1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ảnh hưởng của men vi sinh bổ sung vào thức ăn và số lần cho ăn và thời gian chiếu sáng trong ngày lên sinh trưởng, tỉ lệ sống của cá chim vây vàng (trachinotus blochii lacepede, 1801) giống

40 722 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 2,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngoài ra, cá chim vây vàng còn có thể nuôi với mật độ cao trong các loại vùng nước lợ, mặn khác nhau với các hình thức nuôi như nuôi lồng hoặc trong ao đất,… Chính tính dễ nuôi, sử dụng

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập ở trường ĐH Nha Trang cũng như thời gian thực tập ở trại thực nghiệm giống cá biển của trường ĐH Nha Trang tại Đường Đệ – Nha Trang – Khánh Hòa, tôi đã học hỏi thêm được nhiều kiến thức cơ bản, kinh nghiệm thực tế bổ ích cho bản thân, tạo cho tôi một nền tảng vững chắc, một sự tự tin để tôi

có thể thuận lợi bước đi trên con đường sự nghiệp của mình sau này

Để đạt được thành tích như ngày hôm nay, trước hết, tôi xin cảm ơn các quý thầy, cô khoa Nuôi trồng thủy sản - trường ĐH Nha Trang đã tận tình dạy dỗ và hướng dẫn cho tôi trong suốt 4 năm đại học vừa qua

Đồng thời để có thể hoàn thành xong báo cáo thực tập này, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành sâu sắc đến Th.S Ngô Văn Mạnh – người đã luôn tận tình hướng dẫn, góp ý và định hướng cho tôi hoàn thành bài báo cáo trong suốt thời gian thực hiện chuyên đề này

Bên cạnh đó, tôi xin đặc biệt cảm ơn các anh và các bạn ở trại thực nghiệm

và tập thể lớp 49NT-1 đã giúp tôi tiếp cận thực tế và hướng dẫn giúp tôi làm quen với các công việc cụ thể trong quá trình nuôi ương cá chim vây vàng giống để tôi có thể hoàn thành tốt báo cáo thực tập này

Với những kiến thức hạn hẹp, thời gian thực tập ít nên chắc chắn nội dung còn nhiều thiếu sót nên tôi rất mong được sự góp ý của Quý Thầy, Cô

Cuối cùng, tôi xin kính gởi lời chúc sức khỏe và thành công đến toàn thể quý Thầy Cô khoa Nuôi trồng thủy sản - trường ĐH Nha Trang và các anh, các bạn đang công tác và làm việc tại trại thực nghiệm giống cá biển của trường ĐH Nha Trang tại Đường Đệ – Nha Trang – Khánh Hòa

Nha Trang, tháng 6 năm 2011

Châu Việt Anh

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

LỜI CẢM ƠN i

MỤC LỤC ii

DANH MỤC CÁC BẢNG iiv

DANH MỤC CÁC HÌNH v

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 3

1.1 Tình hình nghiên cứu cá biển và chim vây vàng trên thế giới 3

1.2 Đặc điểm sinh học cá chim vây vàng 5

1.2.1Vị trì phân loại 5

1.2.2Đặc điểm hình thái 5

1.2.3Phân bố 6

1.2.4Đặc điểm dinh dưỡng 7

1.2.5Đặc điểm sinh trưởng 8

1.2.6Đặc điểm sinh sản 9

1.3Tình hình nghiên cứu cá chim vây vàng ở Việt Nam 10

1.4Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng và tỉ lệ sống của cá 10

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14

2.1Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu 14

2.2Sơ đồ nội dung nghiên cứu 14

2.3Vật liệu nghiên cứu 14

2.4Bố trí thí nghiệm 16

2.4.1Thí nghiệm 1: Ảnh hưởng của men vi sinh bổ sung vào thức ăn lên sinh trưởng, tỉ lệ sống của cá chim vây vàng giai đoạn từ 3,0 đến 5,0 cm 16

2.4.2Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng của số lần cho ăn, thời gian chiếu sáng trong ngày lên sinh trưởng, tỉ lệ sống của cá chim vây vàng giai đoạn từ 1,0 đến 3,5 cm 19

2.5Phương pháp xác định các chỉ tiêu 21

2.5.1Phương pháp xác định các yếu tố môi trường 21

2.5.2Theo dõi xác định tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá 22

Trang 3

2.5.3Các công thức tính toán 22

2.6Phương pháp xử lý số liệu 23

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬNError! Bookmark not defined.24 3.1Thí nghiệm 1: Ảnh hưởng của men vi sinh bổ sung vào thức ăn lên sinh trưởng và phân đàn của cá chim vây vàng giai đoạn từ 3,0 đến 5,0 cm 24

3.1.1 Sinh trưởng và phân đàn 24

3.1.2 Tỷ lệ sống, hệ số FCR 27

3.2Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng của số lần cho ăn, thời gian chiếu sáng trong ngày lên sinh trưởng, tỉ lệ sống của cá chim vây vàng giai đoạn từ 1,0 đến 3,5 cm 28

3.2.1Sinh trưởng và phân đàn 28

3.2.2Tỷ lệ sống, sinh khối và hệ số FCR 31

CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN 33

4.1Kết luận 33

4.2Đề xuất ý kiến 33

TÀI LIỆU THAM KHẢO 34 PHỤ LỤC

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang Bảng 2.1: Thời điểm cho ăn với các chế độ chiếu sáng và số lần cho ăn khác nhau……… 21 Bảng 3.1: Sinh trưởng của cá chim vây vàng giai đoạn từ 3,0 đến 5,0 cm ở các nghiệm thức men vi sinh bổ sung khác nhau……… 26 Bảng 3.2: Sinh trưởng, phân đàn của cá chim vây vàng giống khi nuôi với thời gian chiếu sáng và số lần cho ăn khác nhau………….….……… 30 Bảng 3.3: Tỷ lệ sống, sinh khối và hệ số tiêu tốn thức ăn của cá chim vây vàng giống khi nuôi với thời gian chiếu sáng và số lần cho ăn khác nhau……….……… …… 31

Trang 5

DANH MỤC CÁC HÌNH

Trang

Hình 1.1: Hình thái ngoài cá chim vây vàng……… …………6

Hình 1.2: Bản đồ phân bố cá chim vây vàng trên thế giới……… …… …7

Hình 1.3: Cá chim giai đoạn giống……….………… ………9

Hình 2.1: Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu ……….……….………14

Hình 2.2: Hệ thống bể thí nghiệm……… …….…15

Hình 2.3: Bể lọc sinh học……… ……… ……15

Hình 2.4: Thức ăn tổng hợp NRD……….…… ………15

Hình 2.5: Chế phẩm DIGES TÃO………16

Hình 2.6: Chế phẩm QM-BINDER……… ……… ………17

Hình 2.7: Chế phẩm QM-PROBIOTIC……….………17

Hình 2.8: Chế phẩm COMPOZYME………18

Hình 3.1: Sinh trưởng chiều dài của cá chim vây vàng giống theo thời gian nuôi được cho ăn bằng thức ăn có bổ sung thêm các loại men vi sinh ……… …24

Hình 3.2: Sinh trưởng khối lượng của cá chim vây vàng giống theo thời gian nuôi được cho ăn bằng thức ăn có bổ sung thêm các loại men vi sinh ……… …25

Hình 3.3: Hệ số phân đàn về chiều dài (CVSL) của cá chim vây vàng giống theo thời gian nuôi được cho ăn bằng thức ăn có bổ sung thêm các loại men vi sinh…… 25

Hình 3.4: Hệ số tiêu tốn thức ăn (FCR) của cá khi kết thúc thí nghiệm……… …27

Hình 3.5: Sinh trưởng chiều dài của cá chim vây vàng giống theo thời gian nuôi với số lần cho ăn khác nhau ở điều kiện chiếu sáng 12 giờ (12L:12D) và 18 giờ (18L:6D) ……… …29

Hình 3.6: Sinh trưởng khối lượng của cá chim vây vàng giống theo thời gian nuôi với số lần cho ăn khác nhau ở điều kiện chiếu sáng 12 giờ (12L:12D) và 18 giờ (18L:6D) ……….……29

Hình 3.7: Hệ số phân đàn về chiều dài (CVSL) của cá chim vây vàng giống theo thời gian nuôi với số lần cho ăn khác nhau ở điều kiện chiếu sáng 12 giờ (12L:12D) và 18 giờ (18L:6D) ……… … 31

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

NTTS: Nuôi trồng thủy sản

NT : Nghiệm thức

BW : Khối lượng trung bình

SL : Chiều dài kinh tế trung bình

CV : Hệ số phân đàn theo chiều dài

TL : Chiều dài toàn thân

SL : Chiều dài kinh tế trung bình SGRw : Tốc độ sinh trưởng đặc trưng về khối lượng trung bình TLS : Tỉ lệ sống

FCR : Hệ số tiêu tốn thức ăn

CT : Nghiệm thức không bổ sung vi sinh

DI : Nghiệm thức có bổ sung chế phẩm DIGES TÃO ( 2g/kg thức ăn )

QM : Nghiệm thức có bổ sung chế phẩm BINDER ( 10g/kg thức ăn ) + PROBIOTIC ( 3g/kg thức ăn )

QM-CP : Nghiệm thức có bổ sung chế phẩm COMPOZYME ( 2g/kg thức ăn ) P1.107: Nghiệm thức có bổ sung chế phẩm vi sinh lactobacilus 1: 107CFU/g P1.109: Nghiệm thức có bổ sung chế phẩm vi sinh lactobacilus 1: 109CFU/g P2.107: Nghiệm thức có bổ sung chế phẩm vi sinh lactobacilus 2: 107CFU/g P2.109: Nghiệm thức có bổ sung chế phẩm vi sinh lactobacilus 2: 109CFU/g 12L:2F: Nghiệm thức có thời gian chiếu sáng 12h, che tối 12h, cho ăn 2 lần/ngày 12L:4F: Nghiệm thức có thời gian chiếu sáng 12h, che tối 12h, cho ăn 4 lần/ngày 12L:6F: Nghiệm thức có thời gian chiếu sáng 12h, che tối 12h, cho ăn 6 lần/ngày 12L:8F: Nghiệm thức có thời gian chiếu sáng 12h, che tối 12h, cho ăn 8 lần/ngày 18L:2F: Nghiệm thức có thời gian chiếu sáng 18h, che tối 6h, cho ăn 2 lần/ngày 18L:4F: Nghiệm thức có thời gian chiếu sáng 18h, che tối 6h, cho ăn 4 lần/ngày 18L:6F: Nghiệm thức có thời gian chiếu sáng 18h, che tối 6h, cho ăn 6 lần/ngày 18L:8F: Nghiệm thức có thời gian chiếu sáng 18h, che tối 6h, cho ăn 8 lần/ngày

Trang 7

MỞ ĐẦU

Cá chim vây vàng (Tracginotus blochii) là loài cá có giá trị kinh tế cao, thịt

thơm ngon, tốc độ sinh trưởng nhanh Ngoài ra, cá chim vây vàng còn có thể nuôi với mật độ cao trong các loại vùng nước lợ, mặn khác nhau với các hình thức nuôi như nuôi lồng hoặc trong ao đất,… Chính tính dễ nuôi, sử dụng tốt các loại thức ăn khác nhau ( cá tạp, thức ăn tổng hợp ) và đa dạng về hình thức nuôi, mặt nước nuôi nên cá chim vây vàng được nuôi phổ biến rộng rãi ở nhiều quốc gia trên thế giới như Đài Loan, Trung Quốc, Indonesia, Singapore [1]

Ở Việt Nam, nghề nuôi ương cá chim vây vàng cũng khá phát triển nhờ đã chủ động tự sản xuất nhân tạo được con giống, tuy nhiên số lượng con giống sản xuất ra vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường Vì có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng, tỷ lệ sống của cá chim vây vàng giống: chất lượng trứng, chất lượng ấu trùng, chế độ cho ăn, chăm sóc, quản lý … và các yếu tố sinh thái khác [1]

Ánh sáng và chế độ cho ăn là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của thủy sản nói chung và cá chim vây vàng nói riêng Trong thực tế sản xuất, cá chim vây vàng giống dừng bắt mồi khi ánh sáng tắt hoàn toàn Vì vậy kéo dài thời gian chiếu sáng và tăng số lần cho ăn trong ngày có thể khiến cá kéo dài thời gian bắt mồi và tăng trưởng tốt hơn

Những nghiên cứu trên một số loài cá khác cho thấy thời gian chiếu sáng và chế độ cho ăn có ảnh hưởng lên sinh trưởng của cá (Boeuf và Le Bail, 1999; Dwyer

và CTV, 2002) Cá tráp đỏ (Pagrus auratus) giai đoạn giống khi tăng thời gian chiếu sáng từ 12 lên 18 giờ trong ngày và cho ăn 8 lần/ngày với khẩu phần ăn cố định sinh trưởng nhanh hơn so với cho ăn từ 2 – 6 lần/ngày (Tucker và CTV, 2006) Trong khi đó, nghiên cứu của Ngô Văn Mạnh và Hoàng Tùng (2009) trên cá chẽm (Lates calcarifer) giống ương trong mương nổi cho ăn từ 2 – 8 lần/ ngày cho thấy, cá cho

ăn 4 lần/ngày có tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ sống tương đương với cho ăn 6 – 8 lần/ngày, nhưng hệ số FCR lại thấp hơn Mặt khác, việc kéo dài thời gian chiều sáng trong ngày cũng không góp phần cải thiện sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá chẽm giống (Đinh Văn Khương và CTV, 2008) Do vậy, việc nghiên cứu nhằm tìm

ra chu kỳ chiếu sáng trong ngày với chế độ cho ăn hợp lý để cải thiện tốc độ sinh

Trang 8

trưởng của cá, rút ngắn chu kỳ sản xuất góp phần hoàn thiện quy trình sản xuất giống nhân tạo cá chim vây vàng là rất cần thiết

Việc sử dụng các chế phẩm vi sinh để cải tạo môi trường nước, bổ sung trong thức ăn giúp dể tiêu hóa và tăng khả năng đề kháng của tôm được sử dụng rộng rải và mang lại hiệu quả rất tốt Đối với cá chim vây vàng khi đươc cho ăn thức ăn có bổ sung vi sinh cũng có thể giúp tiêu hóa tốt hơn và tăng trưởng tốt hơn, tăng khả năng chống chịu bệnh, giúp cải thiện môi trường nước và tăng tỉ lệ sống

Hiện nay việc sản suất con giống cá chim vây vàng chủ yếu sử dụng thức ăn công nghiệp là chính, nhưng hiệu suất sinh trưởng và tỉ lệ sống của cá vẫn không cao Với mục đích tối ưu hóa hiệu quả và góp phần giảm chi phí, giá thành con

giống trong việc sản xuất giống cá chim vây vàng, đề tài “Ảnh hưởng của men vi

sinh bổ sung vào thức ăn và số lần cho ăn và thời gian chiếu sáng trong ngày lên sinh trưởng, tỉ lệ sống của cá chim vây vàng (Trachinotus blochii Lacepede, 1801) giống” được thực hiện với các nội dung sau:

- Ảnh hưởng của men vi sinh bổ sung vào thức ăn lên sinh trưởng, tỉ lệ sống của cá chim vây vàng giai đoạn từ 3,0 đến 5,0 cm

- Ảnh hưởng của số lần cho ăn, thời gian chiếu sáng trong ngày lên sinh trưởng, tỉ lệ sống của cá chim vây vàng giai đoạn từ 1,0 đến 3,5 cm

Trang 9

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1 Tình hình nghiên cứu cá biển và chim vây vàng trên thế giới :

Nghề nuôi cá biển trên thế giới bắt đầu phát triển từ những năm 70, đối tượng nuôi chủ yếu là cá hồi, cá cam, cá tráp, cá vược, cá mú, cá hồng, cá măng biển, … Hầu hết các loài trên con người đã chủ động sản xuất được con giống nhân tạo, còn một số loài nguồn giống vẫn dựa vào khai thác ngoài tự nhiên

Trung Quốc và Đài Loan ngay từ những năm 50 đã tiến hành nghiên cứu sinh sản nhân tạo cá biển Đầu tiên là cá đối, cá bơn, cá tráp đỏ Từ những năm 80 đến giữa những năm 90 họ đã cho sinh sản thành công trên 40 loài Tính đến năm

2000, Trung Quốc đã sản xuất thành công con giống nhân tạo của 54 loài thuộc 24

họ cá biển với số lượng lớn đáp ứng cho nhu cầu nuôi thương phẩm Hiện nay, một

số nước trên thế giới đã có nền công nghiệp nuôi cá biển phát triển như: Nhật Bản,

Mỹ, Nauy đạt năng suất và sản lượng nuôi rất lớn [4]

Khu vực Nam và Đông Nam Á, trong 3 thập kỷ qua nghề nuôi cá biển cũng

đã phát triển rất mạnh Các loài cá mú, cá hồng, cá giò, cá chẽm, cá măng, cá tráp,

cá đù đỏ là những đối tượng nuôi phổ biến ở Thái Lan, Malaysia, Philipine, Ấn Độ, Đài Loan, Hồng Kông, Trung Quốc và Việt Nam [4]

Theo thống kê của FAO, giai đoạn từ năm 1988 - 1997 sản lượng cá nước mặn và cá nước lợ trên toàn thế giới hàng năm tăng trên 10% Năm 1997 sản lượng đạt 2 triệu tấn, trị giá khoảng 8 tỷ USD, trong đó sản lượng cá hồi Đại Tây Dương chiếm ưu thế đạt 640.000 tấn (Hambrey, 2000) [4]

Năm 1981, sản lượng cá hồi ở Nauy chỉ đạt 8.000 tấn Năm 1998, chỉ tính riêng sản lượng cá hồi Đại Tây Dương đã đạt 340.000 tấn (Hjet, 2000) Sự thành công của nghề nuôi cá hồi công nghiệp ở Nauy đã thúc đẩy nghề nuôi cá biển trên toàn thế giới

Để hạn chế những tác động bất lợi của môi trường từ việc mở rộng diện tích các hình thức nuôi trong ao, Đài Loan đã tập trung phát triển nuôi cá lồng trên biển Năm 2000, có khoảng 1.500 lồng với các kích cỡ khác nhau được đặt ở ven biển và

ngoài khơi, trong đó trên 80% lồng để nuôi cá giò (Rachycentron Canadum) Ngoài

ra, một số loài nuôi chính là cá mú chấm cam (Epinephelus coioides), cá hồng

Trang 10

(Lutijanus erythropterus), cá tráp đỏ (Pagrus major), cá chim vây vàng (Trachinotus blochii) Năm 1990, sản lượng chỉ đạt 103 tấn, năm 1997 sản lượng

tăng gấp 7 lần, đạt 873 tấn và đến năm 1998 tăng lên gấp 3 lần, đạt 2.673 tấn, trong

đó cá giò chiếm 1/2 tổng sản lượng với giá trị từ 5 - 6 USD/kg, nghề nuôi cá giò ở Đài Loan đang có triển vọng lớn và là nguồn thu ngoại tệ chính (M.S.SU và ctv, 2000)

Australia có lịch sử nghề nuôi cá biển trên 2 thập kỷ qua và đã đạt được những thành tựu đáng kể Đối tượng nuôi chính cá hồi Đại Dương (Atlantic salmon)

và cá ngừ vây xanh (Southern Bluefin Tuna) với sản lượng 12.000 tấn, đạt khoảng

150 triệu AUDS hàng năm Ngoài ra một số loài cá hồi (Oncorhynchus mykiss), cá hồng (Pagrus auratus), cá tráp đen (Gymmooranicus grisen) cũng đang được nuôi

lồng trên biển với sản lượng đạt 11,8 tấn năm 1998 (Gooley và ctv, 2000) với tốc độ phát triển hiện nay, dự kiến đến năm 2010 Autralia có thể đạt 2,5 tỷ đô la Úc từ nghề nuôi cá công nghiệp, trong đó nghề nuôi cá hồi chiếm 1 tỷ đô la Úc và cá ngừ chiếm 300 triệu đô la Úc (Hussey,1999) [4]

Thái Lan có nghề nuôi biển đã phát triển hơn 2 thập kỷ qua, sản lượng tăng

và ổn định Đối tượng chính là cá chẽm (Lates calcarifer) và cá mú (Epinephelus spp) Sản lượng cá chẽm và cá mú (1996) lần lượt là 2.998 tấn và 723 tấn [4]

Nghề nuôi cá biển của một số nước trên thế giới đã phát triển từ hàng mấy thập kỷ, nay được xem như một “ ngành công nghiệp dưới nước” có tốc độ phát triển nhanh và thu ngoại tệ lớn

Đài Loan, năm 1986, Lâm Liệt Đường đã thu gom 126 con cá chim vây vàng loại nhỏ, loại vừa và lớn nuôi chung với nhau Năm 1989, Lâm Liệt Đường bắt đầu thực nghiệm cho sinh sản nhân tạo, qua 5 lần tiêm kích dục tố trong đó 4 lần cho đẻ, thu được trên 900 vạn trứng, trong đó số trứng thụ tinh trên 5 vạn Qua nhiều hình thức thực nghiệm ương nuôi, cuối cùng thu được 38,6 vạn giống kích cỡ 2 – 3cm Đây là lần đầu tiên sinh sản nhân tạo cá chim vây vàng thành công trên thế giới.[1] Năm 1993, Trung tâm chuyển giao công nghệ Trường Đại học Trung Sơn kết hợp với Trại Nghiên cứu giống Thủy sản Quảng Đông – Trung Quốc nghiên cứu sinh sản nhân tạo thành công giống cá chim vây vàng quy mô nhỏ (ương nuôi

ấu trùng trong bể xi măng) Năm 1998, Trung tâm đã kết hợp với Công ty Trách

Trang 11

nhiệm Hữu hạn giống Thủy sản Thắng Lợi – Hải Nam – Trung Quốc nghiên cứu sản xuất nhân tạo thành công trên quy mô lớn (ương nuôi ấu trùng trong ao đất).[1]

Cá chim vây vàng được nhập từ Đài Loan, Trung Quốc bởi vì nó là loài được nuôi phổ biến ở Đài Loan, Trung Quốc nhưng nó vẫn được tìm thấy ở vùng biển Indonesia Cá có tốc độ sinh trưởng nhanh và đem lại giá trị thương mại cao nên là một loài tiềm năng lớn cho nghề nuôi trồng thủy sản ở khu vực Châu Á – Thái Bình

Dương (Anony Mous, 2007)

Nghiên cứu tại Trung tâm phát triển nuôi biển ở Batam – Indonesia (Nur Muflich Juniyanto và CTV,2008 ) đã thành công trong việc sản xuất giống nhân tạo

cá chim vây vàng, vì vậy con giống có thể được sản xuất ở địa phương vượt mức

và làm giảm áp lực khai thác giống ngoài tự nhiên Kết quả thu được là khả năng sinh sản đạt 60% - 70%; tỷ lệ nở đạt 65% - 75%; tỷ lệ sống của ấu trùng 30 ngày tuổi đạt 20% - 25%.[4]

1.2 Đặc điểm sinh học cá chim vây vàng 1.2.1 Vị trì phân loại

Ngành : Vertebrata Lớp : Osteichthyes

Bộ : Perciformes

Họ : Carangidae Giống : Trachinotus

Loài : Trachinotus blochii Lacepede, 1801

Tên tiếng Anh: Snub-nose pompano Tên tiếng Việt: Cá chim vây vàng, Cá sòng mũi hếch, Cá chim trứng

1.2.2 Đặc điểm hình thái

Cơ thể hơi tròn, cao, bề bên dẹp chính giữa, lưng hình vòng cung.Trên đường bên vẩy sắp xếp khoảng 135 - 136 cái, chiều dài so với chiều cao 1,6 - 1,7 lần, so với chiều cao đầu 3,5 - 4 lần, cuống đuôi ngắn và dẹp, đầu nhỏ, chiều cao đầu lớn hơn chiều dài, môi tù về phía trước Lỗ mũi mỗi bên 2 cái gần nhau: lỗ mũi trước nhỏ hình tròn, lỗ mũi sau to hình bầu dục

Trang 12

Miệng nhỏ xiên, xương hàm bên lồi, hàm trên và hàm dưới có răng nhỏ hình lông, răng phía sau dần thoái hóa, lưỡi không có răng, rìa phía trước xương nắp mang hình cung tương đối to, rìa sau cong Bộ phận đầu không có vẩy, cơ thể có nhiều vẩy tròn nhỏ dính dưới da Vây lưng thứ 2 và vây hậu môn có vẩy, phía trước đường bên hình cung cong tròn tương đối lớn, trên đường bên vẩy không có gờ, vây lưng thứ 1 hướng về phía trước, gai bằng và có 5 – 6 gai ngắn Cá giống giữa các gai có màng liền nhau, cá trưởng thành màng thoái hóa thành những gai tách rời nhau, vây lưng thứ 2 có 1 gai và 19 – 20 tia vây, phần trước của vây kéo dài như hình lưỡi liềm Vây ngực tương đối ngắn, vây đuôi hình trăng lưỡi liềm Vây hậu môn có 1 gai và 17 – 18 tia vây, phía trước có 2 gai ngắn, cũng có dạng hình lưỡi liềm Ruột uốn cong 3 lần (chiều dài ruột/chiều dài cá = 0,8) Lưng màu tro bạc, bụng màu ánh bạc, mình không có vân đen, vây lưng màu vàng ánh bạc, rìa vây màu tro đen, vây hậu môn màu ánh bạc vàng, vây đuôi màu vàng tro

Hình 1.1: Hình thái ngoài cá chim vây vàng

1.2.3 Phân bố Phân bố về địa lý: Theo Borut Forlan (2004), cá sống ở vùng cửa biển, được

tìm thấy ở Địa Trung Hải, Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương Những con cá nhỏ thường được tìm thấy ở vùng biển cát hoặc gần những vùng cửa sông đáy cát pha đất sét Ở giai đoạn con giống chúng có xu hướng liên kết với nhau đi theo đàn, và

Trang 13

dần tách ra đi một mình khi trưởng thành Các động vật thân mềm trên cát và động vật không xương sống khác là thức ăn tự nhiên chính cho loài cá này.[4]

Ở Việt Nam, cá chim vây vàng được tìm thấy ở vùng biển Vịnh Bắc Bộ,

vùng biển miền Trung và Nam Trung Bộ [4]

Hình 1.2: Bản đồ phân bố cá chim vây vàng trên thế giới

(Phần chấm đỏ là khu vực cá phân bố)

Phân bố về sinh thái: Đây là loài cá nước ấm, có tập tính di cư, sống ở tầng

giữa và tầng trên Ở giai đoạn cá giống, thường sống thành đàn ở vùng vịnh cửa sông, cá trưởng thành bơi ra vùng biển sâu Cá chim là loài rộng muối, ngưỡng chịu đựng độ mặn trong khoảng 3‰ – 35 ‰, dưới 20 ‰ cá sinh trưởng nhanh, trong điều kiện độ mặn cao cá sinh trưởng chậm Khả năng chịu đựng nhiệt độ tương đối kém, sinh trưởng tốt nhất ở 22°C - 28°C Thông thường hàng năm cuối tháng 12 đến đầu tháng 3 năm sau là thời kỳ qua đông, cá không ăn thức ăn Nhiệt độ dưới 16°C cá chim ngừng bắt mồi, nhiệt độ thấp nhất mà cá chịu đựng được là 14°C Nếu 2 ngày liên tục, nhiệt độ xuống dưới 14°C cá sẽ chết Ngưỡng oxy hòa tan thấp

mà cá chịu đựng được là 2,5 mg/lít.[4]

1.2.4 Đặc điểm dinh dưỡng

Cá chim vây vàng là loài cá ăn tạp thiên về động vật Đầu cá tù, miệng ở phía trước bành ra hai bên có thể kiếm thức ăn trong cát, cá trưởng thành có thể bắt những động vật vỏ cứng như: ngao, cua, ốc Giai đoạn cá giống thức ăn là động vật

Trang 14

phù du và động vật đáy, chủ yếu là luân trùng (Luân trùng), ấu thể Copepoda, Artemia Cá con ăn tôm cá nhỏ, hai mảnh vỏ nhỏ Thức ăn chính của cá trưởng thành là các loại tôm cá nhỏ Trong điều kiện ương nuôi, cá dài 2 cm thức ăn là cá tạp xay nhỏ, tôm tép băm nhỏ Cá trưởng thành ăn thức ăn tôm nhỏ và thức ăn công nghiệp Cá có thể được cho ăn hoàn toàn bằng thức ăn công nghiệp trong nuôi cá thương phẩm (Lâm Cẩm Tôn, 1995), trong điều kiện môi trường nước bình thường

cá chim vây vàng có cường độ bắt mồi thay đổi theo nhiệt độ nước

Cá hương có răng nhỏ, cá trưởng thành răng thoái hóa Cuống mang ngắn và thưa, đặc điểm này khiến cá có thể dùng đầu tìm kiếm thức ăn ở trong cát Động vật thân mềm trên cát và những động vật có xương sống khác là thức ăn tự nhiên chính cho loài này (Bianchi, 1985)

Nghiên cứu sinh sản nhân tạo cá chim vây vàng tại Trung tâm Phát triển Nuôi biển ở Batam,Indonexia cho thấy thức ăn cho cá ở các giai đoạn như sau: Giai đoạn nuôi vỗ cá bố mẹ được cho ăn cá tạp, có thể sử dụng hỗn hợp thức ăn tổng hợp

và vitamin tổng hợp,khẩu phần cho ăn từ 3 – 5 % khối lượng thân Ấu trùng cá được cho ăn thức ăn sống (luân trùng, ấu trùng Artemia) và thức ăn tổng hợp Luân trùng được cho cá ăn vào ngày thứ 3 đến ngày thứ 14, mật độ luân trùng từ 5 – 15 con/ml, cho ăn ngày 3 lần Từ ngày thứ 10, thức ăn tổng hợp cỡ hạt 200 – 300 µm được bổ sung cùng với luân trùng Artemia được cho ăn vào ngày thứ 14 với mật độ 0,25 con/ml Đến ngày thứ 15 dừng cho ăn Luân trùng và lượng thức ăn tổng hợp được tăng dần, cứ 1 – 2 giờ cho cá ăn một lần Ngày thứ 18 lượng Artemia cũng phải được tăng lên 0,5 con/ml và dừng cho ăn ở ngày thứ 22 Cá giống sử dụng thức

ăn tổng hợp, kích cỡ hạt thức ăn phụ thuộc vào cỡ miệng của cá Tổng lượng thức

ăn tổng hợp được sử dụng trong ngày có thể là 1kg thức ăn/4,2 vạn cá, đặc biệt là ngày tuổi thứ 30 (Nur Muflich Juniyanto và CTV,2008 ).[4]

1.2.5 Đặc điểm sinh trưởng

Cá chim vây vàng có kích thước tương đối lớn, chiều dài có thể đạt tới 45 –

60 cm Cá sinh trưởng nhanh, trong điều kiện nuôi bình thường 1 năm có thể đạt cỡ

cá thương phẩm từ 0,5 – 0,7 kg Từ năm thứ 2 trở đi, mỗi năm khối lượng tuyệt đối tăng khoảng 1kg Trương Bang Kiệt (2001) thử nghiệm nuôi cá giống ở ao, thời kỳ

Trang 15

đầu sinh trưởng chậm cá dài 2,6 cm, khối lượng 0,52 g, qua 192 ngày nuôi cá dài 9,9 cm, khối lượng 20,53g

Hình 1.3: Cá chim giai đoạn giống

1.2.6 Đặc điểm sinh sản

Mùa sinh sản ngoài tự nhiên cá chim vây vàng ở vùng địa lý khác nhau là khác nhau Ví dụ, ở Trung Quốc từ tháng 4 – 5 và duy trì cho đến tháng 8 – 9, trong khi tại Đài Loan lại có thể cho cá sinh sản từ tháng 3 – tháng 10 Qúa trình sinh sản không tuân theo chu kỳ trăng hàng tháng như nhiều loài cá biển khác.[4]

Tuổi và kích thước thành thục lần đầu ngoài tự nhiên tương đối muộn, cá thành thục ở tuổi 7+ - 8+ Tuy nhiên, trong điều kiện nuôi nhân tạo cá có thể thành thục sớm hơn Theo Anony Mous (2007), trong điều kiện nuôi nhốt, để cá đạt được thành thục và trở thành cá bố mẹ phải mất khoảng 3 năm Năm 2006, Trại Nuôi trồng Thủy sản Thực nghiệm Yên Hưng – Quảng Ninh (Trường Cao đẳng Thủy sản Bắc Ninh) nhập công nghệ sản xuất cá chim vây vàng từ Trung Quốc, tuyển chọn cá

bố mẹ có khối lượng từ 2 – 6 kg, tuổi 3+ trở lên Sức sinh sản tuyệt đối đạt 40 – 60 vạn trứng/cá cái Theo như Nur Muflich Juniyanto và CTV (2008) cho đẻ cá chim vây vàng với tỷ lệ đực:cái là 3:1, kích thích sinh sản bằng cách tiêm kích dục tố Sử dụng HCG 250 UI/kg và Fibrogen 50 UI/kg đối với cá cái thành thục, liều lượng tiêm cá đực bằng ½ cá cái và tiêm 2 lần, khoảng cách giữa các lần là 24 giờ, cá thường đẻ sau khi tiêm lần 2 từ 12 – 24 giờ,

đẻ khoảng 60 – 70% lượng trứng trong buồng trứng, đường kính trứng thụ tinh khi trương nước đạt 0,8 – 0,85 mm

Trang 16

1.3 Tình hình nghiên cứu cá chim vây vàng ở Việt Nam

Năm 2006, Trại Nuôi trồng Thủy sản thực nghiệm tại Yên Hưng – Quảng Ninh (thuộc trường Cao Đẳng Thủy sản Bắc Ninh) đã nhập công nghệ sản xuất giống cá chim vây vàng của Trung Quốc Kết quả thu được là tỷ lệ cá đẻ trung bình 87,5%, tỷ lệ thụ tinh trung bình 60%, tỷ lệ nở trung bình 80%, tỷ lệ sống từ cá bột lên cá hương trung bình đạt 30% và đã sản xuất được trên 100 nghìn con giống cỡ 4– 6 cm

Năm 2009 Khoa Nuôi trồng Thủy sản – Trường Đại học Nha Trang bắt đầu thử nghiệm cho đẻ nhân tạo cá chim vây vàng tại Bè Nghiên cứu Thực nghiệm - Khoa Nuôi trồng Thủy sản – Trường Đại học Nha Trang tại Vũng Ngán – Nha Trang – Khánh Hòa, sau đó ấp trứng và ương giống tại Trại Sản xuất Giống cá Biển – Khoa Nuôi trồng Thủy sản – Trường Đại học Nha Trang, tại Đường Đệ – Nha Trang có tỷ lệ sống sau 25 ngày ương nuôi đạt 96-97% tuy nhiên còn một vài yếu tố

về thời tiết như nhiệt độ, ánh sáng ảnh hưởng trực tiếp tới quá trình ương nuôi và sản xuất tảo trong giai đoạn đầu khi cá mới nở

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng và tỉ lệ sống của cá Nhiệt độ

Nhiệt độ được coi là yếu tố sinh thái quan trọng có ảnh hưởng lớn nhất đến thủy sinh vật Nhiệt độ đã ảnh hưởng đến tốc độ của hai quá trình hấp thụ và trao đổi chất, do đó đã ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của cá (Wooton, 1995) Tồn tại một giới hạn nhiệt độ thấp nhất, trên mức đó mới có sự sinh trưởng

và một giới hạn cao nhất trên mức đó cá sẽ bị chết (Bùi Lai ,1985) Trong khoảng giới hạn đó có một giá trị nhiệt độ thích hợp cho cá sinh trưởng tốt nhất: cá chẽm mõm nhọn (24 – 31oC), cá hồng (16 – 33oC) Với cá chim vây vàng, trong thực tế sản xuất trại các trại sản xuất nhiệt độ thích hợp cho sự phát triển của cá là 22 –

Trang 17

thích nghi với sự thay đổi rộng của độ mặn Khả năng đó thay đổi theo giai đoạn phát triển của cá

Độ mặn ảnh hưởng đến tốc độ sinh trưởng của cơ thể cá Khi độ mặn biến đổi, một phần năng lượng tiêu tốn vào quá trình điều hòa áp suất thẩm thấu Do đó năng lượng cho quá trình sinh trưởng giảm

Một số nghiên cứu trên các loài cá rộng muối như cá chẽm (Lates calcarifer),

cá chẽm mõm nhọn (Psammoperca waigiensis), cá măng biển (Chanos chanos), cho

thấy ấu trùng mới nở của các loài cá này thường cho kết quả tốt khi ương ở độ mặn

từ 30 – 35 ppm và đạt tỷ lệ sống thấp hoặc chết hoàn toàn khi ương ở độ mặn dưới 25ppm ( Kungvankij, 1994; Tucker, 2000; Nguyễn Trọng Nho,2003) Thực tế cho thấy, những loài cá rộng muối thường đẻ trứng và sự phát triển giai đoạn sớm của

ấu trùng ngoài khơi nơi có độ mặn cao và ổn định (>30ppm), và chỉ đến giai đoạn

cá giống chúng mới di cư đến vùng nước lợ ven bờ để tiếp tục sinh trưởng và phát triển.[2]

Với cá chim vây vàng chưa có nghiên cứu đầy đủ về ảnh hưởng của độ mặn lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá con

Mật độ

Mật độ có thể ảnh hưởng đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của cơ thể cá Mật độ quá cao làm cho cơ thể cá bị sốc, sự cạnh tranh về dinh dưởng và môi trường sống diễn ra mạnh, làm tốc độ sinh trưởng của cơ thể cá giảm gây ảnh hưởng đến năng suất của quá trình nuôi

Mật độ nuôi ban đầu đối với cá chẽm bột từ 1 – 12 ngày tuổi trở lên là 50 con/L (Maneewong,1983) Nếu nuôi ở mật độ cao hơn thì tỷ lệ sống và tốc độ sinh trưởng của cá giảm Mật độ ương phụ thuộc vào tuổi và kích cỡ cá Hai ông đưa ra mật độ thích hợp đối với cá chẽm giai đoạn 1 – 7 ngày tuổi là 60 – 100 con/L [2] Trung tâm nghiên cứu biển của Indonsia đã tiến hành nghiên cứu tốc độ tăng trưởng của cá chim vây vàng trong hệ thống lọc sinh học ở mật độ 20 con/L sau 35 ngày ương nuôi ấu trùng cá đạt 3 – 4 cm về chiều dài

Trang 18

Ánh sáng

Cường độ chiếu sáng, màu sắc, thời gian chiếu sáng là một trong những yếu

tố quan trọng có ảnh hưởng nhiều đến sự phát triển của thủy sinh vật do khả năng điều tiết hoạt động của hệ nội tiết Theo Barlow (1993), cá chẽm ở giai đoạn cá giống có chiều dài 10 – 40 mm có hoạt động bắt mồi diễn ra liên tục vào ban ngày nhưng đạt đỉnh cao vào lúc chập tối Cá tiếp tục ăn vào ban đêm dưới ánh trăng nhưung với mức độ giảm và ngừng ăn khi đêm tối hoàn toàn Cường độ chiếu sáng

từ 486 – 1489 lux ảnh hưởng đến tốc độ sinh trưởng của cá chẽm giai đoạn 15 – 33

mm Tốc độ sinh trưởng có xu hướng giảm dần khi cường độ chiếu sáng tăng lên(Đinh Văn Khương,2008) [2]

Ngoài ra, thời gian chiếu sáng ảnh hưởng đến sinh trưởng và tỉ lệ sống trong quá trình ương cá bột, mặc dù trong tự nhiên mức độ ảnh hưởng thay đổi theo loài (Marliave, 1977; Tandler và Help, 1985; Duray và Kono, 1988) Thời gian chiếu sáng kéo dài làm tăng tốc độ sinh trưởng của cá chẽm trong 8 – 10 ngày đầu nhưng sau đó ánh sáng không còn ảnh hưởng sau khi kết thúc giai đoạn biến thái, tỉ lệ sống không khác biệt giữa các lô thí nghiệm có chu kì chiếu sáng 12, 18 hoặc 24 giờ (Barler, 1995).[2]

Hiện nay ở Việt Nam chưa có nghiên cứu nào đánh giá ảnh hưởng của cường

độ chiếu sáng, chu kỳ quang đến sự phát triển của cá chim vây vàng ở giai đoạn ương Những hiểu biết về cường độ chiếu sáng đến hoạt động sống và tăng trưởng của cá chim vây vàng giống còn rất hạn chế Do vậy, việc nghiên cứu kéo dài thời gian cho ăn thông qua kéo dài thời gian chiếu sáng ở giai đoạn sản xuất giống nhằm cải thiện tốc độ sinh trưởng của cá và góp phần rút ngắn thời gian sản xuất

Thức ăn và chế độ cho ăn

Thức ăn cung cấp năng lượng giúp cho vật nuôi sinh trưởng, phát triển, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm Protein là thành phần thức ăn, chất dinh dưởng cần thiết để duy trì cuộc sống cho sinh vật Trong đó với các loài cá khác nhau và giai đoạn sinh trưởng khác nhau thì nhu cầu protein cũng thay đổi khác nhau

Protein trong thức ăn không được động vật thủy sản trực tiếp tiêu hóa hấp thụ

Trang 19

thống tiêu hóa đi vào máu đến các tế bào và lại tổng hợp tại các tế bào thành các protein cho cơ thể Vì vậy nhu cầu protein thực chất là nhu cầu aminoacid.Các enzyme tiêu hóa bắt đầu hình thành từ ngày 9 – 11 và hệ thống tiêu hóa tương đối hoàn thiện sau ngày thứ 17 kể từ khi nở và có sự khác nhau giữa các loài cá Đối với

cá chim vây vàng trong các trại sản xuất giống lại bắt đầu tập chuyển đổi thức ăn từ ngày thứ 19 – 22 kể từ khi nở Việc tập sớm cho cá ăn thức ăn tổng hợp mục đích để cho cá làm quen với mùi vị, màu sắc của thức ăn tổng hợp [2]

Những nghiên cứu gần đây trong việc tập cho ăn thức ăn tổng hợp thường được tiến hành trực tiếp, theo một định hướng xác định Cỡ thức ăn tổng hợp được

sử dụng tập cho cá ăn tương đương với cỡ của thức ăn sống mà cá sử dụng Việc tập Như vậy, trên đối tượng cá chim vây vàng chưa có nhiều nghiên cứu hay có những kết luận chính xác về ảnh hưởng của chế độ chiếu sáng, cũng như chế độ cho

ăn lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá Do vậy, để tối ưu hóa điều kiện ương nuôi, rút ngắn thời gian sản xuất và hạn chế chi phí tối đa để hiệu quả sản xuất cao hơn thì việc nghiên cứu ảnh hưởng của những yếu tố trên là rất cần thiết để góp phần hoàn thiện quy trình sản xuất giống

Trang 20

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Cá chim vây vàng ( Trachinotus blochii )

- Thời gian nghiên cứu: Từ 21/02/2011 – 04/06/2011

- Địa điểm nghiên cứu: Trại thực nghiệm Nuôi Trồng Hải sản Đường Đệ –

Nha Trang – Khánh Hòa

2.2 Sơ đồ nội dung nghiên cứu

Hình 2.1: Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu

2.3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu

Bố trí lắp đặt hệ thống bể thí nghiệm

Bể ương cá thí nghiệm là bể composit hình tròn, màu đen, có thể tích 70 lít,

• Không bổ sung vi sinh

Các chỉ tiêu xác định :

• Sinh trưởng, phân đàn

• Tỉ lệ sống, hệ số FCR

Phân tích, kết luận và đề xuất ý kiến

Thí nghiệm nghiên cứu

Men vi sinh bổ sung vào thức ăn

Số lần cho ăn trong ngày (2F;4F;6F;8F)

X

Thời gian chiếu sáng trong ngày (12L;18L)

Ngày đăng: 04/03/2015, 14:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phạm Ngọc Anh (2010). Tìm hiểu kỹ thuật ương giống cá chim vây vàng (Trachinotus blochii Lacepede, 1801) từ cỡ 2 – 3 cm đến cỡ 6 – 8 cm bằng lồng. Luận văn tốt nghiệp đại học chuyên ngành NTTS, Đại học Nha Trang, 37 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu kỹ thuật ương giống cá chim vây vàng (Trachinotus blochii
Tác giả: Phạm Ngọc Anh
Năm: 2010
2. Nguyễn Thị Thu Hoài (2010). Nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian chiếu sáng và chế độ cho ăn lên tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá con cá chim vây vàng (Trachinotus blochii Lacepede, 1801). Luận văn tốt nghiệp đại học chuyên ngành NTTS, Đại học Nha Trang, 44 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian chiếu sáng và chế độ cho ăn lên tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá con cá chim vây vàng (Trachinotus blochii
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Hoài
Năm: 2010
3. Trần Thị Hà (2010). Tìm hiều kỹ thuật ương giống cá chim vây vàng (Trachinotus blochii Lacepede, 1801) tại trại thực nghiệm sản xuất hải sản – Vĩnh Hòa – Nha Trang. Luận văn tốt nghiệp đại học chuyên ngành NTTS, Đại học Nha Trang, 42 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiều kỹ thuật ương giống cá chim vây vàng (Trachinotus blochii
Tác giả: Trần Thị Hà
Năm: 2010
4. Dương Quốc Khanh (2010). Tìm hiểu kỹ thuật ương và nuôi thương phẩm cá chim vây vàng (Trachinotus blochii Lacepede,1801) tại Vũng Ngán – Nha Trang – Khánh Hòa. Luận văn tốt nghiệp đại học chuyên ngành NTTS, Đại học Nha Trang, 38 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu kỹ thuật ương và nuôi thương phẩm cá chim vây vàng (Trachinotus blochii
Tác giả: Dương Quốc Khanh
Năm: 2010
5. Nguyễn Địch Thanh (2005). Bài giảng kỹ thuật nuôi cá biển. Khoa Nuôi trồng Thủy sản – Trường Đại học Nha Trang (tài liệu lưu hành nội bộ),slide Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng kỹ thuật nuôi cá biển
Tác giả: Nguyễn Địch Thanh
Năm: 2005

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Hình thái ngoài cá chim vây vàng - ảnh hưởng của men vi sinh bổ sung vào thức ăn và số lần cho ăn và thời gian chiếu sáng trong ngày lên sinh trưởng, tỉ lệ sống của cá chim vây vàng (trachinotus blochii lacepede, 1801) giống
Hình 1.1 Hình thái ngoài cá chim vây vàng (Trang 12)
Hình 1.2: Bản đồ phân bố cá chim vây vàng trên thế giới. - ảnh hưởng của men vi sinh bổ sung vào thức ăn và số lần cho ăn và thời gian chiếu sáng trong ngày lên sinh trưởng, tỉ lệ sống của cá chim vây vàng (trachinotus blochii lacepede, 1801) giống
Hình 1.2 Bản đồ phân bố cá chim vây vàng trên thế giới (Trang 13)
Hình 1.3: Cá chim giai đoạn giống - ảnh hưởng của men vi sinh bổ sung vào thức ăn và số lần cho ăn và thời gian chiếu sáng trong ngày lên sinh trưởng, tỉ lệ sống của cá chim vây vàng (trachinotus blochii lacepede, 1801) giống
Hình 1.3 Cá chim giai đoạn giống (Trang 15)
2.2  Sơ đồ nội dung nghiên cứu - ảnh hưởng của men vi sinh bổ sung vào thức ăn và số lần cho ăn và thời gian chiếu sáng trong ngày lên sinh trưởng, tỉ lệ sống của cá chim vây vàng (trachinotus blochii lacepede, 1801) giống
2.2 Sơ đồ nội dung nghiên cứu (Trang 20)
Hình 2.5: Chế phẩm DIGES TÃO - ảnh hưởng của men vi sinh bổ sung vào thức ăn và số lần cho ăn và thời gian chiếu sáng trong ngày lên sinh trưởng, tỉ lệ sống của cá chim vây vàng (trachinotus blochii lacepede, 1801) giống
Hình 2.5 Chế phẩm DIGES TÃO (Trang 22)
Hình 2.6: Chế phẩm QM-BINDER - ảnh hưởng của men vi sinh bổ sung vào thức ăn và số lần cho ăn và thời gian chiếu sáng trong ngày lên sinh trưởng, tỉ lệ sống của cá chim vây vàng (trachinotus blochii lacepede, 1801) giống
Hình 2.6 Chế phẩm QM-BINDER (Trang 23)
Hình 2.7: Chế phẩm QM-PROBIOTIC  Công dụng: kích thích tiêu hóa - ảnh hưởng của men vi sinh bổ sung vào thức ăn và số lần cho ăn và thời gian chiếu sáng trong ngày lên sinh trưởng, tỉ lệ sống của cá chim vây vàng (trachinotus blochii lacepede, 1801) giống
Hình 2.7 Chế phẩm QM-PROBIOTIC Công dụng: kích thích tiêu hóa (Trang 23)
Bảng 2.1: Thời điểm cho ăn với các chế độ chiếu sáng và số lần cho ăn khác nhau - ảnh hưởng của men vi sinh bổ sung vào thức ăn và số lần cho ăn và thời gian chiếu sáng trong ngày lên sinh trưởng, tỉ lệ sống của cá chim vây vàng (trachinotus blochii lacepede, 1801) giống
Bảng 2.1 Thời điểm cho ăn với các chế độ chiếu sáng và số lần cho ăn khác nhau (Trang 27)
Hình 3.1: Sinh trưởng chiều dài của cá chim vây vàng giống theo thời gian nuôi  được cho ăn bằng thức ăn có bổ sung thêm các loại men vi sinh - ảnh hưởng của men vi sinh bổ sung vào thức ăn và số lần cho ăn và thời gian chiếu sáng trong ngày lên sinh trưởng, tỉ lệ sống của cá chim vây vàng (trachinotus blochii lacepede, 1801) giống
Hình 3.1 Sinh trưởng chiều dài của cá chim vây vàng giống theo thời gian nuôi được cho ăn bằng thức ăn có bổ sung thêm các loại men vi sinh (Trang 30)
Hình 3.2: Sinh trưởng khối lượng của cá chim vây vàng giống theo thời gian nuôi  được cho ăn bằng thức ăn có bổ sung thêm các loại men vi sinh - ảnh hưởng của men vi sinh bổ sung vào thức ăn và số lần cho ăn và thời gian chiếu sáng trong ngày lên sinh trưởng, tỉ lệ sống của cá chim vây vàng (trachinotus blochii lacepede, 1801) giống
Hình 3.2 Sinh trưởng khối lượng của cá chim vây vàng giống theo thời gian nuôi được cho ăn bằng thức ăn có bổ sung thêm các loại men vi sinh (Trang 31)
Hình 3.3: Hệ số phân đàn về chiều dài (CV SL ) của cá chim vây vàng giống theo thời  gian nuôi được cho ăn bằng thức ăn có bổ sung thêm các loại men vi sinh - ảnh hưởng của men vi sinh bổ sung vào thức ăn và số lần cho ăn và thời gian chiếu sáng trong ngày lên sinh trưởng, tỉ lệ sống của cá chim vây vàng (trachinotus blochii lacepede, 1801) giống
Hình 3.3 Hệ số phân đàn về chiều dài (CV SL ) của cá chim vây vàng giống theo thời gian nuôi được cho ăn bằng thức ăn có bổ sung thêm các loại men vi sinh (Trang 31)
Bảng 3.1: Sinh trưởng của cá chim vây vàng giai đoạn từ 3,0 đến 5,0 cm ở  các nghiệm thức men vi sinh bổ sung khác nhau - ảnh hưởng của men vi sinh bổ sung vào thức ăn và số lần cho ăn và thời gian chiếu sáng trong ngày lên sinh trưởng, tỉ lệ sống của cá chim vây vàng (trachinotus blochii lacepede, 1801) giống
Bảng 3.1 Sinh trưởng của cá chim vây vàng giai đoạn từ 3,0 đến 5,0 cm ở các nghiệm thức men vi sinh bổ sung khác nhau (Trang 32)
Hình 3.4: Hệ số tiêu tốn thức ăn (FCR) của cá khi kết thúc thí nghiệm. - ảnh hưởng của men vi sinh bổ sung vào thức ăn và số lần cho ăn và thời gian chiếu sáng trong ngày lên sinh trưởng, tỉ lệ sống của cá chim vây vàng (trachinotus blochii lacepede, 1801) giống
Hình 3.4 Hệ số tiêu tốn thức ăn (FCR) của cá khi kết thúc thí nghiệm (Trang 33)
Hình 3.5: Sinh trưởng chiều dài của cá chim vây vàng giống theo thời gian nuôi với  số lần cho ăn khác nhau ở điều kiện chiếu sáng 12 giờ (12L:12D) và 18 giờ - ảnh hưởng của men vi sinh bổ sung vào thức ăn và số lần cho ăn và thời gian chiếu sáng trong ngày lên sinh trưởng, tỉ lệ sống của cá chim vây vàng (trachinotus blochii lacepede, 1801) giống
Hình 3.5 Sinh trưởng chiều dài của cá chim vây vàng giống theo thời gian nuôi với số lần cho ăn khác nhau ở điều kiện chiếu sáng 12 giờ (12L:12D) và 18 giờ (Trang 35)
Hình 3.6: Sinh trưởng khối lượng của cá chim vây vàng giống theo thời gian nuôi  với số lần cho ăn khác nhau ở điều kiện chiếu sáng 12 giờ (12L:12D) và 18 giờ - ảnh hưởng của men vi sinh bổ sung vào thức ăn và số lần cho ăn và thời gian chiếu sáng trong ngày lên sinh trưởng, tỉ lệ sống của cá chim vây vàng (trachinotus blochii lacepede, 1801) giống
Hình 3.6 Sinh trưởng khối lượng của cá chim vây vàng giống theo thời gian nuôi với số lần cho ăn khác nhau ở điều kiện chiếu sáng 12 giờ (12L:12D) và 18 giờ (Trang 35)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w