 2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Thời gian nghiên cứu: Từ 01/7/2012 đến 30/4/2013

- Địa điểm nghiên cứu: Tại 5 huyện ven biển có nuôi tôm chân trắng của tỉnh Quảng Ngãi Bao gồm: Bình Sơn, Sơn Tịnh, Tư Nghĩa, Mộ Đức và Đức Phổ

2 3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu của đề tài

Hiện trạng kỹ thuật nuôi và tình hình bệnh trên tôm

chân trắng Penaeus vanamei tại tỉnh Quảng Ngãi

Hoạt động điều tra

Hiện trạng

nghề nuôi tôm

chân trắng

Hiện trạng kỹ thuật nuôi tôm chân trắng

Hiện trạng bệnh trên tôm chân trắng

Đề xuất các giải pháp về kỹ thuật và quản lý để hạn chế dịch bệnh

nhằm đảm bảo phát triển nuôi tôm chân trắng theo hướng ổn định

và bền vững ở tỉnh Quảng Ngãi

Hình 2.1 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu đề tài

Ngày đăng: 05/03/2015, 14:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
28. Lê Anh Tuấn (2002), “ Du nhập tôm thẻ chân trắng những khía cạnh cần xem xét”. Tạp chí Khoa học Công nghệ, (số 7/2002), trang 30-31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Du nhập tôm thẻ chân trắng những khía cạnh cần xem xét”. Tạp chí Khoa học Công nghệ
Tác giả: Lê Anh Tuấn
Năm: 2002
29. Lê Anh Tuấn (2011), Bài giảng cao học Phương pháp bố trí thí nghiệm và xử lý số liệu trong nuôi trồng thủy sản Khác
30. UBND tỉnh Quảng Ngãi (2010 – 2012), Báo cáo tình hình phát triển kinh tế xã hội tỉnh Quảng Ngãi năm 2012 Khác
39. Chiayvareesajja, S., A. Chandumpai, Y. Theappara, D. Faroongsarng (2006), The complete analysis of oxytetracycline pharmacokinetics in farmed Pacific Khác
40. Chuchird, N. and C. Limsuwan (2005), The viability of Taura Syndrome Virus in low-salinity water. Kasetsart J. (Nat. Sci.), 39, 406 - 410 Khác
47. Lightner, D.V. (2004a), The Penaeid shrimp viral pandemics due to IHHNV, WSSV, TSV and YHV: History in the Americas and current status, proc.U.S.-Japan Cooperative program in Natural Resources. Aquaculture panel Symp.2003, 32, p.1-20 Khác
48. Lightner D.V., C.R. Pantoja, B.T. Poulos, K.F.J. Tang, R.M. Redman, T. Pasos De Andrade and T.R. Bonami (2004b), Infectious Myonecrosis, new disease in pacific white shrimp. Global Aquaculture Advocate, 7, p. 85 Khác
50. Lightner, D.V. (1996), A Hand Book of Shrimp Pathology and Diagnostic Procedures for Diseases of Penaeid Shrimp. World Aquaculture Society, 304p Khác
51. Mdlolo, C. M., Shandu, J. S. and Oyedeji, O. A. (2007), Phytochemical constituents and antimicrobial studies of two South African Phyllanthus species.African Journal of Biotechnology Vol. 7 (5), p. 639-643 Khác
55. OIE (2009a), White Spot Disease-WSD, Manual of Diagnostic tests for Aquatic animals, OIE, Paris, p. 129-139 Khác
56. OIE (2009b), Taura Syndrome-TS. Manual of Diagnostic tests for Aquatic animals, OIE, Paris, p. 113-128 Khác
57. OIE (2009c), Infectious Myonecrosis-IM, Manual of Diagnostic tests for Aquatic animals, OIE, Paris, p. 96-104 Khác
58. OIE (2009d), Infectious hypodermal and haematopoietic necrosis-IHHN, Manual of Diagnostic tests for Aquatic animals, OIE, Paris, p. 86-95 Khác
59. OIE (2009e), Yellow Head Disease-YHD, Manual of Diagnostic tests for Aquatic animals, OIE, Paris, p. 152-165 Khác
62. Poulos B.T., D.V. Lightner (2006a), Detection of Infectious Myonecrosis virus (IMNV) in Penaeid shrimp by reverse trancriptase-polymerase chain reaction (RT-PCR). Dis. Aquat, Org., 73 (1), p. 69-72 Khác
63. Raidal S., G. Gross, S. Fenwick, P. Nicholls, B. Nowak, K. Elland and F Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Hình thái của tôm chân trắng (Penaeus vannamei) - hiện trạng kỹ thuật nuôi và tình hình bệnh trên tôm chân trắng (penaeus vannamei boone, 1931) tại tỉnh quảng ngãi
Hình 1.1 Hình thái của tôm chân trắng (Penaeus vannamei) (Trang 13)
Bảng 1.2. Diện tích nuôi tôm chân trắng bị tác hại của bệnh qua các năm - hiện trạng kỹ thuật nuôi và tình hình bệnh trên tôm chân trắng (penaeus vannamei boone, 1931) tại tỉnh quảng ngãi
Bảng 1.2. Diện tích nuôi tôm chân trắng bị tác hại của bệnh qua các năm (Trang 35)
2.3.1. Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu của đề tài - hiện trạng kỹ thuật nuôi và tình hình bệnh trên tôm chân trắng (penaeus vannamei boone, 1931) tại tỉnh quảng ngãi
2.3.1. Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu của đề tài (Trang 39)
Hình 2.2. Bản đồ vùng nuôi tôm chân trắng tỉnh Quảng Ngãi - hiện trạng kỹ thuật nuôi và tình hình bệnh trên tôm chân trắng (penaeus vannamei boone, 1931) tại tỉnh quảng ngãi
Hình 2.2. Bản đồ vùng nuôi tôm chân trắng tỉnh Quảng Ngãi (Trang 40)
3.1.2. Hình thức nuôi và năng suất nuôi tôm chân trắng ở Quảng Ngãi - hiện trạng kỹ thuật nuôi và tình hình bệnh trên tôm chân trắng (penaeus vannamei boone, 1931) tại tỉnh quảng ngãi
3.1.2. Hình thức nuôi và năng suất nuôi tôm chân trắng ở Quảng Ngãi (Trang 45)
Bảng 3.4: Độ tuổi và giới tính của người nuôi tôm chân trắng ở Quảng Ngãi (n=230) - hiện trạng kỹ thuật nuôi và tình hình bệnh trên tôm chân trắng (penaeus vannamei boone, 1931) tại tỉnh quảng ngãi
Bảng 3.4 Độ tuổi và giới tính của người nuôi tôm chân trắng ở Quảng Ngãi (n=230) (Trang 48)
Hình thức nuôi (n=230) - hiện trạng kỹ thuật nuôi và tình hình bệnh trên tôm chân trắng (penaeus vannamei boone, 1931) tại tỉnh quảng ngãi
Hình th ức nuôi (n=230) (Trang 51)
Bảng 3.7: Diện tích và độ sâu của ao nuôi tôm chân trắng ở Quảng Ngãi - hiện trạng kỹ thuật nuôi và tình hình bệnh trên tôm chân trắng (penaeus vannamei boone, 1931) tại tỉnh quảng ngãi
Bảng 3.7 Diện tích và độ sâu của ao nuôi tôm chân trắng ở Quảng Ngãi (Trang 52)
Hình thức nuôi  Các chỉ tiêu kỹ thuật  QCCT - hiện trạng kỹ thuật nuôi và tình hình bệnh trên tôm chân trắng (penaeus vannamei boone, 1931) tại tỉnh quảng ngãi
Hình th ức nuôi Các chỉ tiêu kỹ thuật QCCT (Trang 55)
Hình thức nuôi Chỉ tiêu - hiện trạng kỹ thuật nuôi và tình hình bệnh trên tôm chân trắng (penaeus vannamei boone, 1931) tại tỉnh quảng ngãi
Hình th ức nuôi Chỉ tiêu (Trang 59)
Hình thức - hiện trạng kỹ thuật nuôi và tình hình bệnh trên tôm chân trắng (penaeus vannamei boone, 1931) tại tỉnh quảng ngãi
Hình th ức (Trang 59)
Bảng 3.13: Thời gian của một vụ nuôi thương phẩm tôm chân chân trắng ở QN - hiện trạng kỹ thuật nuôi và tình hình bệnh trên tôm chân trắng (penaeus vannamei boone, 1931) tại tỉnh quảng ngãi
Bảng 3.13 Thời gian của một vụ nuôi thương phẩm tôm chân chân trắng ở QN (Trang 62)
Bảng 3.20: Một số bệnh đã gặp ở tôm chân trắng nuôi thương phẩm tại Quảng Ngãi 2012 - hiện trạng kỹ thuật nuôi và tình hình bệnh trên tôm chân trắng (penaeus vannamei boone, 1931) tại tỉnh quảng ngãi
Bảng 3.20 Một số bệnh đã gặp ở tôm chân trắng nuôi thương phẩm tại Quảng Ngãi 2012 (Trang 71)
Hình 3.6: Những bệnh thường gặp ở tôm chân trắng thương phẩm tại Quảng Ngãi - hiện trạng kỹ thuật nuôi và tình hình bệnh trên tôm chân trắng (penaeus vannamei boone, 1931) tại tỉnh quảng ngãi
Hình 3.6 Những bệnh thường gặp ở tôm chân trắng thương phẩm tại Quảng Ngãi (Trang 74)
Bảng 3.22: Mùa vụ xuất hiện của các bệnh ở tôm chân trắng nuôi hương phẩm - hiện trạng kỹ thuật nuôi và tình hình bệnh trên tôm chân trắng (penaeus vannamei boone, 1931) tại tỉnh quảng ngãi
Bảng 3.22 Mùa vụ xuất hiện của các bệnh ở tôm chân trắng nuôi hương phẩm (Trang 75)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w