BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG LÊ VĂN BÔN NGHIÊN CỨU CÔNG NGHỆ KHAI THÁC CÁ NGỪ ĐẠI DƯƠNG QUANH CHÀ CỐ ĐỊNH THẢ Ở VÙNG BIỂN XA BỜ LUẬN VĂN THẠC SĨ Nha Trang, 2011...
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
LÊ VĂN BÔN
NGHIÊN CỨU CÔNG NGHỆ KHAI THÁC CÁ NGỪ ĐẠI DƯƠNG
QUANH CHÀ CỐ ĐỊNH THẢ Ở VÙNG BIỂN XA BỜ
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Nha Trang, 2011
Trang 2BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
LÊ VĂN BÔN
NGHIÊN CỨU CÔNG NGHỆ KHAI THÁC CÁ NGỪ ĐẠI DƯƠNG QUANH CHÀ CỐ ĐỊNH THẢ Ở VÙNG BIỂN XA BỜ
Chuyên ngành: Khai thác Thuỷ sản
Mã số: 60.62.80
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS HOÀNG HOA HỒNG
Nha Trang, 2011
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan kết quả nghiên cứu của đề tài tốt nghiệp đã được đánh giá dựa trên cơ sở các nguồn số liệu và các chuyến nghiên cứu thực nghiệm hoàn toàn trung thực Phương pháp phân tích và xử lý số liệu để có kết quả nghiên cứu của luận văn do tôi thực hiện và chưa có ai công bố ở bất kỳ tài liệu nào Đây là một phần kết quả của
đề tài nghiên cứu cấp Bộ về lĩnh vực khai thác cá ngừ đại dương mà tôi là một thành viên chính của đề tài
Nha Trang, ngày 25 tháng 08 năm 2011
Tác giả
Lê Văn Bôn
Trang 4
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn tận tình của TS Hoàng Hoa Hồng; Các thầy trong Khoa Khai thác Thuỷ sản - Trường Đại học Nha Trang đã có nhiều ý kiến góp ý cho tôi thực hiện đề tài
Tôi xin cảm ơn Ban Lãnh đạo Viện Nghiên cứu Hải sản đã quan tâm, tạo mọi điều kiện thuận lợi và đã cho tôi được phép sử dụng một số kết quả nghiên cứu của đề tài do Viện quản lý để tôi hoàn thành nội dung nghiên cứu của luận văn tốt nghiệp Xin cảm ơn các đồng nghiệp, các cán bộ nghiên cứu khoa học của Phòng Nghiên cứu Công nghệ Khai thác và Hội đồng Đào tạo sau đại học của Viện Nghiên cứu Hải sản
đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Nha Trang, ngày 25 tháng 08 năm 2011
Tác giả
Lê Văn Bôn
Trang 5MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN ii
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ vii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 - TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Nghiên cứu ngoài nước 3
1.1.1 Nghiên cứu tập tính cá ngừ 3
1.1.2 Nghiên cứu công nghệ khai thác cá ngừ đại dương 3
1.1.3 Hiện trạng nghề câu tay khai thác cá ngừ đại dương quanh chà ở Philippines 4 1.1.3.1 Tàu thuyền 4
1.1.3.2 Ngư cụ sử dụng cho nghề câu tay 4
1.1.3.3 Chà tập trung cá ngừ đại dương 5
1.1.3.4 Kỹ thuật khai thác nghề câu tay quanh chà 6
1.1.3.5 Hiệu quả kinh tế của nghề câu tay cá ngừ quanh chà ở Philippines 8
1.2 Các đặc điểm sinh học chủ yếu liên quan đến khai thác của cá ngừ đại dương 9
1.3 Nghiên cứu trong nước 11
1.3.1 Nghiên cứu nguồn lợi cá ngừ đại dương 11
1.3.2 Nghiên cứu công nghệ khai thác cá ngừ đại dương 15
Chương 2 - NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16
2.1 Nghiên cứu thiết kế chà cố định và thả chà cố định ở những vùng biển xa bờ, nơi có cá ngừ đại dương tập trung 16
2.2 Nghiên cứu công nghệ khai thác cá ngừ đại dương quanh chà cố định thả ở vùng biển xa bờ 16
2.2.1 Phương pháp nghiên cứu 16
2.2.2 Tàu thuyền và thiết bị nghiên cứu 21
2.2.3 Thời gian, phạm vi ngư trường tiến hành nghiên cứu 23
Chương 3 - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 24
3.1 Nghiên cứu thiết kế các loại chà thả ở vùng biển xa bờ có độ sâu lớn 24
3.1.1 Thiết kế phần bè nổi 24
3.1.2 Phần dây liên kết (dây neo chà) 26
3.1.3 Thiết kế phần đá dằn và neo (xem hình 16) 28
i
Trang 63.1.4 Kỹ thuật thả chà 30
3.1.4.1 Phương pháp dò độ sâu đáy biển 30
3.1.4.2 Phương pháp thả chà 31
3.2 Nghiên cứu thiết kế các loại câu dùng cho câu quanh chà 31
3.2.1 Thiết kế bộ câu tay và câu buộc chà 31
3.2.2 Thiết kế vàng câu quanh chà 32
3.3 Tập tính cá ngừ đại dương quanh chà 33
3.4 Sản lượng và năng suất khai thác 35
3.4.1 Sản lượng khai thác 35
3.4.2 Năng suất khai thác 37
3.5 Độ sâu ăn mồi của cá quanh chà 37
3.6 Thời gian cá ăn mồi quanh chà 39
3.7 Khoảng cách cá phân bố quanh chà 40
3.8 Phân bố tần suất chiều dài của cá ngừ vây vàng và cá ngừ mắt to bắt gặp trong các mẻ câu thử nghiệm 41
3.9 Qui trình công nghệ khai thác cá ngừ đại dương quanh chà 42
3.9.1 Qui trình công nghệ khai thác câu tay cá ngừ đại dương quanh chà 42
3.9.2 Qui trình công nghệ khai thác câu vàng cá ngừ đại dương quanh chà 45
3.9.3 Kỹ thuật câu buộc chà 46
3.10 Qui trình xử lý và bảo quản cá ngừ đại dương 47
3.11 Một số khó khăn trong công tác nghiên cứu thử nghiệm trên biển nghề câu cá ngừ đại dương quanh chà ở Việt Nam 49
3.12 Đánh giá hiệu quả nghề câu cá ngừ đại dương quanh chà ở Việt Nam 50
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 51
1 Kết luận 51
2 Đề xuất 51
TÀI LIỆU THAM KHẢO 53
PHỤ LỤC 54
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
23 Peso Đơn vị tiền tệ của Philippine: 1USD = 55,5Peso; 1USD =
15.894 đồng (tại thời điểm 9/10/2005)
29 SEAFDEC Trung tâm phát triển nghề cá Đông Nam Á
35 WTPO Tổ chức nghề lưới vây cá ngừ thế giới
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1 Ước tính trữ lượng và khả năng khai thác cá ngừ đại dương 12
Bảng 2 Lực cản của dây neo chà thả ở độ sâu 1.000 - 2.000m 27
Bảng 3 Lực cản của một cụm chà ở độ sâu 1.000 - 2.000m 28
Bảng 4 Lực căng chịu lực của một số cỡ dây PP của công ty Nghĩa Thái 28
Bảng 5 Sản lượng khai thác 35
Bảng 6 Phân loại cá ngừ đại dương theo trọng lượng 36
Bảng 7 Năng suất khai thác 37
Bảng 8 Độ sâu ăn mồi của cá quanh chà 38
Bảng 9 Thời gian cá ăn mồi quanh chà 39
Bảng 10 Khoảng cách phân bố của cá quanh chà 40
Bảng 11 Chiều dài trung bình (cm) của cá ngừ vây vàng và cá ngừ mắt to đánh bắt quanh chà 41
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Trang
Hình 1 Cấu tạo túi mực 7
Hình 2 Cách mắc mồi câu 7
Hình 3 Câu trên tàu con 8
Hình 4 Cách bắt cá lên tàu con 8
Hình 5 Cá ngừ vây vàng(Thunnus albacares) 1
Hình 6 Cá ngừ mắt to(Thunnus obesus) 1
Hình 7 Bản đồ phân bố ngư trường cá ngừ đại dương vụ Nam (2000 - 2004) 1
Hình 8 Bản đồ phân bố ngư trường cá ngừ đại dương vụ Bắc (2000 - 2004) 1
Hình 9 Sơ đồ bố trí câu tay và câu buộc chà 1
Hình 10 Sơ đồ bố trí câu buộc chà 1
Hình 11 Sơ đồ bố trí câu vàng quanh chà 1
Hình 12 Tàu nghiên cứu câu tay cá ngừ đại dương PY92979TS 21
Hình 13 Sơ đồ nguyên lý hoạt động của máy dò cá đứng CVS - 108 23
Hình 14 Thi công phao chà phi nhựa 1
Hình 15 Phao chà bè tre 1
Hình 16 Hệ thống đá dằn neo 1
Hình 17 Bè tre tam giác 1
Hình 18 Cấu tạo cục dò để xác định độ sâu vị trí thả chà 30
Hình 19 Tín hiệu đàn cá ngừ đại dương nhỏ ở độ sâu 15 - 25m 1
Hình 20 Tín hiệu đàn cá ngừ đại dương lớn ở độ sâu 40 - 45m 1
Hình 21 Tỷ lệ % sản lượng khai thác theo các loài cá 1
Hình 22 Tỷ lệ % sản lượng cá ngừ đại dương khai thác được theo các hình thức câu 1
Hình 23 Độ sâu ăn mồi của cá quanh chà 1
Hình 24 Thời gian ăn mồi của cá quanh chà 1
Hình 25 Phân bố tần suất chiều dài của cá ngừ vây vàng và cá ngừ mắt to đánh bắt quanh chà 1
Trang 10MỞ ĐẦU
Cá ngừ đại dương là đối tượng chính để khai thác ở vùng biển xa bờ, hơn nữa chúng là đối tượng di cư, nếu chúng ta không tiến hành khai thác sẽ là một lãng phí lớn Để khai thác đối tượng này, hiện tại ngư dân Việt Nam mới chỉ sử dụng nghề câu vàng Đội tàu làm nghề câu vàng hiện tại mới chỉ phát triển ở mức độ thủ công bán cơ giới, trình độ công nghệ khai thác còn lạc hậu nên hiệu quả đánh bắt chưa cao
Hiện nay trên thế giới chỉ có Philippines sử dụng công nghệ khai thác cá ngừ đại dương quanh chà cố định thả ở ngư trường có độ sâu lớn bằng nghề câu tay Nghề câu tay cá ngừ đại dương quanh chà đã được ngư dân Philippines sử dụng cho hiệu quả khá cao Theo báo cáo của Sở Thủy Sản Davao Philippines tháng 8/2005 khi đoàn cán
bộ của Viện Nghiên cứu Hải sản tham quan tại đây cho thấy, mỗi chuyến biển hoạt động của đội tàu làm nghề câu tay cá ngừ vây vàng từ 5 - 7 ngày cho năng suất khai thác bình quân từ 3 - 5 con cá ngừ vây vàng/1 người câu [1] Chính vì vậy cần được nhanh chóng áp dụng nghề câu tay cá ngừ đại dương quanh chà cố định thả ở độ sâu lớn vào nước ta
Năm 2005, Viện Nghiên cứu Hải sản được Bộ Thuỷ Sản giao cho thực hiện đề tài “Nghiên cứu cải tiến công nghệ mới trong nghề câu cá ngừ đại dương ở vùng biển miền Trung và đông Nam Bộ” với các nội dung sau:
- Nghiên cứu ứng dụng công nghệ khai thác cá ngừ đại dương quanh chà thả cố định ở độ sâu lớn bằng nghề câu tay
- Nghiên cứu cải tiến công nghệ khai thác cá ngừ đại dương bằng nghề câu vàng
- Nghiên cứu xác định phương pháp khai thác đạt hiệu quả cao, xây dựng mô hình tổ chức sản xuất
Được sự đồng ý của Ban Lãnh đạo Viện Nghiên cứu Hải sản, đề tài luận văn tốt nghiệp chương trình cao học có tên “Nghiên cứu công nghệ khai thác cá ngừ đại dương quanh chà cố định thả ở vùng biển xa bờ” được phép sử dụng một phần kết quả nghiên cứu của đề tài cấp Bộ kể trên làm nguồn số liệu để xử lý và đánh giá kết quả nghiên cứu của Luận văn theo đề cương nghiên cứu đã được Hiệu trưởng Trường Đại học Nha Trang phê duyệt
Trang 11* Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Đề xuất giải pháp công nghệ khai thác cá ngừ đại dương quanh chà cố định thả ở vùng biển xa bờ
* Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Nghề câu cá ngừ đại dương quanh chà ở vùng biển xa bờ miền Trung và đông Nam Bộ
* Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
+ Ý nghĩa lý luận:
- Sử dụng chà là một trong những giải pháp để tập trung loài cá ngừ đại dương
có tốc độ di chuyển nhanh có hiệu quả Cá ngừ đại dương tập trung quanh chà sẽ giúp
ta chủ động hơn trong việc đánh bắt, góp phần giảm chi phí sản xuất Nâng cao hiệu quả cho nghề khai thác xa bờ
- Thực tế đánh bắt cá ngừ đại dương bằng nghề câu tay quanh chà cố định ở độ sâu lớn ở Philippines khá hiệu quả Có thể nghiên cứu công nghệ khai thác cá ngừ đại dương quanh chà cố định phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam
+ Ý nghĩa thực tiễn của đề tài:
- Đề xuất mô hình khai thác cá ngừ đại dương có hiệu quả
- Góp phần bảo vệ, giảm áp lực khai thác và duy trì nguồn lợi hải sản ven bờ
- Tạo điều kiện cho việc chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp đối với đội tàu khai thác hải sản ven bờ Tạo thêm việc làm cho đội ngũ lao động nghề cá
- Gắn kết được nghiên cứu khoa học nghề cá với thực tiễn sản xuất
Trang 12Chương 1 - TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Nghiên cứu ngoài nước
1.1.1 Nghiên cứu ậ ính cá ngừ
Nghiên cứu tập tính cá ngừ quanh chà là một trong những hướng nghiên cứu được chú ý (John Hampton & Kevin Bailey, 1993) Người ta thấy rằng cá ngừ có tập tính tập trung quanh chà hoặc núp dưới các vật trôi nổi trên mặt biển Nói chung, chà lớn có khả năng tập trung được nhiều cá ngừ và cá khác hơn là các chà nhỏ Một ví dụ điển hình của điều này là một cái cây to dài 80m đã cho sản lượng khai thác 1.500 tấn
cá ngừ trong vòng 2 tuần (K.Bailey.1982) [6]
Vào ban ngày đàn cá thường ở cách chà 1 hải lý và nó thường ở bề mặt phía trên gió so với chà Khi chiều muộn, đàn cá sẽ quay trở lại chà và tập trung hơi sâu dưới chà suốt đêm Trước bình minh 1 - 2 giờ, đàn cá ngừ lại từ từ nổi lên sát chà Đây là thời điểm thuận lợi nhất để đánh bắt cá Sau bình minh cá vẫn ở sát chà từ 2 - 3 giờ nữa, vẫn còn cơ hội để đánh bắt cá nhưng ít hơn
Có dấu hiệu về sự phân tầng của cá ngừ dưới chà Cá ngừ vằn phân bố ở độ sâu
10 - 20m, cá ngừ vây vàng phân bố sâu hơn và ngừ mắt to phân bố sâu tới 100m
Độ sâu phân bố của cá ngừ cũng khác nhau theo từng loài và bị thay đổi bởi những yếu tố sinh học như là mật độ phù du, cá nhỏ (mồi ăn), nhiệt độ nước, độ muối, dòng chảy và cường độ sáng Nghiên cứu được độ sâu phân bố của cá có ý nghĩa rất quan trọng trong việc thả độ sâu của lưỡi câu cho phù hợp để đảm bảo hiệu quả khai thác
Người ta đã xác định được rằng độ sâu di chuyển của cá khác nhau giữa ngày và đêm Vào ban đêm, độ sâu di chuyển của cá ngừ mắt to khoảng 20 - 50m, nhưng vào ban ngày thường đạt đến 300m Có thể nói chắc chắn rằng độ sâu phân bố của cá ngừ mắt to và ngừ vây vàng thường trong khoảng 50 - 200m (J.Hampton & K.Bailey, 1993) [6] Đa số các loài cá ngừ cỡ nhỏ như: cá ngừ đại dương giống, ngừ vằn, ngừ chù,… thường phân bố ở gần mặt nước
Một số tàu nghiên cứu như Shinro Maru, Magasaki Maru, Kyosho Maru,…đã sử dụng máy dò cá có tần số 14Khz; 28Khz để nghiên cứu độ sâu phân bố của cá ngừ phụ thuộc vào thời gian trong ngày; vào lớp nước xáo trộn; địa hình đáy, loài cá ngừ [8]
1.1.2 Nghiên cứu công nghệ khai thác cá ngừ đ i dươ g
Để khai thác cá ngừ đại dương, có thể sử dụng loại nghề sau:
Trang 13- Nghề lưới vây khai thác cá ngừ: Đối tượng khai thác chủ yếu của nghề lưới vây
cá ngừ là các loại cá ngừ cỡ nhỏ (ngừ vằn, ngừ chù, ngừ ồ ) Các tàu khai thác cỡ lớn
đã được sử dụng với công suất máy tàu từ 1.000 cv đến 2.500 cv và hơn nữa Kích thước lưới vây được tăng cường, chiều dài giềng phao vàng lưới lên đến 1.500m và hơn nữa, chiều cao vàng lưới đạt đến 150m Các vàng lưới vây nói trên còn được dùng
để đánh bắt các đàn cá ngừ vây vàng, cá ngừ mắt to cung cấp giống cho nghề nuôi cá ngừ Để khai thác được cá ngừ đại dương đã trưởng thành, chiều cao vàng lưới phải đạt 200 - 220m và đòi hỏi kỹ thuật đánh bắt phức tạp hơn
Việc dò tìm cá được thực hiện bằng cách sử dụng ống nhòm, máy dò cá ngang (Sonar); máy bay; Rađa tìm chim [8]
- Nghề câu vàng cá ngừ đại dương: Được phát triển mạnh với quy mô công nghiệp ở các nước và khu vực có nghề cá phát triển như Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc Đội tàu của các nước này được cơ giới hoá cao trong công tác thu, thả vàng câu Các nghiên cứu về ngư trường, tập tính cá, sự di cư của cá đã hỗ trợ cho việc khai thác đạt hiệu quả cao
Vàng câu được trang bị trên các tàu này thường có chiều dài tới 100 km, với số lượng lưỡi câu đạt đến 2.200 cái Tổng chiều dài dây nhánh thường là 20 - 25 m; Khoảng cách giữa các dây nhánh từ 40 - 50 m; khoảng cách giữa các phao ganh từ 300 -350 m [8]
1.1.3 Hiện rạng nghề câu ay khai hác cá ngừ đ i dươ g quanh chà ở Phi ip ines
1.1.3.1 Tàu thuyền
Nghề câu tay cá ngừ đại dương thường sử dụng tàu mẹ chở theo 4 - 6 tàu con để câu quanh chà Tàu mẹ thường có chiều dài từ 10 - 27m lắp máy công suất từ 80 - 180cv, tàu thường có trọng tải 18 - 32 tấn, giá thành vỏ tàu & máy khoảng 280.000 -2.400.0000 peso, số thủy thủ đi trên tàu là 7 - 18 người, thời gian chuyến biển từ 10 -
36 ngày; tàu con được đóng theo mẫu của Cục nghề cá và Nguồn lợi thuỷ sản (BFAR)
và có chiều dài 1,4m, lắp máy công suất 11,5cv Số lượng tàu câu tay tại thành phố General Santos ước chừng khoảng 4.000 chiếc có trọng tải lớn hơn 18 tấn [1], [10]
1.1.3.2 Ngư cụ sử dụng cho nghề câu tay
- Dây câu chính: Dùng vật liệu cước PA số 120 - 140
- Dây câu thứ hai: Vật liệu dùng cho dây câu thứ hai cũng là PA sợi đơn số 60 -
90
Trang 14- Trang thiết bị phụ tùng kèm theo:
+ Ống câu: ống câu có hình vành khăn, vật liệu dùng làm ống câu là nhôm hoặc
gỗ có đường kính ngoài từ 238 - 350 mm, đường rãnh có đường kính từ 160 - 195mm dùng để quấn dây câu
+ Chì: dùng viên chì ống có kích thước: chiều dài từ 112 - 115mm, đường kính
20 - 30mm, trọng lượng từ 300 - 400g (hoặc dùng dây kim loại có trọng lượng 0,5kg, đường kính 2,5mm
+ Khoá xoay: để chống xoắn, hai đầu viên chì dùng hai khoá xoay bằng đồng có chiều dài 63mm
+ Lưỡi câu: Dùng lưỡi câu hình chữ J (kích thước L x H x B = 50 x 30 x 25mm, vật liệu bằng thép không gỉ) hoặc lưỡi câu hình bán nguyệt (kích thước L x H x B = 58
x 32 x 34mm, vật liệu thép không gỉ) [1], [9]
Bản vẽ cấu tạo, tổng quát một bộ câu tay cá ngừ đại dương quanh chà ở Philippine như phụ lục 1, phụ lục 2
1.1.3.3 Chà tập trung cá ngừ đại dương
- Để tập trung cá ngừ đại dương, ngư dân Philippine sử dụng chà cố định thả ở độ sâu lớn, chà cố định được thả ở một vài ngư trường của Philippine Tuy nhiên, không liệt kê được chính xác tổng số cây chà Tuy vậy, chỉ riêng ở vùng vịnh Moro ở miền Nam Philippine ước tính có khoảng 3.000 cây chà Nghề câu tay cá ngừ quanh chà thường dùng ba mươi cây chà cho một tàu khai thác [1], [10]
- Cấu tạo chà: Chà có cấu tạo là những cây tre buộc lại bởi cây mây hoặc dây chuối Nó được buộc thon dần từ đầu tới đáy Vào buổi tối, bè tre được thắp sáng bởi đèn dầu lửa làm tăng khả năng hấp dẫn cá của chà Bè tre nổi dập dềnh trên mặt nước chặn hướng di cư của cá Bè tre gồm một hoặc hai lớp gồm 15 cây tre, mỗi cây có chiều dài 10 - 15 mét và mỗi lớp tre có chiều rộng từ 2 - 4 m Những cây tre được buộc chặt với nhau bằng dây giềng nylon Phía đầu bè tre được buộc bởi những đoạn dây đai cắt ra từ lốp ô tô Một thùng dầu rỗng được đổ đầy đá và bê tông được dùng làm neo cho chà Cạnh của đoạn cắt ra từ lốp ô tô được gắn lưng chừng vào đỉnh của thùng phi và được liên kết với dây neo Đoạn cuối của đường dây neo được gắn dây xích liên kết với bè tre Mỗi một trọng vật nặng khoảng 500kg Số trọng vật cần làm neo cho chà phụ thuộc vào độ sâu nơi thả chà 3 - 4 trọng vật dùng làm neo thả chà ở độ sâu 1.500 - 2.200m và 5 - 6 trọng vật cho độ sâu 5.000m Đoạn trên của dây neo có chiều
Trang 15dài 40m được làm bằng cáp thép nhằm ngăn chặn sự phá hoại của các tàu khác cắt dây neo Một phao được buộc vào đường dây neo giống như một phao tín hiệu Mặt dưới của chà là một vật hấp dẫn cá, treo một đường dây lá dừa có chiều dài 25 - 35m, khoảng cách giữa hai lá dừa là 2m, phía cuối đường dây buộc trọng vật nặng 10kg Vật nặng nhằm ngăn chặn không cho dây chà vướng vào dây neo Trên bề mặt của bè tre
có treo một vài lá dừa nổi lên để đánh dấu vị trí thả chà ở trên biển [9], [10]
- Ngư trường thả chà cá ngừ của Philippin là biển tây Sulu, đông Sulu, biển Bohol, ngoài vùng nước Batangas và tây bắc Luzon và một phần vùng nước thuộc quần đảo Philippin là nơi cá ngừ và cá nổi nhỏ có thể sinh sống Chà cố định được thả
ở độ sâu 3.000m và cách bờ biển 60m [1], [10] Nhìn chung, đa số chà được thả ở ngư trường gần bờ
1.1.3.4 Kỹ thuật khai thác nghề câu tay quanh chà
- Chuẩn bị mồi câu:
+ Mồi chính: dùng mồi mực và mồi cá ngừ nhỏ, trọng lượng mồi mực khoảng 70
- 100g, mồi cá ngừ nhỏ có trọng lượng khoảng 100 - 200g
+ Mồi phụ: là mực hoặc cá ngừ nhỏ cắt nhỏ và thường từ 5 - 6 miếng nhỏ
+ Túi mực: để thu hút cá ngừ (xem hình 1)
+ Các viên đá nhỏ
+ Cách mắc mồi câu: móc lưỡi câu vào con mực (hoặc cá ngừ nhỏ), móc túi mực vào đốc câu, đặt mồi câu và túi mực lên hòn đá có trọng lượng 400 - 500g, sau đó dùng dây câu quấn 3 - 4 vòng quanh hòn đá để cố định con mực (hoặc cá ngừ nhỏ) vào hòn đá, tiếp theo đặt 2- 3 miếng mực thái nhỏ (hoặc cá ngừ thái nhỏ) lên hòn đá và quấn chặt 4 - 5 vòng vào hòn đá, tiếp tục đặt 2 - 3 miếng mực còn lại và quấn vào hòn
đá, sau đó chập đôi dây câu lại và luồn đầu chập vào các vòng quấn để cố định dây câu không tuột khỏi hòn đá và cũng đảm bảo sao cho khi giật mạnh dây câu đá và những miếng mồi nhỏ sẽ bung ra, dùng que tre nhỏ đã được buộc vào dây câu chính đâm vào túi mực (xem hình 2)
Ghi chú: Mồi câu hàng ngày đủ các loại là 30 - 50kg dùng cho 12 người câu
Trang 16Hình 1 Cấu tạo túi mực Hình 2 Cách mắc mồi câu
- Kỹ thuật thả câu: khi mồi câu đã chuẩn bị xong, thuyền trưởng điều khiển tàu chạy chậm lại quanh chà cách chà 1 khoảng 300 - 500m, sau đó các thuỷ thủ tung mồi câu xuống nước (tung nhịp nhàng, tránh giật cục sẽ làm hòn đá bung ra), nới dây câu cho mồi câu chìm xuống độ sâu cần câu (40 - 200m), dùng tay giật mạnh dây câu nhiều lần cho đến khi hòn đá bung khỏi dây câu, các miếng mồi nhỏ cũng sẽ tung ra, khi đá bung ra sẽ kéo theo que tre khỏi túi mực và nước mực sẽ phụt ra khỏi túi tạo thành như là khi con mực đang chạy sẽ tăng khả năng hấp dẫn cá ngừ
- Ngâm câu: Khi thả câu xong là thời gian ngâm câu, thời gian ngâm thường từ 5
- 10 phút, nếu không có cá ăn sẽ thu lưỡi câu lên và thay mồi khác
- Kỹ thuật thu câu: Kéo dây câu nhịp nhàng để thu câu, để tránh dây câu bị rối, khi thu chì ta phải để riêng ra Thu chì xong ta thu tiếp đến lưỡi câu và mồi câu, kiểm tra mồi câu nếu còn đủ độ tươi thì sử dụng làm mồi câu tiếp, tháo bỏ túi mực và mắc túi mực mới
Sau vài lần thả câu mà cá không ăn câu, thuyền trưởng sẽ điều khiển tàu tới các cây chà khác để câu có cá
Ghi chú: Nếu dòng chảy mạnh thì buộc tàu con vào chà câu Nếu dòng chảy yếu thì tàu nhỏ chạy quanh cây chà câu
- Kỹ thuật bắt cá: Khi có cá ăn câu, nếu câu ở trên tàu mẹ thì 2 thuỷ thủ thay nhau kéo dây câu để bắt cá Do cá mới ăn câu còn rất khoẻ nên khi kéo dây câu phải rất thận trọng, cá chạy loăng quăng thì phải nới dây câu để không bị bứt lưỡi khỏi miệng cá, cá bơi có xu hướng trồi lên mắt nước phải thu nhanh dây câu Nếu câu ở tàu con thì phải gọi 1 tàu khác đến hỗ trợ thu dây câu bắt cá (xem hình 4) Bắt cá trên tàu
mẹ dễ dàng hơn tàu con, thời gian bắt cá ở tàu con có khi kéo dài tới 1 - 1,5 giờ, khi cá
đã mệt thì mới thu dây câu và kéo cá lên mặt nước, cá trồi lên mặt nước thì một thuỷ
Trang 17thủ dùng móc sắt nhọn móc vào mang cá (tránh móc vào thân cá sẽ làm giảm giá trị của cá) kéo lên tàu
Hình 3 Câu trên tàu con Hình 4 Cách bắt cá lên tàu con
- Cách giết cá: có hai cách để giết cá Dùng dòng điện để giết cá và cách truyền thống là dùng vồ đập vào đầu để giết cá Với cá ngừ có trọng lượng 35 kg dùng dòng điện để giết cá, sử dụng điện thế 24V, sau 2,2 phút cá chết máu sẽ chảy ra từ mang cá
mà không ảnh hưởng tới đầu và thân cá, đối với cá ngừ có trọng lượng 55kg thì dùng cây sắt nhọn chọc vào đầu cá cho đến khi cá chết và cắt vây cá [1], [9]
1.1.3.5 Hiệu quả kinh tế của nghề câu tay cá ngừ quanh chà ở Philippine
Theo kết quả thu thập được từ chuyến tham quan thực tập tại Philippine của các cán bộ đề tài thì nghề câu tay cá ngừ đại dương quanh chà ở Philippine đạt hiệu quả kinh tế cao do các nguyên nhân sau:
- Do dòng chảy ở vùng biển Philippine yếu nên chi phí cho việc thả 1 cây chà ở
độ sâu (2.548 - 2.912m) thấp khoảng 30.000 peso (540,54USD) Chà được thả gần bờ
do vậy chỉ cần sử dụng tàu banca có công suất máy nhỏ 11,5cv để đánh bắt, thời gian chạy từ bờ ra ngư trường hết khoảng 1 - 3 giờ nên chi phí chuyến biển thấp Cá di cư gần bờ, cá tập trung quanh chà nhiều, sản lượng khai thác trung bình 1chuyến biển 5 ngày của 1 tàu banca nhỏ hoạt động gần bờ là 290kg và 1.450kg trong 25 ngày Thu nhập bình quân 1 tháng của 1 người ngư dân làm nghề câu tay cá ngừ quanh chà là 11.000peso (200USD)
- Đối với tàu có công suất lớn do chà tập trung cá ngừ được thả nhiều ở cùng một ngư trường, chỉ riêng ở vùng vịnh Moro ở miền Nam Philippine ước tính có khoảng 3.000 cây chà Nghề câu tay cá ngừ quanh chà thường dùng ba mươi cây chà cho một tàu khai thác Với tàu mẹ lắp máy 180cv, chiều dài tàu 27,45m chở theo 6 tàu con lắp
Trang 18máy 11,5cv hoạt động chuyến biển 36 ngày lợi nhuận tàu đạt 890.000 peso (16.036,04USD), tiền lương thuỷ thủ là 15.700 peso (282,88USD) [2]
Từ các kết quả trên ta rút ra kết luận: nghề câu tay cá ngừ đại dương quanh chà ở Philippine là nghề có hiệu quả kinh tế cao Ngư dân Philippine sử dụng nghề này là nghề chính trong khai thác cá ngừ đại dương dùng cho xuất khẩu
1.2 Các đặc điểm sinh học chủ yếu liên quan đến khai thác của cá ngừ đại dương
Cá ngừ đại dương bao gồm: Cá ngừ vây vàng (Thunnus albacares), cá ngừ mắt
to (Thunnus obesus), cá ngừ vây xanh (Thunnus thunnys), cá ngừ vây dài (Thunnus alalunga) Cá ngừ vây xanh không phân bố ở biển Việt Nam nên chúng ta chỉ đi
nghiên cứu đặc điểm sinh học của cá ngừ vây vàng và cá ngừ mắt to
+ Cá ngừ vây vàng (xem hình 5)
Cá ngừ vây vàng sống ở các đại dương, cả ở vùng biển nhiệt đới và ôn đới, nhưng ngoại trừ vùng biển Địa Trung Hải Ngư trường chính của loài cá này kéo dài
25o theo đường kinh tuyến Bắc
Cá ngừ vây vàng chủ yếu ăn các loài cá khác, giáp xác và động vật chân đầu Ngư dân thường sử dụng lưới vây để đánh bắt cá ngừ vây vàng kích thước nhỏ, thường sống ở tầng mặt Đối với cá có kích cỡ lớn hơn, sống sâu hơn ở tầng giữa, ngư dân sử dụng câu vàng để khai thác Sản lượng khai thác cá ngừ vây vàng hàng năm chiếm khoảng 62% tổng sản lượng cá ngừ trên toàn thế giới (1,6 triệu tấn) [3], [5]
Kích thước tối đa: 239cm (cá đực/không xác định giới tính), trọng lượng tối đa
được công bố: 200 kg, tuổi tối đa theo báo cáo: 8 năm
Môi trường: có rạn đá ngầm; di cư đại dương; nước lợ, nước biển, phạm vi độ
sâu 1 - 250m
Khí hậu: nhiệt đới; 15 - 31oC; 45oN - 45oS
Đặc điểm hình dáng: Tia vây lưng cứng: 11-14; tia vây lưng mềm: 12-16; tia
Hình 5 Cá ngừ vây vàng
(Thunnus albacares)
Hình 6 Cá ngừ mắt to (Thunnus obesus)
Trang 19vây hậu môn cứng: 0-0; tia vây hậu môn mềm: 11-16; Số đốt xương sống: 39 Vây đuôi và vây lưng thứ 2 có chiều dài bằng 20% chiều dài toàn thân cá Vây bụng rất dài, thường kéo dài gần đến vây lưng thứ 2, nhưng không vượt quá tia vây cuối cùng của vây lưng thứ 2 Màu sắc của cá thay đổi từ màu xanh đen đậm có ánh kim qua màu vàng đến màu bạc trên vùng bụng
Đặc điểm sinh học: Xuất hiện ở bên trên và bên dưới các tầng có nhiệt độ đột
biến Kết đàn chủ yếu theo kích cỡ, thành các nhóm đơn loài hoặc đa loài Cá lớn thì thường kết đàn với cá heo, và cũng đi theo các vật trôi nổi hoặc vật khác Thức ăn chủ yếu của loài cá này là cá, giáp xác và mực Rất nhạy cảm với những nơi nồng độ ôxy thấp, vì thế thường không bắt gặp ở độ sâu dưới 250m ở các vùng biển nhiệt đới Thời
kỳ đẻ cao điểm nhất là vào mùa hè, theo từng đợt Ngư dân thường dùng lưới vây để vây bắt những đàn cá ở gần bề mặt nước Sản phẩm cá ngừ vây vàng được đóng hộp hoặc cấp đông, cũng có thể để tươi, hun khói hoặc dùng làm sashimi [3], [5]
Kích thước tối đa: 250 cm (cá đực/không xác định giới tính); trọng lượng tối đa
được công bố: 210 kg, tuổi tối đa theo báo cáo: 11 năm
Môi trường: môi trường gần mặt nước; di cư đại dương; môi trường biển; phạm
vi độ sâu 0 - 250m
Khí hậu: Cận nhiệt đới, 13 - 290C, 450N - 430S
Đặc điểm hình dáng: số gai lưng (tổng số): 13 - 14; các tia mềm ở lưng (tổng
số): 14 - 15; số gai hậu môn: 0 - 0; số tia mềm ở hậu môn: 14 - 14 Số đốt sống: 39 Là loài có kích thước lớn, dày nhất ở giữa gốc vây lưng thứ nhất Hai bên sườn dẹt, bụng
có màu hơi trắng Ở các mẫu cá sống, dọc theo sườn cá có một dải màu xanh óng ánh Vây lưng thứ nhất có màu vàng thẫm, các vây lưng thứ hai và vây hậu môn màu vàng nhạt, các vây con có màu vàng sáng, mép vây có màu đen
Đặc điểm sinh học: Sống ở những vùng nước có nhiệt độ từ 13o- 29oC, nhưng nhiệt độ tối ưu là từ 17oC đến 22oC Việc cá xuất hiện thất thường có liên quan chặt
Trang 20chẽ đến những thay đổi về mùa vụ và khí hậu, thể hiện ở nhiệt độ bề mặt và nhiệt độ của tầng nhiệt nhảy vọt Cá con và cá trưởng thành cỡ nhỏ hợp thành đàn ở bề mặt thành các nhóm đơn loài hoặc hợp lẫn với các loài cá ngừ khác và các vật trôi nổi Cá trưởng thành nằm ở các tầng nước sâu hơn Trứng và ấu trùng cá sống ở gần mặt nước Ban ngày và ban đêm chúng ăn nhiều loài cá khác nhau, động vật chân đầu, và giáp xác Thịt cá có giá trị cao và được dùng để chế biến sashimi Cá được tiêu thụ chính ở dạng đóng hộp hoặc ướp đông, nhưng cũng được bán ở dạng tươi [3], [5]
1.3 Nghiên cứu trong nước
1.3.1 Nghiên cứu nguồn ợi cá ngừ đ i dương
Các nghiên cứu về cá ngừ ở trong nước mới chỉ tập trung chủ yếu vào điều tra nguồn lợi, đặc điểm sinh học, ngư trường khai thác Tuy nhiên, các nghiên cứu chưa có điều kiện nghiên cứu sâu, các số liệu nghiên cứu còn mỏng Cụ thể công trình nghiên cứu về nguồn lợi cá ngừ:
Đề tài “Nghiên cứu trữ lượng và khả năng khai thác nguồn lợi cá nổi (chủ yếu là
cá ngừ vằn, cá ngừ vây vàng, cá ngừ mắt to) và hiện trạng cơ cấu nghề nghiệp khu vực biển xa bờ miền Trung và Đông Nam Bộ năm 2002 - 2004” đã đi sâu hơn vào nghiên cứu nguồn lợi cá ngừ, bước đầu có đánh giá cụ thể về nguồn lợi cá ngừ vằn, ngừ vây vàng và ngừ mắt to ở vùng biển xa bờ miền Trung và đông Nam Bộ [5]
+ Các đối tượng cá ngừ khai thác chủ yếu tại vùng biển Việt Nam
Theo kết quả điều tra của tác giả Đào Mạnh Sơn từ năm 2000 đến năm 2004 cho thấy họ cá thu ngừ là đối tượng khai thác chính của nghề câu vàng, chiếm 17,55-60,79% sản lượng câu vàng vụ Nam và 2,19 - 66,80% sản lượng câu vàng vụ Bắc Trong đó chủ yếu là cá ngừ vây vàng và cá ngừ mắt to [5]
+ Trữ lượng và khả năng khai thác bền vững một số loài cá ngừ đại dương ở biển Việt Nam
Trong những năm gần đây số lượng tàu thuyền và cường lực đánh bắt ngày càng tăng, nhưng năng suất đánh bắt cá nổi lớn ở vùng biển xa bờ lại có xu hướng giảm xuống Cá ngừ vằn là đối tượng khai thác chính của nghề lưới rê ở vùng biển xa bờ cũng trong tình trạng tương tự
Tổng hợp các nguồn số liệu, trữ lượng cá ngừ vằn vùng biển xa bờ miền Trung
và Đông Nam Bộ ước tính vào khoảng 618.000 tấn, khả năng khai thác bền vững là 216.000 tấn; trữ lượng cá ngừ vây vàng và cá ngừ mắt to vào khoảng 44.853 - 52.591 tấn và khả năng khai thác bền vững khoảng 17.000 tấn (bảng 1) [5]
Trang 21Bảng 1 Ước tính trữ lượng và khả năng khai thác cá ngừ đại dương
(tấn)
Khả năng khai thác bền vững (tấn)
Ngư trường khai thác cá ngừ đại dương ở nước ta gồm có 3 ngư trường chính là: Vùng biển xa bờ tỉnh Phú Yên, tọa độ (vĩ độ:12000N - 13000N, kinh độ: 110030E-
112000E), vùng biển tỉnh Khánh Hòa (vĩ độ: 12000N - 13000N, kinh độ: 110000E -
112000E) và vùng biển phía Tây quần đảo Trường Sa (vĩ độ: 8000N - 10000N, kinh độ:
110000E - 115000E)
Ngư trường hoạt động nghề câu vàng cá ngừ đại dương thay đổi theo mùa Thông thường, những tháng đầu mùa (tháng 12 - 3 năm sau), tàu thường khai thác ở vùng biển Bắc Biển Đông, Đông Bắc Hoàng Sa, Bắc Trường Sa, các tháng giữa mùa (tháng 4 - 6) ở vùng biển Trường Sa, miền Trung và những tháng còn lại ở vùng biển Nam Trường Sa, Nam Biển Đông Như vậy, cá ngừ có tính di cư theo mùa (từ đầu năm đến cuối năm) từ Bắc xuống Nam Ngư trường phân bố cá ngừ đại dương năm
2000 - 2004 như hình 7, 8 [5]
Trang 22Hình 7 Bản đồ phân bố ngư trường cá ngừ đại dương vụ Nam (2000 - 2004)
(Nguồn: Đào Mạnh Sơn 2005)
Trang 23Hình 8 Bản đồ phân bố ngư trường cá ngừ đại dương vụ Bắc (2000 - 2004)
(Nguồn: Đào Mạnh Sơn 2005)
Trang 241.3.2 Nghiên cứu công nghệ khai thác cá ngừ đ i dươ g
Hiện nay ở nước ta việc khai thác cá ngừ đại dương quanh chà cố định thả ở độ sâu lớn là hoàn toàn mới mẻ, vì vậy chúng ta cần học tập kinh nghiệm của Philippines, tìm cách du nhập công nghệ đồng thời phải cải tiến sao cho phù hợp với điều kiện nghề cá, phù hợp với qui mô tàu thuyền và tiền vốn đầu tư còn hạn chế của ngư dân Dưới đây sẽ phân tích sâu về công nghệ đánh bắt cá ngừ của nước ta
- Trong 2 năm 2002 và 2003, Viện Nghiên cứu Hải sản đã thực hiện thành công
đề tài “Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật khai thác cá ngừ bằng nghề lưới vây khơi” Kết quả nghiên cứu của Đề tài đã đưa ra được các mẫu lưới vây khai thác cá ngừ đạt hiệu quả cao cho vùng biển xa bờ Đông - Tây Nam Bộ Ngoài ra Đề tài cũng đưa ra được quy trình kỹ thuật khai thác cá ngừ bằng nghề lưới vây kết hợp với chà, máy dò ngang cũng như các thiết bị khác phục vụ cho quá trình khai thác cá ngừ Đặc biệt nhờ có máy dò cá ngang, kết hợp với lưới vây đã được cải tiến, đề tài đã đánh bắt được nhiều
mẻ lưới vây trên 10 tấn cá ngừ Mẻ có sản lượng cao nhất là 25 tấn cá ngừ được đánh bắt vào ngày 3/4/2003 tại vùng biển Đông Nam Bộ Tuy nhiên, trong các mẻ lưới chưa bắt được đối tượng cá ngừ vây vàng và cá ngừ mắt to [4]
Nói chung, khi phát triển nghề lưới vây khai thác cá ngừ ở nước ta còn gặp những khó khăn cơ bản như: Kích thước và tốc độ tàu lưới vây của nước ta rất nhỏ so với yêu cầu của nghề vây cá ngừ Ngoài ra công nghệ khai thác của các tàu Việt Nam còn khá thô sơ như: Trang bị máy thu lưới, thu giềng rút yếu; kỹ thuật dò tìm cá còn lạc hậu; kết cấu tàu chưa phù hợp cho việc thả lưới ở đuôi tàu (các tàu lưới vây cá ngừ hiện đại của Tổ chức nghề lưới vây cá ngừ thế giới (WTPO) có chiều dài tàu phổ biến từ 50m đến 110m, với công suất máy chính 1.000 - 2.500cv và tốc độ hành trình đạt tới 15 hải lý/giờ)
- Nghề lưới rê đã khai thác được một số loài cá ngừ có kích thước nhỏ như: cá ngừ chù, ngừ ồ, ngừ bò, ngừ chấm và khai thác được cá ngừ đại dương (cá ngừ vây vàng, cá ngừ mắt to) cỡ nhỏ Để phát triển nghề cá theo hướng hội nhập với thế giới thì nghề lưới rê sẽ chỉ còn được phép hoạt động với chiều dài vàng lưới < 2,5 km và điều này sẽ làm cho nghề lưới rê dần bị mai một Như vậy nghề lưới rê chỉ được dùng cho việc điều tra nguồn lợi cá ngừ mà không dùng để khai thác cá ngừ đại dương
- Hiện nay ở Việt Nam chưa có công trình nghiên cứu nào về công nghệ khai thác cá ngừ đại dương quanh chà cố định thả ở vùng biển xa bờ
Trang 25Chương 2 - NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Nghiên cứu thiết kế chà cố định và thả chà cố định ở những vùng biển xa bờ, nơi có cá ngừ đại dương tập trung
Để thực hiện nội dung này, đề tài thực hiện phương pháp nghiên cứu sau:
+ Xác định ngư trường khai thác cá ngừ đại dương dựa vào tài liệu thống kê
- Tiến hành tính toán, thiết kế chà thông qua tính toán sức cản của cụm chà, tính
độ thô dây neo, trọng lượng đá dằn …
- Tính toán hệ thống là dừa trang bị cho mỗi cụm chà
+ Tiến hành thả chà ở ngư trường đã xác định
2.2 Nghiên cứu công nghệ khai thác cá ngừ đại dương quanh chà cố định thả ở vùng biển xa bờ
2.2.1 Phương phá nghiên cứu
+ Đề tài đã sử dụng tàu câu cá ngừ đại dương của ngư dân Phú Yên, tàu có số đăng ký PY92979TS, công suất máy chính là 160cv để tiến hành nghiên cứu thử nghiệm
+ Sử dụng máy dò cá đứng thăm dò nhằm xác định vị trí tập trung của cá ngừ quanh chà làm cơ sở cho việc tiến hành hoạt động khai thác
+ Đánh bắt thử nghiệm khai thác cá ngừ quanh chà cố định bằng các nghề: câu tay, câu buộc chà, câu vàng quanh chà Xem bố trí thử nghiệm các nghề ở hình 9, hình
10 và hình 11
- Nghiên cứu độ sâu thả câu hợp lý bằng cách sử dụng nhiều dây câu để theo dõi
độ sâu ăn mồi của cá Dự kiến độ sâu lưỡi câu là 20 - 40 - 60 - 80 - 100 - 120 - 140 -
160 - 180 - 200m và 250m
- Nghiên cứu bán kính câu quanh chà đạt hiệu quả cao Căn cứ vào sản lượng thu được ở các bán kính khác nhau để đánh giá
- Nghiên cứu thời gian cá ăn mồi quanh chà
+ Phương pháp thu số liệu
Trang 26- Thu thập số liệu về độ sâu ăn mồi, khoảng cách ăn mồi của cá tới chà, thời gian
cá ăn mồi, nhiệt độ nước biển ứng với độ sâu cá ăn mồi,
- Thu thập tín hiệu đàn cá bằng máy dò cá đứng thông qua các hình ghi lại trên màn hình máy dò, vẽ bản đồ ngư trường thả chà và khai thác thử nghiệm (xem phụ lục 5)
- Cân trọng lượng, đo chiều các cá ngừ đại dương đánh bắt được
+ Phương pháp xử lý số liệu: Xử lý số liệu thống kê, phân tích các số liệu thực nghiệm, đánh giá kết quả nghiên cứu bằng các phương pháp xử lý thông dụng
Trang 2718
+ Câu buộc chà sau bè tre tam giác: 9 – 15 lưỡi
- Thẻo câu: 11; 19; 28; 36 và 4
- Dây phao ganh: 11; 18m
- Thả 1lưỡi/1phao ganh; 2 lưỡi/1phao ganh + Câu tay dưới thúng:
- Độ sâu câu: thúng 1: 80m, thúng 2: 120m, thúng 3: 40m thúng 4: 100m, thúng 5: 140m, thúng 6: 60m + Câu tay trên tàu: độ sâu câu: 20 – 160 – 180 – 200 – 250m
* Ghi chú: Độ sâu câu trên tàu, trên thúng có thể thay đổi
Hình 9 Sơ đồ bố trí câu tay và câu buộc chà
Hướng nước
Hướng gió
Câu 4 đường câu trên tàu
Bè tre tam giác
Dây chà tâp trung cá
65m
50m
Trang 2845m 45m
140m 120m 100m 80m
160m
250m
60m
40m 40m
- Dây phao ganh: 11; 1
- Thả 1lưỡi/1phao ganh; 2 lưỡi/1phao ganh + Câu buộc chà giữa bè tre tam gíc
- Bè tre tam giác – phao chà
40 – 60 – 250 - 80 –100 – 120 –140 –160m + Câu tay trên tàu: độ sâu câu: 20 – 180 – 200 m
Trang 29Dây neo chà
Bè tre tam giác
Hệ thống đá dằn neo
D©y chµ tËp
- Dây phao ganh: 11; 18m
- Thả 1 lưỡi/1phao ganh; 2 lưỡi/1phao ganh
- Số lượng lưỡi câu thả: 45 – 90lưỡi
- Khoảng cách giữa 2 lưỡi: 65m Hướng thẩ câu
Hướng câu trôi
Trang 302.2.2 Tàu huy n và hiết bị nghiên cứu
a Tàu thuyền
Tàu thuyền sử dụng trong nghiên cứu thử nghiệm câu cá ngừ đại dương quanh chà được trang bị đầy đủ trang thiết bị hàng hải, khai thác và có các thông số chính sau:
- Chiều rộng lớn nhất 4,5m
- Phương pháp bảo quản Nước đá
- Công suất máy chính 160cv
- Máy thông tin đường dài ICOM IC - 707
- Máy thông tin đường ngắn Galaxy
- Ngư cụ chính Câu tay, câu vàng cá ngừ
Tàu sử dụng trong nghiên cứu như hình 12
Hình 12 Tàu nghiên cứu câu tay, câu vàng cá ngừ đại dương PY92979TS
Trang 31b Thiết bị nghiên cứu
+ Máy dò cá đứng CVS - 108
Để xác định tập tính cá ngừ đại dương quanh chà đề tài đã lắp đặt máy dò cá đứng CVS - 108 lên tàu nghiên cứu PY92979TS Máy dò cá đứng CVS - 108 được sản xuất bởi hãng KODEN - Hoa Kỳ có các thông số kỹ thuật chính như sau:
- Máy dò cá đứng CVS - 108 có màn hình 6 inch với tám mức màu: đỏ, da cam, vàng, xanh lá cây, xanh lá cây nhạt, trắng, xanh da trời nhạt và xanh da trời hoặc
16 màu (8 tám màu và màu pha trộn) tùy theo độ mạnh, yếu của tín hiệu phản hồi Màn hình máy dò cá dứng CVS - 108 hiển thị ở ba chế độ màu là: xanh da trời, xanh
da trời tối hoặc màu xanh lá cây
- Nguồn điện cung cấp cho máy dò cá đứng là 10,8 - 41,6 V
- Thang đo của máy CVS - 108 có các mức sau: 5 - 10 - 20 - 40 - 80 - 160 và 320m Độ sâu máy đo tối đa nếu sử dụng chức năng SHILT là 640m
- Công suất phát của máy là 300W và được phát với 2 tần số 50kHz & 200kHz
- Nguyên lý hoạt động: Máy dò cá đứng bao gồm 2 bộ phận chính là: bộ phận hiển thị và đầu dò hoạt động theo lý thuyết sóng siêu âm (hoặc một đầu dò với bộ cảm biến tốc độ/nhiệt độ)
+ Một tín hiệu xung điện được phát ra từ bộ phận hiển thị Khi tới đầu dò, tín hiệu này được biến đổi thành tín hiệu sóng siêu âm và phát theo hướng đáy biển Tín hiệu sóng siêu âm di chuyển xuyên qua nước biển cho đến khi đập vào một vật thể hoặc đáy biển Tín hiệu sóng siêu âm phản xạ trở lại đập vào bề mặt đầu dò và biến đổi lại thành tín hiệu điện bởi đầu dò Sau đó nó được khuếch đại bởi một bộ của máy thu,
xử lý bằng phương pháp logic học và hiển thị thành 1 hình ảnh trên màn hình CRT (xem hình 13c)
+ Khi tàu di chuyển từ điểm A tới điểm B (xem hình 13a), chùm tia sóng siêu âm được phát ra từ đầu dò lắp đặt trên tàu hiển thị theo mặt cắt ngang ở trong nước biển + Hình 13b mô phỏng hoạt động của chùm tia sóng siêu âm khi tàu di chuyển từ điểm A tới điểm B
+ Hình 13d là một ví dụ biểu diễn toàn bộ dữ liệu được hiển thị trên màn hình
Trang 32Hình 13 Sơ đồ nguyên lý hoạt động của máy dò cá đứng CVS - 108
+ Một số trang thiết bị khai thác khác
- Thúng chai câu tay: Để tiến hành câu tay quanh chà trên tàu PY92979TS sử dụng 6 thúng chai bằng tre có chu vi miệng thúng 1,8 - 2,0m, trên mỗi thúng có 1 thuỷ thủ xuống câu với 1 bộ câu tay bao gồm: 1 bộ đèn thắp sáng, 1 bình ắc quy và 1 bộ câu tay cá ngừ đại dương
- Rổ câu: Để đựng dây triền và dây thẻo trên tàu dùng các rổ câu đan bằng tre; rổ đựng dây triền có kích thước B x H = (1,2 x 0,9)m số lượng là 1 cái; rổ đựng dây thẻo
có kích thước B x H = (1,0 x 0,9)m, số lượng là 1 cái
2.2.3 Thời gian, phạm vi ngư rườ g ến hành nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu của đề tài được tiến hành trong 2 năm 2005 - 2006
Bản đồ ngư trường khai thác thể hiện trong phụ lục 5
Phạm vi ngư trường của các tàu nghiên cứu câu tay quanh chà
Vĩ độ: 6030 N - 9000 N; Kinh độ: 109000 E - 113000 E
Điểm A
Đàn cá Điểm B
Bùn Đất
Hình 13a
Hình 13d
62.3m
XX 0 XX.XXXX XXX 0 XX.XXXX
0 0 0 C XXXXm
XX 0 XX.XXXX XXX 0 XX.XXXX XXX.X 0
Vị trí hiện tại của tàu
Hướng tàu Tốc độ tàu Quãng đường đi Nhiệt độ nước biển
Độ sâu đáy biển
Lưu trữ dữ liệu
Hiiển thị khuếch đại
Tần số Thời gian vạch dấu
Đàn cá
Bề mặt
Hình 13c
Trang 33Chương 3 - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Nghiên cứu thiết kế các loại chà thả ở vùng biển xa bờ có độ sâu lớn
Cá ngừ đại dương là loài cá ngừ lớn, sống và di cư ở vùng nước xa bờ, tại đây thường có dòng chảy mạnh, phức tạp, có sóng gió lớn vì thế chà cần đảm bảo các yêu cầu sau:
- Vật liệu và kết cấu phải phù hợp với ngư trường khai thác
- Khả năng tập trung cá ngừ đại dương tốt
- Chế tạo đơn giản, giá thành rẻ
- Giảm tối đa nguy cơ mất chà
- Tàu phải neo vào chà để câu nên phải tính đến lực cản của tàu
3.1.1 Thiết kế phần bè nổi
Khi thiết kế phần bè nổi cần phải đảm bảo các yêu cầu sau:
- Bè phải đảm bảo đủ sức nổi cần thiết trong điều kiện lưu tốc cực đại của vị trí thả chà
- Phần bè nổi được thiết kế thành 2 cụm gồm “Chà chính” và “Bè tre tam giác” Hai cụm này được nối với nhau bằng sợi dây PP30 dài 100 - 200m Như thế cá sẽ phân bố ở giữa 2 cụm chà này và một số thuyền nhỏ có thể buộc vào sợi dây liên kết này để câu
- Đề tài đã sử dụng 3 kiểu “Phần nổi" Xung quanh Phần nổi được buộc thêm nhiều dây lá dừa, lưới cũ để tạo bóng râm cho cá ẩn nấp, xem các hình 14, 15, 16 và
17
+ Kiểu 1: Gồm “Chà phao nhựa nổi" liên kết với “Bè tre tam giác"
- Chà phao nhựa nổi: Được cấu tạo bằng 2 - 3 thùng phi nhựa rỗng có dung tích 220 lít đổ đầy bọt xốp để tạo lực nổi Dùng thép 10 hàn thành khung bao quanh bên ngoài hoặc dùng 4 đoạn cây tre ép bên ngoài thùng phi, buộc liên kết 2 - 3 phi nhựa với nhau Lực nổi của 1 thùng phi nhựa rỗng được đổ đầy bọt xốp là:
Trang 34- Bè tre tam giác: Liên kết các đoạn tre tạo thành bè tre có hình tam giác đều, mỗi cạnh dài 5m Bè tre tam giác này được liên kết với chà phao nhựa nổi bằng dây PP30
có chiều dài 100 - 200m
+ Kiểu 2: Gồm “Chà phao bè tre nổi" liên kết với “Bè tre tam giác"
- Chà phao bè tre nổi: Liên kết 30 cây tre có chiều dài 8 - 12 m lại thành bè tre 2 lớp và có chiều rộng của bè khoảng 1,2 - 2,0 m
- Bè tre tam giác có cấu tạo như trên cũng được liên kết với “Chà phao bè tre nổi" theo cách trên
Ta tính toán lực nổi của phao chà là bè tre gồm 30 cây tre: Lực nổi của tre bao gồm lực nổi do thể tích rỗng của tre và lực nổi do sức nổi của tre
* Tính lực nổi phần rỗng của cây tre:
Cây tre có dạng hình nón cụt Phần gốc có đường kính D1 = 0,08m (R1 = 0,04m), phần ngọn có đường kính D2 = 0,03m (R2 = 0,015m), chiều dài trung bình của 1 cây tre là L = 10m
Thể tích rỗng của một cây tre: VT1= 1/3.ð.L.(R1² + R2² + R1R2)
VT1= 1/3 x 3,14 x 10 x [(0,04)2 + (0,015)2 + 0,04 x 0,015] = 0,025 m3
Lực nổi tính theo thể tích rỗng của 1 cây tre là: QT1 = n.VT1 = 1.025 x 0,025 = 25,6KG
Do vậy 30 cây tre có lực nổi phần rỗng cây tre là: 30 x 25,6 KG = 768KG
Trong quá trình thi công, lực nổi giảm 20% do một số cây tre bị nứt Vậy lực nổi thực tế khi thả bè tre xuống biển là: 768KG x 80% = 614KG
* Tính lực nổi do sức nổi phần thân cây tre
Thể tích phần thân cây tre là:
Lực nổi phần thân của 1 cây tre là: QT2 =E T.VT2
Nếu tre tươi thì: T = 950kg/m3 trọng lượng riêng của tre; E = 0,08 hệ số sức nổi của tre trong nước biển: Q’T2 = 0,08 x 950 x 0,0196 = 1,5KG
Trang 35Nếu tre khô: T = 250kg/m3 trọng lượng riêng của tre; E = 3,1 hệ số sức nổi của tre trong nước biển: Q’’T2 = 3,1 x 250 x 0,0196 = 15,2KG
30 cây tre phần thân có sức nổi là:
Tre tươi: 30 x 1,5KG = 45KG Tre khô: 30 x 15,2KG = 456KG Vậy tổng lực nổi của 30 cây tre là:
Tre tươi: Q’T = QT1 + Q’T2 = 614 + 45 = 659 KG Tre khô: Q’’T = QT1 + Q’’T2 = 614 + 456 = 1.070KG + Kiểu 3: Gồm “Chà phao sắt nổi" liên kết với “Bè tre tam giác"
- Chà phao sắt nổi: Được hàn từ những tấm tôn sắt, có dạng hình trụ, một đầu nhọn hình nón Phao có chiều dài 1,85m, đường kính ngoài RN= 0,385m, đường kính trong RT = 0,380m
Thể tích phần rỗng của phao sắt là: VP1= ð.RT2.L = 3,14 x (0,380)2 x 1,85 = 0,839 m3
- Lực nổi phần rỗng của phao sắt là: QP1 = n VP1 = 1.025 x 0,839 = 860KG Thể tích phần vật liệu làm phao sắt là: VP2 = 2.ð.R2.L.B
Trong đó : R = 382,6mm = 0,383m, bán kính trung bình giữa vòng ngoài và vòng trong của phao hình trụ; L = 1,85m chiều dài phao sắt ; B = 4,8mm = 0,0048m độ dày tấm thép làm phao sắt
VP2 = 2 x 3,14 x (0,383)2 x 1,85 x 0,0048 = 0,0082 m3
Lực chìm của vật liệu làm phao là: B =E.n.VP2
Trong đó : E = 0,86 sức chìm của sắt trong nước biển; n = 7.400KG/m3 trọng lượng riêng của sắt
Lực chìm của phao là: B = 0,86 x 7400 x 0,0082 = 52KG
Vậy lực nổi của phao sắt là : QP = QP1 - B = 860 - 52 = 808KG
- Bè tre tam giác có cấu tạo như trên cũng được liên kết với “Chà phao sắt nổi" bằng dây PP 30 có chiều dài 100 - 200m
3.1.2 Phần d y iên kết (d y neo chà)
Tính toán tổng lực cản của một cụm chà thả ở các độ sâu 1.000 - 2.000m, vận tốc dòng chảy: v = 1,2m/s với chiều dài dây neo chà là 1.300 - 2.600m (xem bảng 2) + Lực cản của dây thừng, cáp kéo căng khi góc nghiêng khác nhau được xác định bằng công thức: Rx1= cx1.q.(L.D) Trong đó:
Trang 36cx1: hệ số lực cản phụ thuộc vào góc giữa dây neo chà và dòng chảy
L: chiều dài dây neo chà (m)
D: Đường kính dây neo chà (m)
Độ sâu (m)
Góc tống
(độ)
Hệ số (c x )
v (m/s)
R x1 (KG)
+ Lực cản của 30 lá dừa: Rx2= cx2.q.(L.D) = cx2.(.v2/2).L.D, trong đó:
cx2: hệ số phụ thuộc vào góc của lá dừa chà và dòng chảy, ta có = 300
cx2 = 0,41
L : Chiều dài tàu lá dừa L = 1,5m
D : Đường kính tàu lá dừa D = 0,2m
L : Chiều dài của phao L = 1,85m
D : Đường kính của phao d = 0,77m
Rx3 = 1,2 x (105 x 1,22/2) x 1,85 x 0,77 =129,2 KG
+ Lực cản của 3 dây chà phụ: Rx4= cx4.q.(L.D) = cx4.(.v2/2).L.D, trong đó:
cx4: hệ số phụ thuộc vào góc của dây chà và dòng chảy, ta có = 490 c = 0,69
L : Chiều dài dây chà L = 50m
Trang 37D : Đường kớnh của dõy chà D = 0,012m
R x3 phao (KG)
R x4 dõy chà
phụ (KG)
R x5 đỏ dằn (KG)
Tổng R x (KG)
- Nếu lấy hệ số an toàn bằng n = 2 thỡ dõy neo chà ở độ sõu nhất của ngư trường
mà đề tài thả chà phải cú độ bền đảm bảo đủ lực đứt là: 8.122KG
- Nếu dựng dõy neo là PP (Theo số liệu của cụng ty Nghĩa Thỏi) lực căng chịu lực của một số cỡ dõy như sau:
Bảng 4 Lực căng chịu lực của một số cỡ dõy PP của cụng ty Nghĩa Thỏi
Dõy Polypropylene (PP) Đường kớnh
của dõy (mm) Khối lượng của
100m chiều dài (kg)
Độ bền đứt tớnh bằng kgf, khụng nhỏ hơn
Như vậy cần chọn dây neo chà có đường kính 26mm mới đủ độ bền
3.1.3 Thiết kế phần đ d n và neo (xem hỡnh 1 )
+ Lực giữ của đá dằn được tính theo công thức