Là một bộ phận của hệ thống NHTM Việt Nam, Chi nhánh Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương tín Quảng Trị đã chủ trương đẩy mạnh hoạt động tín dụng trung dài hạn đối với các doanh nghiệp thuộc mọ
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Trong công cuộc công nghiệp hóa - hiện đại hóa nền kinh tế, nhu cầu vốn
đã và đang trở thành nhu cầu vô cùng cấp thiết cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng,
bổ sung trang thiết bị, cũng như chuyển dịch cơ cấu kinh tế Có vốn thì các chủ thể kinh tế như doanh nghiệp hoặc cá nhân trong xã hội mới có đủ khả năng để góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển không ngừng của nền kinh tế Trên cơ sở đó Ngân hàng thương mại với tư cách là trung tâm tiền tệ tín dụng của nền kinh tế đã đặt ra mục tiêu toàn ngành là:” Tìm cách mở rộng và nâng cao
tỉ trọng các nguồn vốn trung dài hạn nhằm đầu tư vào cơ sở vật chất kỹ thuật, đổi mới công nghệ trực tiếp phục vụ cho việc mở rộng sản xuất và lưu thông hàng hóa” Ngoài ra nguồn vốn trung dài hạn còn là công cụ đắc lực hỗ trợ cho các khách hàng cá nhân phục vụ nhu cầu tiêu dùng của họ
Là một bộ phận của hệ thống NHTM Việt Nam, Chi nhánh Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương tín Quảng Trị đã chủ trương đẩy mạnh hoạt động tín dụng trung dài hạn đối với các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế và cả khách hàng cá nhân bên cạnh hoạt động tín dụng ngắn hạn truyền thống Trong những năm trở lại đây, hoạt động tín dụng trung dài hạn của Chi nhánh đã đạt được những kết quả đáng kể song còn không ít những mặt hạn chế
Nhận thức được tầm quan trọng và ý nghĩa của vấn đề này em đã chọn đề tài:” Giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng trung dài hạn tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương tín CN Quảng Trị” để làm luận văn tốt nghiệp với mong muốn tìm hiểu sâu hơn nữa về tình hình hoạt động tín dụng và đưa ra một số giải pháp
để giúp Ngân hàng khắc phục phần nào những hạn chế trên
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu thành ba chương:
Chương I: Cơ sở lý luận về tín dụng và hiệu quả tín dụng trung dài hạn trong nền kinh tế thị trường
Chương II: Thực trạng công tác cho vay trung dài hạn tại NH TMCP Sài Gòn Thương tín CN Quảng Trị
Trang 2Chương III: Một số giải pháp nhằm mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng trung dài hạn tại NH TMCP Sài Gòn Thương tín CN Quảng Trị
Do thời gian tìm hiểu và khả năng trình độ còn hạn chế nên bài viết của em còn nhiều thiếu sót Em rất mong nhận được sự góp ý, nhận xét của các thầy cô
để luận văn của em hoàn thiện hơn
Cuối cùng em xin chân thành cám ơn Thầy giáo Diệp Gia Luật ( trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh), các Thầy cô trong bộ môn Tài chính trường Đại học Nha Trang, cùng toàn thể cô chú, anh chị làm việc tại phòng Quan hệ khách hàng Ngân hàng Sacombank Quảng Trị đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong thời gian em hoàn thành luận văn của mình
Trang 3CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ TÍN DỤNG VÀ HIỆU QUẢ TÍN DỤNG TRUNG DÀI
HẠN TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
1.1 Ngân hàng thương mại (NHTM) trong nền kinh tế thị trường
1.1.1 Khái niệm về NHTM
Ngân hàng là sản phẩm của nền kinh tế hàng hóa, ngay từ khi ra đời đã có vai trò hết sức to lớn thúc đẩy phát triển kinh tế, là huyết mạch của nền kinh tế Ngân hàng chính là nơi tích tụ, tập trung và thu hút mọi tiềm năng phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế, có tác dụng khuyến khích, hỗ trợ sự ra đời và phát triển của các khu vực kinh tế trong xã hội
Như vậy, Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính hoặc Ngân hàng
là tổ chức kinh doanh các dịch vụ Ngân hàng để tìm kiếm lợi nhuận
Mỗi nước khác nhau đều có một khái niệm và mô hình tổ chức Ngân hàng khác nhau Theo Luật các tổ chức tín dụng được Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 12/12/1997, có hiệu lực ngày 01/10/1998, quy định: “Ngân hàng thương mại (NHTM) là tổ chức kinh doanh tiền tệ, mà hoạt động thường xuyên
và chủ yếu là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng lại số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán”
NHTM đã có lịch sử phát triển vài chục thế kỷ và đã phát triển qua nhiều hình thái, theo xu thế ngày càng mở rộng Sự mở rộng ở quy mô và loại hình tín dụng thể hiện ở số lượng dịch vụ, quy mô dịch vụ và sự lan rộng vượt ra ngoài biên giới địa lý Ngày nay, theo quy mô tín dụng, dịch vụ và lượng cung cấp tín dụng - dịch vụ, NHTM được phân loại thành Ngân hàng bán lẻ và Ngân hàng bán buôn
Ngân hàng bán lẻ là những hệ thống ngân hàng có nhiều chi nhánh mà đối tượng phục vụ chủ yếu là khách hàng cá nhân, tổ chức có quy mô hoạt động nhỏ
Trang 4lẻ và tập trung vào các dịch vụ tiết kiệm, thanh toán, cho vay cá nhân, các loại thẻ tín dụng,…
Ngân hàng bán buôn chỉ những ngân hàng chuyên cung cấp tín dụng, dịch
vụ cho những khách hàng là doanh nghiệp, làm trung gian tài chính cho các doanh nghiệp
1.1.2 Chức năng NHTM
Hiện nay, NHTM có ba chức năng chính đó là:
Chức năng trung gian tín dụng
Chức năng trung gian thanh toán
Chức năng tạo tiền
1.1.3 Các nghiệp vụ của NHTM 1.1.3.1 Nghiệp vụ huy động vốn
Hoạt động này được xem là hoạt động “ đầu vào” của Ngân hàng Nguồn vốn hoạt động chủ yếu của một Ngân hàng được hình thành từ những nguồn chính sau đây: vốn tự có, vốn vay ( vay của các tổ chức tài chính, vay của dân
cư, vay của NHTW), lợi nhuận để lại, ngoài ra đối với một số Ngân hàng nguồn vốn hoạt động có thể hình thành từ vốn điều lệ hay vốn ủy thác…Trong quá trình hoạt động của mình, Ngân hàng thương mại phần lớn dựa vào việc huy động các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế
Hoạt động nguyên thủy của Ngân hàng vẫn là nhận tiền gửi của khách hàng và đây là nguồn đầu vào chủ yếu của Ngân hàng Có nhiều yếu tố ảnh hưởng tới quy mô tiền gửi của khách hàng tại Ngân hàng như: lãi suất, phương thức huy động của Ngân hàng, tình hình kinh tế xã hội từng thời kì, phong tục tập quán của từng vùng, uy tín của từng Ngân hàng, các dịch vụ do Ngân hàng cung cấp… Nắm được yếu tố đó, Ngân hàng có thể điều chỉnh lượng vốn huy động sao cho phù hợp với nhu cầu vốn của mình
Các loại tiền gửi mà Ngân hàng cung cấp để huy động vốn là: tiền gửi thanh toán không kì hạn, tiền gửi có kì hạn, tiền gửi tiết kiệm
Trang 5Ngoài ra để đáp ứng nhu cầu tín dụng và đa dạng hóa hoạt động kinh doanh, Ngân hàng có thể vay vốn từ dân cư, các đơn vị kinh tế, các tổ chức tín dụng khác thông qua một số hình thức như: phát hành trái phiếu, kì phiếu hoặc vay tái chiết khấu từ NHTW
Để được hoạt động và thực hiện huy động vốn, Ngân hàng phải có một lượng nhất định gọi là vốn tự có Lượng vốn này chiếm một tỉ lệ rất nhỏ trong tổng vốn sử dụng song nó có ý nghĩa rất quan trọng đối với hoạt động của Ngân hàng Vốn tự có là điều kiện bắt buộc để Ngân hàng có được những giấy phép tổ chức và hoạt động trước khi nó có thể huy động được những khoản tiền gửi đầu tiên Vốn tự có đóng vai trò là tấm đệm giúp chống lại rủi ro phá sản, những thua
lỗ về tài chính trong hoạt động tạm thời Nó tạo niềm tin cho công chúng và là sự đảm bảo đối với chủ nợ về sức mạnh tài chính của Ngân hàng Nó còn cung cấp năng lực tài chính cho sự tăng trưởng và phát triển dịch vụ mới, cho những chương trình và trang thiết bị mới
cả vốn lẫn lãi Trong hoạt động này tiềm ẩn rất nhiều rủi ro, không thu hồi được vốn vay hoặc trả không hết hoặc không đúng hạn…do chủ quan hay khách quan,
do đó Ngân hàng Thương mại phải chú ý đến công tác hạn chế rủi ro tín dụng
- Nghiệp vụ đầu tư
Hoạt động đầu tư không đem lại lợi ích trong ngắn hạn nhưng có tiềm năng đạt lợi nhuận trong tương lai Danh mục đầu tư của Ngân hàng Thương mại bao gồm: đầu tư vào trái phiếu chính phủ; đầu tư vào các dự án sản xuất kinh
Trang 6doanh, dự án phát triển; liên doanh để hình thành nên tập đoàn công nghiệp – ngân hàng
- Nghiệp vụ ngân quỹ
Hoạt động ngân quỹ nhằm bảo đảm khả năng thanh toán thường xuyên của Ngân hàng cho khách hàng Đây là tài sản không sinh lời hoặc sinh lời thấp nhưng tính lỏng cao được coi như tiền mặt Do đó Ngân hàng phải duy trì lượng tiền mặt ở mức độ hợp lí sao cho vừa đảm bảo tính thanh khoản vừa đảm bảo tính sinh lời
1.2 Cơ sở lí luận về tín dụng Ngân hàng và tín dụng trung dài hạn
1.2.1 Tín dụng Ngân hàng 1.2.1.1 Khái niệm tín dụng Ngân hàng
Tín dụng Ngân hàng là quan hệ bằng tiền giữa một bên là Ngân hàng, một
tổ chức chuyên kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ với một bên là các tổ chức, cá nhân trong xã hội, trong đó Ngân hàng vừa đóng vai trò là người đi vay và là người cho vay
Trong quan hệ tín dụng Ngân hàng có ba loại chủ yếu:
- Quan hệ tín dụng giữa Ngân hàng với Doanh nghiệp
- Quan hệ tín dụng giữa Ngân hàng với dân cư
- Quan hệ tín dụng giữa Ngân hàng với Ngân hàng khác trong và ngoài nước
1.2.1.2 Phân loại tín dụng Ngân hàng
Căn cứ vào thời hạn tín dụng có:
Trang 7cụ thể của hoạt động tín dụng trung dài hạn Ở Việt Nam, về thời hạn cho vay được xác định phù hợp với thời hạn thu hồi vốn của dự án đầu tư, khả năng trả
nợ của khách hàng và tính chất nguồn vốn vay của tổ chức tín dụng Hiện nay thời hạn của tín dụng trung dài hạn được xác định như sau:
Thời hạn cho vay trung hạn từ 12 tháng đến 60 tháng
Thời hạn cho vay dài hạn từ 5 năm trở lên nhưng không quá thời hạn hoạt động còn lại theo quyết định thành lập hoặc theo giấy phép thành lập đối với pháp nhân và không quá 15 năm đối với các dự án phục vụ đời sống ( hiện tại Sacombank cho vay dài hạn lên đến 30 năm)
Trang 81.2.2.2 Đặc trưng cơ bản của tín dụng trung dài hạn
Tín dụng trung dài hạn là một loại hình tín dụng được phân biệt với các loại hình tín dụng khác thông qua một số đặc trưng cơ bản sau:
- Thời hạn cho vay:
Được xác định phù hợp với thời hạn thu hồi vốn của dự án đầu tư, khả năng trả nợ của khách hàng và tính chất của nguồn vốn cho vay
- Đối tượng cho vay
Là toàn bộ các chi phí cấu thành trong tổng mức vốn đầu tư của các dự án xây dựng mới, mở rộng cải tạo công nghệ Trong quan hệ tín dụng Ngân hàng, đối tượng cho vay trung dài hạn là các công trình, hạng mục công trình hoặc các
dự án đầu tư xây dựng, mua sắm tài sản cố định của các đơn vị kinh tế có luận chưng kĩ thuật tốt, xác thực và tổng dự toán đã phê duyệt
- Nguyên tắc và điều kiện vay vốn
Khách hàng muốn vay vốn Ngân hàng phải đảm bảo được 3 nguyên tắc tín dụng cơ bản sau:
+ Sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng + Phải hoàn trả tiền vay và lãi theo đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng
+ Phải bảo đảm tiền vay theo đúng quy định của Chính phủ và NHTW Trên cơ sở nguyên tắc trên, mỗi Ngân hàng sẽ đề ra các điều kiện ràng buộc, các quy định mang tính chất bắt buộc có thể thực hiện vốn vay của Ngân hàng Các quy định này về cơ bản là giống nhau nhưng các điều khoản cụ thể thì khác nhau phụ thuộc vào mỗi Ngân hàng và thời điểm lịch sử
Do các đặc trưng của tín dụng trung dài hạn nên thời gian thu hồi vốn rất lâu, có khả năng gặp nhiều rủi ro trong quá trình sử dụng nên việc cho vay trung dài hạn phải tuân theo quyết định 367/QDDNH1 của Thống đốc NHNN Việt Nam về thể lệ tín dụng trung dài hạn như sau:
Trang 9+ Doanh nghiệp vay vốn phải là đơn vị sản xuất kinh doanh có lãi, có vốn tham gia tối thiểu bằng 20% tổng dự toán công trình đầu tư
+ Doanh nghiệp vay vốn phải chấp hành đầy đủ các quy định của Nhà nước về quản lý đầu tư xây dựng cơ bản và thể lệ tín dụng trung dài hạn của Ngân hàng
Điều kiện: 05 điều kiện
+ Có đầy đủ năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật
+ Mục đích sử dụng vốn hợp pháp + Có phương án kinh doanh khả thi + Có khả năng tài chính đảm bảo hoàn trả khoản cấp tín dụng + Thực hiện các thủ tục đảm bảo tiền vay( nếu có vì có thể cho vay tín chấp không có tài sản đảm bảo)
1.2.2.3 Mục đích của hoạt động tín dụng trung dài hạn
Để đầu tư dự án, xây dựng mới, mua sắm tài sản cố định, mở rộng sản xuất kinh doanh, đổi mới cải tiến thiết bị công nghê, ứng dụng khoa học kĩ thuật nhằm mục tiêu lợi nhuận phù hợp với các chính sách phát triển kinh tế và pháp luật quy định
1.2.2.4 Phân loại tín dụng trung dài hạn
- Căn cứ vào tính chất đảm bảo
+ Tín dụng trung dài hạn có bảo đảm: là loại tín dụng khi cho vay bên cho vay đòi hỏi người vay phải có tài sản đảm bảo
+ Tín dụng trung dài hạn không có bảo đảm: là loại tín dụng mà khi cho vay bên cho vay không đòi hỏi người vay phải có tài sản bảo đảm Việc cho vay được tiến hành trên cơ sở lòng tin, uy tín của bản thân khách hàng
- Căn cứ vào đồng tiền vay vốn
+ Tín dụng trung dài hạn bằng bản tệ: là việc cho vay bằng đồng nội tệ
Trang 10+ Tín dụng trung dài hạn bằng ngoại tệ: là cấp tín dụng cho người vay có nhu cầu thanh toán các công trình xây dựng cơ bản, các khoản chi phí có liên quan đến nước ngoài bằng đồng ngoại tệ
- Căn cứ vào phương thức cho vay
+ Cho vay theo dự án: Đây là hình thức cấp tín dụng dựa trên cơ sở dự án khi đã xem xét khẳng định tính hiệu quả, tính khả thi của dự án đó Hình thức cho vay theo dự án bao gồm:
Cho vay đồng tài trợ: là quá trình cho vay của một nhóm tổ chức tín dụng( từ 2 tổ chức tín dụng trở lên) cho một dự án, do một tổ chức tín dụng làm đầu mối, phối hợp với các bên đồng tài trợ để thực hiện, nhằm phân tán rủi ro của các tổ chức tín dụng
Cho vay trực tiếp theo dự án: Đây là hình thức tín dụng trung dài hạn phổ biến trong nền kinh tế thị trường NHTM tiến hành mọi hoạt động và tự chịu trách nhiệm của từng dự án đầu tư của khách hàng mà họ lựa chọn để tài trợ + Tín dụng thuê mua: là hình thức cho vay tài sản thông qua một hợp đồng tín dụng thuê mua, qua đó người cho thuê chuyển giao tài sản thuộc quyền
sở hữu của mình cho người đi thuê sử dụng và người thuê có trách nhiệm thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê và có thể được quyền sở hữu tài sản thuê, được quyền mua tài sản thuê hoặc được quyền thuê tiếp theo các điều kiện đã
được hai bên thỏa thuận 1.2.2.5 Vai trò của tín dụng trung dài hạn Đối với doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển như hiện nay, các doanh nghiệp ( DN) đang phải tham gia vào cuộc cạnh tranh gay gắt, đây là một thực
tế tất yếu xảy ra ở bất kỳ nền kinh tế nào Do sức ép của cạnh tranh mà các DN luôn có những nhu cầu để đầu tư để tái sản xuất mở rộng, tăng khả năng sản xuất, phát triển thị trường, nâng cao chất lượng sản phẩm, có như vậy DN mới đảm bảo tồn tại và phát triển Nhưng muốn thực hiện các kế hoạch như vậy DN
Trang 11cần có một lượng vốn nhất định Ở Việt Nam hiện nay, khi mà thị trường tài chính chưa hoàn thiện thì tín dụng Ngân hàng là một giải pháp tối ưu nhất cho các DN Đối với tất cả các dự án trên DN cần phải được tài trợ bằng một nguồn vốn trung dài hạn, tín dụng trung dài hạn của Ngân hàng sẽ đáp ứng nhu cầu này của DN Nó giúp cho DN có những công nghệ mới để nâng cao chất lượng sản phẩm, củng cố vị thế của DN trên thị trường, giúp cho DN có thể chịu được những sức ép ban đầu của cạnh tranh và của môi trường kinh doanh mới, giúp cho DN yên tâm hơn trong đầu tư và rảnh tay tính toán với những dự án lớn, hiệu quả cao An toàn về tài chính và khả năng thanh toán là mối quan tâm của nhiều phía đặc biệt là các DN Vì vậy có thể thấy tín dụng trung dài hạn vô cùng quan trọng đối với các DN trong nền kinh tế
Đối với nền kinh tế
- Bảo đảm phát triển nền kinh tế theo chiều sâu:
Nhu cầu về tín dụng đặc biệt là tín dụng trung dài hạn tồn tại trong tất cả các nền kinh tế, không phụ thuộc vào trình độ phát triển cũng như chế độ chính trị xã hội bởi vì tất cả các quốc gia đều có chung một nhu cầu đó là nhu cầu đầu
tư để phát triển Một nền kinh tế chỉ có thể phát triển mạnh và bền vững nếu trong nền kinh tế đó các hoạt động đầu tư được đẩy mạnh Khác với các loại hình đầu tư khác, hoạt động tín dụng trung dài hạn cho phép các tổ chức có được nguồn vốn với thời hạn hoàn vốn lâu dài đủ để đầu tư vào các dự án mang ý nghĩa chiến lược, phát huy được hiệu quả trong trung dài hạn Đối với các Chính phủ, đầu tư vào các công trình cơ sở hạ tầng như: đường sá, cầu cảng, sân bay, nâng cấp xây mới các đô thị… không thể đem lại hiệu quả trong chốc lát nhưng
nó sẽ mang lại lợi ích to lớn sau này Việc sử dụng có hiệu quả các nguồn tài chính trung dài hạn, đối với các Chính phủ sẽ giúp họ theo đuổi được các chính sách kinh tế vĩ mô từ đó có thể hướng được đầu tư tư nhân vào các ngành mà họ đang khuyến khích phát triển, đảm bảo nền kinh tế phát triển bền vững trong dài hạn Với những công trình lớn do Chính phủ thực hiện sẽ tạo ra nhiều việc làm
Trang 12mới, hình thành nhiều công ty đứng ra phục vụ các nhu cầu còn bỏ ngỏ Những công trình phúc lợi được tài trợ bằng nguồn vốn trung dài hạn không đem lại lợi ích cho cá nhân thực hiện nhưng lợi ích mà nó tạo ra cho toàn bộ nền kinh tế là
vô cùng to lớn Như vậy có thể nói tín dụng trung dài hạn đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo thực hiện các chương trình kinh tế xã hội của một Quốc gia, đảm bảo cho nền kinh tế phát triển vững chắc theo chiều sâu
- Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp với mục tiêu của Chính phủ:
Hiện nay nước ta đang tiến hành CNH- HĐH Công nghiệp hóa không chỉ đơn giản là tăng thêm tốc độ và tỉ trọng sản xuất công nghiệp mà là quá trình chuyển dịch cơ cấu gắn với đổi mới về công nghệ tạo nền tảng cho sự phát triển nhanh và bền vững, hiệu quả cao cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân Trong điều kiện hiện nay khi thị trường vốn của nước ta chưa phát triển thì hiện tại và trong thời gian tới tín dụng trung dài hạn vẫn đóng vai trò quyết định trong việc thực hiện quá trình CNH- HĐH Thông qua hoạt động tín dụng trung dài hạn, Ngân hàng có thể cho vay đáp ứng nhu cầu phát triển của ngành kinh tế này cũng như hạn chế với ngành kinh tế khác Như vậy qua chính sách tín dụng trong từng thời
kì mà các NHTM có thể tham gia vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
- Tạo thị trường sử dụng vốn ngắn hạn:
Tín dụng trung dài hạn đầu tư cho một dự án mới để đầu tư vào máy móc thiết bị và xây dựng cơ bản của DN sẽ kích thích sản xuất phát triển Khi đó nhu cầu vốn lưu động sẽ tăng lên để đáp ứng nhu cầu sản xuất Tốc độ phát triển sản xuất càng lớn thì nhu cầu vốn ngắn hạn càng lớn
- Thúc đẩy mở rộng kim ngạch xuất nhập khẩu:
Nhờ có tín dụng trung dài hạn của Ngân hàng mà các DN có thể nhập khẩu công nghệ mới từ đó nâng cao được năng lực sản xuất và chất lượng sản phẩm, được thị trường quốc tế chấp nhận Thị trường của DN được mở rộng ra thị trường quốc tế góp phần tăng kim ngạch xuất nhập khẩu
Trang 13- Bảo đảm nguồn thu vững chắc cho ngân sách Nhà nước:
Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước, khối lượng sản phẩm lớn được sản xuất và tiêu thụ sẽ tạo ra một nguồn thu lớn cho ngân sách từ các loại thuế như VAT, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế XNK… Trong trường hợp hàng hóa được xuất khẩu thì chúng ta sẽ thu được một nguồn ngoại tệ đáp ứng nhu cầu nhập khẩu
Ngoài ra, tín dụng trung dài hạn còn mang ý nghĩa to lớn đối với các cá nhân trong xã hội và trong toàn bộ nền kinh tế Sản xuất phát triển, các doanh nghiệp có vốn để mở rộng sản xuất, tích lũy trong xã hội tăng lên, nền kinh tế biến đổi về chất, phúc lợi xã hội được đảm bảo, việc làm tạo ra ngày càng nhiều,
tỉ lệ thất nghiệp giảm đi đôi với chất lượng cuộc sống ngày càng tăng lên của các tầng lớp dân cư trong xã hội
Đối với hoạt động Ngân hàng
Ngân hàng là tổ chức chuyên kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ, nhận gửi và huy động các nguồn tài chính nhằm mục tiêu lợi nhuận An toàn trong lợi nhuận
là mục tiêu của Ngân hàng , nói cách khác Ngân hàng kinh doanh gặp nhiều rủi
ro do phần lớn tài sản có của nó là bộ phận tài sản sinh lợi lại không do ngân hàng trực tiếp sử dụng Do vậy mà trong quá trình hoạt động, ngân hàng đạt mục tiêu lợi nhuận nhưng vẫn phải đảm bảo an toàn Vì vậy ngân hàng luôn quan tâm đến những dự án mang hiệu quả cao Hơn thế nữa, ngày nay sản phẩm ngân hàng cung ứng ngày càng đa dạng không chỉ giới hạn trong những nghiệp vụ truyền thống như nhận gửi, cho vay hay trung gian thanh toán mà còn các nghiệp vụ đa dạng khác Lợi nhuận do các nghiệp vụ này ngày một chiếm tỉ trọng lớn trong cơ cấu lợi nhuận của ngân hàng Một trong những khách hàng quan trọng nhất của những nghiệp vụ này không ai khác chính là các DN Do vậy để tạo được mối quan hệ lâu dài trong tương lai cũng như thị trường sinh lợi chính của mình, ngân hàng sử dụng tín dụng trung dài hạn như là một công cụ cuốn hút các khách hàng, củng cố lòng trung thành của các khách hàng truyền thống, đồng
Trang 14thời tạo ra các mối quan hệ mới với các khách hàng mới Ngân hàng thông qua nguồn vốn tín dụng ưu đãi cung cấp tín dụng trung dài hạn cho các khách hàng, không những thu được lợi nhuận từ hoạt động tín dụng đem lại mà còn thu thêm được lợi nhuận từ những dịch vụ khác cung cấp cho khách hàng Hơn nữa năng lực cung cấp tín dụng trung dài hạn cũng chứng tỏ Ngân hàng có được niềm tin lớn từ khách hàng cũng như công chúng, trong giai đoạn hiện nay nó chứng tỏ khả năng cạnh tranh của Ngân hàng
1.2.2.5 Quy trình nghiệp vụ cho vay trung dài hạn Khách hàng lập hồ sơ xin vay vốn gửi cho NH
Bộ hồ sơ vay vốn bao gồm: Hồ sơ pháp lí, hồ sơ kinh tế, hồ sơ tài sản đảm bảo
Hồ sơ pháp lí: Giấy chứng minh năng lực pháp lý, năng lực hành vi dân
sự của khách hàng
Khả năng sử dụng vốn vay
Hồ sơ kinh tế: Khả năng hoàn trả nợ vay( vốn vay + lãi)
Hồ sơ tài sản đảm bảo( nếu có)
Ngân hàng xét duyệt cho vay
Là công tác xác định khả năng hiện tại và tương lai của khách hàng trong việc sử dụng vốn và hoàn trả nợ vay Với mục tiêu:
- Tìm kiếm những tình huống rủi ro có thể xảy ra ( rủi ro cho Ngân hàng), dự đoán khả năng khắc phục rủi ro đó, dự kiến những biện pháp giảm thiểu rủi ro và hạn chế tổn thất cho Ngân hàng
- Phân tích tính chân thật những thông tin từ phía khách hàng trong bước 1 từ đó nhận xét thái độ thiện chí của khách hàng làm cơ sở cho việc ra quyết định cho vay
Ra quyết định tín dụng
Trang 15Trong khâu này Ngân hàng sẽ quyết định đồng ý hoặc từ chối cho vay đối với một bộ hồ sơ vay vốn của khách hàng Khi ra quyết định thường mắc 2 sai lầm cơ bản:
Đồng ý cho vay với khách hàng không tốt
Từ chối cho vay với khách hàng tốt
Cả 2 sai lầm đều ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh tín dụng, thậm chí
sai lầm thứ 2 còn ảnh hưởng đến uy tín của Ngân hàng
Giải ngân cho vay
Trong bước này, Ngân hàng sẽ tiến hành phát tiền cho khách hàng theo hạn mức tín dụng đã kí kết trong hợp đồng tín dụng
Nguyên tắc giải ngân: phải gắn liền sự vận động tiền tệ với sự vận động hàng hóa hoặc dịch vụ có liên quan nhằm kiểm tra mục đích sử dụng vốn vay của khách hàng nhằm đảm bảo khả năng thu nợ, đồng thời cũng phải tạo sự thuận lợi tránh gây phiền hà cho việc sản xuất kinh doanh của khách hàng
Thu nợ
Nhân viên tín dụng thường xuyên kiểm tra việc sử dụng vốn vay thực tế của khách hàng, hiện trạng tài sản đảm bảo, tình hình tài chính của khách hàng… nhằm bảo đảm khả năng thu nợ
Thanh lý hợp đồng tín dụng là khâu kết thúc của quá trình tín dụng Khâu này gồm có thu nợ cả gốc và lãi, tái xét hợp đồng tín dụng, thanh lí hợp đồng tín dụng
1.3 Hiệu quả tín dụng trung dài hạn của Ngân hàng thương mại
1.3.1 Khái niệm hiệu quả tín dụng trung dài hạn
Tín dụng Ngân hàng là một sản phẩm của Ngân hàng cung ứng phục vụ các khách hàng của mình Cũng như các sản phẩm khác nó cũng có hiệu quả( chất lượng), tuy nhiên vì Ngân hàng là một ngành kinh tế đặc biệt, liên quan chặt chẽ nhiều lĩnh vực của nền kinh tế nên chất lượng tín dụng Ngân hàng có những đặc trưng riêng
Trang 16Hiệu quả tín dụng là sự đáp ứng yêu cầu hợp lý của khách hàng có sự lựa chọn, đảm bảo sự tồn tại và phát triển của Ngân hàng đồng thời góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế xã hội Hiệu quả tín dụng trung dài hạn là hiệu quả của các khoản vay trên một năm, được đánh giá là có hiệu quả khi vốn vay được sử dụng đúng mục đích phục vụ cho các hoạt động sản xuất kinh doanh đem lại hiệu quả, đảm bảo trả nợ cho Ngân hàng đúng hạn vừa bù đắp được chi phí vừa
có lợi nhuận vừa đem lại hiệu quả kinh tế xã hội
Từ khái niệm trên ta thấy rằng khách hàng, Ngân hàng thương mại và bối cảnh kinh tế là ba nhân tố được đề cập đến khi xem xét hiệu quả hoạt động tín dụng trung dài hạn Việc xem xét hiệu quả tín dụng trung dài hạn mà thiếu đi một trong ba nhân tố này là phiến diện vì ba nhân tố này tác động qua lại, vừa thúc đẩy vừa kiềm chế lẫn nhau Do đó cần xem xét hiệu quả tín dụng trung dài hạn trên ba giác độ đó:
Đối với Ngân hàng: Hiệu quả tín dụng trung dài hạn thể hiện ở phạm
vi, mức độ giới hạn tín dụng phải phù hợp với thực lực theo hướng tích cực của Ngân hàng và phải bảo đảm được khả năng cạnh tranh trên thị trường, làm lành mạnh hóa các quan hệ kinh tế, phục vụ tăng trưởng và phát triển Hiệu quả tín dụng trung dài hạn thể hiện ở chi tiêu lợi nhuận hợp lí, dư nợ tăng trưởng, tỉ lệ
nợ quá hạn hợp lí, đảm bảo cơ cấu giữa nguồn vốn ngắn hạn, trung dài hạn trong nền kinh tế
Đối với khách hàng: Hiệu quả tín dụng trung dài hạn là sự thỏa mãn yêu cầu hợp lí của khách hàng với lãi suất hợp lí, thủ tục đơn giản đảm bảo thu hút khách hàng nhưng vẫn tuân thủ đúng những quy định của tín dụng, góp phần làm lành mạnh hóa tình hình tài chính của DN, cải thiện hoạt động sản xuất kinh doanh và duy trì sự tồn tại phát triển của Ngân hàng
Đối với nền kinh tế: Khoản tín dụng trung dài hạn có hiệu quả phải hỗ trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh, giải quyết công ăn việc làm, xây dựng cơ
Trang 17sở hạ tầng kinh tế, thu hút tối đa nguồn vốn trong nước, đồng thời tranh thủ vốn đầu tư nước ngoài phục vụ cho quá trình phát triển kinh tế
1.3.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả tín dụng trung dài hạn 1.3.2.1 Các nhân tố về phía Ngân hàng
Chính sách tín dụng
Với chính sách tín dụng do NHTW ban hành và các NHTM dựa vào đó đề
ra các chính sách cho phù hợp với Ngân hàng của mình.Đối với mỗi Ngân hàng
và trong từng thời kì thường có những chính sách khác nhau Chính sách tín dụng của Ngân hàng ảnh hưởng trực tiếp đến số lượng các khoản cho vay, quy
mô từng khoản vay, các khoản đảm bảo và nhiều yếu tố khác
Chất lượng nhân sự
Con người luôn là yếu tố quyết định đến sự thành bại của công việc, nghiệp
vụ hoạt động Ngân hàng càng phát triển thì đòi hỏi chất lượng nhân sự ngày càng cao hơn Để tiến hành hoạt động tín dụng trung dài hạn thì cán bộ tín dụng cần phải thẩm định dự án Nếu trình độ hạn chế do không được đào tạo chính quy, chuyên sâu hoặc thiếu kinh nghiệm nên không đánh giá được khả thi của dự
án, không phân tích chính xác báo cáo tài chính, khả năng quản lý của khách hàng… nên thường không có quyết định chính xác về việc cho vay dự án Bên cạnh đó, cán bộ Ngân hàng phải có lương tâm và đạo đức nghề nghiệp để tránh những cám dỗ gây thiệt hại đến tài sản của Ngân hàng
Ngoài trình độ chuyên môn nghiệp vụ, cán bộ tín dụng cần có sự hiểu biết rộng về pháp luật, môi trường kinh tế xã hội, đường lối phát triển của đất nước, của thị trường…dự đoán trước những biến động có thể xảy ra từ đó tư vấn cho khách hàng xây dựng lại phương án kinh doanh cho phù hợp Nghiệp vụ hoạt động Ngân hàng ngày càng phát triển đòi hỏi chất lượng đội ngũ nhân sự ngày càng cao để sử dụng các phương tiện, phương pháp làm việc hiện đại thích ứng với sự phát triển không ngừng của xã hội Cán bộ tín dụng giỏi về chuyên môn
Trang 18nghiệp vụ, có đạo đức nghề nghiệp và sự hiểu biết rộng chính là cơ sở để nâng cao chất lượng công tác tín dụng trong hoạt động chính của các NHTM
Chính sách lãi suất
NHTM là định chế tài chính trung gian thực hiện đi vay để cho vay với lãi suất cao hơn Do đó, phải có một chính sách lãi suất phù hợp làm cơ sở cho Ngân hàng nâng cao hiệu quả tín dụng trung dài hạn tức là phải đảm bảo các điều kiện sau đây:
Bảo vệ lợi ích của người gửi tiền, ngoài tiền lãi còn có các lợi ích khác như sự an toàn, thanh toán tiện lợi
Lãi suất cho vay phải bù đắp được chi phí về huy động vốn và bảo đảm mức thu nhập ròng hợp lí cho Ngân hàng
Lãi suất phải được đổi theo cung cầu thị trường nhưng sự biến đổi của
nó luôn trong giới hạn
Lãi suất cho vay phải phù hợp với đối tượng của tín dụng có nghĩa là lãi suất cho vay dài hạn phải lớn hơn lãi suất ngắn hạn bởi cho vay dài hạn có mức độ rủi ro cao hơn
Công tác thẩm định dự án
Thẩm định dự án đầu tư là việc xem xét một cách khách quan toàn diện nội dung cơ bản ảnh hưởng trực tiếp tới tính khả thi của dự án trước khi ra quyết định đầu tư và cho phép đầu tư Mục đích của việc thẩm định dự án là giúp cho Ngân hàng rút ra các kết luận chính xác và tính khả thi của dự án, bao gồm hiệu quả kinh tế và khả năng trả nợ Ngân hàng do đó Ngân hàng có thể ra các quyết định cho vay hoặc từ chối Cũng từ quá trình thẩm định, Ngân hàng có thể tham gia tư vấn, góp ý cho chủ đầu tư đồng thời căn cư vào đó để xác định số tiền cho vay, thời gạn cho vay cũng như hình thức trả gốc và lãi tạo điều kiện cho khách hàng hoạt động có hiệu quả Nếu việc thẩm định không được thực hiện đúng trình tự, nội dung không đầy đủ chính xác thì khả năng xảy ra rủi ro với Ngân hàng là rất lớn Tuy nhiên nếu quá trình thẩm định diễn ra quá thận trọng, tốn
Trang 19nhiều thời gian, quá trình cho vay có nhiều thủ tục rườm rà thì Ngân hàng sẽ bỏ
lỡ cơ hội đầu tư, làm giảm tính hiệu quả sản xuất kinh doanh của DN và tất
nhiên chất lượng tín dụng của Ngân hàng sẽ giảm sút
Công tác tổ chức của Ngân hàng
Công tác tổ chức không chỉ tác động đến chất lượng tín dụng mà còn tác động đến mọi hoạt động của Ngân hàng Nếu chỉ xét riêng ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng, việc tổ chức thiếu khoa học sẽ tạo sự chồng chéo trong việc phối hợp công việc giữa các bộ phận trong Ngân hàng, ảnh hưởng tới thời gian ra quyết định đối với một món vay Tổ chức thiếu khoa học cũng có thể tạo ra sự thiếu chặt chẽ giữa các khâu, tính ỷ lại, thiếu trách nhiệm của các cán bộ tín dụng đối với công viêc Vì vậy, công tác tổ chức trong Ngân hàng phải hết sức coi trọng Tổ chức phải đảm bảo đúng người đúng việc, phát huy được khả năng của cán bộ, tạo ra sự nhịp nhàng giữa các khâu Nếu được tổ chức một cách hợp
lý, Ngân hàng sẽ rút ngắn được thời gian thẩm định nhưng vẫn hạn chế tối đa sự thiếu chính xác trong quá trình thẩm định, vừa đảm bảo an toàn cho Ngân hàng vừa phục vụ khách hàng tốt hơn, từ đó nâng cao chất lượng tín dụng
Thông tin tín dụng
Thông tin tín dụng là yếu tố cơ bản trong quản lý tín dụng, những thông tin chính xác về khách hàng sẽ giúp Ngân hàng dễ dàng hơn trong việc ra quyết định cho vay hay không đồng thời cũng thuận tiện cho Ngân hàng trong qua trình kiểm tra, giám sát khoản vay… Thông tin tín dụng chính xác sẽ giúp Ngân hàng hạn chế rủi ro ở mức thấp nhất
1.3.2.2 Các nhân tố về phía khách hàng Tiềm lực tài chính của khách hàng
Thể hiện qua các chỉ tiêu vốn tự có, hệ số nợ, khả năng thanh toán, khả năng sinh lợi hàng năm… có tiềm lực tài chính mạnh, DN vay vốn dễ dàng hơn trong việc thỏa thuận với Ngân hàng về các khoản vay và dịch vụ tài chính khác của như uy tín của DN trong việc trả nợ Ngân hàng cũng cao hơn
Trang 20Triển vọng kinh doanh
Thông thường khi DN đưa vốn của Ngân hàng vào kinh doanh, một DN đang trong tình trạng thị phần của mình bị thu hẹp, nhà cung cấp không ổn định, hoạt động kinh doanh gặp nhiều khó khăn thì tất nhiên khả năng hoàn vốn trả tín dụng cho Ngân hàng sẽ không được đảm bảo Ngược lại một triển vọng kinh doanh sáng sủa sẽ đồng nghĩa với việc Ngân hàng sẽ mạnh dạn trong việc tài trợ cho DN các nhu cầu về vốn do Ngân hàng có thể xác định được các khoản tín dụng cấp cho khách hàng là có chất lượng hay không
Xét về bảo lãnh: Một DN hoạt động có hiệu quả, có uy tín, có mối quan hệ làm ăn lâu dài với các đối tác của mình có thể nhận được sự bảo lãnh để vay vốn Ngân hàng Nếu bên bảo lãnh thường xuyên đảm bảo được năng lực tài chính và năng lực pháp lí tham gia vào hoạt động kinh doanh thì chất lượng cho vay có thể được đảm bảo
Đạo đức kinh doanh
Nếu khách hàng trung thực sử dụng vốn vay đúng mục đích thì rủi ro xảy ra đối với Ngân hàng sẽ ít đi do để dẫn tới quyết định cung cấp vốn trung dài hạn cho khách hàng, Ngân hàng đã có quá trình xét duyệt hồ sơ xin vay và nếu như quá trình này thực hiện một cách chính xác thì khi vốn được sử dụng đúng mục đích như hồ sơ xin vay, sẽ xảy ra ít rủi ro hơn Trong thời gian qua có một tỉ lệ rủi ro tín dụng tương đối cao xuất phát từ việc sử dụng vốn sai mục đích
Trang 21Năng lực quản lí và trình độ của DN vay vốn
Xem xét triển vọng kinh doanh của DN cần xuất phát từ yếu tố con người Thiếu năng động trong kinh doanh, không kịp thay đổi chiến lược khi môi trường kinh doanh thay đổi, đội ngũ nhân viên không có trình độ, thiếu kỉ luật…
sẽ làm giảm khả năng trả nợ cho Ngân hàng, chất lượng khoản vay không được
đảm bảo 1.3.2.3 Các nhân tố thuộc môi trường vĩ mô Môi trường kinh tế
Các điều kiện kinh tế trong từng thời kì có ảnh hưởng đến hiệu quả tín dụng trong đó có tín dụng trung dài hạn Chẳng hạn trong một nền kinh tế phát triển quá nóng, Chính phủ để đảm bảo mục tiêu tăng trưởng bền vững đề ra một số biện pháp nhằm hạn chế đầu tư Định hướng này của Chính phủ sẽ tác động đến
hệ thống ngân hàng thông qua chính sách tiền tệ Các Ngân hàng sẽ phải thắt chặt chính sách tín dụng, các khoản tài trợ cho nền kinh tế sẽ được xem xét một cách kỹ lưỡng hơn trước khi quyết định đầu tư, từ đó khả năng rủi ro cho Ngân hàng sẽ ít hơn Hơn nữa để đáp ứng nhu cầu tín dụng cho một nền kinh tế đang phát triển, đòi hỏi bản thân Ngân hàng cũng phải đổi mới cho phù hợp với tình hình mới Sự đổi mới này diễn ra ở tất cả các khâu bao gồm công tác tổ chức, trang thiết bị, trình độ nhân sự… chất lượng tín dụng do đó được nâng lên
Môi trường chính trị xã hội
Môi trường chính trị xã hội ổn định là một điều kiện vô cùng quan trọng trong việc tạo lòng tin đối với các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư dài hạn cho hoạt động sản xuất kinh doanh Một môi trường chính trị xã hội ổn định là
cơ sở rất tốt cho hoạt động tín dụng trung dài hạn của Ngân hàng, vì chỉ khi có nhu cầu đầu tư dài hạn trong nền kinh tế mới xuất hiện nhu cầu vay vốn trung dài hạn Ngân hàng Hơn nữa sự mất ổn định về chính trị xã hội sẽ ảnh hưởng không tốt đến hoạt động của các DN và nếu DN này đang vay vốn Ngân hàng thì
Trang 22rõ ràng việc thu hồi của Ngân hàng sẽ gặp nhiều khó khăn Chất lượng tín dụng trung dài hạn của Ngân hàng cũng bị ảnh hưởng
Môi trường pháp lí
Môi trường pháp lý không chặt chẽ hoặc thiếu chặt chẽ hay thay đổi cũng gây ra ảnh hưởng đến hiệu quả tín dụng của Ngân hàng Môi trường pháp lý ở Việt Nam ta là một vấn đề nổi cộm Ngay trong lĩnh vực Ngân hàng,, hiện nay không có một cơ quan nào chứng thực về tài sản và quản lí quá trình chuyển dịch
sở hữu tài sản thế chấp đất của các thành phần kinh tế quốc doanh; các chính sách thay đổi trong quá trình chuyển đổi cơ chế như việc sắp xếp lại các DN Nhà nước không đồng bộ với việc giải quyết các khoản nợ Ngân hàng cũng như làm cho hoạt động thu hồi vốn kinh doanh của các Ngân hàng cũng bị ảnh hưởng; các chính sách thường hay thay đổi là một bất lợi lớn vì các DN không dự đoán được cơ hội kinh doanh nên không thực hiện được các dự án, hoặc việc thực hiện các dự án không diễn ra theo đúng kế hoạch ảnh hưởng đến quá trình thu hồi nợ của Ngân hàng
Bên cạnh các yếu tố trên còn có một số yếu tố khác cũng ảnh hưởng đến hiệu quả tín dụng của Ngân hàng chẳng hạn môi trường tự nhiên: thiên tai làm cho hoạt động của DN bị đình trệ thậm chí phá sản dẫn tới không trả nợ được cho Ngân hàng Tuy nhiên đây là một yếu tố bất khả kháng, trong trường hợp này các Ngân hàng vẫn có thể tiếp tục tài trợ cho khách hàng để tiếp tục kinh doanh từ đó có thể thu hồi được cả nợ cũ lẫn nợ mới
1.3.3 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tín dụng trung dài hạn 1.3.3.1 Nhóm chỉ tiêu định lượng:
Nhóm chỉ tiêu cho vay trung dài hạn( TDH):
- Mức độ sử dụng vốn TDH= Vốn TDH / Tổng nguồn vốn huy động:
Phản ánh cơ cấu vốn trung dài hạn của Ngân hàng và khả năng cung ứng vốn cho đầu tư phát triển Ngân hàng không có cơ hội mở rộng hoạt động tín dụng nếu tỉ lệ này quá thấp
Trang 23- Doanh số cho vay TDH: phản ánh lượng vốn mà Ngân hàng đã giải
ngân giúp DN trong đầu tư cải tiến máy móc thiết bị, ứng dụng công nghệ mới… Con số này thể hiện xu hướng hoạt động tín dụng trung dài hạn mở rộng hoặc thu hẹp Tuy nhiên việc doanh số cho vay tăng không phải lúc nào cũng là tốt và ngược lại doanh số cho vay thu hẹp không phải lúc nào cũng xấu, vấn đề này còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tiềm lực của Ngân hàng, điều kiện của nền kinh
tế trong một thời kì nhất định
- Mức tăng doanh số cho vay TDH: Trong điều kiện đáp ứng yêu cầu
về giới hạn an toàn do NHTW quy định trong từng thời kì thì mức tăng này càng
lớn càng tốt Chỉ tiêu mức tăng doanh số cho vay trên thị trường/tổng tài sản
thể hiện khả năng sinh lời của các sản phẩm cho vay của NHTM và được dùng
để đánh giá chất lượng cho vay từng thời kì
- Doanh số thu nợ TDH: Phản ánh lượng vốn trung dài hạn mà Ngân
hàng đã được hoàn trả trong một thời kì Doanh số này có thể phản ánh DN do tình hình kinh doanh ổn định mà trả nợ ngân hàng đúng hạn hoặc Ngân hàng nhận thấy những dấu hiệu không lành mạnh trong việc kinh doanh của khách hàng mà tăng cường việc thu hồi vốn
- Dư nợ tín dụng TDH: là chỉ tiêu phản ánh lượng vốn trung dài hạn của Ngân hàng đã được giải ngân tại một thời điểm cụ thể Không thể đánh giá chất lượng tín dụng trung dài hạn cao hay thấp dựa bào chỉ tiêu này mà phải xem xét mức độ an toàn và tính lành mạnh của nó
- Dư nợ tín dụng TDH/ Tổng dư nợ: Cho biết tỉ trọng dư nợ tín dụng trung dài hạn là lớn hay nhỏ trong tổng dư nợ, đồng thời cũng cho biết mối tương quan với dư nợ tín dụng ngắn hạn
- Hiệu quả sử dụng vốn vay: Lợi nhuận hoặc hiệu quả xã hội được tạo
ra từ vốn vay Ngân hàng Thông thường Ngân hàng đánh giá định kì xem xét mức độ hiệu quả này từ đó tìm kiếm các biện pháp hợp lí để quản lí và nâng cao hiệu quả tín dụng
Trang 24- Tỉ lệ nợ quá hạn thông thường( cho các khoản nợ quá hạn dưới
180 ngày):
Chỉ tiêu này có ý nghĩa với ban lãnh đạo Ngân hàng trong việc đốc thúc cán
bộ cho vay thu nợ đúng hạn Tuy vậy, nó chưa phản ánh chính xác chất lượng cho vay bởi có những khoản cho vay do khách quan mà DN không tính toán hợp
lí nguồn tiền mặt để trả nợ đúng hạn nhưng DN có khả năng trả nợ vào một thời gian ngắn sau đó
- Tỉ lệ nợ quá hạn khê đọng:
Áp dụng cho các khoản nợ quá hạn từ 6- 12 tháng Đây là khoản nợ quá hạn có vấn đề với Ngân hàng, thể hiện chất lượng cho vay của khoản vay kém Ngân hàng nếu không có biện pháp xử lý khoản nợ này sẽ phải gánh chịu những tổn thất
- Tỉ lệ nợ quá hạn khó đòi( nợ quá hạn có khả năng mất trắng):
Áp dụng cho nợ quá hạn trên một năm Nếu tỉ lệ này cao, Ngân hàng không những phải gánh chịu rủi ro cho vay cao, Chất lượng cho vay kém mà Ngân hàng còn có nguy cơ mất khả năng thanh toán Việc đòi nợ với những khoản vay này rất khó khăn và tổn thất là điều rất có khả năng xay ra
- Tỉ lệ tổn thất so với tổng nguồn vốn:
Quy mô các khoản nợ tổn thất được thể hiện quá các khoản nợ trình hội đồng cho vay của Ngân hàng xem xét xóa nợ hàng kì Nếu tỉ lệ này quá lớn, chất lượng cho vay cũng không được cải thiện, đồng thời khả năng thanh toán của
Trang 25Ngân hàng cũng bị lung lay, Ngân hàng cần phải duy trì tỉ lệ này ở mức càng gần bằng 0 càng tốt
Nhóm chỉ tiêu mất vốn trung dài hạn:
Tỉ lệ mất vốn = Tổng dư nợ quá hạn TDH được xóa/ Dư nợ bình quân năm x 100%
Rõ ràng tỉ lệ này càng cao thì hiệu quả tín dụng càng thấp Nợ quá hạn được xóa có nguy cơ làm giảm lợi nhuận của Ngân hàng và nếu có quá nhiều nợ quá hạn được xóa có thể làm cho Ngân hàng bị phá sản Các Ngân hàng đang cố gắng giảm đến mức tối đa các khoản nợ khó đòi để làm tăng hệu quả tín dụng trung dài hạn
Chỉ tiêu lợi nhuận:
Lợi nhuận = Lợi nhuận từ tín dụng TDH/ Tổng dư nợ TDH x 100%
Lợi nhuận là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá hiệu quả các khoản tín dụng trung dài hạn bởi xét cho cùng mục đích của NHTM là lợi nhuận hay ít nhất cũng để bù đắp chi phí bỏ ra
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của tín dụng trung dài hạn Chỉ tiêu
đó ngày càng lớn thì càng có lợi cho Ngân hàng Đặc biệt với những Ngân hàng chưa phát triển các dịch vụ thì hoạt động tín dụng là nguồn thu chủ yếu của Ngân hàng
Chỉ tiêu vòng quay vốn tín dụng trung dài hạn:
Vòng quay vốn tín dụng TDH= Doanh số thu nợ tín dụng TDH/ dư nợ TDH bình quân
Vòng quay vốn tín dụng là một chỉ tiêu thường được các NHTM tính toán hàng năm để đánh giá khả năng quản lý vốn tín dụng và chất lượng tín dụng trong việc đáp ứng nhu cầu vay vốn của khách hàng Chỉ tiêu này càng lớn càng tốt, phản ánh được vòng chu chuyển của vốn tín dụng trung dài hạn( thường là một năm) Hệ số này càng cao phản ánh thời gian tồn tại trung bình của các món vay ngắn
Trang 261.3.3.2 Nhóm chỉ tiêu định tính:
Để đánh giá chất lượng tín dụng trung dài hạn, đứng trên giác độ là một Ngân hàng chúng ta cần phải xem xét cả những chỉ tiêu về mặt định tính và mặt định lượng Về mặt định tính, các chỉ tiêu được thể hiện qua một số khía cạnh sau:
Chất lượng tín dụng được thể hiện thông qua khả năng đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng, thủ tục đơn giản, thuận tiện, cung cấp vốn nhanh chóng, kịp thời, an toàn, kì hạn và phương thức thanh toán phù hợp với chu kì kinh doanh của khách hàng
Những Ngân hàng có lịch sử hoạt động lâu đời, cơ sở vật chất trang thiết bị tốt, đồng thời Ngân hàng tham gia vào nhiều hình thức huy động vốn, đa dạng hóa và không ngừng ứng dụng các dịch vụ Ngân hàng mới Ngân hàng có tổng nguồn vốn huy động lớn, ổn định, có lượng khách hàng vay đông đảo chứng tỏ Ngân hàng có uy tín
Chỉ tiêu định tính được thể hiện qua tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân, các dự án vay vốn sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả kinh tế cao Không những thế hiệu quả tín dụng còn được thể hiện ở tình trạng xóa đói giảm nghèo, sự lành mạnh của nền kinh tế, sự an toàn của hệ thống Ngân hàng
Ngoài ra hiệu quả tín dụng còn được xem xét thông qua tình hình hoạt động kinh doanh của Ngân hàng, tình hình khai thác tiềm năng của Ngân hàng trên địa bàn hoạt động
1.3.4 Ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả tín dụng trung dài hạn
Trong điều kiện nền kinh tế nước ra đang từng bước chuyển sang nền kinh
tế thị trường, nâng cao hiệu quả tín dụng trung dài hạn sẽ đưa lại nhiều lợi ích cho Ngân hàng, cho khách hàng và cho cả nền kinh tế
1.3.4.1 Đối với Ngân hàng:
Hiệu quả tín dụng trung dài hạn tốt làm tăng khả năng cung cấp dịch vụ của các NHTM do tạo thêm nguồn vốn từ việc tăng được vòng quay vốn tín
Trang 27dụng và thu hút được nhiều khách hàng bởi các hình thức của sản phẩm, dịch vụ tạo ra một hình ảnh về biểu tượng và uy tín của Ngân hàng và sự trung thành của khách hàng
Hiệu quả tín dụng trung dài hạn tốt làm tăng khả năng sinh lời của sản phẩm, dịch vụ Ngân hàng do giảm được sự chậm trễ, giảm chi phí nghiệp vụ, chi phí quản lý, các chi phí thiệt hại do không thu hồi được vốn vay đã cho vay Mặt khác nó còn đảm bảo khả năng thanh toán và lợi nhuận của Ngân hàng, tạo thế mạnh cho Ngân hàng trong cạnh tranh, tạo thuận lợi cho sự tồn tại lâu dài của Ngân hàng vì chất lượng tín dụng tốt tạo cho Ngân hàng có nhiều khách hàng trung thành và những khoản lợi nhuận để bổ sung vốn đầu tư Bên cạnh đó, hiệu quả tín dụng tốt giúp cho Ngân hàng củng cố các mối quan hệ xã hội bằng những điều kiện tốt nhất
Có thể nói, với những ưu thế trên việc củng cố và tăng cường hiệu quảtín dụng trung dài hạn của các NHTM là sự cần thiết khách quan vì sự tồn tại và phát triển lâu dài của các NHTM
1.3.4.2 Đối với khách hàng:
Được đáp ứng kịp thời và đầy đủ nhu cầu vay vốn với thời gian và lãi suất hợp lí sẽ giúp DN thay đổi cơ chế mới, mở rộng hoạt động sản xuất, làm tăng doanh thu, tăng lợi nhuận của DN
1.3.4.3 Đối với nền kinh tế:
Xét trên phương diện toàn nền kinh tế, hoạt động tín dụng trung dài hạn của các Ngân hàng sẽ tác động tốt tới một số lĩnh vực kinh tế chính trị xã hội Phát triển cho vay tín dụng trung dài hạn sẽ giảm bớt đáng kể các khoản bao cấp từ Ngân sách cho đầu tư sản xuất kinh doanh Tín dụng Ngân hàng còn góp phần đẩy mạnh quá trình tích tụ và tập trung lớn của nền kinh tế Không những thế hiệu quả tín dụng góp phần kìm chế lạm phát, ổn định tiền tệ, tăng trưởng kinh
tế, tăng uy tín quốc gia Ngoài ra tín dụng trung dài hạn của Ngân hàng còn góp phần giải quyết nạn thất nghiệp và hạn chế các tệ nạn xã hội khác
Trang 28Tóm tắt chương I
Trong chương này em xin trình bày về:
- Khái niệm, chức năng, các nghiệp vụ của Ngân hàng thương mại
- Khái niệm, phân loại tín dụng Ngân hàng
- Khái niệm, đặc trưng, mục đích, phân loại, vai trò, quy trình cho vay của tín dụng trung dài hạn
- Khái niệm, các nhân tố ảnh hưởng, các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động tín dụng trung dài hạn
Mục tiêu của chương I: là đưa ra cái nhìn cơ bản nhất về Ngân hàng
thương mại, tín dụng Ngân hàng, tín dụng trung dài hạn và hiệu quả hoạt động tín dụng trung dài hạn của Ngân hàng thương mại trong nền kinh tế hiện nay
Trang 29CHƯƠNG II THỰC TRẠNG CÔNG TÁC CHO VAY TRUNG DÀI HẠN TẠI NGÂN HÀNG TMCP SÀI GÒN THƯƠNG TÍN CHI NHÁNH QUẢNG TRỊ
2.1 Khái quát về Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương tín CN QTrị
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng
NHTM cổ phần Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) được thành lập căn cứ giấy phép thành lập số 005/GP-UB do UBND thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 03/01/1992 và giấy phép hoạt động 006/NH-GP do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cấp ngày 05/12/1991 trên cơ sở chuyển thể Ngân hàng phát triển Kinh tế
Gò Vấp và hợp nhất 3 Hợp tác xã tín dụng Tân Bình - Thành Công - Lữ Gia Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín khai trương hoạt động vào ngày 21/12/1991 với số vốn điều lệ chỉ 3 tỷ đồng Ngân hàng ra đời trong thời kỳ cực
kì khó khăn về tình hình kinh tế và pháp luật bấy giờ, trải qua nhiều thăng trầm
và nhiều khó khăn Sacombank đã trở thành một trong những ngân hàng có uy tín, làm ăn có hiệu quả nhất tại TP.HCM cũng như trong cả nước Hiện nay, Sacombank đã có sự tham gia góp vốn của 3 cổ đông nước ngoài: Công ty Tài chính Quốc tế (IFC) trực thuộc Ngân hàng Thế giới (World Bank), Quỹ đầu tư Dragon Financial Holdings (Anh Quốc), Ngân hàng ANZ(NH liên doanh của Úc
và New Zealand) Ngoài 3 cổ đông nước ngoài nói trên và các cổ đông là các nhà kinh doanh trong nước, Sacombank là Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần có
số lượng cổ đông đại chúng lớn nhất Việt Nam.
Với sứ mệnh tối đa hóa giá trị cho khách hàng, nhà đầu tư và đội ngũ nhân viên, đồng thời thể hiện cao nhất trách nhiệm đối với xã hội và cộng đồng, Sacombank – chi nhánh Quảng trị chính thức đi vào hoạt động vào 10/04/2006, được chuyển đổi từ phòng giao dịch Đông Hà chi nhánh cấp 2 Quảng Trị, trụ sở đặt tại 43 Trần Hưng Đạo, thị xã Đông Hà với 5 phòng giao dịch đặt tại các trung tâm kinh tế trọng điểm trong tỉnh, bao gồm:
Trang 30 Phòng giao dịch Vĩnh Linh
Phòng giao dịch Triệu Hải
Phòng giao dịch Đông Hà
Phòng giao dịch Hướng Hóa
Phòng giao dịch Lao Bảo
2.1.2 Chức năng và nhiệm vụ chủ yếu của Ngân hàng
Tổ chức tiếp nhận việc nhận vốn, huy động vốn bằng nội tệ và ngoại tệ từ dân cư và các tổ chức kinh tế dưới mọi hình thức: Nhận tiền gửi có kì hạn, không
kì hạn, phát hành trái phiếu, kì phiếu, chứng chỉ tiền gửi…
Cho vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn với mọi thành phần kinh tế, cho vay tài trợ xuất nhập khẩu, hùn vốn liên doanh, liên kết, hợp tác đồng tài trợ
Bảo lãnh dự thầu, thực hiện hợp đồng, bảo lãnh công trình, ứng trước, thanh toán, tái cấp vốn trong và ngoài nước
Kinh doanh ngoại hối, thanh toán trực tiếp qua mạng trong nước và quốc tế(SWIFT), thanh toán L/C hàng xuất, nhập khẩu, chi trả kiều hối và các dịch vụ Ngân hàng khác
Chấp hành chế độ kho quỹ, đảm bảo an toàn tiền mặt, vàng bạc kim khí quý, đá quý, chứng từ có giá trị, ấn chỉ quan trọng
Làm Ngân hàng đại lý, Ngân hàng phục vụ đầu tư phát triển( ủy thác) từ nguồn vốn của chính phủ, các tổ chức tài chính, tiền tệ, các tổ chức xã hội toàn thể, cá nhân trong và ngoài nước theo quy định của luật Ngân hàng Nhà nước và luật các tổ chức tín dụng
Đại diện cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương tín những vấn đề liên quan đến việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của ngành tại địa phương
Trang 312.1.3 Cơ cấu tổ chức quản lý của Ngân hàng
GIÁM ĐỐC CHI NHÁNH
PHÒNG DỊCH VỤ KHÁCH HÀNG
PHÒNG HỖ TRỢ KINH DOANH
BỘ PHẬN QUẢN LÝ TÍN DỤNG
BỘ PHÂN QUỸ
BỘ PHẬN KẾ TOÁN
BỘ PHẬN THANH TOÁN QUỐC TẾ
BỘ PHẬN DỊCH VỤ KHÁCH HÀNG
BỘ PHẬN TIẾP THỊ
BỘ PHẬN THẨM ĐỊNH
PHÒNG GIAO DỊCH
PHÒNG HÀNH CHÍNH
PHÒNG KẾ TOÁN
VÀ QUỸ PHÓ GIÁM ĐỐC CHI NHÁNH
Trang 322.1.4 Chức năng nhiệm vụ của từng phòng ban
Tại Ngân hàng Sacombank CN Quảng Trị, Giám đốc là người chịu trách nhiệm cao nhất mọi hoạt động của chi nhánh Trong công tác chuyên môn Giám đốc đã phân công cụ thể chức năng quyền hạn cho Phó giám đốc, mỗi Phó giám đốc được giao nhiệm vụ cụ thể trong từng lĩnh vực như: tín dụng, thanh toán quốc tế, ngân quỹ
Quan điểm, thái độ lãnh đạo của Sacombank được thể hiện qua hàng loạt các quy chế về tín dụng, quy chế về ngân quỹ, quy chế về hạch toán kế toán Đây thực chất là những thủ tục kiểm soát và chính sách của Sacombank, tạo môi trường thuận lợi cho các chi nhánh và cá nhân nhận thức đúng đắn và chấp hành nghiêm túc những hướng dẫn, quy định, công văn Mặt khác điều này cho thấy
sự quan tâm hàng đầu của Ban lãnh đạo Ngân hàng về tình hình tài chính trong lĩnh vực hoạt động của mình
2.1.4.1 Phòng dịch vụ khách hàng
Thực hiện công tác tiếp thị và phát triển khách hàng( cả doanh nghiệp
và cá nhân), bán sản phẩm và dịch vụ bao gồm: xây dựng, triển khai kế hoạch bán sản phẩm đối với khách hàng, tư vấn, giải đáp cho khách hàng về quy trình
sử dụng sản phẩm dịch vụ của Ngân hàng
Công tác tín dụng: thực hiện theo quy trình cấp tín dụng bao gồm tiếp xúc khách hàng, phân tích thông tin liên quan đến thẩm định, cấp tín dụng, thực hiện giải ngân, kiểm tra đôn đốc việc trả nợ của khách hàng
Phân loại rủi ro, rà soát lập báo cáo phân tích, đề xuất các biện pháp phòng ngừa, xử lí rủi ro
Thực hiện các giao dịch với khách hàng thông qua sự hỗ trợ của phòng
Hỗ trợ kinh doanh tại quầy giao dịch
2.1.4.2 Phòng hỗ trợ kinh doanh
Là phòng trực tiếp hỗ trợ cho phòng Dịch vụ khách hàng Phòng bao gồm: Bộ phận quản lí tín dụng, bộ phận thanh toán quốc tế, bộ phận dịch vụ khách hàng
Trang 33 Trực tiếp thực hiện nghiệp vụ theo phạm vi được ủy quyền, đảm bảo đúng các quy định của pháp luật và các quy trình/ quy định của Sacombank Bao gồm: mở tài khoản tiền gửi và xử lí giao dịch tài khoản theo yêu cầu của khách hàng, các giao dịch nhận tiền gửi, rút tiền, thanh toán , chuyển đổi , mua sắm, mua bán vàng bạc ngoại tệ, phát hành thẻ, chuyển tiền trong nước theo hạn mức được giao, đối chiếu xác nhận số dư tiền gửi, số dư tiền vay, thực hiện giải ngân vốn vay cho khách hàng trên cơ sở hồ sơ giải ngân được phê duyệt
Thực hiện tác nghiệp trực tiếp các giao dịch tài trợ thương mại cho khách hàng( thông qua ủy quyền của phòng Dịch vụ khách hàng) Phối hợp với các phòng ban khác để tiếp thị, tiếp cận khách hàng, giới thiệu và bán các sản phẩm về tài trợ thương mại Tiếp thu, tìm hiểu nhu cầu sử dụng dịch vụ của khách hàng, trước hết là dịch vụ liên quan đến nghiệp vụ đối ngoại, tư vấn cho khách hàng về các giao dịch đối ngoại, hợp đồng thương mại quốc tế
2.1.4.3 Phòng kế toán và quỹ
Đề xuất tham mưu việc cho Giám đốc về công tác tài chính, thực hiện công tác hạch toán, quản lí giám sát, xây dựng chế độ tài chính Đảm bảo công tác hậu kiểm, kiểm soát, lưu trữ bảo quản chứng từ, sổ sách kế toán theo quy định Chịu trách nhiệm về số liệu báo cáo tài chính, là đầu mối quản lí số liệu kế toán cung cấp thông tin hoạt động của chi nhánh
Trực tiếp thực hiện nghiệp vụ về quản lí kho và xuất nhập quỹ: quản lí kho tiền và quỹ nghiệp vụ( tiền mặt, hồ sơ tài sản thế chấp, cầm cố chứng từ có giá, vàng bạc, đá quý) của khách hàng và của Ngân hàng; Quản lí quỹ( thu/chi),(xuất/nhập); phối hợp chặt chẽ với phòng Dịch vụ khách hàng và phòng
hỗ trợ kinh doanh thực hiện nghiệp vụ thu chi tiền mặt tại quầy đảm bảo phục vụ thuận tiện, an toàn, hiệu quả cho khách hàng
Trang 342.1.4.4 Phòng hành chính
Phổ biến, quán triệt các văn bản quy định, hướng dẫn quy trình nghiệp
vụ liên quan đến công tác tổ chức, quản lí nhân sự và phát triển nguồn nhân lực của Nhà nước và của Sacombank đến toàn bộ nhân viên trong chi nhánh
Thực hiện công tác văn thư theo quy định: quản lí, lưu trữ hồ sơ, tài liệu, sách báo, công văn đi- đến theo đúng quy định, quy chế bảo mật Kiểm tra, giám sát các hoạt động liên quan trong chi nhánh
2.2 Tình hình hoạt động của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương tín trong ba năm gần đây ( 2008, 2009, 2010)
2.2.1 Đánh giá về tình hình kinh tế Việt Nam trong 3 năm vừa qua
Sau hơn 3 năm gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới ( WTO), tình hình kinh tế Việt Nam đã có nhiều hướng chuyển biến đáng kể Việt Nam đã tận dụng được nhiều cơ hội, tận dụng được nhiều hiệu ứng tốt do WTO mang lại, thể hiện qua tăng trưởng của đầu tư và xuất nhập khẩu, cũng như vị thế trên trường quốc
tế ngày càng được nâng cao Sự ổn định về các mặt kinh tế- xã hội trong giai đoạn 2007 – 2009 là yếu tố quan trọng giúp nền kinh tế Việt Nam đạt được những thành tựu phát triển trong thời gian qua Mặc dù mức tăng trưởng đó có
sự giảm sút do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế, tài chính, ngân hàng toàn cầu, nhưng vẫn duy trì được chuỗi tăng trưởng kinh tế ở mức cao liên tục của giai đoạn trước Ba năm 2007, 2008, 2009 nền kinh tế đạt được tốc độ tăng trưởng lần lượt là 8,46%, 6,18%, 5,2% Mức tăng trưởng này được các tổ chức quốc tế đánh giá là ở mức cao, là thành tựu hết sức to lớn nếu xét trong điều kiện khó khăn của kinh tế thế giới thời gian qua Tăng trưởng kinh tế được duy trì, nhờ đó thu nhập bình quân đầu người đã được cải thiện đáng kể Ba năm sau khi gia nhập WTO, GDP bình quân đầu người đạt tương ứng là 835USD, 1034 USD
và 1109USD Năm 2010 là một năm đáng nhớ đối với nền kinh tế Việt nam, đan xen giữa những thành công trong điều kiện khó khăn là những vấn đề bộc lộ đòi hỏi phải giải quyết Trong bối cảnh khó khăn của kinh tế toàn cầu, dù nội lực nền
Trang 35kinh tế còn chưa mạnh, Việt Nam vẫn đạt tốc độ tăng trưởng 6,78%, cao hơn chỉ tiêu kế hoạch đề ra (6,5%) Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2010, con số này ước tăng 14% so năm trước và cao hơn kế hoạch năm (12%) Giá trị sản xuất toàn ngành nông, lâm, thủy sản cả năm 2010 ước tăng 4,69% so năm trước, trong đó nông nghiệp tăng 4,24%, lâm nghiệp tăng 4,6%, thủy sản tăng 6,05% Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tính chung cả năm
2010 ước đạt hơn 1.561,6 nghìn tỷ đồng, tăng 24,5% so với năm 2009 Thu ngân sách Nhà nước tính từ đầu năm đến ngày 15/12 ước đạt 504,4 nghìn tỷ đồng, bằng 109,3% dự toán năm Tổng vốn đầu tư toàn xã hội năm 2010 ước đạt 830,3 nghìn tỷ đồng, tăng 17,1% so năm 2009 Vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước ước thực hiện cả năm 2010 đạt 141,6 nghìn tỷ đồng, bằng 110,4% kế hoạch năm Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) năm 2010 thực hiện đạt 11 tỷ USD, tăng 10% so năm 2009 Tổng kim ngạch xuất khẩu tháng 12 ước đạt 7,1 tỷ USD, cả năm 2010 ước đạt hơn 71,6 tỷ USD, tăng 25,5% so năm 2009 và gấp hơn bốn lần so chỉ tiêu kế hoạch đã được Quốc hội thông qua (hơn 6%) Giá cả nhiều mặt
hàng xuất khẩu được cải thiện góp phần tăng trưởng xuất khẩu cả năm
2.2.2 Ảnh hưởng của tình hình kinh tế lên hoạt động Ngân hàng
Năm 2009, mặc dù phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức do tác động tiêu cực từ cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, nhưng dưới
sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, sự nỗ lực cố gắng của toàn Ngành, hoạt động ngân hàng năm 2009 đã đạt được những kết quả đáng khả quan, cụ thể là: Điều hành chính sách tiền tệ, tỷ giá phù hợp với mục tiêu quản lý, điều hành của Chính phủ; Hành lang pháp lý về tiền tệ và hoạt động ngân hàng tiếp tục được hoàn thiện; Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng được cộng đồng quốc tế đánh giá cao; Hệ thống các TCTD hoạt động an toàn và tiếp tục phát triển; Thanh toán không dùng tiền mặt, công nghệ và dịch vụ ngân hàng được mở rộng Các TCTD nhìn chung đã có nhiều cố gắng trong việc chấp hành các chủ trương, chỉ đạo của Chính phủ và NHNN, nhất là trong việc thực hiện cơ chế cho
Trang 36vay hỗ trợ lãi suất; chủ động khắc phục khó khăn, góp phần thực hiện có hiệu quả mục tiêu chung của toàn Ngành Đặc biệt, các ngân hàng thương mại nhà nước tiếp tục thể hiện được vai trò chủ đạo, tích cực và tiên phong trong việc chấp hành sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, của NHNN và phát huy tốt vai trò dẫn dắt thị trường tiền tệ Trong năm 2010, để thực hiện có hiệu quả các mục tiêu do Quốc hội và Chính phủ đề ra, NHNN định hướng, mục tiêu và giải pháp lớn về điều hành chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng như sau: Tập trung hoàn thiện thể chế về tiền tệ và hoạt động ngân hàng, trọng tâm là hoàn thiện 2
dự thảo Luật Ngân hàng Nhà nước và Luật Các tổ chức tín dụng để trình Quốc hội Khoá XII thông qua tại kỳ họp thứ 7; Tiếp tục thực hiện có hiệu quả các chính sách hỗ trợ lãi suất của Chính phủ; Điều hành chính sách tiền tệ một cách thận trọng, linh hoạt theo nguyên tắc thị trường, đáp ứng mục tiêu tăng trưởng, kiềm chế lạm phát do Quốc hội đề ra; Ổn định thị trường ngoại hối, thị trường vàng trong nước; Tăng cường năng lực, nâng cao chất lượng công tác thống kê,
dự báo tiền tệ và cán cân thanh toán quốc tế; Đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt; Kiểm soát chặt chẽ nợ quá hạn, đảm bảo an toàn hệ thống các TCTD Trong tháng 8/2010, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt và thận trọng, đảm bảo thực hiện mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, không
để lạm phát cao và đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế khoảng 6,5% Tình trạng vay
nợ tăng mạnh tại Việt Nam có ảnh hưởng đến hệ thống ngân hàng, các kích thích tài chính làm tăng thâm hụt tới 9% GDP Tổng tín dụng ước tính tăng 38% trong năm 2009, nhanh hơn nhiều so với 27% tốc độ tăng tiền gửi - do đó đẩy tỷ lệ cho vay trên tiền gửi tới khoảng 150% Tỷ lệ tăng tín dụng giảm còn 10,3% trong tháng 6/2010 Chính sách tài khoá thắt chặt vào nửa cuối năm 2008 đóng vai trò trọng yếu trong việc kiềm chế áp lực của thị trường đang quá nóng, nhưng những kích thích mới sau đó đã giúp chống lại sự suy thoái toàn cầu – bao gồm sự cắt giảm 30% thuế cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, 4% hỗ trợ lãi suất cho một số khoản vay, và tăng chi phí cơ sở hạ tầng Hệ thống các tổ chức tín dụng(TCTD)
Trang 37đã phát triển đa dạng về hình thức sở hữu và loại hình dịch vụ Quy mô và chất lượng hoạt động của các TCTD ngày càng tăng; năng lực tài chính, năng lực quản trị điều hành, năng lực cạnh tranh, trình độ ứng dụng công nghệ thông tin ngày càng được nâng lên Các TCTD đã cơ bản thực hiện tốt vai trò trung gian, huy động và phân bổ nguồn vốn có hiệu quả, cơ bản đáp ứng được nhu cầu vốn
và tiện ích của nền kinh tế và xã hội Nhờ đó, hoạt động tín dụng ngân hàng đã đóng góp tích cực cho việc duy trì sự tăng trưởng kinh tế với nhịp độ cao trong nhiều năm qua
2.2.3 Tình hình hoạt động của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương tín trong 3 năm 2008, 2009, 2010
2.2.3.1 Nghiệp vụ huy động vốn
Nguồn vốn kinh doanh của Ngân hàng có thể hình thành từ nhiều nguồn khác nhau như: Vốn điều lệ, vốn vay, vốn huy động, vốn tài trợ, lợi nhuận để lại… song cơ bản nhất và quan trọng nhất vẫn là nguồn vốn huy động- nó minh chứng cho khả năng tồn tại và chức năng trung gian tài chính của một Ngân hàng Làm thế nào để tạo ra một chính sách thu hút vốn, tạo tiền đề cho quá trình đầu tư ngắn hạn, trung hạn, dài hạn đạt được hiệu quả cao luôn là mục tiêu được đặt lên hàng đầu của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương tín Quảng Trị Trong nhiều năm qua, sự vận hành của nền kinh tế thị trường đã tạo ra một hệ quả tất yếu đó là có sự cạnh tranh mạnh mẽ trong hầu khắp các ngành nghề kinh doanh cũng như giữa các đơn vị, tổ chức kinh tế Hoạt động ngân hàng cũng không nằm ngoài ảnh hưởng của quy luật này, đặc biệt khi nó kinh doanh một đối tượng khác với mọi ngành nghề kinh tế là tiền tệ Trong những năm qua, Sacombank Quảng Trị đã luôn chú trọng trong việc hoạch định chiến lược khách hàng, chiến lược huy động vốn trên địa bàn thành phố
Trang 38Bảng 2.1: Cơ cấu huy động vốn tại chi nhánh
Số tiền
Tăng trưởng (%)
Số tiền
Tăng trưởng (%) Tổng nguồn vốn
đến 12 tháng 292.826 14,50% 469.918 60,48% 700.004 48,96% 2.2 Từ 12 tháng trở
lên 87.681 2,00% 89.137 1,66% 108.828 22,09%
3 Phân theo loại tiền gửi 380.507 6,00% 559.055 46,92% 808.832 44,68%
3.1 Đồng Việt Nam 259.168 8,00% 322.229 24,33% 459.300 42,54% 3.2 Ngoại tệ( quy
đổi VNĐ) 121.339 2,00% 236.826 95,18% 349.532 47,59%
4 Phân theo hình thức huy động 380.507 6,00% 559.055 46,92% 808.832 44,68%
4.1 Tiền gửi tiết kiệm 289.185 12,00% 476.275 64,70% 712.345 49,57% 4.2 Tiền gửi của
các tổ chức kinh tế 91.322 5,32% 82.780 -9,35% 96.487 16,56%
(Nguồn: Báo cáo tình hình hoạt động kinh doanh 2008-2009-2010)
Tổng nguồn vốn tăng trưởng mạnh và liên tục, cuối năm 2008 tổng vốn chỉ
là 308.507 triệu đồng, sang năm 2009 tăng 46,92% lên 559.055 triệu đồng, kết thúc năm 2010 số vốn huy động được của Chi nhánh đã tăng đạt 808.832 triệu
Trang 39đồng Trong đó, lượng vốn huy động được từ khách hàng là dân cư chiếm đa số, thông thường trên 60% và với mục đích gửi tiết kiệm Trong khi chỉ tiêu đó từ các tổ chức kinh tế chỉ chiếm xấp xỉ 40%
Tại chi nhánh, phần lớn khách hàng gửi tiền không kì hạn hoặc kì hạn dưới
12 tháng thay vì gửi tiền với kì hạn trên 1 năm Từ bảng số liệu trên có thể thấy, lượng vốn ngắn hạn tăng mạnh qua 3 năm, năm 2009 tăng 60,48% so với năm
2008, và năm 2010 lại tăng 48,96% so với năm 2009 Trong khi vốn trung dài hạn chỉ tăng nhẹ và duy trì với tỉ trọng thấp hơn vốn ngắn hạn Đồng Việt Nam vẫn là loại tiền được sử dụng chủ đạo với mục đích huy động vốn tại chi nhánh Tuy nhiên vào năm 2009, lượng ngoại tệ huy động được tăng rất mạnh (95,18%
So với những ngày mới thành lập, nguồn vốn của chi nhánh đã tăng lên nhiều lần
So với mức tăng trưởng vốn của năm 2008, hoạt động huy động vốn trong năm 2009, 2010 của Sacombank đã có những bước phát triển cả về quy mô và loại hình, hoàn thành vượt mức kế hoạch được giao, đặc biệt trong điều kiện kinh tế chung của toàn cầu có những biến động rất lớn đối với những tổ chức tín dụng cả trong và ngoài nước
Sự thành công trong việc huy động vốn này bên cạnh việc đa dạng hóa sản phẩm, Sacombank cũng thường xuyên mở rộng quan hệ với các tổ chức, định
Trang 40chế tài chính trong và ngoài nước nhằm tiếp cận nguồn vốn mới, tăng lượng vốn huy động cho ngân hàng Ngoài ra Ngân hàng đã có những cố gắng không nhỏ trong từng bước thay đổi phong cách giao dịch với khách hàng, đồng thời vận dụng lãi suất một cách linh hoạt phù hợp với cơ chế thị trường Nhờ vậy nguồn vốn tiền gửi dân cư tăng trưởng nhanh, từ đó tạo thể chủ động cân đối nguồn vốn vào đầu tư tín dụng, nhất là đầu tư trung và dài hạn
2.2.3.2 Nghiệp vụ tín dụng
Song song với việc tạo ra một chính sách huy động vốn hiệu quả, khả năng hoạt động tín dụng và thu hồi vốn cũng luôn là mối quan tâm của một Ngân hàng Khác với hoạt động tín dụng của NHNN Việt Nam, hoạt động tín dụng của Sacombank Quảng Trị và các Ngân hàng thương mại( NHTM) khác là mục tiêu lợi nhuận dựa trên nguyên tắc “ đi vay để cho vay” Do đó chất lượng tín dụng được các NHTM đặt lên hàng đầu Trong quá trình cho vay tại chi nhánh các món vay đều được áp dụng các quy trình nghiệp vụ một cách đúng đắn, đảm bảo hiệu quả và chất lượng tín dụng
Sacombank Quảng Trị đáp ứng như cầu vay vốn của mọi thành phần kinh
tế, các cá nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác Chi nhánh đặc biệt chú trọng tới vấn đề cấp tín dụng cho cá nhân, hộ gia đình nghèo, tạo điều kiện cho những khách hàng này có vốn để sản xuất kinh doanh Qua đó, góp phần tích cực xóa đói giảm nghèo, dần dần nâng cao chất lượng đời sống của một bộ phận dân cư Đến với Sacombank Quảng Trị, khách hàng có thể lựa chọn một trong những phương thức cho vay đa dạng phù hợp với nhu cầu và dự kiến hoạt động kinh doanh của mình Chi nhánh sẽ dựa trên những điều kiện vay vốn như năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự của khách hàng, khả năng tài chính đảm bảo trả
nợ trong thời hạn cam kết, mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp để quyết định cấp tín dụng hay không Thủ tục pháp lý trong cấp vốn cho khách hàng luôn đảm bảo cho việc nắm bắt thông tin cần thiết và đầy đủ về khách hàng, tạo thuận lợi