1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vấn đề sử dụng đất nông nghiệp giai đoạn 2001 2011

17 503 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 153,33 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các quá trình chính trong đất của VN bao gồm: quá trình phong hoá, trong đó phonghoá hoá học và sinh học xảy ra mạnh hơn so với phong hoá lý học; quá trình mùn hoá; quá trình bồi tụ hình thành đất đồng bằng và đất bằng ở miền núi; quá trình glây hoá; quá trình mặn hoá; quá trình phèn hoá; quá trình feralít hoá; quá trình alít; quá trình tích tụ sialít; quá trình thục hoá và thoái hoá đất. Tuỳ theo điều kiện địa hình, điều kiện môi trường và phương thức sử dụng mà quá trình này hay khác chiếm ưu thế, quyết định đến hình thành nhóm, loại đất với các tính chất đặc trưng. VN có diện tích tự nhiên khoảng 33 triệu ha, trong đó, diện tích sông suối và núi đá khoảng 1.370.100ha (chiếm khoảng 4,16% diện tích đất tự nhiên), phần đất liền khoảng 31,2 triệu ha (chiếm khoảng 94,5% diện tích tự nhiên), xếp hàng thứ 58 trong tổng số 200 nước trên thế giới, nhưng vì dân số đông (khoảng 90 triệu người) nên diện tích đất bình quân đầu người thuộc loại rất thấp, xếp thứ 159 và bằng 16 bình quân của thế giới. Tiềm năng đất có khả năng canh tác NN của cả nước khỏang từ 1011 triệu ha trong đó mới chỉ sử dụng được 6, 9 triệu ha đất NN (chiếm 21 % diện tích đất tự nhiên) gồm 5, 6 triệu ha là đất trồng cây hàng năm và 1, 3 triệu ha là đất trồng cây ăn quả và cây lâu năm khác và phân bố không đồng đều ở các vùng sinh thái khác nhau. Diện tích đất canh tác vốn đã thấp nhưng lại giảm theo thời gian do sức ép tăng dân số, đô thị hoá, công nghiệp hoá và chuyển đổi mục đích sử dụng. Nhìn chung, đất của VN đa dạng về loại, phong phú về khả năng sử dụng. Căn cứvào nguồn gốc hình thành có thể phân thành hai nhóm lớn: Nhóm đất được hình thành dobồi tụ (đất thuỷ thành) có diện tích khoảng 8 triệu ha, chiếm 28,27% tổng diện tích đất tựnhiên, trong đó đất đồng bằng 7 triệu ha.Nhóm đất được hình thành tại chỗ (đất địa thành) có khoảng 25 triệu ha. 1.1.2 Khái niệm đất NN. Đất NN là đất sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm về NN, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối và mục đích bảo vệ, phát triển rừng; bao gồm đất sản xuất NN, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối và đất NN khác 1.1.3 Đặc điểm chung của đất NN Thứ 1:Đất NN là một tư liệu sản xuất đặc biệt Đất NN mang cả tính chất của đối tượng lao động và tư liệu lao động nên là một loại tư liệu sản xuất đặc biệt của NN. Trong NN, nếu sử dụng hợp lý đất đai thì sức sản xuất của nó không ngừng được nâng lên, khác vớicác tư liệu sản xuất khác khi sử dụng, theo thời gian sẽ bị hao mòn và hỏng đi. Sức sản xuất của đất đai tăng lên gắn liền với sự phát triển của lực lượng sản xuất, sự tiến bộ khoa học kỹ thuật, với việc thực hiện phương thức thâm canh và chế độ canh tác hợp lý. Đặc điểm này có được là do đất đai có nhiều độ phì. Độ phì của đất là khả năng đất cung cấp cho thực vật nước, các chất dinh dưỡng và các yếu tố khác (nhiệt độ, không khí…) để thực vật sinh trưởng và phát triển.  Độ phì tự nhiên: Kết quả có được hình thành bởi quá trình tự nhiên do tác động bởi các yếu tố lý, hóa, sinh của đất và môi trường xung quanh.  Độ phì nhiêu nhân tạo: Kết quả có được là do tác động có ý thức của con người, bằng cách áp dụng hệ thống canh tác hợp lý.  Độ phì nhiêu tiềm tàng: Tổng hợp của độ phì tự nhiên và độ phì nhân tạo có trong đất ở một thời điểm nào đó.  Độ phì nhiêu kinh tế: Là độ phì mà con người đã khai thác sử dụng cho mục đích kinh tế thông qua sự hấp thụ và chuyển hóa của cây trồng sau một quá trình sản xuất. Biểu hiện qua số sản phẩm thu hoạch được trên một đơn vị diện tích.

Trang 1

Chương I: Khái quát về đất NN

1.1 Đất NN

1.1.1 Khái quát về lịch sử đất NN ở VN

Các quá trình chính trong đất của VN bao gồm: quá trình phong hoá, trong đó phonghoá hoá học và sinh

học xảy ra mạnh hơn so với phong hoá lý học; quá trình mùn hoá; quá trình bồi tụ hình thành đất đồng bằng và đất bằng ở miền núi; quá trình glây hoá; quá trình mặn hoá; quá trình phèn hoá; quá trình feralít hoá; quá trình alít; quá trình tích tụ sialít; quá trình thục hoá và thoái hoá đất Tuỳ theo điều kiện địa hình, điều kiện môi trường và phương thức sử dụng mà quá trình này hay khác chiếm ưu thế, quyết định đến hình thành nhóm, loại đất với các tính chất đặc trưng

VN có diện tích tự nhiên khoảng 33 triệu ha, trong đó, diện tích sông suối và núi đá khoảng 1.370.100ha (chiếm khoảng 4,16% diện tích đất tự nhiên), phần đất liền khoảng 31,2 triệu ha (chiếm khoảng 94,5% diện tích tự nhiên), xếp hàng thứ 58 trong tổng số 200 nước trên thế giới, nhưng vì dân số đông (khoảng

90 triệu người) nên diện tích đất bình quân đầu người thuộc loại rất thấp, xếp thứ 159 và bằng 1/6 bình quân của thế giới

Tiềm năng đất có khả năng canh tác NN của cả nước khỏang từ 10-11 triệu ha trong đó mới chỉ sử dụng được 6, 9 triệu ha đất NN (chiếm 21 % diện tích đất tự nhiên) gồm 5, 6 triệu ha là đất trồng cây hàng năm và 1, 3 triệu ha là đất trồng cây ăn quả và cây lâu năm khác và phân bố không đồng đều ở các vùng sinh thái khác nhau Diện tích đất canh tác vốn đã thấp nhưng lại giảm theo thời gian do sức ép tăng dân

số, đô thị hoá, công nghiệp hoá và chuyển đổi mục đích sử dụng

Nhìn chung, đất của VN đa dạng về loại, phong phú về khả năng sử dụng Căn cứvào nguồn gốc hình thành có thể phân thành hai nhóm lớn: Nhóm đất được hình thành dobồi tụ (đất thuỷ thành) có diện tích khoảng 8 triệu ha, chiếm 28,27% tổng diện tích đất tựnhiên, trong đó đất đồng bằng 7 triệu ha.Nhóm đất được hình thành tại chỗ (đất địa thành) có khoảng 25 triệu ha

1.1.2 Khái niệm đất NN.

Đất NN là đất sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm về NN, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối và mục đích bảo vệ, phát triển rừng; bao gồm đất sản xuất NN, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối và đất NN khác

1.1.3 Đặc điểm chung của đất NN

Thứ 1:Đất NN là một tư liệu sản xuất đặc biệt

Đất NN mang cả tính chất của đối tượng lao động và tư liệu lao động nên là một loại tư liệu sản xuất đặc biệt của NN Trong NN, nếu sử dụng hợp lý đất đai thì sức sản xuất của nó không ngừng được nâng lên, khác vớicác tư liệu sản xuất khác khi sử dụng, theo thời gian sẽ bị hao mòn và hỏng đi Sức sản xuất của đất đai tăng lên gắn liền với sự phát triển của lực lượng sản xuất, sự tiến bộ khoa học kỹ thuật, với việc thực hiện phương thức thâm canh và chế độ canh tác hợp lý

Đặc điểm này có được là do đất đai có nhiều độ phì Độ phì của đất là khả năng đất cung cấp cho thực vật nước, các chất dinh dưỡng và các yếu tố khác (nhiệt độ, không khí…) để thực vật sinh trưởng và phát triển

 Độ phì tự nhiên: Kết quả có được hình thành bởi quá trình tự nhiên do tác động bởi các yếu tố lý, hóa, sinh của đất và môi trường xung quanh

 Độ phì nhiêu nhân tạo: Kết quả có được là do tác động có ý thức của con người, bằng cách áp

Trang 2

 Độ phì nhiêu tiềm tàng: Tổng hợp của độ phì tự nhiên và độ phì nhân tạo có trong đất ở một thời điểm nào đó

 Độ phì nhiêu kinh tế: Là độ phì mà con người đã khai thác sử dụng cho mục đích kinh tế thông qua sự hấp thụ và chuyển hóa của cây trồng sau một quá trình sản xuất Biểu hiện qua số sản phẩm thu hoạch được trên một đơn vị diện tích

Sức sản xuất của đất đai biểu hiện tập trung ở độ phì nhiêu của đất đai Vì vậy cần phải thực hiện các biện pháp hữu hiệu để nâng cao độ phì nhiêu của đất đai, cho phép năng suất đất đai tăng lên

Thứ 2: Đất đai có vị trí cố định, tính chất cơ học, vật lý, hóa học và sinh học trong đất cũng không đồng nhất

Đất đai được phân bổ trên một diện rộng và cố định ở từng nơi nhất định Do vị trí cố định và gắn liền với các điều kiện tự nhiên và các điều kiện kinh tế nên tính chất và độ màu mỡ của đất ở mỗi vùng khác nhau là khác nhau Đây cũng là một trong những yếu tố qui định tính khu vực của sản xuất NN Vì vậy việc sử dụng đất đai vào các quá trình sản xuất của mỗi ngành kinh tế cần phải nghiên cứu kỹ lưỡng tính chất của đất cho phù hợp Trong sản xuất NN, việc sử dụng đất đai phải phù hợp với các điều kiện tự nhiên, kinh tế và chất lượng ruộng đất của từng vùng để mang lại hiệu quả kinh tế cao

Thứ 3:Đất đai có giới hạn cả về số lượng tuyệt đối lẫn tương đối.

Sự giới hạn đó là do toàn bộ diện tích bề mặt của trái đất cũng như diện tích đất đai của mỗi quốc gia, mỗi lãnh thổ bị giới hạn “ Chúng ta không thể thêm gì vào không gian vốn có của đất đai” Sự giới hạn

đó còn thể hiện ở chổ nhu cầu sử dụng đất đai của các ngành kinh tế quốc dân trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ngày càng tăng Đặc điểm này đặt ra yêu cầu quản lý đất đai phải chặt chẽ, quản lý về số lượng, chất lượng đất, cơ cấu đất đai theo mục đích sử dụng cũng như cơ cấu sử dụng đất đai theo các thành phần kinh tế, và xu hướng biến động của chúng để có kế hoạch phân bố và sử dụng đất đai có cơ

sở khoa học Đối với nước ta diện tích bình quân đầu người vào loại thấp so với các quốc gia trên thế giới Vấn đề quản lý và sử dụng đất đai tiết kiệm, hiệu quả và bền vững lại càng đặc biệt quan trọng

1.1.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng:

- Khí hậu và nguồn nước: Các nhân tố tự nhiên là tiền đề cơ bản để sử dụng đất NN, ảnh hưởng lớn đền năng suất cây trồng, vật nuôi.Khí hậu và nguồn nước có ảnh hưởng mạnh mẽ tới việc xác định cơ cấu cây trồng, thời vụ Các điều kiện thời tiết có tác dụng kìm hãm hay thúc đẩy sự phát sinh và lan tràn dịch bệnh cho vật nuôi, các sâu bệnh có hại cho cây trồng

- Môi trường xung quanh: Khu vực lân cận nơi có đất sản xuất, dân cư và nguồn lao động ảnh hưởng ở tới đất đai bởi dân cư vừa là lực lượng sản xuất trực tiếp vừa là nguồn tiêu thụ các nông sản

1.1.4 Vai trò của đất NN

Đất là giá đỡ cho toàn bộ sự sống của con người và là tư liệu sản xuất chủ yếu của ngành NN Đặc điểm đất đai ảnh hưởng lớn đến quy mô, cơ cấu và phân phối cuả ngành NN Vai trò của đất đai càng lớn hơn khi dân số ngày càng đông, nhu cầu dùng đất làm nơi cư trú, làm tư liệu sản xuất… ngày càng tăng và

NN phát triển, trở thành ngành kinh tế chủ đạo

Đất NN là một điều kiện tối cần thiết cho hoạt động kinh tế nông thôn

Đất đai là tặng vật của tự nhiên cho con người Nhờ có đất mà nông dân đã sản xuất ra lương thực, thực phẩm đáp ứng nhu cầu của họ, gia đình và của cải xã hội Trong điều kiện kinh tế NN, đất đai

đã trở thành tư liệu sản xuất quan trọng nhất và là điều kiện sống còn đối với hoạt động sản xuất

NN của người nông dân Người nông dân không thể tiến hành sản xuất NN nếu như không có đất Đất NN là điều kiện tối cần thiết để người nông dân đem kết hợp nó với sức lao động sẵn có của mình để tạo ra sản phẩm nông sản Vì vậy, đất NN là một tư liệu sản xuất không thể thiếu đối với bất kỳ người nông dân nào

Trang 3

Đất NN là một nguồn lực đầu vào đặc biệt quan trọng của sản xuất NN

Khi nói đến vai trò của đất đai, C.Mác viết: "đất là không gian, yếu tố cần thiết của tất thảy mọi sự sản xuất và mọi hoạt động của loài người" Cũng như đối với sản xuất nói chung, sản xuất NN tất yếu cần đến sự tham gia của đất đai

Do đó, để có được nông sản, cần phải kết hợp hai yếu tố sức lao động với tư liệu sản xuất, trong đó quan trọng nhất và cũng là nhân tố không thể thiếu được của tư liệu sản xuất là đất NN Đất NN không chỉ thuần tuý là tư liệu sản xuất, mà là một loại tư liệu sản xuất đặc biệt Nó là một trong những nhân tố quyết định đến giá trị của nông phẩm hàng hoá sản xuất ra

Hơn nữa, sản xuất NN có tính đặc thù cao so với các ngành sản xuất khác Đó là ngành sản xuất dựa trên mối quan hệ của các cơ thể sinh vật sống với môi trường, tuân theo các quy luật sinh học và chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi điều kiện ngoại cảnh

Như vậy, đất NN là một trong những nguồn lực đầu vào quan trọng không thể thiếu được của quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực NN

Đất NN là một nhân tố tự nhiên đặc biệt quan trọng trong việc xây dựng cơ cấu kinh tế NN.

Việc phát hiện ra đặc tính của từng loại đất có ý nghĩa quan trọng trong phân bổ đất đai giữa các ngành

NN, qua đó xây dựng cơ cấu NN hợp lý

Các loại đất khác nhau có độ phì khác nhau, thành phần trong đất cũng khác nhau cho nên, từng loại đất chỉ phù hợp với từng loại cây trồng, vật nuôi nhất định Chỉ trong điều kiện được canh tác trên loại đất phù hợp với đặc tính sinh lý, sinh hoá của cây trồng, vật nuôi thì chúng mới có thể cho thu hoạch sản phẩm năng suất cao, chất lượng tốt.Do vậy, việc phát hiện ra đặc tính của các loại đất khác nhau có một ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc lựa chọn và phân bổ đất đai trong quá trình canh tác Từ đó, mới có thể xây dựng một cơ cấu kinh tế NN hợp lý, tận dụng có hiệu quả các tiềm năng sẵn

có của đất đai nhằm phát triển một nền NN hàng hoá có sức cạnh tranh trên thị trường thế giới

1.2 Quỹ đất NNVN

Đối với một nước mà dân số chủ yếu sống bằng nghề nông thì thông tin về quy mô đất NN của từng khu vực giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong lập kế hoạch.Vùng ĐBSH và ĐBSCLcó tỷ lệ đất NN caoso với hai vùng đồng bằng này thì các vùng ven biển có ít đất NN hơn nhưng thấp nhất là các xã miền núi của vùng Đông Bắc, Tây Bắc, và Tây Nguyên Vùng này đất lâm nghiệp và đồi núi chiếm phần lớn diện tích

1.2.1 Đất dành cho trồng trọt( đất canh tác)

Bảng 1.1:Diện tích các loại cây trồng phân theo nhóm cây(nghìn ha):

Tổng số Trong đó

Cây hàng năm Cây lâu năm Tổng số Trong đó Tổng số Trong đó Năm

Cây lương thực có hạt

Cây CN hàng năm

Cây CN lâu năm Cây ăn quả

Trang 4

2008 13872,9 11156,7 8542,2 806,1 2716,2 1885,8 775,5

Sơ bộ 2010 13925,4 11110,3 8641,4 800,2 2815,1 1987,4 776,3

Diện tích đất trồng trọt tăng dần theo thời gian từ 12644,3 nghìn ha (2000) đến 13925,4 nghìn ha (2010) trong đó diện tích của đất trồng cây hàng năm và cây lâu năm đều tăng Diện tích đất trông cây hằng năm chiếm tỷ trọng lớn trong quỹ đất trồng trọt.Đất trồng cây hằng năm gấp từ 4-5 lần diện tích đất trồng cây lâu năm và sự chênh lệch diện tích giữa 2 lọai đất này giảm dần theo thời gian

1.2.1.1 Đất trồng cây hàng năm

Trong đất trồng cây hằng năm cây lương thực có hạt chiếm phần lớn diện tích gấp hơn 10 lần quỹ đất trồng cây cây công nghiệp hằng năm

Trong quỹ đất trồng cây lương thực, lúa chiếm diện tích phần lớn diện tích(hơn 60% ) và tỉ lệ này ngày càng giảm theo thời gian, diện tích đất trồng ngô chiếm vị trí thứ 2( xấp xĩ 10% ) và diện tích trồng loại cây này tăng nhiều nhất trong các loại cây hằng năm Diện tích đất trồng mía chiếm không nhiều nhưng ngày càng giảm , quỹ đất trồng lạc dao động nhưng không nhiều còn diện tích đất trồng tương tăng theo thời gian Bông chiếm diện tích thấp nhất trong quỹ đất trồng cây hằng năm nhưng diện tích trồng loại cây này giảm qua các năm

Quỹ đất trồng cây lương thực chiếm phần lớn diện tích, có ý nghĩa quan trọng trong NN.Chiếm diện tích nhiều nhất là ở vùng ĐBSCL (hơn 50%) tuy diện tích có tăng theo thời gian nhưng tỉ lệ ngày càng giảm Qũy đất trồng cây lương thực ởĐBSH; BTB và DHMT chiếm vị trí thứ 2 ( chiếm hơn 10% ở mỗi vùng) trong đó diện tích ở vùng ĐBSH giảm còn ở vùng BTB và DHMT tăng theo thời gian Qũy đất trồng cây lương thực ở TDMNBB chiếm vị trí thứ 3 và ngày càng tăng Qũy đất trồng cây lương thực ở TN và ĐNB nhỏ so với cả nước nhưng ở TN ngày càng tăng còn ởĐNB ngày càng giảm

1.2.1.2 Đất trồng cây lâu năm

Trong diện tích đất trồng cây lâu năm cây công nghiệp lâu năm chiếm diện tích lớn hơn và gấp hơn 2 lần diện tích trồng cây ăn quả

Sự phân bố đất cây lâu năm không liên quan mật thiết với mật độ dân số Hơn nữa, các vùng khác nhau trồng các loại cây lâu năm khác nhau Vùng ĐNB chủ yếu trồng cao su, cà phê, cây ăn quả, trong khi đó

TN, đặc biệt là Đak Lắk và Gia Lai lại chuyên về trồng cà phê, cao su Một số huyện vùng ĐB có tỷ lệ đất cây lâu năm trong tổng diện tích đất NN khá cao, trên 70% Tỷ lệ đất cây lâu năm ở vùng ĐBSH, ĐBSCL và vùng ven biển, nơi điều kiện thổ nhưỡng thích hợp hơn đối với trồng cây hàng năm thấp hơn nhiều Sự phân bố cây trồng ở VN bao gồm tỷ trọng đất cây lâu năm so với cây hàng năm thay đổi liên tục do ảnh hưởng của giá cả thị trường nông sản Khi nhu cầu thị trường thay đổi, một số hộ và địa phương, đặc biệt ở vùng ĐNB có xu hướng chuyển đổi từ cây hàng năm sang trồng cây lâu năm và ngược lại

1.2.2 Đất dành cho lâm nghiệp:

VN có tổng diện tích tự nhiên 33,12 triệu ha, trong đó diện tích có rừng là 12,61 triệu ha và 6,16 triệu ha đất trồng đồi núi trọc là đồi tượng của sản xuất lâm NN Như vậy, ngành Lâm nghiệp đã và đang thực hiện hoạt động quản lý và sản xuất trên diện tích đất lớn nhất trong các ngành kinhtế quốc dân Diện tích đất lâm nghiệp phân bố chủ yếu ở trên các vùng đồi núi của cả nước, đây cũng là nơi sinh sống của 25 triệu người với nhiều dân tộc ítngười, có trình độ dân trí thấp, phương thức canh tác lạc hậu, kinh tế chậmphát triển và đời sống còn nhiều khó khăn

Đất lâm nghiệp nhìn chung tăng dần qua các năm, từ 11575,03 nghìn ha vào năm 2000 tănglên 16243,67 nghìn ha vào năm 2010, chủ yếu do chuyển từ đất đồi chưa sử dụng sang trồng rừng.Trong đó, diện tích

Trang 5

đất rừng sản xuất và đất rừng phòng hộ chiếm phần lớn đất lâm nghiệp Đất rừng sản xuất tăng từ 39,1% năm 2006 lên chiếm khoảng 47,4% năm 2010 Ngược lại, đất rừng sản xuất giảm từ 46,7% năm 2006 xuống còn 40,4% năm 2010 Chỉ chiếm một phần nhỏ 12,2% trong cơ cấu đất lâm nghiệp là đất rừng phòng hộ Cơ cấu cây lâm nghiệp ở rừng trồng rất đa dạng, chủ yếu là trồng nhiều keo, bạch đàn, ngoài

ra còn có thông, sưa, lim, mỡ, xoan, bồ đề, quế… Trong quá trình canh tác, một phần đất lâm nghiệp có rừng được chuyển sang sử dụng vào những mục đích khác, cụ thể như sau :

- Chuyển đất lâm nghiệp có rừng sang sử dụng vào các mục đích khác: 105.600 ha

- Chuyển đất lâm nghiệp có rừng sang đất sản xuất NN: 46.600 ha

- Chuyển đất lâm nghiệp có rừng sang đất phi NN không phải đất ở: 56.100 ha

- Chuyển đất lâm nghiệp có rừng sang đất ở: 2.900 ha

1.2.3 Đất dùng cho chăn nuôi.

1.2.3.1 Nuôi trồng thủy hải sản

Tổng diện tích nuôi trồng thủy sản cả nước năm 2011 ước đạt 1,05 triệu hecta, giảm 0,2% so với năm trước; trong đó diện tích nuôi cá 367.700 ha, tăng 2,2%; diện tích nuôi tôm 626.800 ha, giảm 2% Mặc

dù diện tích nuôi giảm chút ít nhưng sản lượng tăng 7,4% so với năm 2010, ước đạt 2,93 triệu tấn, trong

đó cá đạt 2,26 triệu tấn, tăng 7,5%; tôm 482.200 tấn, tăng 7,2% Tổng diện tích nuôi cá tra theo các hình thức trong cả nước ước đạt 12.900 ha, giảm 2,2% so với năm trước, tuy nhiên sản lượng ước đạt 1,12 triệu tấn, tăng 9,3% so với năm trước

1.2.3.2.Diện tích đồng cỏ chăn nuôi

Chăn nuôi gia súc ăn cỏ trâu, bò, dê, cừu, thỏ là nghề truyền thống lâu đời của nông dân nước ta Tuy nhiên, chăn nuôi gia súc của nước ta vẫn còn phát triển chậm Chăn nuôi chủ yếu tồn tại trong nông hộ nhỏ lẻ, phân tán; thức ăn chủ yếu là tận dụng cỏ tự nhiên và phụ phẩm trong NN, sử dụng thức ăn công nghiệp còn rất ít Năng suất, sản lượng thịt, sữa và hiệu quả chăn nuôi chưa cao Chăn nuôi bò sữa còn nhỏ bé và bấp bênh Chăn nuôi gia súc ăn cỏ trâu, bò, dê, cừu, thỏ chưa tương xứng với tiềm năng sẵn

Đồng cỏ của ta hiện nay còn rất hạn chế, chủ yếu là trồng xen, tận dụng chưa thành phổ biến đại trà

Trang 6

Chương 2: Tình hình sử dụng đất giai đoạn 2000- 2010

2.1.Tìm hiểu thực trạng của việc sử dụng đất NN

2.1.1.Trước năm 2003:

Sau 3 năm qua, thực hiện Nghị quyết 09/2000/NQ-CP của Chính phủ về một số chủ trương, chính

sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tiêu thụ sản phẩm NN, cơ cấu sản xuất nông, lâm nghiệp nước ta có nhiều chuyển biến tích cực Mặc dù diện tích cây lương thực giảm, nhưng năng suất, sản lượng, chất lượng tăng khá, bảo đảm an ninh lương thực, tăng khối lượng, giá trị xuất khẩu So với năm 2000, cả nước giảm 217 nghìn ha lúa, nhưng nhờ năng suất bình quân tăng 3,9 tạ/ha, sản lượng lúa năm 2003 đạt 34,52 triệu tấn, tăng hai triệu tấn, vượt mục tiêu Ðại hội IX của Ðảng đề ra (34 triệu tấn) trước hai năm Ðồng thời với giảm diện tích lúa bấp bênh và các cây trồng hiệu quả thấp, thì diện tích, sản lượng một số cây thay thế nhập khẩu, dễ tiêu thụ tăng nhanh như ngô đạt 910 nghìn ha (tăng 180 nghìn ha), sản lượng 2,93 triệu tấn (tăng gần một triệu tấn); đậu tương 166 nghìn ha (tăng 42 nghìn ha), sản lượng 225 nghìn tấn (tăng 60%); bông tăng 10 nghìn ha, sản lượng tăng 80% Diện tích rau màu thực phẩm đạt 545 nghìn

ha (tăng 92 nghìn ha), sản lượng đạt 7,6 triệu tấn (tăng 1,6 triệu tấn)

Nhờ khai thác tốt thị trường thế giới và đầu tư thâm canh, các cây công nghiệp cũng đạt mức tăng khá

cả về diện tích, năng suất, sản lượng và kim ngạch xuất khẩu Tỷ trọng ngành chăn nuôi vươn lên chiếm 20% giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp Quá trình chuyển dịch cơ cấu sản xuất cũng góp phần làm sản xuất NN gắn bó hơn với công nghiệp chế biến, đưa tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 5,5 tỷ USD, chiếm 27% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước; đưa giá trị sản xuất/ha canh tác từ 15,3 triệu đồng (năm 2000) lên gần 20 triệu đồng/năm(năm 2003), hộ đạt thu nhập 20 triệu đồng/năm; đặc biệt trong đó gần 500 nghìn ha (chiếm 5,3% diện tích đất NN) đạt từ 50 triệu đồng/ha/năm trở lên

Với tốc độ tăng dân số bình quân từ năm 1990 đến năm 2004 là 1,6%/năm làm đất canh tác ở các vùng nông thôn VN ngày càng bị thu hẹp lại Theo Niên giám thống kê năm 2003, tổng diện tích đất đai

VN năm 2002 là 32929,7 nghìn ha, nhưng đất đã giao và cho thuê là 24519,9 nghìn ha, chiếm tỷ trọng 74,46% Trong đó, đất NN đã giao và cho thuê (nghĩa là được sử dụng) là 9406,8 nghìn ha, chiếm

28,57% diện tích đất cả nước Trong khi đó năm 2002 có 25,5725 triệu lao động làm việc trong ngành

NN Như vậy, bình quân mỗi một nông dân có 0,3678 ha đất canh tác, thuộc loại thấp nhất thế giới Nếu chia bình quân đầu người cho mỗi đơn vị đất đai được sử dụng để sinh sống thì khoảng 0,3 ha/người Trong đó, đất bằng chưa sử dụng là 535,7 nghìn ha, chiếm 1,627% diện tích đất cả nước; đặc biệt đất đồi núi chưa sử dụng 7136,5 nghìn ha, chiếm 21,67% diện tích cả nước; đất có mặt nước chưa sử dụng 150,3 nghìn ha, chiếm 0,46%; sông suối 748,9 nghìn ha, chiếm 2,27%; núi đá không có rừng cây 618,3 nghìn

ha, chiếm 1,88%; đất chưa sử dụng khác 215 nghìn ha, chiếm 0,65%

Các khu vực trong cả nước đất cũng phân bổ rất manh mún: ở đồng bằng sông Hồng bình quân đất NN/người là 0,0585ha, thấp nhất cả nước, kế đến là Bắc Trung Bộ 0,71 ha, Duyên hải Nam Trung Bộ: 0,0796 ha Cao nhất là Tây Nguyên 0,282 ha, đồng bằng sông Cửu Long 0,175 ha

Bảng 2.1.1.2: Hiện trạng sử dụng đất bình quân mỗi người theo địa phương

Phân theo vùng Dân số năm

2003 (nghìn người)

Tổng diện tích đất đai(ng hìn ha)

Đất nôngnghiệp (nghìn ha)

Bình quân đất /người

Bình quân đất NN/ng ười

Trang 7

Đồng bằng sông Hồng 17648,7 1480,6 855,2 0,0839 0,0485

Duyên hải Nam Trung

Bộ

Đồng bằng sông Cửu

Nguồn: Tính toán từ Niêm giám thống kê VN năm 2003

2.1.2.Sau năm 2003

- Diện tích

Bảng 2.1 :Diện tích đất NN đã có biến động lớn từ năm 2001 đến năm 2009,

01/1/2002 01/1/2009 Tăng/giảm so với tháng 1/2002

Số lượng (1000 ha) Tỷ lệ (%) Tổng diện tích đất NN 21224,85 25127,3 3902,45 18,3%

1 Đất sản sản xuất NN 8879,06 9598,8 719,74 8,1%

1.1 Đất trồng cây hàng

năm

1.2 T.đó: đất lúa

6064,34 4337,75

6282,5 4089,1

218,16 -248,65

3,6%

-5,7%

1.2 Đất trồng cây lâu năm 2814,72 3316,3 501,58 17,8%

2 Đất lâm nghiệp 11822,99 14757,8 2934,81 24,8%

3 Đất nuôi trồng thủy sản 503,47 738,4 234,93 46,7%

Nguồn: Bộ Tài Nguyên và Môi Trường

Tuy có tăng so với năm 2002 nhưng nói chung diện tích đất NN ở nước ta đang bị thu hẹp dần qua từng năm

Theo thống kê đến 1/1/2009, cả nước có quỹ đất là 33105,1 nghìn ha, trong đó đất NN là 25127,3 nghìn

ha, nhưng đất dùng để sản xuất NN chỉ có 9598,8 nghìn ha Đất chưa sử dụng 4508,6 nghìn ha, đất bằng chưa sử dụng 305,8 nghìn ha, đất đồi núi chưa sử dụng 3831,3 nghìn ha, núi đá không có rừng cây 371,5 nghìn ha Như vậy quỹ đất có thể khai thác thêm là rất hạn hẹp, dùng vào NN là nhỏ do đó trong NN cần quản lý đất đai một cách chặt chẽ và phát triển theo hướng nâng cao năng suất trên một đơn vị diện tích Diện tích đất NN năm 2009 tăng 18,3% ( 3902,45 nghìn ha) so với năm 2002, trong đó từng loại đất có mức biến động khác nhau: Mặc dù một số diện tích sản xuất NN được chuyển sang đất ở, đất sản xuất kinh doanh, đất xây dựng các công trình công cộng và đất nuôi trồng thủy sản nhưng tổng diện tích đất sản xuất NN năm 2009 là 9,6 triệu ha, tăng 719,74 nghìn ha (+3,6%), so với năm 2001 chủ yếu do

chuyển đổi đất chưa sử dụng

Trang 8

Đất cây hàng năm tăng 218,16 nghìn ha chủ yếu do đất khai hoang trồng sắn, ngô…Ngược với xu hướng tăng của các loại đất khác, đất trồng lúa giảm 248,65nghìn ha, (-5,7%), bình quân giảm 27,6 nghìn ha/ năm, chủ yếu do chuyển đổi sang chuyên dùng và đất nuôi trồng thủy sản

Bảng 2.2 :Một số chỉ tiêu theo World Bank:

Một số chỉ tiêu 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010

Diện tích đất ( km

vuông) 310070 310070 310070 310070 310070 310070 310070 310070

Đất NN (% diện tích

đất) 30,757571 31,58964 32,42494 32,50234 32,45074 33,0248 33,128

Diện tích đất

trồng (ha) 6581000 6469000 6358000 6348000 6309000 6282000 6280000

Đất canh

tác (ha mỗi người) 0,0817837 0,079435 0,077166 0,076195 0,07491 0,0738 0,073002

Đất canh tác (% diện

tích đất) 21,22424 20,86303 20,50505 20,4728 20,34702 20,25994 20,25349

Đất theo sản lượng

ngũ cốc (ha) 8366800 8437800 8383400 8359495 8305085 8541830 8528527

Đất canh tác thường

trực (% diện tích đất) 7,462831 8,65611 9,849389 9,959042 10,03322 10,69436 10,80401

Diện tích rừng (km

Diện tích rừng (%

Diện tích đất (km

vuông) 310070 310070 310070 310070 310070 310070 310070 310070

Tính đến năm 2010 giảm hơn 170.000 ha, diện tích đất canh tác VN vào loại thấp nhất thế giới chỉ

khoảng 0,12%.:Qua kiểm kê cho thấy cả nước có tổng diện tích tự nhiên 33.093.857 ha bao gồm đất NN

26.100.106 ha chiếm 79%, đất phi NN 3.670.186 ha chiếm 11% và đất chưa sử dụng 3.323.512 ha chiếm 10% diện tích tự nhiên, trong đó có 24.989.102 ha chiếm 75,51% là đã có chủ sử dụng So với năm 2005, diện tích đất sản xuất NN tăng 1.277.600 ha, trong đó đất trồng lúa có 4.127.721 ha, vượt so với quy hoạch 10,33% nhưng giảm 37.546 ha, bình quân hàng năm giảm 7.000 ha; Đất lâm nghiệp tăng 571.616 ha Diện tích đất lâm nghiệp tuy có tăng nhưng rừng tự nhiên vẫn tiếp tục bị tàn phá, Cơ cấu 3 loại rừng của cả nước

có sự thay đổi lớn là đất rừng sản xuất tăng 1.954.606 ha, rừng phòng hộ giảm 1.484.350 ha, rừng đặc dụng tăng 71.361 ha; Đất nuôi trồng thuỷ sản giảm 9.843ha; Đất làm muối tăng 3.487 ha; Đất NN khác tăng 10.015 ha; Đất ở nông thôn tăng 54.054 ha, đạt bình quân 91m2 /người

Bảng 2.3: Năng suất lúa,hệ số gieo trồng của lúa.diện tích gieo trồng:

năm

tổng diện tích đất canh tác(nghìn ha)

diện tích gieo trồng(ngìn ha)

hệ số gieo trồng

năng suất lúa

Trang 9

Nhìn bảng cho ta thấy hệ số gieo trồng qua các năm không thay đổi cho thấy việc tân dụng đất không hiểu quả

- Năng suất:Thực tế năng suất ruộng đất của nước ta không ngừng nâng cao trong những năm qua, đây

chính là thành quả của sự kết hợp khoa học kĩ thuật và hiểu biết đặc tính của đất với từng loại cây trồng, với tác động tích cực của người nông dân tới độ phì nhiêu của đất Sản xuất NN còn manh mún trên 70 triệu thửa đất

Bảng :Giá trị sản suất NN theo giá so sánh 1994 phân theo vùng (tỷ đồng)

bộ2010

CẢ NƯỚC 137054,9 142711,0 147764,7 158108,3 162593,1 169503,2

ĐBSH 25099,2 26008,3 26813,1 28296,3 28446,9 29865,6

TD&MNPB 13253,2 13768,2 15490,1 16143,5 16580,3 17379,1

BTB&DHMT 20967,4 22417,0 22710,4 23837,8 24517,0 25030,0

TN 16139,8 17978,7 18622,2 20949,7 21991,3 23264,5

ĐNB 13866,9 14629,2 15494,7 16451,8 17290,3 17885,2

ĐBSCL 47728,4 47909,6 48634,2 52429,2 53767,3 56078,8

Nhìn một cách sơ bộ, ta thấy giá trị sản suất NN tăng đều qua các năm, ở tất cả các khu vực trên cả nước ĐBSH và ĐBSCL vẫn là hai khu vực sản xuất NN trọng điểm của cả nước với tốc độ tăng trưởng cao

Nhu cầu lương thực của cả nước năm 2010 là 42 triệu tấn (tăng 5 triệu so với năm 2005) Với diện tích gieo trồng lúa hiện nay là 7,15 triệu ha thì có thể đạt sản lượng 39-40 triệu tấn thóc (hệ số sử dụng đất trồng 1,8) Như vậy không đáp ứng được nhu cầu lương thực Trong khi đó, để đảm bảo đến năm

2015 vẫn giữ được diện tích trên là một khó khăn lớn trước sức ép tăng dân số và sức ép về công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Nếu muốn đến năm 2030, chúng ta có được 46-49 triệu tấn lương thực, trong đó có 43-44 triệu tấn tóc

để đạt mức bình quân trên 350 kg/người/năm cho 110-115 triệu dân, thì phải có ít nhất 3,8 triệu ha đất trồng lúa với hệ số sử dụng đất là 1,95 và năng suất phải đạt 62 tạ/ha, tương đương với năng suất lúa của Nhật Bản hiện ngay

- Công tác qui hoạch và kế hoạch sử dụng đất đai của Chính phủ bộc lộ nhiều yếu kém và mang nặng tính hình thức, chưa phù hợp với yêu cầu thực tế và định hướng phát triển kinh tế xã hội Chẳng hạn cho đến ngày 27-04-2004, tờ trình Qui hoạch sử dụng đất đến năm 2010 và kế hoạch sử dụng đất đến năm

2005 mới chính thức gửi lên ủy ban thường vụ Quốc hội Việc quyết định kế hoạch sử dụng đất 5 năm 2001-2005 vào thời điểm đã qua 3, 5 năm thể hiện sự chậm trễ và thất trách

- Công tác đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đai, nhà ở rất chậm

2.1.3 Nguyên nhân của thực trạng này

- Do quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa quá nhanh, Phát triển đất đô thị ngoài dự báo đã tác động nhiều đến đất NN, nhất là đất lúa

- Đẩy mạnh việc xây dựng hàng loạt các công trình thủy điện, hồ tích nước và một phần diện tích đất NN

bị chuyển đổi mục đích sử dụng vào ngành nuôi trồng thủy sản

- Tình hình buông lỏng quản lý, nôn nóng chạy theo các lợi ích kinh tế ở nhiều địa phương, tự phát

chuyển mục đích sử dụng đất, tạo ra sự rối loạn trong sử dụng đất, để lại tác động rất xấu đến môi trường hiện đang nhức nhối hơn cả

- Quy hoạch sử dụng đất thời gian qua mới mang tính hình thức khi quy hoạch sử dụng đất chậm và lạc hậu , Tình trạng kiểm soát chưa chặt chẽ, chưa tiết kiệm và hiệu quả

Trang 10

2.2.1.1 Khái quát một số chính sách liên quan tới đất đai trước năm 2003.

-Trước năm 1945, đất NN được phân chia thành 2 loại chính: Đất sở hữu cộng đồng và đất tư hữu Khu vực nông thôn được phân chia làm 2 tầng lớp dựa trên tính chất sở hữu củađất đai: Địa chủ và tá điền Tầng lớp địa chủ chiếm khoảng 2% tổng dân số nhưng chiếm hữu trên 50% tổng diện tích đất, trong khi đó59% hộ nông dân là tá điền không đất và đi làm thuê cho tầng lớp địa chủ

-Tính đến năm 1952, Chính phủ đã thực hiện phân chia lại ruộng đất và giảm bớt thuế cho nông dân nghèo và tá điền

- Năm 1954, miền Bắc thực hiện Chương trình cải cách ruộng đất cơ bản Và kết quả là khoảng ¼ diện tích ruộng đất được phân chia lại cho người nông dân với mục tiêu công bằng dù ít dù nhiều, đem lại lợi ích cho khoảng 73% người dân ở nông thôn

-Đất đai vẫn thuộc sở hữu của Nhà nước và dưới sự quản lý của HTX

-Ở miền Nam một loạt các mâu thuẫn cũng gia tăng trong khu vực nông thôn, đặc biệt là mối quan hệ đất đai bởi sự “cào bằng” về phân chia và điều chỉnh đất đai Để giải quyết các vấn đề trên,chính sách đổi mới trong NN đã được thực hiện theo, người nông dân được giao đất NN sử dụng từ 10-15 năm và lần đầu tiên hộ nông dân được thừa nhận như một đơn vị kinh tế tự chủ trong NN Một khía cạnh khác của chính sách này đó là người nông dân ở miền Nam được giao lại đất họ đã sở hữu trước năm 1975

- Cùng với việc giao đất cho các hộ nông dân thì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũng được các cơ quan chức năng xem xét và cấp cho các nông hộ Đến năm 1998, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (LUCs) đã được cấp cho 71% hộ nông dân, cuối năm 2000 con số này là trên 90% đối với đất rừng ở khu vực trung du và miền núi

- Vào năm 1998, người nông dân được giao thêm 2 quyền sử dụng nữa đó là quyền cho thuê lại và quyền được góp vốn đầu tư kinh doanh bằng đất đai

2.2.1.2 Luật Đất đai năm 1993 đến 2003

Theo luật pháp của Nhà nước VN, đất đai là tài sản của toàn dân và Nhà nước thống nhất quản lý với tư cách người đại diện

Theo Luật Đất đai 1993:

-Hộ nông dân được giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài ,Người có nhu cầu sử dụng được giao đất trong thời hạn 20 năm đối với cây hàng năm và ngư nghiệp, 50 năm đối với cây lâu năm Việc giao đất

sẽ được tiến hành lại tại thời điểm cuối chu kỳ giao đất nếu như người sử dụng đấtvẫn có nhu cầu sử dụng

- Quy định mức hạn điền đối với hộ nông dân, cụ thể đối với cây hàng năm là 2 hecta ở miền Bắc và các tỉnh miền Trung; 3 hecta đối với các tỉnh phía Nam; đối với cây lâu năm quy định tối đa là 10 hecta đối với các xã vùng đồng bằng và 30 hecta đối với vùng trung du và miền núi

-Luật Đất đai năm 1993 đã tạo cơ sở cho thị trường đất đai của VN giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở

VN không nằm ngoài những ràng buộc và yêu cầu của luật pháp Khả năng chuyển nhượng, cho thuê, chuyển đổi, thế chấp hay thừa kế quyền sử dụng đất thay đổi tuỳ theo từng loại đất, người sử dụng đất và loại quyền sử dụng đất

Năm 2001, những sửa đổi bổ sung Luật Đất đai năm 1993 cho phép người sử dụng được tặng đất đai cho

họ hàng, bạn bè của họ và được đền bù nếu bị thu hồi Sự bổ sung này cũng đưa ra một loạt các thay đổi

Ngày đăng: 04/03/2015, 23:42

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1:Diện tích các loại cây trồng phân theo nhóm cây(nghìn ha): - Vấn đề sử dụng đất nông nghiệp giai đoạn 2001 2011
Bảng 1.1 Diện tích các loại cây trồng phân theo nhóm cây(nghìn ha): (Trang 3)
Bảng 2.1 :Diện tích đất NN đã có biến động lớn từ năm 2001 đến năm 2009, - Vấn đề sử dụng đất nông nghiệp giai đoạn 2001 2011
Bảng 2.1 Diện tích đất NN đã có biến động lớn từ năm 2001 đến năm 2009, (Trang 7)
Bảng 2.2 :Một số chỉ tiêu theo World Bank: - Vấn đề sử dụng đất nông nghiệp giai đoạn 2001 2011
Bảng 2.2 Một số chỉ tiêu theo World Bank: (Trang 8)
Bảng 2.3: Năng suất lúa,hệ số gieo trồng của lúa.diện tích gieo trồng: - Vấn đề sử dụng đất nông nghiệp giai đoạn 2001 2011
Bảng 2.3 Năng suất lúa,hệ số gieo trồng của lúa.diện tích gieo trồng: (Trang 8)
Bảng :Giá trị sản suất NN theo giá so sánh 1994 phân theo vùng (tỷ đồng) - Vấn đề sử dụng đất nông nghiệp giai đoạn 2001 2011
ng Giá trị sản suất NN theo giá so sánh 1994 phân theo vùng (tỷ đồng) (Trang 9)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w