Và hiện tượng buồn cười này được kể thành truyện cười nhằm mụcđích tạo ra tiếng cười cái cười.“Hiện tượng buồn cười là hiện tượng về bề ngoài có vẻ hợp tự nhiên, hợp lẽ thường, nhưng thự
Trang 1PHẦN NỘI DUNG
I - NHỮNG ĐẶC TRƯNG CỦA THỂ LOẠI TRUYỆN CƯỜI
2 Những đặc trưng của thể loại truyện cười 5
2.4.3 Biện pháp nghệ thuật gây cười 12
II - PHÂN TÍCH TRUYỆN CƯỜI TRONG TRƯỜNG PHỔ THÔNG
2
3
Hoạt động phân tích văn bản
Áp dụng sáng kiến vào thực tiễn
1417
PHẦN KẾT LUẬN 22
Trang 2
Truyện cười là thể loại tự sự dân gian đóng vai trò quan trọngtrong đời sống tinh thần của nhân dân lao động Trong bản tham luậnđọc tại Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ ba, nhà văn Nguyễn Tuânnói “ Tổ tiên ta thật là những người nghệ sĩ tạo hình cho tiếng cườiViệt Nam, tạo nên cho tiếng cười ta bao nhiêu là bóng dáng và có cảcái gì như là một biên chế đầy đủ thang bậc về tiếng cười” (Cần cười.
“ Những nhiệm vụ mới của văn học” Nxb Văn học, Hà Nội 1963)
Trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam, truyện cười là thểloại mang những nét đặc trưng độc đáo Truyện thường rất ngắn Dàicũng chỉ từ 15 đến 20 câu, ngắn thì 5, 7 câu, trung bình khoảng trêndưới 10 câu Tuy rất ngắn nhưng mỗi chuyện đều có mở đầu, có diễnbiến, có kết thúc Nhân vật trong truyện cười phần lớn là nhân vật độcđáo, có nét khó quên Toàn bộ các yếu tố thi pháp của truyện cười nhưkết cấu, nhân vật, ngôn ngữ kể chuyện, đều phục vụ mục đích gâycười Bên cạnh chức năng gây cười, truyện cười còn mang chức nănggiáo dục: nó giúp con người mài sắc tư duy suy lí, nó làm giàu óc phêphán, bồi dưỡng tinh thần lạc quan, giúp trau dồi khả năng ngônngữ… Bởi vậy, đọc truyện cười để cười không khó Nhưng để có thểhiểu được hết cái thâm thúy của tác giả dân gian thực không dễ
Vì những lí do trên, tìm hiểu truyện cười là công việc mang ýnghĩa khoa học Nó không chỉ giúp ta hiểu hơn về đời sống tâm hồn,những nghĩ suy của ông cha thời xưa mà còn giúp ta cảm được tàinăng nghệ thuật độc đáo, tư duy sắc sảo của người nghệ sĩ dân giannhờ đó sống tốt hơn, sống lạc quan hơn
1.2 Ý nghĩa thực tiễn
Trang 3Hiện nay, trong chương trình sách giáo khoa (SGK) THCS vàTHPT, truyện cười xuất hiện ở cả hai cấp học nhưng với số lượng văn
bản ít SGK Ngữ văn 6 có hai truyện: Treo biển và Lợn cưới, áo mới SGK lớp 10 cũng chỉ có hai truyện là Tam đại con gà và Nhưng nó
phải bằng hai mày Ở mỗi khối hai văn bản truyện cười chỉ được học
trong 1 tiết, như vậy tổng số tiết học dành cho truyện cười trongtrường phổ thông là 2 tiết
Số lượng văn bản và thời lượng như vậy dễ khiến người dạy vàngười học cho rằng đây không phải là kiến thức trọng tâm nên xemnhẹ việc dạy học Điều này dẫn đến tình trạng học qua quýt, cưỡi ngựaxem hoa hoặc thiếu giờ, cháy giáo án
Không ít giáo viên có ý thức nghiêm túc trong dạy - học truyệncười song thực tế chất lượng các giờ dạy truyện cười chưa cao dokhuynh hướng phân tích đơn giản, không xuất phát từ những đặctrưng thi pháp của truyện cười dẫn đến kết quả là học sinh không hiểuhết cái hay, cái đẹp của truyện cười và không yêu thích truyện cười
Vì những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài “Truyện cười và việc
phân tích truyện cười trong trường phổ thông” nhằm góp một tiếng
nói giải quyết khó khăn cho những người đứng lớp khi dạy - họctruyện cười Bài viết chắc chắn không tránh khỏi những khiếmkhuyết Rất mong sẽ nhận được những ý kiến góp ý chân thành củacác thầy cô giáo !
2- Mục đích nghiên cứu
Qua việc tìm hiểu các đặc trưng của thể loại truyện cười,
chúng tôi đề xuất một phương án dạy - học có hiệu quả các văn bảntruyện cười trong SGK Ngữ văn lớp 6, lớp 10
3- Đối tượng nghiên cứu:
- Những đặc trưng của thể loại truyện cười
- Phương pháp dạy - học các văn bản truyện cười trong SGKNgữ văn lớp 6, lớp 10 nhìn từ góc độ thi pháp
4- Phương pháp nghiên cứu
Trong chuyên đề này, người viết trình bày vấn đề trên cơ sởtổng hợp các phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp so sánh, phân tích
- Phương pháp tổng hợp
- Phương pháp thực nghiệm giảng dạy
Trang 4Và hiện tượng buồn cười này được kể thành truyện cười nhằm mụcđích tạo ra tiếng cười (cái cười).
“Hiện tượng buồn cười là hiện tượng về bề ngoài có vẻ hợp
tự nhiên, hợp lẽ thường, nhưng thực chất thì trái tự nhiên, trái lẽ thường” (Đỗ Bình Trị- Những đặc điểm thi pháp của các thể loại văn
học dân gian- Nxb Giáo dục- 1999) Tiếng cười hài hước có cơ sở ởmột loại mâu thuẫn đặc biệt, một loại mâu thuẫn trong đó hai mặt tráingược không mặt nào muốn nhường mặt nào Người ta bật cười vìchợt nhận thấy mình suýt nữa bị đánh lừa bởi hình thức của hiệntượng Người ta bật cười vì chợt nhận thấy mình khám phá được bảnchất của hiện tượng Chừng nào ta chưa tự mình phát hiện ra thực chấttrái tự nhiên, trái lẽ thường của hiện tượng thì ta chưa thể cười được
Như vậy, “cái cười là hành động cười nảy sinh khi ta phát
hiện ra thực chất trái tự nhiên, trái lẽ thường dưới vẻ bề ngoài có vẻ hợp tự nhiên, hợp lẽ thường, khiến ta thoạt tiên tưởng lầm, của một hiện tượng.” ( Đỗ Bình Trị- Những đặc điểm thi pháp của các thể loại
văn học dân gian- Nxb Giáo dục- 1999 )
Cái cười vì thế là sản phẩm của hoạt động trí óc, mà cụ thể là ócsuy lý Chính tư duy suy lý, tư duy lôgíc phát hiện ra thực chất trái tựnhiên, trái lẽ thường của hiện tượng mà bề ngoài của nó có vẻ hợp tựnhiên, hợp lẽ thường Sự phát hiện ấy, do đó tự nó đã bao hàm ý nghĩaphê phán Đó trước hết là sự phê phán của lý tính, là phản ứng của lýtrí trước những hiện tượng buồn cười muốn “qua mặt” nó Vì ý nghĩanày mà cái cười ở đây được coi là người trung gian lớn trong việcphân biệt sự thật và điều dối trá Tiếng cười hài hước thể hiện sự thắnglợi của trí tuệ Đồng thời sự phát hiện ấy cũng đem lại cho người ta sựvui vẻ, sự sảng khoái trước những phát hiện thú vị của một lý trí tỉnh
Trang 5táo Tiếng cười trong truyện cười dân gian vì thế vừa mang bản chấtnhận thức - phê phán vừa có tác dụng mua vui, giải trí.
Trong truyện dân gian của người Việt, khu vực được gọi làtruyện cười khá rộng lớn và đa dạng Nó tiếp giáp với nhiều loạitruyện truyền miệng khác, như truyện ngụ ngôn, truyện cổ tích ( đặcbiệt là truyện cổ tích sinh hoạt ) Khoảng bốn thập kỉ nay, danh từtruyện cười được giới nghiên cứu nước ta dùng làm thuật ngữ chuyênmôn chỉ hình thức truyện kể dân gian có tác dụng gây cười và lấytiếng cười làm phương tiện chủ yếu để khen, chê và mua vui, giải trí
Bởi vậy, Truyện cười là truyện kể về hiện tượng buồn cười, thể hiện
ở hành vi của nhân vật ( bao gồm cả hành động nói năng ), nhằm gây cười ( Đỗ Bình Trị- Những đặc điểm thi pháp của các thể loại
văn học dân gian- Nxb Giáo dục- 1999 )
2 Những đặc trưng của thể loại truyện cười
2.1 Đề tài của truyện cười:
Trong truyện cười, đề tài của cái cười rất rộng Người ta tìm cáicười ở mọi lĩnh vực, mọi ngóc ngách của cuộc sống Nhưng nhìnchung, truyện cười dân gian Việt Nam thường xoay quanh những đềtài sau:
- Những thói xấu thuộc về bản chất, bộc lộ chủ yếu trong nhữnghành vi buồn cười của các nhân vật tiêu biểu của xã hội phong kiến:vua chúa, quan lại, hào lí, địa chủ, phú ông và các loại “thầy bà”, thậmchí cả thánh thần
- Những thói xấu “thông thường” ở những người bình dân bộc
lộ ở những hành vi buồn cười trong sinh hoạt của họ
- Những hiện tượng buồn cười do hiểu lầm, do lầm lỡ, hớ hênh,
… mà thường tình, ai cũng có lúc mắc phải hoặc do những nhượcđiểm, những khuyết tật không gây tổn hại cho ai
2.2 Chức năng của truyện cười
Xét về chức năng thể loại thì truyện cười có hai chức năng Một là chức năng giải trí, gây cười Đây là tiếng cười hài hước nhằm
mục đích mua vui, nó không tố cáo một cái gì lạc hậu, xấu xa, phảnđộng Những truyện cười này đơn giản để giải trí, chẳng khác gìnhững câu ca dao:
- Chồng còng mà lấy vợ còng, Nằm phản thì chật, nằm nong thì vừa.
- Chồng què lấy vợ khiễng chân, Nuôi được đứa ở đứt gân cũng què.
Trang 6Những truyện cười thực hiện chức năng giải trí, gây cười nhưvậy được gọi là truyện khôi hài Truyện khôi hài là một thứ thể dục trítuệ Người ta cười cho vui cửa vui nhà, vui anh, vui em Ở đó không
có nhiều triết lý Nó vui tươi, nhẹ nhàng, có khả năng giáo dục nhữngtình cảm trong sáng, tốt lành, bồi dưỡng tinh thần sảng khoái, manglại cho con người niềm lạc quan, yêu đời
Tuy nhiên chức năng chủ yếu của truyện cười là chức năng
nhận thức, đấu tranh xã hội Trong kho tàng truyện cười dân gian,
những truyện mang ý nghĩa đấu tranh xã hội có số lượng lớn hơnnhững truyện cười có mục đích mua vui thuần tuý Trong nhữngtruyện ấy, tác giả dân gian không những làm chúng ta cười mà còn tácđộng vào nhận thức, vào tình cảm của chúng ta, làm cho ta có thể vui,
có thể buồn, có thể phẫn nộ, căm ghét, khinh bỉ, đau xót Truyện phêphán, đả kích mọi thói hư, tật xấu trong xã hội Bộ phận truyện cườinày được gọi là truyện trào phúng
Trong truyện trào phúng có hai loại nhỏ Một là truyện tràophúng bạn, phê phán những thói hư tật xấu trong nội bộ nhân dân và
có ý nghĩa giáo dục Hai là những truyện cười chễ giễu, đả kích mạnh
mẽ giai cấp phong kiến, kẻ thù của nhân dân lao động, được gọi làtrào phúng thù
2.3 Nội dung của truyện cười
Về nội dung, kho tàng truyện cười của ta có nội dung rất phong
phú mang những ý nghĩa nhân sinh sâu sắc
Truyện cười nào cũng có tác dụng mua vui giải trí và ít nhiềuđều đáp ứng nhu cầu tiêu khiển của nhân dân Tiếng cười ở bộ phậntruyện khôi hài thường kể về những nhân vật không có tên riêng, cũng
ít khi có thành phần, địa vị xã hội cụ thể, mà chỉ được định danh bằngnhững khuyết tật, nhược điểm hay tính cách đáng cười ( như anh sợ
vợ, anh mê ngủ, anh cận thị, anh chàng tham ăn, chàng ngốc làm theolời vợ dặn ) Các nhân vật đều có nhược điểm, nhưng đó là nhữngnhược điểm thông thường, phổ biến có thể thông cảm và châm chước
dễ dàng
Bộ phận truyện cười trào phúng bạn là tiếng cười phê bình giáodục hướng vào những thói hư tật xấu trong sinh hoạt thường ngày củanhân dân (như lười nhác, tham lam, ăn vụng, khoe khoang, khoác lác,
hà tiện, hèn nhát, sợ vợ, chanh chua, ) Xung quanh mỗi thói hư, tậtxấu thường xuất hiện nhiều truyện cười khác nhau Tuy không gay gắt
và quyết liệt như tiếng cười trào phúng dành cho giai cấp thống trịnhưng xét về tác dụng và sức sống thì bộ phận truyện cười mang tính
Trang 7phê bình nội bộ này còn quan trọng và trường tồn hơn cả bộ phậntruyện cười đấu tranh giai cấp.
Tiếng cười đả kích, châm biếm ở bộ phận truyện cười tràophúng thù là tiếng cười đả kích, châm biếm đối với kẻ thù Nó có nộidung đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp rất rõ rệt Đối tượng củatiếng cười đả kích trong truyện cười dân gian Việt Nam thời phongkiến khá đông, có thể quy vào bốn loại chính: Những tên nhà giàu(phú ông, trưởng giả, phú thương) ở nông thôn và thành thị (chủ yếu
là ở nông thôn) ; Bọn hào lí, quan lại ; Các loại thầy trong xã hộiphong kiến (thầy đồ, thầy bói, thầy địa lí, thầy cúng, thầy sư ) ; Một
số nhân vật thần thánh (ông Công, Thiên Lôi, Diêm Vương, NgọcHoàng )
Trong công việc sáng tác cũng như trong tiếp nhận và nghiêncứu truyện cười, sự phân biệt tiếng cười hài hước và tiếng cười châmbiếm là một vấn đề có ý nghĩa nguyên tắc Tuy nhiên, trên thực tế,ranh giới giữa cái cười hài hước và cái cười châm biếm không phải lúcnào cũng rõ ràng
2.4 Thi pháp truyện cười
Đã là truyện cười dân gian thì phải làm thế nào gây được tiếngcười giòn giã nhất Nghệ thuật của truyện cười dân gian trước hết lànghệ thuật gây cười
2.4.1 Về kết cấu
Mấu chốt của nghệ thuật gây cười là ở chỗ phải làm sao cho cáiđáng cười tự nó bộc lộ ra một cách cụ thể, sinh động, nực cười và bấtngờ nhất Truyện cười không tự đặt ra cho mình nhiệm vụ kể lại sốphận, cuộc đời của nhân vật như trong truyện cổ tích Nó chỉ là một látcắt ngang trong cuộc đời của nhân vật Khi tiếng cười nổ ra là lúcchuyện kết thúc Vì thế truyện cười dân gian thường được cấu tạo hếtsức chặt chẽ và giàu kịch tính Ta thấy nó có dáng dấp như một mànhài kịch nhỏ gồm ba phần:
- Giới thiệu màn kịch có mâu thuẫn tiềm tàng
- Mâu thuẫn tiềm tàng phát triển tới đỉnh điểm
- Giải quyết mâu thuẫn
2.4.2 Về nhân vật
Theo tác giả Đỗ Bình Trị, trong truyện cười, nhân vật có hành
vi buồn cười (nhân vật gây cười) cũng là đối tượng của cái cười (nhânvật bị cười) Tuy nhiên cũng có truyện cười, chủ yếu là truyện châmbiếm, trong đó nhân vật gây cười lại không phải là đối tượng thực sựcủa cái cười Trong trường hợp này, nhân vật trực tiếp đóng vai trò
Trang 8chính yếu trong diễn biến câu chuyện nhưng chỉ là nhân vật phụ, cònnhân vật không trực tiếp gây ra hành vi buồn cười tuy chỉ đóng vai tròthứ yếu trong diễn biến câu chuyện nhưng lại là nhân vật chính, vì nó
là đối tượng thực sự của cái cười Tác giả nói rõ thêm, ở đây nhân vậtphụ là đối tượng của cái cười hài hước, còn nhân vật chính là đốitượng của cái cười châm biếm Đây là trường hợp trong truyện có cảhai loại nhân vật: nhân vật- đối tượng của cái cười hài hước (nhân vậtphụ) và nhân vật- đối tượng của cái cười châm biếm (nhân vật chính),trong đó, nhân vật - đối tượng của cái cười hài hước có chức năng làm
lộ ra cái cười tiềm ẩn nơi hành vi của nhân vật chính, biến nó thànhnhân vật - đối tượng của cái cười châm biếm
* Nhân vật ( chính ) của truyện cười thường mang những đặc điểm sau:
- Nhân vật trong truyện cười cũng giống nhân vật trong truyện
ngụ ngôn, chỉ xuất hiện trong một tình huống nhất định, với một
hành vi nhất định ( truyện kết thúc khi hành vi gây cười của nhân vật
đã biểu lộ trọn vẹn , không ai quan tâm đến phần đời trước hay sau
của nhân vật ấy ) Ví dụ, truyện Ba quan thôi Truyện kể về hành vi
của một gã hà tiện Hành vi ấy được đặt trong một hoàn cảnh đặc biệt:
gã hà tiện sắp chết đuối Trong hoàn cảnh ngàn cân treo sợi tóc ấy, gã
hà tiện còn cố ngoi lên mặt nước, nói một câu để hạ cái mức tiềnthưởng từ năm quan xuống ba quan cho ai vớt được mình, điều đó làmtiếng cười phê phán, chễ giễu bật lên Anh ta đang mặc cả trước mạngsống của chính mình Chết đến nơi mà còn tính toán hơn thiệt, conngười này không còn là con người nữa khi đã coi của cải quý hơn sựsống của mình Sự hà tiện ở đây đã lên đến đỉnh điểm nhờ thủ phápnghệ thuật phóng đại của tác giả dân gian
Truyện cười là như vậy, mỗi câu chuyện là một lát cắt ngang
cuộc đời của nhân vật bởi chức năng thể loại của truyện cười là nhằm gây cười, khi tiếng cười mua vui, giải trí hay tiếng cười trào
phúng cất lên là lúc truyện cười kết thúc
Đặc điểm này hoàn toàn khác so với nhân vật trong truyện cổ
tích Nhân vật trong mỗi truyện cổ tích có cả một cuộc đời, một số
phận với những biến cố thăng trầm vì chức năng truyện cổ tích là
phản ánh số phận của những con người bị đè nén, áp bức trong xã hội
có giai cấp Truyện Tấm Cám là một truyện cổ tích dài với diễn biếncốt truyện phức tạp kể về cuộc đời khổ đau của cô Tấm và một sự đổiđời trong mơ ước
- Nhân vật của truyện cổ tích thực hiện những hành động phi
thường trong những hoàn cảnh, những tình huống khác thường ( câu
Trang 9chuyện diễn ra trong thế giới cổ tích, thế giới “ngày xưa”, nhân vật cóthể ở hạ giới, lên thiên đình hay xuống thuỷ cung, có thể lướt đi trênnhững chiếc thảm biết bay hay đôi giày đi vạn dặm, có thể thiếp đitrong giấc ngủ dài hàng thế kỉ hay xây cả một toà lâu đài chỉ sau cómột đêm ) ; Nhân vật trong truyện cười chỉ biểu lộ một hành vi ứng
xử trái lẽ thường trong một tình huống bình thường của cuộc sống
thường nhật Đó là hành vi kì quặc của một người chồng tham ăn khi
bị vợ bắt gặp ăn vụng ngô rang, là lời vụng chèo khéo chống của anhchàng sợ vợ, là lời nói chướng tai của anh chàng khoác lác
- Nhân vật của truyện cổ tích là đối tượng của sự lý tưởng hoá,
sự ca ngợi Tấm, anh Khoai, Thạch Sanh, Sọ Dừa là những người
dân lao động chăm chỉ, hiền lành, thật thà, thậm chí thật thà đến mứcngốc nghếch Họ là đại diện chân chính nhất của cái đẹp, cái thiện, làđứa con tinh thần của nhân dân lao động Tác giả dân gian ngợi ca họ
và gửi gắm ở họ bao mơ ước ; Nhân vật của truyện cười lại là đối
tượng của sự cười cợt, phê phán Điều này thực rất hiển nhiên bởi
chức năng thể loại của truyện cười là nhằm mục đích mua vui, giải tríhay trào phúng, phê phán vì thế tác giả dân gian tập trung khai thácnhững lời nói, hành động trái lẽ thường của nhân vật để tiếng cười giảitrí, phê phán được cất lên
* Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện cười:
a Nhân vật được đặt vào trong tình huống gây cười:
Nhân vật trong cả truyện hài hước và nhân vật của truyện châmbiếm đều được đặt vào cùng một loại hoàn cảnh - đó là hoàn cảnh
sinh hoạt đời thường, nhưng là hoàn cảnh đáng cười Đó là loại
hoàn cảnh chứa mâu thuẫn, là môi trường để nuôi dưỡng và làm bậtlên tiếng cười
Ở nhiều truyện cười, hoàn cảnh đáng cười được giới thiệu vắntắt ngay ở đầu truyện Đây là hoàn cảnh ẩn chứa mâu thuẫn, là nguyênnhân dẫn nhân vật đến với tình huống đáng cười trong truyện Truyện
Tam đại con gà là một ví dụ Có anh học trò, học thì dốt, nhưng lạ gì
cái trò “dốt hay nói chữ” nên đi đến đâu anh ta cũng khoe khoang là mình nào chữ tốt nào văn hay Trong vùng, có người tưởng anh hay chữ thật, mới đón về dạy trẻ Nhân vật chính trong truyện này được
đặt vào hoàn cảnh đáng cười: anh học trò dốt nhưng lại hay khoekhoang là văn hay, chữ tốt, vì thế được người đón về dạy trẻ Hoàncảnh này ẩn chứa một mâu thuẫn: học trò dốt lại trở thành thầy đồ.Nghịch lí này dẫn người đọc, người nghe tới một suy nghĩ rằng tất yếu
sẽ có trò cười thú vị nếu để tâm theo dõi việc dạy học của “ông thầy”này
Trang 10Song, thường thì trong truyện cười hoàn cảnh đáng cười chính
là tình huống đáng cười trong đó diễn ra toàn bộ câu chuyện Trong
truyện cười, tình huống gây cười là tình huống quan trọng nhất để tạo
ra tiếng cười Tình huống gây cười là tình huống cái đáng cười phải
được đặt trong các dạng cụ thể, sinh động và đáng cười nhất để làm tiếng cười bật ra Tình huống gây cười càng căng thẳng, khả năng gây
cười càng lớn Truyện Cháy ! là một truyện như thế Một người sắp đi
chơi xa dặn con rằng ở nhà có ai đến chơi thì nói rằng bố đi vắng lâumới về Nhưng anh ta sợ con mải chơi quên mất lời dặn, lại cẩn thậnlấy bút viết câu trả lời khách vào một mảnh giấy rồi đưa con mà bảorằng hễ có ai hỏi thì cứ đưa giấy ra Chú bé bỏ giấy vào túi, đợi suốt
cả ngày không có ai đến chơi Tối đến, bé ta mới tò mò giở mảnh giấy
ra đọc trước đèn, chẳng may thế nào làm cháy mất Hôm sau, có ngườitới chơi hỏi rằng : “ Bố cháu có nhà không ?” Bé ta ngơ ngác hồi lâu,
sờ vào túi không thấy mảnh giấy liền đáp: “ Mất rồi” Khách giậtmình, vội hỏi: “ Mất bao giờ ?” Bé ta khi đó sực nhớ ra , trả lời: “ Tốihôm qua” Khách hỏi dồn : “ Tại sao mà mất ?” Bé ta đáp lại : “ Cháy
!” Truyện đặt nhân vật vào trong tình huống trong đó mỗi người đềusuy nghĩ và hành động hợp với logic Nhưng lời nói của hai ngườighép lại với nhau trong tình trạng “ ông nói gà, bà nói vịt” Chính điềunày đã gây ra tiếng cười hài hước
Truyện cổ tích sinh hoạt có điểm tương đồng với truyện cười lànhân vật cùng được đặt vào trong hoàn cảnh sinh hoạt đời thường.Nhưng ở truyện cổ tích sinh hoạt, đó là cuộc sống đời thường với bộn
bề những lo toan, với trăm ngàn vất vả Hoàn cảnh sinh hoạt ấy rấtquen thuộc, bình dị như chính cuộc sống vậy, vì nhân vật trong truyện
là nhân vật của đời thường và qua những nhân vật ấy tác giả dân giannhằm khắc hoạ bức tranh chân thực về cuộc sống khổ đau của conngười Còn ở truyện cười, tác giả dân gian chỉ khai thác khía cạnhđáng cười của cuộc sống để cất lên tiếng cười giải trí hay đả kích nên
nhất thiết nhân vật phải được đặt vào trong tình huống đáng cười.
Đây là điểm gặp gỡ của truyện cười và một số truyện ngụ ngôn ( ví dụ
truyện ngụ ngôn Thầy bói xem voi )
b Lời nói, cử chỉ và hành động đáng cười:
Nhân vật trong truyện ngụ ngôn không được đặc tả lời nói, cửchỉ, hành động như nhân vật trong truyện cổ tích, truyện cười Trongtruyện cổ tích, lời nói, hành động của nhân vật có thể bình thườnghoặc phi thường nhưng không buồn cười (trừ nhân vật chàng Ngốc)
Truyện cười nhằm mục đích gây cười nên chú trọng miêu tả, dù rất vắn tắt, lời nói, cử chỉ, hành động đáng cười của nhân vật.
Trang 11Lời nói, cử chỉ, hành động của nhân vật ở điểm mở nút luôn cótính chất kỳ quặc, trái tự nhiên nhưng lại được cắt nghĩa bằng một lý
lẽ có vẻ phù hợp
Một số truyện cười đã lấy một lời nói không hợp lẽ thường để
gây cười Ví dụ truyện Đánh chết nửa người Có người bảo người ăn
mày: “Tao cho mày một nghìn quan mà tao đánh chết mày thì mày cóbằng lòng không ?” Người ăn mày trả lời, mặc cả: “ Ông cứ cho tôinăm trăm thôi, rồi tôi bằng lòng để ông đánh chết nửa người.” Câu nóicủa tên ăn mày bề ngoài có vẻ có lí lắm vì trả lời theo điều kiện người
ta nêu lên Nhưng xét kĩ thì thấy vô lí đến nực cười vì tiền có thể chiađôi một nghìn thành năm trăm còn như sự chết thì không thể chia đôiđược Lời nói đó vô lí ở chỗ đã gán ghép đặc tính phân chia được chomột sự việc không thể phân chia được Và vì thế nó máy móc, tức
cười Những truyện như Sao văn tế; Sang cả mình con; Giấu đầu hở
đuôi; Lợn cưới, áo mới; Thợ may là những truyện chủ yếu đã dùng
lời nói đáng cười
Lại có những truyện lấy một cử chỉ, một tư thế hay một hành
động trái lẽ thường để gây cười.Truyện Kén rể lười là một ví dụ Một
ông già tính vốn lười, muốn kén rể lười Nhiều chàng trai đã đến xinlàm rể Nhưng qua sự thử thách của ông già thì mãi chẳng có ai lười
“đủ mức” để xứng đáng là con rể ông Một hôm, có một người đến xinlàm rể Ông già lấy làm lạ vì thấy anh ta quay lưng vào nhà đi thụt lùi,bèn hỏi tại sao lại đi như vậy Anh ta nói : “Tôi đi như vậy để nếu cụkhông cho tôi làm rể thì lúc ra về đỡ phải quay người lại, mệt sứclắm !” Ông già mừng quá nói rằng: “Lười đến như vậy quả xứng đáng
là rể ta” Hành động đi giật lùi của nhân vật quá tức cười, kì quặc, trái
tự nhiên.Vì thế tiếng cười phê phán thói lười biếng được bật lên thật
giòn giã Những truyện như Con ruồi và quan huyện, Đẻ ra sư, Thày
đồ liếm đĩa, Được một bữa thả cửa, To hơn cái nồi này đều thuộc
loại truyện trong đó cái đáng cười chủ yếu là ở cử chỉ máy móc tráivới tự nhiên
c Tính cách đáng cười:
Truyện cười không chỉ nêu lên những hoàn cảnh, những lời nói,những cử chỉ của nhân vật mà có khi còn lấy một tính cách để gâycười Đó là những tính xấu của con người thường bộc lộ trong cuộcsống được tác giả dân gian phát hiện ra và thể hiện dưới con mắt hàihước, hóm hỉnh nhằm mục đích phê phán.Tất nhiên những tính cáchđáng cười này cũng được thể hiện cụ thể bằng những lời nói và hànhđộng máy móc, trái tự nhiên có khả năng gây cười Ví dụ như các
truyện Anh keo kiệt, Thà chết còn hơn, Anh sợ vợ, Giàn lí đổ, Mua