Dư lượng phát hiện thuốc BVTV nhóm Lân hữu cơ của một số loại rau sản xuất trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa ...58Bảng 3.5.. Dư lượng phát hiện thuốc BVTV nhóm Cúc tổng hợp của một số loại rau
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
BÙI LÂN
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG DƯ LƯỢNG THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT, PHÂN BÓN CỦA RAU TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KHÁNH HÒA VÀ GIẢI PHÁP HẠN CHẾ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT
Nha Trang, 2013
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
BÙI LÂN
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG DƯ LƯỢNG THUỐC BẢO
VỆ THỰC VẬT, PHÂN BÓN CỦA RAU TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH KHÁNH HÒA VÀ GIẢI PHÁP HẠN CHẾ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT
Chuyên ngành: CÔNG NGHỆ SAU THU HOẠCH
Mã số: 60.54.01.04
Người hướng dẫn khoa học:
PGS TS NGÔ ĐĂNG NGHĨA
Nha Trang, 2013
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan toàn bộ nội dung thực hiện của luận văn này là kết quả nghiên cứu của bản thân, không sao chép kết quả nghiên cứu của người khác Tôi xin chịu trách nhiệm hoàn toàn nếu có bất kì sự gian dối nào
Người cam đoan
Bùi Lân
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành Luận văn này tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ tận tình của các quý thầy cô và đồng nghiệp Xin chân thành cảm ơn:
Ban Giám hiệu, các phòng ban chức năng, quý thầy cô giáo đã giảng dạy, giúp
đỡ tôi trong quá trình học tập tại Trường
Thầy giáo hướng dẫn: PGS.TS Ngô Đăng Nghĩa người luôn tận tình chỉ bảo, hướng dẫn tôi hoàn thành báo cáo này
Đồng nghiệp đã tạo điều kiện giúp đỡ cho tôi được học tập trong thời gian qua
Kính chúc các thầy cô, đồng nghiệp sức khỏe, thành công và hạnh phúc
Khánh Hòa, ngày 08 tháng 10 năm 2013
Học viên thực hiện
Bùi Lân
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC HÌNH VÀ SƠ ĐỒ viii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 3
1.1 TỔNG QUAN VỀ SẢN XUẤT, TIÊU THỤ RAU 3
1.2 THUỐC BẢO VỆ VÀ PHÂN BÓN HÓA HỌC TRONG CANH TÁC RAU 5
1.3.1 SỰ TẤT YẾU PHẢI DÙNG THUỐC BẢO VỆ VÀ PHÂN BÓN HÓA HỌC 5
1.3.1 KHẢ NĂNG GÂY MẤT AN TOÀN THỰC PHẨM KHI DÙNG THUỐC BẢO VỆ VÀ PHÂN BÓN HÓA HỌC 6
1.3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT, PHÂN BÓN HÓA HỌC TRONG RAU 9
1.3.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CỦA THẾ GIỚI 9
1.3.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TẠI VIỆT NAM 12
1.4 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT, TIÊU THỤ RAU ĐỊA BÀN TỈNH KHÁNH HÒA .14
1.4.1 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT RAU 14
1.4.2 TÌNH HÌNH TIÊU THỤ RAU 21
1.5 TÌNH HÌNH KINH DOANH, SỬ DỤNG THUỐC BVTV, PB 22
1.5.1 TÌNH HÌNH KINH DOANH THUỐC BVTV, PB 22
1.5.2 TÌNH HÌNH SỬ DỤNG BVTV, PB 23
1.6 ĐỘC TÍNH CỦA THUỐC BVTV VÀ PBHH 24
1.6.1 ĐỘC TÍNH CỦA THUỐC BVTV 24
1.6.2 ĐỘC TÍNH CỦA PBHH 25
1.7 PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH DƯ LƯỢNG THUỐC BVTV, PBHH 26
1.7.1 PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH DƯ LƯỢNG THUỐC BVTV 27
Trang 61.7.2 PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH DƯ LƯỢNG PBHH 29
1.8 QUY ĐỊNH GIỚI HẠN CHO PHÉP CỦA HÓA CHẤT VÀ VI SINH VẬT GÂY HẠI TRONG RAU 29
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 31
2.2 ĐỊA ĐIỂM LẤY MẪU 31
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
2.3.1 Khảo sát vùng trồng rau trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa 31
2.3.2 Khảo sát tình hình kinh doanh rau của các cơ sở tại các chợ trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa 32
2.3.3 SƠ ĐỒ NGHIÊN CỨU 32
2.3.4 QUY TRÌNH LẤY MẪU RAU 33
2.3.5 PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH 34
2.3.6 CĂN CỨ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ MẤU PHÂN TÍCH 35
2.4 DỤNG CỤ, THIẾT BỊ VÀ HÓA CHẤT 35
2.4.1 Dụng cụ, thiết bị: 35
2.4.2 Hóa chất: 36
2.5 XỬ LÝ SỐ LIỆU 36
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 37
3.1 KẾT QUẢ KHẢO SÁT TÌNH HÌNH SẢN XUẤT, TIÊU THỤ RAU TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KHÁNH HÒA 37
3.1.1 KẾT QUẢ KHẢO SÁT TÌNH HÌNH SẢN XUẤT RAU 37
3.1.2 KẾT QUẢ KHẢO SÁT TÌNH HÌNH TIÊU THỤ RAU 40
3.2 KẾT QUẢ KHẢO SÁT TÌNH HÌNH KINH DOANH, SỬ DỤNG THUỐC BVTV, PB 43
3.2.1 KẾT QUẢ KHẢO SÁT TÌNH HÌNH KINH DOANH THUỐC BVTV, PB 43
3.2.2 KẾT QUẢ KHẢO SÁT TÌNH HÌNH SỬ DỤNG THUỐC BẢO VỆ VÀ PHÂN BÓN HÓA HỌC 53
3.3 KẾT QUẢ KHẢO SÁT DƯ LƯỢNG THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT VÀ PHÂN BÓN HÓA HỌC CỦA MỘT SỐ LOẠI RAU TRÊN ĐỊA BÀN KHÁNH HÒA 53
Trang 73.3.1 DƯ LƯỢNG THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT VÀ PHÂN BÓN
HÓA HỌC CỦA MỘT SỐ LOẠI RAU SẢN XUẤT TẠI KHÁNH
HÒA 54
3.3.2 DƯ LƯỢNG THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT VÀ PHÂN BÓN HÓA HỌC CỦA MỘT SỐ LOẠI RAU TIÊU THỤ 67
3.4 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP HẠN CHẾ DƯ LƯỢNG THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT, PHÂN BÓN HÓA HỌC TRONG RAU TRỒNG TRÊN CẠN 83
3.4.1 XÁC ĐỊNH NHỮNG KHÓ KHĂN TRONG SẢN XUẤT RAU AN TOÀN 83
3.4.2 ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP HẠN CHẾ DƯ LƯỢNG THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT, PHÂN BÓN TRONG RAU ĐƯỢC TRỒNG TRÊN CẠN 86
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
PHỤ LỤC 97
Trang 8WTO: (World Trade Organization) Tổ chức thương mại thế giới
FAO: (Food Aquaculture Organization) Tổ chức nông lương thế giới
PHI: (Preharvest Interval) Thời gian cách ly (ngày)
MRL: (Maximum Residues Limited) Giới hạn dư lượng tối đa cho phép (mg/kg hoặc
mg/l)
FDA: (United States Food and Drug Administation) Cơ quan quản lý thực phẩm và dược phẩm Hoa Kỳ
IPM: (Integted Pest Management) Chương trình Quản lý dịch hại tổng hợp
POP: (Persistent Organic Pollutants) Ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Diện tích gieo trồng rau năm, ha, 2011-2012 [7] 3Bảng 1.2 Dư lượng thuốc BVTV trên rau tại một số nước [36],[45] 11Bảng 1.3: Số lượng thuốc nhập khẩu vào Việt Nam từ năm 1991 đến năm 1997 [6] 12Bảng 1.4 Số lượng rau sản xuất trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa trong ba năm từ năm
2010 đến năm 2012 20Bảng 1.5 Giới hạn tối đa cho phép của hóa chất và một số vi sinh vật gây hại trong
sản phẩm rau 29Bảng 3.1 Kết quả khảo sát cơ sở sản xuất rau trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa 37Bảng 3.2 Kết quả khảo sát cơ sở tiêu thụ rau trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa 40Bảng 3.3 Kết quả khảo sát cơ sở kinh doanh phân bón và thuốc bảo vệ thực vật trên
địa bàn tỉnh Khánh Hòa 45Bảng 3.4 Dư lượng phát hiện thuốc BVTV nhóm Lân hữu cơ của một số loại rau sản
xuất trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa 58Bảng 3.5 Dư lượng phát hiện thuốc BVTV nhóm Cúc tổng hợp của một số loại rau
sản xuất trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa 59Bảng 3.6 Dư lượng phát hiện thuốc BVTV nhóm Carbamate của một số loại rau sản
xuất trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa 61Bảng 3.7 Dư lượng phát hiện thuốc BVTV nhóm Clo hữu cơ của một số loại rau sản
xuất trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa 63Bảng 3.8 Dư lượng phát hiện thuốc BVTV nhóm Lân hữu cơ của một số loại rau tiêu
thụ trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa 73Bảng 3.9 Dư lượng phát hiện thuốc BVTV nhóm Cúc tổng hợp của một số loại rau
tiêu thụ trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa 75Bảng 3.10 Dư lượng phát hiện thuốc BVTV nhóm Carbamate của một số loại rau tiêu
thụ trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa 77Bảng 3.11 Dư lượng phát hiện thuốc BVTV nhóm Clo hữu cơ của một số loại rau tiêu
thụ trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa 78
Trang 10DANH MỤC HÌNH VÀ SƠ ĐỒ
Hình 1.1 Rau cải xanh 14
Hình 1.2 Rau muống 15
Hình 1.3 Rau mồng tơi 16
Hình 1.4 Cải xà lách 17
Hình 1.5 Hình ảnh bao bì thuốc BVTV trên các ruộng rau sản xuất 19
Hình 1.6 Hình ảnh rửa rau ở cống nước thải 20
Hình 1.7 Hình ảnh bày bán rau 21
Sơ đồ 2.1 Sơ đồ nghiên cứu 32
Sơ đồ 2.2 Qui trình lấy mẫu 33
Hình 3.1 Tỷ lệ % phát hiện dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trên số mẫu khảo sát 54
Hình 3.2 Tỷ lệ phát hiện dư lượng thuốc BVTV của một số loại rau sản xuất trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa 55
Hình 3.3 Dư lượng thuốc BVTV nhóm Lân hữu cơ của một số loại rau sản xuất trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa 57
Hình 3.4 Dư lượng thuốc BVTV nhóm Cúc tổng hợp của một số loại rau sản xuất trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa 59
Hình 3.5 Dư lượng thuốc BVTV nhóm Carbamate của một số loại rau sản xuất trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa 60
Hình 3.6 Dư lượng thuốc BVTV nhóm Clo hữu cơ của một số loại rau sản xuất trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa 62
Hình 3.7 Tỷ lệ phần trăm mẫu rau sản xuất phát hiện và không phát hiện thấy dư lượng PBHH trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa 64
Hình 3.8 Số mẫu phát hiện và không phát hiện dư lượng PBHH của một số loại rau sản xuất trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa 65
Hình 3.9 Tỷ lệ % dư lượng PBHH của một số loại rau sản xuất trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa 67
Hình 3.10 Tỷ lệ phần trăm mẫu rau tiêu thụ phát hiện và không phát hiện dư lượng thuốc BVTV trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa 68
Hình 3.11 Số mẫu phát hiện và không phát hiện dư lượng thuốc BVTV của một số loại rau tiêu thụ trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa 69
Trang 11Hình 3.12 Dư lượng thuốc BVTV nhóm Lân hữu cơ của một số loại rau tiêu thụ trên
địa bàn tỉnh Khánh Hòa 72Hình 3.13 Dư lượng thuốc BVTV nhóm Cúc tổng hợp của một số loại rau tiêu thụ
trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa 74Hình 3.14 Dư lượng thuốc BVTV nhóm Carbamate của một số loại rau tiêu thụ trên
địa bàn tỉnh Khánh Hòa 76Hình 3.15 Dư lượng thuốc BVTV nhóm Clo hữu cơ của một số loại rau tiêu thụ trên
địa bàn tỉnh Khánh Hòa 78Hình 3.16 Tỷ lệ mẫu rau tiêu thụ phát hiện và không phát hiện thấy dư lượng PBHH
trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa 79Hình 3.17 Số mẫu phát hiện và không phát hiện dư lượng PBHH của một số loại rau
tiêu thụ trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa 80
Trang 12MỞ ĐẦU
Vệ sinh an toàn thực phẩm trong cả nước nói chung và tỉnh Khánh Hòa nói riêng đang tạo nhiều lo lắng cho người dân Nhiều sự kiện như việc tiếp tục sử dụng những hóa chất cấm dùng trong nuôi trồng, chế biến nông thủy sản, thực phẩm, việc sản xuất một số sản phẩm kém chất lượng do quy trình sản xuất hoặc do nhiễm độc từ môi trường, đang gây ảnh hưởng xấu đến xuất khẩu và tiêu dùng
Các vụ ngộ độc thực phẩm của một số bếp ăn tập thể, nhiều thông tin liên tục về tình hình an toàn vệ sinh thực phẩm ở một vài nước trên thế giới, cộng thêm dịch cúm gia cầm tái phát, bệnh heo tai xanh ở một số tỉnh thành trên cả nước càng làm bùng lên
sự lo âu của mọi người chúng ta
Mỗi gia đình của người Việt Nam, trong bữa ăn hàng ngày có thể thiếu thịt, thiếu cá nhưng không thể thiếu các loại rau xanh Điều đó cho thấy sự cần thiết phải có chất xơ để giúp cho quá trình chuyển hóa và hấp thụ thức ăn được thuận lợi Những năm gần đây trên đà phát triển của công nghệ sinh học đã giúp cho người tiêu dùng có nhiều sản phẩm mới Nhìn chung, các sản phẩm này có lợi cho sức khỏe của con người Tuy nhiên việc sử dụng thuốc BVTV, PBHH để kích thích sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng nói chung và rau nói riêng gây nên lo lắng cho người tiêu dùng
Làm thế nào để người tiêu dùng trong nước yên tâm ăn rau thì lúc đó rau Việt Nam mới có thể xuất khẩu được Đây là một trong các vấn đề thách thức của ngành nông nghiệp Việt Nam nói chung và Khánh Hòa nói riêng phải giải quyết
Do vậy việc “Đánh giá thực trạng dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, phân bón
của rau trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa và giải pháp hạn chế” là rất cần thiết đưa ra bức
tranh tổng thể về dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, phân bón trong rau tạo ra cơ sở để thúc đẩy chương trình sản xuất rau an toàn
Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, phân bón trong một số loại rau tại địa bàn tỉnh Khánh Hòa
Biện pháp hạn chế dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, phân bón trong rau tại địa bàn tỉnh Khánh Hòa
Nội dung luận văn bao gồm các phần chính:
Trang 131 Khảo sát tình hình sản xuất, tiêu thụ rau trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa
2 Khảo sát tình hình kinh doanh, sử dụng thuốc BVTV, PBHH trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa
3 Khảo sát dư lượng thuốc BVTV, PBHH của một số loại rau sản xuất bao gồm: cải xanh, rau muống, rau ngót, rau mùng tơi, xà lách
4 Khảo sát dư lượng thuốc BVTV, PBHH của một số loại rau tiêu thụ bao gồm: cải xanh, cải bắp, cải thảo, rau muống, rau ngót, rau mùng tơi, xà lách
5 Đề xuất một số biện pháp hạn chế dư lượng thuốc BVTV, PBHH trong rau được trồng tại Khánh Hòa
Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Ý nghĩa khoa học của đề tài
Đưa ra bức tranh tổng thể về dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, phân bón trong rau được trồng trên cạn
Đề xuất biện pháp hạn chế dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, phân bón hóa học trong rau được trồng trên cạn
Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Giá trị sử dụng của rau được nâng cao sau khi hạn chế được dư lượng thuốc BVTV, phân bón trong rau
Giúp đỡ người dân bằng cách đưa tiến bộ khoa học vào canh tác rau
Đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm cho người tiêu dùng
Trang 14CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1 TỔNG QUAN VỀ SẢN XUẤT, TIÊU THỤ RAU
Theo số liệu từ các Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn năm 2012 diện tích trồng rau cả nước đạt khoảng 823.728 ha (tăng 103,7% so với năm 2011), năng suất đạt 170 tạ/ha (tăng 102% so với năm 2011), sản lượng đạt 14,0 triệu tấn (tăng 106% so với năm 2011); trong đó miền Bắc diện tích đạt 357,5 nghìn ha, năng suất ước đạt 160 tạ/ha, sản lượng dự kiến đạt 5,7 triệu tấn; miền Nam diện tích đạt 466,2 nghìn ha, năng suất dự kiến đạt 178 tạ/ha, sản lượng dự kiến đạt 8,3 triệu tấn
Bảng 1.1: Diện tích gieo trồng rau năm, ha, 2011-2012 [7]
Trang 1512 tổ chức chứng nhận Viet GAP đến hết tháng 9/2012 số diện tích rau được cấp Giấy chứng nhận Viet GAP và các GAP khác (Global GAP, Metro GAP) là 491,19ha
Theo báo cáo các kết quả kiểm tra giám sát tồn dư thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) trong sản xuất rau, quả, chè đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm tại một số tỉnh phía Bắc và miền Trung từ Khánh Hòa trở ra năm 2006 [7] Kết quả phân tích dư lượng thuốc BVTV trong 362 mẫu nông sản tại các địa điểm kiểm tra cho thấy:
186 mẫu kiểm tra (52%) không phát hiện dư lượng thuốc BVTV, 142 mẫu kiểm tra (39%) có dư lượng thuốc BVTV và 34 mẫu (9%) có dư lượng vượt mức dư lượng tối đa cho phép (MRL: Maximum Residues Limited - giới hạn dư lượng tối đa cho phép tính bừng mg/kg hoặc mg/l)
Tỷ lệ mẫu có dư lượng thuốc BVTV trong các nhóm nông sản: cao nhất là chè khô (52%), quả (50%), rau ăn lá và hoa (36%), thấp nhất là nhóm rau ăn quả (34%)
Tỷ lệ mẫu có dư lượng thuốc BVTV vượt MRL: cao nhất là nhóm rau ăn lá và hoa (13%), rau ăn quả (8%), nhóm quả (3%) Không có mẫu chè khô nào vượt MRL
Bán buôn cho người thu gom: một số chủ đại lý trong vùng đứng ra thu gom sản phẩm sau thu hoạch để tiêu thụ ở đại phương và các tỉnh lân cận
Ngoài ra một số tỉnh còn có hình thức tiêu thụ như:
Tiêu thụ rau thông qua ký kết hợp đồng: Các Hợp tác xã, doanh nghiệp, tổ liên kết … ký hợp đồng thu mua rau để tiêu thụ tại các siêu thị, cửa hàng
Tiêu thụ thông qua các mối tiêu thụ ổn định: bếp ăn công nghiệp, bếp ăn nhà trẻ, trường học
Trang 161.2 THUỐC BẢO VỆ VÀ PHÂN BÓN HÓA HỌC TRONG CANH TÁC RAU
1.3.1 SỰ TẤT YẾU PHẢI DÙNG THUỐC BẢO VỆ VÀ PHÂN BÓN HÓA HỌC
Vào những năm 60 của thế kỷ XX khi dân số của thế giới bắt đầu tăng cao thì nhu cầu của thực phẩm dùng cho con người nói chung và rau nói riêng tăng lên rất nhiều Năm 1939 sau khi con người phát hiện và sản xuất được thuốc trừ sâu DDT (C14H9Cl5: Dichloro-Diphenyl-Trichloroethane) thì các biện pháp được sử dụng để tiêu diệt địch hại trước đây thường dùng như phương pháp thủ công, thuốc thảo mộc, lợi dụng thiên địch ít được chú ý Bắt đầu từ đây nền nông nghiệp chủ yếu dựa vào chất hữu cơ chuyển sang nền nông nghiệp sử dụng thuốc BVTV và phân bón hóa học ngày càng phổ biến Việc sử dụng phân bón hóa học và thuốc BVTV trong nông nghiệp đã đem lại năng xuất cây trồng được tăng cao Việc thâm canh tăng năng xuất kèm theo
sử dụng phân bón, thuốc BVTV kéo dài đã phá vỡ đa dạng sinh học và cân bằng sinh thái vốn có của thiên nhiên Hậu quả của việc làm này là dịch bệnh trên cây trồng xuất hiện ngày càng nhiều và việc phòng trừ sâu bệnh ngày càng khó nên năng xuất cây trồng không cao Sản lượng hàng năm của cây lương thực, cây dùng làm thức ăn cho gia súc và cây lấy sợi bị giảm khoảng 30% khối lượng do dịch hại gây ra, ước tính hàng năm sản lượng bị mất khoảng 300 tỷ USD [38] Hệ sinh thái tự nhiên bị tác động khi con người sử dụng thuốc BVTV, PBHH để đưa vào cây trồng nói chung và rau nói riêng Thuốc BVTV không chỉ tác dụng để tiêu diệt sâu bệnh gây hại mà còn tác động
cả vi sinh vật có lợi trong môi trường tự nhiên Hậu quả của việc lạm dụng thuốc BVTV, PBHH trong sản xuất nông nghiệp đã gây mất cân bằng sinh thái như nhiều dịch hại mới xuất hiện nhưng việc phòng trừ gặp nhiều khó khăn, dịch hại cũ kháng thuốc, nguy cơ tái phát các dịch hại nguy hiểm cao Ngoài ra việc sử dụng nhiều thuốc BVTV, PBHH là một trong các nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường sống của con người
Tuy nhiên việc sử dụng thuốc BVTV, PBHH ngày nay là tất yếu Bởi vì nếu không sử dụng PBHH thì sản lượng cây trồng giảm 50% sản lượng còn không sử dụng thuốc BVTV thì sản lượng cây trồng có thể giảm đến 60 – 70% sản lượng nên không thể đáp ứng được nhu cầu về thực phẩm cho con người hiện nay [53] Nếu không sử dụng thuốc BVTV, PBHH để thỏa mãn nhu cầu con người về thực phẩm thì phải tăng diện tích trồng trọt lên gấp 3 lần so với diện tích hiện có Điều này không thể thực hiện được [35] Stephenson đã đánh giá việc sử thuốc BVTV và việc tăng sản lượng nông
Trang 17sản như sau: Trong 50 năm qua sản lượng cây trồng trên toàn thế giới tăng gấp 3 lần trong đó có sự đóng góp của việc sử dụng thuốc BVTV để phòng trừ dịch hại Việc tăng sản lượng lương thực đã góp phần làm giảm đói nghèo cho con người Hiện nay các nước đang phát triển với đà tăng dân số nhanh để đáp ứng nhu cầu lương thực sức
ép sử dụng thuốc BVTV, PBHH ngày càng lớn Do đó để hạn chế việc ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến sức khỏe con người thì phải tuyên truyền giáo dục cho người dân [40]
Ngày nay, việc sử dụng thuốc BVTV, PBHH trong nền nông nghiệp tiên tiến được đặt ra sao cho: năng xuất cây trồng không giảm và việc ô nhiễm môi trường ở mức thấp nhất Để đảm bảo nhu cầu lương thực nói chung và rau nói riêng con người không thể dựa hoàn toàn vào nền nông nghiệp sử dụng các chất hóa học mà cũng không thể quay lại nền nông nghiệp truyền thống, chỉ sử dụng các chất hữu cơ Để tồn tại lâu bền con người phải xây dựng nền nông nghiệp hài hòa giữa hai nền sản xuất nói trên [39]
Rau là loại cây trồng ngắn ngày nên thường được trồng nhiều lần trong năm trên cùng một diện tích nên để tăng năng xuất con người thường dùng PBHH Ngoài ra trên diện tích trồng rau thường xuất hiện sâu bệnh nên người dân sử dụng thuốc BVTV
để phòng trừ Theo Cục BVTV thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn [6] thì tình trạng dư lượng thuốc BVTV trong rau trong các năm gần đây rất đáng quan tâm Việc sử dụng thuốc BVTV, PBHH của người dân trong sản xuất rau thường theo thói quen và truyền miệng nhau là chính chứ chưa theo khuyến cáo của nhà sản xuất và cơ quan quản lý Nhà nước
Bên cạnh đó, khí hậu nhiệt đới nóng và ẩm của nước ta cũng rất thuận lợi cho
sự phát triển của cây trồng nhưng cũng tạo điều kiện cho sự phát sinh, phát triển của sâu bệnh, cỏ dại gây hại mùa màng Do vậy việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật để phòng trừ sâu hại, dịch bệnh bảo vệ mùa màng, giữ vững an ninh lương thực quốc gia vẫn là một biện pháp quan trọng và chủ yếu Cùng với PBHH, thuốc BVTV là yếu tố rất quan trọng để bảo đảm an ninh lương thực cho loài người
1.3.1 KHẢ NĂNG GÂY MẤT AN TOÀN THỰC PHẨM KHI DÙNG THUỐC
BẢO VỆ VÀ PHÂN BÓN HÓA HỌC
Do các loại thuốc BVTV thường là các chất hoá học có độc tính cao nên mặt trái của thuốc BVTV là rất độc hại với sức khoẻ cộng đồng và là một đối tượng có
Trang 18nguy cơ cao gây ô nhiễm môi trường sinh thái nếu không được quản lý chặt chẽ và sử dụng đúng cách Dư lượng thuốc BVTV quá giới hạn cho phép trong nông sản, thực phẩm là mối đe dọa đối với sức khoẻ con người
Vì vậy, giải quyết hài hoà giữa việc sử dụng thuốc BVTV để bảo vệ sản xuất nông nghiệp với việc bảo vệ sức khoẻ cộng đồng và môi trường là một đòi hỏi, thách thức lớn đối với cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ thực vật
Trong sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam các loại thuốc BVTV đã được sử dụng
từ nhiều năm trước đây Tuy nhiên thời kỳ đó, do tình hình phát sinh, phát triển của sâu hại, dịch bệnh diễn biến chưa phức tạp nên số lượng và chủng loại thuốc BVTV chưa nhiều Ngày đó do thiếu thông tin và do chủng loại thuốc BVTV còn nghèo nàn nên người nông dân đã sử dụng nhiều loại thuốc BVTV có độc tính cao, tồn lưu lâu trong môi trường Ngày nay người ta đã thay dần bằng các loại thuốc BVTV thế hệ mới có độc tính thấp, ít tồn lưu trong môi trường
Những năm gần đây, do thâm canh tăng vụ, tăng diện tích, do thay đổi cơ cấu giống cây trồng nên tình hình sâu bệnh diễn biến phức tạp hơn Vì vậy số lượng và chủng loại thuốc BVTV sử dụng cũng tăng lên Nếu như trước năm 1985 khối lượng thuốc BVTV dùng hàng năm khoảng 6.500 đến 9.000 tấn thành phẩm quy đổi và lượng thuốc sử dụng bình quân khoảng 0,3 kg hoạt chất/ha thì thời gian từ năm 1991 đến nay lượng thuốc sử dụng biến động từ 20.300 – 38.000 tấn Đặc biệt năm 2006 lượng thuốc BVTV nhập khẩu là 71.345 tấn Cơ cấu thuốc BVTV sử dụng cũng có biến động: thuốc trừ sâu giảm trong khi thuốc trừ cỏ, trừ bệnh gia tăng cả về số lượng lẫn chủng loại
Nguyên nhân của sự biến động này là do từ năm 1992 nền nông nghiệp Việt Nam đã áp dụng rất có kết quả chương trình Quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) Nhiều
hộ nông dân đã biết áp dụng các biện pháp kỹ thuật phòng trừ tổng hợp trong sản xuất
và chỉ phun thuốc khi cần thiết theo sự chỉ đạo của cơ quan bảo vệ thực vật Tại các địa phương có áp dụng chương trình Quản lý dịch hại tổng hợp IPM số lần phun thuốc
đã giảm đi Kết quả này chứng minh rằng chương trình Quản lý dịch hại tổng hợp IPM
là một trong các biện pháp hữu hiện nhằm tránh nguy cơ ô nhiễm môi trường do sử dụng thuốc BVTV
Trang 19Do tập quán canh tác và diện tích trồng lúa lớn nên các các tỉnh vùng đồng bằng nông dân sử dụng nhiều thuốc BVTV hơn (1,15- 2,66 kg thành phẩm/ha/năm) so với các tỉnh miền núi (0,23 kg thành phẩm/ha/năm)
Bên cạnh đó trong quá trình trồng trọt người dân thường dùng PBHH, thuốc BVTV theo thói quen Một số khác theo hướng dẫn của các đại lý bán phân bón, thuốc BVTV Do ít được tập huấn kiến thức về sản xuất rau an toàn nên việc bón phân không theo quy định Khi có sâu bệnh xảy ra trong quá trình sản xuất rau người dân thường dùng thuốc BVTV để trị bệnh kể cả các loại thuốc nằm ngoài danh mục quy định của Ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Thời gian cách ly theo quy định của nhà sản xuất trong việc sử dụng thuốc BVTV chưa được người dân thực hiện nghiêm túc Do đó dư lượng một số thành phần của thuốc BVTV và PBHH trong rau rất lớn Dư lượng này ảnh hưởng đến sức khỏe của người tiêu dùng
Tuy Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Cục Bảo vệ thực vật đã có nhiều văn bản quy định và hướng dẫn cách sử dụng thuốc BVTV an toàn, phân bón hiệu quả đặc biệt là trên rau và chè nhưng việc sử dụng thuốc BVTV, PBHH còn bộc lộ nhiều bất cập chưa tương xứng với yêu cầu của nền sản xuất nông nghiệp sạch Kết quả làm ảnh hưởng đến chất lượng nông sản tiêu dùng trong nước và xuất khẩu
Việc tăng liều lượng thuốc, tăng số lần phun thuốc, dùng thuốc BVTV không theo hướng dẫn, lạm dụng thuốc BVTV dẫn đến hậu quả đã gây ra hiện tượng kháng thuốc, làm thuốc mất hiệu lực, để lại tồn dư thuốc BVTV quá mức cho phép trong nông sản, thực phẩm Phân bón bị lạm dụng sử dụng để tăng năng suất Đó cũng là nguyên nhân của tình trạng ngộ độc thực phẩm, làm giảm sức cạnh tranh của nông sản, hàng hoá trên thị trường thế giới
Ngoài ra, việc không tuân thủ thời gian cách ly sau khi phun thuốc, tình trạng vứt bao bì thuốc BVTV bừa bãi sau sử dụng khá phổ biến Thói quen rửa bình bơm và dụng cụ pha chế thuốc BVTV không đúng nơi quy định gây ô nhiễm nguồn nước, gây ngộ độc cho động vật thuỷ sinh cũng cần được cảnh báo và khắc phục ngay
Về kinh doanh thuốc BVTV, trong phạm vi cả nước, còn nhiều điều bất cập làm ảnh hưởng không nhỏ đến việc sử dụng chúng trên đồng ruộng cũng như dư lượng của chúng trong nông sản Hơn một nửa nông dân mua thuốc dựa theo khuyến cáo của đại
lý bán vật tư nông nghiệp mà trình độ đại lý thuốc nhìn chung rất thấp, trên 90% đại lý không có trình độ trung cấp mà mới chỉ qua các lớp huấn luyện ngắn ngày Nhãn mác
Trang 20thuốc cũng ghi quá mức so với đăng ký, copy không lành mạnh và làm rối loạn thị trường, các quảng cáo nhiều khi được nói quá mức, sai với đăng ký [6]
Về mặt quản lý sử dụng thuốc BVTV ở nước ta hiện nay còn nhiều hạn chế do sản xuất manh mún, chưa có chương trình kiểm soát dư lượng thuốc BVTV, chưa có biện pháp, chế tài đủ mạnh nên nhìn chung, người nông dân vẫn sử dụng thuốc tuỳ tiện, là nguyên nhân chính gây ra ô nhiễm thuốc trong nông sản [6]
Hiện tại công tác khảo nghiệm thuốc BVTV mới chỉ chú ý đến hiệu lực sinh học, còn tác động của chúng đến môi trường cụ thể ở nước ta hầu như chưa được quan tâm đánh giá đúng mức [3], [11]
1.3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT, PHÂN BÓN HÓA HỌC TRONG RAU
1.3.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CỦA THẾ GIỚI
Ngày nay nền nông nghiệp sạch được hầu hết các nước trên thế giới quan tâm trong đó có việc sản xuất rau an toàn
Dư lượng thuốc BVTV và phân bón trong nông sản được WHO và FAO đưa ra ngưỡng tối đa
Các công trình nghiên cứu để xác định tiêu chuẩn của rau an toàn đã được các nước có nền nông nghiệp phát triển trên thế giới như: Hà Lan, Israrel, Pháp…quan tâm Trong khu vực Châu Á như: Thái Lan, Đài Loan, Singapore… đã chú ý rất nhiều
về vấn đề này Các nước này thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ từ tổ chức sản xuất, quản lý kỹ thuật đồng thời giám sát chất lượng để sản phẩm rau được làm ra đảm bảo ATVSTP cho người tiêu dùng trong nước và đủ điều kiện xuất khẩu
Hàng năm nhiều bang của Mỹ có các tài liệu hướng dẫn việc sử dụng thuốc BVTV, PBHH cho người dân tại các vùng trồng rau Tài liệu này nêu tên thuốc hoặc tên phân bón thích hợp cho loại cây trồng nào đó, liều lượng được phép sử dụng, PHI, cảnh báo an toàn cho người sử dụng và môi trường xung quanh [43] Trường Đại học Illinois của bang Illinois xuất bản sách về dịch hại trên rau mang tựa đề “Quản lý dịch hại trong sản xuất nông nghiệp” (University of Illinois, 2000) Đây là một việc làm có tác dụng rất lớn đối với người dân trong định hướng sử dụng thuốc BVTV, PBHH cho cây trồng
Trang 21Ngày nay nền nông nghiệp của thế giới thâm canh cao nên nhu cầu sử dụng thuốc BVTV, PBHH để phục vụ cho cây trồng cũng tăng lên nhiều Doanh số của thuốc BVTV vào những năm 80 của thế kỷ XX trên toàn thế giới mới vượt con số 20
tỷ USD nhưng 15 năm sau con số này đã vượt 35 tỷ USD, trong đó Châu Âu và Bắc
Mỹ chiếm gần 50%, vùng Viễn Đông chiếm khoảng 25%, 25% còn lại của các nước khác [40] Yêu cầu của thuốc BVTV đối với con người và môi trường tự nhiên ngày càng cao hơn do đó chi phí để nghiên cứu đưa một loại thuốc BVTV mới ra thị trường rất cao Chi phí này gồm phát minh, sáng chế, đăng ký…lên đến 184 triệu USD gấp 8 lần so với cách đây 20 năm Để phát triển một loại thuốc BVTV mới thời gian nghiên cứu trung bình 9,1 năm so với năm 1995 là 8,3 năm [34]
Việc lạm dụng thuốc BVTV sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe con người Mỗi năm hàng ngàn người dân tại Bắc Mỹ bị ngộ độc bởi thuốc BVTV, riêng các nước đang phát triển số người bị ngộ độc thuốc BVTV lên đến hàng triệu còn số người chết do sử dụng thuốc BVTV lên đến hàng ngàn Số người bị ngộ độc mãn tính còn lớn hơn rất nhiều [40]
Năm 2004 kết quả một nghiên cứu tại Mỹ như sau thuốc BVTV không chỉ gây
ô nhiễm môi trường tại khu vực mà nó được sử dụng mà còn gây ô nhiễm ở các vùng lân cận do sự rửa trôi [32] Dư lượng thuốc BVTV cao thuộc về ớt, cà chua, rau diếp Thống kê năm 1999 – 2000 cho thấy dư lượng thuốc BVTV của nông sản tại các vùng
có sử dụng hóa chất cao gấp 5 lần và số mẫu có dư lượng thuốc BVTV cao gấp 6,8 lần
so với nông sản tại vùng bên cạnh canh tác hữu cơ
Dư lượng của các chất ô nhiễm hữu cơ bền vững (POP) và thuốc BVTV gây hại đến tuyến nội tiết (Endocrine disrupter) cần phải đặc biệt chú ý [36] Các hợp chất này
có thể ức chế hoặc kích thích hoạt động của các hormone như insulin, estrogen, testosterine hoặc hoạt động như là một tuyến nội tiết Ngoài ra nó còn có thể kích thích
sự phát triển của cơ thể con người và sinh sản Một số thuốc BVTV có tính chất nguy hiểm này phải kể đến như DDT, Endosulfan, Atrazine, Cúc tổng hợp Hiện nay một số hoạt chất bị cấm sử dụng
Việc giám sát dư lượng thuốc BVTV và ATVSTP trong nông sản tại Mỹ được thực hiện hàng năm 9.700 MRL của 400 loại thuốc BVTV khi sử dụng trên cây trồng được cơ quan bảo vệ môi trường Mỹ (EPA) xác định Dư lượng thuốc BVTV trong nông sản vượt mức MRL thì nông sản bị tịch thu và tiêu hủy FDA là cơ quan quản lý
Trang 22về dư lượng thuốc BVTV, phân bón trong nông sản và thực phẩm đã chế biến Thuốc BVTV được kiểm tra là các loại thuốc đã từng sử dụng trước đây nhưng bền vững trong môi trường như DDT, Clorane… 397 loại thuốc BVTV và các dẫn xuất của chúng được FDA sử dụng hiện nay Sự ảnh hưởng của thuốc BVTV đối với sức khỏe con người được đánh giá bởi EPA [32] Năm 2003, kết quả kiểm tra ở Mỹ cho thấy số mẫu rau sử dụng nội địa có dư lượng thuốc BVTV vượt mức cho phép là 1,9% và số mẫu rau không phát hiện dư lượng thuốc BVTV là 37,4% Từ 5% - 13% số mẫu rau có
dư lượng thuốc BVTV vượt mức MRL là loại rau có nguy cơ cao như rau ăn lá, rau ăn thân, cà chua, dưa chuột [47]
Việc kiểm tra dư lượng thuốc BVTV, PBHH trên rau được các nước trên thế giới đặc biệt là các nước phát triển thực hiện thường xuyên Tại Mỹ mỗi năm nước này phân tích trên 10.000 mẫu nông sản Doanh số xuất khẩu rau hàng năm của các nước Đông Á và Đông Nam Á đạt hàng chục tỷ USD nên các nước này phải chú ý đến việc đảm bảo ATVSTP đặc biệt là dư lượng thuốc BVTV, PBHH trên rau phải ở trong giới hạn cho phép [48]
Bảng 1.2 Dư lượng thuốc BVTV trên rau tại một số nước [36],[45]
Trang 23Nguyên nhân làm cho dư lượng thuốc BVTV, PBHH trong rau cao theo Vong Nguyen
là do nông dân sử dụng bừa bãi thuốc BVTV, PBHH không đúng thời điểm, không đúng liều lượng, trộn nhiều loại với nhau không căn cứ trên cơ sở khoa học Tác giả này đưa ra nguyên tắc sản xuất rau sạch như sau hạn chế tối đa việc sử dụng thuốc BVTV, PBHH, trồng cây con trên giá thể sạch và sử dụng phương pháp tưới nhỏ giọt chứ không tưới ướt
Mỗi loại thuốc BVTV, PBHH khác nhau có một giới hạn PHI khác nhau Mỗi nước phải có các thử nghiệm nghiêm túc nhằm xác định liều lượng, cách sử dụng và PHI đối với các loại thuốc BVTV, PBHH mới Việc làm này nhằm mục đích để dư lượng thuốc BVTV, PBHH trong nông sản thấp hơn MRL [30] Các loại thuốc BVTV, PBHH mới sau khi đăng ký cần giám sát tác động của chúng đối với môi trường để có thể điều chỉnh cho phù hợp [44]
1.3.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TẠI VIỆT NAM
Trong 10 năm gần đây số hoạt chất được phép sử dụng trong thuốc BVTV tăng gấp 3 lần, tên thương mại của thuốc tăng 5 lần, số lượng thuốc nhập khẩu tăng gấp 1,5 lần, số doanh nghiệp kinh doanh thuốc BVTV tăng 2 lần [6]
Bảng 1.3: Số lượng thuốc nhập khẩu vào Việt Nam từ năm 1991 đến năm 1997 [6]
(tấn tp)
Tỷ lệ (%)
Giá trị (triệu USD) Thuốc
trừ sâu
Thuốc diệt cỏ
Thuốc trị bệnh
Thuốc khác
Trang 24Lượng thuốc trừ sâu có xu thế giảm dần từ 83,3% năm 1991 xuống còn 37% năm 2007 trong khi đó thuốc trừ cỏ có xu thế tăng dần từ 4,1% năm 1991 lên 29,8% năm 2007, với mức tăng, giảm lượng các nhóm thuốc chủ yếu ở nước ta trong 10 năm trở lại đây so với một số nước trong khu vực như Thái Lan, Indonesia, Malaysia thì
ở mức tương đương nhưng so với các nước phát triển thì Nhật Bản, Hàn Quốc thì còn thấp hơn nhiều
Trước năm 1998 thuốc BVTV nhập khẩu chủ yếu là thuốc trừ sâu và đa số sử dụng cho cây lúa Đến năm 2004 có khoảng 75% tổng lượng thuốc dùng cho lúa, hơn 10% dùng cho rau và khoảng 12% cho các cây trồng khác
Năm 1997 có 80 Công ty, có 111 hoạt chất với 259 tên thương phẩm Khối lượng nhập khẩu 24.580 tấn Đến năm 2007 có 158 Công ty, doanh nghiệp sản xuất cung ứng thuốc BVTV, 774 tên hoạt chất được phép sử dụng, 2242 tên thương phẩm Khối lượng nhập khẩu 75.805 tấn [6]
Về công tác huấn luyện đào tạo, gần 50% số cán bộ kỹ thuật không hiểu đúng các chỉ tiêu liên quan đến chất lượng thuốc BVTV Đây quả là điều đáng lo ngại vì đội ngũ này chính là người chỉ dẫn cho nông dân sử dụng thuốc BVTV như thế nào [1]
Nghiên cứu về sản xuất rau an toàn, nhiều tác giả đã đề cập đến một số giải pháp để quản lý sử dụng thuốc BVTV hợp lý Cần quan tâm và ưu tiên sử dụng các thuốc sinh học và các thuốc BVTV có nguồn gốc tự nhiên như thuốc vi sinh trừ sâu
(BT), chế phẩm vi sinh trừ bệnh (Agrobacterium radiobacter, Trichoderma), thuốc
thảo mộc (azadirachtin, roteone, ), thuốc kháng sinh là sản phẩm của vi sinh vật (abamectin, spinosyn, validamycin, kasugamycin, ), sử dụng các chế phẩm có cơ chế không độc như pheromone dự báo và phòng trừ sâu hại rau, Cần hướng dẫn nông dân sử dụng thuốc hoá học an toàn và hiệu quả như chỉ sử dụng thuốc khi thật cần thiết, sử dụng thuốc đúng kỹ thuật, tăng cường biện pháp xử lý cây con và hạt giống trước khi gieo, sử dụng luân phiên các loại thuốc có cơ chế tác động khác nhau, đảm bảo PHI, thực hiện biện pháp luân canh và xen canh thích hợp, [12], [15], [21], [29]
Các tác giả còn chú trọng đến khâu tổ chức sản xuất cho phù hợp để quản lý tốt việc sử dụng thuốc BVTV cũng như dư lượng thuốc trong nông sản, trong đó cần tăng cường và tạo điều kiện cho việc hình thành các đơn vị sản xuất rau an toàn với quy mô
đủ lớn như một chủ thể tiếp thu khoa học công nghệ, sử dụng thuốc hợp lý, đảm bảo chất lượng an toàn thực phẩm [16] Để giảm bớt dư lượng thuốc BVTV trong sản
Trang 25phẩm rau, nhiều tác giả đã đề cập đến biện pháp xử lý trước khi chế biến hoặc chế biến thích hợp như chế biến vật lý (rửa, loại vỏ, nấu chín), hoá học (ô xy hoá), sinh học (lên men) Biện pháp rửa xà lách đã làm giảm 8 - 64% dư lượng thuốc BVTV tuỳ theo từng loại thuốc, xào rau bina đã giảm 40 - 50% dư lượng thuốc Cypermethrin và Dialifos [30] Nghiên cứu của Bùi Sĩ Doanh năm 2000 cho thấy: đối với dưa chuột và dưa lê,
dư lượng hoạt chất Cypermethrin sau khi bỏ vỏ giảm trên 60%, sau khi rửa giảm 8 - 26% Sau khi rửa, dư lượng thuốc này trong rau ăn lá (rau cải, cải bắp) giảm từ 21 - 41%, rau ăn quả (đậu đỗ, cà chua) giảm 12 - 33%
Năm 2003, Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh Vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP) Ngày 07 tháng 9 năm 2004 Chính phủ ban hành Nghị định số 163/2004/NĐ-CP Quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh vệ sinh an toàn thực phẩm Tháng 12 năm 2007, Bộ Y tế ban hành quyết định số 46/2007/QĐ-BYT Quyết định về việc ban hành “Quy định giới hạn tối đa ô nhiễm sinh học và hóa học trong thực phẩm”, trong đó có danh mục dư lượng tối đa cho phép của một số hoạt chất thuốc BVTV trong một số loại nông sản dựa theo tài liệu của Codex [26]
1.4 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT, TIÊU THỤ RAU ĐỊA BÀN TỈNH KHÁNH HÒA
1.4.1 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT RAU
Theo định hướng chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi tỉnh Khánh Hòa giai đoạn 2010 – 2015 và tầm nhìn năm 2020 do Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Khánh Hòa lập, đến ngày 31 tháng 12 năm 2011 diện tích trồng rau của tỉnh là 4.645
ha, năng suất bình quân đạt 138 tạ/ha với sản lượng là 64.101 tấn Một số loại rau thông dụng được trồng trên địa bàn tỉnh có sản lượng tương đối lớn như sau:
1.4.1.1 Cải xanh (Brassica juncea L.)[24]
Hình 1.1 Rau cải xanh
Trang 26- Nguồn gốc sinh thái:
Cải xanh được gieo trồng ở nhiều nơi trên thế giới nhưng phổ biến và tập trung
ở các nước châu Á, đặc biệt là Trung Quốc Cải xanh có khả năng chịu đựng cao với khí hậu nóng, ẩm Trong mùa lạnh, cải xanh sinh trưởng nhanh và cho năng suất cao trên đất giầu mùn, thoát nước tốt
- Nguồn gốc sinh thái:
Cây rau muống có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới châu Á, khu vực Nam
và Đông Nam Á, vùng nhiệt đới châu Phi, Trung Á và Nam Mỹ, châu Đại Dương Rau muống là cây ngày ngắn, sinh trưởng tốt và cho năng suất cao ở nhiệt độ cao, đủ ánh sáng trong vùng nhiệt đới ẩm Rau muống ít gặp ở khu vực có độ cao trên 700 m
so với mặt biển và nếu có thì sinh trưởng kém Nhiệt độ thấp dưới 230C, rau muống sẽ sinh trưởng chậm và cho năng suất thấp Rau muống có thể trồng trên nhiều loại khác đất khác nhau (đất sét, đất cát, cát pha) nhưng cần ẩm ướt, giàu mùn hoặc được bón nhiều phân hữu cơ Độ pH thích hợp nhất cho sự sinh trưởng của rau
muống là 5,3 - 6,0
- Phòng trừ sâu bệnh:
Các sâu bệnh hại chính:
Trang 27+ Sâu ba ba (Taiwania cirumdata) thường gây hại trên các ruộng rau muống
nước, ruộng có độ ẩm cao, hoặc rau muống bè Phòng trừ phải diệt được cả sâu non
và trưởng thành, có thể sử dụng các loại thuốc Sherpa 25EC, Regent 80WG và Sumicidin
+ Sâu khoang (Spodoptera litura) phát hiện sớm, bắt sâu bằng tay, ngắt
ổ trứng và ổ sâu non mới mở, khi cần thiết mới phun thuốc, có thể sử dụng Sherpa 25EC, thuốc thảo mộc HCĐ 25 BTN, thuốc sinh học NPV
+ Sâu xanh (Helicoverpa armigera) ít khi gây hại nặng Khi cần phòng trừ
có thể sử dụng các thuốc Sherpa 25EC, Cyperan 25EC, thuốc sinh học NPV
+ Rầy xám (Tettigoniella sp.) thường hại nặng ở rau muống cạn, có thể
phòng trừ bằng các loại thuốc: Bassa 50ND, Cyperan 25EC Phun kỹ sau mỗi lần thu hoạch trên cả ruộng
1.4.1.3 Cây mùng tơi (Basella spp.)[24]
Hình 1.3 Rau mồng tơi
+ Nguồn gốc sinh thái:
Hiện nay chưa xác định được chính xác nguồn gốc cây mùng tơi nhưng có nhiều ý kiến cho rằng dạng trồng phổ biến có quê hương ở khu vực Nam Á Ngày nay cây mùng tơi được gieo trồng rộng rãi tại các nước vùng nhiệt đới châu Á, châu Phi, châu Mỹ và được coi là cây ngày ngắn ở một số khu vực khí hậu ôn đới
Cây mùng tơi sinh trưởng tốt tại những nơi đất thấp trong vùng nhiệt đới lên đến độ cao 500m so với mặt biển, thậm chí có thể mọc cả ở những khu vực cao 3000m trong vùng ôn đới Trong điều kiện ngày dài trên 13 giờ, mùng tơi sẽ không ra hoa Mùng tơi có thể sinh trưởng ở nhiều loại đất, nhưng đất cát là thích hợp nhất, độ ẩm trong đất có tác dụng kích thích mùng tơi ra hoa
+ Phòng trừ sâu bệnh:
Trang 28+ Sâu hại: Thường bị sâu khoang (Spodoperalitura) và một số sâu ăn lá khác
gây hại nhưng ít nghiêm trọng, cần sử dụng biện pháp thủ công bắt sâu và ngắt ổ trứng sâu Trong trường hợp bị sâu hại nặng mới dùng thuốc NPV hoặc Sherpa 25EC
+ Bệnh hại: Chủ yếu có bệnh đốm mắt cua (Cercospora sp), nếu chăm sóc
tốt, cây phát triển mạnh sẽ hạn chế bệnh Khi bệnh nặng mới dùng thuốc Rovra 50WP, Score 250EC, Anvil 5SC Phun theo hướng dẫn trên nhãn bao bì của từng loại thuốc, thời gian cách ly tối thiểu là 10 ngày
1.4.1.4 Cây xà lách (Lactuca sativa L.)[24 ]
Hình 1.4 Cải xà lách
+ Nguồn gốc sinh thái:
Vùng tiểu Á Trung Đông được xem là quê hương của cây xà lách Hiện nay, cây xà lách đã được sử dụng và gieo trồng rộng rãi khắp các nước trên thế giới Xà lách thích hợp trong khoảng nhiệt độ 15-20oC, với khoảng nhiệt độ này bắp hình thành và cuốn chặt, nếu nhiệt độ trên 28oC quá trình cuốn bắp sẽ không diễn ra Khả năng chịu nhiệt của xà lách xoăn tốt hơn xà lách cuốn
Bộ rễ của xà lách rất yếu, vì vậy cần trồng trên đất giầu dinh dưỡng, khả năng giữ nước tốt, đất pha cát hơi kiềm Xà lách không chịu được hạn và đất chua (pH < 6) 1.4.4.2 Phòng trừ sâu bệnh:
Xà lách ít bị sâu bệnh hại, khi cây bị bệnh thì nên nhổ bỏ, tuyệt đối không sử dụng thuốc bảo vệ thực vật với loại cây trồng này
1.5.1.5 Rau ngót ( Sauropus androgynus L.)[24]
+ Nguồn gốc sinh thái:
Trang 29Đến nay vẫn chưa biết rõ về nguồn gốc của rau ngót dù rằng nó được trồng khắp nơi từ Ấn Độ, Srilanka, miền nam Trung Quốc, các nước Đông Dương và hầu hết khắp vùng Đông Nam Á Cũng trong khu vực này, đôi khi có thể gặp rau ngót trong trạng thái hoang dại
Rau ngót là loại rau có giá trị dinh dưỡng cao với hàm lượng protein trong lá cao hơn hầu hết các loại rau xanh khác
Cây rau ngót rất dễ trồng, thích hợp trên nhiều vùng đất, nhưng đất không bị nhiều phèn và mặn là được Tốt nhất là trồng trên đất thịt nhiều bùn, thoát nước tốt
+ Phòng trừ sâu bệnh:
* Sâu hại: Gồm một số sâu hại chính sau:
+Rầy xanh(Empoasca sp.): hại nặng khi bị khô hạn Phòng trừ bằng các loại
thuốc: Sherpa 20 EC, Regent 80 WG, Cyperan 25 EC
+Nhện đỏ(Tetranychus sp.): hại nặng trong điều kiện khô hạn, sống tập trung
dưới mặt lá Cần phát hiện sớm để phòng trừ bằng các loại thuốc: Comite 73EC, Pegasus 500 SC, Ortus 5 SC
+Bọ phấn(Bemisa myricae): vừa gây hại, vừa là môi giới gây bệnh virut, cần
phòng trừ triệt để bằng các loại thuốc Sherpa 20 EC, Karate 2,5 EC
+Bọ trĩ(Thrip sp.): phòng trừ bằng Admire 50EC, Confidor 100 SL, Gaucho 70
WS, Baythroid 50 SL
* Bệnh hại: Gồm các bệnh chính sau:
+Bệnh phấn trắng(Erysiphe sp.): hại nặng trong điều kiện khô hạn, nắng ấm
Phòng trừ khi bệnh mới chớm bị, bằng các thuốc: Anvil 5SC, Score 250 EC, Bayfidan 25EC
+Bệnh xoăn lá(virut): cần diệt trừ môi giới truyền bệnh là bọ phấn, nếu nặng thì phá bỏ trồng lại
Việc sản xuất rau trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa hầu như tự phát nên việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào canh tác rất hạn chế Ngành Nông nghiệp Khánh Hòa mà cụ thể Chi cục bảo vệ thực vật và các Trạm bảo vệ thực vật ở các huyện có tổ chức các lớp tập huấn cho người dân trong việc dùng thuốc, phân bón khi canh tác nhưng không nhiều Lý do kinh phí Nhà nước cấp cho ngành hàng năm không nhiều
Trang 30Đa số người dân mua hạt giống từ các đại lý bán giống cây trồng trong vùng Một số khác mua hạt giống trôi nổi trên thị trường Số giống này thường không có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng, chưa được Nhà nước kiểm soát về chất lượng
Tỉnh Khánh Hòa có 6 huyện, một thị xã là thị xã Ninh Hòa và hai thành phố là Nha Trang, Cam Ranh Ngoại trừ Trường Sa là huyện đảo, các vùng còn lại là đồng bằng và miền núi nên việc trồng trọt các sản phẩm nông nghiệp có thực hiện Tuy nhiên việc trồng các loại cây nông nghiệp có khác nhau tùy theo địa chất từng vùng trong tỉnh
Trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa không có vùng trồng rau tập trung ở quy mô lớn nên rau lưu thông trên thị trường có nhiều nguồn khác nhau Rau sản xuất trong tỉnh
có, rau từ các tỉnh khác sang thậm chí có cả rau nhập lậu từ Trung Quốc Do đó việc kiểm soát an toàn vệ sinh thực phẩm trong đó có dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, phân bón gặp nhiều khó khăn
Các cơ sở sản xuất rau thường không có sổ sách ghi chép quá trình sản xuất Việc mua phân bón, thuốc BVTV và sử dụng chúng chưa được người trồng rau quan tâm như quy định của ngành nông nghiệp Sau khi dùng thuốc BVTV xong người dân thường bỏ luôn chai hoặc bao bì ngoài đồng ruộng Một số khác lại ném xuống dòng nước đang chảy Họ không ý thức được việc họ đang làm gây ảnh hưởng xấu đến môi trường xung quanh
Hình 1.5 Hình ảnh bao bì thuốc BVTV trên các ruộng rau sản xuất
Trang 31Hình 1.6 Hình ảnh rửa rau ở cống nước thải
Tại chân các ruộng rau có thể tìm được khá nhiều vỏ thuốc vứt ngổn ngang với nhiều cái tên như: Apphe.666, Anvado 100Wp, Nimaxon 200SL, Amico, Catex 1.8Ec… Tất cả các loại thuốc trên đều có công dụng trừ sâu với những dòng khuyến cáo in đậm trên bao bì cực độc, cực mạnh, … Thời gian cách ly trước khi thu hoạch tối thiểu 7-15 ngày Đặc biệt, các mẫu thuốc thu được đều chỉ sử dụng để trị bệnh cho lúa
Bà con cho rằng rau bị bệnh thì lại phun, rau mắc bệnh nào thì mua thuốc ấy mà phun
Cứ trộn 2-3 loại vào phun một đợt, vài ngày sau mưa gió, thuốc phai hết là thu hoạch được rồi
Bảng 1.4 Số lượng rau sản xuất trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa trong ba năm từ năm
Trang 32Một số người dân trồng rau có thể bán sản phẩm của mình trực tiếp cho người tiêu dùng Cách tiêu thụ này tuy mang lại lợi nhuận cho người dân nhiều hơn nhưng đòi hỏi nhiều người tham gia
Người tham gia việc vận chuyển rau thường là lao động thời vụ Số người này thường không được khám sức khỏe định kỳ và không được tập huấn kiến thức về an toàn vệ sinh thực phẩm theo quy định
Hình 1.7 Hình ảnh bày bán rau
Việc áp dụng chương trình ViệtGAP ban hành kèm theo Quyết định số 379/QĐ-BNN-KHCN ngày 28 tháng 01 năm 2008 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về Quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt cho rau, quả tươi an toàn khi triển khai trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa gặp nhiều khó khăn Lý do quy định của
Trang 33ViệtGAP trong sản xuất rau chặt chẽ, hầu hết cơ sở sản xuất rau trên địa bàn tỉnh không đáp ứng được yêu cầu này
Ngoài ra việc cấp giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm trong sản xuất rau theo Thông tư số 59/2012/TT-BNNPTNT ngày 09 tháng 11 năm 2012 của
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về quản lý sản xuất rau, quả và chè an toàn trên địa bàn tỉnh trong thời gian qua gặp nhiều khó khăn Một trong những khó khăn lớn nhất là cơ sở sản xuất rau chưa đáp ứng được yêu cầu theo Thông tư này
Theo số liệu của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Khánh Hòa đến ngày
30 tháng 6 năm 2013 chưa có cơ sở sản xuất rau nào trên địa bàn tỉnh được cấp giấy chứng nhận theo chương trình ViệtGAP và giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm trong sản xuất rau
Nhìn chung việc sử dụng thuốc BVTV, PBHH trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa trong sản xuất rau sạch còn nhiều bất câp
1.5 TÌNH HÌNH KINH DOANH, SỬ DỤNG THUỐC BVTV, PB
1.5.1 TÌNH HÌNH KINH DOANH THUỐC BVTV, PB
Nhiều cá nhân tham gia kinh doanh trên địa bàn tỉnh không đảm bảo các điều kiện kinh doanh như:
Người bán thuốc BVTV không có bảo hộ lao động và các phương tiện phòng chống cháy nổ Trong quy định về kinh doanh thuốc BVTV không hạn chế tuổi do vậy vẫn còn trường hợp tồn tại người già vẫn tham gia kinh doanh thuốc BVTV
Không có kho, cửa hàng bán thuốc BVTV, PB riêng biệt mà bán thuốc BVTV,
PB ngay tại nhà ở, chợ
Bán thuốc BVTV, PB liền kề với các mặt hàng lương thực, thực phẩm khác
Nhiều loại thuốc BVTV không được phép kinh doanh như: Thuốc BVTV hết hạn
sử dụng, cấm, ngoài danh mục… bằng nhiều con đường nhập lậu vào nước ta vẫn được buôn bán lén lút và công khai trên thị trường
Các loại thuốc BVTV cấm, thuốc BVTV ngoài danh mục được nhập lậu vào nước ta với giá rất rẻ, hiệu lực diệt sâu lại mạnh và nhanh so với các loại thuốc BVTV thế hệ mới nên nhu cầu tiêu thụ của nông dân vẫn còn, dẫn tới việc kinh doanh các loại thuốc trên vẫn còn xảy ra
Trang 34Bên cạnh đó cơ quan chức năng chưa có điều kiện kiểm tra chất lượng thuốc BVTV, PB bán trên thị trường của các công ty một cách thường xuyên nên khó đảm bảo thuốc đến tay người tiêu dùng có chất lượng đúng như công ty đăng ký khảo nghiệm: về hoạt chất, chất phụ gia, tạp chất…(tình trạng chung của cả nước) Điều này ảnh hưởng không những đến hiệu quả phòng trừ dịch hại mà còn cả đến dư lượng thuốc BVTV, PB trong nông sản, nhất là các chế phẩm được sản xuất từ các nước hoặc các công ty có công nghệ thấp
Một số công ty khuyến cáo quá mức hiệu quả các loại thuốc BVTV, PB mà mình kinh doanh (ghi trên nhãn hoặc hội thảo không đúng với đăng ký) dẫn đến việc kích thích nông dân dùng thuốc quá mức, gây lãng phí để lại tồn dư cho nông sản và ô nhiễm môi trường
Một số người dân trồng rau còn lạm dụng trong việc sử dụng phân bón như bón quá nhiều phân đạm, thời gian cách ly không đảm bảo nên thường để lại dư lượng phân bón trong rau
Bình bơm không đảm bảo chất lượng làm cho chất lượng phun giảm, phân bố thuốc không đồng đều, tăng số lần phun và ô nhiễm môi trường
Trang 351.6 ĐỘC TÍNH CỦA THUỐC BVTV VÀ PBHH
1.6.1 ĐỘC TÍNH CỦA THUỐC BVTV
Thuốc BVTV thuộc nhóm Lân hữu cơ: Là este của axit phosphoric khác nhau, thuộc nhóm hóa chất BVTV quan trọng nhất hiện nay, có tác dụng nhanh đối với côn trùng và thực vật có hại Chúng được sử dụng với nồng độ thấp, thời gian tồn tại ngắn
Thuốc BVTV thuộc nhóm Lân hữu cơ xâm nhập cơ thể qua đường hô hấp, tiêu hóa, da Sự hấp thụ các chất thuộc nhóm Lân hữu cơ ở niêm mạc đường tiêu hóa diễn
ra rất nhanh, chỉ sau vài phút đã xuất hiện các dấu hiệu nhiễm độc Quá trình hấp thụ qua da chậm hơn, khoảng sau hai giờ mới bắt đầu có các dấu hiệu của sự ức chế enzym cholinesterase những dấu hiệu này kéo dài hai ngày
Thuốc BVTV thuộc nhóm Lân hữu cơ là những chất độc đối với nhiều enzym
Cơ chế nhiễm độc chủ yếu là do ức chế hoạt động của enzym cholinesterase, gây tình trạng tích lũy nhiều chất axetylcholin dẫn đến những rối loạn nghiêm trọng quá trình dẫn truyền ở thần kinh và hưng phấn quá mức độ hệ thống thần kinh trung ương Do vậy chúng được gọi là những chất độc thần kinh
Thuốc BVTV thuộc nhóm Clo hữu cơ: Là dẫn xuất clo của các hydrocacbon đa nhân, các xicloparafin các tecpen và benzen Các chất này có clo trong phân tử nên tác dụng của chúng đối với cơ thể nhiều lúc giống nhau, chỉ khác nhau về mức độ độc tính
và biểu hiện lâm sàng
Đặc tính chung của thuốc BVTV thuộc nhóm Clo hữu cơ là bền vững ở môi trường bên ngoài, tác dụng mạnh với nhiều loại côn trùng gây hại, có tính tích lũy rõ rệt và có khả năng gây nhiễm độc cấp tính và mãn tính cho người Chất độc gây tổn thương nhiều cơ quan và hệ thống khác nhau nhưng chủ yếu là tác động lên hệ thần kinh, gan, thận, hệ thống tim mạch và máu Cơ chế tác dụng độc của thuốc BVTV thuộc nhóm Clo hữu cơ chưa được khẳng định Nhiều nghiên cứu cho thấy thuốc BVTV thuộc nhóm này gây rối loạn các hệ thống enzym quan trọng, do đó làm thay đổi các quá trình chuyển hóa tăng tình trạng thiếu oxy ở các tổ chức Thuốc BVTV thuộc nhóm Clo hữu cơ có thể xâm nhập vào cơ thể con người qua đường hô hấp, tiêu hóa, da Khi chất độc xâm nhập vào cơ thể dù lượng nhỏ cũng gây nhiễm độc mãn tính
và nó tích lũy trong cơ thể đặc biệt là ở tổ chức mỡ
Trang 36Thuốc BVTV thuộc nhóm Carbamat: Ngày nay các nước trên thế giới đều dùng nhiều các hợp chất Carbamat để thay thế thuốc BVTV có độc tính mạnh Hai nhóm Carbamat:
Carbamat-Insecticides: có khả năng diệt côn trùng, sâu bọ Nhóm này chứa metyl vì vậy nó có tác dụng ức chế enzym cholinesterase Dẫn xuất tiêu biểu nhất của axit carbamic là sevin, gây ức chế enzym cholinesterase giống như thuốc BVTV thuộc nhóm Lân hữu cơ
N-Carbamat-fungiside-herbiside: Nhóm này diệt nấm, diệt cỏ Do nó không chứa nhóm N-metyl nên không có tác dụng ức chế enzym cholinesterase
Thuốc BVTV thuộc nhóm Carbamat có độc tính rất thấp (liều 10.000 mg/kg thể trọng mới có thể gây nhiễm độc cấp tính ở chuột cống) Người ta đã tiến hành gây độc trên động vật nhưng các hợp chất thuộc nhóm này với liều rất cao mới có thể gây nên một số rối loạn ở thần kinh trung ương và rối loạn hô hấp
Thuốc BVTV thuộc nhóm Cúc tổng hợp: Hợp chất cúc tổng hợp được trích ly
từ cây hoa cúc pyrethrum cinerariaetrifolium vào những năm 1960
Thuốc BVTV thuộc nhóm Cúc tổng hợp có phổ tác dụng rộng, chuyên biệt với côn trùng chích hút và côn trùng miệng nhai đặc biệt là côn trùng bộ cánh vãy Nó không tồn tại lâu trong môi trường dễ phân hủy bởi ánh sáng và nhiệt độ Thuốc BVTV thuộc nhóm này sử dụng liều rất thấp so với thuốc BVTV thuộc nhóm Carbamat, Lân hữu cơ và Clo hữu cơ Chất độc của nhóm thuốc BVTV này thải ra ngoài qua đường nước tiểu đồng thời ít tan trong nước dễ tan trong mỡ và dung môi hữu cơ [25]
1.6.2 ĐỘC TÍNH CỦA PBHH
Khi con người ăn thức ăn chứa nitrate, dưới tác động của các vi khuẩn xoang miệng chứa men Nitrate-Reductazan, nhất là ở môi trường trung tính sẽ làm biến đổi nitrate thành nitrite Nitrite khi vào máu sẽ tác động với hemoglobin có chức năng vận chuyển oxy cung cấp cho tế bào, làm biến đổi nó thành methemoglobin không có chức năng sinh học đó, gây nhiễm độc máu và gây ngạt thở, dễ làm cho trẻ em và bà mẹ xanh xao Sự thiếu máu còn có thể dẫn đến tử vong nếu không được cứu chữa kịp thời Nitrite có mặt trong thức ăn, khi xuống dạ dày ở môi trường axit, phản ứng với các amin tự do có trong thức ăn, biến đổi thành các nitroamin 75% trong số các nitroamin
Trang 37là các chất gây ung thư, làm sai hình nhiễm sắc thể và sai lệch truyền đạt thông tin di truyền, ngoài ra còn làm xuất hiện các bệnh ung thư khác nhau
Đối với môi trường, nitrate (trong đất) dưới tác động của vi khuẩn đất biến thành các oxyt nito NOx Các oxyt nito NOx (NO,NO2,…) bốc cao lên tầng bình lưu, chúng trở thành một yếu tố phá hủy tầng ozone Chúng ta biết rằng tầng ozone bảo vệ ngăn chặn tia bức xạ mặt trời chiếu xuống trái đất Khi cường độ bức xạ này tăng lên thì làm tăng bệnh ung thư da cho con người [25]
1.7 PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH DƯ LƯỢNG THUỐC BVTV, PBHH
Do phân tích dư lượng thuốc BVTV trong nông sản khó, chi phí cao Việc thu phí thực hiện theo Thông tư số 223/2012/TT-BTC ngày 24 tháng 12 năm 2012 của Bộ Tài chính Quy định chế độ thu, nộp và quản lý sử dụng phí, lệ phí trong lĩnh vực bảo
vệ thực vật
Hiện nay, các hãng sản xuất thiết bị phân tích rất hiện đại áp dụng kĩ thuật số cho ra các máy móc phân tích nhanh phương pháp thực hiện đơn giản Agilent 5975 GC/MS Multi - residue 2006 nhưng giá thành thiết bị đắt chỉ có các cơ quan, viện nghiên cứu đầu ngành mới có các thiết bị hiện đại [2], [4]
Danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng, hạn chế sử dụng ở Viêt Nam ban hành hàng năm có khoảng gần 800 hoạt chất thuốc BVTV các loại, được sử dụng trên các loại nông sản nói chung Do vậy việc quan tâm đến dư lượng các chất độc hại trong nông sản không chỉ các nhà quản lý, nhà khoa học mà còn của toàn xã hội [22], [27]
Trong việc quản lý dư lượng thuốc BVTV và rau an toàn, một điều khó khăn là nhiều loại thuốc BVTV đã được sử dụng ở nhiều nước song chưa có MRL (MEL) của
Tổ chức Y tế và Tổ chức Nông lương Thế giới (FAO/WHO) Lý do là các tổ chức này còn phải đợi sử dụng an toàn một thời gian mới chấp nhận chỉ tiêu này do các nhà sản xuất đưa ra Nhiều nước đưa ra các MRL khác nhau, thậm chí lại khác nhau khá lớn, gây khó khăn cho giao dịch thương mại quốc tế Do đó đã có 5 Hội nghị cấp Bộ trưởng các nước trong khu vực ASEAN tổ chức liên tục hàng năm từ 1998 đến 2004
để hài hoà và thống nhất 455 MRL trên rau cho 36 thuốc BVTV với 50 loài rau phổ biến ở trong vùng [31]
Trang 381.7.1 PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH DƯ LƯỢNG THUỐC BVTV
Việc kiểm soát dư lượng thuốc BVTV bằng các công cụ thích hợp cũng góp phần thúc đẩy việc sử dụng thuốc hợp lý hơn Nhiều tác giả cũng đã đưa ra phương pháp xác định nhanh dư lượng thuốc BVTV trong rau, bao gồm cả phân tích nhanh hoá học và sinh học Tuy nhiên, các phương pháp này chủ yếu là định tính và chỉ cho một chất hoặc một nhóm chất nào đó
Phương pháp phân tích nhanh hoá học là một trong các phương pháp đầu tiên
được sử dụng để phân tích hoá chất Chẳng hạn, để xác định sự có mặt của thuốc BVTV thuộc nhóm Lân hữu cơ, người ta đốt thuốc này ở nhiệt độ cao, sản phẩm thu được khi hoà tan có chứa PO4 Ion này sẽ phản ứng với amoni molodat và benzidin hydroclorua tạo thành hợp chất màu xanh đặc trưng cho thuốc BVTV thuộc nhóm Lân hữu cơ [23] Phương pháp này nhìn chung đến nay không còn sử dụng vì chúng không đơn giản, lại chỉ định tính là chính với rất ít thuốc mỗi lần thử, trong khi các phương pháp khác ra đời gần đây tiện lợi hơn nhiều
Phương pháp sắc ký bản mỏng (Thin layer chromatography): Là một dạng sắc
ký lỏng với pha tĩnh là một bản mỏng phủ một lớp mỏng chất rắn có tính hấp thụ, pha động là hệ dung môi theo lực mao dẫn dâng lên từ đây bản mỏng, di chuyển qua điểm tra mẫu và dịch chuyển các chất có trong mẫu và tách chúng ra Đèn cực tím hoặc dung dịch chất nhuộm màu như AgNO3 được sử dụng để định vị các chất So sánh kết quả phân bố mẫu với chất chuẩn để xác định sự có mặt của các chất có trong mẫu bằng
hệ số Rf (tỷ số giữa khoảng cách di chuyển của mẫu chất (Dc) với khoảng cách di chuyển của dung môi (Ds): Rf = Dc/Ds; (0 < Rf < 1) Thực tiễn phương pháp dựa trên sắc ký bản mỏng đến nay không thuận tiện trong phân tích nhanh thuốc BVTV ở nước
ta, kết quả chỉ là phân tích định tính và bán định lượng với các thuốc đã định trước, cần có chất chuẩn của chúng và thao tác kỹ thuật cũng không đơn giản
Phương pháp thử sinh học nhanh (Rapid Bio-asay): Dựa trên Enzyme ChE
(Choline esteresa) được một số nước nghiên cứu và ứng dụng (gọi tắt là phương pháp Enzyme) Hiện có trên thị trường KIT AChE Test của Đài Loan, KIT GT-Test của Thái Lan, thẻ Agrtec-Screen của Mỹ, A-Test của Hàn Quốc… [28], [40], [50] Nguyên tắc chung của phương pháp này là dựa trên khả năng ức chế men ChE động vật và cũng chính là kiểu tác động gây độc của thuốc BVTV nhóm Lân hữu cơ và Carbamate Men ChE có chức năng sinh học quan trọng là thuỷ phân chất dẫn truyền thần kinh
Trang 39Acetylcholine Bình thường, men ChE thuỷ phân cơ chất Acetylcholine (hoặc Butyrylcholine) thành Choline và Acetate (hoặc Butyrate) Chất chỉ thị màu được cho vào để phản ứng chuyển màu Thiocholiniodine hoặc để tạo phản ứng với Acetylcholine còn dư Các phương pháp thử sinh học nhanh có nhược điểm chỉ ứng dụng được cho một phổ hẹp các chất ức chế men ChE, với độ chính xác không ổn định từ 1ppm tới hàng trăm ppm Các KIT này tuy giá rẻ, thời gian thao tác nhanh (30 - 60 phút) song chỉ kiểm tra được sự có mặt của thuốc BVTV thuộc nhóm Lân hữu cơ và Carbamate trong nông sản và với độ nhạy nhìn chung không cao, chỉ là định tính hoặc bán định lượng Nhìn chung trong giai đoạn hiện nay, nó ít có ý nghĩa sử dụng để kiểm tra độ an toàn của sản phẩm rau
Phương pháp thử nhanh dựa trên ELISA (gọi tắt là phương pháp ELISA): Là
phương pháp miễn dịch được đánh dấu bằng Enzyme, dựa trên phản ứng kháng nguyên (thuốc trừ sâu) và kháng thể Phù hợp với việc kiểm tra thuốc trừ dịch hại là phương pháp ELISA trực tiếp: Cộng hợp Enzyme (gồm hapten và enzyme) và chất cần phân tích sẽ cạnh tranh trực tiếp với kháng thể đặc hiệu được phủ lên các giếng nhỏ
Cơ chất và chất tạo màu được cho vào để nhận biết sự có mặt của thuốc [17], [23], [50] Ưu điểm lớn nhất của phương pháp này là thao tác nhanh (15 - 30 phút), độ nhạy cao (1 đến 50 ppb), có thể làm với khối lượng mẫu lớn, mẫu không cần làm sạch như phân tích sắc ký Nhược điểm lớn nhất của phương pháp này là mỗi KIT ELISA chỉ kiểm tra được một loại thuốc hay một nhóm thuốc rất hẹp các thuốc trừ dịch hại và chủ yếu là định tính, giá thành đắt Tuy nhiên, với sự phát triển của kỹ thuật chế tạo kháng thể tái tổ hợp hàng loạt kháng thể đặc hiệu đã được phát hiện cho phép định tính khá chính xác nhiều thuốc BVTV bằng phương pháp này Nó rất có ý nghĩa khi dùng để kiểm tra sự có mặt các loại thuốc cấm như các thuốc thuộc nhóm Clo hữu cơ hoặc các độc tố nguy hiểm như Aflatoxin
Các phương pháp phân tích chính xác: Phương pháp phân tích đơn dư lượng
nhằm kiểm tra dư lượng của một loại thuốc BVTV đã định trước trong nông sản Các phương pháp này nhìn chung đã khá ổn định và nó ngày càng được hoàn thiện hơn nhằm đạt mức độ chính xác ngày càng cao Tuy nhiên, để kiểm tra độ an toàn của sản phẩm, người ta không thể kiểm tra lần lượt từng chất, xét cả thời gian và chi phí (có đến hàng trăm hoạt chất được sử dụng thường xuyên trong nông nghiệp hiện nay)
Trang 40Do vậy, việc nghiên cứu để kiểm tra từng nhóm và nhiều nhóm thuốc BVTV - hay còn gọi là phân tích đa dư lượng (Multi-residue analysis) đã được nhiều nước tập trung nghiên cứu cùng với sự phát triển ngày càng nhanh của các công cụ phát hiện có
độ tinh vi ngày càng cao như điện di mao quản, quang phổ UV/VIS, sắc ký khí GC, sắc ký lỏng hiệu năng cao HPLC, sắc ký lỏng siêu hạn… Những năm gần đây, nhiều nước đã có các phương pháp phân tích đa dư lượng song cho riêng từng nhóm thuốc hoặc cho nhiều nhóm thuốc Clo hữu cơ, Lân hữu cơ, Cúc tổng hợp, Carbamate… bằng các máy sắc ký khí, lỏng, khối phổ…, (Mỹ, Đức, Hà Lan, Hàn Quốc, Đài Loan,…)
1.7.2 PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH DƯ LƯỢNG PBHH
Để phân tích hàm lượng nitrat, nitrit trong thực phẩm có thể sử dụng phương pháp quang phổ hấp thụ phân tử UV- VIS trên cơ sở phản ứng tạo hợp chất màu azo của nitrit với axit sunfanilic và α-naphtylamin TCVN 7991:2009, (TCVN 5247:1990 - ISO 3091:1975) [20]
1.8 QUY ĐỊNH GIỚI HẠN CHO PHÉP CỦA HÓA CHẤT VÀ VI SINH VẬT GÂY HẠI TRONG RAU
Giới hạn tối đa cho phép của hóa chất và một số vi sinh vật gây hại trong sản phẩm rau Ban hành kèm theo Quyết định số 99/2008/QĐ-BNN ngày 15 tháng 10 năm
2008 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Bảng 1.5 Giới hạn tối đa cho phép của hóa chất và một số vi sinh vật gây hại trong
sản phẩm rau
cho phép Phương pháp thử*
I Hàm lượng nitrat NO 3
(quy định cho rau) mg/kg
1 Xà lách, cải xanh, mùng tơi,