Tình hình khai thác và tiềm năng phát triển nghề nuôi cá Chiên ở 3.1 Ảnh hưởng của mật độ đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá Chiên 3.1.1 Biến động một số yếu tố môi trường trong thí n
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
- -
TRẦN VĂN GIANG
ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ, THỨC ĂN ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ SỐNG CỦA CÁ CHIÊN
(Bagarius rutilus Ng & Kottelat, 2001)
GIAI ĐOẠN TỪ CÁ BỘT LÊN CÁ HƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NHA TRANG THÁNG 7 – 2011
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
- -
TRẦN VĂN GIANG
ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ, THỨC ĂN ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ SỐNG CỦA CÁ CHIÊN
(Bagarius rutilus Ng & Kottelat, 2001)
GIAI ĐOẠN TỪ CÁ BỘT LÊN CÁ HƯƠNG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là
của tôi Kết quả nghiên cứu này chưa được sử dụng cho bất cứ luận văn cùng cấp nào khác
Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã
được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả
Trần Văn Giang
Trang 4và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc, các đồng nghiệp của Trung tâm quốc gia giống Thuỷ sản nước ngọt Miền Bắc - Phú Tảo - Hải Dương đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện đề tài nghiên cứu này
Sau cùng xin cảm ơn tới gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã động viên
suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành chương trình cao học
Nha Trang, ngày 10 tháng 07 năm 2011
Trần Văn Giang
Trang 51.3 Tình hình khai thác và tiềm năng phát triển nghề nuôi cá Chiên ở
3.1 Ảnh hưởng của mật độ đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá Chiên
3.1.1 Biến động một số yếu tố môi trường trong thí nghiệm về mật độ
Trang 63.1.2 Ảnh hưởng của mật độ ương nuôi đến sinh trưởng của cá Chiên
3.1.3 Ảnh hưởng của mật độ ương đến tỷ lệ sống của cá 29 3.1.4 Ảnh hưởng của mật độ ương đến hệ số phân đàn của cá 30 3.1.5 Ảnh hưởng của mật độ ương đến tập tính sống và hoạt động bất mồi
3.2 Ảnh hưởng của thức ăn đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá Chiên
3.2.1 Biến động một số yếu tố môi trường trong thí nghiệm về thức ăn 31 3.2.2 Ảnh hưởng của thức ăn đến sinh trưởng của cá Chiên khi ương
3.2.4 Ảnh hưởng của thức ăn đến hệ số phân đàn của cá 41 3.2.5 Ảnh hưởng của thức ăn ương đến tập tính sống và hoạt động bất
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Nhiệt độ, DO và pH trong thí nghiệm về mật độ nuôi 20 Bảng 3.2 Khối lượng trung bình của cá (g/con) khi thí nghiệm ở các mật độ
Bảng 3.3 Ảnh hưởng của mật độ nuôi đến tốc độ sinh trưởng về khối lượng
Bảng 3.4: Chiều dài trung bình của cá (cm/con) khi nuôi ở các mật độ khác nhau 26 Bảng 3.5: Ảnh hưởng của mật độ nuôi đến tốc độ sinh trưởng về chiều dài của
Bảng 3.6: Tỷ lệ sống của cá khi ương nuôi ở các mật độ khác nhau 29 Bảng 3.7: Hệ số phân đàn của cá ương nuôi ở các mật độ khác nhau 30
Bảng 3.9: Khối lượng trung bình của cá (g/con) khi thí nghiệm ở các công
Bảng 3.10: Ảnh hưởng của thức ăn đến tốc độ sinh trưởng về khối lượng của
Bảng 3.11: Chiều dài trung bình của cá (cm/con) khi nuôi ở các công thức
Bảng 3.12: Ảnh hưởng của thức ăn đến tốc độ sinh trưởng về chiều dài của cá
Bảng 3.13: Tỷ lệ sống của cá khi ương nuôi ở các công thức thức ăn khác nhau 40 Bảng 3.14 Hệ số phân đàn của cá ương nuôi ở các thức ăn khác nhau 41
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.2: Bản đồ phân bố cá Chiên ở khu vực phía Bắc Việt Nam 5
Trang 10MỞ ĐẦU
Ở Việt Nam, cá Chiên Bagarius rutilus Ng & Kottelat, 2001 là một trong năm
loài cá quý thuộc hệ thống sông Hồng bao gồm: Cá Chiên, cá Lăng, cá Rầm xanh, cá Anh vũ và cá Bỗng Cá ưa thích sống trong môi trường nước chảy xiết ở vùng Nam
Á (vùng phân bố kéo dài từ Ấn Độ qua Myanmar, Thái Lan, Bắc Việt Nam, Indonexia) Con lớn nhất có thể đạt 50kg, cỡ cá khai thác trung bình ngoài tự nhiên
là 5-7kg hoặc nhỏ hơn Ở nước ta, cá thường thấy nhiều trong các sông suối ở các tỉnh phía Bắc, nhất là ở vùng trung và thượng lưu: Sông Lô, sông Gâm, sông Hồng, sông Đà, sông Chảy và một số tỉnh miền trung như Nghệ An, Thanh Hoá Đây là loài cá sống chủ yếu ở tầng đáy, ưa những nơi có khe nước chảy, đáy là cát đá Hiện nay ngư dân vẫn khai thác được cá Chiên cỡ 0,05 – 40 kg trên sông Lô, sông Gâm, sông Hồng thuộc địa phận các tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang, Yên Bái, Lai Châu Cá Chiên có thể biến đổi theo màu nước và đặc điểm của từng loài: Ở môi trường nước trong, cá có màu nâu đen, trong môi trường nước đục cá có màu vàng nâu Cá Chiên
là loài cá được người tiêu dùng ưa chuộng Giá cá Chiên bán trên thị trường hiện nay thường dao động từ 400.000 – 450.000 đồng/kg Thịt cá Chiên ngon Cá Chiên được coi là cá đặc sản của các vực nước nhiệt đới
Các công trình nghiên cứu về cá Chiên ở trên thế giới chưa nhiều và cũng chỉ chủ yếu tập trung nghiên cứu về đặc điểm phân loại và điều tra đặc điểm sinh thái của loài này ngoài tự nhiên như: Đặc điểm sống, tập tính ăn, mùa vụ sinh sản, đặc điểm sinh học sinh sản Nhất là chưa có nghiên cứu chuyên sâu về sản xuất giống nhân tạo Ở nước ta, nghiên cứu gần đây (2008) đã thành công trong việc nuôi vỗ cá bố mẹ nhân tạo, kích thích rụng trứng, ấp nở thành cá bột và ương nuôi lên cá hương [7]
Việc đánh bắt quá mức cá Chiên trên các sông suối, đặc biệt là ở các vùng thượng nguồn các sông Hồng, Đà, Lô, Gâm bằng đủ các loại ngư cụ, trong đó có cả biện pháp mang tính hủy diệt nguồn lợi cá tự nhiên như kích điện, hóa chất và việc phá hoại điều kiện sinh sản tự nhiên cũng như môi trường sống của loài cá này, đã đẩy chúng vào tình trạng sắp tuyệt chủng Sách đỏ Việt Nam đã xếp cá Chiên vào diện dễ
Trang 11bị ảnh hưởng, cần được đặc biệt chú ý [4]
Trước thực trạng về nguồn lợi cá Chiên giảm sút ở các sông suối tự nhiên của nước ta, yêu cầu cần thiết phải phục hồi, bảo tồn, khai thác nguồn gen và bổ xung loài mới có giá trị kinh tế cho người nuôi Năm 2008, Trung tâm quốc gia giống thuỷ sản
nước ngọt miền Bắc đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu xây dựng quy trình công nghệ sản xuất nhân tạo giống cá Chiên”, bước đầu đã cho một số kết quả khả quan Cá bố
mẹ thành thục tốt trong điều kiện nuôi nhân tạo và bước đầu đã cho sinh sản nhân tạo thành công Tuy nhiên, những kết quả nghiên cứu đạt được trong năm 2008 còn rất hạn chế, tỷ lệ thành thục 15-20%, tỷ lệ sống của giai đoạn từ cá bột lên cá hương tương đối thấp, trung bình chỉ đạt 9,69% Năm 2009 tỷ lệ thành thục 46,2%, tỷ lệ sống của cá bột lên hương đạt 69% So với các kết quả nghiên cứu đạt được từ các loài cá khác, kết quả nghiên cứu kỹ thuật ương từ cá bột lên cá hương đối với cá Chiên còn thấp
Để từng bước góp phần nâng cao tỷ lệ sống và tốc độ tăng trưởng, cũng như
tiến tới xây dựng quy trình sản xuất giống cá Chiên, chúng tôi thực hiện đề tài “Ảnh
hưởng của mật độ, thức ăn đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá Chiên Bagarius rutilus Ng & Kottelat, 2001 giai đoạn từ cá bột lên cá hương”
Các nội dung chủ yếu của đề tài là:
- Ảnh hưởng của mật độ đến tỷ lệ sống và sinh trưởng của cá Chiên ương nuôi
từ giai đoạn cá bột lên cá hương
- Ảnh hưởng của thức ăn đến tỷ lệ sống và sinh trưởng của cá Chiên ương nuôi
từ giai đoạn cá bột lên cá hương
Đề tài đƣợc thực hiện sẽ có ý nghĩa khoa học và thực tiễn:
- Kết quả của đề tài sẽ cung cấp những thông tin về mật độ và công thức thức
ăn phù hợp cho giai đoạn ương cá Chiên từ bột lên hương
- Là cơ sở khoa học để nghiên cứu và hoàn thiện quy trình sản xuất giống cá Chiên trong điều kiện nhân tạo
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số đặc điểm sinh học của cá Chiên
1.1.1 Vị trí phân loại
Theo Nguyễn Văn Hảo (2005), cá Chiên thuộc bộ cá Nheo (Siluriformes) và họ
cá Chiên (Sisoridae) Ở Việt Nam, họ cá Chiên gồm 6 giống, giống Bagarius bao gồm 4 loài, trong đó có loài cá Chiên Bagarius rutilus Ng & Kottelat, 2001 và có hệ
thống phân loại như sau:
Giống cá Chiên Bagarius
Loài cá Chiên Bagarius rutilus Ng & Kottelat, 2001[6]
Hình 1.1: Cá Chiên Bagarius rutilus Ng & Kottelat, 2001
1.1.2 Hình thái cấu tạo của cá Chiên
Theo Nguyễn Văn Hảo (2005) loài Bagarius rutilus có tên tiếng Việt là cá
Chiên, tiếng địa phương vùng Nghệ An, Thanh Hoá gọi là Chiên bắc, cá Ghé Tên tiếng Mường gọi là cá Căl, tên tiếng Tày gọi là Pia và Thái gọi là cá Pa Khể [6].
Cá Chiên B rutilus có thân hình trụ, thon dần về phía đuôi Đầu rất to và bản
rộng nhưng dẹp Hàm dưới hơi nhô ra, răng hàm nhỏ và rất sắc, 2 đôi râu cằm dài và
Trang 13ngắn Màng nắp mang chuyển dời không liền với eo mang
Vây lưng có một gai chất xương cứng, mé sau trơn bóng, mút mềm mại, kéo dài thành sợi, khởi điểm xa mút mõm hơn tới vây mỡ Vây mỡ ngắn, vây hậu môn
có khởi điểm tương ứng với khởi điểm vây mỡ hoặc hơi lùi về phía sau Vây ngực
mở rộng theo chiều ngang, mé sau gai cứng có dải răng mềm, mút sau cứng là những tia mềm dạng tơ kéo dài và có thể kéo dài tới mút sau của vây bụng Vây đuôi phân chạc sâu, mút của các thuỳ kéo dài dạng tơ Phía lưng của phần đầu và bề mặt của thân có nhiều nốt sần nhỏ hướng dọc, phía bụng và ngực trong bóng Xương chẩm trên và phía lưng của gốc vây lưng không có lườn nhô dạng eo, đường bên hoàn toàn [6].
Toàn thân cá có màu vàng xám Ở gốc vây lưng, vây mỡ và phía trước vây đuôi đều có một đốm ngang màu nâu đen Toàn thân và các vây có các đốm nhỏ màu đen phân tán Vây lưng, vây hậu môn và vây đuôi đều có một vân đốm có ranh giới không rõ ràng [6]
1.13 Đặc điểm phân bố
Trên thế giới, cá Chiên phân bố ở Ấn Độ, Miến Điện, Thái Lan, Lào, Campuchia, Indonesia, Trung Quốc [4] Nơi sống của các loài trong giống Bagarius
là Nam và Đông Nam Á Chúng phân bố ở vùng sông nước của Ấn Độ và Pakistan,
ở phía Đông (bao gồm cả bán đảo Ấn Độ) đến sông Hồng của Việt Nam và phía
Nam là toàn bộ Đông Dương bao gồm cả bán đảo Malaysia và Indonesia B bagarius được biết đến từ sông Hằng, Chao Phraya, vùng sông nước Mekong, cũng
như cả ở bán đảo Malaysia và vùng sông nước Salween và Mae Klong, sông
Brahmaputra và sông Ayeyarwady B suchus có nguồn gốc từ lưu vực sông Mekong và Chao Phraya B rutilus sống ở sông Hồng và sông Mã của Bắc Việt Nam Loài B Rutilus Ng& Kottelat, 2001 phân bố rộng ở vùng Nam và Đông Nam
Á [24]
Ở Việt nam, theo Mai Đình Yên (1978 ) [15] cá Chiên sống ở đáy của những nơi nước chảy xiết, có nhiều ghềnh thác Ban ngày cá trú ở những hang hốc của các
Trang 14thác nước, ban đêm mới ra hoạt động, bắt mồi ở những vùng nước xung quanh Cá Chiên phân bố rộng trong hệ thống sông Hồng, giới hạn hạ lưu xuống tận Hưng Yên nhưng có nhiều ở khu vực thượng lưu và trung lưu các con sông, suối Hiện nay, vùng phân bố của cá Chiên bị thu hẹp chỉ còn chủ yếu ở vùng thượng lưu, nơi có nhiều ghềnh thác hiểm trở như Lai Châu trên sông Đà, Lào Cai trên sông Thao, Hà Giang trên sông Lô, ở sông Hồng vẫn còn gặp cá Chiên nhưng rất hiếm Nơi có nhiều cá Chiên hơn cả là thượng nguồn sông Gâm từ Na Hang tới Bắc Mê Trên các
hồ thuỷ điện Hoà Bình và Thác Bà bắt gặp cá Chiên ở khu vực đầu hồ
Hình 1.2: Bản đồ phân bố cá Chiên ở khu vực phía Bắc Việt Nam
(Nguồn: Phòng nguồn lợi và Trung tâm quan trắc cảnh báo môi trường - Viện Thủy Sản I)
Theo Phạm Báu và ctv (2000), ở Việt Nam B.rutilus sống ở các hệ thống sông
suối thuộc các tỉnh phía Bắc Giới hạn thấp nhất là sông Thu Bồn (Nguyễn Văn Hảo,
Trang 152005) Ban ngày cá trú trong các hang hốc của thác nước, ban đêm mới ra hoạt động Hiện nay, vung phân bố của cá Chiên bị thu hẹp chỉ còn chủ yếu ở vùng thượng lưu, nơi có nhiều ghềnh thác, hiểm trở như sông Đà, sông Nậm Mu, Than Uyên – Lai Châu, sông Thao ở Lào Cai, Sông chảy ở Yên Bái và nhiều nhất ở Sông Gâm thuộc khu vực Na Hang, Chiêm Hoá và thị xã Tuyên Quang Trên sông Hồng vẫn còn bắt gặp nhưng số lượng đã rất ít và kích cỡ cá rất nhỏ hiếm gặp cá to Hiện nay ở Than Uyên, Lai Châu vẫn còn đánh bắt được cá cỡ 40 kg Khu vực các tỉnh Miền trung như Nghệ An, Thanh Hoá vẫn bắt gặp nhưng số lượng ít trên hệ thống sông Lam, sông Mã [15]
1.1.4 Đặc điểm dinh dưỡng
Cá Chiên có bộ máy tiêu hoá đặc trưng của loài ăn động vật điển hình: Miệng
cá rộng, răng cá sắc nhọn Tỷ lệ chiều dài ruột/chiều dài thân (Li/Lo) thấp Tỷ lệ Li/Lo = 124,8%, chiều dài của dạ dày/Lo = 18,9% Tỷ lệ chiều rộng miệng/chiều dài đầu gần bằng 47,7% Điều đáng chú ý là tỷ lệ Li/Lo không phụ thuộc vào chiều dài của cá một cách rõ ràng, điều này chứng tỏ là trong giai đoạn trưởng thành thức ăn của cá không thay đổi, và chủ yếu phụ thuộc vào nơi sống [1]
Phạm Báu và ctv (2000) cho biết thức ăn của cá biến động theo mùa một cách rõ
rệt Trong tháng 5, do thức ăn nghèo nàn nên thức ăn chính của cá Chiên là côn trùng dưới nước (Ephenrmeroptera, Pleucoptera, Trichoptera, Tendipedidae) Trong hệ tiêu hoá còn có các tổ côn giung Trichoptera xây bằng các loại sơ gỗ Vào tháng 7 - 9, khi mức nước ngập nhiều vùng, ở thời gian này thức ăn chính của cá Chiên là tôm, cua, cá với tỉ lệ tương ứng là tôm (70%), cua (20%), cá (10%) Trong thời gian tháng 11 năm trước đến tháng 2 năm sau khi mực nước cạn, cá chuyển sang ăn các chủng quần bám đá (Aphelochrinus, nestevalis) hoặc Cimicoides trong họ Hemiptera và họ Heteroptera
Cá Chiên lúc còn nhỏ ăn các loại côn giung sống dưới nước, khi lớn lên chúng
ăn chủ yếu là cá Theo Mai Đình Yên (1983), cá Chiên từ 7cm đã bắt đầu ăn cá con Trong nuôi dưỡng thử nghiệm trong lồng, cá Chiên ăn mạnh các loại thức ăn như: Giun đất, tôm, cá, bì lợn luộc [15]
Trang 161.15 Đặc điểm sinh trưởng
Theo Phạm Báu và ctv (2000), cá Chiên tăng nhanh khối lượng từ sau năm thứ
3 Cá từ 3 - 7 tuổi trung bình tăng trưởng đạt từ 700 – 1200g/năm Khi cá được13 tuổi đạt 30 kg Cá Chiên bắt mồi thụ động, ít di chuyển xa [2]
Phạm Báu và ctv (2000), do thuỳ trên của vây đuôi cá Chiên kéo dài về phía sau thành dạng sợi, khó xác định chính xác chiều dài cá, nên đã tính tốc độ sinh trưởng của cá Chiên theo chiều dài thân (Lo) Cá Chiên có tốc độ tăng trưởng khá nhanh Trong ba năm đầu cá đực và cái tăng trưởng chênh lệch nhau không nhiều Cá Chiên đực lớn nhanh hơn, sau đó cá cái lớn nhanh hơn Cá Chiên tăng chiều dài chủ yếu là từ năm thứ nhất đến năm thứ tư từ 14,2 – 17,6 cm/năm Sau đó chậm dần đều, năm thứ 8 đến năm thứ 13 cá tăng từ 7,5 – 8,2 cm/năm [2]
1.1.6 Phân biệt cá đực và cá cái
Khi cá chưa đến giai đoạn truởng thành, cá còn non thì việc phân biệt đực cái rất khó vì chưa có sự khác biệt về hình thái giữa con đực và con cái Khi cá đến giai đoạn trưởng thành, đặc điểm về hình thái con đực và con cái có sự khác biệt tương đối rõ ràng: con đực thân thuôn dài hơn con cái, con cái thân ngắn hơn Lỗ sinh dục con đực dài hơn và nhỏ, nhọn hơn con cái, cá cái có đặc điểm ngắn hơn và tù hơn,
có hình ô van và có dãnh dọc ở giữa
Theo Phạm Báu và ctv (2000), khi giải phẫu bên trong, quan sát cá cái có buồng trứng gồm hai dải hình quả nhót, cá đực có hai dải tinh và có các túi tinh kiểu răng lược [2]
Trần Vũ Hùng (2008), cho rằng hình thái ngoài của tuyến sinh dục cá Chiên tương tự như một số loài cá xương khác: Tuyến sinh dục là tuyến kép, khi còn nhỏ (giai đoạn cá giống) rất khó phân biệt được đực cái Khi cá trưởng thành tinh sào có dạng chữ Y [8]
1.1.7 Tuổi phát dục và hệ số thành thục
Tuổi thành thục của cá Chiên
Phạm Báu và ctv (2000) cho biết cá Chiên thành thục trong tự nhiên muộn và
Trang 17trong quá trình nghiên cứu đã gặp nhiều khó khăn trong việc thu mẫu Ông đã thu được
16 mẫu cá Chiên, có tuổi từ 4 - 13 tuổi trên tổng số 148 mẫu vật và chưa gặp trứng cá Chiên thành thục ở tuổi 4 - 5 Cá Chiên thành thục ở lứa tuổi thấp nhất đã gặp là 6, chiếm tỉ lệ 25%, ở lứa tuổi 7 chiếm 66% trên tổng số cá trong lứa tuổi đã gặp [1] Nguyễn Anh Hiếu và ctv (2008), cho rằng trong quá trình nuôi vỗ nhân tạo thực tế cá 3+
tuổi đã thành thục phát dục và cho sinh sản [7]
Hệ số thành thục
Theo Phạm Báu và ctv (2000), cá Chiên có hệ số thành thục thấp, với 7 mẫu cá thu được và nghiên cứu cá có chiều dài Lo từ 64 - 120cm, khối lượng từ 4,1 – 32,0 kg, trứng thành thục ở giai đoạn 4 Hệ số thành thục của cá biến đổi từ 1,5 đến 4,7% Kiểm tra bằng lát cắt tế bào của cá có hệ số thành thục 4,7% thấy trứng đã đạt giai đoạn IVb [2]
Nguyễn Anh Hiếu và ctv (2008), cũng cho rằng hệ số thành thục của cá Chiên tương đối thấp từ 0,34 - 6,57%, trung bình đạt 4,01% ± 2,08 Sức sinh sản tuyệt đối dao động từ
9444 - 16511 trứng/cá cái, trung bình đạt 13314 ± 2584 trứng [7] Giai đoạn phát triển tuyến sinh dục cá Chiên được xác định theo kiểu IV – II Khi quan sát trên tiêu bản
tổ chức học, ngoài các noãn bào giai đoạn IV còn thấy xuất hiện noãn bào giai đoạn
II và III, vì vậy có thể cá Chiên là đối tượng sinh sản nhiều lần trong năm Cá đẻ rải rác từ tháng 5 - 8
Sức sinh sản
Phạm Báu và ctv (2000), tiến hành nghiên cứu trên 4 mẫu trứng thu được ở giai đoạn IV và thấy cá Chiên có sức sinh sản thấp, sức sinh sản tuyệt đối từ 31.000 đến 48.000 trứng đối với cá cái, cỡ cá 32 kg Sức sinh sản tương đối dao động từ 9,94 - 11,70 trứng/g cá cái, trung bình đạt 10,19 ± 1,11 trứng [2]
Theo Mai Đình Yên (1983) [16], cá Chiên cỡ 4kg có sức sinh sản tuyệt đối là 100.000 trứng trong mùa đẻ
Theo Trần Vũ Hùng (2008), sức sinh sản tuyệt đối dao động từ 9.444 - 16.511 trứng/con cái, trung bình đạt 13.314 ± 2.584 trứng, sức sinh sản tương đối dao động
Trang 18từ 8,26 - 11,70 trứng/g cá cái Sức sinh sản thực tế của cá Chiên là thấp, dao động từ 4.773 trứng/kg cá cái cho đến 11.070 trứng/kg cá cái [9]
Theo Nguyễn Anh Hiếu và ctv (2008), trong sản xuất giống nhân tạo, mùa vụ sản xuất từ tháng 5 kéo dài đến tháng 7 [7]
1.2 Sản xuất giống nhân tạo
1.2.1 Nuôi vỗ cá bố mẹ
Nguyễn Anh Hiếu và ctv (2008), đã tiến hành nghiên cứu nuôi vỗ cá bố mẹ trong bể xây xi măng có nước chảy thường xuyên, cỡ cá đưa vào nuôi vỗ từ tuổi 3+
, cho ăn bằng cá băm nhỏ khối lượng cho ăn bằng 4% khối lượng cá đã cho kết quả thành thục tốt nhất đạt tỷ lệ 40,7% [7]
1.2.2 Kích thích sinh sản
Thử nghiệm của Nguyễn Anh Hiếu và ctv (2008) khi sử dụng kích dục tố kích thích sinh sản nhân tạo bằng LRH-a + Dom, não thuỳ thể cá chép, HCG Kết quả cho thấy sử dụng công thức 30µg LRH-a + 7mg Dom/kg cá cái, cho kết quả rụng trứng tốt nhất (100%) trong điều kiện nhiệt độ 23,5 – 250
C [7]
Trang 191.2.3 Thụ tinh nhân tạo và ấp trứng
Theo Phạm Báu và ctv (2000), trứng cá Chiên có noãn hoàng nhỏ, khi thụ tinh xong trứng trương nước và có xoang bao trứng lớn, đường kính trứng từ 3 - 4mm, trứng không dính, trứng thuộc dạng bán trôi nổi [2]
Nguyễn Anh Hiếu và ctv (2008) cho biết phương pháp thụ tinh khô cho tỉ lệ
nở cao nhất đạt 62% ở nhiệt độ nước dao động từ 23,5 - 26,80
C Khi nhiệt độ nước >
290C tỉ lệ nở chỉ đạt từ 0 - 2% Khi ấp trứng cá trong bể có nước chảy nhẹ và có sục khí tỉ lệ nở đạt cao nhất > 42,0%, tuy nhiên tỉ lệ cá bị dị hình từ 12,4 – 13,8% Khi ấp trứng trong khay cá rô phi tỷ lệ bị dị hình 19,1 – 23,0% [7]
1.3 Tình hình khai thác và tiềm năng phát triển nghề nuôi cá Chiên ở Việt Nam
Trước nhu cầu về sản phẩm cá Chiên thương phẩm hiện nay, sản lượng nuôi không đáp ứng đủ nhu cầu cho thị trường, nên hoàn toàn dựa vào khai thác trong tự nhiên Vì vậy, nguồn lợi cá Chiên đã cạn kiệt đi rất nhiều Nguyên nhân do việc khai thác quá mức cho phép, khai thác mang tính huỷ diệt, khai thác vào mùa sinh sản, kích cỡ cá chưa đủ tuổi khai thác đánh bắt và môi trường bị ô nhiễm ,việc tác động
từ con người như xây đập thuỷ điện làm ảnh hưởng đến bãi đẻ tự nhiên, đã làm sụt giảm sản lượng cá Chiên một cách nhanh chóng
Trước đây cá Chiên phổ biến khá nhiều trên sông Hồng Sản lượng khai thác, những năm 1960 – 1970 ở tỉnh Lào Cai đạt tới 16,25 tấn/năm, chiếm 50% sản lượng khai thác nhưng hiện nay chỉ còn 2 - 3 tấn/năm và còn giảm dần [16] Hiện nay một
số nơi còn xuất hiện là Na Hang, Chiêm Hoá trên sông Gâm thuộc tỉnh Tuyên Quang Quỳnh Nhai, trên Sông Đà thuộc Hoà Bình Sông chảy thuộc Yên Bái, Than Uyên thuộc Lai Châu và một số trên sông Lam thuộc Nghệ An và Sông Mã tỉnh Thanh Hoá [16]
Với đặc điểm sống đáy, rất phàm ăn và có giá trị kinh tế cao, cá Chiên đã bị khai thác mang tính “huỷ diệt” ở mọi nơi Hiện nay vùng phân bố đã hạn hẹp đi rất nhiều, hiếm gặp cỡ khai thác to như trước và chủ yếu cỡ cá nhỏ dưới 1kg Sản lượng khai thác được khoảng 8 – 9 tấn trong năm 1999 [1] Qua thực tế điều tra cho thấy sản
Trang 20lượng khai thác hiện nay chỉ còn 1/2 sản lượng như trên và ngày càng ít dần đi
Trước nguy cơ sản lượng khai thác cá Chiên ngoài tự nhiên dần cạn kiệt, trong những năm gần đây, người dân đã đầu tư hình thành nghề nuôi cá Chiên ở qui mô nhỏ lẻ Khởi đầu của nghề nuôi cá Chiên bắt đầu từ những ngư dân khai thác cá này trên các con sông, suối Ban đầu khi khai thác được những cá nhỏ, cá được nhốt vào các lồng nuôi, sau thời gian nuôi với thức ăn là cá tạp và thức ăn khác đến khi cá đạt
cỡ thương phẩm, từ đó nghề nuôi cá Chiên đã hình thành
Hiện nay nghề nuôi cá Chiên bằng lồng đã phát triển khá nhiều ở các vùng như: Chiêm Hoá thuộc thị xã Tuyên Quang (Tuyên Quang), Bắc Mê (Hà Giang), Lục Yên (Yên Bái), Bá Thước – Cẩm Thuỷ - Vĩnh Lộc (Thanh Hoá) Nguồn giống chủ yếu dựa vào đánh bắt theo mùa vụ từ tự nhiên
Năm 2005 Trung tâm thuỷ sản Yên Bái đã thử nghiệm nuôi cá Chiên bằng lồng trên hồ Thác Bà, cho ăn bằng cá tạp sẵn có trên hồ, cá tăng trọng từ 300 – 600 g/con/năm Sau đó năm 2007, tại Hà Giang đã triển khai dự án giúp nông dân nuôi cá Chiên thử nghiệm trên sông Lô Những kết quả bước đầu cho thấy việc nuôi cá Chiên trong lồng, cho ăn bằng thức ăn cám trộn với giun đất, giun quế đã giúp Chiên có tốc
độ tăng trưởng khá nhanh và cho hiệu quả kinh tế Tuy nhiên khó khăn nhất trong việc nuôi cá Chiên hiện nay là: Không có nguồn cá giống cung ứng kịp thời, con giống hiện nay hoàn toàn dựa vào thu gom tự nhiên, bằng các hình thức khai thác lưới mắt nhỏ, kích điện, câu Nên chất lượng cá không đảm bảo, kích cỡ không đồng đều, không chủ động mùa vụ nuôi và số lượng ngày càng ít, do cá bố mẹ bị khai thác tự nhiên cạn kiệt Vì vậy nhiều lồng nuôi hiện nay không có cá giống để nuôi [1]
Việc nuôi cá Chiên trong ao đất đã được Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I nghiên cứu thử nghiệm Kết quả cho thấy cá có thể sống trong ao nước tĩnh tuy nhiên kết quả tăng trưởng gần như không đáng kể Điều này chứng tỏ rằng cá Chiên có thể nuôi được trong ao đất, cần tạo môi trường sinh thái, như ao có nước chảy, nhất là tận dụng các ao nước chảy trên các vùng miền núi
Như vậy có thể khẳng định được rằng nuôi cá Chiên trên lồng là hoàn toàn có thể Tuy nhiên cần có các nghiên cứu và thử nghiệm về kỹ thuật nuôi, phương thức
Trang 21nuôi từ đó dần xây dựng được quy trình và chuyển giao công nghệ nuôi cho nhân dân Song Phạm Báu & ctv (2001) cũng cho biết cá Chiên có tốc độ tăng trưởng không cao khi nuôi trong lồng và rất chậm khi nuôi trong ao Tốc độ tăng trưởng nuôi trong lồng chỉ đạt 100 - 200 g/con/năm Cá Chiên có sức chịu rét không cao và hay bị chết vì bệnh [1]
Việc nuôi cá Chiên sẽ góp phần giảm áp lực khai thác tự nhiên, đồng thời góp phần bảo tồn nguồn gen, đa dạng sinh học và phát triển đối tượng cá quý hiếm này, đặc biệt là loại bỏ được đối tượng ra khỏi danh sách có nguy cơ bị tuyệt chủng
Trang 22CHƯƠNG 2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Thời gian và đối tượng nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 04/2010 đến 08/2010
- Địa điểm nghiên cứu: Trung tâm Quốc gia giống thủy sản nước ngọt Miền
Bắc, xã Thạch Khôi – Gia Lộc – Thành phố Hải Dương
đoạn từ cá bột lên cá hương
2.2 Vật liệu nghiên cứu
2.2.1 Cá thí nghiệm
Cá Chiên bột thí nghiệm thu được từ sinh sản nhân tạo vào tháng 5 và tháng
6 năm 2010 tại Trung tâm quốc gia giống thủy sản nước ngọt Miền Bắc
Hình 2.1: Cá Chiên thí nghiệm
Cá Chiên bột được ương nuôi 05 ngày tuổi thì bắt đầu tiến hành các thí nghiệm trong thời gian 30 ngày
Trang 23và vệ sinh loại bỏ giun chết
+ Bột đậu tương: Sau khi được rang lên rồi cho vào máy xay, được bảo quản nơi khô ráo, thoáng mát
+ Trứng gà (vịt) được luộc chín, bóc lấy phần lòng đỏ Khi cho ăn dùng vợt vớt phù
du bóp nhuyễn rồi hòa tan với nước, tạt đều khắp bể
- Bể: Gồm 9 bể thí nghiệm composite loại 1m3/bể
- Các dụng cụ khác: Cân điện tử 4 số, thước chia vạch (mm), máy đo pH, DO,
Nhiệt kế thủy ngân (1000
C)
Nước thí nghiệm: Nước được bơm từ bể chứa qua hệ thống lọc cơ học, sau đó được
sử dụng cho các bể thí nghiệm
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu
Trang 242.3.2 Bố trí thí nghiệm
2.3.2.1 Thí nghiệm về ảnh hưởng các mật độ nuôi khác nhau
- Thí nghiệm được bố trí với 3 mật độ (nghiệm thức) cá Chiên bột 05 ngày tuổi khác nhau: MĐ I (1200con/m3), MĐ II (1600con/m3), MĐ III (2000con/m3) Các nghiệm thức về mật độ cá được bố trí trong bể composite 1 m3
Mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần (Hình 2.2)
Ảnh hưởng của mật độ, thức ăn đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá Chiên
giai đoạn từ cá bột lên cá hương
Các chỉ tiêu đánh giá:
Các chỉ tiêu chất lượng nước trong hệ thống thí nghiệm
Tốc độ tăng trưởng về khối lượng và chiều dài
Tỷ lệ sống Mức độ phân đàn
Tập tính sống và hoạt động bắt mồi
Phân tích, đánh giá và kiến nghị
Trang 2515% (nhằm tiêu diệt các mầm bệnh) trước khi làm thức ăn cho cá
- Cách cho ăn: Cá được cho ăn đồng thời ĐVPD và giun chỉ, ngày cho ăn 7 lần vào lúc (7h, 10h, 14h, 17h, 21h, 23h và 1h) Khi cho cá ăn tắt sục khí
- Trong thời gian ương nuôi thường xuyên vệ sinh bể nuôi, xi phông thức ăn dư thừa, theo dõi các yếu tố môi trường và duy trì chế độ chăm sóc và quản lý như nhau
ở tất cả các nghiệm thức
Hình 2.2: Thí nghiệm về ảnh hưởng của mật độ đến sinh trưởng và tỷ lệ sống cá
Chiên bột
2.3.2.2 Thí nghiệm về ảnh hưởng của các công thức thức ăn khác nhau
- Cá Chiên bột 05 ngày tuổi được nuôi với mật độ tối ưu thu được từ thí nghiệm thứ nhất (1200 con/m3
) với 3 công thức thức ăn khác nhau (NT): CT I (50% ĐVPD + 50% giun chỉ), CT II (50% bột cá+ 50% bột đậu tương), CT III (100% giun chỉ) Mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần (Hình 2.3)
Trang 26giờ được thay 100% nước
- Thức ăn cho cá trong các nghiệm thức: CT I cho ăn đồng thời (50%ĐVPD + 50% giun chỉ), CT II ( 50% bột cá + 50% bột đậu tương), CT III (100% giun chỉ), giun chỉ được cắt nhỏ (phù hợp với cỡ mồi của cá) và được ngâm trong dung dịch nước muối 15% (nhằm tiêu diệt các mầm bệnh), trước khi làm thức ăn cho cá
- Cách cho ăn: Cá được cho ăn đồng thời ĐVPD và giun chỉ, ngày cho ăn 7 lần vào lúc (7h, 10h, 14h, 17h, 21h, 23h và 1h) Khi cho cá ăn tắt sục khí
- Trong thời gian ương nuôi thường xuyên vệ sinh bể nuôi, xi phông thức ăn dư thừa, theo dõi các yếu tố môi trường và duy trì chế độ chăm sóc và quản lý như nhau
ở tất cả các nghiệm thức
Hình 2.3: Thí nghiệm về ảnh hưởng của thức ăn đến sinh trưởng và tỷ lệ sống
của cá Chiên bột
Trang 272.3.3 Phương pháp theo dõi thí nghiệm
Theo dõi về tốc độ tăng trưởng
Theo dõi tốc độ tăng trưởng về chiều dài (mm), khối lượng (gram) của cá bằng cách định kỳ 10 ngày ương nuôi thu mẫu ngẫu nhiên 30con/1nghiệm thức Tiến hành cân, đo bằng cân điện tử có độ chính xác 0,001g và thước vạch chia 1mm
- Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối theo ngày (Absolute Growth Rate = AGR) của cá được tính theo công thức:
Tổng số cá ban đầu ương nuôi
Đánh giá tỷ lệ phân đàn của cá theo công thức:
SD x100
CV (%) = -
W Trong đó: CV là hệ số phân đàn
SD là độ lệch chuẩn của khối lượng
W là giá trị trung bình về khối lượng
Trang 28Theo dõi một số chỉ tiêu về môi trường
+ Nhiệt độ: Dùng nhiệt kế thuỷ ngân
Đo nhiệt độ 2 lần/ngày vào lúc 6 giờ sáng và 14 giờ chiều + pH: Dùng máy đo pH của Hanna:
Đo pH 2 lần/ngày vào lúc 6 giờ sáng và 14 giờ chiều + Hàm lượng oxy hoà tan: Dùng máy đo oxy
Theo dõi 2 lần/ ngày vào lúc 6 giờ sáng và 14 giờ chiều
2.3.4 Phương pháp xử lý số liệu
Các giá trị thống kê được tính trung bình ± SD (Standard Deviation) trên phần mềm EXCEL 2007 và IRRISTAT 4.0 dựa trên tiêu chuẩn Lsd để so sánh sự sai khác giữa các công thức với mức ý nghĩa P<0,05
Trang 29CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Ảnh hưởng của mật độ đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá Chiên khi ương
từ cá bột lên cá hương
3.1.1 Biến động một số yếu tố môi trường trong thí nghiệm về mật độ nuôi
Kết quả theo dõi các yếu tố môi trường trong ngày, sau 30 ngày thí nghiệm ương nuôi cá Chiên ở giai đoạn từ cá bột lên cá hương với các mật độ ương khác nhau được thể hiện ở bảng 3.1, hình 3.1, 3.2 và 3.3
Bảng 3.1: Nhiệt độ, DO và pH trong thí nghiệm về mật độ nuôi
C và ngày có nhiệt độ cao nhất đo được vào buổi chiều ngày ương 29 đạt tới 30,5o
C Song những ngày có nhiệt độ xuống quá thấp và tăng quá cao không nhiều và không kéo dài, do khu bể thí nghiệm được đặt trong nhà có mái che và sử dụng nước chảy tuần hoàn Như vậy nhiệt độ trong suốt quá trình ương cá Chiên đều thuận lợi và không ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của cá Diễn biến nhiệt độ trong quá trình nuôi thể hiện qua hình 3.1
Trang 30Hình 3.1: Biến động nhiệt độ trong quá trình theo dõi thí nghiêm về mật độ Biến động hàm lượng oxy hoà tan trong thời gian ương nuôi ở các nghiệm thức được trình bày trong hình 3.2 Hàm lượng oxy hoà tan trung bình giữa buổi sáng và buổi chiều trong khoảng 4,6 – 5,2 mg/l (Bảng 3.1) và hàm lượng DO thấp nhất vào ngày ương thứ 20 chỉ đạt 4,2mg/l Theo Nguyễn Đức Hội và ctv (1997) thì biến động về hàm lượng oxy hòa tan đo được phù hợp sinh trưởng và phát triển bình thường của cá là từ 3,0-8,0mg/l [18] Như vậy với khoảng dao động hàm lượng oxy hòa tan trong suốt quá trình thí nghiệm của chúng tôi từ 4,2-5,4mg/l là thuận lợi cho
cá Chiên bột phát triển bình thường
Trang 31Hình 3.2: Biến động DO trong quá trình theo dõi thí nghiêm về mật độ
Tương tự biến động pH trong các bể ương nuôi cá Chiên bột được thể hiện trong hình 3.3 Giá trị pH dao động trong suốt quá trình thí nghiệm không lớn và nằm trong khoảng 8,0 đến 8,5 Kết quả đo được pH trung bình giữa buổi sáng và buổi chiều dao động tù 8,3 – 8,4 (Bảng 3.1) Giá trị pH này được xem là phù hợp cho sinh trưởng và phát triển của cá Chiên cũng như các loài thủy sản khác 6,5-8,5
[18].
Trang 32Hình 3.3: Biến động pH trong quá trình theo dõi thí nghiêm về mật độ
Các kết quả đo được bảng 3.1 trong thời gian thí nghiệm cho thấy các yếu tố môi trường nước dao động không lớn Sự dao động như vậy vẫn trong khoảng cho phép nên cá Chiên bột vẫn sinh trưởng và phát triển tốt [18].
3.1.2 Ảnh hưởng của mật độ ương nuôi đến sinh trưởng của cá Chiên khi ương
từ bột lên hương
3.1.2.1 Sinh trưởng về khối lượng của cá
Kết quả theo dõi tăng trưởng về khối lượng của Cá Chiên từ ngày 01/05/2010 đến 30/5/2010 ở 3 MĐ khác nhau được thể hiện ở bảng 3.2
Khi bắt đầu thí nghiệm, cá không đồng đều, song sau 10 ngày nuôi khối lượng của cá trong các nghiệm thức đã tăng lên và có sự sai khác Khối lượng trung bình của cá dao động từ 0,023-0,032 g/con Trong đó cá ở MĐ III có khối lượng trung bình cao nhất (0,032 g/con) và thấp nhất ở MĐ I (0,023 g/con) Tuy nhiên khi
so sánh thống kê thấy rằng khối lượng trung bình của cá không có sự sai khác giữa các nghiệm thức (P>0,05)
Trang 33Bảng 3.2 Khối lượng trung bình của cá (g/con) khi thí nghiệm ở các mật độ khác
nhau
Sau 30 ngày nuôi, khối lượng trung bình của cá ở MĐ I vẫn đạt cao nhất (0,369 g/con) và có sự sai khác thống kê (P<0,05) so với MĐ II và III Để thấy rõ ảnh hưởng của mật độ nuôi đến sinh trưởng về khối lượng của cá Chiên giai đoạn bột lên hương, chúng tôi thể hiện qua hình 3.4
Kết quả từ hình 3.4 và bảng 3.2 cho thấy, khi ương cá Chiên giai đoạn từ bột lên hương, nếu ương với mật độ quá cao thì sự tăng trưởng về khối lượng thấp hơn so với khi ương ở mật độ thấp Cụ thể trong thí nghiệm của chúng tôi, mật độ ương tăng trưởng về khối lượng của cá Chiên giai đoạn từ bột lên hương là MĐ I (1200 con/m3) đạt 0,369 g/con, cao hơn MĐ II (1600 con/m3) chỉ đạt 0,297 g/con
và MĐ III (2000 con/m3) đạt 0,295 g/con
Trang 34Hình 3.4: Khối lượng trung bình của cá ở các mật độ nuôi khác nhau
Khi xem xét tốc độ tăng trưởng về khối lượng của cá Chiên giai đoạn bột lên hương (bảng 3.3), chúng tôi nhận thấy: Sau thời gian từ 10-20 ngày nuôi, tốc độ tăng trưởng khối lượng của cá đạt dao động từ 0,0010-0,0123 g/con/ngày, trong đó
MĐ I, có tốc độ tăng trưởng về khối lượng cao nhất (0,0123 g/con/ngày) Tuy nhiên không có sự sai khác thống kê giữa tốc độ tăng trưởng về khối lượng giữa MĐ I và hai mật độ còn lại
Giai đoạn nuôi từ 20-30 ngày nuôi, tốc độ tăng trưởng về khối lượng giai đoạn này cao hơn giai đoạn trước (10-20 ngày), và đạt dao động từ 0,0166-0,0223 g/con/ngày) Điều này có thể giải thích, cá sau thời gian nuôi đã quen dần với môi trường thí nghiệm, nên đã thích nghi và có tốc độ tăng trưởng nhanh hơn so với giai đoạn 10-20 ngày nuôi Trong đó tốc độ tăng trưởng của cá ở MĐ I cao hơn (đạt 0,0223 g/con/ngày) so với MĐ II chỉ đạt 0,0173 g/con/ngày và MĐ III đạt 0,0166 g/con/ngày Khi so sánh thống kê cho thấy cá ở MĐ I có tốc độ tăng trưởng về khối lượng có sự sai khác (P<0,05) so với hai mật độ còn lại