1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích chính sách thu hút lao động Việt kiều

29 380 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 749,05 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tất cả những phân tích hiện đại về quyết định di cư trên thực tế đã sử dụng giả thuyết này làm điểm khởi đầu và xem việc di cư của người lao động như là một dạng đầu tư vốn con người.. N

Trang 1

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1 LÝ THUYẾT VỀ CHUYỂN DỊCH LAO ĐỘNG

Cơ chế thị trường lao động sử dụng để cải thiện sự phân bổ lao động cho doanh nghiệp là chuyển dịch lao động Có nhiều chuyển dịch trên thị trường lao động Tất

cả những đặc điểm của chuyển dịch lao động cùng xuất phát từ những yếu tố cơ bản: Người lao động muốn cải thiện tình hình kinh tế của họ và doanh nghiệp muốn thuê mướn những lao động có năng suất cao hơn

1.1 Di cư theo vùng như là đầu tư vốn con người

Laureate John Hicks cho rằng những khác biệt trong lợi thế thuần kinh tế, chủ yếu là khác biệt về tiền lương, là nguyên nhân chính của di cư Tất cả những phân tích hiện đại về quyết định di cư trên thực tế đã sử dụng giả thuyết này làm điểm khởi đầu và xem việc di cư của người lao động như là một dạng đầu tư vốn con người Người lao động tính toán giá trị của những cơ hội làm việc trên mỗi thị trường khác nhau, trừ đi chi phí di chuyển và lựa chọn giải pháp nào tối đa hóa giá trị hiện tại của thu nhập trong đời

Giống như đầu tư vốn con người, quyết định di cư dựa trên sự so sánh giá trị hiện tại của thu nhập trong đời đối với những cơ hội làm việc khác nhau Do đó, lợi tức thuần từ di cư cho bởi công thức:

Lợi tức thuần từ di cư =

Trong đó r là tỉ lệ chiêt khấu của người lao động Số hạng đầu của vế phải phương trình là giá trị hiện tại của nguồn thu nhập nếu người lao động di chuyển đến nơi A Số hạng thứ hai là giá trị hiện tại của nguồn thu nhập nếu người lao động vẫn ở lại nơi B Mỗi tổng được tính từ năm bắt đầu di cư (năm người lao động j tuổi) đến tuổi nghỉ hưu Như vậy, lợi tức thuần do di cư là hiệu của giá trị hiện tại của nguồn thu nhập ở hai nơi trừ đi chi phí di chuyển Người lao động sẽ di cư nếu lợi tức thuần này có trị số dương

Trang 2

Những tính chất có thể kiểm định thực nghiệm của lý thuyết này là:

Việc cải thiện những cơ hội kinh tế có được ở nơi di cư đến làm tăng lợi tức thuần do do cư và tăng cường khả năng di cư của người lao động

Việc cải thiện cơ hội làm việc tại nơi cư trú hiện tại làm giảm lợi tức thuần từ di

cư và hạ thấp khả năng di cư của người lao động

Chi phí di chuyển tăng sẽ làm giảm lợi tức thuần từ di cư và làm giảm khả năng

di cư

Tất cả những tính chất này đều có chung một ý nghĩa cơ bản: Người lao động sẽ

di cư khi họ có cơ hội tốt để thu hồi được sự đầu tư của họ

1.1.1 Tác động của những đặc điểm vùng đối với di cư

Bằng chứng thực nghiệm cho thấy khả năng di cư rất tương ứng với khác biệt trong thu nhập giữa nơi đến và nơi đi Cũng có tương quan thuận chiều giữa cơ hội làm việc và khả năng di cư Cuối cùng, nhiều nghiên cứu thực nghiệm cho thấy tương quan nghịch giữa khả năng di cư và khoảng cách di chuyển Những kết quả này phù hợp với giả thuyết cho rằng người lao động di cư đến những vùng tối đa hóa giá trị hiện tại của thu nhập trong đời

1.1.2 Tác động của những đặc điểm của người lao động đối với di cư

Nhiều nghiên cứu cho thấy những đặc điểm của người lao động, như tuổi tác và học vấn, cũng có vai trò quan trọng trong quyết định di cư

Những người lao động lớn tuổi ít có khả năng di cư vì di cư là đầu vốn con người Lợi tức thuận từ di cư tùy thuộc vào tuổi tác vì người lớn tuổi sẽ được hưởng lợi ích từ việc đầu tư vào di cư trong thời gian ngắn Thời gian được hưởng lợi ngắn này làm giảm lợi tức thuần từ di cư và do đó hạ thấp khả năng di cư

Cũng có tương quan thuận chiều về trình độ học vấn và khả năng di cư Tác động tích cực của học vấn đối với mức di cư có thể xảy ra vì những người học vấn cao có khả năng hiểu biết nhiều những cơ hội làm việc trên những thị trường khác nhau, vì vậy giảm thiểu chi phí di chuyển Cũng có thể những vùng địa lý tạo nên

Trang 3

những thị trường lao động thích hợp cho người học vấn cao rộng hơn vùng thích hợp cho người học vấn thấp

Di cư theo vùng góp phần cải thiện “chất lượng” của việc kết hợp giữa người lao động và doanh nghiệp, người lao động hưởng lợi tức đáng kể từ di cư và tiền lương tăng lên Vì những người lao động di cư đến những vùng có cơ hội làm việc tốt hơn, cũng làm giảm khác biệt tiền lương giữa những vùng

1.1.3 Hồi cư và tái di cư

Những người vừa mới di cư có nhiều khả năng trở lại nơi sinh sống ban đầu (tạo

ra dòng người hồi cư) và cũng nhiều khả năng tiếp tục di cư đến một nơi khác (tạo nên dòng người tái di cư) Trừ khi những điều kiện kinh tế ở những nơi khác nhau thay đổi mạnh mẽ không lâu sau khi xảy ra di cư, xu hướng di cư muốn di cư nữa không phù hợp với mô hình tối đa hóa thu nhập Trước khi di cư lần đầu cách tính chi phí-lợi tức của người lao động cho thấy di cư tối đa hóa giá trị hiện tại của người thu nhập trong đời (trừ đi chi phí di chuyển) Thật khó tính toán tương tự thực hiện chỉ vài tuần sau khi di cư cho thấy trở lại nơi cũ hay tiếp tục di cư sang nơi khác có thể tối đa hóa thu nhập của người lao động

Có hai yếu tố tạo nên dòng người hồi cư và tái di cư Người lao động hồi cư hay tiếp tục di cư vì họ nhận ra quyết định di cư ban đầu là sai lầm Hồi cư và tái di cư xảy ra khi người lao động cố gắng sữa chữa sai lầm của họ

Hồi cư và tái di cư có thể là con đường tìm kiếm việc làm để tối đa hóa giá trị hiện tại của người thu nhập trong đời đối với một số nghề nghiệp, ngay khi không

có biến động nào về cơ hội làm việc ở những vùng khác nhau

Có những bằng chứng thực nghiệm ủng hộ quan điểm hồi cư và tái di cư xảy ra

do những sai lầm trong quyết định di cư ban đầu và con đường tìm việc theo cách

sử dụng “ bàn đạp” Chẳng hạn, những người lao động phải di chuyển đến một nơi

xa xôi có nhiều khả năng quay lại nơi ở cũ của họ Những người di cư đến một nơi

xa xôi có thể có những thông tin không chính xác về tình hình kinh tế thật sự ở nơi

đó, điều này càng làm cho quyết định di cư ban đầu có thể sai lầm và họ tái di cư hoặc hồi cư Cũng có bằng chứng cho thấy những người học vấn cao có xu hướng

Trang 4

tái di cư Điều này phù hợp với ý kiến của chúng ta cho rằng di cư có thể sử dụng như “ bậc thang” khi những chuyên môn đặc biệt tích lũy ở những nơi này có thể sử dụng hữu ích ở những nơi khác

1.2 Di cư theo gia đình

Phần lớn việc di cư không do một mình người lao động quyết định, nhưng do gia đình Vì thế, quyết định di cư căn cứ vào điều kiện sinh sống ở nơi đến có tốt không đối với cả gia đình chứ không phải riêng biệt một người nào trong gia đình Giả sử 1 hộ gia đình gồm hai người, chồng và vợ Ở nơi sinh sống nơi 0, giá trị hiện tại thu nhập hai người tương ứng là và

Để đơn giản, giả sử gia đình này di chuyển từ bang 0 sang bang 1 không tốn chi phí di chuyển Hộ này sẽ di cư nếu giá trị hiện tại của thu nhập gia đình ở nơi 1 lớn hơn ở nơi 0

và > và

Ta định nghĩa là lợi tức từ di cư của người chồng nếu anh ta độc thân và quyết định di cư hoàn toàn theo ý mình Lợi tức này gọi là lợi tức cá nhân từ di cư của người chồng Nếu người chồng không bị ràng buộc với gia đình anh ta, anh ta sẽ di cư nếu lợi tức các nhân có trị số dương Tương tự, chúng ta định nghĩa

Đại lượng là lợi tức cá nhân từ di cư của người vợ Nếu cô ta độc thân, cô ta sẽ di cư nếu có trị số dương

Nếu chúng ta chuyển vế các số hạng trong bất phương trình, chúng ta sẽ nhận ra

hộ gia đình này sẽ di cư nếu:

Nói cách khác, gia đình sẽ di cư nếu tổng các lợi tức cá nhân của người chồng

và vợ có trị số dương

Trang 5

1.2.1 Những người ở lại và ra đi bắt buộc

Quyết định di cư của gia đình cho thấy không phải tất cả những người trong gia đình đều có lợi tức từ di cư So sánh giữa thu nhập trước và sau di cư của người ra

đi bắt buộc cho thấy lợi tức của họ bị thiệt mất từ di cư Thực vậy, bằng chứng thực nghiệm cho thấy thu nhập của người phụ nữ sau di cư thường thấp hơn thu nhập trước di cư Khoản sụt giảm tiền khá lớn Tuy vậy, so sánh thu nhập của người vợ trước và sau di cư không có nghĩa di cư là đầu tư không hiệu quả Gia đình nhìn chung được lợi để cả vợ lẫn chồng đều hạnh phúc

Tỉ lệ tham gia lực lượng lao động của phụ nữ gia tăng nhanh chóng có nghĩa người vợ lẫn chồng ngày càng nhận ra những động cơ di cư cá nhân của họ không trùng với động cơ gia đình Vì cả cợ lẫn chồng thường tìm việc ở cùng một thành phố và ngay cả trong ngành nghề theo nghĩa hẹp, cơ hội tìm việc thích hợp cho cả hai vợ chồng ít ỏi, những điều này làm giảm khả năng gia đình di chuyển đi nơi khác

Sự gia tăng nhanh chóng những hộ gia đình cả chồng và vợ đều đi làm đã dẫn đến những điều chỉnh sáng tạo trên thị trường lao động Doanh nghiệp muốn thuê mướn người chồng (hay vợ) sẽ tạo điều kiện tìm việc cho người vợ (hay chồng), hay đôi khi thuê cả hai

Trang 6

CHƯƠNG 2 TÌNH HÌNH LAO ĐỘNG VIỆT KIỀU Ở NƯỚC NGOÀI

Khái niệm: Việt kiều hay người Việt hải ngoại là người dân tộc Việt định cư

bên ngoài nước Việt Nam

Người Việt ở nước ngoài tập trung đông nhất tại Hoa Kỳ, sau đó đến Úc Châu, Canada và Âu Châu Có một số ít ở vài nước Á Châu như Nhật, Singapore Việt kiều Mỹ chiếm trên một nửa dân số người Việt hải ngoại trên thế giới1 Họ cũng là cộng đồng dân tộc gốc Á lớn thứ tư tại Hoa Kỳ, sau người Mỹ gốc Hoa, người Mỹ gốc Ấn, và người Mỹ gốc Philippines

Người Việt vốn quen với khí hậu nắng ấm miền nhiệt đới ở Việt Nam, nên sau khi nhập cư vào Hoa Kỳ, tạm thời ổn định đời sống, người Việt thường tìm đến sinh sống ở các tiểu bang nắng ấm miền nam Hoa Kỳ như California, Florida, Texas, Quận Cam, Houston Tại California, ở Orange County, các thành phố Garden Grove, Westminster, Santa Ana, Fountain Valley họp thành trung tâm Little Sài Gòn, được xem là thủ đô của người Việt tỵ nạn trên thế giới

Theo Ủy ban Người Việt Nam ở nước ngoài, hiện có khoảng 4,5 triệu người

Việt Nam đang sinh sống và làm việc tại 104 quốc gia, vùng lãnh thổ2 Con số này

sẽ còn tăng nữa theo thời gian Nhờ sống tại các nước phát triển, người Việt hải ngoại có điều kiện học hỏi, phát triển khả năng, đỗ đạt nhiều và đỗ đạt cao, làm việc

chăm chỉ, nên người Việt càng ngày càng thành công tại các nước định cư

Trang 7

2.1 Số liệu Việt Kiều ở các nước trên thế giới

Bảng số liệu Việt Kiều ở các nước(đơn vị: người):

Trang 8

http://vovworld.vn/vi-VN/Nguoi-Viet-muon-phuong/Cong-dong-nguoi-Bảng số liệu Việt Kiều Mỹ qua các năm:

Kết quả điều tra dân số năm 2010 ở Mỹ mới được công bố cho thấy người

Mỹ gốc Việt tăng 44% trong giai đoạn 2000 - 2010 và hiện ở mức 1.737.433 người6

5

http://vovworld.vn/vi-VN/Nguoi-Viet-muon-phuong/Cong-dong-nguoi-Viet-o-Hungari/71181.vov

Trang 9

2.2 Trình độ văn hóa Việt Kiều

Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài có hơn 400.000 người7 là các doanh nhân, chuyên gia, trí thức có trình độ cao như giáo sư, bác sĩ và các văn nghệ sĩ, hầu hết được đào tạo ở những nước phát triển Ngoài ra, còn có một số khác được chỉ định hay được bầu vào những vị trí nhất định trong các cơ quan Chính phủ và Nghị viện tại một số quốc gia tiên tiến như Đức, Úc, Mỹ, Canada…

Việt Kiều Mỹ: Trong số 1,132,031 người từ 25 tuổi trở lên, 30.2% không có bằng trung học, 21.5% chỉ tốt nghiệp trung học hoặc tương đương, 18.6% có bằng

cử nhân, 22.8% có bằng nghề hoặc liên kết, 6.9% có bằng tốt nghiệp hoặc chuyên nghiệp

2.3 Lượng kiều hối đổ về Việt Nam qua các năm

2.3.1 Khái niệm

Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) thì: “Kiều hối là những khoản tiền được người lao động di cư gửi từ nước mà họ đang làm việc cho những người (chủ yếu là người thân) ở quê hương họ”

Theo Ngân hàng Nhà nước (NHNN), khi xác định cán cân thanh toán vãng lai của một quốc gia bên cạnh cán cân xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ còn một hạng mục cán cân di chuyển đơn phương (chuyển tiền ròng)

Hạng mục này liệt kê các khoản di chuyển một chiều của ngoại hối từ các đối tượng cư trú ở nước ngoài chuyển vào Việt Nam Đối tượng cư trú được xác định là những người nước ngoài hoặc người Việt Nam có thời gian làm việc, lao động ở nước ngoài trên một năm Như vậy, đối tượng này sẽ bao gồm 2 nhóm: Nhóm 1 - những người nước ngoài chủ yếu là kiều bào ở nước ngoài; nhóm thứ hai - người Việt Nam đi lao động ở nước ngoài (phần lớn có thời hạn trên một năm)

Trang 10

Qua các khái niệm trên, có thể hiểu: Kiều hối là dòng tài chính do cá nhân là

người Việt Nam định cư ở nước ngoài và người Việt Nam lao động ở nước ngoài chuyển về Việt Nam

2.3.2 Số liệu

Với chính sách đổi mới, thông thoáng, khuyến khích Việt kiều và người lao

động ở nước ngoài gửi kiều hối về nước và tạo môi trường đầu tư thuận lợi, triển vọng phát triển kinh tế tốt và chế độ chính trị ổn định, có thể khẳng định tiềm năng

để thu hút kiều hối là rất lớn Đây là nguồn vốn quan trọng để thúc đẩy đầu tư, sản xuất kinh doanh, tiêu dùng, phát triển con người, xoá đói giảm nghèo… đóng góp

đáng kể vào sự phát triển bền vững của nền kinh tế Việt Nam

Theo báo cáo mới nhất của WB về kiều hối và di trú toàn cầu, tính chung trên toàn cầu, lượng kiều hối được lưu chuyển xuyên biên giới đã có dấu hiệu phục hồi:

từ mức 416 tỷ USD năm 2009 lên 440 tỷ USD vào năm 2010 Lượng kiều hối được chuyển về nhiều nhất rơi vào 3 nước là Ấn Độ (55 tỷ USD), Trung Quốc (51 tỷ USD) và Mexico (22,6 tỷ USD) Tại khu vực Đông Á - Thái Bình Dương, kiều hối chảy vào đây trong năm 2010 tính tăng khoảng 6,4% so với năm 2009, đạt 91 tỷ USD Khi nhu cầu thế giới hồi phục, dự kiến lượng kiều hối chảy vào khu vực này tăng trưởng 7,2% trong năm 2011 và tăng trưởng 8,5% trong năm 2012

Trang 11

Nguồn: World Bank

Bảng: Lượng kiều hối chuyển về Việt Nam từ 1991 đến 2012

Trang 13

Đơn vị triệu USD

2.3.3 Vai trò

Nguồn tiền gửi về từ kiều hối được xem là nguồn ngoại tệ quan trọng thứ hai sau nguồn đầu tư trực tiếp của các nước đang phát triển Tính trong tương quan với GDP, kiều hối đóng vai trò quan trọng hơn đối với nhóm nước nhỏ và có truyền thống lâu dài tiếp nhận kiều hối, nó chiếm khoảng 2% trong tổng GDP của các quốc gia đang phát triển và chiếm 6% của các quốc gia có thu nhập thấp, thậm chí hơn 25% tại một số quốc gia Lượng kiều hối được các gia đình sử dụng vào kinh doanh, đầu tư, tiêu dùng là một nguồn vốn rất quan trọng cho sự tăng trưởng của nền kinh tế, góp phần làm giảm thâm hụt cán cân thanh toán của Việt Nam

Tỷ lệ giữa lượng kiều hối/GDP theo tỷ giá thực tế đã gần như tăng liên tục qua các năm và hiện đã đạt mức khá Bình quân chung từ năm 1991 đến nay, tỷ lệ giữa lượng kiều hối/GDP đạt 5,85%; năm 2009, đạt 6,66%; năm 2010 đạt 7,92%

Ở Việt Nam, mặc dù không có đầy đủ số liệu thống kê về giá trị của kiều hối được sử dụng cho tiết kiệm và đầu tư, có thể thấy tỷ lệ kiều hối/GDP có xu hướng tăng trưởng khá ổn định và có biến động cùng chiều với tiết kiệm và đầu tư

Trang 14

Riêng năm 2011 kiều hối đạt trên 9 tỷ USD, đưa Việt Nam trở thành một trong

10 quốc gia nhận kiều hồi nhiều nhất Trong 6 tháng đầu năm 2012 kiều hối đạt khoảng 6,4 tỷ USD, đóng góp quan trọng vào việc ổn định cán cân thanh toán và kinh tế của đất nước8

Trong những năm gần đây lượng kiều hối gửi về Việt Nam mỗi năm thường tăng khoảng 10-15% Tính chung, kiều hối và đầu tư từ cộng đồng người Việt Nam

ở nước ngoài mỗi năm đạt xấp xỉ 20 tỉ USD9

2.4 Lĩnh vực đầu tư chủ yếu của Việt Kiều khi đầu tư tại Việt Nam

Các dự án đầu tư của Việt kiều trải rộng ở nhiều lĩnh vực như nông nghiệp,

y tế, giáo dục, công nghiệp, và các dự bán bất động sản du lịch

Theo thống kê của Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài, hiện

có 3.228 doanh nghiệp thuộc nhiều lĩnh vực có vốn đầu tư của Việt kiều, với tổng

số vốn đăng ký là 5,7 tỷ USD Với chính sách ưu đãi khuyến khích đầu tư về quê hương dành cho Việt kiều, một lượng kiều hối lớn đang đổ vào thị trường bất động sản, vàng, chứng khoán, du lịch, dự án đầu tư kinh doanh Đây là kênh dẫn vốn chính thức với khối lượng lớn và hấp dẫn cho các dự án lớn tại Việt Nam Tuy nhiên, tỷ trọng lớn nguồn kiều hối lại tập trung chủ yếu vào thị trường bất động sản Theo ước tính của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, đến cuối năm 2010, tỷ

lệ vốn đầu tư kiều hối vào thị trường bất động sản chiếm khoảng 70% tổng nguồn kiều hối (trên 6 tỷ USD)10 Bên cạnh các dự án đầu tư xây dựng trung tâm thương mại, văn phòng và chung cư cao cấp tại các thành phố lớn, đã gia tăng một làn sóng đầu tư vào các dự án xây dựng căn hộ nghỉ dưỡng, khu du lịch sinh thái ven biển

Ngoài ra, mảng thị trường như đào tạo, tư vấn, môi giới, quản lý và phát triển bất động sản ở Việt Nam cũng được các nhà đầu tư Việt kiều khai thác

Ngày đăng: 04/03/2015, 22:59

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng số liệu Việt Kiều ở các nước(đơn vị: người): - Phân tích chính sách thu hút lao động Việt kiều
Bảng s ố liệu Việt Kiều ở các nước(đơn vị: người): (Trang 7)
Bảng số liệu Việt Kiều Mỹ qua các năm: - Phân tích chính sách thu hút lao động Việt kiều
Bảng s ố liệu Việt Kiều Mỹ qua các năm: (Trang 8)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w