1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng tại nhct khánh hòa

108 119 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 903,77 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực ra quan niệm này là hoàn toàn sai lầm, bởi khi cho vay phải c hú ý đến tình hình hoạt động và khả năng tài chính của công ty thì đó mới là vấn đề quan trọng nhất, còn thế chấp chỉ l

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Ngân hàng là một trong những mắt xích quan trọng cấu thành nên sự vận động nhịp nhàng của nền kinh tế Cùng với các ngành kinh tế khác, ngân hàng có nhiệm vụ tham gia bình ổn thị trường tiền tệ, kiềm chế và đẩy lùi lạm phát, tạo công

ăn việc làm cho người lao động, giúp đỡ các nhà đầu tư, phát triển thị trường vốn, thị trường ngoại hối, tham gia thanh toán và hỗ trợ thanh toán

Trong hoạt động của ngân hàng thì hoạt động tín dụng là một lĩnh vực quan trọng, quan hệ tín dụng là quan hệ xương sống, quyết định mọi hoạt động kinh tế trong nền kinh tế quốc dân và nó còn là nguồn sinh lợi chủ yếu, quyết định sự tồn tại, phát triển của ngân hàng Nhưng hoạt động tín dụng lại mang đến nhiều rủi ro nhất ngay cả đối với các khoản vay có tài sản cầm cố, thế chấp cũng được xác định

có hệ số rủi ro là 50% Trên thực tế, nhiều nhân viên ngân hàng quan niệm cho vay

có tài sản thế chấp và không vượt quá tỷ lệ quy định là an toàn nhất Thực ra quan niệm này là hoàn toàn sai lầm, bởi khi cho vay phải c hú ý đến tình hình hoạt động

và khả năng tài chính của công ty thì đó mới là vấn đề quan trọng nhất, còn thế chấp chỉ là một trong những điều kiện cần phải có để đảm bảo khả năng thu hồi khi khách hàng không trả được nợ cho ngân hàng

Trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, sự quản lý kinh tế,

sự chuyển đổi cơ chế quản lý trong lĩnh vực ngân hàng đang diễn ra hết sức phong phú và đa dạng Hoà cùng với sự đổi mới của toàn bộ hệ thống ngân hàng, Ngân Hàng Công Thương (NHCT) Khánh Hòa trong những năm qua đã rất chú trọng tới hoạt động tín dụng và đang từng bước hoàn thiện trong hoạt động kinh doanh của mình, để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế

Trong quá trình thực tập tại NHCT Khánh Hòa, được sự giúp đỡ và khuyến khích của các thầy cô giáo trong khoa, các cô chú, anh chị trong ngân hàng, em đã nghiên cứu, học tập, tìm hiểu và thực hiện đề tài: “Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng tại NHCT Khánh Hòa” để viết luận văn tốt nghiệp của mình

Luận văn tốt nghiệp được chia thành 3 chương:

Trang 2

Chương I: Cơ sở lý luận

Chương II: Thực trạng hoạt động tín dụng tại NHCT Khánh Hòa

Chương III: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng tại NHCT Khánh Hòa

Để hoàn thành đề tài này em đã được các cô chú, anh chị trong ngân hàng, nhất là mọi người phòng Khách hàng Doanh Nghiệp đã rất nhiệt tình giúp đỡ em trong suốt khoảng thời gian thực tập, em xin chân thành cảm ơn Đồng thời em cũng cảm ơn cô hướng đẫn thực tập: TS.GVC Nguyễn Thị Hiển đã tận tình chỉ dẫn em trong suốt quá trình làm đề tài

Tuy vậy, do kiến thức và thời gian thực tập có hạn sẽ khó tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong quý Thầy cô và các bạn đóng góp ý kiến để đề tài này được hoàn thiện hơn

Nha Trang, ngày 07 tháng 07 năm 2009

Sinh viên thực hiện

Hồ Bảo Quỳnh Nhung

Trang 3

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 Khái niệm về tín dụng

Tín dụng, theo tiếng Latinh gọi là creditium tiếng Anh gọi là credit, có nghĩa

là tin tưởng và tín nhiệm Theo ngôn ngữ dân gian Việt nam, tín dụng có nghĩa là sự vay mượn Về mặt tài chính, tín dụng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn

từ người sở hữu sang cho người sử dụng trong một thời hạn nhất định với một khoản chi phí nhất định Một quan hệ được xem là quan hệ tín dụng khi nào chứa đựng đầy đủ ba nội dung:

- Có sự chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ người sở hữu sang cho người

sử dụng

- Sự chuyển nhượng này có thời hạn

- Sự chuyển nhượng này có kèm theo chi phí

1.1.1 Hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng công thương

Ngân hàng được cấp tín dụng tổ chức, cá nhân dưới các hình thức cho vay, chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá khác, bảo lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Trong các hoạt động cấp tín dụng, cho vay là hoạt động quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn nhất

Cho vay: Ngân hàng cho các tổ chức cá nhân vay vốn dưới các hình thức sau:

 Cho vay ngắn hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và đời sống

 Cho vay trung hạn, dài hạn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và đời sống

Bảo lãnh: Ngân hàng bảo lãnh vay, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh thực hiện

hợp đồng, bảo lãnh đấu thầu và các hình thức bảo lãnh ngân hàng khác bằng uy tín

và bằng khả năng tài chính của mình đối với người nhận bảo lãnh

Trang 4

Chiết khấu: Ngân hàng chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn

hạn khác đối với tổ chức, cá nhân và có thể tái chiết khấu các thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác đối với các tổ chức tín dụng khác

Cho thuê tài chính: Ngân hàng có ho ạt động cho thuê tài chính và đ ã thành

lập công ty cho thuê tài chính riêng

1.1.2 Các loại tín dụng ngân hàng

 Dựa vào mục đích của tín dụng:

 Cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh công thương nghiệp

 Cho vay tiêu dùng cá nhân

 Cho vay bất động sản

 Cho vay nông nghiệp

 Cho vay kinh doanh xuất nhập khẩu

 Dựa vào thời hạn tín dụng:

 Cho vay ngắn hạn: khoản cho vay có thời hạn cho vay đến 12 tháng

 Cho vay trung hạn: khoản cho vay có thời hạn cho vay từ trên 12 tháng đến 60 tháng

 Cho vay dài hạn: khoản cho vay có thời hạn cho vay trên 60 tháng

 Dựa vào mức độ tín nhiệm của khách hàng:

 Cho vay có bảo đảm:

 Cho vay vốn không có bảo đảm:

 Dựa vào phương thức cho vay

 Phương thức cho vay từng lần

 Phương thức cho vay theo hạn mức cho vay

 Phương thức cho vay theo dự án đầu tư:

 Phương thức cho vay trả góp

 Dựa vào phương thức hoàn trả nợ vay:

 Cho vay chỉ có một kỳ hạn trả nợ hay còn gọi là cho vay trả nợ một lần khi đáo hạn

Trang 5

 Cho vay có nhiều kỳ hạn trả nợ hay còn gọi là cho vay trả góp

 Cho vay trả nợ nhiều lần nhưng không có kỳ hạn nợ cụ thể mà tùy khả năng tài chính của mình người đi vay có thể trả nợ bất cứ lúc nào

1.2 Bản chất và chức năng của tín dụng

1.2.1 Bản chất của tín dụng

Tín dụng thể hiện ra bên ngoài là sự chuyển giao quyền sử dụng tài sản giữa người cho vay và người đi vay, nhưng thực chất bên trong của nó chứa đựng mối quan hệ giữa người cho vay và người đi vay Chính mối quan hệ này quyết định bản chất của tín dụng

1.2.2 Chức năng của tín dụng

1.2.2.1 Chức năng phân phối lại vốn

Trong nền kinh tế thị trường, vấn đề hiệu quả tài chính được đặt lên hàng đầu

và việc tính toán sử dụng vốn bao giờ cũng gắn liền với chi phí, kể cả chi phí cơ hội

Một khi vốn tạm thời nhàn rỗi chưa được sử dụng thì sẽ lãng phí và tốn kém chi phí cơ hội do vốn chưa được sử dụng vào mục tiêu sinh lời Khi ấy, vốn cần được đem cho vay hay phân phối lại vốn từ nơi tạm thời nhàn rỗi sang nơi thiếu hụt vốn

Ngược lại, khi thiếu hụt vốn, cần có sự bổ sung kịp thời nhằm đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh được diễn ra liên tục hoặc tăng trưởng như hoạch định Khi ấy, doanh nghiệp cần vay vốn hay điều hòa vốn nhằm đảm bảo vốn cho nhu cần sản xuất kinh doanh

Nhờ có tín dụng, việc điều hòa hay phân phối lại nguồn vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu có thể thực hiện được một cách dễ dàng và nhanh chóng

1.2.2.2 Chức năng thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển

Nhờ có tín dụng mà quá trình chu chuyển tuần hoàn vốn trong từng đơn vị nói chung được thực hiện một cách bình thường và liên tục Do đó, tín dụng góp phần thúc đẩy sự phát triển sản xuất và lưu thông hàng hóa

Tín dụng tạo ra nguồn vốn để đầu tư mở rộng phạm vi và quy mô sản xuất Tín dụng tạo điều kiện đẩy nhanh tốc độ thanh toán góp phần thúc đẩy lưu thông hàng hóa bằng việc tạo ra tín tệ và bút tệ

Trang 6

1.3 Vai trò của tín dụng

Chức năng của ngân hàng là đem lại lợi ích cho cả người tiết kiệm và người đầu tư Các bên tham gia vào quan hệ tín dụng trên cơ sở tự nguyện và cùng có lợi Ngoài ra tham gia vào quan hệ này còn đem lại lợi ích cho chính ngân hàng Không chỉ có vậy ngân hàng và doanh nghiệp là hai chủ thể quan trọng hàng đầu trong nền kinh tế quốc dân, do đó việc nâng cao hiệu quả hoạt động của hai chủ thể này góp phần vào sự phát triển chung của nền kinh tế Ngày nay với sự ra đời và phát triển mạnh mẽ của các ngân hàng thương mại, ta có thể thấy tín dụng có vai trò quan trọng như thế nào đến sự phát triển của nền kinh tế quốc dân Hoạt động tín dụng của ngân hàng như là công cụ để khai thác và động viên có hiệu quả nhất lượng tiền nhàn rỗi trong dân cư phục vụ cho quá trình tái sản xuất xã hội, phù hợp với quá trình vận động của vốn

1.3.1 Đối với các doanh nghiệp

- Tín dụng tạo điều kiện cho các doang nghiệp ứng dụng khoa học kỹ thuật Ngày nay khi mà khoa học kỹ thuật đạt được những thành tựu rực rỡ, đặc biệt là những thành tựu trong ngành khoa học ứng dụng đã tạo ra thời cơ cũng như những thách thức đối với sự tồn tài và phát triển của một tổ chức trên thị trường Tuy việc ứng dụng này là rất cần thiết, song mọi doanh nghiệp đều gặp phải khó khăn đó là chi phí bỏ ra ban đầu lớn, bản thân vốn tự có của doanh nghiệp lại có hạn Trong hoàn cảnh đó, tín dụng ngân hàng đã có những tác động hổ trợ tích cực trong việc ứng dụng khoa học kỹ thuật vào hoạt động sản xuất kinh doanh Từ đó doanh nghiệp không ngừng nâng cao được vị thế trên thị trường, hiệu quả của doanh nghiệp – qua đó nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng của NHTM

- Ngoài ra tín dụng còn là nguồn tài trợ giúp doanh nghiệp có điều kiện mở rộng quy mô sản xuất, mở rộng thị trường

Bất cứ doanh nghiệp nào cũng muốn mở rộng sản xuất đi kèm theo đó là mở rộng thị trường hoạt động của mình Mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh không phải là hoạt động mà doanh nghiệp có thể tiến hành nhanh chóng một sớm một chiều mà còn tùy thuộc vào rất nhiều yếu tố, trong đó quan trọng là cần có guồn

Trang 7

vốn Với lợi thế đặc thù tín dụng của ngân hàng được các doanh nghiệp ưa thích để

bổ sung vốn cho quá trình sản xuất kinh doanh của mình

- Góp phần thúc đẩy các doanh nghiệp sử dụng vốn có hiệu quả

Trong thời hạn của khoản vay, ngân hàng thực hiện chức năng giám sát hoạt động sử dụng vốn với tư cách là chủ sở hữu vốn cho vay đối với các doanh nghiệp Ngân hàng căn cứ vào các nguyên tắc tín dụng, hướng các doanh nghiệp sử dụng vốn đúng mục đích có hiệu quả, đôn đốc khách hàng vay vốn trả gốc và lãi đúng thời hạn thỏa thuận đã ký trong hợp đồng tín dụng Khác với vốn tự có là không phải trả chi phí vốn, vốn vay ngân hàng phải chịu những điều kiện ràng buộc về lãi suất, thời hạn và mục đích sử dụng tiền vay nên các doanh nghiệp vay vốn phải có

sự tính toán chi phí sản xuất hợp lý, tốc độ vòng quay vốn nhanh Để đảm bảo trả

nợ ngân hàng đúng hạn và có lợi nhuận giữ lại Mặt khác, trong quá trình kiểm tra giám sát sử dụng vốn vay, ngân hàng sẽ giúp doanh nghiệp phát hiện những nhược điểm, sai sót từ đó có biện pháp khắc phục kịp thời nhằm hạn chế rủi ro có thể xảy

ra đối với doanh nghiệp cũng như rủi ro liên quan đối với ngân hàng Có thể nói rằng, tín dụng ngân hàng đã ràng buộc trách nhiệm giữa người sở hữu và người sử dụng vốn, từ đó nâng cao năng lực quản lý vốn và quá trình sản xuất kinh doanh

Đó chính là việc giúp cho nguồn vốn đầu tư đem lại hiệu quả cao

- Tín dụng còn là trợ thủ đắc lực của doanh nghiệp trong việc thỏa mãn và chớp cơ hộ kinh doanh

Nhiều doanh nghiệp khi đứng trước các dự án đầu tư khả thi hay các cơ hội kinh doanh nhưng không có nguồn vốn để đáp ứng mà để cơ hội bị tuột mất Trong những trường hợp này tín dụng giúp doanh nghiệp thỏa mãn lượng vốn đầu tư cho các dự án và chớp cơ hội kinh doanh Ngoài ra khi các doanh nghiệp đi vay vốn tại NHTM, họ có thể điều chỉnh kỳ hạn trả nợ, nghĩa là họ có thể trả nợ sớm hơn thời gian quy định trong hợp đồng tín dụng khi họ muốn Ngược lại nếu khi gặp khó khăn trong việc trả nợ tại một thời điểm nhất định nào đó thì doanh nghiệp có thể xin ngân hàng điều chỉnh kỳ hạn trả nợ hoặc gia hạn nợ

Trang 8

Việc trả nợ vốn vay cũng được xây dựng theo một sự phân chia ổn định và hợp lý, do đó doanh nghiệp có thể chủ động tìm kiếm các nguồn trả nợ một cách dể dàng hơn

1.3.2 Đối với hoạt động của ngân hàng

Hoạt động của NHTM truyền thống là nghiệp vụ nhận tiền gửi và cho vay

Để thực hiện cho vay, NHTM phải tập trung vốn nhàn rỗi trong xã hội và trên cơ sở nguồn vốn để bổ sung nhu cầu tạm thời thiếu hụt về vốn của các doanh nghiệp, các

tổ chức kinh tế hoặc các cá nhân trong quá trình sản xuất kinh doanh Trong quá trình phát triển mặt dù có nhiều thay đổi nhưng hoạt động tín dụng vẫn luôn là hoạt động cơ bản

- Tín dụng Ngân Hàng tạo ra lợi nhuận cho NHTM Không có hoạt động tín dụng thì không thể có NHTM

Hoạt động chủ yếu của NHTM một mặt thu hút các nguồn vốn tiền tệ nhàn rỗi trong xã hội, mặt khác phân phối nó dưới hình thức cho vay để thu lợi nhuận NHTM hoạt động theo ba nghiệp vụ chính: nghiệp vụ nợ (huy động tạo ra nguồn vốn), nghiệp vụ có (cho vay đối với nền kinh tế) và nghiệp vụ trung gian Ba nghiệp

vụ này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và cả ba nghiệp vụ đều rất quan trọng trong hoạt động của một NHTM Nhưng nghiệp vụ cho vay vẫn đóng vai trò quan trọng nhất và đó là nghiệp vụ đem lại lợi nhuận chủ yếu cho ngân hàng

- Tín dụng vừa mang lại lợi nhuận đồng thời nâng cao khả năng cạnh tranh của ngân hàng

Với những khoảng tín dụng có quy mô lớn, lãi suất cao mang lại lợi nhuận cao cho ngân hàng, đồng thời thu hút khách hàng đến với ngân hàng thì càng nâng cao khả năng cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường Khi ngân hàng không đa dạng hóa hoạt động cho vay, không đa hạng hóa khách hàng, thời hạn vay tiền để thu hút khách hàng thì ngân hàng khó mà đứng vững được trong nền kinh tế thị trường với sự cạnh tranh gay gắt của các ngân hàng khác

Mặc khác tín dụng còn là cách thức khả thi để giải quyết nguồn vốn huy động của NHTM, đồng thời là cách để ngân hàng gọi vốn có hiệu quả, thu được lợi

Trang 9

nhuận qua đó phát triển hoạt động của mình, tăng cường khả năng cạnh tranh với các ngân hàng khác

Thông qua hoạt động tín dụng, ngân hàng thực hiện chức năng xã hội của mình Thực hiện nghiệp vụ tín dụng, ngân hàng đã thể hiện vai trò người tài trợ lớn đối với toàn nền kinh tế, góp phần mở rộng vốn đầu tư, gia tăng sản phẩm xã hội và cải thiện đời sống nhân dân

1.3.3 Đối với nền kinh tế

Tín dụng ngân hàng tác động có hiệu quả đến nhịp độ phát triển kinh tế, thúc đẩy cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường Trong nền kinh tế thị trường, tiền tệ là công cụ kinh tế phục vụ cho tất cả các mặt hoạt động kinh tế xã hội Trong lĩnh vực kinh doanh hàng hóa dịch vụ, mọi chu kỳ đều bắt đầu bằng tiền và kết thúc cũng bằng tiền, tạo điều kiện để tái mở rộng sản xuất Có thể nói tín dụng ngân hàng đã gián tiếp thúc đẩy cạnh tranh trên thị trường, thúc đẩy kinh tế phát triển

- Tín dụng có vai trò qua trọng trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển các ngành công nghiệp mũi nhọn, tăng tỷ trọng các ngành sản xuất vật chất, là nền tảng cho phát triển kinh tế đất nước, đáp ứng nhu cầu trước mắt cũng như lâu dài Đầu tư cho vay trực tiếp hay gián tiếp đều góp phần phát triển khoa học công nghệ, tạo công ăn việc làm, ổn định lạm phát, nâng cao đời sống của dân cư, phát triển lực lượng lao động giúp nền kinh tế tăng trưởng ổn định

- Tín dụng ngân hàng còn làm giảm hệ số tiền nhàn rỗi trong lưu thông, đáp ứng nhu cầu vốn cho tái sản xuất mở rộng Trong nền kinh tế thường xuyên xuất hiện các nguồn vốn bằng tiền nhàn rỗi của các thành phần kinh tế, nên thông qua chức năng phân phối lại vốn theo nguyên tắc có hoàn trả của tín dụng Các nguồn vốn đó được đưa vào luân chuyển thông qua hệ thống NHTM, tạo cơ sở thúc đẩy sử dụng vốn có hiệu quả Nhu cầu về vốn tăng lên theo mức độ phát triển, sản xuất kinh doanh đòi hỏi tín dụng ngân hàng đáp ứng nhu cầu tăng đó Tín dụng ngân hàng đóng vai trò tích lũy tập trung vốn, nhờ có công cụ tín dụng doanh nghiệp có thể mở rộng quy mô sản xuất, nền kinh tế có thể tái sản xuất mở rộng nhanh chóng hơn

Trang 10

Tín dụng còn là đòn bẩy kinh tế quan trọng trong quá trình mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế Đầu tư vốn ra nước ngoài và kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hóa là hai lĩnh vực hợp tác kinh tế quốc tế thông dụng Vốn là nhân tố quyết định đầu tiên cho việc thực hiện quá trình này Lúc này NHTM chính là trợ thủ về vốn cho các nhà đầu tư và kinh doanh xuất nhập khẩu Ở các nước đang phát triển như nước ta,

để thực hiện đ ược các chính sách phát triển kinh tế cần thiết phải thu hút và tiếp nhận các khoản viện trợ ban đầu, vay nợ của các nước phát triển thông qua các hình thức tín dụng quốc tế Từ đó tạo môi trường thuận lợi cho việc đầu tư vốn làm động lực cho sự tăng trưởng kinh tế

1.4 Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tín dụng

Hiệu quả tín dụng là chênh lệch giữa giá trị mà ngân hàng thu được từ hoạt động tín dụng với giá trị mà ngân hàng phải bỏ ra để có được nguồn vốn đầu vào

Hiệu quả tín dụng là một trong những căn cứ quan trọng để đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại Hiệu quả tín dụng được thể hiện ở hai mặt: Hiệu quả tài chính và hiệu quả xã hội

Dưới gốc độ ngân hàng, hiệu quả tài chính được đánh giá thông qua các chỉ tiêu sau: khối lượng sản phẩm, dịch vụ ngân hàng tạo ra để phục vụ khách hàng, lợi nhuận thu được từ hoạt động tín dụng, tỷ suất sinh lời tính trên vốn vay… Thời gian thu hồi vốn vay và lãi đúng hạn cũng được quan tâm và có những đóng góp cho việc tăng nguồn thu cho ngân hàng (ngoại tệ) giúp ngân hàng hoạt động an toàn, ổn định giảm thiểu rủi ro thất thoát do không thu hồi được nợ trong hoạt động tín dụng Bên cạnh đó thông qua hiệu quả xã hội, nhà đầu tư có cái nhìn tổng thể về hoạt động ngân hàng để họ đầu tư vào Ngân hàng thu được nợ không đồng nghĩa với chủ thể vay vốn bị thiệt hại mà trên cơ sở cả hai bên cùng có lợi Chỉ tiêu số lượng công ăn việc làm cho người lao động như: tăng số lượng nhân viên ngân hàng, tài trợ vốn cho các cá nhân, doanh nghiệp để đưa ra nhiều loại hình sản xuất kinh doanh thu hút nhiều lao động từ đó giảm thất nghiệp, giảm tệ nạn xã hội… Nguồn tín dụng ngân hàng còn thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển là điều kiện để

Trang 11

tăng trưởng kinh tế và đóng góp tăng ngân sách quốc gia Từ đó, cơ sở hạ tầng được

xây dựng hoàn thiện thúc đẩy kinh tế phát triển

Khả năng mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư của ngân hàng phụ thuộc vào uy tín của ngân hàng đó Nếu ngân hàng có lượng khách hàng đông đảo

và làm ăn có uy tín thì đó là một dấu hiệu cho thấy hiệu quả đầu tư tín dụng của ngân hàng là khả quan Hiệu quả đầu tư còn được thể hiện ở khả năng đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng Ngoài việc đáp ứng nhanh chóng, kịp thời nhu cầu về vốn, ngân hàng phải thực sự trở thành người bạn của khách hàng, sẵn sàng giúp đỡ, chia

sẽ khó khăn với họ… chủ thể vay vốn thực sự xem tín dụng ngân hàng là đòn bẩy

và tạo được hình ảnh đẹp về ngân hàng

Hiệu quả tín dụng không những thể hiện bằng con số tuyệt đối về lợi nhuận,

để có kết luận chính xác hơn cần có một hệ thống chỉ tiêu sau:

1.4.1 Doanh số cho vay

Là chỉ tiêu phản ánh tất cả các khoản tín dụng mà ngân hàng đã phát ra cho vay trong một khoảng thời gian nào đó không kể món cho vay đó đã được thu hồi

về hay chưa Doanh số cho vay thường được xác định theo tháng, quý, năm

1.4.2 Dư nợ cho vay

Là chỉ tiêu phản ánh tại một thời điểm xác định nào đó ngân hàng hiện còn cho vay bao nhiêu và đây cũng là khoản mà ngân hàng cần phải thu về

- Kết cấu dư nợ cho vay

Dựa vào kết cấu dư nợ cho vay mà ta có thể xác định rủi ro của ngân hàng cho vay cao hay thấp Nếu kết cấu dư nợ quá tập trung vào một số doanh nghiệp hoặc thành phần kinh tế chuyên sản xuất kinh doanh trong một hoặc một số lĩnh vực nhất định hoặc cho vay tiêu dùng quá nhiều, sẽ có rủi ro lớn do mức độ tập trung vốn cho vay cao Như vậy dựa vào kết cấu dư nợ cho vay theo thành phần kinh tế, đối tượng, nghề nghiệp… kết hợp với việc phân tích các yếu tố liên quan đến khách hàng có thể đánh giá rủi ro cao hay là thấp

- Dư nợ / Tổng nguồn vốn

Trang 12

Chỉ tiêu này dùng để đánh giá mức độ tập trung vốn tín dụng của ngân hàng Nếu chỉ tiêu này càng cao thì mức độ hoạt động của ngân hàng ổn định và có hiệu quả Ngược lại, ngân hàng đang gặp khó khăn nhất là khâu tìm kiếm khách hàng

- Dư nợ / Tổng vốn huy động

Chỉ tiêu này cho biết bao nhiêu đồng vốn huy động tham gia vào dư nợ Nó còn cho biết khả năng huy động vốn tại địa phương của ngân hàng Nếu chỉ tiêu này lớn hơn một thì vốn huy động tham gia vào dư nợ là không đủ, khả năng huy động vốn của ngân hàng chưa cao

1.4.3 Nợ quá hạn / Tổng dư nợ

Là chỉ tiêu phản ánh các khoản nợ đến hạn mà khách hàng không trả được cho ngân hàng mà không có nguyên nhân chính đáng thì ngân hàng sẽ chuyển từ tài khoản dư nợ sang tài khoản quản lý khác gọi là nợ quá hạn Nợ quá hạn là chỉ tiêu phản ánh chất lượng của nghiệp vụ tín dụng tại ngân hàng

Hậu quả tất yếu của rủi ro cho vay là nợ quá hạn Chỉ tiêu này phản ánh tình trạng an toàn cho vay của ngân hàng và toàn hệ thống ngân hàng Nếu các chỉ số này nhỏ thì phản ánh chất lượng đầu tư tín dụng là tốt Ngược lại, nếu chỉ số này lớn thì phản ánh chất lượng tín dụng là chưa cao Khủng hoảng cho vay hay khủng hoảng nợ xảy ra khi tỷ lệ nợ quá hạn quá cao Khi đó ngân hàng mất khả năng thanh toán và lâm vào tình trạng phá sản

Tuy nhiên, nợ quá hạn chưa phải là tổn thất của ngân hàng thương mại, đây vẫn là chỉ tiêu gián tiếp, bởi vì không phải tất cả các khoản nợ quá hạn này đều dẫn đến tổn thất

Tỷ lệ nợ quá hạn có khả năng tổn thất/dư nợ quá hạn là một chỉ tiêu trực tiếp phản ánh rủi ro Nó cho thấy trong một đồng nợ quá hạn thì có bao nhiêu đồng bị tổn thất Nói cách khác, chỉ tiêu này phản ánh mức độ có thể gây ra rủi ro trong số

nợ quá hạn của ngân hàng cho vay

Nợ quá hạn có khả năng tổn thất thường bao gồm những khoản nợ quá hạn

có thời gian quá hạn lớn (từ 6 tháng trở lên) Đối với ngân hàng cho vay việc duy trì các chỉ tiêu này với tỷ lệ cao trong báo cáo tài chính là điều khó chấp nhận Ngân

Trang 13

hàng cho vay luôn tìm cách giảm chỉ tiêu này xuống và biện pháp duy nhất là tích cực truy thu các khoản vay này Những khoản này thực sự không thu hồi được phải hạch toán vào chi phí hoạt động và lấy quỹ dự phòng rủi ro để bù đắp tổn thất

Từ năm 2005, việc phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro theo tiêu chuẩn quốc tế đã được Ngân hàng Nhà nước (NHNN) ban hành theo Quyết định 127/QĐ,

là việc cơ cấu lại thời hạn trả nợ Thay vì chỉ có hai loại là nợ trong hạn và ngoài hạn như trước thì giờ đây, nợ vay của khách hàng sẽ được phân loại từ nhóm 1 đến nhóm 5: nhóm 1 được coi là nợ bình thường, nhóm 2 là nợ cần chú ý, nhóm 3 là nợ dưới tiêu chuẩn, nhóm 4 là nợ khó đòi và nhóm 5 là mất vốn Cụ thể:

- Nợ nhóm 1: Nợ đủ tiêu chuẩn, đó là các khoản nợ ngân hàng đánh giá là

có khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng thời hạn

- Nợ nhóm 2: Nợ cần chú ý, là các kho ản nợ được ngân hàng đánh giá có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi nhưng có dấu hiệu khách hàng suy giảm khả năng trả nợ

+ Nợ quá hạn dưới 90 ngày

+ Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ trong hạn theo thời hạn nợ đã cơ cấu lại

- Nợ nhóm 3: Nợ dưới tiêu chuẩn, là các khoản nợ được ngân hàng đánh giá

có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn và được đánh giá là có khả năng tổn thất một phần nợ gốc và lãi

+ Nợ quá hạn từ 90 ngày đến 180 ngày

+ Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn

đã cơ cấu lại

- Nợ nhóm 4: Nợ khó đòi, là các khoản nợ được ngân hàng đánh giá có khả năng tổn thất cao

+ Nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày

+ Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn từ 90 ngày đến 180 ngày theo thời hạn đã cơ cấu lại

Trang 14

- Nợ nhóm 5: Nợ mất vốn, là khoản nợ được ngân hàng đánh giá không còn khả năng thu hồi, mất vốn

+ Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày

nợ này vẫn được coi là nợ trong hạn Tuy nhiên, với quy định mới, số nợ trên sẽ được phân vào từ nhóm 2 đến nhóm 4, tuỳ theo khả năng trả nợ trong tương lai của khách hàng Theo đó, ngân hàng sẽ phải trích thêm một khoản vào quỹ dự phòng rủi ro

1.5.1 Quan niệm rủi ro trong hoạt động tín dụng

Có rất nhiều quan niệm về rủi ro như: “Rủi ro là bất trắc gây ra mất mát, thiệt hại” hay “rủi ro là sự bất trắc cụ thể liên quan đến một hay nhiều biến cố không mong đợi”… Nhưng nói chung, mọi quan niệm đều đi đến thống nhất: “rủi ro là biến cố xảy ra ngoài ý muốn, sự hiểu biết, dự tính của chủ thể và đem lại những hậu quả xấu” Rủi ro có thể xảy ra bất cứ lúc nào trong mọi lĩnh vực cuộc sống, nhất là trong lĩnh vực tín dụng

Trang 15

Lý luận và thực tiễn đã chứng minh rằng rủi ro trong hoạt động tín dụng là nhiều nhất trong hoạt động kinh doanh tài chính tiền tệ Nó xảy ra dưới nhiều hình thức, mức độ khác nhau là do các nguyên nhân:

 Tiền là nguyên liệu chính tạo ra sản phẩm tín dụng Tiền được dùng để giao dịch giữa khách hàng và NHTM Mặt khác tiền là thứ nguyên liệu độc tôn không thể thay thế, nguyên liệu nay chịu tác động rất nhiều yếu tố như kinh tế, chính trị xã hội, chiến tranh, thiên tai… một trong các yếu tố này thay đổi thì hoạt động tín dụng của ngân hàng sẽ bị ảnh hưởng

 Ngân hàng thương mại là tổ chức tín dụng chịu sự quản lý vĩ mô của nhà nước theo hành lang pháp lý quy định Nhà nước can thiệp vĩ mô vào nền kinh tế thị trường Trong đó lĩnh vực tài chính tiền tệ thì chịu nhiều sự quản lý lớn của chính phủ thông qua các công cụ chính sách của nhà nước, những quy định, nghị định, pháp lệnh của ngân hàng nhà nước Do vậy mỗi khi có sự điều chỉnh của chính phủ hoặc của ngân hàng nhà nước làm cho các ngân hàng thương mại gặp không ít khó khăn trong ho ạt động kinh doanh, thậm chí có thể phải ngánh chịu những tổn thất trong hoạt động kinh doanh của mình

 Ngân hàng thương mại là tổ chức tài chính có quan hệ mật thiết với nhiều lĩnh vực, thành phần kinh tế của nền kinh tế quốc dân Bất cứ một sự thay đổi nào của các lĩnh vực, thành phần kinh tế cũng đều tác động gây phản ứng dây truyền đối với các ngân hàng

Do những đặc điểm trên, rủi ro trong hoạt động tín dụng là rất lớn Vì vậy nhận thức đúng đắn và đầy đủ rủi ro tín dụng là rất quan trọng để từ đó đưa ra các biện pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động tín dụng

Rủi ro tín dụng là rủi ro về sự tổn thất tài chính trực tiếp hoặc gián tiếp xuất phát từ người đi vay không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đúng hạn theo cam kết hoặc mất khả năng thanh toán

Chúng ta biết rằng tín dụng là quan hệ vay mượn dưới dạng tiền tệ có hoàn trả gốc và lãi giữa người đi vay và người cho vay Cho vay hoàn trả khác với nghiệp

vụ tài trợ cấp vốn của nhà nước cho các thành phần kinh tế… Hoạt động cho vay là

Trang 16

hoạt động rất đa dạng, là một hoạt động kinh doanh hàng hoá phức tạp Tính phức tạp của nó chính là đối tượng kinh doanh tức là tiền tệ, ở đây tiền tệ được tách rời giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng khi cho vay

Người ta cho rằng quyền cho vay là của người cho vay và quyền trả nợ thực

tế là của người đi vay Chính vì vậy đòi hỏi người cho vay phải tìm mọi cách để kiểm soát được khả năng trả nợ của người đi vay, dự tính, phán đoán khả năng, mức

độ rủi ro Quan hệ cho vay là quan hệ kinh tế bình đẳng giữa người đi vay và người cho vay, là sự cam kết thoả thuận bằng các điều khoản thi hành thể hiện trong các hợp đồng cho vay Sự cam kết này chính là cơ sở pháp lý cơ bản để thực hiện nghĩa

vụ của hai bên tham gia ho ạt động cho vay Nó là cơ sở pháp lý để đảm bảo tín dụng Bên cạnh đó còn có các cam kết khác bằng các hành vi hay năng lực kính tế, thể hiện bằng vật chất, uy tín như tài sản thế chấp, cầm cố, ký quỹ bảo lãnh

Trong cho vay một bên là người cho vay vốn, một bên là người đi vay vốn và một bên là cho vay giữa hai bên là hợp đồng tín dụng Vốn ở đây được thể hiện bằng tiền chứ không bằng tài sản hay bất cứ gì khác Rủi ro vẫn xẩy ra mặc dù bên

đi vay cam kết sẽ trả đầy đủ và đúng hạn cho bên cho vay theo các điều khoản của đồng cho vay Nhưng tình trạng vi phạm cam kết đó xảy ra khá phổ biến kể cả trong trường hợp người đi vay có đủ năng lực tài chính

Mặt khác rủi ro cho vay còn có thể xảy ra ngay cả khi bên đi vay hiện nghiêm các điều khoản cam kết trong hoạt động cho vay, thanh toán đầy đủ tiền vay (gốc và lãi) cho bên cho vay nhưng do biến động của lãi suất, rủi ro trong trường hợp mà số tiền cho vay thu về không bằng chi phí cơ hội của khoản vay đó ở thời điểm cho vay

Rủi ro tín dụng vốn là loại rủi ro phức tạp, để đánh giá rủi ro tín dụng là việc làm rất khó khăn đối với ngân hàng Rủi ro tín dụng có thể xảy ra với bất kỳ món tiền nào, bất cứ nơi nào Chính vì vậy rủi ro tín dụng đòi hỏi các ngân hàng thương mại có cách nhìn cụ thể về rủi ro, có những giải pháp đồng bộ, hửu hiệu mới có thể ngăn ngừa bớt rủi ro

Trang 17

1.5.2 Các loại rủi ro thường gặp trong hoạt động tín dụng

Ở nước ta vấn đề rủi ro trong kinh doanh ngân hàng và vấn đề quản lý nó không còn mới mẻ Với sự non yếu về nghiệp vụ ngân hàng đồng thời hoạt động trong môi trường đầy rủi ro, vấn đề nhận thức rủi ro đặc thù và quản lý nó đang là vấn đề cấp bách trong hệ thống ngân hàng cả nước Bộ máy quản lý ngân hàng kém năng động, rủi ro càng dể phát sinh Khiến nó không thể hiện được hết khả năng vốn có của mình, thiệt hại cho nền kinh tế sẽ xảy ra

Rủi ro ngân hàng không những là nổi ám ảnh của hệ thống ngân hàng một nước mà còn là nổi ám ảnh chung của hệ thống ngân hàng trên thế giới Những bất ngờ luôn xẩy ra ngay cả đối với các ngân hàng có đội ngũ nhân sự giỏi nhất, nhiều kinh nghiệm nhất cũng khó lường trước được rủi ro Vì thế nhận thức được rủi ro trong tín dụng là những vấn đề thời sự cho hệ thống ngân hàng Có các loại rủi ro chính thường xẩy ra trong hoạt động tín dụng như:

+ Rủi ro thanh toán tiền vay: Khi người đi vay không thanh toán hoặc không thanh toán đầy đủ tiền vay khi đến hạn do tình hình kinh doanh gập khó khăn, dẫn đến mất khả năng thanh toán tạm thời hoặc vĩnh viễn hay người đi vay cố ý không trả tiền vay do ý đồ chiếm dụng hoặc lừa đảo

+ Số tiền thu về (cả gốc và lãi) không bù đắp được số vốn mà ngân hàng cho vay đó bỏ ra để cho vay

+ Rủi ro khi có sự thay đổi tỷ giá hối đoái: Do các khoản cho vay bằng ngoại tệ ngày càng tăng, cùng với các nghiệp vụ khác nên các ngân hàng phải trực tiếp tham gia vào thị trường hối đoái Từ lúc ký hợp đồng cho vay đến khi giải ngân xong nên ngân hàng cần có một khoảng thời gian nhất định Do đó khó tránh khỏi những rủi ro xảy ra khi tỷ giá hối đoái thay đổi

+ Rủi ro khi có sự thay đổi lãi suất bình quân trên thị trường ảnh hưởng đến mức lãi suất ngân hàng đang áp dụng trong các giao dịch cho vay Lãi suất cho vay của các ngân hàng thương mại được xác định trên lãi suất bình quân trên thị trường

và chính sách lãi suất của ngân hàng Mức lãi suất này được áp dụng cho người đi vay trong suốt thời gian vay (hợp đồng vay lãi suất cố định) Vì vậy trong thời gian

Trang 18

đó, nếu có sự biến động lớn về lãi suất sẽ gây ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động của ngân hàng đặc biệt là khả năng cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường Rủi ro

về tài sản đảm bảo biến động về giá cả Rủi ro này xảy ra khi các tài sản đảm bảo bị thay cốt lõi hoặc bị chiếm đoạt hay mất trộm… điều này gây cho ngân hàng tổn thất khi thanh lý để bù đắp khoản vay

Để thực hiện việc cho vay một cách cho vay có hiệu quả, điều không thể không làm là phòng ngừa và hạn chế rủi ro xuống mức thấp nhất, vừa đảm bảo cho vay có điều kiện phát triển sản xuất kinh doanh trong khi bên cho vay vẫn thu hồi được gốc và có lãi

1.5.3 Nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng

1.5.3.1 Nguyên nhân bất khả kháng

Đây là những nguyên nhân gây nên rủi ro cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng cho vay không xuất phát từ cán bộ cho vay hay ý thức trả nợ của khách hàng mà do môi trường bên ngoài tác động vào Nguyên nhân này xuất hiện đột ngột, khó đoán, khó kiểm soát, nó thường gây ra những thiệt hại lớn cho khách hàng

và ngân hàng cho vay Bao gồm các nguyên nhân cụ thể sau

Do sự thay đổi chính sách của Chính Phủ

Nước ta đang thực hiện quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế sang nền kinh tế

thị trường Do đó phải tuân thủ và chấp nhận sự biến động theo quy luật của nền kinh tế thị trường Mỗi khi nền kinh tế biến động lên, xuống thì lập tức chính phủ phải đưa ra các chính sách kinh tế mới phù hợp với điều kiện hiện hành nhằm hạn chế ảnh hưởng xấu tới nền kinh tế đất nước Các chính sách của Chính Phủ thường xuyên quan tâm và có sự thay đổi kịp thời là:

+ Chính sách tài chính: Chính sách này liên quan đến cơ chế thu chi ngân sách chính phủ

+ Chính sách tiền tệ: Chính phủ sử dụng các công cụ như: lãi suất chiết khấu,

dự trữ bắt buộc, nghiệp vụ thị trường mở… Để điều chỉnh mức cung ứng tiền tệ khi

có biến động xảy ra

Trang 19

+ Chính sách đầu tư phát triển: Đây là những chính sách mà khi chính phủ điều chỉnh sẽ gây ảnh hưởng trực tiếp cho các ngân hàng thương mại, thường là những ảnh hưởng không tích cực cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại Tuy nhiên nếu ngân hàng thương mại nắm bắt được thông tin kinh tế kịp thời thì sẽ hạn chế được rủi ro xảy ra

Nguyên nhân từ phía môi trường pháp lý

Hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại liên quan đến nhiều lĩnh vực của nền kinh tế, mang tính xã hội cao, khi hệ thống pháp luật ổn định và lành mạnh thì môi trường kinh doanh của ngân hàng thương mại sẽ có nhiều thuận lợi Ngược lại nếu môi trường pháp lý thiếu đồng bộ, có nhiều khe hở thì rất rể bị lợi dụng gây ra tình trạng tham ô, chiếm đoạt tài sản… Kinh tế xã hội kém ổn định dẫn đến kinh doanh gặp nhiều khó khăn, ngân hàng cho vay gặp rủi ro

Môi trường tự nhiên

Những biến động lớn về thời tiết, khí hậu gây ảnh hưởng hoạt động sản xuất kinh doanh đặc biệt là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, điều kiện tự nhiên là yếu tố khó dự đoán, nó thường xảy ra bất ngờ với thiệt hại lớn ngo ài tầm kiểm soát của con người Vì vậy khi có thiên tai dịch hoạ xảy ra khách hàng cùng các ngân hàng cho vay sẽ có nguy cơ tổn thất lớn, phương án, dự án kinh doanh không có nguồn thu… Điều đó đồng nghĩa với các ngân hàng cho vay phải cùng chia sẻ rủi ro với khách hàng của mình Ở Việt Nam do thời tiết diễn biến phức tạp nên môi trường tự nhiên đươc coi là nguyên nhân gây ra rủi ro cho hoạt động kinh doanh của các ngân hàng cho vay khi đầu tư phát triển các thành phần kinh tế

Môi trường kinh tế xã hội

Môi trường kinh tế xã hội trong một nước biến động chịu ảnh hưỏng của những biến động từ nền kinh tế thế giới, đó là nguyên nhân làm phát sinh rủi ro trong hoạt động kinh doanh của nền kinh tế, từ đó ảnh hưởng tới các lĩnh vực kinh

tế trong đó hoạt động kinh doanh tiền tệ chứa nhiều nguy cơ rủi ro lớn nhất

Sự thay đổi các mối quan hệ quốc tế, các quan hệ ngoại giao của chính phủ cũng là nguyên nhân gây ra rủi ro lớn cho hoạt động cho vay của ngân hàng cho vay

Trang 20

Bên cạnh đó hoạt động cho vay phụ thuộc rất nhiều thói que n, truyền thống, tập quán của ngươi dân Những yếu tố đó nhiều khi gây khó khăn và hạn chế mở rộng hoạt động cho vay của các ngân hàng cho vay

Tất cả những nguyên nhân khách quan trên nếu không được dự báo và có biện pháp phòng ngừa kịp thời sẽ gây ảnh hưởng tiêu cực tới môi trường kinh doanh

và điều kiện kinh doanh của ngân hàng cho vay và khách hàng vay vốn

Khi khách hàng gặp phải rủi ro do nguyên nhân khách quan gây nên, họ không còn đủ khả năng thực hiện cam kết trong hợp đồng cho vay thì việc tốt nhất ngân hàng cho vay có thể làm là giúp đỡ hỗ trợ khách hàng để họ khôi phục lại hoạt động kinh doanh tạo nguồn trả nợ cho ngân hàng cho vay

1.5.3.2 Nguyên nhân từ phía khách hàng

Các yếu tố chủ quan từ phía bên đi vay chính như: Khả năng kinh doanh yếu kém hay bên đi vay có hành vi lừa đảo, vi phạm pháp luật… Cũng gây nên các tổn thất cho các ngân hàng cho vay Trường hợp này nếu bên cho vay (ngân hàng cho vay) phát hiện ra sớm thì rủi ro có thể được ngăn chặn

Hiện nay cùng với chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế, bên đi vay thường gặp rủi ro sau:

- Thiệt hại từ phía thị trường đầu vào: Giá cả của các yếu tố đầu vào tăng cùng với các chi phí phục vụ cho sản xuất tăng làm giảm đi nguồn dự thu, dự tính của khách hàng, như vậy việc trả nợ cho các ngân hàng cho vay sẽ gặp nhiều khó khăn

- Do thị trường đầu ra: Thị trường đầu ra nếu có biến động phức tạp, giá cả giảm thấp cũng làm nguồn thu của khách hàng không đảm bảo Ngoài ra, sự thay đổi thị hiếu tiêu dùng, cung vượt quá cầu, hoạt động maketing yếu kém… cũng gây nên tình trạng ứ đọng sản phẩm làm ảnh hưởng tới nguồn trả nợ cho các ngân hàng cho vay

- Rủi ro về khả năng tài chính của khách hàng: Nguồn vốn tự có hay thu nhập của khách hàng nhỏ, khách hàng sẽ không có khả năng tự vực dậy khi gặp khó khăn vì vậy cũng sẽ mất khả năng thanh toán nợ cho ngân hàng cho vay

Trang 21

Ngoài những nguyên nhân trên còn phải kể đến ý thức trả nợ của bên đi vay nhiều khi chưa tốt, nhiều đối tượng khách hàng sau khi nhận được tiền vay rồi bỏ trốn gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho ngân hàng cho vay

Những tiêu chí trên cùng với những tiêu chí định lượng để ngân hàng xếp hạng khách hàng

1.5.3.3 Nguyên nhân từ phía ngân hàng

- Do chính sách của ngân hàng cho vay không phù hợp, thiếu sự kiểm soát chặt chẽ hoặc đặt mục tiêu lợi nhuận quá cao Chúng ta đều biết đặc điểm của kinh doanh tiền tệ là: Lợi nhuận cao luôn đi cùng với rủi ro cao, các ngân hàng cho vay phải biết lựa sức mình để xác định lợi nhuận hợp lý cho ngân hàng của mình

- Trình độ, năng lực, phẩm chất đạo đức của đội ngũ cán bộ cho vay yếu kém dẫn đến cán bộ cho vay không đánh giá chính xác về khách hàng và phương án vay vốn, từ đó làm phát sinh những hợp đồng cho vay kém an toàn Mức độ rủi ro trong trường hợp này sẽ ngày càng tăng dần trong suốt quá trình kể từ khi xét duyệt đến khi giám sát và cuối cùng là thu nợ Cùng với sự hạn chế về trình độ là vấn đề phẩm chất đạo đức của cán bộ cho vay Đặc thù nghề nghiệp buộc một cán bộ tín dụng không những có trình độ mà còn phải có đạo đức tốt Trước sự cám dỗ của vật chất, nhiều cán bộ cho vay đã xa ngã, có thể hành động vô nguyên tắc, vô tổ chức, làm trái quy định, móc ngoặc với khách hàng, ngây tổn thất to lớn với ngân hàng cho vay

Ngoài ra còn các nguyên nhân gây rủi ro từ vấn đề bảo đảm tiền vay

Trong hoạt đông cho vay, việc đảm bảo tài sản cho các khoản vay được định giá gốc và ký kết giữa ngân hàng cho vay và khách hàng vay Rủi ro có thể xảy ra

do ngân hàng cho vay không đánh giá đúng giá trị tài sản đảm bảo hoặc giá trị tài sản thế chấp có biến động theo chiều hướng xấu

Tóm lại: Việc nghiên cứu các guyên nhân gây nên rủi ro cho vay có ý nghĩa rất quan trọng giúp các ngân hàng cho vay đưa ra được những giải pháp hữu hiệu nhằm ngăn chặn rủi ro xảy ra cho hoạt động kinh doanh của mình

1.5.4 Tác động của rủi ro trong hoạt động tín dụng

1.5.4.1 Rủi ro làm phát sinh tăng chi phí giảm lợi nhuận

Trang 22

Khi các ngân hàng cho vay xuất hiện những khoản nợ quá hạn, việc đầu tiên

là các ngân hàng cho vay phải tìm cách thu hồi nợ Việc thu hồi nợ quá hạn vừa làm mất thời gian của cán bộ cho vay, vừa làm tăng khoản chi phí về đi lại để lấy nợ Nếu các khoản nợ này có liên quan đến nhiều bên thì ngân hàng cho vay phải chi phí về cả thời gian lẫn tiền cho công việc thương lượng, gặp gỡ các bên trong quá trình xử lý nợ Đây là những chi phí trước mắt mà các ngân hàng cho vay phải bỏ

ra Bên cạnh đó các ngân hàng cho vay phải bỏ ra chi phí cơ hội rất lớn: Các khoản

nợ quá hạn làm chậm lại vòng quay vốn tín dụng, làm mất đi các khoản đầu tư khác của mình, đó là chưa kể đến sự ảnh hưởng lớn của nợ qúa hạn với tâm lý cuả cán bộ cho vay Nợ quá hạn phát sinh làm cho cán bộ tín dụng phải mất thời gian xử lý nợ, không tiếp cận được những món vay mới đồng thời còn làm cho cán bộ cho vay ngần ngại mở rộng hoạt động cho vay… Tất cả những vấn đề này làm giảm thu nhập tiềm ẩn và làm tăng chi phí cho các ngân hàng cho vay, từ đó làm ảnh hưởng tới kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng cho vay

1.5.4.2 Rủi ro làm giảm uy tín của các ngân hàng

Các ngân hàng cho vay khi gặp rủi ro, kinh doanh kém hiệu quả, uy tín sẽ bị giảm sút trên thị trường Đây là sự thiệt hại vô hình mà không thể lường được giá trị

1.5.4.3 Rủi ro trong hoạt động cho vay còn gây ra tổn thất gián tiếp cho các ngân hàng khác

Ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế thị trường Nó liên quan đến mọi ngành, mọi thành phần kinh tế, là khâu cốt yếu cung cấp vốn cho nền kinh

tế Vì vậy, ngân hàng có ảnh hưởng lớn đến chính sách tiền tệ, đến công cụ điều tiết

vĩ mô của nhà nước Nếu có sự thất thoát lớn trong hoạt động tín dụng dù chỉ ở một ngân hàng cho vay trực thuộc, không khắc phục kịp thời thì có thể gây nên “phản ứng dây truyền” đe doạ đến an toàn và ổn định của toàn bộ hệ thống ngân hàng, gây hậu quả rất lớn đến sự phát triển của nền kinh tế

Hiện nay ở Việt Nam, dư nợ cho vay chiếm phần lớn trong dư nợ tín dụng của ngân hàng thương mại và phi ngân hàng, đây sẽ là hoạt động kinh doanh chính của ngân hàng thương mại là điều kiện cần phát triển trong cho nền kinh tế, việc các

Trang 23

ngân hàng thương mại gặp rủi ro, bị tổn thất sẽ gây ảnh hưởng lớn đến hệ thống ngân hàng và gây ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế

1.5 Những bài học kinh nghiệm về quản lý tín dụng tại các ngân hàng trong và ngoài nước

1.5.1 Bài học từ ngân hàng ngoài nước

Khủng hoảng nợ dưới chuẩn tại Mỹ (sub-prime) năm 2007, đã gây thiệt hại nặng nề cho nền kinh tế Mỹ, tạo ra các khoản lỗ lên tới hàng trăm tỷ USD cho các ngân hàng đ ầu tư lớn trên thế giới Kết quả kinh doanh của các ngân hàng đầu tư lớn tại phố Wall được công bố trong những tháng đầu năm 2008 lần lượt cho thấy các khoản tổn thất khổng lồ (write-down) trong năm 2007 Và ảnh hưởng của cơn bão tín dụng nợ dưới chuẩn còn tiếp tục kéo dài trong năm 2008

Nợ dưới chuẩn được hiểu là các khoản cho vay các đối tượng có mức tín nhiệm thấp Những đối tượng đi vay này thường là những người nghèo, không có công ăn việc làm ổn định, vị thế xã hội thấp hoặc có lịch sử thanh toán tín dụng không tốt trong quá khứ Những đối tượng này tiềm ẩn rủi ro không có khả năng thanh toán nợ đến hạn và do đó rất khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng truyền thống, vốn chỉ dành cho những đối tượng trên chuẩn

Chính vì vậy, nợ dưới chuẩn có mức độ rủi ro tín dụng rất cao song bù lại có mức lãi suất cũng rất hấp dẫn Tại Mỹ, nợ dưới chuẩn được thực hiện đối với các sản phẩm cho vay thế chấp mua nhà (mortgage), thế chấp mua trả góp ô tô, thẻ tín dụng Các đối tượng tín dụng dưới chuẩn phần nhiều là dân nhập cư vào Mỹ

- Nguyên ngân khủng hoảng

Sự bùng nổ của cho vay nợ dưới chuẩn bắt nguồn sâu xa từ sự bất cân đối về nguồn vốn tín dụng toàn cầu trong những năm gần đây

Trong khi nguồn vốn tín dụng gia tăng từ các chính sách tiền tệ mở thì nhu cầu huy động vốn của các doanh nghiệp sau các bê bối tài chính tại Mỹ như Enron, Worldcom và khủng hoảng các công ty công nghệ thông tin từ năm 2001 lại suy giảm Các chính phủ cũng ngày càng kiểm soát thâm hụt ngân sách để tránh việc vay nguồn vốn bên ngoài

Trang 24

Sự bất cân đối cung cầu về vốn dẫn đến việc thừa các nguồn vốn mà thị trường không sử dụng hiệu quả Cho vay nợ dưới chuẩn là một giải pháp để giải quyết bài toán thừa vốn nhằm tối đa hóa lợi nhuận Việc cho vay nợ dưới chuẩn một cách thái quá trong một thời gian ngắn dẫn đến việc mất kiểm soát chất lượng tín dụng, chính là nguyên nhân tạo nên cuộc khủng hoảng tín dụng 2007

- Hậu quả nặng nề

Hậu quả của cuộc khủng hoảng tín dụng cho nước Mỹ và thế giới là rất lớn Thị trường bất động sản và thị trường chứng khoán bị ảnh hưởng nặng nề Thị trường trái phiếu hình thành từ chứng khoán hóa bị mất khả năng thanh khoản Ngành xây dựng Mỹ đóng góp 15% GDP có thể phải cắt giảm một nửa sản lượng

và cắt 1-2 triệu công việc

Các khoản cho vay thế chấp không có khả năng thu hồi và giá trị tài sản đảm bảo từ những ngôi nhà bị sụt giảm là nguyên nhân giá trị đánh giá lại (mark to market) của các gói trái phiếu phát hành bị giảm giá không phanh, đặc biệt là các gói trái phiếu có rủi ro cao (gói Z) Các nhà đầu tư nắm giữ trái phiếu hình thành từ chứng khoán hóa nợ dưới chuẩn là người chịu hậu quả nặng nề Dự báo số tổn thất

do giảm giá trị trái phiếu cho toàn thị trường lên tới khoảng 220 tỷ – 450 tỷ USD

Hàng loạt ngân hàng đầu tư trót nắm giữ các gói trái phiếu rủi ro mà chưa kịp chuyển giao cho thị trường đã phải ghi nhận các khoản tổn thất lên đến hàng trăm tỷ USD như Citi (21 tỷ USD), Merrill Lynch (25 tỷ USD), UBS (18 tỷ USD), Morgan Stanley (10 tỷ USD), JP Morgan (2,2 tỷ USD), Bear Stearns (2 tỷ USD), Lehman Brothers (1,5 tỷ USD), Goldman Sachs (1,3 tỷ USD) Tổng thiệt hại tài chính của các ngân hàng đầu tư trong năm 2007 ước tính lên tới gần trăm tỷ USD Citi và Merrill Lynch phải cầu viện tăng vốn khẩn cấp từ các quỹ đầu tư Châu Á Hàng ngàn nhân viên phố Wall bị sa thải

Không chỉ thiệt hại về giảm giá trái phiếu, mảng kinh doanh béo bở từ chứng khoán hóa của các ngân hàng đầu tư cũng bị tạm ngưng hoạt động Cổ phiếu các ngân hàng đầu tư rớt thảm hại trong 6 tháng cuối năm 2007 Với tổn thất nặng nề

Trang 25

này, các ông chủ phố Wall lần lượt phải ra đi, cụ thể là các ông chủ UBS, Citigroup, Merrill Lynch và Bear Stearns

- Kết luận

Cuộc khủng hoảng nợ dưới chuẩn 2007 của Mỹ bắt nguồn từ sự quản lý lỏng lẻo trong cho vay tín dụng dưới chuẩn và từ lòng tham của thị trường Chứng khoán hóa là một công cụ tài chính thông minh song đ ã bị lợi dụng vào việc xấu gây nên hậu quả khôn lường Các nhà đầu tư cần thấu hiểu các rủi ro trước khi mua các sản phẩm tài chính phức tạp nhằm tránh những tổn thất nặng nề Đây là những bài học không thừa cho bất cứ quốc gia nào trong quá trình hội nhập và phát triển

1.5.2 Bài học từ ngân hàng trong nước

Thị trường thế giới vẫn chưa ổn định, bất chấp sự can thiệp mạnh mẽ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ - FED (phối hợp với ngân hàng trung ương các nước G7 khác) trong thời gian qua, kéo theo khả năng xảy ra một cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu lớn hơn

Những gì được coi là căn bệnh tín dụng của riêng nước Mỹ nay đã xuất hiện

ở nhiều nơi: khủng hoảng về cho vay dưới chuẩn của Mỹ đã lan sang châu Âu và các thị trường đang phát triển; khủng hoảng tín dụng đã biến hình thành khủng hoảng niềm tin của người tiêu dùng và nhà đầu tư vào khả năng của các cơ quan điều hành chính sách tiền tệ trên thế giới

Không dừng ở đó nó cũng đã ảnh hưởng đối với Việt Nam:

Trong ngắn hạn, ảnh hưởng trực tiếp của khủng hoảng toàn cầu đối với nước

ta là không lớn do nước ta chịu tác động gián tiếp hơn tác động trực tiếp, hệ thống ngân hàng Việt Nam chưa có nhiều hoạt động giao thương trực tiếp với các trung tâm tài chính và các luồng chuyển dịch tiền thế giới

Nhưng xét về mặt dài hạn, những tác động này có thể trở nên sâu rộng hơn Cuộc khủng hoảng hiện nay có thể biến thành một sự vỡ vụn tín dụng nghiêm trọng của nền kinh tế Mỹ, nơi mà: các ngân hàng lo sợ không dám cho các ngân hàng khác vay do chưa xác định được rõ rủi ro tín dụng trong bản thân các ngân hàng

Trang 26

này; thanh khoản giữa các ngân hàng thấp dẫn đến ít hoạt động cho vay doanh nghiệp và cho vay hộ gia đình (như cho vay mua nhà hay cho vay tiêu dùng)

Để giảm bớt tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng to àn cầu, các doanh nghiệp Việt Nam nên có chiến lược tồn tại bằng cách củng cố dòng tiền mặt Các doanh nghiệp cũng nên định hướng xuất khẩu sang các thị trường mới ở Trung Đông và ASEAN cũng như thị trường nội địa Các nhà hoạch định chính sách Việt Nam cần rút ra những bài học kinh nghiệm từ một loạt các sự kiện gần đây

* Chúng ta cần ngăn chặn một cuộc khủng hoảng ngân hàng liên quan đến các khoản cho vay bất động sản xấu Hoạt động thanh tra, kiểm tra phải được tiến hành nghiêm khắc và Ngân hàng Nhà nước (NHNN) nên sẵn sàng bơm thanh khoản cho hệ thống ngân hàng khi cần thiết và có kế hoạch sáp nhập những ngân hàng yếu vào những ngân hàng mạnh

* NHNN nên có kế hoạch bảo hiểm các khoản tiền gửi ngân hàng

* Trong trường hợp khủng hoảng thế giới xấu đi, cơ quan quản lý cần kích thích tiêu dùng trong nước thông qua chính sách tín dụng mềm dẻo hơn Việc NHNN cắt giảm lãi suất cơ bản cùng một số biện pháp nới lỏng chính sách tiền tệ khác là bước đi đúng hướng

* Cơ hội chủ yếu là đa dạng hóa thị trường xuất khẩu và tìm kiếm thị trường cũng như các nhà đầu tư mới từ Trung Đông

* Trong tình hình khó khăn của nền kinh tế toàn cầu, Việt Nam cần phải cảnh giác và linh hoạt trong chính sách kinh tế vĩ mô, đủ để nhận ra và đáp ứng với những thay đổi nhanh chóng của thị trường thế giới, nhằm làm giảm nhẹ những ảnh hưởng xấu của chúng

Các giải pháp tài chính nhằm ngăn chặn và kiềm chế lạm phát, sẽ được thực hiện song song với các giải pháp kích cầu để kích thích kinh tế tăng trưởng Có lẽ bài học bao quát nhất đối với Việt Nam là cần kết hợp hài hòa giữa sức mạnh tự điều chỉnh của thị trường với năng lực của Chính phủ trong điều tiết nền kinh tế Đây cũng là vấn đề khó nhất trong việc hoạch định chính sách kinh tế của Nhà nước, đòi hỏi phải có kinh nghiệm quốc tế và căn cứ vào thực tế phát triển của Việt

Trang 27

Nam để đưa ra các quyết sách đúng đắn, vừa tận dụng được lợi thế, vừa chủ động đối phó và vượt qua thách thức trong xu hướng toàn cầu hóa

+ Biện pháp kích cầu theo kinh tế vĩ mô:

Trong nền kinh tế, hàng hoá được tiêu thụ tạo nên tổng sản phẩm thu nhập quốc dân GDP Suy thoái bắt nguồn từ suy giảm tổng cầu, khi đó nền kinh tế sẽ gặp khó khăn, hàng hoá sản xuất ra không tiêu thụ được, giá cả giảm… Những cuộc suy thoái này nếu để phát triển sẽ trở thành khủng hoảng Trong kinh tế vĩ mô, tổng cầu nền kinh tế (Y) gồm 4 thành phần: cầu tiêu dùng (C), cầu đầu tư (I), cầu của Chính phủ (G) và xuất nhập khẩu hàng hoá (EX - IM) Tổng cầu được biểu hiện qua công thức sau: Y = C + I + G + (EX- IM)

Khi suy thoái kinh tế, tổng cầu đầu tư giảm do doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc huy động vốn cho sản xuất, cầu tiêu dùng cũng giảm do người dân không

có tiền để chi tiêu, giá cả hàng hoá xuất nhập khẩu cũng giảm Tất các các yếu tố trên làm cho tổng cầu Y giảm mạnh Để ổn định kinh tế vĩ mô, một trong các biện pháp đưa ra là tìm cách tăng chi tiêu của Chính phủ để kích cầu

Trong điều kiện Việt Nam, kết hợp chính sách kích cầu đầu tư và tiêu dùng sao cho hợp lý làm tăng tổng cầu cho nền kinh tế Bây giờ, biện pháp mà các nhà hoạch định chính sách nên xem xét là làm sao để cho người dân, doanh nghiệp tìm đến mua sản phẩm

Đầu tiên, Chính phủ “bơm” tín dụng vào nền kinh tế để kích thích tăng cầu tiêu dùng Khi người dân có tiền họ sẽ chi tiêu cho những hàng hoá mà doanh nghiệp sản xuất ra Vì vậy, kích cầu tiêu dùng thì phải kích cầu vào những hàng hoá thiết yếu nhất, ngay cả những mặt hàng trước kia xuất khẩu được, bây giờ thì gặp khó khăn cũng nền đưa về thị trường trong nước

Thứ hai, để tăng tổng cầu đầu tư thì Chính phủ phải hạ lãi suất, thể hiện qua việc Chính phủ hỗ trợ lãi suất 4% cho các doanh nghiệp trong diện hỗ trợ lãi suất, các biện pháp hỗ trợ nhà đầu tư thông qua các biện pháp hành chính Ngoài ra, dùng chính sách tài khoá để kích cầu đầu tư thông qua việc giảm thuế thu nhập cá nhân,

Trang 28

thuế thu nhập doanh nghiệp, VAT… Khi thuế giảm sẽ kích thích mua hàng hoá, đầu

tư mở rộng

Ngoài ra, Chính phủ cũng đã tác động đến niềm tin, sự lạc quan của nhà đầu

tư Chính phủ cũng nên tạo điều kiện tối đa cho các doanh nghiệp sản xuất, giúp họ giảm giá thành sản xuất và tăng quyền lợi của họ để họ yên tâm sản xuất, tạo thêm thị trường tiêu thụ sản phẩm

+ Nới lỏng chính sách tín dụng nhưng phải thận trọng

Trong tháng 10 năm 2008, tốc độ tăng giá tiêu dùng dưới 0% mà nhiều người nhận định rằng giảm phát đã xuất hiện Nhưng theo ông Cao Sỹ Kiêm, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam, nguyên Thống đốc NHNN nhận định rằng đó chỉ là dấu hiệu “tạm nghỉ” của lạm phát và tình trạng này chỉ diễn ra trong khoảng thời gian ngắn Nên việc giảm lãi suất cơ bản, giảm lãi suất tái cấp vốn, giảm lãi suất tái chiết khấu, giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc không phải là để đối phó với giảm phát, mà nhằm mục đích thúc đẩy nền kinh tế trong điều kiện lạm phát bước đầu được kiềm chế, tăng tính thanh khoản cho hệ thống ngân hàng

Chính sách tín dụng được thắt chặt trong suốt 6 tháng qua là một trong những nguyên nhân khiến tốc độ tăng trưởng kinh tế không đạt mức đề ra Bây giờ, khi lạm phát đã được đẩy lùi, việc nới rộng chính sách tiền tệ để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế là hoàn toàn phù hợp, nhưng việc mở rộng chính sách tiền tệ phải hết sức thận trọng

Nếu các ngân hàng cho vay đúng dự án, đúng đối tượng, bảo đảm bơm vốn vào đúng địa chỉ cần thiết thì sẽ góp phần phát triển kinh tế, kiềm chế lạm phát Nhưng ngược lại, nếu các ngân hàng mở rộng “hầu bao” quá mức thì sẽ trở thành kênh bơm tiền ra lưu thông, kích thích lạm phát và đến một lúc nào đó, khi lạm phát tăng cao lại phải thắt chặt, gây nên áp lực cho nền kinh tế Điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt, nhưng phải có lộ trình từng bước một và đặc biệt là hết sức thận trọng, hết sức cảnh giác với lạm phát - vốn đang rình rập nền kinh tế

Nhất là đối với hoạt động tín dụng cho vay bất động sản (BĐS) của tất cả các ngân hàng Nếu nới rộng cho vay BĐS là rất đáng lo ngại, bởi thị trường BĐS vẫn

Trang 29

chưa có dấu hiệu phục hồi, giao dịch vẫn trong tình trạng ảm đạm Nếu thị trường BĐS không cải thiện, chỉ một phần dư nợ cho vay BĐS hiện nay được xếp vào nợ khó đòi thì không biết điều gì sẽ xảy ra không chỉ đối với hệ thống ngân hàng

+ Chính sách hỗ trợ lãi suất của Chính Phủ

Thống đốc Nguyễn Văn Giàu giải thích cụ thể: Theo quy định hiện nay thì các NHTM đang áp dụng lãi suất cho vay đối với các doanh nghiệp phổ biến ở mức 10%/năm; nếu một doanh nghiệp thuộc đối tượng được hỗ trợ lãi suất vay theo Quyết định 131 của Thủ tướng Chính phủ chỉ phải trả lãi suất vay vốn ngân hàng là 6%/năm, 4% còn lại là phần được hỗ trợ lãi suất do Nhà nước cấp bù cho doanh nghiệp Như vậy, rõ ràng là doanh nghiệp đã giảm được chi phí lãi suất, từ đó có điều kiện thuận lợi hơn để giảm chi phí sản xuất, giảm giá thành, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển Và TS Nguyễn Quang A, Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển (IDS) đã nhận định: “Bù lãi suất là một biện pháp kích cầu rất tốt và đây thực

sự là chính sách sáng tạo của Việt Nam” Theo ông gói kích cầu này đạt được nhiều mục tiêu

- Thứ nhất, gói kích cầu được thực hiện khá nhanh, thực hiện trên diện rộng,

do tất cả các ngân hàng thương mại đều tham gia, nên nhiều doanh nghiệp có thể vay vốn với lãi suất thấp để phục hồi sản xuất - kinh doanh

- Thứ hai, đối tượng hỗ trợ “rất trúng”, vì tất cả những ngành sử dụng nhiều lao động - đối tượng chịu ảnh hưởng trực tiếp từ suy thoái kinh tế - đều thuộc đối tượng được hỗ trợ

- Thứ ba, cán cân xuất - nhập khẩu được cải thiện

Qua đó, nền kinh tế đã đạt được thành tựu nhất định khi tăng trưởng khả quan trong tháng 4 và 4 tháng đầu năm 2009 Theo số liệu của Bộ Công thương, giá trị sản xuất công nghiệp tháng 4 tăng 3,1% so với tháng 3 và tăng 5,4% so với tháng 4/2008 Kim ngạch xuất khẩu tháng 4 dù chỉ đạt khoảng 4,5 tỷ USD, giảm 15,3% so với tháng trước, nhưng có nhiều dấu hiệu tích cực, như kim ngạch xuất khẩu nhiều mặt hàng chủ lực tăng hơn so với tháng trước Còn theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước, nguồn vốn đầu tư cho nền kinh tế từ các tổ chức tín dụng đã tăng đột biến

Trang 30

trong tháng 4, với mức tăng tới 4,86% so với tháng 3/2009 và tăng 11,16% so với cuối năm 2008

Với bức tranh kinh tế ngày càng sáng sủa hơn, nhiều chuyên gia kinh tế nhận định, đây là hệ quả tất yếu của các gói kích cầu, đặc biệt là gói hỗ trợ 4% lãi suất

TS Lê Xuân Nghĩa, P hó chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia nhận định, đáy của suy giảm kinh tế đã được thiết lập vào quý I/2009 và hiện tại, triển vọng tăng trưởng kinh tế đã khá rõ nét Theo ông Nghĩa, để tiếp tục phát huy gói kích cầu

hỗ trợ lãi suất, cần phải xã hội hoá gói kích cầu này bằng chính sách khuyến khích nhà đầu tư tư nhân bỏ vốn xây dựng cơ sở hạ tầng, đầu tư vào sản xuất - kinh doanh thông qua việc đẩy mạnh IP O, cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước

Chương trình kích cầu đầu tư với mức hỗ trợ lãi suất 4% cho doanh nghiệp được kỳ vọng sẽ tạo động lực cho doanh nghiệp vượt qua khó khăn Tuy nhiên, quá trình thực hiện bắt đầu bộc lộ những kẽ hở, trong đó có tình trạng “đảo nợ” là đáng

lo ngại hơn cả Đối tượng được hỗ trợ, ngành nghề cần hỗ trợ và mục đích sử dụng

đã rất rõ ràng là để giải quyết vốn lưu động, khai thông sản xuất Tuy nhiên vì lãi suất thấp nên nhiều doanh nghiệp có khả năng “đảo nợ”, tức là trước đây đã vay nợ với lãi suất cao để đầu tư và nay có chính sách cho vay với lãi suất thấp hơn nhiều lần thì họ có thể tìm cách trả khoản nợ cũ để có đủ điều kiện đ ược vay mới Chính điều này đã làm nảy sinh tình trạng sử dụng vốn cho vay mới để trả nợ cũ Điều này

là không đúng với mục đích kích cầu của Chính phủ và sẽ rất nguy hiểm khi các khoản vay mới này được doanh nghiệp dùng để lấp đầy các vụ sa lầy vào thị trường tài chính, bất động sản Bởi rất có thể, con số dùng sai mục đích này đủ lớn để dẫn đến tác động tiêu cực cho nền kinh tế vĩ mô cũng như cho các thị trường khác

Bên cạnh đó tình trạng “đảo nợ” cũng sẽ đẩy gánh nặng rủi ro về phía ngân hàng Vì khi điều kiện cho vay không được kiểm soát chặt thì rủi ro sẽ tăng lên, đặc biệt trong bối cảnh suy thoái như hiện nay, môi trường kinh doanh còn tích tụ rất nhiều khó khăn Chính vì vậy, nếu mở rộng vốn vay một cách vội vàng và ồ ạt thì rủi ro cũng sẽ tăng lên đến mức nguy hiểm

Trang 31

Các cán bộ tín dụng là những người gần khách hàng nhất, thường xuyên theo dõi việc sử dụng vốn vay của khách hàng Tuy nhiên, khi một số doanh nghiệp trích lại một phần trong 4% lãi suất hỗ trợ cho cán bộ tín dụng khiến động lực cho vay của cán bộ tín dụng tăng lên, phần nào làm giảm các tiêu chí về mục đích cho vay

hỗ trợ Đây là cám dỗ dễ khiến một số điều kiện có thể được nới lỏng Từ đó càng làm tăng cao rủi ro cho ngân hàng

Vì vậy buộc các ngân hàng thương mại phải nghiêm túc trong chương trình tín dụng của ngân hàng mình Đồng thời, trong thời điểm các ngân hàng thương mại đang muốn đẩy mạnh mở rộng tín dụng để tăng thị phần thì vai trò giám sát của Ngân hàng Nhà nước là rất quan trọng

Trang 32

CHƯƠNG 2

PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG

TẠI NHCT KHÁNH HÒA

2.1 Khái quát chung về NHCT Khánh Hòa

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển Ngân hàng Công Thương Việt Nam

- Ngân hàng Công Thương Việt Nam được thành lập từ năm 1988 sau khi tách ra

từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

- Là Ngân hàng thương mại lớn, giữ vai trò quan trọng, trụ cột của ngành Ngân hàng Việt Nam VietinBank có tổng tài sản chiếm hơn 25% thị phần trong toàn bộ hệ thống Ngân Hàng Việt Nam Nguồn vốn của VietinBank không ngừng tăng trưởng qua các năm, tăng mạnh kể từ năm 1996, đạt bình quân hơn 20%/năm, đặc biệt có năm tăng 35% so với năm trước

- Có hệ thống mạng lưới trải rộng toàn quốc với 3 Sở Giao dịch, 141 chi nhánh và trên 700 điểm/phòng giao dịch

- Có 4 Công ty hạch toán độc lập là Công ty Cho thuê Tài chính, Công ty TNHH Chứng khoán, Công ty Quản lý Nợ và Khai thác Tài sản, Công ty TNHH Bảo hiểm và 3 đơn vị sự nghiệp là Trung tâm Công nghệ Thông tin và Trung tâm Thẻ, Trường Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực

- Là sáng lập viên và đối tác liên doanh của Ngân hàng INDOVINA

- Có quan hệ đại lý với trên 850 ngân hàng lớn trên toàn thế giới

- Ngân Hàng Công Thương Việt Nam là một Ngân hàng đầu tiên của Việt Nam được cấp chứng chỉ ISO 9001:2000

* Là thành viên sáng lập của các Tổ chức tài chính tín dụng:

+ Sài Gòn Công Thương Ngân Hàng

Trang 33

+ IndovinaBank (Ngân hàng liên doanh đ ầu tiên tại Việt Nam)

+ Công ty cho thuê tài chính quốc tế - VILC (Công ty cho thuê tài chính quốc tế đầu tiên tại Việt Nam)

+ Công ty liên doanh Bảo Hiểm Châu Á – NHCT

* Là thành viên chính thức của:

+ Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam (VNBA)

+ Hiệp hội các ngân hàng Châu Á (AABA)

+ Hiệp hội Tài chính viễn thông Liên ngân hàng toàn cầu (SWIFT)

+ Tổ chức Phát hành và Thanh toán thẻ VISA, MASTER quốc tế

- Đã ký 08 Hiệp định tín dụng khung với các quốc gia Bỉ, Đức, Hàn quốc, Thụy sỹ và có quan hệ đại lý với 735 Ngân hàng lớn của 60 quốc gia trên khắp các Châu lục

- Là ngân hàng tiên phong trong việc ứng dụng công nghệ hiện đại và thương mại điện tử tại Việt Nam

- Không ngừng nghiên cứu, cải tiến các sản phẩm, dịch vụ hiện có và phát triển các sản phẩm mới nhằm đáp ứng cao nhất nhu cầu của khách hàng

2.1.2 Quá trình hình thành và phát triển NHCT Khánh Hòa

2.1.2.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội tác động đến hoạt động kinh doanh của NHCT Khánh Hòa

Khánh Hòa là tỉnh thuộc miền duyên hải Nam Trung Bộ, được thiên nhiên

ưu đãi nguồn tài nguyên biển, khoảng sản phong phú, nhiều danh thắng nổi tiếng như vịnh Nha Trang, Vân Phong Các cảng biển danh tiếng như Cam Ranh, Nha Trang nối liền Khánh Hòa với cả nước và quốc tế… Trong nhiều năm qua, GDP của tỉnh đạt tốc độ tăng trưởng cao (năm 2006 đạt 10.4%; năm 2007 là 11%), cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ (năm

2007, công nghiệp – xây dựng chiếm 41.7%; dịch vụ chiếm 40.6%), thu nhập bình quân đầu người không ngừng tăng (năm 2006 là 868 USD, năm 2007 là 1.019 USD); Năm 2008, GDP đạt tốc độ tăng trưởng 13%, kim ngạch xuất khẩu tăng 15%, thu nhập bình quân đầu người đạt 1.190 USD Từ một tỉnh nghèo nàn lạc hậu,

Trang 34

kinh tế kém phát triển Khánh Hòa đã vương lên trở thành một trung tâm công nghiệp và du lịch của miền Trung và cả nước Đặc biệt Nha Trang – Khánh Hòa đã

để lại nhiều dấu ấn tốt đẹp trong lòng du khách gần xa và bạn bè quốc tế

Đạt được những kết quả trên không thể không kể đến vai trò quan trọng của nguồn vốn tín dụng Ngân hàng Hệ thổng Ngân hàng trên địa bàn tỉnh như một huyết mạch khai thô ng những nội lực tiềm tàng của tỉnh, phục vụ đắc lực cho mục tiêu kinh tế tỉnh

2.1.2.2 Quá trình hình thành và phát triển NHCT Khánh Hòa

- NHCT tỉnh Khánh Hòa là một chi nhánh của NHCT Việt Nam,

có trụ sở đặt tại số 04 Hoàng Hoa Thám – Nha Trang – Khánh Hòa Ra đời từ năm 1988, thời điểm cả nước thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, đưa nền kinh tế vận hành theo

cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước Hơn 20 năm qua, Chi nhánh NHCT tỉnh Khánh Hòa đã có bước phát triển vượt bậc và đến nay

đã trở thành một trong những ngân hàng thương mại mạnh nhất trên địa bàn, góp phần nâng cao vị thế của Ngân hàng Công thương Việt Nam và đóng góp tích cực trong chuyển dịch cơ cấu

kinh tế trên địa bàn tỉnh Khánh Hoà

- Để tăng trưởng và đảm bảo nguồn vốn kinh doanh, Chi nhánh đã thực hiện kết hợp đồng thời nhiều biện pháp: đa dạng hoá các sản phẩm huy động vốn; Áp dụng mức lãi suất linh hoạt; Cung cấp những sản phẩm trọn gói; Tăng cường công

Trụ sở của Ngân hàng Công thương tỉnh Khánh

Hoà tại số 4, Hoàng Hoa Thám, Tp Nha Trang, tỉnh

Khánh Hoà

Trang 35

tác tiếp thị; khuyến mãi v.v, Bên cạnh đó, việc xây dựng chiến lược khách hàng phù hợp cũng đã giúp Chi nhánh thành công trong công tác huy động vốn

- Trong cho vay và đầu tư, với phương châm tăng trưởng gắn liền với an toàn

và hiệu quả, Chi nhánh đ ã thực hiện “đa dạng hóa đối tượng vay vốn, phương thức

và thể loại cho vay” nhằm phục vụ tối đa mọi nhu cầu của từng khách hàng, đồng thời cũng hạn chế được nhiều rủi ro Với chức năng trung gian “đi vay để cho vay”, vốn tín dụng của NHCT Khánh Hoà đã góp phần nâng cao sức cạnh tranh cho DN Hiện có nhiều doanh nghiệp sử dụng nguồn vốn vay từ Chi nhánh đã không ngừng phát triển và được xếp vào hạng “top” như: Công ty cổ phần Nha Trang Seafood, Công ty cổ phần Dệt may Nha Trang, Tổng công ty Khánh Việt, v.v

- Ngoài huy động vốn và cho vay, kinh doanh dịch vụ tại chi nhánh Ngân hàng Công thương Khánh Hoà cũng không ngừng phát triển

- Với những kết quả đ ã đạt năm 2007, Chi nhánh Ngân hàng Công thương Khánh Hoà xứng đáng được nhận phần thưởng là “Đơn vị xuất sắc” của Ngân hàng Công thương Việt Nam Phát huy những kết quả đạt được, hy vọng rằng Chi nhánh

sẽ tiếp tục phát triển, xứng đáng là một Ngân hàng thương mại hiện đại trên địa bàn, tiếp tục có nhiều đóng góp tích cực cho tiến trình phát triển kinh tế trên quê hương Khánh Hoà và hệ thống Ngân hàng Công thương Việt Nam

2.1.3 Cơ cấu bộ máy

Cơ cấu tổ chức quản lý của Ngân hàng Công Thương Chi nhánh Khánh Hòa:

cá nhân

Phòng

Kế Toán

Phòng

Tổ Chức Hành Chính

Phòng Quản

Lý Rủi

Ro

Phòng Giao Dịch

Phòng Tổng Hợp

Phòng Thông Tin Điện Toán

Trang 36

NHCT tỉnh Khánh Hòa gồm 173 CBCNV với 136 nữ và 37 nam Trong đó hơn 70% trình độ đại học và trên đại học, còn lại đều đã được đào tạo qua hệ cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và chuyên ngành Ngân hàng, 100% CBCNV được theo học các khóa nghiệp vụ chuyên sâu theo hướng “làm nghề nào giỏi nghề đó” từ giám đốc điều hành giỏi đến nhân viên giỏi

Đội ngũ CBCNV chuyển dần từ lượng sang chất, đủ sức vận hành bộ máy kinh doanh trong mọi tình huống của thị trường trước mắt và chuẩn bị cho tương lai Điều này khẳng định tại sao NHCT tỉnh Khánh Hòa đứng vững và phát triển ổn định trong cơ chế thị trường cạnh tranh gay gắt và thường xuyên biến động hiện nay, nhất là trong giai đoạn giao thời từ cơ chế cũ chuyển sang cơ chế mới Cơ cấu

tổ chức cúa NHCT tỉnh Khánh Hòa khá chặt chẽ và gọn nhẹ: 01 Giám đốc và 03 Phó giám đốc đều do NHCT Việt Nam chỉ định Cán bộ chủ chốt gồm 25 người Hiện nay mạng lưới phòng ban được chia thành 13 phòng, trong đó có 05 phòng giao dịch và 04 Quỹ Tiết Kiệm và một hệ thống 25 máy ATM

Chức năng và nhiệm vụ của các phòng ban như sau:

2.1.3.1 Phòng Tổ chức hành chính:

Phòng Tổ chức Hành chính là phòng nghiệp vụ thực hiện công tác tổ chức cán bộ và đào tạo tại chi nhánh theo đúng chủ trương chính sách của Nhà nước và quy định của Ngân hàng Công thương Việt Nam (NHCT VN) Thực hiện công tác quản trị và văn phòng phục vụ hoạt động kinh doanh tại chi nhánh, thực hiện công tác bảo vệ, an ninh an toàn chi nhánh

2.1.3.2 Phòng khách hàng cá nhân:

Là phòng nghiệp vụ trực tiếp giao dịch với khách hàng, gồm Khách hàng Cá nhân và các doanh nghiệp vừa và nhỏ để khai thác vốn bằng VND và ngoại tệ Thực hiện các nghiệp vụ liên quan đến tín dụng, quản lý các sản phẩm tín dụng phù hợp với chế độ, thể lệ hiện hành và hướng dẫn của NHCT Việt Nam Trực tiếp quảng cáo, tiếp thị, giới thiệu và bán các sản phẩm dịch vụ ngân hàng cho các khách hàng doanh nghiệp và cá nhân

Trang 37

2.1.3.3 Phòng khách hàng doanh nghiệp :

Là phòng nghiệp vụ trực tiếp giao dịch với khách hàng là các doanh nghiệp lớn để khai thác vốn bằng VND và ngoại tệ Thực hiện các nghiệp vụ liên quan đến tín dụng, quản lý các sản phẩm tín dụng phù hợp với chế độ, thể lệ hiện hành và hướng dẫn của NHCT Việt Nam Trực tiếp quảng cáo, tiếp thị, giới thiệu và bán các sản phẩm dịch vụ ngân hàng cho các khách hàng doanh nghiệp và cá nhân

2.1.3.4 Phòng Quản lý rủi ro:

Phòng quản lý rủi ro có nhiệm vụ tham mưu cho Giám đốc chi nhánh về công tác quản lý rủi ro của chi nhánh; Quản lý nợ có vấn đề (cơ cấu lại thời hạn nợ,

nợ quá hạn, nợ xấu); Quản lý giám sát thực hiện danh mục cho vay, đầu tư đảm bảo tuân thủ các giới hạn tín dụng cho từng khách hàng; Quản lý khai thác và xử lý tài sản đảm bảo nợ vay theo quy định của Nhà nước nhằm thu hồi các khoản nợ gốc và lãi tiền vay; Quản lý, theo dõi và thu hồi các khoản nợ đ ã được xử lý rủi ro Thẩm định hoặc tái thẩm định khách hàng, dự án, phương án đề nghị cấp tín dụng Thực hiện chức năng đánh giá, quản lý rủi ro trong toàn bộ các hoạt động ngân hàng theo chỉ đạo của NHCT VN

2.1.3.5 Phòng Kế toán:

Là phòng nghiệp vụ thực hiện các giao dịch trực tiếp với khách hàng; Các nghiệp vụ và các công việc liên quan đến công tác quản lý tài chính, chi tiêu nội bộ tại chi nhánh; Cung cấp các dịch vụ ngân hàng liên quan đến nghiệp vụ thanh toán (Thanh toán xuất nhập khẩu, ATM, Giao dịch chứng khoán…), xử lý hoạch toán các giao dịch Quản lý và chịu trách nhiệm đối với hệ thống giao dịch trên máy, quản lý quỹ tiền mặt đến từng giao dịch viên theo đúng qui định của Nhà nước và NHCT VN Thực hiện nhiệm vụ tư vấn cho khách hàng về sử dụng các sản phẩm Ngân hàng

2.1.3.6 Phòng giao dịch:

Là phòng nghiệp vụ trực tiếp giao dịch huy động tiền gửi với Khách hàng cá nhân, tổ chức kinh tế để khai thác vốn bằng VND và ngoại tệ, thực hiện các nghiệp

Trang 38

vụ liên quan đến tín dụng, quản lý các sản phẩm tín dụng phù hợp với chế độ, chính sách, thể lệ hiện hành của NHCT Việt Nam

2.1.3.7 Phòng Tổng hợp:

Phòng Tổng hợp là Phòng nghiệp vụ tham mưu cho Giám đốc chi nhánh dự kiến kế hoạch kinh doanh, tổng hợp, phân tích đánh giá tình hình ho ạt động kinh doanh, tổ chức học tập nâng cao trình độ của cán bộ phòng, thực hiện báo cáo hoạt động hàng năm của chi nhánh Là đầu mối nghiên cứu các đề án mở rộng mạng lưới kinh doanh tại chi nhánh trình NHCT Việt Nam quyết định

2.1.3.8 Phòng Thông tin điện toán:

Thực hiện công tác quản lý, duy trì hệ thống thông tin điện toán tại chi nhánh Bảo trì bảo dưỡng máy tính đảm bảo thông suốt hoạt động của hệ thống mạng, máy tính của chi nhánh

2.1.4 Tình hình hoạt động kinh doanh của NHCT Khánh Hòa

Quá trình đổi mới và phát triển đặc biệt là sau cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực Đông Nam Á năm 1997 nền kinh tế nước ta và đặc biệt là khu vực Ngân hàng - Tài chính chịu ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng này Chính vì thế việc đổi mới là hết sức cần thiết đối với hệ thống ngân hàng Việt Nam sự đổi mới và phát triển của NHCT Khánh Hòa gắn liền với sự đổi mới của hệ thống ngân hàng Việt Nam, nằm trong quá trình đổi mới và phát triển kinh tế do Đảng và Nhà nước

ta khởi xướng và chỉ đạo thực hiện

Hoà nhập với sự phát triển của nền kinh tế thị trường chuyển đổi cơ cấu công- nông- lâm ngư nghiệp và dịch vụ, cùng với xu hướng toàn cầu hoá và tạo tiền

đề cho Việt Nam gia nhập cho các tổ chức kinh tế lớn như WTO tập thể cán bộ và nhân viên NHCT Khánh Hòa đã phấn đấu thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ được giao, quy mô và kết quả kinh doanh ngày càng được nâng cao

NHCT Khánh Hòa đã chú trọng đổi mới trong mọi lĩnh vực hoạt động, nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu ngày càng tăng của xã hội, vừa phát huy các nghiệp vụ truyền thống của Ngân hàng, đồng thời mở rộng các nghiệp vụ và dịch vụ mới như: Kinh doanh ngoại tệ, chiết khấu chứng từ, bảo lãnh mua hàng, cho thuê tài chính,

Trang 39

hệ thống thẻ như Visa card, Master card, G-card, S-card, C-card đã chiếm được thị phần nhất định trong giao dịch của người tiêu dùng sản phẩm

Các hoạt động của NHCT Khánh Hòa bao gồm:

* Tầm nhìn:

Xây dựng NHCT Khánh Hòa trở thành một chi nhánh ngân hàng hiện đại, đáp ứng toàn diện về các nhu cầu sản phẩm dịch vụ mang tính hội nhập và cạnh tranh hỗ trợ tốt nhất cho khách hàng trong nước và quốc tế, quản lý có hiệu quả và phát triển bền vững

* Phương châm hoạt động:

Vì sự thành đạt của mọi người, mọi nhà, mọi doanh nghiệp

- Phát hành kỳ phiếu, trái phiếu

2/ Cho vay, đầu tư:

- Cho vay ngắn hạn bằng VNĐ và ngoại tệ

- Cho vay trung, dài hạn bằng VNĐ và ngoại tệ

- Tài trợ xuất, nhập khẩu; chiết khấu bộ chứng từ hàng xuất

- Đồng tài trợ và cho vay hợp vốn đối với những dự án lớn, thời gian hoàn vốn dài

- Cho vay tài trợ, uỷ thác theo chương trình: Đài Loan (SMEDF); Việt Đức (DEG, KFW) và các hiệp định tín dụng khung

- Thấu chi, cho vay tiêu dùng

- Hùn vốn liên doanh, liên kết với các tổ chức tín dụng và các định chế tài chính trong nước và quốc tế

Trang 40

- Đầu tư trên thị trường vốn, thị trường tiền tệ trong nước và quốc tế

3/ Bảo lãnh:

Bảo lãnh, tái bảo lãnh (trong nước và quốc tế): Bảo lãnh dự thầu; Bảo lãnh thực hiện hợp đồng; Bảo lãnh thanh toán

4/ Thanh toán và Tài trợ thương mại:

- Phát hành, thanh toán thư tín dụng nhập khẩu; thông báo, xác nhận, thanh toán thư tín dụng nhập khẩu

- Nhờ thu xuất, nhập khẩu (Collection); Nhờ thu hối phiếu trả ngay (D/P) và nhờ thu chấp nhận hối phiếu (D/A)

- Chuyển tiền trong nước và quốc tế

- Chuyển tiền nhanh Western Union

- Thanh toán uỷ nhiệm thu, uỷ nhiệm chi, séc

- Chi trả lương cho doanh nghiệp qua tài khoản, qua ATM

- Chi trả Kiều hối…

5/ Ngân quỹ:

- Mua, bán ngoại tệ (Spot, Forward, Swap…)

- Mua, bán các chứng từ có giá (trái phiếu chính phủ, tín phiếu kho bạc, thương phiếu…)

- Thu, chi hộ tiền mặt VNĐ và ngoại tệ

- Cho thuê két sắt; cất giữ bảo quản vàng, bạc, đá quý, giấy tờ có giá, bằng phát minh sáng chế

6/ Thẻ và ngân hàng điện tử:

- Phát hành và thanh toán thẻ tín dụng nội địa, thẻ tín dụng quốc tế (VISA, MASTER CARD…)

- Dịch vụ thẻ ATM, thẻ tiền mặt (Cash card)

- Internet Banking, Phone Banking, SMS Banking

7/ Hoạt động khác:

- Khai thác bảo hiểm nhân thọ, phi nhân thọ

- Tư vấn đầu tư và tài chính

Ngày đăng: 04/03/2015, 14:24

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Kết quả hoạt động kinh doanh trong 3 năm 2006, 2007 và năm  2008. - giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng tại nhct khánh hòa
Bảng 2.1 Kết quả hoạt động kinh doanh trong 3 năm 2006, 2007 và năm 2008 (Trang 42)
Bảng 2.2: Tình hình huy động vốn của ngân hàng qua 3 năm 2006, 2007  và năm 2008. - giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng tại nhct khánh hòa
Bảng 2.2 Tình hình huy động vốn của ngân hàng qua 3 năm 2006, 2007 và năm 2008 (Trang 48)
-  Bên  cạnh  2  hình  thức  huy  động  theo  thành  phần  kinh  tế  và  huy  động  theo  kỳ hạn thì huy động theo loại tiền cũng cần phải chú trọng, vì nó phản ánh được khả  năng  kinh  doanh  ngo ại tệ của  ngân  hàng - giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng tại nhct khánh hòa
n cạnh 2 hình thức huy động theo thành phần kinh tế và huy động theo kỳ hạn thì huy động theo loại tiền cũng cần phải chú trọng, vì nó phản ánh được khả năng kinh doanh ngo ại tệ của ngân hàng (Trang 52)
Bảng 2.5: Doanh số thu nợ theo các thành phần kinh tế, ngành kinh tế  và theo thể loại cho vay qua 3 năm 2006, 2007 và năm 2008 - giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng tại nhct khánh hòa
Bảng 2.5 Doanh số thu nợ theo các thành phần kinh tế, ngành kinh tế và theo thể loại cho vay qua 3 năm 2006, 2007 và năm 2008 (Trang 60)
Bảng 2.6: Dư nợ theo các thành phần kinh tế, ngành kinh tế và theo thể  loại cho vay qua 3 năm 2006, 2007 và năm 2008 - giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng tại nhct khánh hòa
Bảng 2.6 Dư nợ theo các thành phần kinh tế, ngành kinh tế và theo thể loại cho vay qua 3 năm 2006, 2007 và năm 2008 (Trang 64)
Bảng 2.7 Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động - giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng tại nhct khánh hòa
Bảng 2.7 Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động (Trang 68)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w