Năng suất sinh khối Artemia nuôi trong ao đất phụ thuộc vào rất nhiều các yếu tố như độ mặn, nhiệt độ, pH, DO, cường độ chiếu sáng, lượng mưa, hay mật độ, thức ăn tự nhiên, địch hại…Bên
Trang 1-o0o -
PHAN THÀNH ĐÔNG
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ NUÔI SINH KHỐI CỦA HAI
DÒNG ARTEMIA VĨNH CHÂU VÀ GREAT SALT LAKE
TRONG AO ĐẤT TẠI NINH HÒA - KHÁNH HÒA
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Nha Trang -2013
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
-o0o -
PHAN THÀNH ĐÔNG
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ NUÔI SINH KHỐI CỦA HAI
DÒNG ARTEMIA VĨNH CHÂU VÀ GREAT SALT LAKE
TRONG AO ĐẤT TẠI NINH HÒA - KHÁNH HÒA
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài “Đánh giá hiệu quả nuôi sinh khối của hai dòng
Artemia Vĩnh Châu và Great Salt Lake trong ao đất tại Ninh Hòa - Khánh Hòa”
là công trình nghiên cứu của tôi Các kết quả thu được trong luận văn này là thành quả nghiên cứu thực tế và độc lập của cá nhân tôi
Tôi xin cam đoan các kết quả, số liệu sử dụng trong luận văn là trung thực, chính xác và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình hoặc trong thông báo khoa học nào Tôi xin chịu trách nhiệm trước Nhà trường, Bộ Giáo dục & Đào tạo và pháp luật về lời cam đoan này
Học viên
Phan Thành Đông
Trang 4LỜI CẢM ƠN Trước hết tôi xin trân trọng kính gởi đến Ban Giám hiệu Trường Đại học Nha Trang, Ban Chủ nhiệm Khoa Nuôi trồng Thủy sản, Khoa Sau Đại học Trường Đại học Nha Trang lòng biết ơn chân thành vì tất cả những hổ trợ giúp đỡ trong khoảng thời gian tôi học tập và nghiên cứu tại Trường
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến hai thầy hướng dẫn: Tiến sĩ Phạm Quốc Hùng và Tiến sĩ Nguyễn Tấn Sỹ đã hướng dẫn đề tài và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn đúng tiến độ
Tôi xin chân thành cảm ơn Công ty muối Nha Trang đã tạo điều kiện về nguồn nước ót để tôi thực hiện đề tài Xin chân thành cảm ơn các cô chú, anh chị ở khu vực Tân Ngọc - Ninh Ích - Ninh Hòa đã có nhiều giúp đỡ khi tôi thực hiện đề tài
Kính gởi lời cảm ơn đến thầy Nguyễn Tấn Sỹ đã giúp đỡ tôi về ao nuôi, các trang thiết bị cần thiết trong thời gian làm đề tài cũng như giúp đỡ về tài liệu nghiên cứu và hướng dẫn tôi trong thời gian viết báo cáo
Xin chân thành cảm ơn các thầy cô Trường Đại học Cần Thơ: PGS.TS Nguyễn Văn Hòa, TS Nguyễn Thị Ngọc Anh, ThS.Nguyễn Thị Hồng Vân đã giúp đỡ tôi về nguồn giống và nguồn tài liệu cần thiết trong thời gian nghiên cứu cũng như khi viết luận văn
Cuối cùng tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè và những người thương yêu tôi đã luôn bên cạnh, giúp tôi tinh thần cũng như vật chất cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Nha Trang, 2013
Trang 5MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
DANH MỤC CÁC BẢNG ix
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 3
1.1 Đặc điểm sinh học của Artemia .3
1.1.1 Hệ thống phân loại và đặc điểm phân bố 3
1.1.2 Hình thái 4
1.1.3 Đặc điểm dinh dưỡng của Artemia 4
1.1.4 Khả năng thích nghi với điều kiện sống của Artemia 5
1.1.5 Đặc điểm sinh trưởng và vòng đời của Artemia 6
1.1.6 Đặc điểm sinh sản 8
1.2 Một số đặc điểm của Artemia franciscana dòng Vĩnh Châu và dòng Great Salt Lake 10
1.2.1 Dòng Vĩnh Châu .10
1.2.2 Dòng Great Salt Lake 10
1.3 Vai trò của Artemia trong nuôi trồng thủy sản 11
Trang 61.4 Tình hình nghiên cứu về nuôi thu sinh khối Artemia ở Việt Nam và trên thế
giới .13
1.4.1 Trên thế giới 13
1.4.2 Tình hình nghiên cứu nuôi sinh khối Artemia ở Việt Nam 14
1.5 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu 19
1.5.1.Vị trí địa lý 19
1.5.2 Khí hậu .21
1.5.3 Thủy văn 22
CHƯƠNG 2: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu 23
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 23
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu .23
2.1.3.Thời gian nghiên cứu .23
2.2 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 24
2.3 Phương pháp nghiên cứu 25
2.3.1 Bố trí thí nghiệm 25
2.3.2 Phương pháp xác định các chỉ tiêu nghiên cứu 26
2.3.2.1 Xác định các yếu tố môi trường 26
2.3.2.2 Xác định tỷ lệ nở của trứng bào xác 27
2.3.2.3 Theo dõi sự sinh trưởng của Artemia 27
2.3.2.4 Ước lượng tỷ lệ sống 29
2.3.2.5 Xác định sức sinh sản của Artemia 30
2.3.2.6 Xác định gia tăng mật độ quần thể 30
2.3.2.7 Xác định năng suất sinh khối Artemia franciscana 30
Trang 72.4 Phương pháp nuôi tảo thuần và gây màu nước 31
2.4.1 Nuôi tảo thuần (trong túi nilon và bể composite) 31
2.4.2 Nuôi tảo trong ao đất (ao nuôi tảo) 31
2.4.3 Nuôi tảo trực tiếp trong ao nuôi Artemia 32
2.5 Xử lý số liệu 32
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 33
3.1 Hiệu quả sinh học của Artemia franciscana dòng Vĩnh Châu và dòng Great Salt Lake nuôi sinh khối trong ao đất tại Ninh Hòa - Khánh Hòa .33
3.1.1.Diễn biến yếu tố môi trường trong ao thí nghiệm 33
3.1.1.1 Nhiệt độ 33
3.1.1.2 Độ mặn 34
3.1.1.3 Độ pH 35
1.1.1.4 Hàm lượng oxy hòa tan (DO) 35
3.1.1.5 Mức nước 36
3.1.1.6 Độ trong 36
3.1.2 Kết quả gây màu nước trong ao nuôi và ao nuôi tảo 37
3.1.3 Sinh trưởng của Artemia ở 2 nghiệm thức 38
3.1.3.1 Sinh trưởng theo chiều dài toàn thân (mm) 38
3.1.3.2 Tốc độ sinh trưởng về chiều dài toàn thân (DLG) 40
3.1.3.3 Sinh trưởng về khối lượng tươi của Artemia franciscana .41
3.1.4 Tỷ lệ sống của Artemia ở các nghiệm thức 43
3.1.5 Một số chỉ tiêu sinh sản của Artemia franciscana ở các nghiệm thức 45
3.1.6 Biến động mật độ quần thể 50
3.1.7 Năng suất sinh khối Artemia franciscana của 2 nghiệm thức 51
Trang 83.2 Đánh giá hiệu quả kinh tế của Artemia franciscana dòng Vĩnh Châu và dòng
GSL nuôi sinh khối trong ao đất tại Ninh Hòa - Khánh Hòa 53
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 58
1 Kết luận 58
1.1 Về hiệu quả sinh học 58
1.2 Về hiệu quả kinh tế 58
2 Đề xuất 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO 60
Trang 9DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DO Dissolved oxygen Nồng độ oxy hòa tan (mg/L)
GSL Great Salt Lake Hồ muối lớn
HUFA Highly unsaturated fatty acids Axít béo có mức chưa no cao
ppm Part per million Nồng độ phần triệu
ppt Part per thousandth Nồng độ phần nghìn
SD Standard deviation Độ lệch chuẩn
SFB San Francisco Bay Vịnh San Francisco
SGR Specific growth rate Tốc độ sinh trưởng đặc trưng
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1: Sự phân bố của Artemia trên thế giới 3
Hình 1.2: Artemia franciscana 4
Hình 1.3: Vòng đời phát triển của Artemia 6
Hình 1.4: Quá trình nở của trứng bào xác 7
Hình 1.5: Artemia trưởng thành (đực bên trái-cái bên phải) 8
Hình 1.6: Hiện tượng bắt cặp ở Artemia 9
Hình 1.7: Buồng trứng con cái trưởng thành ở hình thức đẻ con .9
Hình 1.8: Buồng trứng con cái trưởng thành ở hình thức đẻ trứng 9
Hình 2.1: Vị trí ao nuôi thí nghiệm 23
Hình 2.2: Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 24
Hình 2.3 Sơ đồ ao thí nghiệm 26
Hình 2.4 Thiết bị theo dõi các yếu tố môi trường 27
Hình 2.5: Cách đo chiều dài của Nauplius và Artemia trưởng thành 28
Hình 3.1: Kết quả gây màu nước ở các nghiệm thức 38
Hình 3.2: Tốc độ sinh trưởng về chiều dài của Artemia fanciscana .40
Hình 3.3: Tốc độ sinh trưởng về khối lượng của Artemia 42
Hình 3.4: Phần trăm Artemia franciscana cái đẻ con (nauplius) ở các nghiệm thức trong 12 tuần nuôi 48
Hình 3.5: Biến động mật độ quần thể trong ao nuôi thí nghiệm 50
Hình 3.6: Thu sinh khối Artemia franciscana 52
Hình 3.7: Năng suất sinh khối (tấn/ha/12 tuần nuôi) ở các ao nuôi 52
Trang 11DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1: Diễn biến các yếu tố môi trường ở các nghiệm thức 33
Bảng 3.2: Sinh trưởng về chiều dài (mm) của Artemia franciscana 38
Bảng 3.3: Sinh trưởng về khối lượng tươi (mg/cá thể) của Artemia franciscana 41
Bảng 3.4: Tỷ lệ sống (%) của A franciscana ở các nghiệm thức 43
Bảng 3.5: Một số chỉ tiêu về sinh sản của Artemia franciscana 45
Bảng 3.6: Sức sinh sản (phôi nauplius/con cái) của Artemia franciscana ở 2 nghiệm thức qua các tuần nuôi 47
Bảng 3.7: Đánh giá sơ bộ hiệu quả kinh tế nuôi thu sinh khối 54
A franciscana dòng Vĩnh Châu 54
Bảng 3.8: Đánh giá sơ bộ hiệu quả kinh tế nuôi thu sinh khối 55
A franciscana dòng GSL 55
Bảng 3.9: So sánh hiệu quả kinh tế của Artemia franciscana dòng Vĩnh Châu và GSL nuôi trong ao đất tại Ninh Hòa-Khánh Hòa .56
Trang 12MỞ ĐẦU
Artemia là loại thức ăn rất quan trọng và không thể thiếu được trong nghề nuôi
trồng thủy sản, nhất là trong khâu sản xuất giống Ấu trùng Artemia franciscana lúc mới nở ở giai đoạn Instar I và Instar II có kích thước nhỏ hơn so với các loài Artemia
khác, là loại thức ăn lý tưởng cho giai đoạn đầu của ấu trùng giáp xác và cá con [4, 8,
21]… Artemia trưởng thành được gọi là sinh khối So với nauplius Artemia được ấp nở
từ trứng bào xác thì sinh khối Artemia có những ưu điểm vượt trội như: Chi phí thấp,
chất lượng dinh dưỡng cao, đặc biệt sử dụng kích cỡ thích hợp sẽ đảm bảo cân bằng
năng lượng tốt hơn trong việc lấy thức ăn và đồng hóa Vì thế sinh khối Artemia là
thức ăn cần thiết cho hầu hết các đối tượng trong nuôi trồng thủy sản Trong vài năm
trở lại đây, nhu cầu về sinh khối Artemia cho nghề nuôi ốc hương, cá chẽm và tôm
giống ở khu vực Nam Trung Bộ nói chung và Khánh Hòa nói riêng rất lớn nên nhiều
thương lái ở miền Trung đặt mua sinh khối Artemia với số lượng lớn từ Vĩnh Châu -
Bạc Liêu [10]
Năng suất sinh khối Artemia nuôi trong ao đất phụ thuộc vào rất nhiều các yếu
tố như độ mặn, nhiệt độ, pH, DO, cường độ chiếu sáng, lượng mưa, hay mật độ, thức
ăn tự nhiên, địch hại…Bên cạnh đó một yếu tố không kém phần quan trọng đó là dòng
của loài Artemia chọn nuôi Các dòng Artemia có sự khác nhau về phạm vi chịu đựng
về độ mặn, nhiệt độ, pH, về tốc độ tăng trưởng, chu kỳ sống và khả năng sinh sản [21]
Trong nuôi thu sinh khối Artemia nếu chọn được dòng có khả năng thích nghi với điều
kiện tự nhiên, tốc độ tăng trưởng nhanh, kích thước tối đa lớn, có sức sinh sản cao với
độ mặn hay nhiệt độ phổ biến ở ao nuôi sẽ là nhân tố quan trọng góp phần mang lại năng suất sinh khối cao, là tiền đề mang lại hiệu quả kinh tế nuôi [21]
Hiện nay, các nghiên cứu về nuôi sinh khối Artemia franciscana trong ao đất trên
địa bàn là rất ít và còn nhiều hạn chế, chỉ có một vài nghiên cứu về độ mặn, mật độ,
phân lập, lưu giữ và nhân sinh khối tảo làm thức ăn cho Artemia nhưng chưa có nghiên cứu cụ thể về dòng Artemia franciscana phù hợp với điều kiện môi trường địa phương
và mang lại hiệu quả kinh tế cao Vì vậy cần phải tiếp tục nghiên cứu để bổ sung các
cơ sở khoa học và xác định dòng Artemia franciscana phù hợp để nuôi sinh khối
Artemia tại Ninh Hòa - Khánh Hòa
Trang 13Từ thực tiễn trên, đề tài luận văn thạc sĩ “Đánh giá hiệu quả nuôi sinh khối
của hai dòng Artemia Vĩnh Châu và dòng Great Salt Lake trong ao đất tại Ninh
Hòa - Khánh Hòa” được thực hiện:
Mục tiêu nghiên cứu đề tài:
Đánh giá khả năng phát triển và hiệu quả kinh tế mang lại của 2 dòng
Artemia franciscana điều kiện ao đất tại Ninh Hòa – Khánh Hòa
Xác định được dòng Artemia franciscana thích hợp với điều kiện ao nuôi
tại Ninh Hòa - Khánh Hòa và mang lại hiệu quả kinh tế cao
Nội dung nghiên cứu
Đánh giá hiệu quả sinh học của Artemia franciscana dòng Vĩnh Châu và
dòng Great Salt Lake nuôi sinh khối trong ao đất tại Ninh Hòa - Khánh Hòa
Đánh giá hiệu quả kinh tế của Artemia franciscana dòng Vĩnh Châu và
dòng Great Salt Lake nuôi sinh khối trong ao đất tại Ninh Hòa - Khánh Hòa
Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài:
Về mặt khoa học, kết quả nghiên cứu sẽ bổ sung các dẫn liệu có giá trị khoa học cho các nghiên cứu tiếp theo
Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu sẽ xác định được dòng Artemia phù
hợp với điều kiện nuôi trong ao đất và mang lại hiệu quả kinh tế cao ở Ninh Hòa - Khánh Hòa
Tính mới của đề tài:
Đánh giá lại khả năng thích ứng với điều kiện môi trường của Artemia
franciscana dòng Vĩnh Châu ở Ninh Hòa – Khánh Hòa
Là đề tài đầu tiên nghiên cứu nuôi Artemia franciscana dòng Great Salt
Lake thu sinh khối trong ao đất ở khu vực Khánh Hòa
Trang 14CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1 Đặc điểm sinh học của Artemia
1.1.1 Hệ thống phân loại và đặc điểm phân bố
Artemia thuộc nhóm giáp xác có hệ thống phân loại như sau:
Giới (Kingdom): Động vật (Animalia)
Ngành (Phylum): Chân khớp (Arthropoda)
Lớp ( Class): Giáp xác (Crustacea)
Lớp phụ (Subclass): Chân mang (Branchiopoda)
Bộ (Order): Anostraca
Họ (Family): Artemiidae Grokwski, 1895
Giống (Genus): Artemia, Leach 1819
Loài (Species): Artemia franciscana Kellog, 1906 [6]
Tên thường gọi: Artemia
Tên tiếng anh: Brine shrimp [34, 45]
Artemia franciscana phân bố tự nhiên ở châu Mỹ và châu Đại dương, không
phân bố tự nhiên ở Việt Nam (hình 1.1)
Hình 1.1: Sự phân bố của Artemia trên thế giới [36]
Trang 151.1.2 Hình thái
Artemia thường có thân nhỏ, dài khoảng 1,2 – 1,5 cm Artemia có thân phân đốt
rõ rệt gồm 3 phần: đầu, ngực và bụng, không có giáp đầu ngực [8]
Chính giữa phía trước đầu có mắt đơn, hai bên có đôi cuống mắt kép Đầu có 5 đôi phần phụ Đôi xúc giác thứ 2 của con cái và con đực khác nhau Ở con cái chỉ là một mấu lồi nhỏ Ở con đực là thuỳ bám, thuỳ to khoẻ dùng để túm và cưỡi con cái trước khi giao cấu Hàm lớn, hàm nhỏ 1 và 2 cấu thành miệng [8]
Phần ngực có 11 đốt và 11 đôi chân ngực; chân ngực có dạng bản rộng gồm lá trong, lá ngoài và lá quạt cấu thành Giữa lá quạt và lá ngoài có một mảnh nhỏ mềm
mại đó là mang – cơ quan hô hấp của Artemia Chân ngực phát triển và có 3 chức
năng: bơi lội, lọc thức ăn và hô hấp [8]
Phần bụng có 8 đốt, không có phụ bộ Ở con cái đốt 1 và đốt 2 của phần bụng kết hợp với nhau hình thành nang trứng Ở con đực hình thành đôi cơ quan giao cấu Đốt cuối cùng phần bụng có chẻ đuôi dẹt và bằng, xung quanh có nhiều tiêm mao, đuôi lớn hay nhỏ, tiêm mao nhiều hay ít thay đổi theo sự biến đổi của độ mặn Độ mặn càng cao, đuôi thu nhỏ lại [8]
Hình 1.2: Artemia franciscana 1.1.3 Đặc điểm dinh dưỡng của Artemia
Artemia có tập tính ăn lọc không chọn lựa và thức ăn của chúng là vi tảo, vi
khuẩn, sinh vật đơn bào, mùn bã hữu cơ,… Chúng có khả năng lọc được những hạt lơ lửng trong môi trường nước có kích thước từ 1-50 µm [19, 30, 45] Ở giai đoạn ấu trùng chúng có thể sử dụng thức ăn có kích cỡ 25 – 30 µm và 40 – 50 µm khi trưởng
thành [31] Ở ruộng nuôi thức ăn cho Artemia chủ yếu dựa vào việc bón phân gây màu
tảo trực tiếp trong ao nuôi hoặc gián tiếp trong ao gây nuôi tảo Ngoài ra chúng còn sử
Trang 16dụng các phụ phẩm từ các nông sản hoặc từ ngành công nghiệp chế biến có giá thành thấp như: Cám gạo, cám ngũ cốc, bột đậu nành, là nguồn thức ăn thích hợp cho việc
nuôi Artemia ở mật độ cao [29] Tuy nhiên, các loại thức ăn này có kích thước hạt lớn nên Artemia không thể lọc được, do đó cần được tiếp tục xử lý để đạt được kích thước
của hạt thức ăn nhỏ hơn 50 µm [29]
1.1.4 Khả năng thích nghi với điều kiện sống của Artemia
A franciscana cũng như các loài khác trong giống Artemia là sinh vật rộng
muối, chúng sống được trong môi trường nước lợ từ vài phần ngàn đến nước mặn bão hoà (250 ppt) [45] Tuỳ theo điều kiện môi trường mà chúng có đặc điểm sinh trưởng
và sinh sản khác nhau
Artemia được tìm thấy trên 500 hồ nước mặn và ruộng muối trên thế giới Artemia được tìm thấy chủ yếu trong những ao hồ có nồng độ muối cao (80– 120 ppt)
[45], đây cũng là ngưỡng chịu đựng cao nhất về nồng độ muối của các sinh vật dữ Từ
250 ppt trở lên mật độ Artemia giảm và có thể chết hàng loạt [9] mặc dù chúng có thể
sống ở nồng độ muối cao hơn nhưng nhu cầu về năng lượng để điều hoà áp suất thẩm thấu tăng làm ảnh hưởng bất lợi đến sinh trưởng và sinh sản của chúng, thậm chí chúng bị đói và bị chết do môi trường trở bất lợi và việc trao đổi chất cực kỳ khó khăn
Mặc dù Artemia có thể sống tốt trong môi trường nước biển tự nhiên nhưng do
Artemia không có cơ chế chống lại sinh vật dữ (cá, tôm…) và cạnh tranh với các loài
ăn lọc khác nên chúng có một cơ chế thích nghi rất tốt với độ mặn cao (80 – 120 ppt),
mà hầu như các loài sinh vật dữ và sinh vật cạnh tranh không thể tồn tại
Nhiệt độ cũng là một trong những yếu tố môi trường có ảnh hưởng trực tiếp đến
sự sinh trưởng và sinh sản của Artemia Theo Nguyễn Thị Ngọc Anh và Nguyễn Văn
Hòa, 2004 [6], khi nhiệt độ thấp dưới 20oC Artemia sinh trưởng chậm hoặc chết rải
rác, khi nhiệt độ lên cao trên 36oC Artemia có thể chết rải rác hoặc chết hàng loạt, sức sinh sản giảm và khả năng phục hồi quần thể chậm Khi nuôi Artemia ở phòng thí
nghiệm (nhiệt độ ổn định) cũng đã tìm thấy: ở nhiệt độ 30oC số lứa đẻ con (nauplius) cao gấp chín lần so với nuôi ở nhiệt độ 26oC [1] Đối với Artemia franciscana dòng
Vĩnh Châu -Việt Nam có đặc điểm thích nghi khá cao, đặc biệt với nhiệt độ, chúng có thể tồn tại được ở nhiệt độ 38 - 41oC, thậm chí 42oC [4]
Trang 171.1.5 Đặc điểm sinh trưởng và vòng đời của Artemia
Theo Sorgeloos (1980) [12], Artemia có vòng đời ngắn (ở điều kiện tối ưu
Artemia có thể phát triển thành con trưởng thành và tham gia sinh sản sau 7-8 ngày
nuôi) Trong quần thể Artemia luôn có hai hình thức sinh sản là đẻ con và đẻ trứng;
sức sinh sản cao (trung bình 1500 - 2500 phôi) Số trứng/lần đẻ/con cái 70 – 300 trứng, nếu gây nuôi trong phòng thí nghiệm thì chỉ khoảng 30 – 40 trứng [6]
Hình 1.3: Vòng đời phát triển của Artemia [43]
Ngoài tự nhiên, Artemia đẻ trứng bào xác nổi trên mặt nước và được sóng gió
thổi dạt vào bờ Các trứng nghỉ này ngừng hoạt động trao đổi chất và phát triển khi được giữ khô Nếu cho vào nước biển, trứng bào xác có hình cầu lõm sẽ hút nước, phồng to Lúc này, bên trong trứng, sự trao đổi chất bắt đầu Sau khoảng 20 giờ, màng
nở bên ngoài nứt ra (breaking) và phôi xuất hiện Phôi được màng nở bao quanh Trong khi phôi đang treo bên dưới vỏ trứng (giai đoạn bung dù = umbrella) sự phát triển của ấu trùng được tiếp tục và một thời gian ngắn sau đó màng nở bị phá vỡ (giai
đoạn nở = hatching) và ấu thể Artemia được phóng thích ra ngoài [21]
Ấu trùng Artemia mới nở (Instar I), có chiều dài 400-500 μm có màu vàng cam,
có mắt, ấu trùng Nauplius màu đỏ ở phần đầu và ba đôi phụ bộ (anten I có chức năng cảm giác, anten II có chức năng bơi lội và lọc thức ăn và bộ phận hàm dưới để nhận
Trang 18thức ăn) Mặt bụng ấu trùng được bao phủ bằng mảnh môi trên lớn (để nhận thức ăn: chuyển các hạt từ tơ lọc thức ăn vào miệng) Ấu trùng giai đoạn này không tiêu hóa được thức ăn vì bộ máy tiêu hóa chưa hoàn chỉnh, chúng sống dựa vào noãn hoàng [21]
Hình 1.4: Quá trình nở của trứng bào xác [43]
Sau khoảng 8-10 giờ từ lúc nở (phụ thuộc vào nhiệt độ), ấu trùng lột xác thành
giai đoạn II (Instar II) Lúc này, chúng có thể tiêu hóa các hạt thức ăn cỡ nhỏ (vi tảo,
vi khuẩn) có kích thước từ 1 đến 50 μm nhờ vào đôi anten II và lúc này bộ máy tiêu hóa đã hoạt động [21]
Ấu trùng phát triển và biệt hóa qua 15 lần lột xác Các đôi phụ bộ xuất hiện ở vùng ngực và biến thành chân ngực Mắt kép xuất hiện ở hai bên mắt Từ giai đoạn 10 trở đi, các thay đổi về hình thái và chức năng quan trọng bắt đầu: Anten mất chức năng vận chuyển và trải qua sự biệt hóa về giới tính Ở con đực chúng phát triển thành càng bám, trong khi anten của con cái bị thoái hóa thành phần phụ cảm giác Các chân ngực được biệt hóa thành ba bộ phận chức năng: Các đốt chân chính, các nhánh chân trong (vận chuyển và lọc thức ăn) và nhánh chân ngoài dạng màng (mang)
Artemia trưởng thành dài khoảng 10 mm (tùy dòng), cơ thể thon dài với hai mắt
kép, ống tiêu hóa thẳng, anten cảm giác và 11 đôi chân ngực Con đực có đôi gai giao cấu ở phần sau của vùng ngực Đối với con cái rất dễ nhận dạng nhờ vào túi ấp hoặc tử cung nằm ngay sau đôi chân ngực thứ 11
Trang 19Hình 1.5: Artemia trưởng thành (đực bên trái-cái bên phải) [43] Tuổi thọ trung bình của cá thể Artemia trong các ao nuôi ở ruộng muối khoảng
40 - 60 ngày tùy thuộc điều kiện môi trường [2] Tuy nhiên, quần thể Artemia trong
ruộng muối vẫn tiếp tục duy trì ngay cả trong mùa mưa khi độ mặn trong ao nuôi giảm
thấp (60 ppt) nếu ruộng nuôi không bị địch hại (tôm, cá, copepoda…) tấn công và vẫn
được cung cấp đầy đủ thức ăn [9] Vì thế nên có thể kéo dài vụ nuôi nếu dự trữ đủ nguồn nước mặn trong hệ thống ao chứa hoặc khi độ mặn giảm thấp đến 60 ppt thì phải quản lý tốt hệ thống ao nuôi kiểm soát và khống chế sự phát triển của các địch hại
của Artemia [7]
1.1.6 Đặc điểm sinh sản
Khi trưởng thành con đực dùng đôi càng ôm phần bụng của con cái gọi là “hiện tượng bắt cặp” để thụ tinh cho hoạt động sinh sản và hiện tượng này kéo dài suốt vòng đời của chúng Quá trình giao phối xảy ra trong tư thế bắt cặp, con đực sẽ cong mình
và dùng một trong hai gai sinh dục chuyển sản phẩm sinh dục vào buồng trứng của con cái và trứng sẽ được thụ tinh Trứng phát triển trong hai buồng trứng dạng ống ở phần bụng Trong vòng đời con cái có thể tham gia cả hai phương thức sinh sản là đẻ con và đẻ trứng; trung bình mỗi con đẻ khoảng 1500 - 2500 phôi [8]
Trang 20Hình 1.6: Hiện tượng bắt cặp ở Artemia [43]
Sự đẻ con (Ovoviviparity): Trứng thụ tinh sẽ phát triển thành ấu trùng bơi lội tự
do (nauplius) và được con cái phóng thích ra ngoài môi trường nước
Hình 1.7: Buồng trứng con cái trưởng thành ở hình thức đẻ con [43]
Sự đẻ trứng (Oviparity): Trong điều kiện bất lợi, các phôi chỉ phát triển đến giai đoạn phôi vị (gastrula) và sẽ được bao bọc bằng một lớp vỏ dày (được tiết ra từ tuyến
vỏ trong tử cung) tạo thành trứng nghỉ (cyst) hay còn gọi là trứng “tiềm sinh” (diapause) và được con cái sinh ra [21]
Hình 1.8: Buồng trứng con cái trưởng thành ở hình thức đẻ trứng [43]
Trang 211.2 Một số đặc điểm của Artemia franciscana dòng Vĩnh Châu và dòng Great Salt
Lake
1.2.1 Dòng Vĩnh Châu
Năm 1984, thông qua các công trình hợp tác quốc tế, Khoa Thủy sản trường
Đại học Cần Thơ đã nhập nội và nghiên cứu đối tượng Artemia franciscana dòng San
Francisco Bay (FSB, Mỹ) Sau thời gian di nhập thì dòng San Francisco Bay đã thích nghi với điều kiện khí hậu vùng ruộng muối nước ta và thông qua sự tồn tại và phát triển của thế hệ con cháu đã trở thành dòng bản địa với tên gọi là dòng Vĩnh Châu Với kích trứng và ấu trùng nhỏ (tương ứng 220 - 230 µm và 400 - 450 µm theo thứ tự), hàm lượng HUFA cao nên rất có giá trị trên thị trường thế giới [8]
Về đặc điểm thích nghi thì dòng Vĩnh Châu có đặc điểm khác xa với tổ tiên của chúng nhất là khả năng chịu nóng Hiện tại chúng có thể phát triển tốt ở điều kiện độ mặn: 80-120 ppt, nhiệt độ: 22-35oC, hàm lượng oxy hòa tan không thấp hơn 2 mg/L,
pH từ trung tính đến kiềm (7,0-9,0) [8]
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Vân và CTV (2010) [23], dòng Vĩnh Châu có tỷ lệ sống cao trung bình đạt 89,9 % sau 14 ngày nuôi ở độ mặn 80 ppt, tốc độ tăng trưởng trung bình 0,45 cm/ngày Với vòng đời đạt 35 - 39 ngày và các chỉ tiêu sinh sản như sau: Thời gian tiền sinh sản 16,2 ± 0,6 (ngày), thời gian sinh sản 15,4 ± 5,9 (ngày), thời gian hậu sinh sản 2,1 ± 1,6 (ngày), số lứa/con cái: 5,23 ± 1,96, chu kỳ sinh sản 4,09 ± 1,29 (ngày), sức sinh sản 84 ± 26 (phôi/lần), tổng Cyst/con cái: 87 ±
44, tổng Nauplius/con cái: 392 ± 248, tổng phôi/con cái: 479 ± 258, tỷ lệ Nauplius/vòng đời (%): 90,9 ± 11,8, số Nauplius/lứa: 92 ± 33 tất cả được thu thập ở độ mặn 80 ppt
1.2.2 Dòng Great Salt Lake
Trên thế giới và Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu về đặc điểm của dòng này
và trứng bào xác, sinh khối chủ yếu được thu từ ngoài tự nhiên Nhưng nhìn chung có thể nhận thấy những đặc điểm đặc trưng: Dòng GSL có nguồn gốc từ Hồ muối lớn -
Mỹ, có khả năng phát triển và chịu đựng tốt ở nhiệt độ cao Theo Vanhaecke (1984) [49] thì loài này có đặc điểm khác xa so với loài thu từ SFB Hồ mặn Great Salt là một trong các hồ nước mặn lớn trên thế giới với nhiệt độ biến động rất lớn trong năm (từ -
2oC đến 42oC vào mùa hè) mặc dù vậy nước không hề đóng băng do độ mặn quá cao
Trang 22và vẫn quan sát thấy Artemia ở 3oC, từ lý luận trên, có thể nhận định đây là một dòng
Artemia franciscana rộng nhiệt Kết quả theo dõi của Vanhaecke và Sorgeloos, 1989
trong khoảng nhiệt độ 22,5 - 32,5oC thì dòng này có tỷ lệ sống cao (85 - 89 %), sinh khối đạt 78 - 135 % ( đạt cao nhất ở nhiệt độ 30oC) và tốc độ tăng trưởng đặt trưng đạt 0,406 % ở 30oC [21] Về tốc độ tăng trưởng và kích thước và một số chỉ tiêu sinh sản cũng như vòng đời được thông báo bởi Nguyễn Thị Hồng Vân, 2010 [23] cho thấy ở dòng này có kích thước trứng bào xác lớn, nauplius cũng lớn hơn so với một số dòng khác (chiều dài nauplius mới nở dài khoảng 450-500 µm) Bên cạnh đó nghiên cứu cho thấy độ mặn không ảnh hưởng lên tốc độ tăng trưởng của dòng này, trung bình tăng trưởng theo chiều dài đạt 0,50 mm/ngày Ở chỉ tiêu tuổi thọ, dòng GSL có tuổi thọ cao khoảng 35-39 ngày ở độ mặn cao (120 ppt), còn ở độ mặn thấp (50-80 ppt) thì tuổi thọ ngắn hơn chỉ khoảng 23-27 ngày Ở các chỉ tiêu sinh sản của dòng GSL ở độ mặn 80 ppt như sau: thời gian tiền sinh sản 18,4 ± 3,1ngày, thời gian sinh sản 8,1 ± 3,1 ngày, thời gian hậu sinh sản 2,5 ± 2,1 ngày, số lứa/con cái: 2,37 ± 1,00, chu kỳ sinh sản 441 ± 2,06 (ngày), sức sinh sản 73 ± 15phôi/lần, tổng Nauplius/con cái: 145 ± 69, tổng phôi/con cái: 209 ± 68, tỷ lệ Nauplius/vòng đời (%): 82,1 ± 20,5, số Nauplius/lứa:
81 ± 20 Nhìn chung số chỉ tiêu về sinh sản của dòng GSL không lớn nhưng có thể chịu được nhiệt độ, độ mặn cao và có tốc độ sinh trưởng cao, kích thước tốc đa lớn là những thuận lợi để đưa vào nuôi thu sinh khối trong ao đất ở điều kiện Ninh Hòa - Khánh Hòa
1.3 Vai trò của Artemia trong nuôi trồng thủy sản
Artemia được biết đến vào những năm đầu thập niên 30 khi người ta phát hiện
ra chúng là loài thức ăn sống có giá trị dinh dưỡng cao cho việc ương giống các loại thuỷ sản như tôm cá, động vật thân mềm Seale (1930) và Rollefeson (1939)[4] đã
khám phá ra ấu trùng Nauplius của Artemia là một loại thức ăn lý tưởng cho ấu trùng tôm cá Artemia có thể đáp ứng rất tốt nhu cầu dinh dưỡng cho giai đoạn ấu trùng của
phần lớn các loại tôm cá
Hiện nay các trại sản xuất giống, ấu trùng Artemia được sử dụng rộng rãi nhất
bởi những lý do sau [8]:
Giá trị dinh dưỡng cao (protein, acid béo không no HUFA cao)
Sẵn có trên thị trường dưới dạng trứng bào xác (còn gọi là cyst)
Trang 23 Không phụ thuộc mùa vụ, thời tiết và có thể thu với số lượng lớn (trứng bào xác nở sau 24 giờ tính từ khi ấp)
Có thể khống chế được bệnh cho ấu trùng nuôi (xử lý ấu trùng Artemia
trước khi cho ăn hoặc sử dụng chúng như một bao sinh học để chứa các chất dinh dưỡng đặc biệt là thuốc phòng trị bệnh chuyển tới ấu trùng nuôi) [21]
Artemia tiền trưởng thành và trưởng thành được gọi là sinh khối có giá trị dinh
dưỡng cao hơn Artemia mới nở từ trứng và được sử dụng là thức ăn phổ biến trong các
trại sản xuất giống, trại ương giống hay nuôi vỗ tôm, cá bố mẹ
Artemia trưởng thành có giá trị dinh dưỡng rất cao (lớp vỏ giáp mỏng hơn 1
µm), chiếm 60 % lượng đạm và rất giàu amino acid tính trên khối lượng khô Thêm
vào đó Artemia còn chứa một lượng đáng kể vitamin, sắc tố Sử dụng sinh khối
Artemia trưởng thành có thể gây phát dục cho tôm bố mẹ mà không cần cắt mắt Nhiều
nghiên cứu cũng đã chứng minh việc sử dụng sinh khối Artemia để nuôi vỗ tôm, cá bố
mẹ đã kích thích sự thành thục của buồng trứng, gia tăng số lần đẻ và cải thiện chất lượng ấu trùng [8]
Artemia có thân mềm với lớp vỏ mỏng, chúng bơi lội chậm chạp trong môi
trường nước có màu sắc hấp dẫn, trong điều kiện nước ngọt chúng có thể sống khoảng
8 giờ Chính vì vậy, Artemia là loại thức ăn lý tưởng cho ấu trùng các loại tôm cá ở giai đoạn đầu phát triển Artemia không chỉ có giá trị sử dụng tiện lợi mà còn có giá trị
dinh dưỡng cao: hàm lượng protein chiếm 62 % và 27 % lipid (tính theo khối lượng khô)…[8]
Các đặc điểm trên kết hợp với kỹ thuật làm giàu hoá sinh học nhằm tăng chất
lượng của sinh khối Artemia, làm thức ăn sống tối ưu cho ương nuôi tôm, cá và có thể
thay thế trứng nước và trùn chỉ (nguồn thức ăn có nhiều mầm bệnh) trong nghề nuôi cá cảnh nhiệt đới [8]
Sinh khối Artemia còn được dùng để làm thành phần hoặc chất kích thích trong
thức ăn chế biến cho ấu trùng tôm, cá Tuy nhiên khá phổ biến là dùng sinh khối đông
lạnh Artemia để thay thế cho ấu trùng Artemia mới nở trong sản xuất giống tôm he (Marsupenaneus japonicus) Các nhà nghiên cứu cũng nêu lên rằng để sản xuất 1 triệu con tôm he giống chỉ cần 1,8 kg bột sinh khối Artemia [8]
Trang 24Trong nuôi Artemia thu sinh khối thì Artemia trưởng thành được quan tâm
nhiều hơn do kích thước lớn hơn 20 lần và khối lượng nặng hơn 500 lần so với ấu
trùng Artemia mới nở Đồng thời thành phần dinh dưỡng của Artemia trưởng thành
chứa đầy đủ các acid amine cần thiết như: Histidine, Methionine, Phenylalanine và
Threonine mà ở ấu trùng nauplius không có đầy đủ [8]
Hiện nay việc sử dụng sinh khối Artemia vẫn chưa được chấp nhận ở mức độ
công nghiệp do hạn chế về tính thời vụ và số lượng sinh khối tươi cũng như sinh khối
đông lạnh, chi phí sản xuất cao, chất lượng biến động Ở Việt Nam, sinh khối Artemia
sử dụng làm thức ăn cho ấu trùng tôm càng xanh, tôm cua biển, cá cảnh, cá chẽm giống, ốc hương…ở dạng tươi sống, đông lạnh và thức ăn chế biến [1]
1.4 Tình hình nghiên cứu về nuôi thu sinh khối Artemia ở Việt Nam và trên thế
giới
1.4.1 Trên thế giới
Từ những năm 1930, Artemia được biết đến là một nguồn thức ăn lý tưởng trong
ương nuôi ấu trùng tôm, cá Trong khoảng những năm 1950, trứng bào xác của
Artemia được thu từ các ruộng muối ven biển và các hồ nước mặn tự nhiên đã có giá
trị thương mại trên thị trường thế giới [41] Từ những năm 1950 – 1960, nền công
nghiệp khai thác trứng bào xác Artemia ở Mỹ phát triển mạnh mẽ Trong những năm
1970 – 1980, nhu cầu về trứng bào xác Artemia tăng rất nhanh và nhiều quốc gia đã nghiên cứu thu trứng bào xác Artemia từ tự nhiên (Argentina, Australia, Canada,
Colombia, Pháp, Trung Quốc,…) Cuối những năm 1980, Trường Đại học Ghent ở Bỉ
đã có các chương trình nghiên cứu quốc tế về nuôi và sử dụng sinh khối Artemia Tuy nhiên, việc nghiên cứu và phát triển nghề nuôi Artemia trên thế giới cho đến nay chủ yếu nhằm để gia tăng hiệu quả cho việc thu hoạch trứng bào xác (cyst) Artemia Trong khi đó, những nghiên cứu về sinh khối Artemia chưa được quan tâm đúng mức
Trong giai đoạn gần đây nghề nuôi tôm, cá biển ở nhiều nước trên thế giới phát triển mạnh (Thái Lan, Trung Quốc, Philippin, Indonesia,…) nên nhu cầu về trứng bào
xác và sinh khối Artemia ngày càng tăng Do đó, nhiều quốc gia đã bắt đầu quan tâm nghiên cứu nuôi thu sinh khối Artemia
Trang 25Sorgeloos, (1975) [42], nuôi sinh khối Artemia trong các thể tích nhỏ từ 1 - 20 L,
trong môi trường nước biển tự nhiên có độ mặn 35 ppt, pH từ 8,0 - 8,5, nhiệt độ 28 –
30oC với thức ăn sử dụng là sử dụng tảo sống và tảo khô
Sorgeloos và Bossuyt (1980) [41] đã thử nghiệm nuôi sinh khối Artemia với 2
mật độ nuôi là 5000 - 10000 Nauplius/L, trong các bể nuôi có thể tích từ 2 - 5 m3, thức
ăn để nuôi Artemia là các phụ phẩm nông nghiệp như bột bắp, bột cám gạo Trong năm này Duivodi và CTV (1980) [31] cũng đã nuôi sinh khối Artemia trong các bể xi
măng để xác định sự phát triển ở các độ mặn khác nhau
Zmora và CTV (2002) [45] đã nuôi sinh khối Artemia trong ao ở Israel bằng cách
bổ sung vào ao từ 3 - 5 triệu Nauplius hàng ngày, năng suất trung bình đạt 5 kg/ngày/1000 m2, tương đương 1500 kg/ha/tháng và nuôi kéo dài trong nhiều tháng
Năm 2003, Teresita và CTV [42] thí nghiệm nuôi sinh khối Artemia bằng phân
gà với các liều lượng khác nhau, trong 55 ngày nuôi nhưng chỉ thu được năng suất cao nhất là 467,33 g/ao 4 m3
Hiện nay, Trung Quốc đang sản xuất sinh khối Artemia đã được làm giàu các loại
acid béo không no bậc cao và bán ra thị trường dưới dạng bánh đông lạnh để cung cấp cho các đối tượng muôi trồng thủy sản
Nhìn chung, việc nghiên cứu nuôi thu sinh khối Artemia franciscana trên thế giới
chưa tương xứng với nghiên cứu nuôi thu trứng bào xác và nghề nuôi sinh khối
Artemia chưa được phát triển mạnh
1.4.2 Tình hình nghiên cứu nuôi sinh khối Artemia ở Việt Nam
Artemia không phân bố tự nhiên ở Việt Nam [25], nhưng do có giá trị dinh dưỡng
cao và là loại thức ăn không thể thiếu được trong sản xuất giống thủy sản nên đã được nhiều đơn vị nghiên cứu trong nước quan tâm
Nghiên cứu nuôi Artemia bắt đầu thử nghiệm từ năm 1978 với loài Artemia
salina trong phòng thí nghiệm tại Viện Hải dương học Nha Trang, sử dụng thức ăn là
lòng đỏ trứng gà và cám sấy nghiền nhỏ rây kỹ pha theo tỷ lệ 1 gam/L môi trường, điều kiện nhiệt độ 18 - 31oC, độ mặn 30 – 35 ppt Sau 10 ngày nuôi đã phân biệt đực cái, chiều dài cá thể lớn nhất đo được là 11,5 mm Thời gian khép kín vòng đời 15 –
20 ngày [2] Đến năm 1982 Artemia được du nhập vào Việt Nam thông qua bước đầu
Trang 26thử nghiệm nuôi ở Nha Trang từ dòng San Francisco Bay [47] Năm 1984, Khoa Thủy
sản Trường Đại học Cần Thơ đã tiến hành thí nghiệm nuôi Artemia thu trứng bào xác
ở vùng ven biển Vĩnh Châu (Sóc Trăng) và Bạc Liêu và đã trở thành vùng trọng điểm
cung cấp trứng bào xác Artemia có chất lượng cao cho thị trường trong và ngoài nước
[9, 21]
Bắt đầu từ năm 1990 trở đi đã có một số nghiên cứu nuôi thu sinh khối Artemia
đã được thực hiện như sau:
Vũ Dũng (1991) [4], tiến hành nghiên cứu xây dựng quy trình nuôi Artemia ở
đồng muối Ninh Hải, Cà Ná Tác giả đã nuôi 7 dòng khác nhau trong bể kính 30 lít với thức ăn là tảo, kiểm tra các chỉ tiêu sinh học, chọn dòng tốt nhất đem ra nuôi ở ruộng
muối Kết quả nghiên cứu cho thấy dòng San Francisco Bay (Artemia franciscana) có
kích thước trứng bào xác (cyst) và nauplius nhỏ, thành thục sớm, sức sinh sản cao, thích hợp với điều kiện nuôi ở miền Trung Độ mặn trên dưới 80 ppt kích thích các
dòng Artemia đẻ con, độ mặn từ 80–120 ppt cho năng suất trứng cao nhất và độ mặn
là một trong nhiều yếu tố chi phối việc đẻ con hay đẻ trứng của Artemia Kết quả nghiên cứu đã mở ra triển vọng cho việc nuôi sinh khối Artemia ở ruộng muối tại các
tỉnh Khánh Hòa và Ninh Thuận
Nguyễn Ngọc Lâm và Vũ Đỗ Quỳnh (1991) [16], đã nghiên cứu cấu trúc sinh
sản của Artemia trong điều kiện tự nhiên đồng muối Cam Ranh Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng độ mặn có ảnh hưởng rất lớn đến sức sinh sản của Artemia Khi độ mặn
giảm sản lượng trứng bào xác giảm dần, mật độ cá thể cái tham gia sinh sản thấp, sức sinh sản kém Tuy nhiên, nghiên cứu chưa xác định rõ độ mặn tối ưu để đạt năng suất sinh khối và lượng trứng bào xác cao nhất
Ngô Thị Thu Thảo (1992) [16], đã nghiên cứu ảnh hưởng của các loại thức ăn
khác nhau đến năng suất sinh khối Artemia, kết quả thu được sau 3 tháng nghiên cứu
cho thấy năng suất ở nghiệm thức nước xanh có bón phân gà và bổ sung cám gạo và nghiệm thức chỉ cấp nước xanh là 2,6 tấn/ha và 2 tấn/ha theo thứ tự Tuy nhiên nghiên cứu này chưa quan tâm đến thành phần loài và mật độ tảo trong nguồn nước xanh cung cấp cho hệ thống nuôi thí nghiệm
Nghiên cứu về ảnh hưởng của một số yếu tố môi trường đến sự phát triển của quần thể đặc biệt là nhiệt độ có ảnh hưởng rất nhiều đến sinh trưởng và sinh sản của
Trang 27Artemia franciscana Nhiệt độ quá thấp dưới 20oC Artemia franciscana sẽ sinh trưởng
chậm hoặc chết rải rác và tương tự khi nhiệt độ quá cao trên 36oC sẽ gây ra hiện tượng chết, có khi chết hàng loạt, giảm khả năng sinh sản và quần thể phục hồi rất chậm [2,
3, 15]
Nguyễn Thị Ngọc Anh và CTV, 1997 [5], tiến hành đề tài nghiên cứu “Đánh
giá tiềm năng thu sinh khối Artemia trên ruộng muối Vĩnh Châu” Các thí nghiệm
được thực hiện tại trại thí nghiệm của Hợp tác xã muối Vĩnh Phước, huyện Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng, trong hai mùa khô năm 1994 và 1995 Nguồn giống dùng trong thí
nghiệm này là trứng Artemia franciscana thu ở Vĩnh Châu từ vụ nuôi trước Kết quả
nghiên cứu cho thấy có thể nuôi thu sinh khối theo hướng một chu kỳ, kết hợp thu trứng bào xác cho năng suất cao Năng suất trung bình khi nuôi ở các ao nhỏ (200
m2/ao) 6521 ± 1559 kg/ha/vụ và ở các ao lớn trên 2000 m2/ao 1716 ± 229 kg/ha/vụ
Nghiên cứu về ảnh hưởng của mức nước trong ao nuôi khác nhau đến năng suất
sinh khối của Artemia cho thấy rằng ở ao được duy trì mức nước trung bình 60 cm đạt
8 tấn/ha/vụ, trong khi đó ở ao nông với mức nước 30 cm năng suất chỉ đạt 5 tấn/ha/vụ [31]
Nghiên cứu ảnh hưởng của nuôi một chu kỳ (chỉ thả giống một lần và nuôi thu sinh khối liên tục đến cuối vụ nuôi) và nuôi nhiều chu kỳ (thả giống mới sau mỗi chu
kỳ nuôi khoảng 6 tuần và mỗi vụ nuôi khoảng 3 chu kỳ) đến năng suất sinh khối
Artemia cho thấy rằng năng suất ở nghiệm thức nuôi một chu kỳ là 2,3 tấn/ha/vụ và ở
nghiệm thức nhiều chu kỳ là 3,8 tấn/ha/vụ [1]
Ngô Thị Thu Thảo và Vũ Đỗ Quỳnh (1997) [10], đã nghiên cứu ảnh hưởng của
việc giảm các mức thức ăn đến tuổi thọ và sức sinh sản của Artemia franciscana Kết
quả nghiên cứu cho thấy việc giảm mức thức ăn có ảnh hưởng đến khả năng sinh sản
nhưng không ảnh hưởng đến tuổi thọ của con cái ở A franciscana Quá trình theo dõi
các thông số sinh sản cho thấy: Tổng số phôi/con cái, số phôi/lứa đẻ, số phôi/ngày đẻ,
số lứa đẻ giảm cùng với việc giảm mức thức ăn
Trương Sĩ Kỳ và Nguyễn Tấn Sỹ (1999) [9], đã nuôi Artemia franciscana trong
ao đất tại Đồng Bò, Nha Trang thu sinh khối làm thức ăn cho sản xuất giống và nuôi thương phẩm cá ngựa đen Mật độ thả giống 110 Nauplius/L, nuôi trong ao đất diện tích 300 m2, độ sâu 0,5 – 0,7 m, độ mặn 75 – 80 ppt Thu sinh khối bắt đầu từ ngày
Trang 28nuôi 14, cách 2 – 3 ngày thu một lần và duy trì thu sinh khối liên tục Sau 52 ngày nuôi
kết thúc thí nghiệm, thu được 25 kg Artemia franciscana sống Tuy nhiên, thí nghiệm
chỉ tiến hành một lần (không lặp lại), trên một ao nuôi với mục đích cung cấp sinh
khối Artemia cho nuôi thương phẩm cá ngựa đen nên các số liệu thu thập được không
đảm bảo độ tin cậy
Nguyễn Văn Hòa (2002) [7], nghiên cứu về ảnh hưởng của độ mặn (80 ppt và
120 ppt) với các dòng khác nhau bao gồm: Artemia franciscana (SFB); dòng Vĩnh
Châu (từ dòng SFB đã được nuôi ở Vĩnh Châu trên 15 năm); dòng Y1 (từ trứng của dòng SFB được nuôi ở Vĩnh Châu năm thứ nhất); dòng Y2 (từ trứng của dòng SFB được nuôi ở Vĩnh Châu sau 2 năm); dòng Y3 (từ trứng của dòng SFB được nuôi ở Vĩnh Châu sau 3 năm) Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt về tỷ lệ sống giữa dòng Vĩnh Châu với dòng SFB và các thế hệ tiếp theo, nhưng không có sự khác biệt về sinh trưởng, đặc điểm sống và vòng đời Ngoài ra, ở độ mặn 120 ppt thì sức sinh sản
và năng suất trứng bào xác Artemia franciscana thấp hơn nhiều so với nuôi ở độ mặn
80 ppt
Nguyễn Thị Ngọc Anh và Nguyễn Văn Hòa (2004) [2], đã nghiên cứu về ảnh hưởng của phương thức thu hoạch sinh khối Kết quả cho thấy sau 16 tuần nuôi, sinh khối ở nghiệm thức thu hoạch 3 ngày một lần cao hơn ở nghiệm thức thu hoạch mỗi ngày một lần với năng suất đạt được là 2,3 tấn/ha và 2,1 tấn/ha theo thứ tự Tuy nhiên,
sự sai khác giữa 2 nghiệm thức không có ý nghĩa thống kê
Nguyễn Văn Hòa và CTV (2006) [8], nghiên cứu phân lập, lưu giữ và nhân sinh
khối tảo Chaetoceros sp làm nguồn tảo giống cho ao bón phân trong hệ thống nuôi sinh khối Artemia trên ruộng muối đã được tiến hành trong môi trường hở đến thể tích
15 m3, với môi trường dinh dưỡng có bổ sung dung dịch Walne + Si + vitamine, mật
độ tảo đạt cực đại 2.327.083 245.294 tb/mL sau 6 ngày nuôi Tuy nhiên kết quả nghiên cứu tùy thuộc nhiều yếu tố như thời tiết, sự nhiễm tạp, sục khí đáy
Huỳnh Thanh Tới và CTV, 2006 [20] đã nghiên cứu ảnh hưởng của tảo
Chaetoceros sp lên chất lượng sinh khối Artemia Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự
vượt trội về tỷ lệ sống và các chỉ tiêu sinh sản của nghiệm thức nuôi bằng tảo thuần
Chaetoceros sp được phân lập từ ao bón phân của khu nuôi Artemia tại Vĩnh Châu so
với nghiệm thức được nuôi bằng hỗn hợp tảo tự nhiên thu từ ao nuôi tảo Hàm lượng
Trang 29các axit béo, đặc biệt là hàm lượng HUFA ở nghiệm thức nuôi bằng tảo thuần
Chaetoceros sp cao hơn ở nghiệm thức nuôi bằng tảo hỗn hợp 3,7 lần Tuy nhiên,
nghiên cứu này mới chỉ thí nghiệm trong các bể nuôi cá cảnh ở thể tích nhỏ Khi nuôi
sinh khối Artemia trong ao đất ở thể tích lớn thì ảnh hưởng của mỗi loài tảo lên chất lượng sinh khối Artemia phụ thuộc nhiều vào sự ưu thế của loài tảo mong muốn, thành
phần loài tảo trong ao nuôi,
Năm 2009, Nguyễn Thị Ngọc Anh và CTV [37] đã tiến hành nghiên cứu ảnh
hưởng của các loại thức ăn bổ sung khác nhau lên thành phần và chất lượng Artemia
trong ruộng muối, với các loại thức ăn bổ sung là phân lợn, cám gạo, bột đậu nành với
4 nghiệm thức khác nhau Tảo là nguồn thức ăn tự nhiên được gây nuôi trong ao bón phân và cấp 2 ngày/lần cho tất cả các nghiệm thức Nghiệm thức đối chứng chỉ cấp tảo, không cấp thức ăn bổ sung (GW), nghiệm thức thứ hai bao gồm tảo và thức ăn bổ sung là phân lợn (GW + PM), nghiệm thức thứ ba bao gồm tảo và bổ sung phân lợn kết hợp với cám gạo (GW + PM + RB), nghiệm thức thứ tư bao gồm tảo và bổ sung phân lợn kết hợp với bột đậu nành (GW + PM + SB) Kết quả nghiên cứu cho thấy sau
khi thả giống 3 tuần, sinh trưởng về chiều dài và khối lượng của Artemia ở 3 nghiệm
thức có sử dụng thức ăn bổ sung cao hơn nghiệm thức đối chứng và sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (P<0,05) Sau 12 tuần nuôi, năng suất sinh khối ở nghiệm thức đối chứng thấp hơn so với 3 NT có sử dụng thức ăn bổ sung
Nguyễn Thị Hồng Vân và CTV (2009) [23] nghiên cứu ảnh hưởng của độ mặn
lên sinh trưởng và sinh sản của Artemia franciscana dòng VC có nguồn gốc từ vịnh
San Francisco Bay (SFB-VC) và dòng GSL có nguồn gốc từ hồ nước mặn Great Salt lake (GSL) Kết quả cho thấy độ mặn ảnh hưởng không nhiều đến tỷ lệ sống của cả hai
dòng Artemia SFB-VC và GSL (đều đạt trên 75% sau 14 ngày nuôi) Độ mặn có ảnh hưởng đến tăng trưởng Artemia dòng SFB-VC nhưng ít ảnh hưởng đến tăng trưởng
dòng GSL và ở cùng độ mặn thường GSL có tăng trưởng nhanh hơn so với SFB-VC Kết quả thí nghiệm cũng cho thấy đối với cả hai dòng, ở độ mặn thấp tuổi thọ của
Artemia ngắn hơn so với độ mặn cao Ngoài ra, khi so sánh hoạt động sinh sản của hai
dòng Artemia nuôi ở 3 độ mặn khác nhau cũng cho thấy sự khác biệt giữa các chỉ tiêu sinh sản và Artemia franciscana dòng SFB -VC có các thông số sinh sản cao hơn dòng
GSL, đặc biệt ở độ mặn 120 ppt ở nhiệt độ cao dòng SFB-VC có tỷ lệ đẻ con cao nhất
Trang 30Nguyễn Tấn Sỹ, 2012 [13] nghiên cứu ảnh hưởng của độ mặn, mật độ nuôi và
thức ăn đến năng suất và chất lượng sinh khối Artemia franciscana Kelloge, 1906 nuôi
trong ao đất tại Cam Ranh Kết quả cho thấy, trong phạm vi nghiên cứu cho thấy, độ mặn khoảng 70-90 ppt, và mật độ thả ban đầu 100 nauplius/L thích hợp nhất để nuôi
Artemia đạt năng suất và chất lượng cao; thức ăn có ảnh hưởng đáng kể đến sinh
trưởng, tỷ lệ sống, năng suất và chất lượng của Artemia Bên cạnh đó, loài tảo
Chaetoceros sp là thức ăn thích hợp cho Artemia Sinh trưởng, tỷ lệ sống, năng suất
và chất lượng của Artemia ở các ao nuôi có loài tảo Chaetoceros sp chiếm ưu thế đều
cao hơn so với các loài tảo khác Việc sử dụng các loại thức ăn bổ sung như bột ngô,
bột đậu nành và tảo khô spirulina cho Artemia ở các ao nuôi thu sinh khối đã nâng cao năng suất sinh khối và chất lượng của Artemia Trong đó, tảo khô spirulina cho kết quả tốt hơn các loại thức ăn bổ sung khác
Sinh khối Artemia có giá trị dinh dưỡng rất cao, đặc biệt sinh khối Artemia tiền
trưởng thành và trưởng thành có giá trị dinh dưỡng cao hơn ở giai đoạn ấu trùng [8]
Vì vậy nên nhu cầu về sinh khối Artemia franciscana chất lượng cao hiện nay trên thị
trường rất lớn để cung cấp cho sản xuất giống các loài cá, các loài giáp xác có giá trị
kinh tế cao và một số loài thân mềm như ốc hương (Babylonia areolata (Link, 1807) Tuy nhiên, cho đến nay các nghiên cứu về nuôi sinh khối Artemia franciscana trong ao
đất trên địa bàn là rất ít và còn nhiều hạn chế, mới có các nghiên cứu xác định độ mặn
và mật độ thả giống ban đầu thích hợp nhất để nâng cao năng suất sinh khối bên cạnh
đó là các nghiên cứu phân lập, lưu giữ và nhân sinh khối lớn một số loài vi tảo giàu
HUFA tại địa phương làm thức ăn trực tiếp cho Artemia Nhưng các nghiên cứu này chủ yếu thực hiện trên Artemia franciscana dòng bản địa (dòng Vĩnh Châu) chưa có các nghiên cứu trên các dòng Artemia franciscana khác có khả năng đem lại năng suất
sinh khối và hiệu quả kinh tế cao hơn.Vì vậy cần phải tiếp tục nghiên cứu để bổ sung các dẫn liệu khoa học và cải tiến kỹ thuật nuôi để hoàn chỉnh quy trình nuôi sinh khối
Artemia franciscana ở Ninh Hòa - Khánh Hòa
1.5 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu
1.5.1.Vị trí địa lý [15]
Khánh Hòa là một tỉnh ven biển ở khu vực Nam Trung Bộ, phía Bắc giáp Phú Yên, phía Tây giáp Đắc Lắc và Lâm Đồng, phía Nam giáp Ninh Thuận, phía Đông
Trang 31giáp biển Đông Tọa độ địa lý 11o41’53’’ – 12o52’53’’ vĩ độ Bắc, 108o40’26’’ –
109o23’24’’ kinh độ Đông Tỉnh Khánh Hòa có 200 km bờ biển, nếu tính theo mép nước chiều dài của bờ biển lên đến 385 km với vùng biển rộng lớn trên 400.000 km2[15]
Ninh Hoà là thị xã đồng bằng ven biển Nam Trung Bộ, thuộc tỉnh Khánh Hoà, nằm trên tọa độ từ 12o20' – 12o45' độ vĩ Bắc, 105o52' – 109o20' độ kinh Đông, có ranh giới chung với huyện Vạn Ninh ở phía Bắc, huyện Diên Khánh và thành phố Nha Trang ở phía Nam, giáp tỉnh Đắc Lắc ở phía Tây, giáp biển ở phía Đông Trung tâm thị xã cách thành phố Nha Trang 33 km về phía Bắc (theo Quốc lộ 1A)
Ninh Hoà nằm về phía Đông vòng cung Bắc Nam của dải trường Sơn, có diện tích tự nhiên 1195,73 km2, trên 70 % là núi rừng 0,44 % là đồng cát ven biển Đất sản xuất nông nghiệp 28.042 ha, trong đó có 10.808 ha trồng lúa Đồng bằng là một lòng chảo hơi tròn, bán kính khoảng 15 km Địa hình thấp dần từ Tây sang Đông và từ Bắc xuống Nam Đất đai ở các vùng chân núi có độ dốc lớn và đồi dốc thoải, tầng đất mỏng, lẫn nhiều đá, bị rửa trôi bạc màu Vùng trung tâm của đồng bằng đất đai tương đối phì nhiêu thích hợp với nhiều loại cây trồng; có nguồn đất sét, đá vôi chất lượng tốt, trữ lượng tương đối lớn, có điều kiện để phát triển ngành nghề làm vật liệu xây dựng như : xi măng, gạch ngói nhưng đồng bằng hẹp, ba mặt bị núi bao bọc, nhiều đỉnh cao hàng ngàn mét như đỉnh hòn Lớn ở phía Nam, hòn Gục, hòn Mẹ Bồng Con Phía Tây bắc Do vậy, huyện Ninh Hoà bị ngăn cách nhiều với các vùng xung quanh, bởi núi cao và nhiều dốc, đèo hiểm trở
Phía Tây, trên Quốc lộ 26 (trước kia gọi là quốc lộ 21) có đèo Dốc Đất, đèo Phượng Hoàng Phía Nam, trên quốc lộ I có đèo Rọ Tượng, đèo Rù Rì, phía Bắc có dốc Giồng Thanh, dốc Đá Trắng Ngoài ra còn có nhiều dải, nhiều cụm núi thấp trải dài ra tận bờ biển và nằm rải rác khắp vùng đồng bằng như: dải núi Đeo, giồng Cốc, giồng Đền, núi Ổ Gà (núi Phú Như), núi dốc Thờ, hòn Hoải, hòn Một, hòn Sầm, hòn Xang chia cắt vùng đồng bằng thành nhiều dạng địa hình, thổ nhưỡng, tiểu khí hậu
đa dạng, phức tạp
Phía Đông đồng bằng, dải núi Hòn Hèo tên chữ là Hoa Đằng sơn, cũng có tên là Phước Hà sơn chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, ba mặt nhô ra biển tạo thành một bán đảo lớn (146 km2) với nhiều đỉnh cao trên 700 m, cao nhất là đỉnh Hòn Hèo
Trang 32(819 m) án ngữ giữa trung tâm bờ biển phía Đông nên khí hậu vùng đồng bằng về mùa đông ẩm thấp, mùa hè oi bức Phía Nam Hòn Hèo là đầm Nha Phu, có diện tích trên
100 km2, đáy đầm nông, nơi sâu nhất khoảng từ 3 đến 5 m Đầm Nha Phu là nơi hợp lưu của tất cả các sông, suối trong huyện, đang được bồi lắng cạn dần
Bờ biển Ninh Hoà có chiều dài hàng trăm km (theo mép nước), nhiều nơi lồi lỏm, khúc khuỷu, có nhiều cửa sông, cửa lạch nằm sâu trong đất liền thuận lợi cho ghe thuyền ẩn trú khi có bão Sinh vật biển có nhiều loài quý như cá thu, tôm, mực, các loại trai ốc Bờ biển nhiều nơi bãi triều rộng thuận lợi cho nghề nuôi trồng hải sản
xuất khẩu, làm muối và nuôi Artemia Nghề làm muối ở Hòn Khói đã có từ lâu đời,
sản lượng có năm lên đến 5 - 6 vạn tấn, chất lượng ngon nổi tiếng trong nước Hàng năm cung cấp hàng vạn tấn cho thị trường trong và ngoài nước
Độ chiếu sáng: Lượng mây ít, thời gian trời quang đãng kéo dài Tổng số giờ
nắng khoảng 2482 giờ hàng năm, rất thuận lợi cho nghề làm muối và nuôi Artemia
Về nhiệt độ: Tổng nhiệt độ năm khoảng 9500 và ít biến đổi Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 26,6°C Từ tháng 1 đến tháng 8 là mùa khô, thời tiết thay đổi dần Những tháng đầu mùa, trời mát, nhiệt độ từ 17-25°C, nhưng từ tháng 5 đến tháng
8 trời nóng nực, nhiệt độ có thể lên tới 37-38°C Tháng 9 đến tháng 12, được xem như mùa mưa, nhiệt độ thay đổi từ 20-26°C
Về lượng mưa: Lượng mưa của Ninh Hòa chỉ đạt 1.350 mm /năm Lượng mưa phân phối không đều theo các tháng trong năm, tập trung khoảng 80% vào 4 tháng trong mùa mưa (tháng 9 – tháng 12) và 20 % còn lại trong 8 tháng mùa khô (tháng 1 – tháng 8)
Trang 33Về độ ẩm: Độ ẩm không khí trung bình năm đạt 80 % Độ ẩm cao nhất thường xảy ra trong tháng 11, trung bình 82 % Độ ẩm thấp nhất vào các tháng 7 và tháng 8, trung bình 77 %
Về gió: Hướng gió thịnh hành trong mùa khô là Đông Nam và Tây Nam, trong mùa mưa là Bắc và Đông Bắc Tốc độ gió từ 2-5 m/s Ninh Hòa là vùng ít gió bão, tần
số bão đổ bộ vào Ninh Hòa hay tỉnh Khánh Hòa thấp chỉ có khoảng 0,82 cơn bão/năm
so với 3,74 cơn bão/năm đổ bộ vào bờ biển Việt Nam
1oC Nhiệt độ nước biển trung bình năm 27,5oC
Độ mặn của nước biển: Độ mặn ở vùng cửa sông phụ thuộc vào chế độ nước ngọt từ thượng lưu đổ về, có trị số nhỏ nhất vào mùa lũ và lớn nhất vào mùa cạn Sự xâm nhập mặn từ biển vào các con sông ở khu vực khoảng 5 - 6 km Độ mặn ở mùa khô vùng cửa sông và ven biển đạt 35 ppt
Trang 34CHƯƠNG 2: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu: Artemia franciscana Kelloge, 1906
Dòng Vĩnh châu (VC) có nguồn gốc từ ruộng muối Vĩnh Châu (Việt Nam) Dòng Great Salt Lake (GSL) có nguồn gốc từ hồ Great Salt Lake (Mỹ)
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu: Tân Ngọc - Ninh Ích - Ninh Hòa - Khánh Hòa
2.1.3.Thời gian nghiên cứu: từ 4/2012 - 10/2012
Ao thí nghiệm
Khu chứa nước và bốc hơi
Trang 352.2 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu
Hình 2.2: Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu
Đánh giá hiệu quả nuôi sinh khối của hai dòng Artemia Vĩnh Châu và
dòng Great Salt Lake trong ao đất tại
Ninh Hòa - Khánh Hòa
Đánh giá hiệu quả sinh học Đánh giá hiệu quả kinh tế
Thu thập và xử lý số liệu
Thảo luận và kết luận
Theo dõi tốc độ tăng trưởng
Theo dõi sức sinh sản
Theo dõi tỷ
lệ sống
Theo dõi biến động mật độ quần thể
Năng suất sinh khối
Đánh giá sơ
bộ về hiệu quả kinh tế
Trang 362.3 Phương pháp nghiên cứu
40 - 60 cm và nâng dần theo thời gian thí nghiệm, độ mặn duy trì trong khoảng 70-90
ppt Tảo được gây màu trực tiếp trong ao nuôi Artemia và gián tiếp trong ao nuôi tảo
Độ trong của ao nuôi dao động trong khoảng 25 - 35 cm Độ mặn ở các nghiệm thức của thí nghiệm được pha từ nước ót (250 ppt) và duy trì suốt quá trình thí nghiệm với khoảng dao động không quá 10 ppt Khi độ mặn tăng cao do sự bay hơi nước sẽ dùng nước biển (35 ppt) ở ao nuôi tảo để hạ độ mặn, khi độ mặn giảm thấp do mưa sẽ tháo bớt lớp nước tầng mặt và cấp nước có độ mặn cao (ở ao chứa nước mặn) bổ sung để nâng độ mặn theo đúng yêu cầu của thí nghiệm
Thời gian thí nghiệm 12 tuần (từ tháng 05 đến tháng 07/2012)
Thí nghiệm gồm 2 nghiệm thức, mỗi nghiệm thức lặp lại bốn lần và được bố trí ngẫu nhiên cho từng nghiệm thức như sau: NT1 gồm các ao A1, A4, B2, B4 và NT2 gồm các ao A2, A3, B1, B3 Trong đó:
NT1: Artemia franciscana dòng Vĩnh Châu (VC)
NT2: Artemia franciscana dòng Great Salt Lake (GSL)
Trang 37Mương thoát nước
Mương cấp nước Ghi chú Hướng nước chảy Van điều chỉnh
Hình 2.3 Sơ đồ ao thí nghiệm 2.3.2 Phương pháp xác định các chỉ tiêu nghiên cứu
2.3.2.1 Xác định các yếu tố môi trường
Nhiệt độ (o
C): Đo bằng nhiệt kế 2 lần/ngày vào lúc 7 giờ và 14 giờ
Độ mặn (ppt): Đo bằng khúc xạ kế 2 lần/ngày vào lúc 7 giờ và 14 giờ
Hàm lượng oxy hòa tan (DO) (mgO2/lít): Đo bằng máy đo YSI của Mỹ 2 lần/ngày vào lúc 7 giờ và 14 giờ
Độ pH: Đo bằng máy đo YSI của Mỹ 2 lần/ngày vào lúc 7 giờ và 14 giờ
Độ trong (cm): Đo bằng đĩa Secchi 1 lần/ngày vào lúc 14 giờ
Mức nước (cm): Đo bằng thước 1 lần/ngày vào lúc 7 giờ
Trang 38Hình 2.4 Thiết bị theo dõi các yếu tố môi trường 2.3.2.2 Xác định tỷ lệ nở của trứng bào xác
Đếm ngẫu nhiên 100 trứng bào xác cho vào cốc thủy tinh 100 mL chỉ chứa 50
mL nước có độ mặn 30 ppt, nhiệt độ 28-30oC, sục khí nhẹ liên tục, ánh sáng nhẹ (2000 lux) liên tục, thời gian ấp 24 giờ Kết thúc thời gian ấp tắt sục khí để vỏ trứng, trứng không nở nổi lên trên bề mặt và trứng hỏng chìm xuống đáy, sau vài phút tiến hành siphon để thu nauplius, đếm số ấu trùng nauplius, các trứng ở giai đoạn bung dù và trứng chưa nở để xác định tỷ lệ nở Tiến hành lặp lại 5 lần đồng thời và xác định giá trị
trung bình của 5 lần lặp lại là tỷ lệ nở thực tế của trứng bào xác của mỗi dòng Artemia
franciscana Từ tỷ lệ nở thực tế sẽ xác định lượng trứng cần ấp theo thể tích ao nuôi và
mật độ thả giống
2.3.2.3 Theo dõi sự sinh trưởng của Artemia
Xác định sự sinh trưởng về chiều dài của Artemia 2 ngày/lần từ lúc thả giống
đến 17 ngày tuổi Thu ngẫu nhiên 30 cá thể/đơn vị thí nghiệm ở từng nghiệm thức Giai đoạn Nauplius đo chiều dài từ đỉnh đầu đến chóp đuôi [38] trên kính hiển vi bằng trắc vi thị kính (hình 2.5) Chiều dài của Nauplius được quy đổi từ chiều dài đo được qua trắc vi thị kính theo công thức:
A
101
L: Chiều dài thực của mẫu
A: Số vạch đọc trên kính hiển vi
Trang 39γ : bội giác của vật kính
Ở giai đoạn tiền trưởng thành và trưởng thành đo chiều dài từ đỉnh đầu đến cuối
bụng (A là chiều dài của Artemia trưởng thành như hình 2.5) bằng giấy ô ly và kính
1 2
t t
L L DLG
Trong đó:
DLG: Tốc độ sinh trưởng về chiều dài toàn thân (mm/ngày)
L1: chiều dài ở thời điểm t1 (mm)
L2: chiều dài Artemia ở thời điểm t2 (mm)
Xác định khối lượng tươi 2 ngày/lần bắt đầu từ ngày thứ 5 kể từ ngày thả nuôi đến ngày nuôi thứ 17 Xác định bằng cách lấy 3 mẫu (khoảng 1 gam) ở 1 ao nuôi thí nghiệm ở các nghiệm thức, loại bỏ nước dư thừa bằng giấy thấm, khối lượng được cân trên cân điện tử có độ chính xác đến 0,0001 mg và sau đó tiến hành đếm số lượng
Artemia trong các mẫu Khối lượng tươi trung bình của 1 cá thể Artemia được tính như
công thức dưới
Trang 40Khối lượng tươi trung bình của một cá thể Artemia được tính theo công thức:
Với : ww: là khối lượng tươi trung bình của một cá thể Artemia (mg)
ww1: Khối lượng tươi trung bình của mẫu (mg)
n: số lượng cá thể Artemia trong một mẫu
Tốc độ sinh trưởng về khối lượng (Daily Weight Gain) (mg/ngày) được tính
theo công thức:
Với ww2: là khối lượng tươi của 1 cá thể (mg) ở ngày nuôi ở thời điểm t2
ww1: là khối lượng tươi của 1 cá thể (mg) ở ngày nuôi ở thời điểm t1.
DWG: Tốc độ sinh trưởng về khối lượng (mg/ngày)
2.3.2.4 Ước lượng tỷ lệ sống
Vì Artemia có đặc tính phân bố không đều nên tiến hành thu mẫu tại 9 điểm
trong ao Dụng cụ thu mẫu bằng ống nhựa PVC Ø 49 mm Mẫu thu được cho vào xô nhựa, khuấy đều, dùng cốc đong múc ra 1 L nước, lọc qua lưới thu với mắt lưới 120
µm, cho mẫu vào lọ nhựa 200 mL và cố định mẫu bằng formol 5 % Từ ngày nuôi 15 trở đi bắt đầu thu sinh khối nên không xác định tỷ lệ sống
Tỷ lệ sống (%) của Artemia được tính theo công thức:
Trong đó: SR (%): Tỷ lệ sống của Artemia
Xn (cá thể/L): Số cá thể Artemia đếm được trong ngày nuôi thứ n/L
X1 (cá thể/L): Số cá thể Artemia thả ban đầu/L
1 2
1
2 mg ngày t
t
ww ww
)(
n ww