Nếu không có cơ chế điều khiển lưu lượng và nghẽn hiệu quả, độ khả dụng cao, kiểm soát mạng tinh vi, quản lý nhóm thuê bao một cách linh hoạt, thì ngày nay những nhu cầu về băng rộng và
Trang 11.2.3.2 Tiêu chuẩn cáp viễn thông TIA/EIA-568A
1.2.3.3 Giao diện vật lý ATM
2 MỤC ĐÍCH YÊU CẦU CỦA MẠNG B-ISDN TẠI HỌC VIỆN CÔNG
Trang 24.1 Yêu cầu kỹ thuật lắp đặt hệ thống
4.2 Danh mục thiết bị và phần mềm đi kèm
5 BẢO DƯỠNG HỆ THỐNG
6 KẾT LUẬN
7 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 3Cơ sở Hà đông của Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông hiện có 14
phòng quản lý và khoa chuyên môn Số lượng nhân viên và máy tính của từng
phòng, khoa được tại năm 2000 được tóm tắt trong Bảng 1.1
nhân viên
Số máy phòng làm việc
Số máy phòng thí nghiệm &
Trang 4Bảng 1.1 - Số lượng máy tính tại các phòng/khoa
Toàn bộ các máy tính nói trên đều đang hoạt động riêng lẻ và chưa được kết
nối thành mạng cục bộ (LAN) Việc sử dụng máy tính một cách riêng lẻ nói
trên khiến cho hiệu suất sử dụng tài nguyên mạng còn thấp, thiếu sự thuận
tiện trong việc trao đổi thông tin giữa các phòng do phải thực hiện một cách
thủ công
1.2 Hướng dẫn chung về thiết kế mạng ATM cho khu vực hẹp
1.2.1 Mạng chuyển mạch
Đối với mạng ATM- Campus hệ thống chuyển mạch thông thường bao gồm 2
lớp: Lớp truy nhập và lớp đường trục Việc xây dựng mạng với cấu trúc 2 lớp
này tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình mở rộng mạng cũng như khai thác,
quản lý và bảo dưỡng mạng Hơn nữa nó sẽ cung cấp khả năng kết nối ATM
xuyên suốt (End-to-end ATM Connection)
1.2.1.1 Chuyển mạch ngoại vi
Chuyển mạch ngoại vi hỗ trợ việc truy nhập vào mạng ATM tốc độ cao Truy
nhập được áp dụng cho các thiết bị ATM và non-ATM Để cung cấp cho
nhiều loại hình dịch vụ truy nhập ATM, việc đầu tư cho thiết bị
non-ATM phải được duy trì và cung cấp các dạng lưu lượng hỗn hợp trong quá
trình triển khai Các dịch vụ truy nhập khả dụng có thể là thoại, video, truyền
dữ liệu qua mạng LAN (Token-ring Ethernet và FDDI) và WAN (frame relay,
Trang 5X.25, SDLC/HDLC, ISDN) Các dịch vụ truy nhập PBX sẽ hỗ trợ cho thoại
Định tuyến và điều khiển quảng bá sẽ cho phép truyền dữ liệu qua mạng
ATM Dịch vụ chuyển mạch đa giao thức sẽ chuyển các chức năng định tuyến
ra ngoại vi sao cho mạng thực sự thực hiện chức năng chuyển mạch đầu
cuối-đầu cuối
Mạng ATM bao gồm các hệ thống ATM trong khu vực rộng hợp thành Bằng
việc mở rộng chức năng chuyển mạch đến biên của mạng thì bất cứ trạm đầu
cuối nào cũng có thể kết nối trực tiếp được với trạm đầu cuối khác
Lợi ích của chuyển mạch ngoại vi đối với người quản lý mạng là duy trì vốn
đầu tư, tăng cường hoạt động và giảm chi phí
1.2.1.2 Chuyển mạch hạt nhân
Mạng chuyển mạch đường trục có nhiệm vụ chuyển tải lưu lượng tới các
thành phần của mạng Trong mạng đường trục, chuyển mạch ATM cho phép
kết nối tốc độ cao, các dịch vụ có độ tin cậy và chất lượng cao giữa các
chuyển mạch ngoại vi, do đó có khả năng hỗ trợ các dạng lưu lượng hợp nhất
Nếu không có cơ chế điều khiển lưu lượng và nghẽn hiệu quả, độ khả dụng
cao, kiểm soát mạng tinh vi, quản lý nhóm thuê bao một cách linh hoạt, thì
ngày nay những nhu cầu về băng rộng và ngày mai các ứng dụng phương tiện
đại chúng sẽ không thể hoạt động tốt được và thậm chí không thể đáp ứng
được yêu cầu Hơn nữa các sản phẩm chỉ có thể phát triển được khi chúng
tuân theo tiêu chuẩn nhất định của ATM Forum hay ITU-T (UNI, P-NNI,
B-ICI)
1.2.1.3 Các trạm đầu cuối ATM
Các trạm ATM có thể gẵn trực tiếp với các chuyển mạch ATM diện hẹp hoặc
các khối ATM tập trung, ví dụ như IBM 8282 ATM workgroup Concentrator
Nhunữg bộ tập trung hay thiết bị truy nhập như vậy cho phép lưu lượng lên
Trang 6tới 25Mbps, được tập trung ở kết nối đơn 100Mbps Ưu điểm của việc sử
dụng bộ tập trung ATM là ở chỗ nó giảm được số lượng cổng cần thiết cho
những chuyển mạch ATM Khi sử dụng các bộ tập trung ATM, cần chú ý số
lượng VC hỗ trợ cho bộ tập trung ATM là vừa đủ để đáp ứng mọi đòi hỏi kết
nối đến các trạm Hơn nữa phải đảm bảo không có xung đột nào giữa các giao
diện UNI
Hình 1.1 - Gắn trực tiếp hay tập trung lưu lượng
Khi những trạm đầu cuối ATM được kết nối tới mạng ATM khu vực hẹp,
phải đảm bảo công suất của cổng là vừa đủ trong mạng Nếu số lượng cổng
yêu cầu vượt quá công suất của chuyển mạch ATM thì phải có thêm các
module ATM hoặc các chuyển mạch
Khi kết nối các trạm ATM với khu vực hẹp ATM phải đảm bảo số VC đủ để
hỗ trợ các chuyển mạch trong khu vực Đặc biệt khi sử dụng LAN hay IP cổ
điển, các yêu cầu về VC là rất nhiều Khi kết nối các trạm ATM tới đường
trục ATM, cần chú ý về công suất chuyển mạch tối đa của các module ATM
mà các thiết bị kết nối vào Việc vượt quá công suất tối đa sẽ dẫn đến việc
loại bỏ các tế bào ATM, làm giảm tiến trình hoạt động của mạng
Nhìn chung những trạm máy server truyền đi trong một phần lớn thời gian,
còn các client sẽ nhận trong phần lớn thời gian
Lưu ý: Điều này phải được kiểm tra lại đối với những trạm ATM trong môi
Trang 7trường cụ thể Cần chú ý tới các cầu nối ATM-LAN và các bộ tập trung ATM
vì lưu lượng cho các thiết bị này thường cân đối hơn Hoạt động của mạng
thường tối đa hoá và khả năng hoạt động thường cao nhất do sự phân bố các
máy chủ server và các client thông qua các cổng có sẵn trong phạm vi
module Mục tiêu là tối đa hoá lưu lượng có thể xử lý trong phạm vi chuyển
mạch ATM, giảm khả năng cạnh tranh đối với các tài nguyên trong phạm vi
một module ATM đơn Việc cân bằng này nếu được chuẩn bị đúng đắn có thể
làm tăng khả năng hoạt động tổng thể và giảm nhu cầu thêm các module
Việc phân bổ các trạm server và client cũng có thể xảy ra khi sử dụng các bộ
tập trung ATM Cả hai kết nối hướng đi và hướng về đều là các kết nối song
công, do đó quan trọng là thiết lập được các "điểm thu hút", đó là các trạm
server và client được gắn kết vào các bộ tập trung ATM
Việc kết nối các server và client liên kết tới cùng một module không quan
trọng khi:
• Server và client được phân phối thông qua các module
• Server "phát" và client "nhận" dữ liệu
• Nếu cả hai chiều đều không thực hiện được thì mới gắn kết các server và
client liên kết tới cùng một module (một bên phát và một bên nhận)
1.2.1.4 Các dịch vụ cung cấp
a) Dịch vụ truy nhập
Dịch vụ truy nhập cung cấp khả năng kết nối với các trạm đầu cuối ATM hay
liên kết với các mạng khác chẳng hạn như đầu cuối Frame relay kết nối với
nút NBBS giống như nó kết nối đơn với dịch vụ tải tin FR Chức năng này
đảm bảo cho việc hỗ trợ mạng hiện hành mà không cần phải sửa đổi mạng
Dịch vụ truy nhập thiết lập kết nối điểm-điểm, điểm-đa điểm, đa điểm-đa
Trang 8điểm Do có khả năng hỗ trợ một phạm vi rộng các thiết bị kết nối nên việc
chuyển đổi thành ATM có thể được xử lý theo phương án của từng doanh
nghiệp
b) Dịch vụ truyền tải
Dịch vụ truyền tải cho phép các nút trong mạng khu vực rộng hỗ trợ các dạng
lưu lượng qua các kết nối với một dải tốc độ rộng Dịch vụ này cho phép lập
chương trình truyền tải của lưu lưọng qua mạng và sắp xếp theo đặc tính trễ
của thời gian thực, thời gian không thực và loại lưu lượng Dịch vụ truyền tải
cũng giới hạn các kết nối được định dạng để truyền cả tế bào ATM và các gói
có độ dài khác nhau Đây là một lựa chọn hấp dẫn cho những trường hợp dữ
liệu được truyền qua toàn bộ hay một phần mạng, ví dụ như Frame relay
Ngoài ra, nó còn hỗ trợ cho dịch vụ ưu tiên cho các gói có độ dài thay đổi
qua các kênh E1 tốc độ thấp Điều này có nghĩa là lưu lượng được uu tiên cao
sẽ không bị cản trở, thậm chí khi cả những kết nối không đủ nhanh để hỗ trợ
tất cả yêu cầu lưu lượng ngay lập tức Trong trường hợp ATM, dịch vụ truyền
tải quản lý các kênh ảo và đường dẫn ảo được thiết lập qua mạng
Những chức năng tiên tiến này sẽ chỉ ra những đặc điểm mới và độc đáo của
việc quản lý mạng tốc độ cao có những kết nối tần suất lỗi thấp, những kết nối
này phải hỗ trợ cho những dạng lưu lượng đòi hỏi chất lượng dịch vụ được
bảo đảm Dịch vụ điều khiển mạng cấp tiến cung cấp các khả năng chỉ dẫn,
lựa chọn đường dẫn, điều khiển nghẽn, quản lý lưu lượng, multicast để phân
phối, quản lý và điều khiển tài nguyên mạng
Một số điểm nổi bật của điều khiển mạng cấp tiến bao gồm:
− Điều khiển nghẽn sử dụng ATM Forum theo công nghệ "dual leaky
bucket" Trước khi lưu lượng có thể được truyền trên mạng, các nguồn lưu
lượng phải được xác định tốc độ gói/tế bào tối đa mà thuê bao phải tuân
Trang 9thủ Tại nút lối vào mạng, lưu lượng bị khống chế Khi người ta đã lựa
chọn đường dẫn cho lưu lượng từ nguồn trên, băng tần sẽ được phân bổ
cho lưu lượng đó, khi đó gói/ tế bào sẽ được phép đi ngang qua đường dẫn
chừng nào không có nghẽn Khi phát hiện nghẽn trong mạng, các gói bị
loại bỏ để duy trì dòng lưu lượng như đã quy định Ngoài ra điều khiển lưu
lượng để giảm bớt tốc độ lưu lượng hoà mạng, do đó giảm bớt các yêu cầu
băng thông
− Quản lý băng thông đưa đến tiết kiệm chi phí (hơn 50%) cho các kết nối
diện rộng Thuật toán phân tích lưu lượng tuỳ thuộc vào chất lượng dịch
vụ yêu cầu đã được sử dụng để phân bổ chỉ những băng rộng cần thiết cho
các yêu cầu của dịch vụ Việc xác định băng rộng được diễn ra vào thời
điểm thiết lập kết nối Sự thích nghi băng rộng do đó sẽ được dùng trong
suốt quá trình kết nối để có thể điều khiển được việc sử dụng băng tần và
điều chỉnh nó trong phạm vi cho phép
− Dịch vụ multicast cho phép thiết lập duy trì toàn thể đối tượng sử dụng
trong nhóm multicast, ví dụ như trong hội nghị truyền hình Dịch vụ này
cho phép đối tượng sử dụng thiết lập các kết nối với nhóm bất kể đối
tượng sử dụng có phải thành viên của nhóm hay không Các kết nối nhóm
có thể là điểm-điểm, điểm-đa điểm, đa điểm-đa điểm
1.2.2 Các chức năng cơ bản của mạng ATM Campus
1.2.2.1 Giới thiệu
Trang 10Hình 1.2 mô tả một kiểu mạng ATM campus điển hình Giao diện đối tượng
sử dụng-mạng (UNI) được sử dụng để kết nối các trạm ATM (máy trạm, máy
chủ, cầu nối, định tuyến ) đến hệ thống chuyển mạch ATM Các trạm này
một hoặc hai địa chỉ Các trạm đầu cuối truyền thông tin qua các kết nối ảo
VCs Trong trường hợp sử dụng các kết nối cố định thì các kết nối này (PVC)
phải được thiết lập trước trong hệ thống chuyển mạch Thủ tục UNI được sử
dụng để thiết lập các kết nối chuyển mạch VCs một cách linh hoạt Bộ chuyển
đổi điều khiển lưu lượng được sử dụng để kết nối băng rộng dùng chung, điều
chỉnh dữ liệu được truyền tải trong kết nối UNI
Các chuyển mạch ATM được kết nối với nhau, sử dụng giao diện mạng-mạng
SSI trong phạm vi nhóm Toàn bộ các chuyển mạch trong nhóm sẽ trao đổi
thông tin về tình trạng mạng sử dụng bản tin LSU Bản tin LSU có thể tạo
điều kiện cho các chuyển mạch xây dựng và duy trì cơ sở dữ liệu mô hình
mạng cập nhật Cơ sở dữ liệu mô hình mạng được tái tạo tại mỗi chuyển mạch
trong nhóm Thông tin về cơ sở dữ liệu mạng sẽ tạo điều kiện cho các chuyển
mạch tối ưu hoá các tuyến cho các kết nối ảo được thiết lập trong các liên kết
ảo Các kết nối SSI song song làm tăng tính khả dụng và tiến trình hoạt động
của mạng Để định tuyến, các kết nối SSI song song được coi như là một kết
nối có dự phòng Bộ phận chuyển đổi kiểm soát lưu lượng được sử dụng cho
Trang 11những kết nối băng thông không được dự phòng
Các nhóm ATM được kết nối sử dụng giao diện NNI Tuỳ thuộc theo cấu trúc
địa chỉ sử dụng, các nhóm là một phần giống hoặc khác với mạng con Kết
nối NNI song song làm tăng tính khả dụng và chất lượng của mạng
1.2.2.2 Kết nối chuyển mạch và kết nối cố định
Các kết nối ATM có thể hoặc là cố định hoặc là chuyển mạch Kết nối cố định
được bắt đầu qua giao diện quản lý hoặc giao diện điều hành Điểm cuối và
các đặc tính của kết nối là xác định trước Kết nối cố định được hiểu như kết
nối ảo cố định hoặc PVCs
Các kết nối cố định nói chung được sử dụng khi hệ thống đầu cuối không có
các tính năng báo hiệu hoặc các nhà điều hành mạng mong muốn có mức độ
điều khiển cao hơn trong thiết lập kết nối Hiện chưa có phương pháp chuẩn
cho thiết lập các kết nối cố định
Những giá trị VPI/VCI được dành riêng cho sử dụng thông qua những chức
năng kiểm soát và quản lý ATM và không thể được sử dụng cho kết nối cố
định
Kết nối chuyển mạch bắt đầu bằng trạm đầu cuối qua các giao thức báo hiệu
giữa chúng và mạng ATM Các kết nối chuyển mạch như kết nối ảo chuyển
mạch SVCs Các kết nối chuyển mạch nói chung sử dụng tài nguyên mạng
hiệu quả hơn do các kết nối này chỉ thiết lập khi chúng thật sự cần thiết
Chúng có khả năng phản ánh được tất cả các nhu cầu cụ thể cho các ứng dụng
của thuê bao bởi vì chúng được tạo ra bởi chính những ứng dụng này Với
những lý do này, hầu hết người ta đang dành nhiều nỗ lực trong việc tiêu
chuẩn hoá các kết nối chuyển mạch
Đặc điểm của giao diện đối tượng sử dụng-mạng UNI xác định giao diện giữa
hệ thống đầu cuối ATM và mạng ATM Giao thức báo hiệu UNI bắt buộc để
Trang 12thiết lập các kết nối chuyển mạch được xác định trong UNI V3.0 và UNI
V3.1, V4.0 Khuyến nghị không nên thiết lập SVCs giữa các trạm sử dụng các
phiên bản UNI khác nhau Chỉ sử dụng khi thật sự cần thiết và khi đó phải hết
sức thận trọng
1.2.2.3 Nhóm Hub
Trong thiết kế mạng ATM diện hẹp, ta phải xét đến cần bao nhiêu hệ thống
chuyển mạch và các chuyển mạch đó được kết nối với nhau như thế nào để
đưa ra được khả năng thực hiện tốt, độ tin cậy cao, và hiệu quả nhất Để xây
dựng mạng ATM diện hẹp, cần lưu ý một số điểm sau:
- Số các thiết bị ATM được nối với mạng: Số lượng các thiết bị ATM nối
với mạng quyết định số cổng ATM và số chuyển mạch cần thiết Đảm bảo
đủ số cổng trong mạng có thể cung cấp cho toàn bộ các thiết bị ATM Khi
số lương hệ thống chuyển mạch trong mạng tăng lên, số các kết nối các
Hub và số cổng sử dụng cũng tăng theo Ngoài ra cũng yêu cầu thêm băng
thông cho các kết nối, khả năng tăng trưởng trong tương lai phải được lưu
ý
- Các yêu cầu băng tần và mạch ảo của các thiết bị gắn liền ATM: Các
chuyển mạch và cổng ATM có giới hạn nhất định về băng tần và VCCs
Trong khi xây dựng mạng ATM, đảm bảo mạng có thể quản lý toàn bộ các
kết nối và cung cấp băng tần cần thiết Cần tính đến khả năng tăng trưởng
trong tương lai
- Các yêu cầu đối với điều chỉnh lưu lượng lớn trong kết nối hub-hub và hub
-server: băng tần trong các kết nối hub-hub và hub-server phải đủ để thỏa
mãn các yêu cầu cho toàn bộ các kết nối được thiết lập Đặc biệt đối với
các kết nối băng tẫn dùng chung, khi mà nhu cầu đòi hỏi về băng tần thực
chưa được xác định rõ ràng thì cần phải tính toán băng tần cần thiết
Trang 13- Lưu ý: Mỗi mạng đòi hỏi một sự quản lý hợp lý, những công cụ tiên tiến
cần phải có để thiết kế và duy trì mạng một cách chính xác, giải quyết vấn
đề nhanh và nếu có thể ngăn chặn những vấn đề từ tác động vào dịch vụ
mạng Trong các mạng với nguồn lực chưa đủ thì nhu cầu cho việc giải
quyết vấn đề, điều chỉnh mạng cũng tăng lên Đặc biệt trong các mạng
diện hẹp, tại đó các chi phí cho băng tần là thấp hơn nhiều so với trong
môi trường WAN, những khoản đầu tư cho công suất chuyển mạch thêm
sẽ dễ dàng bù trừ những chi phí quản lý mạng thêm
- Các yêu cầu chất lượng, độ an toàn và tính khả dụng của mạng ATM diện
hẹp: Các kết nối tới các thiết bị đặc biệt chẳng hạn như tới máy chủ server,
định tuyến router, cầu nối cần được chú ý hơn Do đó trọng tâm không chỉ
là các thiết bị đi kèm mạng mà là toàn bộ các thành phần của mạng mà
đảm bảo việc truy nhập tới các thiết bị này
Hệ thống mạng cáb (quang hay đồng) vững chắc sẽ làm tăng độ tin cậy
cho các kết nối Cần đảm bảo độ dự phòng của các thiết bị mạng Để có
được tối đa các Hubs, phải chắc chắn rằng chúng được trang bị với các
thiết bị có công suất cao từ nhiều nguồn khác nhau và được bảo vệ bởi
UPS
Trong mạng ATM diện hẹp, các hub ATM được nhận dạng bằng các số của
hub Các hub ATM có thể nhóm với nhau và các nhóm có thể kết nối với
nhau bằng giao diện NNI, các mạng con ATM Điều này có nghĩa là toàn bộ
các thiết bị được kết nối tới cùng một hub ATM sẽ có cùng 13 byte đầu giống
như trong địa chỉ ATM Tương tự, toàn bộ các thiết bị được kết nối tới cùng
một nhóm hub sẽ có cùng 12 byte đầu tiên giống như trong địa chỉ của nhóm,
các thiết bị kết nối tới cùng một mạng con ATM có cùng 11 byte đầu tiên
Mô hình hình mắt lưới tối ưu hoá hoạt động và độ khả dụng khi số lượng nút
trung gian giữa 2 trạm kết nối cuối được tối thiểu hoá Nhược điểm là ở chỗ
số lượng các kết nối càng lớn sẽ làm tăng quy mô của mạng cluster, điều này
Trang 14sẽ dẫn đến thời gian khởi động lại lâu hơn do số LSU và các định tuyến đã
tính toán trước Trong tình trạng không thay đổi, sẽ không đòi hỏi số LSU
hoặc những tính toán định tuyến tằng thêm Một nhược điểm quan trọng hơn
cả đó là số lượng nhiều các kết nối và cổng ATM cần cho những kết nối trong
hub Việc bổ sung nút tới nhóm nút any- to any đòi hỏi thêm 2xn cổng và kết
nối bổ sung
Đặc biệt đối với những mạng lớn hơn, trong hầu hết trường hợp mô hình any-
to- any sẽ không khả thi Một biện pháp khác là mô hình dạng vòng Nó hạn
chế số lượng các kết nối và các cổng để kết nối các hub với nhau Bổ sung
một nút vào nhóm nút vòng n đòi hỏi phải có thêm 2 cổng và thêm 2 kết nối
nữa Mô hình dạng vòng ít phù hợp hơn trong các mạng lớn, vì vậy trong các
mạng ATM trễ chuyển tải do hub lớn hơn so với trễ trong việc truyền kết nối
Cần lưu ý bảo đảm cho VC không đi ngang qua quá hơn 5 hub
Mô hình dạng sao là thích hợp nhất cho những mạng tại đó toàn bộ ứng dụng,
LAN, và các server khác được gắn liền với một số lượng đơn nhất hoặc hạn
chế của những chuyển mạch ATM và lưu lượng chiếm ưu thế từ/đến server
Lợi thế chính của mạng dạng sao đó là ít tốn kém bởi vì nó chỉ đòi hỏi một số
lượng tối thiểu các kết nối đường trục và các cổng ATM, cho phép bạn sử
dụng những chuyển mạch nhỏ hơn cùng với một số lượng hạn chế các cổng
có tốc độ cao Hơn nữa, mô hình dạng sao dễ mở rộng Bổ sung một chuyển
mạch vào nhóm nút n đòi hỏi phải có thêm 2 cổng và một kết nối bổ sung Do
tính chất đơn giản của nó, mô hình này dễ được hình thành và duy trì Nhược
điểm là tất cả các kết nối điểm cuối gắn liền với hub “ xuôi dòng”, sẽ chuyển
đi thông qua nút “ ngược dòng”, điều này có thể dẫn đến sự quá tải của những
kết nối và bộ phận chuyển đổi ngược dòng mà không có bất kỳ một dự phòng
nào trong quá trình hỏng hóc của nút ngược dòng hoặc của những phụ kiện
Mô hình hợp lý tuỳ thuộc vào dạng lưu lượng, các yêu cầu về độ tin cậy và
ngân sách Khi máy chủ gắn kết chủ yếu vào chuyển mạch ATM và lưu lượng
Trang 15giữa các hub hướng đi là thấp nên lưu ý đến mô hình sao Nếu có nhiều kết
nối nút chéo, những đòi hỏi về khả năng thực hiện tính sẵn có là cao, hãy lựa
chọn mô hình any -to- any
Trước khi thiết kế mạng ATM diện hẹp, cần đảm bảo rằng chúng ta đã có
hiểu biết đúng đắn về mô hình & những dịch vụ định tuyến được sử dụng cho
những chuyển mạch ATM
1.2.2.4 Các loại dịch vụ lưu lượng
a) Tốc độ bit không đổi CBR
CBR được thiết kế cho các ứng dụng thời gian thực yêu cầu độ rộng băng tần
cố định không đổi Các ứng dụng CBR phải được xác định trước có một số
chuyển tải ngắn phải phát đi những lưu lượng vào mạng với tốc độ không đổi
và liên tục Ví dụ lưu lượng CBR là thoại và video
b) Tốc độ bit thay đổi VBR
Lưu lượng VBR có thể là lưu lượng theo thời gian thực (rt-VBR) và không
theo thời gian thực (nrt-VBR)
Trong trường hợp rt-VBR, nguồn vào có thể khác nhau ở tốc độ dữ liệu,
nhưng mạng phải cung cấp trễ truyền tải ngắn và các dịch vụ đó phải được
đảm bảo Ví dụ cho những dạng lưu lượng này là video nén
Trường hợp nrt-VBR ít phụ thuộc vào trễ lưu lượng và Jitter hơn là rt-VBR
Việc trễ của mạng trong một vài giây là không đáng kể Ví dụ cho trường hợp
này là MPEG-2 (tiêu chuẩn cho nén video và mã hoá)
c) Tốc độ bit không xác định UBR
UBR dành cho các ứng dụng thời gian không thực không thực sự đòi hỏi 1
chất lượng dịch vụ đáng kể Các ứng dụng sử dụng dịch vụ này sẽ bị trễ và
Trang 16thất thoát Việc truyền dữ liệu được thực hiện trên cơ sở "cố gắng nhất" Dữ
liệu có thể được truyền vào mạng bằng với tốc độ kết nối Nếu có bất kỳ một
nghẽn nào ở bất kỳ một nguồn nào thì sau đó, mạng sẽ phải bỏ dữ liệu đó đi
Ví dụ cho những ứng dụng này là LAN, IP cổ điển
d) Tốc độ bit có sẵn ABR
ABR dành cho những ứng dụng theo thời gian không thực khác nhau về tốc
độ truyền để sử dụng các tài nguyên sẵn có của mạng
Sự nhạy cảm với thời
Trong những năm 90, công nghệ đã cho ra đời khả năng truyền dữ liệu tốc độ
cao Đồng thời các tiêu chuẩn về cáp nói cung đã ra đời Người ta hiểu rằng
để được chấp nhận chung, công nghệ mới phải điều hành được cáp theo tiêu
chuẩn của ngành Đó là cáp xoắn đôi hai cáp quang Hệ thống viễn thông
LAN hiện hành sử dụng các kỹ thuật truyền dẫn khác nhau để tạo điều kiện
cho truyền dữ liệu tốc độ cao Bảng sau chỉ ra những đặc điểm chính của các
Trang 17phương pháp truyền dẫn khác nhau bao gồm hai tiêu chuẩn mới về công nghệ
100Mbps, Fast Ethernet trong IEEE 802.3 và 100VG AnyLAn trong IEEE
802.12 100 VGAnyLAN sử dụng giao thức ưu tiên mới hỗ trợ cho cả
Ethernet và khuôndạng token-ring
Hệ thống Loại cáp Tốc độ
truyền (Mbps)
Tốc
độ mã
Kiểu mã hoá
Tỷ lệ
mã hoá
100 VG
AnyLan
Bảng 1 3 - Đặc tính của các phương thức truyền dẫn
Việc xây dựng mạng ATM đòi hỏi các nghiên cứu mới đối với những người
thiết kế mạng, các chuyên gia điều hành, những người đã có nhiều kinh
nghiệm về lĩnh vực thông tin nói chung Các bộ phận của mạng trong LAN
được nhóm lại với nhau theo cùng một kiểu trong quá trình lắp đặt để tối ưu
hoá việc quản lý các bộ phận này Tuy nhiên trong phạm vi mạng chuyển
mạch ATM, cấu hình tối ưu hoá có thể đạt được, thậm chí bằng việc cân băng
lưu lượng trong phạm vi mạng thông qua các bộ phận của mạng Mặc dù việc
cân bằng có thể không quan trọng cho việc thiết kế hiện tại nhưng trong tương
lai có thể tăng lên do sự phân bố tải lưu lượng
1.2.3.1 Tổng quan
Trang 18Trong việc nghiên cứu xây dựng mạng, quan trọng nhất là những đòi hỏi về
băng tần của khách hàng và những hạn chế của hệ thống cáp hiện nay Cáp
lắp đặt phải được kiểm tra và xác định xem nó có khả năng cung cấp băng tần
có phù hợp không, hoặc có cần thiết đầu tư vào hệ thống cáp cơ sở này không
Tốc độ cáp ATM điển hình là 25Mbps, 100Mbps, 155Mbps và cao hơn Cần
lưu ý việc tốc độ dữ liệu cao này không được gây ra các vần đề điện từ cho
đối tượng sử dụng cũng như các hệ thống khác và ngược lại, hệ thống cáp
không bị ảnh hưởng của những tác động bên ngoài Với những lý do này, hệ
thống cáp phải được lắp đặt theo tiêu chuẩn của ngành, do những người
chuyên nghiệp lắp đặt, sử dụng những vật liệu đã được phê duyệt Nếu có vấn
đề nghi vấn, nên kiểm tra mẫu của hệ thống cáp hiện hành có phù hợp với
thực tiễn tiêu chuẩn ngành hay không Điều này sẽ giúp khẳng định việc triển
khai ATM theo đúng dự kiến có hiệu quả và cũng giảm những hạn chế khi sử
dụng tốc độ truyền ATM trong tương lai Kết quả kiểm tra mẫu sẽ đưa ra một
loạt các khả năng kiểm tra 100% hệ thống cáp hiện hành hoặc chỉ thay thế cáp
ở một phạm vi lớn Trong nhiều trường hợp việc đầu tư xây dựng mạng cáp là
khó khả thi thì cần xem xét các giải pháp tạm thời vẫn bảo đảm chất lượng mà
giá thành thấp
b) Phòng thiết bị và các trạm
Giai đoạn tiếp theo của thiết kế vật lý là kiểm tra địa điểm và vị trí của phòng
thiết bị ER và các trạm TC có tuân thủ các tiêu chuẩn của ngành hay không
Các TC được xem như là các trạm nối Cần thiết phải tạo điều kiện cho các
thiết bị logic hoặc chức năng trong thiết kế mức cao được sắp xếp dựa vào cơ
sở hạ tầng của toà nhà Việc sắp xếp này cùng với các tham số vật lý cụ thể
của các thiết bị ATM đang được triển khai sẽ có thể thay thế các thiết bị riêng
lẻ đã dự định
Giai đoạn tiếp theo là xem xét đến các khoảng trống có sẵn cho các thiết bị và
Trang 19các yêu cầu về môi trường cụ thể đối với các ER và các TC Có thể là có các
hạn chế (chẳng hạn như không có khoảng trống hoặc nguồn bị hạn chế, ) sẽ
dẫn đến phải có thêm TC Việc sắp đặt các thiết bị liên quan đến hệ thống cáp
sẽ dẫn đến bổ sung cáp Điều cần lưu ý là các cáp bổ sung cho UTP loại 3,4,5
phải đáp ứng những yêu cầu của TIA/EIA 568A hoặc ISO IS 11803
Những vấn đề cuối cùng trong kế hoạch thiết kế là các vấn đề an toàn và hoạt
động của nhiều loại thiết bị ATM sẽ được triển khai Điều cần thiết là sắp xếp
các loại thiết bị sao cho chúng được hoạt động hiệu quả Các hướng dẫn thiết
kế có cụ thể trong từng tài liệu về các thiết bị này Cấu trúc vật lý để hoạt
động cũng xem xét xem thiết bị nên đặt ở đâu Ví dụ như về độ mềm dẻo
trong hoạt động truy nhập các thiết bị từ xa và gần được nghiên cứu để đơn
giản hoá việc bảo trì và tính khả dụng của hệ thống
Khía cạnh an toàn được tuyên bố trong chính sách an toàn cho khách hàng
cũng được xem xét kết hợp với cáp đã được lắp đặt, loại thiết bị và các thao
tác vận hành Nên biết rằng, việc truy nhập từ xa có thể có những vấn đề về
mức độ an toàn nên không có các chuẩn mực
1.2.3.2 Tiêu chuẩn cáp viễn thông TIA/EIA-568A
a) Cáp nhánh
Việc lắp đặt hệ thống cáp trong quá trình xây dựng hoặc sửa đổi ít tốn kém và
thất bại hơn so với sau khi đã hoàn thành việc xây dựng Điều này đặc biệt
đúng cho trường hợp lắp đặt cáp nhánh Gọi là cáp nhánh do bình thường hệ
thống cáp này được lắp đặt ở dưới sàn nhà, trên trần nhà Hệ thống cáp nhánh
bao gồm một loạt các cáp riêng lẻ trong toà nhà và sau khi xây dựng xong,
chúng ít có khả năng thay đổi và dễ bị hỏng khi có bất kỳ một sự thay đổi nào
Việc đảm bảo cho hệ thống cáp nhánh được hoạt động tốt là rất quan trọng
Trang 20Khuyến nghị nên sử dụng 1 trung tâm viễn thông hỗ trợ cho hệ thống cáp
nhánh này Cáp nhánh phải hoạt động liên tục với chiều dài tối đa là 90m
Điểm chuyển tiếp cho phép duy nhất là tại giữa cáp phẳng và cáp nhánh vòng
Tiêu chuẩn cho phép 10m cáp khác có thể kết nối với nhau, các kết nối chéo
với tổng chiều dài là 100m
Những kiểu cáp cho phép:
− 4 đôi 100 Ohm UTP
− 2 đôi STP-A
− Sợi đa mode 62/125 µm
Tài liệu tiêu chuẩn dẫn chiếu những dạng cáp khác:
− Cáp đồng trục 50 Ohm vẫn được sử dụng nhưng trong tương lai là sẽ bị
loại bỏ,
− Cáp đôi xoắn 100 Ohm đang được nghiên cứu
Tiêu chuẩn đòi hỏi tối thiểu có 2 cáp nhánh hoạt động trong cùng một khu
vực Một trong số chúng phải phải là cáp 4 đôi UTP loại 3 hoặc hơn Cáp thứ
hai phải là UTP loại 5, STP hoặc sợi quang cho dữ liệu Ngày nay, UPT loại 5
phần lớn thường được lắp đặt cho điện thoại và truyền số liệu Cáp sợi trong
hầu hết các trường hợp không hiệu quả về chi phí
b) Cáp đường trục
Cáp đường trục cung cấp kết nối giữa các trạm và các kết nối chéo trong các
mạng hình sao Trong một số các nối chéo, tiêu chuẩn yêu cầu:
• Không có quá 2 lớp kết nối chéo ở cáp đường trục
• Giữa kết nối chéo nhánh và kết nối chéo chính, phải có một kết nối chéo
Trang 21• Giữa hai kết nối chéo nhánh, phải có 3 hoặc ít hơn các kết nối chéo khác
Hình 1.2 - Mạng đường trục hình sao TIA/EIA
Chiều dài cáp tối đa:
− 90 m đối với cáp đồng
− 2000 m đối với cáp sợi đa mode (kết nối chéo nhánh-chính hoặc kết nối
chéo nhánh-trung gian-nhánh)
− 3000 m đối với cáp cố định đơn mode
Khoảng cách 90 m cho STP áp dụng cho những ứng dụng có dải băng tần từ
20 đến 300MHz Khoảng cách 90 m cũng được áp dụng cho cho UTP ở băng
tần 5MHZ đến 16MHz đối với cấp 3, 10 MHz đến 20MHz đối với cấp 4 và
10 MHz-100MHz đối với cấp 5 Hệ thống có tốc độ chậm hơn có thể điều
hành qua UTP (và STP) có độ dài đáng kể Khoảng cách thực sự phụ thuộc
vào kiểu hệ thống, tốc độ dữ liệu và các yêu cầu của nhà sản xuất cho hệ
Trang 22thống điện tử và các thiết bị Chiều dài tối đa 90 m bao gồm 5 m cáp mỗi đầu
cuối của cáp đường trục để có thể kết nối với các thiết bị khác, do đó tổng độ
dài là 100 m Cáp đồng đường trục có tổng chiều dài bằng với phần cáp nhánh
tương ứng
1.2.3.3 Giao diện vật lý ATM
ATM được xác định để thực hiện chức năng truyền dữ liệu vật lý độc lập với
chức năng ứng dụng ở cấp độ cao hơn Toàn bộ giao thức giao diện vật lý
ATM bao gồm 3 điểm chung sau:
Điểm-điểm
Những kết nối giữa điểm cuối ATM và chuyển mạch ATM và giữa hai
chuyển mạch ATM tất cả là điểm-điểm Không có kiểu kết nối đa điểm hoặc
LAN
Song công
Dữ liệu có thể được đồng thời truyền theo cả hai hướng, dù sao các thủ tục
half-duplex vẫn khả thi tuy có một số hạn chế
Không đối xứng
Băng tần tối đa có ở một hướng có thể hoàn toàn khác so với băng tần ở
hướng ngược lại Ví dụ tiêu chuẩn hiện hành cho phép kết nối với bộ phận
kèm theo SDH 155Mbps theo một hướng và 622 Mbps theo hướng khác
ATM có thể điều hành một loạt các kiểu kết nối vật lý Các kiểu kết nối này
có thể khác nhau về tốc độ và cấu trúng để phù hợp với từng môi trường cụ
thẻ Bảng 1 4tổng kết các kiểu kết nối đã được các tổ chức tiêu chuẩn chấp
nhận hoặc các yêu cầu hiện nay
Trang 23g tế bào
Hệ thống
mẫ hoá
Loại cáp Môi
trường mạng
Tổ chức tiêu chuẩn
Coded
Sợi quang đa mode
FORUM