Họ đang nỗ lực khai thác những ưu thế vượt trội về vận tải hàng hoá bằng đường biển với chi phí rẻ hơn nhiều lần so với các phương tiện vận tải, giao thông khác, cũng như đang có những c
Trang 3BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
TRẦN QUỐC TUYỂN
ĐIỀU TRA, ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG KINH TẾ - XÃ HỘI NGHỀ CÁ
TẠI HUYỆN ĐẢO PHÚ QUÝ – TỈNH BÌNH THUẬN
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I 3
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.2 Tình hình nghiên cứu về biển đảo ở Việt Nam 6
1.2.1 Lịch sử các hoạt động điều tra nghiên cứu tại vùng biển đảo Phú Quý 7
1.2.1.1 Điều kiện tự nhiên, khí tượng - thuỷ văn vùng biển Phú Quý 7
1.2.1.2 Đa dạng sinh học, nguồn lợi và các hệ sinh thái vùng biển Phú Quý 11
1.2.1.3 Tài nguyên nước 13
1.2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội huyện đảo Phú Quý 14
1.2.2.1 Dân số 14
1.2.2.2 Các ngành kinh tế 14
1.2.2.3 Lực lượng lao động nghề cá 15
1.2.2.4 Số lượng tàu thuyền nghề cá 16
1.2.2.5 Loại nghề khai thác hải sản 16
CHƯƠNG II 20
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CƯU 20
2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 20
2.2 Phương pháp nghiên cứu 20
2.2.1 Thu thập số liệu thứ cấp 20
2.2.2 Thu thập số liệu sơ cấp 21
2.2.3 Xử lý và phân tích số liệu 21
2.2.3.1 Xử lý số liệu 21
2.2.3.2 Phân tích số liệu 21
2.3 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 22
CHƯƠNG III 22
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THẢO LUẬN 23
3.1 Hiện trạng dân số, văn hoá - xã hội, giáo dục và y tế 23
3.1.1 Dân cư, lao động 23
3.1.2 Y tế, giáo dục, văn hoá, xã hội 25
3.1.3 Cơ sở hạ tầng 26
3.2 Hiện trạng hoạt động kinh tế - xã hội cộng đồng cư dân đảo Phú Quý 29
3.2.1 Khai thác hải sản: 29
3.2.2 Chế biến hải sản: 31
3.2.3 Nuôi trồng hải sản: 31
3.2.2 Nông Lâm Nghiệp 33
3.2.3 Dịch vụ hậu cần, du lịch 33
3.2.4 Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp 34
3.2.5 Các giải pháp cho sự phát triển của huyện đảo Phú Quý 35
3.2.6 Một số cơ chế, chính sách ưu đãi đối với huyện đảo Phú Quý 37
Trang 53.3 Những tác động chủ yếu đối với môi trường, nguồn lợi và đa dạng sinh học tại Phú
Quý 38
3.3.1 Những tác động chưa tích cực của con người đến môi trường, nguồn lợi và đa dạng sinh học Phú Quý 38
3.3.1.1 Khai thác hải sản 38
3.3.1.2 Nuôi trồng hải sản 41
3.3.1.3 Du lịch- dịch vụ 42
3.3.1.4 Xây dựng cơ sở hạ tầng 43
3.3.1.5 Tác động của bão, sóng 43
3.3.1.6 Biến đổi khí hậu 44
3.3.2 Những giải pháp về chính sách và giáo dục 45
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN 46
4.1 Hiện trạng kinh tế - xã hội nghề cá huyện đảo Phú Quý 46
4.2 Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển kinh tế - xã hội nghề cá Phú Quý 46
TÀI LIỆU THAM KHẢO - 48 -
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Giá trị sản xuất các ngành kinh tế qua các năm (theo giá so sánh 1994) 15
Bảng 1.2 Lao động nghề cá ở huyện Phú Quý, năm 1999 15
Bảng 1.3 Phân bố tàu thuyền theo địa phương của huyện Phú Quý năm 2001 16
Bảng 1.4 Sản lượng khai thác hải sản huyện Phú Quý giai đoạn 1998-2009 17
Bảng 1.5 Giá trị sản xuất thuỷ sản (khai thác) trên địa bàn huyện Phú Quý 17
Bảng 3.1 Số lượng tàu thuyền, công suất, lao động tham gia khai thác hải sản 30
Bảng 3.2 Diện tích nuôi qua các năm (m2) 31
Bảng 3.3 Số lượng tàu thuyền, công suất và sản lượng khai thác thủy sản tại vùng biển Phú Quý, năm 2005-2009 39
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ VÀ ĐỒ THỊ Hình 1.1 Biến động nhiệt độ tầng mặt nước biển ở đảo Phú Quý (2002-2008) 9
Hình 1.2 Biến động lượng mưa (mm/ngày) tại đảo Phú Quý, năm 2002-2008 10
Hình 1.3 Dao động mực nước biển theo giờ ở đảo Phú Quý trong năm 2008 11
Hình 1.4 Biến động và cơ cấu giới tính dân số đảo Phú Quý, năm 1991-2001 14
Hình 2.1: Địa điểm nghiên cứu 20
Hình 3.1 Xu hướng biến động dân số huyện đảo Phú Quý, năm 2005 – 2009 23
Hình 3.2 Lực lượng lao động huyện Phú Quý phân theo ngành nghề năm 2009 24
Hình 3.3 Một số hình ảnh về cơ sở hạ tầng huyện đảo Phú Quý 29
Hình 3.4 Nuôi lồng bè ở Bãi Dù -Phú Quý 31
Hình 3.5 Biến động sản lượng cá biển nuôi tại đảo Phú Quý giai đoạn 2006 – 2009 32
Hình 3.6 Biến động sản lượng và năng suất khai thác hải sản vùng biển Phú Quý, năm 2005-2009 40
Hình 3.7 Bờ biển Phú Quý bị sạt lở do biến đổi khí hậu 44
Trang 7Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan luận văn này đƣợc hoàn thành dựa trên các số liệu của dự án
“Khảo sát, xây dựng báo cáo Qui hoạch, lập bản đồ Qui hoạch thuộc dự án Xây dựng qui hoạch chi tiết khu bảo tồn biển Phú Quý - Bình Thuận thuộc Nhiệm vụ
số 8 của Đề án 47: Điều tra tổng thể đa dạng sinh học và nguồn lợi thủy, hải sản vùng biển Việt Nam; Quy hoạch và xây dựng hệ thống các khu bảo tồn biển phục
vụ phát triển bền vững” Các kết quả, số liệu trong luận văn là trung thực và chƣa
đƣợc dùng cho bất cứ luận văn cùng cấp nào khác
Tác giả
Trần Quốc Tuyển
Trang 8Xin chân thành cảm ơn TS Phạm Xuân Thủy đã tận tình hướng dẫn tôi
để hoàn thành luận văn
Xin chân thành cảm ơn các thành viên của dự án “Xây dựng qui hoạch chi tiết khu bảo tồn biển Phú Quý - Bình Thuận” đã góp ý để tôi hoàn thành nội dung luận văn.
Trang 10MỞ ĐẦU
Trên thế giới, thế kỷ XXI được coi là thế kỷ của nền kinh tế biển Các quốc gia
có biển trên thế giới đã và đang xúc tiến các kế hoạch hành động khai thác biển, ven biển và hải đảo một cách mạnh mẽ Các quốc gia có biển, đảo trong khu vực như Thái Lan, Philippin, Inđônêxia, Malaysia cũng đang tăng cường sức mạnh kinh tế trên biển Họ đang nỗ lực khai thác những ưu thế vượt trội về vận tải hàng hoá bằng đường biển với chi phí rẻ hơn nhiều lần so với các phương tiện vận tải, giao thông khác, cũng như đang có những chiến lược, kế hoạch và quan tâm đặc biệt trong khai thác tài nguyên biển, đảo nói chung phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội Có thể thấy rằng do có những ưu thế đặc biệt về tài nguyên biển, các điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển đa dạng các ngành sản xuất, kinh tế, hệ thống các đảo ven bờ biển của các quốc gia có biển hiện đang được quan tâm và đầu tư khá mạnh mẽ cho nhiều mục đích khác nhau đã đạt được những thành tựu đáng kể và đưa đến những hiệu quả góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội, bảo tồn và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên biển, đảo
Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là tài nguyên biển Phú Quý rất phong phú và đa dạng Đây là những điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội của huyện đảo Bên cạnh đó, những năm gần đây, cùng với sự phát triển của nhiều ngành kinh tế, đặc biệt là yếu tố giao thương giữa Bình Thuận với các địa phương trong nước và với các quốc gia trong khu vực, đảo Phú Quý đã được nhìn nhận như một hòn đảo có giá trị lớn lao về du lịch, dịch vụ, tham quan, nghỉ dưỡng…
Tuy nhiên, môi trường sinh thái, tính đa dạng sinh học và nguồn lợi tài nguyên biển tại Phú Quý hiện nay đang chịu những tác động có hại do sử dụng không hợp lý
và bị khai thác quá mức Vì vậy, vấn đề sử dụng bền vững tài nguyên biển đang được các nhà quản lý, các nhà khoa học và cộng đồng địa phương rất quan tâm Do đó, việc
thực hiện đề tài “Điều tra, đánh giá thực trạng kinh tế - xã hội nghề cá tại huyện
phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội mới giúp cho những nhà quản lý lựa chọn được những vấn đề cốt yếu và tập trung cho ưu tiên quản lý, tạo tiền đề cho việc bảo vệ và
sử dụng nguồn lợi tài nguyên một cách bền vững, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội huyện đảo
Trang 11Mục tiêu nghiên cứu:
Đánh giá đƣợc hiện trạng kinh tế - xã hội nghề cá trong cộng đồng ngƣ dân huyện đảo Phú Quý
Đề xuất các giải pháp kinh tế - xã hội để phát triển nghề cá nhằm cải thiện đời sống cho cộng đồng ngƣ dân huyện đảo Phú Quý
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Đào tạo nâng cao trình độ, kinh nghiệm và khả năng nghiên cứu khoa học cho bản thân học viên
Giúp cho các nhà quản lý có đƣợc những thông tin chính xác về cơ cấu kinh
tế-xã hội nghề cá tại huyện đảo Phú Quý là cơ sở khoa học phục vụ cho việc xây dựng chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội nghề cá tại huyện đảo Phú Quý một cách bền vững
Trên cơ sở điều tra, đánh giá đƣợc thực trạng kinh tế-xã hội nghề cá tại đảo Phú Quý giúp các nhà khoa học đƣa ra đƣợc các giải pháp nhằm quản lý, khai thác hợp lý nguồn tài nguyên biển, đảo phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội
Nội dung nghiên cứu
1 Điều tra, nghiên cứu hiện trạng và xu thế phát triển kinh tế - xã hội nghề cá huyện đảo Phú Quý
2 Đề xuất một số giải pháp khoa học, kỹ thuật nhằm cải thiện cuộc sống cộng đồng ngƣ dân huyện đảo Phú Quý
Trang 12CHƯƠNG I TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Tình hình nghiên cứu về biển đảo ở một số quốc gia trên thế giới
Ở nhiều nước trên thế giới, nhất là một số nước có trình độ phát triển kinh - tế xã hội cao như Hoa Kỳ, Đức, Pháp, Hà Lan, Na Uy, Nhật Bản, vấn đề quản lý tổng hợp
và khai thác hợp lý nguồn lợi các vùng lãnh thổ ven biển, đảo kết hợp phát triển kinh
tế biển đã được quan tâm nghiên cứu và tổ chức khai thác tương đối có hiệu quả Ví dụ
ở Hà Lan, một nước có độ cao tuyệt đối của địa hình phần đồng bằng thấp hơn so với mực nước biển Từ lâu họ đã chú trọng quy hoạch, xây dựng các công trình ngăn chặn các tai biến môi trường, cũng như các công trình kỹ thuật sinh học khác phục vụ mục đích quản lý tổng hợp vùng ven biển và kết hợp với chúng là để khai thác hiệu quả, bền vững các nguồn lực tài nguyên tự nhiên cho phát triển kinh tế - xã hội của nước mình
Mĩ, đất nước có vùng biển nằm trong quyền tài phán quốc gia lớn nhất trên thế giới, cũng chính là nước đã có nhiều họat động đi tiên phong trong cộng đồng quốc tế trong công tác xây dựng, ban hành chính sách, chiến lược liên quan đến biển Là một mắt xích quan trọng trong tiến trình phát triển khoa học kĩ thuật, nghiên cứu, điều tra
về biển cả bao la và đại dương mênh mông được Mĩ hết sức quan tâm đầu tư cả nhân lực và tài lực Trong bối cảnh này, vào năm 1966 Ủy ban của tổng thống về tài nguyên
và khoa học kĩ thuật biển (thường được gọi là Ủy ban Stratton) đã được thành lập theo như quy định của Luật Phát triển Kĩ thuật và Các nguồn tài nguyên biển (Marine Resources and Engineering Development Act) do tổng thống Lyndon Johnson kí ban hành năm đó Sau đó, đến năm 1969, Ủy ban đã hoàn thành báo cáo “Our nation and the Sea” (Biển và Đất nước chúng ta) Đây là báo cáo được đánh giá là báo cáo nghiên cứu đầu tiên thuần túy về chính sách biển của Mĩ với 126 khuyến nghị chính sách và trong đó nhiều nội dung đã được chuyển thể thành hành động thực tế Một trong các ví
dụ điển hình là việc thành lập Cục khí tượng- hải dương (NOOA) năm 1970 và việc thực thi chính sách quản lý đới bờ vào năm 1972 So với các quốc gia khác, chính sách biển của Mĩ ngay trong thập niên những năm 60-70 của thế kỉ trước cơ bản đã được hình thành và có hình thái cụ thể Bước vào những thập niên tiếp theo, nước Mĩ mặc
Trang 13dù trải qua nhiều nhiệm kì của các tổng thống khác nhau, nhưng nhìn chung các chính sách, pháp luật liên quan đến biển của Mĩ ngày càng được hòan thiện
Tiếp sau Mĩ, Úc cũng là quốc gia có diện tích thủy vực lớn trong phạm vi quyền tài phán quốc gia trên thế giới, ngay từ những năm 1998, Úc đã hòan thành báo cáo chính sách với tiêu đề "Chính sách biển của Úc: Chăm sóc, hiểu và sử dụng khôn ngoan (Australia’s Ocean policy: caring, understanding, using wisely)" với nguyên tắc phát triển bền vững sinh thái, Úc cũng đã và đang rất nỗ lực quản lý tổng hợp biển thông qua các hành động cụ thể đó là: Thành lập Ủy ban Bộ trưởng Biển Quốc gia, trong đó Bộ trưởng Bộ Môi trường và Di sản làm chủ tịch để giám sát phân chia vùng biển quản lý rộng lớn theo hệ sinh thái biển, rồi lựa chọn các khu vực để triển khai qui hoạch biển theo khu vực đã được đông đảo các cơ quan ban ngành và các bên có liên quan tham gia xây dựng với sự tham vấn nhiều tầng lớp xã hội nhằm quản lý tổng hợp biển Đến nay, qui họach cho khu vực Đông Nam trong vùng thuộc quyền tài phán của
Úc đã được hòan tất và kế họach cho khu vực khác cũng được triển khai
Canada, hiện là quốc gia giữ vị trí số 5 về diện tích thủy vực trong 200 hải lý, cũng đã sớm triển khai công tác quản lý tổng hợp biển thông qua việc sớm giao cho
Bộ Ngư nghiệp đảm nhiệm, phụ trách công tác liên quan đến an ninh/an toàn trên biển, giao thông trên biển, thủy sản và vấn đề môi trường biển Năm 1997, Canada đã xây dựng và ban hành Luật biển, đây là bộ Luật phổ quát liên quan đến biển của Canada, trong đó điều 30 của Luật qui định nguyên tắc cơ bản của chiến lược biển quốc gia bao gồm (1) Nguyên tắc phát triển bền vững, (2) Nguyên tắc quản lý tổng hợp các họat động và (3) Nguyên tắc dựa trên cách tiếp cận phòng ngừa (Precaution approach) Dựa trên cơ sở của bô Luật này đến tháng 7 năm 2002, Bộ Ngư nghiệp của Canada cũng đã xây dựng chiến lược và chương trình hành động biển
Một số quốc gia khác, bên cạnh những nỗ lực của các quốc gia hiện đang sở hữu vùng biển rộng lớn như Mĩ, Úc, Canada vừa kể trên, thực tế cho thấy rằng đối với các quốc gia có biển khác, việc khai thác, sử dụng, phát triển và bảo vệ tài nguyên môi trường biển đều là vấn đề có ý nghĩa hết sức quan trọng, hiện tại các quốc gia này cũng đang rất nỗ lực trong công tác quản lý tổng hợp tài nguyên môi trường biển
Trang 14Nhìn qua Châu Á, công tác xây dựng pháp luật, chính sách biển và thành lập các
cơ quan chủ quản về biển cũng đang được triển khai tích cực ở nhiều quốc gia Tại Trung Quốc, vào năm 1964, dưới sự chỉ đạo của Quốc vụ viện Trung quốc, Cục hải dương quốc gia đã được thành lập và được trao nhiệm vụ trọng tâm trong việc họach định chính sách biển của Trung quốc bao gồm công tác phát triển chiến lược phát triển biển, quản lý tổng hợp biển, quản lý phát triển tài nguyên biển, xây dựng chương trình, nhiệm vụ phát triển khoa học kĩ thuật biển quốc gia kể từ đó, hàng lọat các chính sách của Trung quốc đã được xây dựng và ban hành tạo ra một hành lang pháp lý vững chắc hướng đến việc sử dụng và khai thác biển bền vững
Kế bên với Trung quốc, vào năm 1996, Hàn quốc đã thống nhất công tác quản lý biển và đới bờ thuộc quyền quản lý của các Bộ riêng biệt, kể từ đó chính sách biển của Hàn quốc đã có bước phát triển rõ rệt Sau Luật quản lý đới bờ ban hành năm 1999, Hàn quốc đã xây dựng và ban hành chính sách biển và đới bờ quốc gia với tựa đề
"Biển Hàn Quốc 21" vào năm 2000 Ngoài ra, vào năm 2002, Hàn quốc cũng đã xây dựng Luật cơ bản phát triển thủy sản biển và chuẩn bị xây dựng hệ thống pháp luật liên quan đến việc quản lý, sử dụng, phát triển và bảo vệ hiệu quả tài nguyên, môi trường biển Với các kết quả đã đạt được này, vào năm 2002, Hàn quốc đã được tuyên dương trong báo cáo tổng hợp liên quan đến luật biển và biển của Liên Hiệp quốc khi
đề cập đến tầm quan trọng của việc quản lý tổng hợp biển đối với vấn đề biển mang tính liên ngành, như là một quốc gia tiêu biểu trong nỗ lực quản lý tổng hợp biển Tại Nhật Bản, ngay từ những năm 1960 đến 1970 việc cần thiết ban hành luật cơ bản về biển của Nhật bản được thảo luận khá sôi nổi Tuy nhiên sau đó một thời gian dài vấn đề bị lãng quên và mãi đến những năm đầu thế kỉ này, nhiều đề xuất về chính sách biển mới xuất hiện và thảo luận Một bước đi quan trọng dẫn đến việc ban hành chính sách cơ bản về biển đó là việc Quỹ Nghiên cứu Chính sách Biển biên tập và xuất bản báo cáo “Biển và Đề xuất Nhật bản cho chính sách biển thế kỉ 21” (The Oceans and Japan-proposal for a 21st century ocean policy) vào năm 2005, báo cáo được đệ trình cho Chủ tịch Quỹ Nippon Foundation và một số cơ quan chức năng có liên quan Đến năm 2006, báo cáo được gửi tới Tổng thư kí nội các của thủ tướng Abe Trong báo cáo đề xuất này, các đề xuất cụ thể đã được đưa ra liên quan đến việc xây dựng các mục tiêu của chính sách biển, xây dựng một khung (thể chế) để ban hành một luật
Trang 15cơ bản về biển, tăng cường quản lý lãnh hải được mở rộng của quốc gia và hợp tác quốc tế Có thể nói báo cáo đề xuất này là cơ sở quan trọng cho Luật cơ bản về biển của Nhật bản Báo cáo này đã nhận được sự quan tâm của hầu hết các đảng chính trị của Nhật bản, trong không gian chính trị vào thời gian đó, các cuộc thảo luận và mối quan tâm đến chính sách biển ngày càng tăng, kết quả một nhóm nghiên cứu về Luật
cơ bản về biển được thành lập vào tháng 4 năm 2006 Nhóm nghiên cứu này đã có nhiều cuộc hội thảo trong đó có sự tham gia của nhiều thành phần xã hội từ các bộ ngành đến các chuyên gia liên quan về lĩnh vực biển, công nghiệp…và đi đến được kết luận cuối cùng trong báo cáo “Hướng dẫn chính sách sách biển” (Guideline for Ocean Policy) và “Khung của Luật cơ sở về biển” (Outline for a Basic Ocean Law)
Các quốc gia khu vực châu Á khác có biển, đảo như Thái Lan, Singapore, Malaysia Philippin, Indonesia, họ cũng đã có những công trình nghiên cứu và triển khai quản lý, khai thác hợp lý nguồn tài nguyên biển, đảo phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội Trung Quốc là một ví dụ điển hình, trong nhiều năm qua họ đã tích cực khai thác tiềm lực kinh tế biển, sự ưu tiên trong đầu tư và những kế hoạch cụ thể trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội vùng duyên hải và các đảo ven biển Cùng với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội hướng ra biển, họ đã cho xây dựng nhiều trung tâm kinh tế, các khu công nghiệp, các đặc khu kinh tế mở như đảo Hải Nam, Hồng Kông hiệu quả của chúng đã được khẳng định hết sức rõ nét
Có thể thấy rằng do có những ưu thế đặc biệt về tài nguyên biển, các điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển đa dạng các ngành sản xuất, kinh tế, hệ thống các đảo ven bờ biển của các quốc gia có biển hiện đang được quan tâm và đầu tư khá mạnh mẽ cho nhiều mục đích kinh tế khác nhau
1.2 Tình hình nghiên cứu về biển đảo ở Việt Nam
Với điều kiện tự nhiên thuận lợi, nghề cá Việt Nam trong những năm qua đã có những bước phát triển đáng kể và đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế -
xã hội của đất nước Sự phát triển của nghề cá Việt Nam dựa trên 2 lĩnh vực chính đó
là khai thác hải sản và nuôi trồng thuỷ sản Trong đó lĩnh vực khai thác hải sản có vai trò rất quan trọng trong sự phát triển của nghề cá Khai thác thuỷ sản đã tạo ra việc làm
và thu nhập cho hàng triệu lao động, góp phần vào công cuộc xoá đói giảm nghèo cho đất nước và bảo vệ an ninh chủ quyền trên các vùng biển của tổ quốc
Trang 16Sản lượng khai thác thuỷ sản năm 2006 đạt 2.026.600 tấn, trong đó sản lượng khai thác từ biển đạt 1.808.120 tấn Đến năm 2009, sản lượng khai thác thủy sản đạt 2.217.000 tấn, trong đó sản lượng khai thác biển đạt 2.014.000 tấn
Trong những năm gần đây, Nhà nước đang chú trọng phát triển kinh tế biển đảo, tại các huyện đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam, nhằm bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, chống sự suy thoái môi trường, mất cân bằng sinh thái, an sinh xã hội và bảo vệ chủ quyền lãnh hải Việt Nam
1.2.1 Lịch sử các hoạt động điều tra nghiên cứu tại vùng biển đảo Phú Quý
Các hoạt động nghiên cứu tại khu vực vùng biển đảo Phú Quý được thực hiện khá sớm Từ những năm 1922, sau khi người Pháp thành lập nghề cá Đông Dương, sau này là Viện Hải dương học Nha Trang, các hoạt động điều tra, thu thập số liệu về các yếu tố khí tượng, thuỷ văn, địa chất, sinh vật nổi và sinh vật đáy tại vùng biển miền Trung Việt Nam (trong đó có vùng ven biển Phú Quý) đã được thực hiện Các kết quả bước đầu đã được công bố tại một số công trình như K Wyrtki [24]; P Chevey [20]; Krempf [21]; Latypov [22].v.v
Trong những năm 1959-1961, Viện Hải dương học Califonia, Hoa Kỳ đã hợp tác với chính quyền Nam Việt Nam tiến hành chương trình điều tra tổng hợp về điều kiện tự nhiên và tài nguyên biển vùng biển phía Đông Nam Việt Nam nói chung và ven biển Phú Quý nói riêng (chương trình NAGA) Kết quả của chương trình NAGA rất phong phú với nhiều số liệu mới về khí tượng, thuỷ văn, môi trường năng suất sinh học và nguồn lợi sinh vật biển Kết quả của chương trình này đã được công bố
trong giai đoạn 1962-1967 trong các công trình công bố của US.Navy [23]; Barias
[19]
Sau giai đoạn 1975 đến nay, các hoạt động điều tra khảo sát vùng biển này được tăng cường hơn Trong giai đoạn này việc điều tra khảo sát về tài nguyên, môi trường, khí tượng, thuỷ văn, nguồn lợi, đa dạng sinh học tại đây được thực hiện chủ yếu bởi các cơ quan, tổ chức đầu ngành như: Tổng cục Khí tượng thuỷ văn, Viện Khoa học Việt Nam, chương trình Thuận Hải - Minh Hải (1977-1980), chương trình 48-06 (1986-1990), chương trình KT-03 (1991-1995) v.v Những kết quả nghiên cứu chủ yếu qua các giai đoạn được khái quát như sau:
1.2.1.1 Điều kiện tự nhiên, khí tượng - thuỷ văn vùng biển Phú Quý
Trang 171.2.1.1.1 Điều kiện tự nhiên, địa hình, địa chất
Cụm đảo Phú Quý gồm 10 đảo lớn nhỏ, trong đó thuộc nhóm Phú Quý có đảo Phú Quý (10o29'N - 10o33'N, 108o55'E - 108o58'E) và 5 đảo nhỏ khác; thuộc nhóm Hòn Tranh có Hòn Hải và 3 đảo nhỏ khác Đảo Phú Quý cách thành phố Phan Thiết (Bình Thuận) trên 100km về phía Đông Nam Huyện đảo Phú Quý có tổng diện tích 1.808,06 ha ≈ 18 km2 [1] Đường bờ đảo Phú Quý cấu tạo phức tạp, cấu tạo đất đá chủ yếu là vành đai đá đen (huyền nham) cùng lớp đá san hô và xâm nhập Đường bờ là đường phân cắt giữa bề mặt biển và lục địa Sự phân bố và vị trí đường bờ thường không cố định, phụ thuộc vào thuỷ triều, bồi tụ và xói lở [11] và được chia làm 5 dạng chính [11]:
- Bãi triều rạn đá gốc điển hình: bãi triều được hình thành do các lớp đá gốc nằm chồng chất lên nhau;
- Bãi triều rạn đá - cát: là loại hình có cấu trúc phần cao triều là đá gốc điển hình, phần giáp ranh là vùng trung - cao triều là cát và đá gốc;
- Bãi đá tảng - cát: gồm các tảng đá lớn nhỏ có nguồn gốc từ các bãi đá gốc;
- Bãi cát - san hô;
- Bãi cỏ biển - san hô
Địa hình của đảo không bằng phẳng, nổi lên có 3 ngọn núi chính là núi Cấm (108m), núi Cao Cát (85m) và núi Ông Đụn (44.9m)
Về mặt địa chất, Phú Quý là dấu tích của một núi lửa cổ đang ngừng hoạt động, các hoạt động núi lửa từ xa xưa đã hình thành núi Cao Cát lộ khỏi mặt biển như ngày nay và các vụng nhỏ (lagoon) ven bờ đảo Phú Quý Hoạt động còn sót lại của núi lửa ở khu vực này được ghi nhận vào năm 1923, với sự hình thành Hòn Tro (Hòn Đồ Lớn) Hiện nay hình thành một bãi đá ngầm dài 700m và rộng gần 500m [11]
Địa tầng Phú Quý được xác định gồm 5 thềm nối tiếp đã để lại những dấu ấn trầm tích trong giai đoạn lịch sử phát triển địa chất cách đây 3 triệu năm Đảo được bao quanh bằng một vành đai đá đen (huyền nham) cùng lớp đá san hô rộng và dày [11] Chính vành đai này đã góp phần chắn những cơn sóng mạnh xâm thực giữ cho đảo tồn tại đến ngày nay
Trên đảo Phú Quý không có sông, suối Tài nguyên nước ngọt duy nhất là nước ngầm Trữ lượng nước ngầm trên đảo tập trung chủ yếu ở tầng chứa nước có áp lực
Trang 18cục bộ - cát chứa sỏi sạn, nguồn gốc biển, phân bố chủ yếu ở ven biển Triều Dương, Tam Thanh, Ngũ Phụng, Long Hải [12] Đây là tầng chứa nước phong phú nhất trên đảo Trữ lượng nước cung cấp cho toàn đảo ước tính khoảng 22.950 m3/ngày, trữ lượng nước khai thác cấp khoảng 1.200 m3/ngày Lượng nước dưới đất trên đảo có thể cung cấp nước sinh hoạt cho 24.000 người với mức sử dụng 50 lít/ngày/người
1.2.1.1.2 Khí tượng - thuỷ văn
Phú Quý có chế độ gió mùa với hai mùa rõ rệt: mùa gió Nam bắt đầu từ tháng 6 đến tháng 9, mùa gió Bắc từ tháng 10 đến tháng 2 năm sau So với nhiều vùng ở đất liền, khí hậu ở đây do chịu ảnh hưởng trực tiếp của không khí biển nên quanh năm mát
t0C
Trang 19nhận được vào tháng 1 năm 2006 là 23,60C Độ ẩm không khí trung bình từ 82-84% [10]
Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 11, lượng mưa cao nhất thường xảy ra vào tháng 10-11 Lượng mưa năm trung bình ở Phú Quý thấp (1.170 mm/năm) Trong khoảng thời gian từ 2002-2008, lượng mưa cao nhất được ghi nhận vào tháng 10 năm
2003 (13,8 mm/ngày) Ngoài ra lượng mưa còn có một đỉnh phụ thứ hai xảy ra vào tháng 5-6 hàng năm, được gọi là mưa tiểu mản (hình 1.2) Mặc dù được gọi là mưa tiểu mản, nhưng đôi khi lượng mưa vào thời kỳ này cũng khá lớn Tổng lượng bốc hơi năm xấp xỉ bằng tổng lượng mưa (1.059 mm) Mùa khô ở Phú Quý kéo dài từ tháng 12
Chế độ thuỷ triều mang tính chất chung của vùng biển Bình Thuận là nhật triều không đều Số ngày nhật triều chiếm khoảng 18 ngày và bán nhật triều chiếm khoảng
12 ngày Biên độ triều cực đại đạt 2,4m Triều sóc vọng (triều cường) thường có biên
Trang 20độ từ 2,4-2,6 m, trong khi đó triều trực thế (triều kiệt) hàng tháng thường có biên độ là 0,3-0,4m Kết quả phân tích dao động thuỷ triều hàng giờ trong toàn năm (2008) cho ta bức tranh toàn cảnh về biến động thuỷ triều ở vùng biển Phú Quý (hình 1.3)
độ nước thấp hơn so với các đảo khác trong cùng khu vực Trung Bộ [7]
1.2.1.2 Đa dạng sinh học, nguồn lợi và các hệ sinh thái vùng biển Phú Quý
Công tác điều tra nghiên cứu nguồn lợi, đa dạng sinh học vùng biển đảo Phú Quý được tiến hành chủ yếu từ năm 1993 trở lại đây Năm 1993, trong khuôn khổ của chương trình KT.03.12 [12] các đợt điều tra khảo sát về rong cỏ biển, động vật đáy, hệ sinh thái rạn san hô đã được thực hiện Năm 1996 - 1997, Viện Địa lý đã phối hợp với Phân Viện Hải dương học tại Hải Phòng (nay là Viện Tài nguyên và Môi trường biển) tiến hành các chuyến điều tra tổng hợp với nhiều chuyên ngành khác nhau (nguồn lợi sinh vật biển, khí tượng - thuỷ văn, điều kiện kinh tế - xã hội v.v.) nhằm xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội tại Phú Quý Năm 2005 - 2007, Viện Nghiên
Trang 21cứu Hải sản đã tiến hành đề tài độc lập cấp Bộ để điều tra đánh giá nguồn lợi cá rạn san hô và một số loài hải sản có giá trị kinh tế cao ở một số khu vực dự kiến thành lập khu bảo tồn, trong đó có Phú Quý, nhằm đề xuất các biện pháp sử dụng bền vững nguồn lợi Ngoài ra các đề án phát triển kinh tế - xã hội và phát triển ngành đối với đảo Phú Quý của UBND tỉnh Bình Thuận cũng đã được triển khai thực hiện
Tổng hợp kết quả nghiên cứu từ các công trình trên cho thấy, vùng biển Phú Quý có nhiều điều kiện thiên nhiên thuận lợi, tạo nên một ngư trường có tính đa dạng sinh học cao, giàu nguồn lợi hải sản Vùng biển này không có mùa đông lạnh, nhiệt độ trung bình năm 270C, độ muối ít biến đổi Đây là khu vực giao nhau của 2 dòng biển ven bờ: dòng biển ấm từ vùng biển Đông Nam Bộ trong mùa gió Tây Nam mang lên nhiều chất dinh dưỡng gặp dòng chảy lạnh ven bờ có nhiệt độ thấp tạo ra môi trường phù hợp cho các loài sinh vật biển quần tụ sinh sống
Trong hệ sinh thái thuỷ vực, thực vật phù du (TVPD) là mắt xích đầu tiên trong chuỗi thức ăn tự nhiên, đồng thời là yếu tố chỉ thị cho đặc tính các chất dinh dưỡng vô
cơ trong môi trường nước Theo Nguyễn Dương Thạo (2001), thành phần loài TVPD ở khu vực miền Nam Việt Nam (trong đó có vùng biển đảo Phú Quý) có 170 loài thuộc
3 ngành: tảo giáp (Pyrrophyta) có 64 loài, tảo silic (Bacillariophyta) 103 loài và tảo lam (Cyanophyta) 3 loài Sinh vật lượng cao, dao động trên 2 triệu đến trên 5 triệu tb/m3 [15] Về ĐVPD đã xác định được 168 loài [8], cùng nhiều ấu thể của giáp xác (Crustacea), giun nhiều tơ (Polychaeta), da gai (Echinodermata), trứng cá và cá con Mật độ khá cao, ngưỡng dao động lớn, từ 0,6 đến trên 5 nghìn cá thể/m3 [15] Rong biển Phú Quý xác định được 173 loài thuộc 40 họ, 25 bộ, 4 ngành, cỏ biển 8 loài thuộc
2 họ [13] Động vật đáy có xương sống 91 loài, giun nhiều tơ 13 loài (Polychaeta), 43 loài động vật thân mềm (Mollusca), 27 loài giáp xác (Crustacea) và 6 loài da gai (Echinodermata) [12] Cũng theo tài liệu này, phân bố sinh vật lượng giữa các vùng triều khác nhau: như vùng bãi triều rạn đá, địa hình dốc, nghèo sinh vật đáy; bãi triều cát thoải rộng, sinh vật lượng trung bình 1.014 g/m2; vùng triều thấp sinh vật lượng bình quân cao tới 2.201 g/m2 Đối với nhóm cá rạn san hô tại vùng biển Phú Quý đã xác định được 87 loài thuộc 46 giống và 23 họ, chỉ số đa dạng (H’) đạt mức 1,56, mật
độ trung bình đạt 120 cá thể/500m2, sinh khối trung bình đạt 15,6 kg/500m2 [7] Nhóm
cá biển khơi phân bố quanh vùng biển Phú Quý đã xác định được 181 loài thuộc 80 họ
Trang 223 bãi cá lớn [6]: 1 bãi cá nổi ở xung quanh đảo, 2 bãi cá đáy ở phía Đông - Đông Nam đảo, cách khoảng 10 km Trữ lượng ước tính 57.612 tấn, khả năng khai thác 14.413
tấn Các loài cá phổ biến bao gồm cá nục (Decapterus spp), cá mối (Saurida spp), cá chim ấn Độ (Arioma indica), cá phèn (Mullidae), cá hồng (Lutjanidae), cá lượng (Nemipterus spp), cá khế (Carangidae), cá bạch điều (Gymnocranius griseus) Theo
dẫn liệu của Phạm Thược (1996) trong báo cáo Nguồn lợi Thuỷ sản Việt Nam [2], bãi
cá Nam Phú Quý có độ sâu 50-200 m, chất đáy cát-bùn, diện tích 7.331 km2
, trữ lượng
cá 44.070-62.320 tấn, khả năng khai thác 15.960 tấn; mật độ 7,04 tấn/km2
1.2.1.3 Tài nguyên nước
Trên đảo Phú Quý không có sông suối Tài nguyên nước ngọt duy nhất là nước ngầm Kết quả điều tra bước đầu của Đoàn địa chất 705 (1989) cho thấy rằng trữ lượng nước ngầm tập trung chủ yếu ở:
- Tầng chứa nước có áp lực cục bộ - cát chứa sỏi sạn nguồn gốc biển tuổi Pleixtoxen sớm-giữa, phân bố chủ yếu ở ven biển Triều Dương, Tam Thanh, Ngũ Phụng, Long Hải Đây là tầng chứa nước phong phú nhất trên đảo, nước thuộc loại bicacbonat-cloruanatri, độ pH = 7,0-7,6, tổng khoáng hoá 0,4-0,6 g/l (nước nhạt) Động thái của tầng này biến hoá theo mùa với biên độ 1,5 đến 3,0m và chịu ảnh hưởng của thuỷ triều về mùa khô Hiện nay, nước tầng này đang được sử dụng rộng rãi trong sinh hoạt Tuy vậy, cần đề phòng hiện tượng nhiễm mặn vào công trình lấy nước nếu khai thác nước ở quy mô lớn về mùa khô
- Đới chứa nước khe nứt trong các thành tạo phun trào bazan tuổi Pleixtoxen dới Nước thuộc loại hình bicacbonat, độ pH = 6,5-7,0, tổng khoáng hoá thấp hơn 1 g/l Nước ít bị nguy cơ nhiễm mặn Động thái nước ngầm của đới này thay đổi theo mùa, biên độ 2-3m Nước ở tầng này đang được dùng rộng rãi trong sinh hoạt
Plioxen-Đới chứa nước khe nứt bazan là đối tượng cung cấp nước quan trọng của đảo, nhưng việc khai thác nước trong bazan đòi hỏi phải có các thiết bị khoan và bơm hút cồng kềnh; ở nơi địa hình cao, mực nước nằm sâu, việc khai thác nước khó khăn
Ngoài hai tầng chứa nước chủ yếu trên, một số phức hệ có khả năng cung cấp nước cho các cụm dân cư nhỏ như: tầng chứa nước cát đỏ, phức hệ chứa nước các trầm tích lục nguyên
Trang 23Theo đánh giá sơ bộ của Đoàn địa chất 705, thì trữ lượng cấp C2 cho toàn đảo
là 22.950 m3/ngày, trữ lượng khai thác cấp A khoảng 1.200 m3/ngày Lượng nước dưới đất trên đảo có thể cung cấp nước sinh hoạt cho 24.000 người với mức sử dụng 50 lít/ngày/người
1.2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội huyện đảo Phú Quý
1.2.2.1 Dân số
Theo số liệu năm 1990 [16], dân số huyện đảo Phú Quý là 14.680 người, mật
độ dân số trung bình 638 người/km2 Tổng số hộ trên đảo là 2.500 hộ Tỷ lệ tăng dân số
tự nhiên 2,7% Sự phát triển dân số trên đảo qua các năm từ 1991 đến 2001 được thể hiện qua hình 1.4
Nguồn: Niên giám thống kê năm 2001 huyện Phú Quý, 2/2002
Hình 1.4 Biến động và cơ cấu giới tính dân số đảo Phú Quý, năm 1991-2001
Trình độ dân trí, học vấn người dân trên đảo thấp Giai đoạn 1999-2000 toàn đảo có khoảng trên 10 nghìn người trong độ tuổi đến trường trong đó có 1,4 nghìn người không được đến trường, còn lại khoảng 8,7 nghìn người được đến trường nhưng chi có khoảng 69% học hết bậc tiểu học
1.2.2.2 Các ngành kinh tế
Cơ cấu kinh tế huyện đảo Phú Quý trong những năm 1998-2001 và 2005-2010 tập trung chủ yếu 3 nhóm ngành nghề chính đó là Nông nghiệp, Thuỷ sản và Công nghiệp Trong đó giá trị sản xuất của ngành Thuỷ sản luôn chiếm tỷ trọng cao nhất, sau đó là Công nghiệp và thấp nhất là Nông nghiệp Giá trị sản xuất của các ngành
Trang 24kinh tế chính ở đảo Phú Quý giai đoạn 1998 -2001 và giai đoạn 2005-2010 đƣợc thể hiên tại bảng 1.1
Bảng 1.1 Giá trị sản xuất các ngành kinh tế qua các năm (theo giá so sánh 1994)
Tổng giá trị sản xuất
Nguồn: Niên giám thống kê năm 2001 huyện Phú Quý, 2/2002, Kế hoạch phát triển
kinh tế xã hội 5 năm (2011-2015) huyện Phú Quý, 8/2009 1.2.2.3 Lực lượng lao động nghề cá
Theo kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 1999, thì năm 1999 toàn huyện
có 3.964 lao động hoạt động chủ yếu các nghề câu mực, nghề câu, vó mành, vây rút chì, cụ thể số liệu theo các xã của huyện nhƣ sau:
Bảng 1.2 Lao động nghề cá ở huyện Phú Quý, năm 1999
Trang 25Nguồn: Niên giám thống kê năm 2001 huyện Phú Quý, 2/2002 Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ năm 2009, phương hướng thực hiện năm 2010 UBND Phú Quý 1.2.2.4 Số lượng tàu thuyền nghề cá
Theo số liệu thống kê Phòng thống kê huyện đảo Phú Quý thì đầu năm 2002 số lượng tàu thuyền và công suất máy tàu được thể hiện tại bảng 1.3 Tính trung bình cho đến năm 2001, công suất máy tàu khoảng 22,93 cv/tàu, số lượng tàu thuyền dưới 20 cv rất lớn 242 chiếc trong tổng số 596 tàu thuyền Số lượng tàu thuyền trên 45 cv có 20 chiếc, điều này chứng tỏ lượng tàu thuyền khai thác xa đảo là rất ít Việc khai thác nguồn lợi ven đảo sẽ ảnh hưởng lớn tới hệ sinh thái vùng ven đảo
Bảng 1.3 Phân bố tàu thuyền theo địa phương của huyện Phú Quý năm 2001
Trang 26Bảng 1.4 Sản lượng khai thác hải sản huyện Phú Quý giai đoạn 1998-2009
Đơn vị tính: Tấn
Cá 3.861 3.227 3.430 4.300 6.750 8.072 8.584 8.984 11.514 Khác 2.596 4.000 4.759 3.334 5.259 6.614 8.521 9.211 9.084
Tổng số 6.457 7.227 8.189 7.634 12.009 14.686 17.105 18.195 20.598
Nguồn: Niên giám thống kê năm 2001 huyện Phú Quý, 2/2002; Niên giám thống kê
năm 2010 huyện Phú Quý, 2/2010 Bảng 1.5 Giá trị sản xuất thuỷ sản (khai thác) trên địa bàn huyện Phú Quý
Trang 27Giá trị sản xuất thủy sản năm 2009 tăng gấp 1,43 lần so với năm 2008 và 3,5 lần so với năm 2005, điều này là do có đã có biến chuyển trong đầu tư khai thác xa bờ
và khai thác các loài có giá trị kinh tế cao
Nghề câu tay: khai thác mực ống thường vào vụ nam, còn mành lùi để khai thác mực ghim Trong vụ nam, cả 03 xã đều làm mực quanh đảo, chiều đi sáng về Trong những năm 2002, hình thành từng tổ thuyền 5 - 7 chiếc, khai thác từ Côn đảo đến Phú Quý Sản phẩm đánh bắt được từ đội thuyền được chuyển qua một chiếc để trở về đất liền
Nghề lưới kéo:
Từ năm 1992-1995 toàn huyện Phú Quý có 2 cặp tàu làm nghề lưới kéo Sau năm 1995, do khai thác không có hiệu quả, nên ngư dân đã chuyển nghề khác Tuy nhiên, tàu của các địa phương khác như Bà Rịa - Vũng Tàu, Hàm Tân (Bình Thuận) vẫn đến ngư trường Phú Quý hoạt động nghề, và đây là loại phương tiện làm suy giảm nguồn lợi rõ rệt, hoạt động của nghề này cũng ảnh hưởng rất lớn đến nền đáy vùng ven đảo, đặc biệt là vùng rạn san hô và cỏ biển ven đảo Phú Quý
Nghề lặn:
Nghề lặn bắt đầu từ khoảng năm 1982-83 Bắt đầu từ việc khai thác sò lông, sò điệp ở ngư trường Phan Thiết, sử dụng bình khí nén trên thuyền, không có khí tài Thợ lặn đeo đai chì khoảng 5 kg Sản phẩm chủ yếu là sò lông, sò điệp, bàn mai Sò điệp được phép khai thác 3-4 tháng/năm Nhưng người dân khai thác quanh năm, nên nguồn lợi này chẳng mấy đã bị cạn kiệt Người thợ lặn Phú Quý bắt đầu chuyển sang khai thác hải sâm Sản lượng hải sâm khai thác được nhiều nhất và quãng năm 90-95
Trang 28Trong đó, có hải sâm vú trắng và hải sâm vú đen Hải sâm vú trắng giá bán đến 100.000đ/con Nhưng loại này phải khai thác ở độ sâu trên 20 m nước, thậm chí 40 m nước
Từ năm 1995, trên thị trường mua vỏ ốc này để làm hàng thủ công mỹ nghệ ốc tai tượng được khai thác nhiều nhất ở các bãi rạn thuộc quần đảo Trường Sa Vỏ ốc lớn, có mảnh nặng hơn 100 kg Phần lớn là khai thác vỏ ốc đã chết Những vỏ ốc được khai thác về, phân loại để bán, những vỏ còn tốt, bán với giá 20.000-25.000 đồng/kg
Từ năm 1992, ở Phú Quý bắt đầu phát triển nghề nuôi vỗ cá mú, nên xuất hiện nghề lặn đánh bắt cá mú sống ở các rạn san hô Ngư dân cải tiến lưới rê bằng sợi (dân gọi là bằng nhợ, không phải bằng cước) để quây đanh bắt cá mú sống, nói chung không dùng hoá chất
Trang 29CHƯƠNG II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CƯU 2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Hình 2.1: Địa điểm nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 04/2010 đến tháng 8/2010
Địa điểm nghiên cứu: Huyện đảo Phú Quý và các vùng phụ cận
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thu thập số liệu thứ cấp
Trang 30Số liệu đã được công bố của Ủy ban nhânh dân huyện đảo Phú Quý, chi cục Nuôi trồng thủy sản tỉnh Bình Thuận và các sách báo xuất bản có liên quan
Thu thập các tài liệu thông qua việc khai thác mạng Internet, các đề tài, các báo cáo tham luận tại các hội nghị trong nước, quốc tế về kinh tế xã hội
2.2.2 Thu thập số liệu sơ cấp
Thông tin được thu thập qua quan sát thực tế, phỏng vấn trực tiếp người dân hoạt động nghề cá địa phương mỗi loại nghề phỏng vấn 30 phiếu, dựa trên mẫu phiếu điều tra [phụ lục] để đánh giá hiện trạng nghề cá tại huyện đảo Phú Quý
Số liệu thu được cập nhập vào máy tính sẽ được phân tích sử dụng các hàm
thống kê như hàm Sum, Average, hàm Min, Max…
Các chỉ số thống kê được dùng để mô tả các thông số kỹ thuật các đặc trưng kinh tế xã hội của nông trại và dựa vào các chỉ số này để rút ra nhận xét sau khi đã tiến hành phân tích so sánh
Trang 312.3 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu
Dịch
vụ hậu cần, dulịch
Các loại nghề khác
Nguồn thunhập của ngƣ dânhoạt độngnghề cá
Khai thác, nuôi trồng hải sản
Y tế, giáo dục, văn hoá,xã hội
Dân
cƣ,
lao
động
Hoạt động điều tra
Hiện trạng dân số, văn hoá - xã
Trang 32CHƯƠNG III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THẢO LUẬN 3.1 Hiện trạng dân số, văn hoá - xã hội, giáo dục và y tế
3.1.1 Dân cư, lao động
• Tổng dân số: Từ ngày thành lập huyện đảo Phú Quý (1977), tổng dân số khoảng 13.600 người Qua thời gian, theo xu hướng chung của cả nước, dân số huyện đảo Phú Quý tăng nhanh Năm 2009, dân số huyện đảo là 25.745 người Tính đến tháng 8 năm 2010, dân số huyện đảo là 25.768 người, tăng 23 người so với năm 2009 Hiện trạng tăng dân số những năm gần đây huyện đảo Phú Quý được thể hiện tại hình 3.1
Hình 3.1 Xu hướng biến động dân số huyện đảo Phú Quý, năm 2005 – 2009
• Huyện đảo Phú Quý gồm 03 xã (Tam Thanh, Ngũ Phụng, Long Hải) Theo kết quả điều tra của đề tài, tính đến tháng 8/2010 huyện đảo có 5.466 hộ dân sinh sống trên đảo, các hộ dân sinh sống chủ yếu bằng nghề khai thác hải sản, nuôi trồng hải sản
và dịch vụ hậu cần nghề cá
• Giới tính: Tỷ lệ nam giới/nữ giới về dân số huyện Phú Quý có xu hướng biến động theo tỷ lệ nghịch với thời gian 3.2 Tính từ 2005-2007, tỷ lệ nữ giới cao hơn nam giới từ 0,6-2,7% thì sang năm 2008-2009 thì tỷ lệ nữ giới lại thấp hơn nam giới từ 0,8 -2,8% Đồ thị còn cho thấy mức độ tăng tự nhiên của nữ giới từ năm 2005- 2009 có sự
ổn định, ít đột biến hơn so với nam giới
Trang 33Hình 3.2 Biến động dân số huyện đảo Phú Quý theo giới tính, năm 2005 – 2009
Lao động: Tính đến thời điểm tháng 8/2010, lực lượng người dân trong độ tuổi lao động tại huyện đảo Phú Quý chiếm tỷ lệ khoảng 57%, tương đương khoảng 14.675 nghìn người Trong đó, lực lượng lao động làm nghề thuỷ sản (khai thác, nuôi trồng)
và làm nông nghiệp chiếm tỷ lệ cao nhất (64,4%), sau đó là lực lượng tham gia nghề xây dựng (3,8%), nghề bán buôn, bán lẻ (3,7%), cuối cùng là một số hoạt động ngành nghề khác Số lượng người lao động phân theo ngành nghề được thể hiện tại hình 3.3
Hình 3.2 Lực lượng lao động huyện Phú Quý phân theo ngành nghề năm 2009