BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG KHOA NUÔI TRỒNG THỦY SẢN NGUYỄN KHẮC HẢI MSSV: 45DN037 NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA PROTEIN VÀ TỶ LỆ THAY THẾ BỘT CÁ BẰNG BỘT ĐẬU NÀNH KHÁC N
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG KHOA NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
NGUYỄN KHẮC HẢI MSSV: 45DN037
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA PROTEIN VÀ TỶ LỆ THAY THẾ BỘT CÁ BẰNG BỘT ĐẬU NÀNH KHÁC NHAU TRONG THỨC ĂN LÊN SINH TRƯỞNG
VÀ TỶ LỆ SỐNG CỦA CÁ CHẼM (Lates calcarifer Bloch, 1790)
GIAI ĐOẠN GIỐNG
Luận văn tốt nghiệp Chuyên ngành Nuôi trồng thủy sản, 2003-2007
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN PGS_TS LẠI VĂN HÙNG
Nha Trang, tháng 11 năm 2007
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian thực hiện đề tài tốt nghiệp của mình, ngoài những cố gắng phấn đấu của riêng bản thân, tôi còn nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ nhiệt tình của gia đình, Thầy Cô giáo và các bạn của tôi
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, đã động viên tôi trong suốt thời gian học tập tại trường Đại học Nha Trang Đây là nguồn động lực tinh thần giúp tôi vượt qua những lúc khó khăn
Đặc biệt, cho phép tôi được gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến PGS_TS Lại Văn Hùng, thầy giáo đã rất tận tình hướng dẫn, tạo điều kiện cả về vật chất kỹ thuật, kiến thức chuyên môn và những lời động viên về tinh thần để tôi hoàn thành tốt đề tài của mình
Qua đây, tôi cũng xin chân thành cảm ơn tới anh Phan Ngọc Anh (chủ trang trại, nơi tôi thực tập), cùng tất cả các bạn sinh viên khác thực tập cùng cơ sở đã nhiệt tình hợp tác và hỗ trợ tôi trong suốt thời gian thực hiện thí nghiệm
Một lần nữa, tôi xin gửi lại đây lòng biết ơn sâu sắc và lời cảm ơn chân thành nhất tới gia đình, quý Thầy Cô giáo và các bạn
Trang 3TÓM TẮT
Nghề nuôi cá chẽm (Lates calcarifer) ở Việt Nam tuy chưa phát triển rộng khắp
trong cả nước, xong nó hứa hẹn mang lại một tiềm năng lớn trong tương lai gần ở nước ta những nghiên cứu khoa học về qui trình sản xuất giống và nuôi thương phẩm cá chẽm còn
ít Trong đó đặc biệt là những nghiên cứu trong lĩnh vực dinh dưỡng và thức ăn còn hạn chế Đây là lý do định hướng cho tôi thực hiện đề tài tốt nghiệp chuyên ngành nuôi trồng thủy sản với hai nôi dung nghiên cứu:
1 nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng protein khác nhau trong thức ăn lên
sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá chẽm (Lates calcarifer) ở giai đoạn 3,5 đến 6 cm
2 nghiên cứu ảnh hưởng tỷ lệ thay thế bột cá bằng bột đậu nành trong thức ăn
lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá chẽm (Lates calcarifer) ở giai đoạn 2,5 đến 4 cm
Thí nghiệm được thực hiện với 3 loại thức ăn có mức protein khác nhau 36%, 39%
và 42% protein và 3 mức thay thế bột cá bằng bột đậu nành 0%, 17% và 33%
Qua hai tháng thực hiện thí nghiệm đã thu được những kết quả khả quan với mức 42% protein (nội dung 1), và mức thay thế bột cá bằng bột đậu nành 17% (nội dung 2) là phù hợp nhất cho kết quả sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá chẽm ở giai đoạn giống (P< 0,05), so với các mức khác trong thí nghiệm
Tuy nhiên, do qui mô thí nghiệm còn nhỏ, điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật trong thí nghiệm còn thiếu do đó kết quả của thí nghiệm còn nhiều vấn đề cần xem xét và thảo luận
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Phần 1: MỞ ĐẦU 1
Phần 2: TỔNG LUẬN 3
2.1 đặc điểm sinh học cá chẽm 3
2.1.1 Vị trí phân loại 3
2.1.2 Đặc điểm hình thái 4
2.1.3 Đặc điểm phân bố 5
2.1.4 Đặc điểm sinh trưởng 6
2.1.5 Đặc điểm dinh dưỡng 6
2.1.6 Đặc điểm sinh sản 7
2.1.7 Vòng đời của cá chẽm 9
2.2 Tình hình nuôi cá biển trên thế giới 9
2.2.1 Vài nét về nghề nuôi cá biển trên thế giới 9
2.2.2 Tình hình nghiên cứu và nuôi cá chẽm trên thế giới 11
2.3 Tình hình nuôi cá biển ở việt nam 13
2.3.1 Vài nét về tình hình nuôi cá biển ở Việt Nam 15
2.3.2 Tình hình nghiên cứu và nuôi cá chẽm ở Việt Nam 18
2.4 Tình hình nghiên cứu về dinh dưỡng của cá chẽm 18
2.4.1 Khái quát chung về nhu cầu dinh dưỡng cá 19
2.4.2 Những nghiên cứu về dinh dưỡng của cá chẽm 21
2.5 Công nghiệp sản xuất thức ăn thủy sản 21
2.5.1 Bột cá và bột đậu nành trong thức ăn thủy sản 27
2.5.2 Một vài tồn tại trong ngành công nghiệp sản xuất thức ăn và phương hướng khắc phục 31
Phần 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
3.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu 31
3.2 Phương pháp nghiên cứu 32
3.1.2 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 32
3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 32
3.2.3 Phương pháp và dụng cụ xác định các thông số kỹ thuật 32
3.2.4 Phương pháp bố trí thí nghiệm 34
3.2.5 Phương pháp xử lý số liệu 34
Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 37
Trang 54.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng protein lên sinh trưởng
Và tỷ lệ sống của cá chẽm ở giai đoạn 3,5 đến 6 cm 37 4.1.1 Các yếu tố môi trường trong ao ương 37 4.1.2 Thức ăn sử dụng trong thí nghiệm 39 4.1.3 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng protein lên sinh
trưởng của cá chẽm giai đoạn 3,5-6 cm 40 4.1.4 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng protein lên tỷ lệ
sống của cá chẽm giai đoạn 3,5-6 cm 44 4.1.5 Xác định mối tương quan giữa chiều dài và khối lượng thân cá
chẽm giai đoạn 3,5-6 cm 45 4.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của tỷ lệ thay thế bột cá bằng bột đậu nành
lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá chẽm 2,5-4 cm 47 4.2.1 Các yếu tố môi trường trong ao ương 47 4.2.2 Thức ăn sử dụng trong thí nghiệm 47 4.2.3 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của tỷ lệ thay thế bột cá bằng bột
đậu nành lên sinh trưởng cá chẽm giai đoạn 2,5-4 cm 49 4.2.4 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của tỷ lệ thay thế bột cá bằng bột
đậu nành lên tỷ lệ sống của cá chẽm giai đoạn 2,5-4 cm 52 4.2.5 Xác định mối tương quan giữa chiều dài và khối lượng thân cá
chẽm giai đoạn 2,5-4 cm 53 Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN 54 5.1 Kết luận 54 5.1.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng protein lên sinh trưởng
và tỷ lệ sống của cá chẽm giai đoạn 3,5-6 cm 54 5.1.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của tỷ lệ thay thế bột cá bằng bột đậu
nành lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá chẽm giai đoạn 2,5-4 cm 54 5.2 Đề xuất ý kiến 55
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1: vài tên địa phương của loài cá Lates calcarifer Bloch, 1790 4
Bảng 2: một số loài cá biển xuất khẩu chính của Việt Nam 15
Bảng 3: Nhu cầu protein ở một số giai đoạn nuôi cá chẽm (Lates calcarifer) 20
Bảng 4: công thức thức ăn cho cá chẽm ở Malaysia 21
Bảng 5: công thức thức ăn cho cá chẽm ở Indonesia 21
Bảng 6: tỷ lệ thành phần của các acid amin thiết yếu trong các nguyên liệu khác nhau 23
Bảng 7: tỷ lệ bột cá sử dụng trong ngành nông nghiệp 28
Bảng 8: các yếu tố môi trường trong ao ương cá 38
Bảng 9: công thức thức ăn dùng trong (thí nghiệm 1) 39
Bảng 10: ảnh hưởng các hàm lượng protein khác nhau lên sinh trưởng của cá chẽm 3,5-6 cm 40
Bảng 11: ảnh hưởng của hàm lượng protein khác nhau lên tỷ lệ sống cá chẽm 3,5-6 cm 44
Bảng 12: các yếu tố môi trường trong ao ương cá (thí nghiệm 2) 48
Bảng 13: công thức thức ăn với tỷ lệ bột cá và bột đậu nành trong thí nghiệm 49
Bảng 14: ảnh hưởng các tỷ lệ bột cá và bột đậu nành khác nhau lên sinh trưởng của cá chẽm giai đoạn 2,5 – 4 cm 49
Bảng 15: ảnh hưởng của tỷ lệ thay thế bột cá bằng bột đậu nành lên tỷ lệ sống của cá chẽm giai đoạn 2,5-4 cm 52
Trang 7DANH MỤC CÁC HÌNH Trang
Hình 1: phân bố của giống cá chẽm trên thế giới 3
Hình 2: cá chẽm (Lates calcarifer Bloch, 1790) 3
Hình 3: sơ đồ vòng đời cá chẽm 9
Hình 4: ảnh hưởng các hàm lượng protein khác nhau lên tốc độ tăng trưởng chiều dài cá chẽm giai đoạn 3,5 – 6 cm 31
Hình 5 ảnh hưởng các hàm lượng protein khác nhau lên tốc độ
tăng trưởng khối lượng thân cá chẽm giai đoạn 3,5 – 6 cm 42
Hình 6: ảnh hưởng các hàm lượng protein khác nhau lên
tỷ lệ sống cá chẽm gia đoạn 3,5 – 6 cm .42
Hình 7: ảnh hưởng của tỷ lệ bột cá và bột đậu nành khác
nhau lên tốc độ tăng trưởng chiều dài thân cá chẽm giai 2,5 – 4 cm 45
Hình 8: ảnh hưởng của tỷ lệ bột cá và bột đậu nành khác
nhau lên tốc độ tăng trưởng khối lượng thân cá chẽm giai 2,5 – 4 cm 50
Hình 9: ảnh hưởng của tỷ lệ bột cá và bột đậu nành khác
nhau lên tỷ lệ sống cá chẽm giai 2,5 – 4 cm 50
Trang 8PHẦN 1: MỞ ĐẦU
Cùng với những điều kiện tự nhiên thuận lợi sẵn có và việc áp dụng những thành tựu của tiến bộ khoa học công nghệ, ngành thủy sản Việt Nam đã có những thành tựu rực rỡ trong những năm gần đây Xuất khẩu thủy sản tăng cả về sản lượng lẫn giá trị kinh tế; đời sống của hầu hết người dân tham gia trong hoạt động thủy sản được nâng lên đáng kể; sản phẩm trong ngành thủy sản không những đáp ứng được nhu cầu thực phẩm hàng ngày mà còn đem lại thêm thu nhập kinh tế cho người dân
Nhìn lại chặng đường hơn 45 năm qua kể từ ngày thành lập, thủy sản từ một lĩnh vực sản xuất nhỏ bé, nghèo và lạc hậu, nay đã trở thành một trong những ngành kinh tế xứng đáng trong nền kinh tế Trong những thành tựu to lớn từ ngành thuỷ sản mang lại thì nuôi trồng thuỷ sản đóng góp một vai trò quan trọng Trứơc những yêu cầu phát triển của ngành thì việc đa dạng hoá đối tượng nuôi là một việc làm cần thiết và cấp bách, đặc biệt là những loài hải đặc sản, những loài có giá trị kinh tế cao Trong những đối tượng đó có con
cá chẽm (Lates calcarifer Bloch, 1790)
Cá chẽm (Lates calcarifer) là loài cá biển có giá trị kinh tế cao, thịt ngon và là đối
tượng xuất khẩu quan trọng Đây là đối trượng nuôi hấp dẫn ở nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam Nghề nuôi cá chẽm ở nước ta hiện nay đang trong giai đoạn đầu Nguồn giống cung cấp cho nuôi thương phẩm chủ yếu được bắt ngoài tự nhiên Do đó hoạt động nuôi còn tự phát, manh mún, phân tán do phụ thuộc vào nguồn cung cấp giống
Để sớm đưa cá chẽm trở thành đối tượng nuôi rộng rãi và mang lại hiệu quả kinh tế cao trong khắp cả nước thì chúng ta cần phải tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện qui trình kỹ thuật từ sản xuất giống nhân tạo đến qui trình nuôi thương phẩm và các nghiên cứu khoa học có liên quan khác… Trong những nghiên cứu đó bắt buộc phải có nghiên cứu về nhu cầu dinh dưỡng cho cá Đối với cá chẽm nói riêng và bất kỳ một loài vật nuôi nói chung thì vấn đề thức ăn là yêu tố quan trọng bậc nhất, vì thức ăn có ảnh hưởng trực tiếp đến sự sinh trưởng, phát triển và khả năng sống sót của vật nuôi Thức ăn không phù hợp sẽ làm cho cá không ăn được hoặc nếu ăn được cũng không có khả năng hấp thụ được các chất dinh dưỡng, dẫn đến cá chậm lớn, sức đề kháng kém Mặt khác thức ăn dư thừa nhiều sẽ làm ô nhiễm môi trường nuôi và phát sinh dịch bệnh có thể làm chết cá mọi sự cung cấp thiếu hay thừa các chất dinh dưỡng đều ảnh hưởng xấu đến sự sinh trưởng và làm giảm hiệu quả kinh tế
Trang 9Trước những yêu cầu từ thực tế nhằm xác định thêm những thông tin cho nhu cầu protein của cá chẽm giai đoạn cá giống đồng thời bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, lấy lý thuyết vận dụng vào thực tế sản xuất Được sự cho phép của bộ môn Dinh dưỡng thuỷ sản, khoa Nuôi trồng thuỷ sản, Trường Đại học Nha Trang, tôi được
phân công thực hiện đề tài : Nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng protein và tỷ lệ thay thế bột cá bằng bột đậu nành khác nhau trong thức ăn lên sinh trưởng và tỷ lệ sống
của cá chẽm (Lates calcarifer Bloch, 1790) giai đoạn giống
Đề tài nghiên cứu bao gồm những nội dung sau:
Nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng protein khác nhau trong thức ăn lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá chẽm giai đoạn 3,5-6 cm
Nghiên cứu ảnh hưởng của tỷ lệ thay thế bột cá bằng bột đậu nành trong thức
ăn khác nhau lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá chẽm giai đoạn 2,5-4 cm Trong thời gian thực hiện đề tài do thời gian không dài, các trang thiết bị nghiên cứu còn thiếu và những hạn chế về chuyên môn của bản thân, cho nên trong nghiên cứu này không thể tránh khỏi những thiếu sót Kính mong được sự đóng góp ý kiến và sửa sai của quý Thầy cô giáo và các bạn
Xin chân thành cảm ơn!
Nha Trang, ngày 18 tháng 11 năm 2007
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Khắc Hải
Trang 10có 8 loài trong đó Lates calcarifer phân bố ở Tây Thái Bình Dương và ấn Độ Dương, còn 7
loài khác phân bố ở Châu phi [15]
Hình 1: Phân bố của giống cá chẽm trên thế giới Theo Nguyễn Nhật Thi (1991) ở Việt Nam có duy nhất một loài trong họ cá chẽm
đó là Lates calcarifer (Bloch, 1790) và được xếp vào họ Centropomidae (họ cá sơn biển)
Tên thường gọi là cá chẽm hay cá vược
Hình 2: cá chẽm (Lates calcarifer Bloch, 1790)
Trang 11Năm 1974, FAO công nhận vị trí phân loại cá chẽm như sau:
Ngành: Vetebrata
Lớp: Osteichthyes Lớp phụ: Teleostomi Bộ: Perciformes
Bộ phụ: Percoidae Họ: Centropomidae Giống: Lates
Loài: Lates calcarifer Bloch, 1790
Các quốc gia khác nhau, thậm trí trong cùng một quốc gia nhưng giữa các vùng
khác nhau thì tên gọi của loài Lates calcarifer cũng không giống nhau, dưới đây là một vài
tên gọi của loài cá này ở các quốc gia khác nhau
Bảng 1: Vài tên địa phương của loài cá Lates calcarifer Bloch, 1790
Anh Giant perch, white seabass, slver perch
Ân Độ Giant perch, palmer, cck-up seabass
Đông Bengal Begti, bekti, dangara, voliji fitadar, todah
Silanka Modhak, keduwa
Thailand Pla kapong kao, Pla kapong
Bắc Borneo Ikan, salung-sung
Việt Nam Cá chẽm, cá vược
Indonesia Kakap, pelak, petcham, telap
Trang 12vây mềm Vây hậu môn có 3 gai cứng, vây đuôi tròn có dạng hình quạt Vẩy dạng lược có kích cỡ vừa phải, có 61 vẩy đường bên [ 26].
Chan (1968), đã xác định màu sắc của cá thay đổi qua hai giai đoạn ở giai đoạn cá giống, thân cá có màu ô-liu phần bụng và hai bên thân có màu bạc ở giai đoạn trưởng thành thân cá có màu xanh lục hay vàng nhạt, phần dứơi bụng có màu nhạt [15]
2.1.3 Đặc điểm phân bố
Theo Greenwood (1976) và Moore (1980), Lates calcarifer phân bố tự nhiên ở ven
biển thuộc vùng Ân Độ Dương và Tây Thái Bình Dương bao gồm các nước: India, Burma, Srilanka, Bangladesh, Maylaysia, Peninsula, Java, Borneo, Celebes, Philippiles, Papua New Giunea, Bắc Australia, Nam china và Taiwan [16]
FAO (1974), cá chẽm phân bố rộng ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới thuộc Tây Thái Bình Dương và Ân Độ Dương, giữa kinh tuyến 50o Đông đến 160o tây, vĩ tuyến 26o Bắc đến 25o Nam Ngoài ra cá còn được tìm thấy ở phần phía bắc Châu á, phía nam dài đến Queensland, phía tây đến Đông phi [2]
Mai Đình Yên (1979), Nguyễn Hữu Phụng (2002) đã xác định Việt Nam cá chẽm có mặt ở hầu hết các tỉnh từ Móng Cái (Quảng Ninh) đến mũi Cà Mau, trong tất cả các thuỷ vực nước mặn, lợ, ngọt [17]
Phân bố sinh thái
Cá chẽm là loài rộng muối và có tính di cư xuôi dòng Cá thành thục sinh dục được tìm thấy ở vùng cửa sông, hồ (ví dụ: hồ Songhla ở Thailand) hay các đầm nước lợ nơi có
độ mặn dao động 30-32 ppt và độ sâu 10-15 m Âú trùng mới nở (10-15 ngày tuổi, dài 0,4 – 0,7 cm thường phân bố ven bờ biển gần các cửa sông nước lợ Trong khi cá con cỡ 1 cm
có thể gặp trong các thuỷ vực nước ngọt ví dụ: ruộng lúa, hồ (Bhatia & Kungvamkij, 1971) Trong điều kiện tự nhiên cá chẽm lớn lên trong các thuỷ vực nước ngọt và di cư ra vùng nước mặn thành thục và sinh sản [2]
+ Nhiệt độ: nhìn chung cá chẽm tăng trưởng chậm khi nhiệt độ nước xuống dưới
25oC, giảm khả năng bắt mồi ở dưới 20oC và tỷ lệ sống thấp ở dưới 15oC (tỷ lệ sống khoảng 40%) Trong nghề nuôi cá chẽm thương phẩm người ta thường mong muốn và duy trì nhiệt
Trang 13độ nước trong khoảng 26-30oC, cần phải đảm bảo nhiệt độ nước trong ao nuôi ít nhất phải trên 20oC [14]
+ Độ mặn: Cá chẽm có khả năng chịu đựng được khoảng dao động của độ mặn khá rộng từ 0 – 36 ppt Thậm trí cá chẽm nhỏ (TL = 10 mm) có thể di cư từ vùng nước mặn tới vùng nước ngọt trong khoảng 6 giờ mà không bị chết (Rasmussen, 1911) [14]
+ Oxy hoà tan: khi hàm lượng oxy hoà tan trong nước giảm xuống còn 2 ppm sẽ làm cho cã bị chết chỉ trong một vài phút Trừ phi hàm lượng oxy tăng trở lại nhanh chóng ngay sau đó [14]
2.1.4 Đặc điểm sinh trưởng
Sinh trưởng của cá chẽm có dạng đường cong sigma Trong đó cá tăng trưởng chậm
ở giai đoạn đầu nhưng tăng trưởng nhanh khi cá đạt kích cỡ 20 – 30 gam và giảm dần khi
cá đạt trọng lượng khoảng 4 kg (Kungvankij, 1986) Môi trường sống khác nhau cũng ảnh hưởng tới tốc độ sinh trưởng của cá Cá sống trong môi trường nước ngọt có tốc độ tăng trưởng nhanh hơn trong môi trường nước mặn (Wantanabe et al 1984) Cá chẽm có chiều dài và trọng lượng tối đa là 2m (TL) và 50 kg (W) (Bahanal & Soseanto, 1982)
Reynolds và Moore (1982), xác định tăng trưởng của cá bằng phương pháp đồ thị phương trình hồi qui để xác định chiều dài trung bình theo từng nhóm tuổi, từ đó lập đồ thị tương quan giữa chiều dài và trọng lượng thân với tuổi của cá (dẫn từ Võ Ngọc Thám [3])
Day (1971) đã tìm được mối liên quan giữa khối lượng thân (W) và chiều dài thân (L) ở các giai đoạn khác nhau qua công thức:
Trang 142.1.5 Đặc điểm dinh dưỡng
Cá chẽm là loài cá dữ điển hình Khi cá còn nhỏ chúng có thể ăn các loài phiêu sinh
vật (chiếm 20%) mà chủ yếu là tảo khuê, nhưng thức ăn chính của chúng vẫn là cá, tôm
nhỏ (chiếm 80%) Phổ thức ăn của cá chẽm rộng, nhưng khả năng sử dụng thức ăn của
chúng thay đổi theo từng giai đoạn khác nhau của cơ thể Theo David (1986), cá có kích
thước 10 – 20 mm đã bắt đầu ăn các loài cá nhỏ với tỷ lệ 0,8 trong khẩu phần ăn và tăng
dần đến 87% khi cá đạt 1m TL
Theo Chacko, 1958 thức ăn chủ yếu của cá chẽm là các loài cá đối, cá măng… và
bọn giáp xác như: cua, tôm ngoài ra chúng còn ăn các động vật thân mềm hai mảnh vỏ
như: sò, vẹm, ngao… [17] Tame & Marichamys (1986) cho rằng: ấu trùng cá chẽm ăn
sinh vật phù du rồi chuyển sang ăn ấu trùng côn trùng ở giai đoạn cá bột cá ăn các loài
động vật nổi như: Copepoda, ấu trùng nhuyễn thể… Khi cá đạt cỡ 5 – 15 cm thì thức ăn
chủ yếu của chúng là tôm và cá giai đoạn này cá thực hiện tính ăn lẫn nhau Kết qủa này
cũng phù hợp với nghiên cứu của Jena & Patnaik (1976), Russell & Greett (1985) [18]
Cá chẽm có tập tính săn mồi, cá con 10 – 40 mm TL có thể sử dụng thức ăn bất kỳ
lúc nào trong ngày nhưng mạnh nhất vào lúc xế chiều (Barlow et al 1995)
Lương Công Trung (1999), ông nghiên cứu sinh sản nhân tạo cá chẽm từ cá bố mẹ
được bắt ngoài tự nhiên và thấy rằng Cá chẽm bắt mồi mạnh vào lúc trời tối từ 17h trở đi
Cá bắt mồi ngay khi cho ăn thức ăn xuống và ăn rất nhanh (80 – 100%) Cá mới được
thuần dưỡng chưa quen với môi trường mới chúng thường tránh xa khi có tiếng động hoặc
bóng người [8]
Cá chẽm sẽ ăn thịt đồng loại đối với những con cá có chiều dài lên đến xấp xỉ 67%
chiều dài (TL) của con cá lớn Tính ăn thịt đồng loại chủ yếu ở những con cá có chiều dài
nhỏ hơn 15 cm Những con cá có chiều dài nhỏ hơn 16 mm TL rất khó khăn trong viêc tập
cho chúng ăn thức ăn chế biến [14]
2.1.6 Đặc điểm sinh sản
+ Mùa vụ: Cá chẽm đẻ quanh năm (Kungvankij, 1984), thời điểm chính vụ từ tháng
4 đến tháng 8 Cá con cỡ 1 cm có thể thu được nhiều từ tháng 5 đến tháng 8
Trang 15(Bhatia & Kungvankij, 1971) Có nhiều nguyên nhân ảnh hưởng đến mùa vụ sinh sản của
cá chẽm trong đó có sự tác động của thời tiết, khí hậu là rất lớn [8]
+ Phân biệt giới tính: Thông thường rất khó phân biệt giới tính của loài cá này nếu
chỉ dựa vào hình dạng bên ngoài, ngoại trừ vào mùa sinh sản Trong mùa sinh sản để phân
biệt giới tính của cá có thể dựa vào một số đặc điểm sau:
Cá đực có mõm hơi cong, trong khi đó con cái thì mõm thẳng Cá đực có thân thon
dài hơn cá cái (cùng tuổi), còn cá cái kích cỡ lớn hơn so với cá đực Đến vụ sinh sản,
những vẩy gần lỗ huyệt của cá đực sẽ dày lên, còn những con cá cái bụng to hơn cá đực
+ Chuyển đổi giới tính: Đặc điểm nổi bật trong sinh sản của cá chẽm là có sự thay
đổi giới tính từ cá đực thành cá cái sau khi tham gia sinh sản một vài lần Đặc tính này
không hoàn toàn là tuyệt đối, có những con cá đực không chuyển thành cá cái trong suốt
cuộc đời (Moore, 1979) Hiện nay vẫn chưa có những giải thích rõ ràng về hiện tượng
này Những con cá cái được chuyển đổi giới tính từ cá đực đựơc gọi là con cái thứ cấp, còn
cá cái phát triển trực tiếp từ trứng đựơc gọi là cá cái sơ cấp
+ Sức sinh sản: Sức sinh sản của cá chẽm có liên quan tới kích thước và trọng lượng
cơ thể cá Buồng trứng thu được từ 18 cá cái có trọng lượng từ 5,5 kg đến 11 kg cho
khoảng 2,1 – 7,1 triệu trứng (Wongsomnuk & Maneewongsa, 1976) Các quan sát của Vụ
nông nghiệp Australia (Annon, 1975) cho thấy cá 12 kg cho 7,5 triệu trứng, cá 19,5 kg cho
8,5 triệu trứng, và cá 22 kg cho 17 triệu trứng [2]
Dustan (1959) đã ước tính sức sinh sản trung bình của cá chẽm thuộc vùng biển miền
trung là 0,6.106/ kg khối lượng thân [19] Theo Davis (1984) cá chẽm có kích cỡ từ
122 cm – 124 cm có sức sinh sản ước tính khoảng 15,3 106 – 45,7 106 [7] Moore (1982),
cho rằng: sức sinh sản của cá chẽm rất cao, cá có khối lượng cơ thể khoảng 7,77 kg – 20,8
kg thì sức sinh sản từ 2,3 106 – 32,2 106 trứng Theo Davis (1986), cá chẽm là loài mắn
đẻ, nó có thể cho trên 10 triệu trứng ở kích thước 100 cm TL và 30 – 40 triệu trứng ở 120
cm TL
+ Tập tính sinh sản: Dựa trên những nghiên cứu về tập tính sinh sản của cá trong bể
cho thấy, cá đực và cá cái thành thục sẽ tách đàn và ngừng ăn một tuần trước khi đẻ Khi
cá cái thành thục sinh dục tốt nó gia tăng các hoạt động sinh dục với cá đực Cá đực và cá
cái thành thục chín mùi sinh dục sẽ bơi lội thành từng cặp thường xuyên ở tầng mặt khi sắp
Trang 16đẻ trứng Cá đẻ thành nhiều lần trong khoảng 7 ngày thời gian để trứng vào lúc chiều tối (khoảng từ 18h đến 22h) [2]
2.1.7 Vòng đời cá chẽm
Cá chẽm trải qua phần lớn thời gian sinh trưởng (2 – 3 năm) trong các thuỷ vực nước ngọt như: sông, hồ nối liền với biển Cá có tốc độ sinh trưởng nhanh thường đạt cỡ 3 – 5
kg, sau 2 – 3 năm Cá trưởng thành 3 – 4 tuổi di cư từ vùng nước ngọt về vùng cửa sông và
ra biển nơi có độ mặn 30 – 32 ppt để phát triển tuyến sinh dục và đẻ trứng sau đó [2]
Vòng đời của cá chẽm ở phía bắc Australia cũng được nhiều tác giả nghiên cứu như Moore (1978, 1980, 1982); Moore & Reynolds (1982); Russell & Grrett (1983, 1985); Griffin (1985, 1986); Davis (1982, 1985) đều có nhận định vòng đời của cá chẽm ở phía bắc Australia giống với vòng đời của cá chẽm ở thailand và đưa ra sơ đồ vòng đời của cá chẽm
]Smith (1965) ghi rằng, một số con cá có vòng đời trong nước ngọt nơi chúng lớn lên
cỡ 65 cm và trọng lượng đạt 19,5 kg Tuyến sinh dục của những con cá đó thì không phát triển Trong môi trường nước lợ, cá chẽm đạt 1,7 m TL được tìm thấy ở vùng Indonesia Hiện nay điều chưa biết là cá trưởng thành có di cư ngược dòng không hay chúng giữ giai đoạn còn lại của chúng với đời sống ở biển
2.2 Tình hình nuôi cá biển trên thế giới
2.2.1 Vài nét về nghề nuôi cá biển trên thế giới
Trang 17Nuôi cá nước lợ hay nước mặn là một trong những nghề có từ lâu đời Điển hình như
cá măng (Chanos chanos) đã được nuôi ở những ao vùng ven biển ở Indonesia hơn 700
năm và loài cá này cũng đựơc nuôi cách đây hơn 400 năm ở vùng Phillipines, Taiwan Cá măng là một loài cá biển nuôi cho sản lượng đáng kể, phần lớn sản lượng của loài cá này trên thế giới được nuôi trong ao nước lợ với mật độ thấp và không bổ sung thức ăn nhân tạo hiện nay mô hình này đã thay đổi, cá nuôi được cho ăn hàng ngày, nhưng hầu hết cá giống vẫn đựơc đánh bắt từ tự nhiên [26]
ở Nhật Bản, các loài cá biển được nuôi thâm canh trong bè đặc biệt là loài cá tráp
đuôi vàng (Seriola quinqueradiata) và (Pagrus maijor), nhưng cơ bản vẫn sử dụng nguồn
giống ngoài tự nhiên và sử dụng cá tạp làm thức ăn
Từ thế kỷ trước cá hồi được nuôi rộng rãi ở vùng nước ngọt nhờ vào kỹ thuật sản xuất giống có hiệu quả Còn nghề nuôi cá hồi trong nước mặn không thể phát triển như ở Nauy cho đến thập niên 70 và 80 Những vùng khác của Châu Âu, bắc và nam Mỹ đáng kể
là Scotland, Canada, Chile mãi đến thập niên 80 nghề nuôi cá hồi nước mặn mới bắt đầu phát triển nhanh nhờ vào kỹ thuật sản xuất giống, nuôi bè và sử dụng thức ăn công nghiệp
Hiện nay, cá hồi đại tây dương (Salmon salar) là loài cá biển nuôi quan trọng nhất ở nhiều
quốc gia trên thế giới Nauy nổi tiếng là quốc gia có điều kiện tự nhiên thuận lợi để phát triển nghề nuôi cá hồi Năm 1997, sản lượng cá hồi nuôi đạt 312,6 tấn; năm 1998 đạt 348.600 tấn; năm 2000 đạt 412.700 tấn
Quốc gia Đài Loan nghề nuôi cá có lịch sử từ rất lâu đời vào những năm 1960, ngoài việc cho sinh sản nhân tạo thành công loài cá hồi, Đài Loan tiếp tục đạt được những thành công trong sinh sản nhân tạo các loài cá khác như: cá đối nục, cá măng, cá vền đen, cá vền vàng, cá chẽm… Hiện nay Đài Loan đang tập trung nghề nuôi lồng Nuôi cá lồng trên biển hạn chế được những bất lợi của môi trường do việc nó mở rộng diện tích nuôi và các hình thức nuôi trong ao Năm 2000, có khoảng 1.500 lồng, trong đó có 80% số lồng sử dụng để
nuôi cá giò (Rhachicentroncanadum) Số lồng còn lại sử dụng để nuôi các đối tượng khác
như: cá mú chấm đỏ, cá hồng bạc, cá tráp đỏ… Năm 1990 sản lượng cá nuôi đạt 103 tấn; năm 1997 sản lượng tăng gấp 7 lần; đến năm 1998 tăng gấp 3 lần sản lượng năm 1997, đạt 2.673 tấn, trong đó cá giò chiếm 50% tổng sản lượng
Thailand có nghề cá biển đã phát triển qua hơn 2 thập kỷ, sản lượng tăng một cách ổn
định Đối tượng nuôi chính là cá chẽm (Lates calcarifer) và cá mú (Epinephelus spp) Khu
Trang 18vực nuôi cá chẽm chủ yếu ở vùng cửa sông và các đầm phá ven biển, còn khu vực nuôi cá
mú chủ yếu trong các vùng ven bờ, các eo ngách, vịnh ít sóng gió Từ năm 1996 đến năm
1998 sản lượng cá chẽm tăng từ 654 tấn lên 2.998 tấn, còn sản lượng cá mú tăng 357 tấn lên 723 tấn [7] Thailand nghề nuôi thuỷ sản ven biển thường kết hợp với các ao sản xuất muối, người ta đã học được cách nuôi cá trong mùa mưa, khi mà không thể sản xuất muối
họ đã chuyển sang nuôi thuỷ sản và bắt đầu áp dụng kỹ thuật hiện đại hơn [26]
Australia là quốc gia đạt được thành công lớn trong nghề nuôi cá biển ở 2 thập kỷ
qua đối tượng nuôi chính là cá hồi đại tây dương (Atlantic Salmon) và cá ngừ vây xanh
(Southern blifintuna) với sản lượng hàng năm đạt 1.200 tấn doanh thu xấp xỉ 10 triệu
USD/ năm Theo dự kiến đến năm 2010 Australia có thể thu được từ nghề nuôi cá công nghiệp là 2,5 tỷ USD/ năm, trong đó cá hồi chiếm 1 tỷ USD và cá ngừ chiếm 300 triệu USD (Hussey, 1999) [11]
Theo thống kê của FAO từ năm 1988 đến năm 1997 sản lượng cá biển trên toàn thế giới tăng khoảng 10% hàng năm Năm 1997 sản lượng cá biển trên toàn thế giới đạt 2 triệu tấn, trị giá 8 tỷ USD, trong đó sản lượng cá hồi đại tây dương đạt 640.000 tấn, chiếm ưu thế nhất (Hambrey, 2000) Vào năm 1997 Tổ chức nông-lương Liên Hợp Quốc (FAO) cũng đưa ra số liệu thống kê và nhận định rằng: Châu á là vùng có nghề nuôi trồng thuỷ sản phát triển mạnh nhất chiếm 82% theo giá trị thuỷ sản toàn thế giới và 91% theo sản lượng Tổng sản lượng thuỷ sản của các loài nuôi quan trọng là 27.788.384 tấn trong đó giáp xác là 1.126.634 tấn (chiếm 4%), nhuyễn thể 5.087.068 tấn (chiếm 18%), rong biển 832.879 tấn (chiếm 25%), cá 14.669.173 tấn (chiếm 53%) và các loại khác 72.632 tấn Về giá trị nhóm cá chiếm 53% và giáp xác chiếm 17% Điều này cho thấy hải sản đóng vai trò quan trọng nhất trong toàn ngành nuôi trồng thuỷ sản [26]
2.2.2 Tình hình nghiên cứu và nuôi cá chẽm trên thế giới
a) Những nghiên cứu khoa học về loài cá chẽm (Lates calcarifer)
Thailand là quốc gia đầu tiên trên thế giới nghiên cứu cho sinh sản nhân tạo cá chẽm
(Lates calcarifer) tại hồ Songkla vào năm 1971 (theo Ruangpapil, 1986) và đến năm 1973
họ đã thành công cho cá chẽm sinh sản nhân tạo thành công bằng phương pháp chủ động môi trường sinh thái với nguồn cá được đánh bắt ngoài tự nhiên (Kungvankij, 1981) Đến năm 1975 thailand tiếp tục cho đẻ cá chẽm thành công với nguồn cá bố mẹ được nuôi trong
Trang 19lồng Năm 1977, các nhà nghiên cứu lại tiếp tục thu được những thành công trong sinh sản nhân tạo cá chẽm bằng cách sử dụng hormone sinh dục để kích thích cho cá đẻ Sau Thailand có nhiều quốc gia khác cũng đã cho sinh sản nhân tạo thành công loài cá này như ở: Phillipines, Singapore, Malaysia, Việt Nam…
Greett và Rusmussen (1987), làm thí nghiệm kích thích cá chẽm sinh sản bằng LRHa
và HCG (Northern Fisheries Research Centre In Queensland) Họ cho rằng chỉ những con
cá cái có đường kính trứng lớn hơn 0,4 mm mới được sử dụng để kích thích hormone sinh sản theo Kungvankij (1987) cá cái có đường kính trứng 0,4 – 0,5 mm và cá đực có sẹ chảy
ra khi vuốt là sẵn sàng cho việc kích thích sinh sản [8]
Hiện nay có hai phương pháp cho sinh sản nhân tạo cá chẽm (Lates calcarifer) ở các
nước Đông Nam á là thụ tinh nhân tạo từ trứng và tinh trùng cá chẽm thành thục ngoài tự nhiên và kích thích sinh sản (bằng cách tác động vào điều kiện môi trường sống và kích thích sinh sản bằng kích dục tố) Chỉ riêng phương pháp điều khiển môi trường, hàng năm
ở Thailand có thể sản xuất đựơc 50 - 100 triệu cá bột và cá giống
Sau khi ở Thailanh sản xuất thành công giống cá chẽm thì đã có rất nhiều nhà khoa học tập trung nghiên cứu nhu cầu dinh dưỡng cho cá chẽm ở giai đoạn giống Ngoài ra còn một số nhà nghiên cứu khác nghiên cứu ảnh hưởng của một số điều kiện môi trường sinh thái đến sự sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá chẽm ví dụ: nhiệt độ, độ mặn, pH…
b) Tình hình sản xuất giống và nuôi cá chẽm trên thế giới
Theo Mackingnon (1984) và Sirrike (1982) thì năm 1981 Thailand sản xuất được 20 triệu cá bột và cùng năm đó nuôi được trên 300 tấn cá chẽm thương phẩm Aron (1987), đã tổng kết năm 1985 tổng sản lượng cá chẽm nuôi ở Thailand đạt 512 tấn Từ năm 1988 đến năm 1996 sản lượng cá chẽm tăng từ 654 tấn lên 2.998 tấn [3] Trước những thành tựu mà Thailand đã gặt hái được từ nghề nuôi cá chẽm nó đã ảnh hưởng sâu rộng đến hàng loạt các nước khác và nghề nuôi cá chẽm đã nhanh chóng lan rộng sang hàng loạt các quốc gia khác như: Indonesia, Malaysia, Phillippines, Việt Nam…
Tại Trung Quốc cá chẽm là đối tượng nuôi thuỷ sản quan trọng, trong hơn 30 năm phát triển đối tượng này Trung Quốc đã có hàng trăm trại sản xuất giống nằm rải rác tại các vùng ven biển mà tập trung chủ yếu ở Thượng HảI, Phúc Kiến, Hà Nam, Hải Nam và Trung Giang Ngư dân Trung Quốc đã thuần hoá giống cá này để nuôi trong ao nước ngọt
Trang 20Cá 30 ngày tuổi được ương trong ao đất do đó sớm làm quen với môi trường ao nuôi, nên
tỷ lệ sống cao khi nuôi thương phẩm Theo Chen L.C (1989), ngư dân Trạm Giang nuôi
đơn cá chẽm trong ao đất với mật độ 2-5 con/ m2 Sau 6 tháng nuôi có thể đạt năng suất
6-12 tấn/ ha Nuôi ghép bán thâm canh cá chẽm 0,2 con/ m2 với cá rô phi 0,4 con/ m2 có bổ
sung thêm thức ăn là cá tạp thì kết qủa cho thấy cứ 2,5 - 4 kg cá tạp cho 1 kg cá chẽm và
hiệu quả này rất cao
Chủ yếu nghề nuôi cá chẽm ban đầu được nuôi trong các lồng lưới, các loại lồng lưới
này có dạng hình vuông, hình chữ nhật hoặc hình tròn Thể tích của lồng dao động từ
8 m3 (2 m x 2 m x 2 m) đến 150 m3 Mật độ nuôi đối với hình thức nuôi lồng nhìn chung
khoảng 15 - 40 kg/ m3, thậm trí mật độ có thể lên đến 60 kg/ m3 xong việc tăng mật độ
càng cao thì yêu cầu quản lý tốt về chất lượng nước, sức khoẻ, lắp đặt máy sục khí và thay
nước càng nhiều hơn [14]
ở Australia, một số lượng trại nuôi cã chẽm đã xây dựng hệ thống nuôi nước ngọt
tuần hoàn, với việc lắp đặt hệ thống lọc sinh học và lý học Những ưu điểm của hệ thống
này là nó có thể đặt ngay gần thị trường tiêu thụ, do đó giá thành vân chuyển giảm Mật độ
nuôi trong các trang trại như thế này khoảng 15 kg/ m3 [14]
Cá chẽm là loài cá có giá trị cao và hiện nay đang có nhu cầu cao ở các nước Châu á
Theo thống kể của FAO, hiện nay sản lượng cá chẽm toàn cầu hàng năm lên tới gần
400.000 tấn, trong đó trên 90% là từ Thailand và các nước Đông Nam á khác [27] ở
Thailand phần lớn cá chẽm bán trên thị trường là nuôi trong lồng và nuôi ao Theo những
người nuôi cá chẽm ở miền nam Thailand, sự canh tranh thương mại giữa các nước trong
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á (ASEAN), như Thailand, Indonesia, Việt Nam đang
gia tăng, chủ yếu là do cá chẽm từ hai nước Indonesia và Việt Nam có giá rẻ hơn
2.3 Tình hình nuôi cá biển tại Việt Nam
2.3.1 Vài nét về tình hình nuôi cá biển tại việt nam
Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa thuộc khu vực Đông Nam á, có đường
bờ biển dài 3260 km, vùng đặc quyền kinh tế rộng hơn 1 triệu km2 Biển Việt Nam có hơn
2000 loài cá biển, trong đó có khoảng 130 loài có giá trị kinh tế cao Sản lượng khai thác
cho phép khoảng 1,4 - 1,5 triệu tấn Do đặc điểm của vùng nhiệt đới nên cá biển Việt Nam
phần lớn là các loài có kích thước nhỏ và chu kỳ sinh sản ngắn [25] Hiện nay ngành thủy
Trang 21sản đẩy mạnh phát triển nghề nuôi cá biển Đã hình thành các mô hình nuôi công nghiệp
phục vụ cho xuất khẩu đối với một số loài như cá song (cá mú), cá chẽm, cá hồng, cá giò
Một số loài khác cũng đang đựơc tiến hành nuôi thử nghiệm như cá tráp, cá chim biển, cá
bơn… Hình thức nuôi theo qui mô công nghiệp trên các lồng bè trong các vịnh, đầm quanh
đảo, các vùng ven biển trong cả nước
Công nghệ sản xuất một số loài cá biển như cá song, cá chẽm, cá giò; công nghệ sinh
sản nhân tạo tôm; một số loài cá nuôi cũng đã được nghiên cứu và ứng dụng ở nhiều địa
phương Thành công trong công việc giữ giống, di giống, thuần hóa, chọn lọc và lai tạo
giống mới nhiều loài khác nhau đã mở ra khả năng hoàn thiện tập đoàn cá nuôi phù hợp
với yêu cầu của nuôi trồng thuỷ sản khắp các vùng trong cả nước Nhờ đó đóng góp của
nuôi trồng thuỷ sản vào giá trị sản xuất ngành thuỷ sản hàng năm ngày càng tăng, năm
1990 chiếm tỷ trọng 31%, năm 2000 chiếm 36,16%, năm 2004 đạt 55,5% tổng giá trị toàn
ngành thuỷ sản [24]
Năm 1994, Viện hải dương học Nha Trang đã thành công trong việc cho sinh sản
nhân tạo và ương nuôi hai loài cá ngựa (Hippocampus kuda và H trimaculata) sau 8 tháng
nuôi đạt khối lượng (W) 2,2 – 1,5 g/con Tương ứng chiều dài thân (TL) 132 – 156 mm (Nguyễn Trọng Nho, 2003) [4]
Năm 1994 – 1995, Viện nghiên cứu hải sản Hải Phòng đã thành công trong sản xuất
giống cá núc tại vịnh Hạ Long, kết quả sau 3 tháng nuôi đạt khối lượng 50 g/ con, chiều
dài (L) tương ứng là 13 cm
Năm 2001, Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I đã thành công trong sinh sản nhân
tạo loài cá giò (Rachysentron canadium) song tỷ lệ ương nuôi thành cá hương và cá giống
còn rất thấp (1 – 4 %) Viện cũng đã nhập 20.000 giống cá mú và ương nuôi thương phẩm
[13]
Theo Nguyễn Trọng Nho và CTV (2001) [18], từ năm 1995 đến năm 1998 số lượng
lồng nuôi trên biển tăng 10 lần, năm 1998 có trên 10.000 lồng nuôi, trong đó 6.000 lồng ở
vịnh Nha Trang (Khánh Hòa) và vịnh Hạ Long (Quảng Ninh) chiếm diện tích 150 ha Hầu
hết lồng nuôi do tư nhân quản lý (chiếm 99%), hơn 70% sản lượng được xuất khẩu ra thị
trường quốc tế như: Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản … và 30% tiêu thụ trong nước Chi
Trang 22phí cho nuôi biển năm 2001 là 106.192 triệu đồng lớn hơn năm 2000 là 4.303 triệu đồng
Tỷ suất lợi nhuận của nuôi biển trong năm 2001 đạt 122,4% (Bộ thủy sản, 2001)
Vào những năm 80, thủy sản Việt Nam xuất khẩu chủ yếu qua hai thị trường trung gian là Hongkong và Singapore, đến nay chúng ta đã xuất khẩu trực tiếp được vào các thị trường của các nước ở khắp các châu lục, đặc biệt là các thị trường quan trọng như: Nhật Bản, Hoa Kỳ, Trung Quốc và các nước EU [24] Giá trị xuất khẩu các mặt hàng đông lạnh của Việt Nam chiếm khoảng 15 – 20% tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản hàng năm Trong đó giá trị xuất khẩu các mặt hàng cá biển chiếm khoảng 40 – 50% tổng giá trị các mặt hàng cá đông lạnh [25]
Bảng 2: Một số loài cá biển xuất khẩu chính của Việt Nam
1 Cá nổi lớn 1 Big pelagic
Cá ngừ Tuna Thunnus
Cá kiếm swordfish Xiphias gladius
Cá cờ Marlin Makaira
Cá thu Mackerel Acanthocybium
Cá nục heo (cá dũa) Mahi-mahi Coryphaena hippurrus
2 Cá nổi nhỏ 2 Small pelagic fishes
Cá nục, sòng Scal Carangidae
Cá chỉ vàng Yellow strip trevally Selaroides leptolepis
Cá cơm Anchovies Engraulidae
Cá bạc má India mackerel Rastrelliger
Cá song (mú) Grouper Ephinephenus
Cá chẽm Barramundi, giant seaperch Lates calcarifer
4 Cá đáy 4 Demersal fishes
Cá bơn Flounder tongue sole Pseudorhombus cynoglos
Cá hố Largehead hairtall Trichiurus lepturus
Cá chim Pomfret Stromateoides
Cá lượng Threadfin bream Nemipterus
Cá sạo Grunt Pomadasys
Cá trác Mootail bigeye Plectorynchus hamrur
Cá đù bạc Silver croaker Pennahia argentata
Cá đục bạc Silver sillago Silago sihama
Cá bánh đường Long spine seabream Evynnis cardinalis
Cá lượng (cá đổng cờ) Threadfin bream Nemipterus
Trang 23Cá đầu vuông (cá đổng quéo) Japanese horsehead fish Brachiostegus japonicus
Cá phèn Goleban (yellow) goitfish, Upeneus moluccensis
Cá đối mục Bully mullet Mugil cephlus
2.3.2 Tình hình nghiên cứu và nuôi cá chẽm ở Vệt Nam
a) Những nghiên cứu khoa học về cá chẽm tại Việt Nam
Từ trước cho đến nay nghề nuôi cá chẽm ở nước ta chủ yếu dựa vào nguồn giống
được bắt ngoài tự nhiên Từ thập niên 70 những nghiên cứu về loài cá này còn ít mới chỉ
dừng lại ở mức độ nghiên cứu những đặc điểm sinh học Trong những năm gần đây có
nhiều công trình nghiên cứu về loài cá này, đặc biệt là các công trình nghiên cứu thuộc dự
án NUFU do trường Đại học Thủy sản Nha Trang (nay là Đại học Nha Trang) chủ đề tài đã
có một số thành công được ghi nhận (Nguyễn Trọng Nho, 2001) [4]
Võ Ngọc Thám (1995) nghiên cứu một số đặc điểm sinh học sinh sản của cá chẽm
(Lates calcarifer) ở đầm Nha Phu Khánh Hòa đã xác định được mùa vụ sinh sản, vị trí bãi
đẻ, cỡ cá thành thục và bãi sinh trưởng của cá
Lương Công Trung (1999), đã nghiên cứu và đưa ra nhận định Sự tăng trưởng kém
của cá chẽm cho ăn bằng thức ăn luân trùng (Roratoria) kém hơn cho ăn thức ăn là Artemia
không phải do hàm lượng dinh dưỡng của luân trùng kém không phù hợp cho cá chẽm sinh
trưởng là do kích thước của chúng nhỏ, do đó luân trùng kích thích bắt mồi kém hơn đồng
thời năng lượng cá phải tiêu hao cho hoạt động bắt mồi lớn hơn so với cá bắt mồi là
Artemia, ở giai đoạn cá hương 20 – 24 ngày tuổi Cho nên kết hợp luân trùng và artemia là
thức ăn đạt hiệu quả cao nhất của cá chẽm ở giai đoạn này [8]
Năm 2000, Nguyễn Duy Hoan & Võ Ngọc Thám đã thực hiện thành công đề tài
khoa học “Nghiên cứu sản xuất thử giống cá chẽm (Lates calcarifer) tại Khánh Hòa” Tác
giả đề tài đã đưa ra qui trình sản xuất giống nhân tạo và ương nuôi từ giai đoạn cá bột lên
cá giống [6]
Huỳnh Văn Lâm (2000), cho biết nhiệt độ và độ mặn thích hợp nhất cho cá chẽm
sinh trưởng ở nhiệt độ 28 – 31oC và độ mặn khoảng 25 – 35 ppt; mật độ ương thích hợp là
50 – 100 con/ L, cho tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ sống cao Độ mặn dao động trong khoảng
10 – 20 ppt ít ảnh hưởng đến tỷ lệ sống của cá chẽm ở giai đoạn 26 – 50 ngày tuổi Có thể
ương nuôi cá chẽm giai đoạn 26 -50 ngày tuổi ở điều kiện môi trường nước ngọt, lợ, mặn
Trang 24(độ mặn: 0 – 30 ppt), tuy nhiên cá ương nuôi ở nước ngọt có tỷ lệ sống thấp hơn đáng kể so với ương nuôi trong môi trường nước lợ hay nước mặn [9]
Năm 1998, tại huyện Cần Giờ thành phố Hồ Chí Minh, đã sản xuất nhân tạo bằng phương pháp sử dụng kích dục tố kích thích sinh sản Tuy nhiên qui trình chưa ổn định, hiện tượng chết hàng loạt ở giai đoạn sớm còn cao
Sau hơn 10 năm (1996 – 2007) nghiên cứu và thử nghiệm đề tài “Qui trình kỹ thuật
sản xuất giống nhân tạo cá chẽm (Lates calcarifer)” nhóm nghiên cứu trường Đại học
Thủy sản Nha Trang chính thức công bố tìm ra được qui trình kỹ thuật sản xuất giống cá chẽm nhân tạo Tiến sĩ Nguyễn Hữu Dũng trưởng nhóm nghiên cứu cho biết, nhóm đã hoàn thiện được qui trình kỹ thuật nuôi vỗ cá bố mẹ (cá chẽm tại các tỉnh phía nam) trong
hệ thống lồng nuôi trên biển và bể xi măng nước chảy tuần hoàn với hệ thống lọc sinh học
Tỷ lệ cá bố mẹ có thể tham gia sinh sản đạt 100% Qui trình kỹ thuật ấp nở trứng cá, ương nuôi cá bột thành cá giống qui mô sản xuất thương mại với tỷ lệ sống đạt 38% [30]
Từ năm 2004 đến nay, nhóm cũng sản xuất được hơn 2 triệu cá giống có chiều dài
2 – 3 cm (TL), trong đó cung cấp miễn phí 300.000 con cho trại thực nghiệm Nuôi trồng thủy sản (Trường Trung học thủy sản IV tại Quảng Ninh), Trung tâm khuyến ngư các tỉnh Thái Bình, Nghệ An, Quảng Bình, Quảng Ngãi, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh thuận Số giống còn lại cung cấp cho người nuôi trồng thủy sản ven biển từ Quảng Ninh đến Kiên Giang [30]
b) Tình hình nuôi cá chẽm ở Việt Nam
Những năm gần đây khi con tôm sú (Penaeus monodon) đang dần mất vị thế do dịch bệnh, ô nhiễm môi trường thì đề tài nghiên cứu sinh sản nhân tạo cá chẽm (Lates
calcarifer) do các nhà nghiên cứu của trường Đại học thủy sản Nha Trang thực hiện đã đưa
được con cá chẽm từ ngoài khơi vào trong đất liền Với khả năng kháng bệnh cao, sinh trưởng nhanh, tiêu thụ tốt… con cá chẽm đang dần “lên ngôi”, nhiều hộ gia đình ở thị xã Cam Ranh (Khánh Hoà) đang thay dần những diện tích nuôi tôm sú để chuyển dần sang nghề nuôi cá chẽm thương phẩm Nếu năm 2004, Cam Ranh mới bắt đầu nuôi thử nghiệm thì nay thị xã đã có gần 70 hecta diện tích với trên 100 hộ Theo kinh nghiệm của người dân thì quá trình nuôi cá chẽm rất đơn giản, ít chăm sóc Người nuôi chỉ cần có đìa để lọc
Trang 25phân loại cá lớn và cá nhỏ, vì cá chẽm thuộc loài cá dữ Do vậy tốt nhất nên chỉ thả nuôi khoảng 20.000/ ha [29]
Nghề nuôi cá chẽm hiện nay đã và đang thu được những thành tựu nhất định về kinh
tế Nhiều hộ nuôi ở Cam Ranh thu lợi nhuận 70 – 100 triệu đồng/ ha, sau 7 – 8 tháng nuôi thương phẩm theo mô hình nuôi luân canh với tôm sú và cá rô phi Từ thành công này nhiều địa phương trong cả nước đề nghị chuyển giao công nghệ sản xuất giống cá chẽm nhân tạo để có thể tự sản xuất giống ở địa phương, đảm bảo chất lượng giống cung cấp cho người nuôi trồng thủy sản ở địa phương [30]
Nuôi cá chẽm trong ao đất có hai hình thức nuôi là nuôi đơn và nuôi ghép Trong nuôi đơn điều bất lợi là hoàn toàn phụ thuộc vào nguồn thức ăn bổ sung, làm giảm lợi nhuận của người nuôi, đặc biệt là những nơi có nguồn cá tạp hạn chế và đắt Trong nuôi ghép, đối tượng được sử dụng để nuôi ghép với cá chẽm là những loài không cạnh tranh thức ăn với cá chẽm, có chu kỳ sinh sản ngăn, sức sinh sản lớn như cá rô phi Cá rô phi thả nuôi trong ao mục đích cơ bản nhằm lợi dụng đặc điểm sinh sản của nó để làm thức ăn cho
cá chẽm Cá rô phi thả nuôi trước khi thả cá chẽm ít nhất là 21 ngày nhằm tạo ra quần đàn
cá rô phi con để làm thức ăn sống cho cá chẽm nuôi
Hiện nay số lượng trại sản xuất cá chẽm cung cấp cho nuôi thương phẩm còn ít như: Trường Đại học thủy sản Nha Trang, Công ty Trách Nhiệm Hữu Hạn Hải Tiến Và số lượng giống cung cấp cho ngư dân còn thiếu nhiều Trước những ưu điểm của con cá chẽm trong nuôi thương phẩm đang hứa hẹn nhiều tiềm năng cho nghề nuôi thủy sản trong cả nước Do đó mà yêu cầu quan trọng là phải làm sao các nhà nghiên cứu, các trung tâm nghiên cứu thủy sản chuyển giao công nghệ sản xuất giống nhân tạo cá chẽm về địa phương càng sớm càng tốt, nhằm đảm bảo nguồn giống cung cấp cho người nuôi
2.4 Tình hình nghiên cứu về dinh dưỡng cá chẽm
2.4.1 Khái quát chung về nhu cầu dinh dưỡng cá
Dinh dưỡng là nuôi dưỡng tập hợp những chức năng có thể biến đổi và sử dụng thức
ăn, nhằm giúp cho sinh vật tăng trưởng và hoạt động bình thường
Động vật thủy sản có những đặc điểm dinh dưỡng rất riêng biệt và rất khác so với những động vật trên cạn
Trang 26 Cá có nhiều thay đổi cấu trúc trong ống tiêu hóa và đa số động vật thủy sản phải trải qua giai đoạn ấu trùng Trong giai đoạn này nhu cầu dinh dưỡng của ấu trùng thay đổi rất lớn nên nghiêu cứu dinh dưỡng sẽ khó khăn hơn so với động vật trên cạn
Cá là động vật biến nhiệt yêu cầu năng lượng thấp hơn và phụ thuộc vào nhiệt độ của môi trường sống Do đó tỷ lệ năng lượng protein (E/P) hay tỷ lệ năng lượng/ các thành phần dinh dưỡng thay đổi rất nhiều, sự bài tiết ure, uric acid của cá rất khác với các sinh vật khác Điều ảnh hưởng rất lớn đến giá trị sử dụng năng lượng của protein
Môi trường sống của cá dưới nước, do đó cá có những kiểu thích nghi như khả năng biến dưỡng ở điều kiện hàm lượng oxy hoà tan thấp, tiêu hoá năng lượng thấp hơn và giảm khối lượng của bộ xương Như vậy nhu cầu năng lượng thấp hơn, thường chỉ bằng một phần tư so với động vật trên cạn
Từ những đặc điểm nhu cầu năng lượng thấp hơn so với động vật trên cạn dẫn đến tỷ
lệ protein/ năng lượng (P/E) của cá cao hơn so với động vật trên cạn Động vật thuỷ sinh
có một số nhu cầu các dưỡng chất khác với động vật trên cạn như: nhu cầu acid béo không
no họ (n-3) chứa nhiều nối đôi như PUFA (Polyunsaturated fatty acid) Cá có khả năng tổng hợp giới hạn một số loại vitamin nên chúng lệ thuộc rất nhiều vào cung cấp thức ăn
Các tài liệu chuyên sâu đã thông báo rộng rãi rằng ấu trùng cá biển có nhu cầu cao về acid béo không no, hai loại acid béo đặc biệt quan trọng cho sinh trưởng và tỷ lệ sống của
ấu trùng là EPA (Eicosapentaenoic acid (20: 5n-3)) và DHA (Decosahexaenoic acid (22: 6n-3))
Khác với động vật nước ngọt, các động vật biển mà đặc biệt ở giai đoạn còn non không có khả năng chuyển hóa từ linoleic (18: 2n-6) thành EPA và tiếp tục chuyển hóa thành DHA Một số động vật biển chỉ có khả năng chuyển hóa từ EPA thành DHA nhưng cũng rất hạn chế Thức ăn với lượng không đủ một trong hai loại acid này đều dẫn đến tỷ
lệ chết cao đặc biệt là thời điển ấu trùng kết thúc giai đoạn biến thái về hình thái Nguyên nhân của hiện tượng này được cho là có liên quan đến chất lượng thức ăn sống (Rodger & Barrlow, 1987); Fimmer (1994) Những báo cáo gần đây từ Phillipines và Australia đã chứng minh rằng việc làm giàu thức ăn sống (rotifer, đặc biệt là Artemia) bằng Hufas đã nâng cao thành công trong ương nuôi cá chẽm (Dhert, 1990)
Nhu cầu dinh dưỡng của cá về tất cả các chất dinh dưỡng như: protein, lipid, glucid, vitamine, khoáng luôn có sự thay đổi tùy theo từng loài, theo từng giai đoạn phát triển mặt
Trang 27khác còn phụ thuộc vào điều kiện sinh thái môi trường khác nhau (nhiệt độ, độ mặn) Cho nên việc xác định nhu cầu dinh dưỡng cho cá nuôi một cách chính xác nhất ở mỗi giai đoạn sống trong điều kiện cụ thể là một việc làm rất khó khăn Do đó một yêu cầu quan trọng đặt ra cho người nuôi thủy sản là phải làm sao càng có nhiều thông tin khoa học chính xác về nhu cầu dinh dưỡng của vật nuôi và kinh nghiệm nuôi là càng tốt
2.4.2 Những nghiên cứu về dinh dưỡng cá chẽm
Nghiên cứu dinh dưỡng cá chẽm (Lates calcarifer) bắt đầu từ thập niên 80
(Glencross, 2006).Hiện nay, đã có đủ số liệu để sản xuất thức ăn viên công nghiệp cho cá chẽm [28]
Theo Maneewong & CTV (1981) thí nghiệm với 3 loại thức ăn rotifer, rotifer + Artemia, rotifer + Moina để ương ấu trùng từ 3 – 15 ngày tuổi cho biết tỷ lệ sống tương ứng là: 40%; 47,5%; 19,1% Kết quả chỉ ra rằng việc sử dụng rotifer kết hợp với artemia là thức ăn phù hợp hơn cả trong giai đoạn này
Theo Naret & Temin (1993) khẳng định rằng Moina masocopa là thức ăn sống phù hợp để thay thế Artemia ương cá chẽm bột việc sử dụng Moina masocopa có thể thay thế
một phần hoặc toàn phần Artemia làm thức ăn cho cá chẽm bột từ ngày tuổi thứ 15 (3,6
mm TL), tuy nhiên cần phải lọc kỹ và thu Moina có kích thước nhỏ 200 – 400.10 - 6 m [21]
Kết quả nghiên cứu của viện nuôi trồng thuỷ sản Thailand về thử nghiệm sử dụng 50% thức ăn viên có hàm lượng protein khác nhau (30%; 40% và 50%) kết hợp với 50% cá tạp để ương nuôi cá chẽm 0,3 – 0,4 g/ con (60 ngày tuổi) kết quả đạt mức tăng trưởng riêng trên ngày tương ứng với các mức protein trên là: 0,115 mg/ ngày; 0,112 mg/ ngày; 0,123 mg/ ngày
Theo Aquaculture 170 (1999), thử nghiệm nghiên cứu khẩu phần protein khác nhau cho cá chẽm giống trọng lượng 5,5g/ con tại 2 nhiệt độ khác nhau là 18oC và 25oC trong thời gian 12 tuần bố trí ở 4 mức protein là 36%; 42%; 48% và 52% Cuối đợt thí nghiệm thấy răng tốc độ tăng trưởng và khả năng sử dụng thức ăn ở mức 25oC là tốt hơn cả
Cá chẽm cho ăn thức ăn rotifer được làm giàu bằng acid béo không no (dầu gan mực)
có tốc độ sinh trưởng về chiều dài cao hơn cá ăn thức ăn là rotifer không được làm giàu
Trang 28Tỷ lệ sống của cá chẽm giữa 2 lô thí nghiệm cho ăn rotifer làm giàu và không làm giàu
bằng dầu gan mực thể hiện sai khác không có ý nghĩa (dẫn từ Huỳnh Văn Lâm, 2000)
Một số tác giả đã nghiên cứu và cho biết nhu cầu dinh dưỡng của cá chẽm ở giai
đoạn giống: theo V.Alava thì nhu cầu protein 43% Nhu cầu về các loại acid amin cần thiết
là argrinine 3,6%; lysine 4,5%; methionine 2,35%; trytophan 0,5% (Coloso et al.);
Catacutan cũng cho biết nhu cầu về lipid là 10% Với sự phối hợp giữa dầu gan và dầu đậu
nành là 1:1 và Carbohydrate là 20 – 25% Nhu cầu về acid béo là 0,5% (n-3) và 0,5% (n-6)
[20]
Nhiều nhà nghiên cứu cho thấy, cá chẽm sử dụng tốt một số protein thực vật và
động vật làm thức ăn viên Ngoài ra họ còn nghiên cứu và đưa ra một số nhu cầu protein
của cá chẽm ở các giai đoạn khác nhau được tổng hợp dưới bảng sau: [28]
Bảng 3: Nhu cầu protein ở một số giai đoạn nuôi cá chẽm (Lates calcarifer)
Hiện nay ở các nước nuôi cá chẽm đã sản xuất thức ăn viên công nghiệp cho cá, xong
công thức thành lập thức ăn còn có nhiều khác nhau giữa các quốc gia Dưới đây là một vài
ví dụ về công thức ăn cho cá chẽm ở Malaysia và Indonesia [22]
Bảng 4: Công thức thức ăn cho cá chẽm ở Malaysia
Cá tạp tươi 50
Cám gạo 17,0 Khô dầu 5,5 Bột mỳ 2,5 Vitamin và khoáng tổng hợp 0,5
Nhiệt độ (oC)
Trang 29Bảng 5: Công thức thức ăn cho cá chẽm ở Indonesia
Cá tạp tươi 46 Bột cá (56% protein) 12,5
Bột thịt xương 4,0 Cám (lúa mỳ) 3,0
Vitamin và khoáng tổng hợp 1,0
Việt nam là quốc gia mới ở giai đoạn đầu trong phát triển nghề nuôi cá chẽm, do đó
những nghiên cứu về nhu cầu dinh dưỡng và sản xuất thức ăn công nghiệp cho nuôi cá
chẽm ở cả giai đoạn giống và nuôi thương phẩm cần phải được tiếp tục nghiên cứu và hoàn
thiện để nhanh chóng phát triển nghề nuôi cá chẽm rộng khắp trong cả nước
2.5 Công nghiệp sản xuất thức ăn thủy sản
2.5.1 Bột cá và bột đậu nành trong thức ăn thủy sản
a) Bột cá trong sản xuất thức ăn thủy sản
Bột cá là gì? Bột cá là một dạng nguyên liệu giàu dinh dưỡng được sử dụng đầu
tiên cho thức ăn của động vật nuôi trong gia đình Đôi lúc nó còn được sử dụng như một
loại phân bón hữu cơ chất lượng cao Bột cá được sản xuất ra hầu hết từ một số loài hải
sản Cá biển nhỏ có tỷ lệ phần trăm về xương và dầu tương đối lớn, do đó nó không phù
hợp cho nhu cầu tiêu hóa của con người, những loài cá này hầu hết được đánh bắt với mục
đích cuối cùng là làm bột cá và chiết xuất dầu cá Một tỷ lệ nhỏ bột cá được sản xuất từ
những phụ phẩm của ngành công nghiệp chế biến thủy sản nhằm sản xuất ra sản phẩm chế
biến phục vụ cho nhu cầu thực phẩm của con người
Công nghiệp sản xuất bột và dầu cá là một trong vài ngành công nghiệp chính về
động vật đang phát triển hiện nay Ngày nay hầu hết cá bị loại bỏ đưa và sản xuất bột cá và
dầu cá đều được đánh bắt từ biển Hàng năm có hàng triệu tấn bột cá được sản xuất trên
toàn thế giới Để sản xuất ra 1 tấn bột cá khô người ta phải cần khoảng từ 4 đến 5 tấn cá
nguyên liệu Peru sản xuất ra một phần ba (1/3) sản lượng bột cá toàn thế giới, phần còn lại
do một số cá quốc gia khác như: Trung Quốc, Chi Lê, Hoa Kỳ, Island, Nauy, Đanh Mạch
và Nhật Bản Nhóm cá nguyên liệu để sản xuất ra bột cá chủ yếu từ: cá trích, cá mòi, cá
đối, cá trích mình dày [36]
Trang 30Hầu hết bột cá thương mại được sản xuất ra từ các loài cá có kích thước nhỏ, nhiều xương, cá chứa nhiều dầu, những loài không thích hợp với khả năng tiêu hóa của con người và từ các phế phẩm từ công nghiệp chế biến thủy sản Khi bổ sung một lượng bột cá vào trong khẩu phần thức ăn của động vật sẽ làm tăng tốc độ sinh trưởng và tăng khả năng tiêu hóa và hấp thụ dinh dưỡng của vật nuôi
Bột cá chất lượng cao cung cấp một lượng cân đối tất cả các acid amin thiết yếu, photpholipid, và các acid béo (EPA, DHA) cho sự sinh trưởng, phát triển và sinh sản tốt nhất Đặc biệt là ở giai đoạn ấu trùng và nuôi vỗ cá bố mẹ Ngoài ra các chất dinh dưỡng trong bột cá còn tăng cường khả năng kháng bệnh bằng cách nâng cao và duy trì hệ thống nuôi miễn nhễm.[36]
Chất lượng protein của bột cá
Bột cá chất lượng cao thường chứa khoảng 60-70% trọng lượng protein thô Bột cá được sử dụng phổ biến hơn trong thức ăn của động vật nuôi và thường là nguồn protein chính trong thức ăn cho tôm và cá Khẩu phần ăn đặc trưng cho cá có thể chứa 32 – 45% protein tổng số, còn thức ăn của tôm là 25 – 42% protein Tỷ lệ bột cá trong thức ăn của cá chép và cá rô phi có thể từ 5 – 7% và lên đến 40 – 50% đối với loài cá hồi, cá tráp và một
số loài cá biển khác
Bất cứ loại thức ăn tổng hợp nào đều phải chứa một lượng protein, tuy nhiên giá trị dinh dưỡng của protein có liên quan trực tiếp tới khả năng tiêu hóa và các thành phần acid amin của bột cá Protein tạo ra từ các acid amin chúng được giải phóng và hấp thu các acid amin vào trong máu sau quá trình tiêu hóa protein Bột cá và bất cứ nguyên liệu sản xuất thức ăn nào đều chứa protein, có thể hiểu đơn giản rằng: protein như là “phương tiện” cung cấp các acid amin cho khẩu phần ăn Động vật tổng hợp nên protein từ việc kết hợp của khoảng 22 acid amin Tuy nhiên chúng không thể tạo ra được tất cả 22 loại acid amin
đó từ chính cơ thể chúng [36]
Một số acid amin chúng không thể được tổng hợp từ động vật và do đó nó phải được cung cấp và thức ăn và được phân loại vào nhóm acid amin thiết yếu (không thể thay thế) 10 acid amin thiết yếu phải được cung cấp và thức ăn của cá đó là: arginine, histidine, isoleucine, leucine, lysine, methionine, phenylalaline Threonine, tryptophan và valine Còn các acid amin được tổng hợp từ chính vật nuôi thì gọi là acid aminh không thiết yếu (có thể thay thế) và không phải nhất thiết bổ sung vào trong thức ăn Protein không chứa
Trang 31cân bằng các thành phần acid amin đặc trưng với nhu cầu acid amin của vật nuôi, thì nó được xem là một protein không cân bằng và có giá trị dinh dưỡng thấp
Chất lượng của các protein khác nhau nó phụ thuộc vào thành phần acid amin trong protein, khả năng tiêu hóa protein, mức độ tươi của nguyên liệu và khả năng bảo quản chúng Protein từ thực vật, thậm chí khi được chế biến đặc biệt thì cũng không thể tốt bằng protein có nguồn gốc từ bột cá Giá trị tiêu hóa của tất cả protein từ bột cá là khoảng trên 95% Trong khi khả năng này ở protein của thực vật dao động trong khoảng lớn 75 – 96%, nó tùy thuộc vào từng loài thực vật
Protein của bột cám ngũ cốc và ở các loài thực vật không chứa đầy đủ các acid amin và thường là thiếu những acid amin thiết yếu như methionine và lysine Bột đậu nành
và bột cây họ đậu chúng được sử dụng rộng rãi làm thức ăn của hầu hết động vật nuôi như:
gà, lợn là nguồn cung cấp lysine và tryptophan thích hợp Nhưng nó lại ít các acid amin thiết có chứa lưu huỳnh (methionine và cystine) Nhu cầu của động vật về một số acid amin còn thiếu có thể được bổ sung bằng cách cho thêm vào Tuy nhiên giá của nó rất đắt
và lượng nitơ dư thừa sẽ làm ảnh hưởng xấu đến chất lượng nước trong ao Nitơ được bài tiết ra dưới dạng amonia, amonia độc cho cá và cần phải được loại bỏ khỏi nước bằng cách lọc hoặc thay nước
Một lý do rất quan trọng tại sao bột cá tìm ra sau nhưng lại trở thành một thành phần quan trọng trong thức ăn thủy sản? Đó là do bột cá chứa hợp chất tự nhiên nó tạo ra mùi vị đặc trưng thích hợp cho tính ăn của vật nuôi
Bảng 6: Tỷ lệ phần trăm của các acid amin thiết yếu trong các nguyên liêu khác nhau
Acid amin thiết yếu
( essential amino acid) 1
FM (64,5%) 2
MM (55,6%) 2
PBM (59,7%) 2
BM (89,2%) 2
SBM (50,0%) 2
Arginine 3,82 3,60 4,06 3,75 3,67 Histidine 1,45 0,89 1,09 5,14 1,22 Isoleucine 2,66 1,64 2,30 0,97 2,14 Leucine 4,48 2,85 4,11 10,82 3,63
Methionine+
Cystine3 2,31 1,25 1,94 2,32 1,43 Phenylalaline+
Tryosine4
4,35 2,99 3,97 8,47 4,20 Threonine 2,31 1,64 0,94 3,76 1,89 Tryptophan 0,57 0,34 0,46 1,04 0,69
Trang 32MM (rendered meat meal): bột thịt phế liệu
PBM (poultry by-product meal) bột từ sản phẩm gia cầm
BM (blood meal); bột huyết
SBM (soybean meal): bột đậu nành
Chất lượng lipid của bột cá
Lipid của cá có thể chia làm hai loại là dầu cá lỏng và chất béo cô đặc Thậm chí hầu hết dầu cá thường được tách chiết trong suốt quá trình chế biến bột cá Thường hàm lượng lipid đặc trưng duy trì 6 – 10% khối lượng khô Nhưng nó có thể dao động trong khoảng 4 – 20% Lipid của cá có khả năng tiêu hóa cao cho tất cả các loài động vật và là nguồn cung cấp tuyệt vời các acid béo cần thiết (PUFA) với cả hai nhóm acid béo mạch thẳng n-3 và n-6
Cả EPA và DHA được tạo ra và trải qua chuỗi thức ăn dài từ những vi tảo có kích thước nhỏ và động vật phù du, cuối cùng chúng được tiêu thụ bởi cá Trong bột cá và dầu
cá chứa acid béo nhóm n-3 nhiều hơn nhóm n-6 Còn hầu hết lipid có nguồn gốc từ thực vật chứa acid béo mạch thẳng n-6 nhiều hơn Như ở dầu sản xuất từ đậu nành, dầu bông rất giàu linoneic acid, một loại acid béo nhóm n-6.[36]
Ưu điểm của lipid từ cá đặc biệt rõ ràng trong cấu trúc và chức năng của màng tế bào Màng tế bào là một lớp màng dẻo và bán thấm Nó rất quan trọng trong mỗi tế bào động vật Màng tế bào kiểm soát sự vận chuyển các chất dinh dưỡng cũng như các chất khác ra hoặc vào trong tế bào Màng tế bào bảo vệ tế bào và được tạo ra từ lipid, protein và một ít carbohydrate Bởi thành phần các acid béo trong lipid cho phép màng tế bào duy trì chất lỏng bên trong tế bào Trong lúc nhiệt độ nước tăng hoặc giảm và làm thay đổi áp suất của tế bào trong khoảng thích hợp nếu cá sống trong ở các độ sâu khác nhau Các acid béo cần thiết cho sự sinh trưởng và phát triển của ấu trùng, đồng thời ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và sinh sản của cá trưởng thành Chúng quan trọng đối với sự hình thành và phát triển của da, hệ thần kinh, não và thị lực Các PUFA có mặt làm cho hệ thống nuôi trở nên miễn nhiễm, chống lại các tác nhân gây bệnh và giảm stress Bột cá ngoài ra còn chứa một lượng phopholipid, vitamine tan trong dầu và steroid hormone.[36]
Trang 33Giá trị vitamin, khoáng của bột cá
Khi đưa mẫu thức ăn vào trong phòng thí nghiệm và phân tích hàm lượng các thành phần dinh dưỡng, qua quá trình đốt nóng mẫu ta thu được tro Thường hàm lượng tro thu được của bột cá có chất lượng cao trung bình nằm trong khoảng 17 – 25% Lượng tro càng nhiều chứng tỏ hàm lượng khoáng càng nhiều đặc biệt là: canxi (Ca), photpho (P), magie (Mg).[36]
Không giống như photpho của thực vật, photpho của bột cá có giá trị dinh dưỡng cao cho hầu hết động vật dạ dày một ngăn (lợn, chó, thậm trí cả ở người ) Vì nó ở dạng chất hữu cơ thô, được biết đến như dạng phytate Còn đối với bọn động vật nhai lại như: trâu, bò, cừu có khả năng lợi dụng photpho ở dạng phytate do nó có hệ vi khuẩn trong ống tiêu hóa Nó có một trong bốn ngăn ở dạ dày của nhóm động vật nhai lại
Hàm lượng vitamin của bột cá có ảnh hưởng và giá trị dinh dưỡng do một vài yếu
tố quyết định như: nguồn gốc, các bộ phận của cá, phương pháp sản xuất và mức độ tươi của nguyên liệu sản phẩm Hàm lượng vitamin tan trong dầu của bột cá thấp do trong suốt quá trình sản xuất nó được tách chiết riêng Bột cá còn được xác định là nguồn giàu vitamine nhóm B, choline, cobalamine (B12), niacin, pantothenic acid, riboflavin.[36]
b) Bột đậu nành trong sản xuất thức ăn thủy sản
Các sản phẩm từ đậu nành phù hợp cho sản xuất thức ăn thủy sản có thể được chia làm 4 loại chính: bột đậu nành, protein đậu nành cô đặc, dầu đậu nành và lecithine từ đậu nành
Protein trong đậu nành
Đậu nành là sản phẩm rất giàu protein, nó được tạo ra từ việc tách chiết dầu đậu nành Có 3 dạng protein được sản xuất ra từ đậu nành được ứng dụng trong thức ăn thủy sản là: protein cô đặc, protein tách chiết riêng và protein thủy phân
Protein cô đặc được sản xuất từ việc tách chiết methanol và etanol dạng nước từ các hạt đậu nành đã tách hết dầu Bằng cách này carbohydrate, acid phytic, oligossacharides được loại bỏ Mặt khác cồn làm biến chất protein Trong sản phẩm protein này chứa một lượng rất ít protein khó hòa tan (Gatlin, 2002 [35]) Đồng thời nó cũng chứa một lượng nhỏ thành phần kháng trypsin, tuy nhiên ở hàm lượng này vẫn đảm bảo thích hợp cho sự sinh trưởng của cá hồi và một số loài cá khác hơn là ở dạng bột đậu nành thô
Trang 34Protein đậu nành đậm đặc có thể thay thế 50% trong khẩu phần mà không ảnh hưởng xấu đến sự sinh trưởng và tích lũy dinh dưỡng của cá hồi cầu vồng (Mambrini et al
1999, [35])
Nếu như protein đậu nành tổng hợp được thay thế 40% bột cá trong khẩu phần thức ăn của cá hồi cầu vồng và cá hồi thái bình dương thì khoảng năm 2010 thị trường đậu nành tiềm năng sẽ xấp xỉ khoảng 780.000 triệu tấn
Protein đậu nành cô đặc và protein đậu nành tinh chất được sử dụng lâu nay trong thức ăn của cá mới nở hoặc một số loại thức ăn đặc biệt khác Điều này khiến người nuôi sẵn lòng trả giá thức ăn cao hơn để có được loại thức ăn có chứa một ít bột cá Sản phẩm không chứa các phế phẩm Giá của protein cô đặc đắt hơn cả giá của bột cá có chất lượng cao và cả loại cá ướp muối ở Nam Phi và Bắc Mỹ Do giá thành cao cho nên đã làm giới hạn và sử dụng tiết kiệm nguồn protein này trong ngành sản xuất thức ăn thủy sản[35]
Dầu đậu nành
Dầu đậu nành chứa một hàm lượng cao các acid béo không thay thế, nhưng nó cũng thiếu một số acid béo không thay thế khác Đây là những acid có nhu cầu cao và có vai trò quan trọng đối với những loài cá biển
Cá biển có nhu cầu cao về acid béo không thay thế (HUFA) do chúng không thể tổng hợp được các acid béo đó từ các acid béo có mạch cac-bon C18 (Rogost et al 2003) Dầu đậu nành chứa khoảng 8% linolenic acid (C18: 3, n-3) HUFA là các acid béo mạch dài, đặc biệt quan trọng là Eicosapentanoic acid (EPA, C20:5, n-3) và Docosahexanoic acid (DHA, C22:6, n-3) Đã có những nghiên cứu chỉ ra rằng nó có thể thay thế tổng số dầu cá bằng dầu đậu nành ở thức ăn của cá hồi mà không ảnh hưởng đến sự sinh trưởng.[35]
Hiện tại và xu hướng trong tương lai là thay thế lên tới 50% dầu cá bằng dầu đậu nành ở thức ăn nuôi thương phẩm của cá hồi
Song song với một số mối lo của việc giảm sút sản lượng bột cá trong khi ngành công nghiệp thức ăn cho động vật đang tăng nhanh, mà đặc biệt là ở động vật thủy sản Mặt khác sản lượng dầu được sản xuất từ các loài hải sản cũng giảm sút (Forster, 2002) Cho nên dầu đậu nành được xem là nguyên liệu quan trọng để thay thế cho dầu cá trong khẩu phần thức ăn của cá hồi, đặc biệt là ở vương quốc Anh [35]
Trang 35Lecithin trong đậu nành
Kết quả nghiên cứu đã chứng minh cá và giáp xác được bổ sung lecithin trong đậu nành vào thức ăn ở giai đoạn ấu trùng và giai đoạn giống cho năng suất và tỷ lệ sống cao hơn; tích lũy dinh dưỡng tốt hơn; sinh sản tốt hơn Đồng thời làm giảm tác động của dị tật trên một số bộ phận của cơ thể như ở phần hàm Gong et al (2002) báo cáo ở ấu trùng tôm
thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei) sinh trưởng tăng lên khi bổ sung lecithin chiết xuất
từ đậu nành vào trong khẩu phần thức ăn với tỷ lệ 3%
Việc bổ sung lecithin vào thức ăn của tôm đuôi đỏ (Chen & Jenon, 1991); ấu trùng
cá chép (Geurden et al 1998); cá hồi cầu vồng (Poston, 1990); cá hồi thái bình dương (Refstie et al 2000) đã cho thấy sinh trưởng và tỷ lệ sống cao hơn hẳn Nhu cầu lecithin của cá và giáp xác phụ thuộc vào hàm lượng chất béo tổng số và acid béo đặc trưng của thức ăn, tuổi, giai đoạn phát triển của vật nuôi và nhiệt độ nước (cá sống ở vùng nước lạnh cần nhiều phopholipid hơn cá sống ở vùng nước ấm) [35]
2.5.2 Một vài tồn tại trong ngành công nghiệp sản xuất thức ăn thủy sản và phương hướng khắc phục
a) Những mặt tồn tại trong vấn đế nguyên liệu sản xuất thức ăn thủy sản
Có xấp xỉ khoảng 30.000 loài cá trong tự nhiên, hiện tại có 358 loài được nuôi và trong số đó có 54 loài sử dụng bột đậu nành làm thức ăn Chính vì thế bột đậu nành trở thành tâm điểm của những nghiên cứu dinh dưỡng cho những loài nuôi mới
Sản lượng bột cá trên toàn thế giới hiện nay xấp xỉ khoảng 6,8 triệu tấn, trong đó khoảng 1,7 hay 25% sản lượng được sử dụng làm thức ăn cho động vật ở nước
Thức ăn ban đầu cho những loài nuôi mới thường chứa một lượng lớn bột cá và dầu
cá Đây là những thành phần có vị hấp dẫn khi cho động vật dưới nước ăn Thêm vào đó, bột cá có thành phần protein cao với chất lượng tốt cân bằng các thành phần acid amin thiết thiếu; còn dầu cá chứa acid béo n-3 Hầu hết các loài động vật sinh trưởng nhanh khi cho ăn thức ăn có hàm lượng protein, lipid cao cùng với hàm lượng acid amin thiết yếu được bổ sung đầy đủ vào trong thức ăn Tuy nhiên, theo dự đoán sản lượng bột cá và dầu
cá không đủ cung cấp cho ngành sản xuất thức ăn thủy sản trong vòng hơn 40 năm nữa [33]
Việc sử dụng bột cá trong các khẩu phần nuôI trồng thủy sản, nhất thiết liên quan đến việc chuyển hóa cá được đánh bắt ngoài tự nhiên thành các động vật nuôi Sự chuyển
Trang 36hóa này dù sao cũng chưa hiệu quả Với hệ số chuyển hóa thức ăn trung bình 1,5 Để tạo ra
1 kg cá chình, cần phải có 1,5 kg thức ăn ở mức 1 kg bột cá cần 5 kg cá nguyên liệu (cá tạp), vì thế để thu được 1 kg cá chình nuôi (tức cần 0,75 kg bột cá) thì ta phải cần 3,75 kg
cá nguyên liệu Wijkstrom & New (1989) ước tính “lượng tương đương bột cá” được sử dụng cho sản xuất nuôi trồng thủy sản trong các năm 1984, 1985, và 1986 Họ kết luận rằng, ở các nước nuôi hiện nay, các trại công nghiệp nuôi cá ăn thịt và tôm tiêu thụ khoảng 8% tổng số sản lượng bột cá của thế giới Theo các tác giả này vào năm 2000, cần 1,3 106tấn bột cá để tạo ra 2,4 106 cá ăn thịt và tôm, khoảng 6,5 106 tấn cá đánh bắt ngoài tự nhiên Điều này dường như mâu thuẫn với điều giả định ban đầu rằng nuôi trồng thủy sản
là giải pháp giải quyết việc thiếu hụt từ khai thác thủy sản toàn cầu Dường như việc giảm sản lượng cá đánh bắt ngoài tự nhiên trong thực tế có thể giới hạn hoặc loại bỏ sự tăng trưởng của công nghiệp nuôi trồng thủy sản
Mặt khác, Hội Nhà sản xuất bột cá quốc tế đã dự đoán một sự giảm sút 5% về sản lượng bột cá trong thập kỷ tới, đến khoảng 6 – 6,5 106 tấn trong năm 2000 Điều này có nghĩa những người nuôi trồng thủy sản cần 15 – 17% sản lượng bột cá toàn thế giới Một
sự gấp đôi mức năm 1986, rõ ràng trong tình huống mà việc cung cấp bột cá bị hạn chế, giá cả nhất định tăng lên và sự cạnh tranh về bột cá sẽ lớn hơn Vì thế không thể có chuyện phần đóng góp của các mặt hàng này sẽ tăng lên khoảng 20% vào năm 2000 Để thoát khỏi
“cái bẫy bột cá” các tác giả đã đề nghị thành phần protein trong các loại thức ăn thủy sản nên được thay thế bằng các thành phần nguyên liệu khác
Bảng 7: Tỷ lệ bột cá sử dụng trong ngành nông nghiệp [36]
Nhóm vật nuôi Năm 2002 Năm 2010 Nuôi trồng thủy sản 46% 56%
Trang 37sản đều mong muốn có những thức ăn rẻ hơn để thay thế bột cá Điều đó sẽ chỉ xảy ra khi nào một lượng lớn dầu cá được bổ sung vào công thức chế biến.[31]
Peru là quốc gia có sản lượng bột cá lớn nhất trên thế giới, xong những năm gần đây sản lượng bột cá của quốc gia này đang có chiều hướng giảm sút Tháng 8 năm 2006 sản lượng xuất khẩu bột cá chỉ với 64.400 tấn giảm 222.000 tấn so với cùng kỳ năm 2005 Trong 9 tháng đầu năm 2006, tổng sản lượng bột cá sản xuất các tháng 1-9/2006 chỉ đạt 875.000 tấn, trong khi cùng kỳ này năm 2005 có số này là 1,3 triệu tấn
Theo dự đoán của các nhà chuyên môn, sản lượng bột cá năm 2007 sẽ không khả dĩ hơn năm 2006 hiện tượng EL Ninô được dự báo chắc chắn sẽ diễn ra vào cuối năm 2006, đầu 2007 một vài tháng trước đây hiện tượng này được tiên đoán sẽ chỉ là một sự biến đổi nhẹ về thời tiết, nhưng hiện nay có những dấu hiệu cho thấy nó sẽ mạnh hơn so với dự đoán Hệ quả là sản lượng cá nổi nhỏ và bột cá sẽ giảm nhiều so với vụ khai thác trước
b) Phương hướng khắc phục và những kết quả nghiên cứu thu được
Trước những tồn tại của ngành công nghiệp sản xuất thức ăn thủy sản về nguyên liệu sản xuất, trong đó sản lượng bột cá ngày càng suy giảm, giá cả bột cá ngày càng leo thang Thì một việc làm cấp bách hiện nay là phải nghiên cứu tìm ra nguyên liệu sẵn có, rẻ tiền, nhưng đồng thời có đủ khả năng về mặt dinh dưỡng để thay thế một phần hay toàn bộ bột cá trong khẩu phần ăn của cá, tôm nuôi Xét về khía cạnh dinh dưỡng so với bột cá thì hầu hết nguyên liệu khác hiện nay đều chứa không đủ và cân đối tất cả các thành phần dinh dưỡng Do đó khi thay thế bột cá bằng nguyên liệu khác ở một mức nào đó sẽ phải bổ sung thêm các thành phần dinh dưỡng còn thiếu vào thức ăn
Bột cá có thể thay thế một phần bằng một số nguồn protein khác có sẵn ở địa phương như: bột đậu nành, bột ốc, bột thân mềm khác [32]
Một lượng bột cá trong khẩu phần thức ăn có thể được thay thế bằng bột đậu nành
ở những loài cá nước ngọt ví dụ: cá chép, cá rô phi, và cá da trơn Những nghiên cứu tương
tự với cá biển như: cá chẽm, cá hồng, cá chình nhật bản và cá tráp đỏ đã chỉ ra rằng, bột đậu nành có thể là một nguồn protein có hiệu quả kinh tế với những loài cá dữ Trong khẩu phần ăn của cá hồi cầu vồng và ấu trùng cá chẽm, bột đậu nành được tách chiết theo phương pháp sử dụng dung môi có thể thay thế 40% bột cá và lên đến 100% cho các ao ương cá da trơn mà không có sự sai đáng kể nào về năng suất nào (Boonyarat et al 1998) [35]
Trang 38ở mức thay thế lớn hơn 50% bột cá, cá ăn thức ăn chứa bột cá đã cho thấy sự giảm
tỷ lệ sinh trưởng Nó còn kéo theo sự khủng hoảng tương tự với mất khả năng miễn nhiễm
và làm trầm trọng thêm sự thay đổi dịch bệnh trong đường ruột của cá (Burels et al 1999 [35]) Mức độ bột đậu nành hiện nay trong khẩu phần ăn của cá hồi giống không quá 20% Người ta xác định ở mức độ tương đương của bột đậu nành trong thức ăn của cá hồi thương phẩm thì khoảng năm 2010 có khoảng 391.000 triệu tấn bột đậu nành được sử dụng
Kết quả của việc thay thế bột cá bằng bột đậu nành cùng với bổ sung L-lysine vào
trong khẩu phần ăn của cá rô phi vằn giống (Oreochromis niloticus) đã được nghiên cứu
với 5 mức khác nhau Công thức 1 được lập tương tự công thức thức ăn thương mại cho cá
rô phi có chất lượng cao có chứa 20% bột cá và 30% bột đậu nành Còn công thức thức ăn
ở nghiệm thức thứ 2 đến thứ 5 có chứa lần lượt các mức 55%, 54%, 53%, và 52% bột đậu nành và 0,5%; 1%; 1,5% và 2% L-lysine bổ sung Sau 10 tuần nghiên cứu đã có kết quả sai khác rõ ràng (P<0,05) về khối lượng và chiều dài thân Trong đó khẩu phần thức ăn có chứa 55% bột đậu nành và 0,5% L-lysine cho kết quả sinh trưởng cao nhất.[37]
Twibell & Brown (2000) đã tổng hợp các tư liệu sẵn có của việc sử dụng bột đậu nành trong nuôi cá ở tất cả các loài nói chung có khả năng sử dụng bột đậu nành ở mức tối thiểu 10-15% trong thức ăn Nhưng một vài loài cá dữ không thể chịu đựng được quá 20% bột đậu nành trong khẩu phần ăn Nhóm cá hồi là một trong những loài nuôi thâm canh chủ yếu sử dụng bột đậu nành làm thức ăn, khả năng chịu đựng không quá 25 – 30%, một số loài cá khác không quá 15% [33]
Những nghiên cứu về lợi ích của việc thay thế bột cá bằng bột đậu nành trong nuôi nghề nuôi tôm cũng đã được nghiên cứu và đã có kết quả khả quan, khi thay thế tinh chất đậu nành ở mức 8% trong chế độ ăn của tôm sẽ làm tăng tỷ lệ sống, mức độ tăng trưởng và
sử dụng thức ăn có hiệu quả Đồng thời trong thí nghiệm còn cho thấy khi trộn tinh chất đậu nành ở mức 20%, tỷ lệ tăng trưởng của ấu trùng cá chép trở nên tốt hơn [36]
Trong những sản phẩm có nguồn gốc từ hạt đậu nành có chứa cả các thành phần dinh dưỡng và kháng dinh dưỡng Do đó phải lưu ý xem xét kỹ các tài liệu sẵn có về giá trị dinh dưỡng của các sản phẩm từ đậu nành để có sự phối kết hợp cần thiết sao cho hợp lý [35]
Trang 39PHẦN 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu
Đối tượng: Cá chẽm (Lates calcarifer Bloch, 1790)
Thời gian: Từ 13-8-2007 đến 7-10-2007
Địa điểm: Đồng Bò thành phố Nha Trang tỉnh Khánh Hoà
3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu
Hình 4: Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu
ảnh hưởng của hàm lượng protein khác nhau trong thức ăn
lên sinh trưởng và tỷ lệ sống
36%
protein
ảnh hưởng của thay thế tỷ lệ bột cá bằng bột đậu nành lên sinh
trưởng và tỷ lệ sốngXác định hàm lượng protein thích hợp nhất
39%
protein
42% protein
B.cá : Đ.nành
6 : 0
Xác định tỷ lệ thay thế bột cá bằng bột đậu nành thích hợp lên sinh trưởng và tỷ lệ sống
B.cá : Đ.nành
5 : 1
B.cá : Đ.nành
4 : 2
Trang 403.2.2 Phương pháp thu thập số liệu
a) Phương pháp thu thập số liệu gián tiếp
Thu thập số liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu qua cá loại tài liệu tham khảo: sách, giáo trình, báo điện tử, báo cáo khoa học, luận văn (chuyên đề) tốt nghiệp
b) Phương pháp thu thập số liệu trực tiếp
Trực tiếp bố trí thí nghiệm và thu các số liệu có liên quan trong suốt thời gian thực hiện đề tài
3.2.3 Phương pháp và dụng cụ xác định các thông số kỹ thuật trong thí nghiệm
Xác định nhiệt độ(oC): được xác định bằng nhiệt kế thuỷ ngân có độ chính xác 1oC
Xác định pH: được xác định bằng bộ Test-pH (kiểm tra nhanh bằng cách
so màu)
Xác định độ mặn (ppt): được xác định bằng khúc xạ kế, độ chính xác 1 ppt
Xác định chiều dài thân cá (TL): đo bằng giấy kẻ ô ly chuyên dùng, độ chính xác 1 mm
Xác định khối lượng thân cá (W) đo bằng cân điện tử, có độ chính xác 0,01 gam
Các yếu tố môi trường trong giai ương (nhiệt độ, độ mặn, pH) được xác định hàng ngày, mỗi ngày 2 lần vào lúc 7h và 14 h
Số liệu chiều dài (TL), khối lượng (W) và tỷ lệ sống (TLS) được xác định mỗi tuần một lần Hàng ngày thường xuyên quan sát để kiểm tra số lượng cá chết (cá chết quan sát được)
3.2.4 Phương pháp bố trí thí nghiệm
a) Phương pháp bố trí thí nghiệm xác định ảnh hưởng của hàm lượng protein khác nhau trong thức ăn lên tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá chẽm giai đoạn giống 3,5 – 6 cm
Bố trí thí nghiệm: