1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

SKKN một số ý KIẾN đề XUẤT KHI dạy TIẾT TRẢ bài TẬPLÀM văn TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ văn TRUNG học cơ sở

17 553 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 148,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẶT VẤN ĐỀ Chương trình Ngữ văn trong trường trung học cơ sở bao gồm phần: Văn bản, Tiếng việt và Tập làm văn, trong đó bài viết Tập làm văn là kết quả, là sản phẩm của học sinh thông q

Trang 1

MỘT SỐ Ý KIẾN ĐỀ XUẤT KHI DẠY TIẾT: "TRẢ BÀI TẬP LÀM VĂN" TRONG CHƯƠNG

TRÌNH NGỮ VĂN TRUNG HỌC CƠ SỞ

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Chương trình Ngữ văn trong trường trung học cơ sở bao gồm phần: Văn bản, Tiếng việt và Tập làm văn, trong đó bài viết Tập làm văn là kết quả, là sản phẩm của học sinh thông qua một quá trình định hướng dẫn dắt của người thầy để học sinh tự mình hiểu về các vấn đề văn học, xã hội, về tiếng việt và khả năng trình bày, diễn đạt làm bài viết Tập làm văn của học sinh

Vì vậy người dạy và người học cần quan tâm nhất đến kết quả bài viết bài Tập làm văn của học sinh Trong những năm gần đây, việc học văn, dạy văn còn nhiều vấn đề gây tranh cãi Đặc biệt là việc viết văn của học sinh: từ cách dùng từ, dùng hình ảnh, diễn đạt kém hiệu quả, bài viết tập làm văn còn mắc khá nhiều lỗi như: sai lỗi chính tả, dùng từ sai nghĩa, sai lỗi logíc, sai cách diễn đạt, xa đề, lạc đề

…Là người làm công tác quản lý, bản thân tôi vẫn trực tiếp giảng dạy môn chuyên ngành đào tạo của mình, tham gia dạy bồi dưỡng học sinh giỏi cấp huyện, cấp Tỉnh Qua thực tế, tôi nhận thấy: "Trả bài" là một tiết dạy khó, nhưng nếu chú trọng tiết dạy này, người dạy sẽ chỉ ra cho học sinh những lỗi sai, tác hại của lỗi sai

và quan trọng là hướng dẫn cho các em cách sửa lỗi, cách giải quyết, cách trau dồi thêm kinh nghiệm viết văn bản từ đúng đến hay gây hứng thú học văn, viết văn cho các em Ngược lại, nếu người dạy không quan tâm đến tiết dạy trả bài , trả bài qua loa chiếu lệ thì dù có cố gắng đến mấy ở những tiết dạy tìm hiểu văn bản và tiếng việt cũng không đem lại hiệu quả cho phần học sinh viết bài Tập làm văn Với mục đích góp phần đổi mới phương pháp dạy học hiện nay, cách dạy tiết

"Trả bài" để học sinh nhận diện lỗi sai khi viết bài Tập làm văn của mình cũng là một vấn đề cần thiết cần được quan tâm đúng mức Người dạy tránh lối dạy thụ động, xơ cứng trong tiết "Trả bài"

Trang 2

Qua kinh nghiệm của bản thân và xuất phát từ thực tế giảng dạy, tôi xin đưa

ra một số ý kiến đề xuất khi dạy tiết "Trả bài" đó là: Hướng dẫn học sinh gọi đúng lỗi và các cách chữa lỗi sai trong bài viết tập làm văn.

Nội dung của sáng kiến kinh nghiệm này là trong khi chấm bài GV gạch chân hoặc đánh dấu chỗ sai mà không gọi tên lỗi sai của học sinh, để học sinh tự phân tích, nhận diện ra lỗi sai, tập hợp các lỗi sai, người dạy định hướng cho học sinh tìm lỗi sai và biết cách chữa lỗi sai Bản thân tôi đã thực hiện trong những năm qua khi dạy tiết “Trả bài” và đã thu được hiệu quả đáng kể Là một huyện miền núi vùng cao còn gặp nhiều khó khăn khi dạy - học văn nhưng tôi cũng mạnh dạn đề xuất một số ý kiến xung quanh cách dạy tiết “Trả bài” Mong nhận được sự đóng góp của những đồng nghiệp có kinh nghiệm

II NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 1/ Thực trạng của việc dạy tiết trả bài tập làm văn.

Thực trạng hiện nay, qua kiểm tra giáo án và dự giờ của giáo viên khi dạy tiết “Trả bài tập làm văn” cho thấy: nhiều giáo viên không quan tâm đầu tư chất lượng cho tiết “Trả bài”, thời gian dành cho trả bài còn quá ít, nội dung bài soạn tiết “Trả bài” chưa thực sự đầu tư còn sơ sài Thông thường bài soạn chỉ là: đọc lại

đề ra, nhận xét ưu khuyết điểm của bài làm học sinh, định hướng lại một số ý cơ bản yêu cầu của đề bài, sau đó lấy điểm vào sổ, hoặc tiết “Trả bài” có thể dùng để dạy bù bài mới, hay nội dung tiết dạy trước chưa hoàn thành, trả bài chỉ là chiếu lệ dành thời gian ít phút cuối tiết dạy Người dạy chưa quan tâm đến các thao tác chữa lỗi, định hướng cách chữa cho học sinh nên học sinh không nhận diện được những lỗi sai và làm thế nào để chữa những lỗi sai đó Từ thực trạng đó dẫn đến hiệu quả bài viết của học sinh chưa cao, bài viết mắc nhiều lỗi và những lỗi sai đó lặp đi lặp lại nhiều lần mà không sửa được, thậm chí có những lỗi diễn đạt của học sinh rất ngô nghê buồn cười

Vì những thực trạng đã nêu, bản thân tôi đã suy nghĩ trăn trở, tìm ra được một số phương pháp và đã ứng dụng có hiệu quả thực tế ở trường THCS Thị trấn

Trang 3

Con cuông, Huyện Con cuông, nên tôi đề xuất và trình bày một số phương pháp đã

sử dụng trong quá trình giảng dạy khi dạy tiết “ Trả bài” cụ thể như sau:

2/ Những ý kiến đề xuất (phương pháp)

2.1 Nhận thức của người dạy và người học

Tiết “Trả bài”, người dạy phải có trách nhiệm vì học sinh: Phải thật sự có tâm khi chấm bài, phải chấm kỹ, chấm đúng và tìm ra được những lỗi sai của học sinh để chủ động chữa trên lớp

- Người dạy phải có trình độ chuyên môn và năng lực sư phạm (việc ứng xử các tình huống sư phạm trong tiết trả bài khi chữa lỗi)

- Người học phải có ý thức tôn trọng tiết trả bài, tránh suy nghĩ đây là tiết trả bài để lấy điểm vào sổ Người học phải có trực giác cá nhân để hợp tác với Thầy với Bạn để tìm cách giải quyết chữa lỗi để hướng tới bài viết hoàn thiện hơn, tiến bộ hơn

2.2 Chuẩn bị trả bài

2.2.1 Giáo viên(GV)

Cùng với việc thực hiện cuộc vận động “Hai không” với 4 nội dung, khi chấm bài của Học sinh, GV cần phải có “Tâm”, chấm bài kỹ, nghiêm túc chu đáo, cho điểm công bằng chính xác, có nhận xét ở lời phê cụ thể về ưu điểm và khuyết điểm trong bài làm của học sinh Tập hợp những lỗi sai, phân loại lỗi sai cơ bản của học sinh mắc phải để chữa lỗi Qua thời gian giảng dạy tôi đã tổng hợp được một số lỗi sai của học sinh như sau:

* Những lỗi sai học sinh thường gặp:

- Sai lỗi chính tả, lỗi dùng từ, lỗi ngữ nghĩa

- Lạc chủ đề, không hướng đúng yêu cầu của đề, xa đề

- Thiếu hụt chủ đề: Mở bài không tập trung đầy đủ vào chủ đề, không triển khai đâỳ đủ nội dung khái quát ở phần mở bài và triển khai giải quyết ở phần thân bài

- Lặp chủ đề, ý luẩn quẩn

- Lỗi đứt mạch ý các câu trong đoạn nên câu văn đoạn văn bị đứt quãng, ý từ câu nọ sang ý câu kia

Trang 4

- Lỗi mâu thuẫn về ý, nội dung các ý của các câu trong đoạn mâu thuẫn với nhau không phù hợp với những mối quan hệ logic, thiếu sự liên kết hoặc liên kết lỏng lẻo

- Lỗi không tách đoạn và tách đoạn tuỳ tiện, học sinh diễn đạt theo ngẫu hứng

- Lỗi không chuyển đoạn, liên kết đoạn…

Người dạy phải tập hợp và chọn được những câu văn, đoạn văn, những bài văn hay đọc cho học sinh nghe trong giờ trả bài để các em học tập và phát huy GV phải chỉ ra được nội dung hay cần học tập trong phần đọc bài mẫu, đoạn mẫu

Người dạy chuẩn bị máy chiếu (ứng dụng CNTT trong giờ “Trả bài”) và những nội dung cần trình chiếu để tiết kiệm thời gian trong tiết “Trả bài”

Tránh tình trạng giáo viên chấm bài qua loa, cho điểm mà không nhận xét, không chữa lỗi cho học sinh Tất cả những nội dung này phải được soạn giáo án trả bài với thời gian 45 phút, người dạy không nên chữa quá nhiều lỗi trong một tiết để học sinh tiếp nhận vừa đủ và ghi nhớ những lỗi sai để những bài viết sau không còn phạm lỗi nữa

2.2.2 Học sinh(HS)

Phải nắm vững kiến thức về thể loại văn học, có kiến thức văn học, kiến thức trong đời sống Phải thấy được vai trò, tầm quan trọng, ý nghĩa của tiết trả bài Có tinh thần chủ động để thảo luận với bạn, với Thầy để nhận diện và sửa chửa lỗi sai Các em mạnh dạn đề xuất ý kiến cá nhân của từng em trong cách chữa lỗi

2.3 Các hoạt động của tiết trả bài trên lớp: (bản thân tôi đã áp dụng có hiệu quả) Tiết trả bài có 6 hoạt động:

+ Hoạt động 1: GV vào lớp, ổn định tổ chức, nêu yêu cầu mục tiêu của tiết

“Trả bài”

+ Hoạt động 2: HS đọc trầm bằng ghi nhớ lại đề bài, ghi đề ra lên bảng, xác

định yêu cầu của đề bài qua bố cục 3 phần: Mở bài, thân bài, kết luận

Phần này gọi HS xác định nhanh, nhận xét bổ sung các yêu cầu và bố cục của bài (thời gian từ 5 đến 7 phút)

+ Hoạt động 3: Nhận xét ưu điểm (cần phát huy), khuyết điểm (cần phải

sửa) bài làm của HS

Trang 5

+ Hoạt động 4: Trả bài, lấy điểm vào sổ HS nghiên cứu phần chữa lỗi sai

của GV đã chỉ ra ở bài làm để chuẩn bị cho phần chữa lỗi

+ Hoạt động 5: “Nhận diện lỗi sai và sữa lỗi” (trọng tâm)

Hoạt động này có thể có 3 cách chữa lỗi mà bản thân tôi đã áp dụng trong tiêt “Trả bài”.

* Cách 1:

Người chấm bài chỉ gạch chân vào các lỗi sai bằng mực đỏ mà không chỉ ra

lỗi sai, yêu cầu HS gọi đúng lỗi sai sửa vào lề (lề bài trừ rộng 5cm) Phương pháp

chữa lỗi này là để HS tự đánh giá mình Khi các em chữa xong lỗi, GV kiểm tra xác suất kết quả chữa lỗi của HS và cho điểm động viên HS

* Cách 2:

Như cách 1, nhưng GV thay đổi hình thức: HS đổi vở cho nhau để phát hiện lỗi sai Phương pháp này là một cách để HS đánh giá HS (thực hiện giờ học thân thiện), các em tìm được hết lỗi sai của bạn một cách trung thực hơn (vì tự sửa lỗi cho mình các em có thể giấu bớt đi một số lỗi) Ở cách này được thực hiện rất có hiệu quả ở phần luyện nói và viết đoạn văn ngắn, vì học sinh đổi bài soát lỗi nhau,

GV không mất thời gian và tiết kiệm được thời gian phần phát hiện lỗi sai để chấm bài nhanh cho các em trong phần chữa lỗi

* Cách 3:

GV đưa các lỗi sai vào hệ thống bảng phụ để tất cả HS cùng chữa Phương

pháp này có hiệu quả là HS tập hợp được nhiều lỗi sai của từ cá nhân các em để từ

đó rút được kinh nghiệm và tránh lỗi ở những bài viết sau

+ Hoạt động 6: Đọc những đoạn văn, bài văn hay của một số HS trong lớp (Giáo

viên chọn trước)

Một số hoạt động của tiết “Trả bài” đã được áp dụng cụ thể qua 2 đề ra:

Như đã nêu ở trên, trong một tiết trả bài với thời lượng 45 phút có 6 hoạt

động nhưng hoạt động 5 (Nhận diện và sữa lỗi) là hoạt động quan trọng trên lớp,

nên mỗi tiết “Trả bài” GV chỉ chọn một số lỗi để chữa chứ không nên ôm đồm tham lam quá nhiều lỗi sẽ dẫn đến chữa lỗi sai không có hiệu quả

Trang 6

Ví dụ minh hoạ:

Đề số 1

Lão Hạc (trong truyện ngắn cùng tên) của Nam Cao là một lão nông Việt Nam đáng kính bởi phẩm hạnh của một con người đôn hậu, giàu lòng tự trọng và rất mực thương con Em hãy làm rõ nội dung đó.

* Hoạt động 1: Ổn định tổ chức, nêu yêu cầu, mục đích của tiết “Trả bài”

* Hoạt động 2: HS đọc đề, xác định lại yêu cầu của đề và nêu ngắn gọn bố cục 3

phần

- GV gọi HS xác định yêu cầu của đề

+ Thể loại: Nghị luận

+ Đặc điểm của nhân vật

+ Xác định các luận điểm, và luận cứ để làm sáng tỏ đặc điểm của nhân vật:

“Lão Hạc – Lão nông Việt nam đáng kính bởi phẩm hạnh của con người đôn hậu, giàu lòng tự trọng và rất mực thương yêu con”…

- GV: Để làm rõ yêu cầu của đề bài các em cần bám vào những nội dung, luận điểm, luận cứ nào ?

- HS:

+ Thứ nhất: Cần nắm được đặc điểm của nhân vật, xác định luận điểm “ lão Hạc - lão nông Việt nam đáng kính bởi phẩm hạnh của con người đôn hậu”, hai luận cứ: giàu lòng tự trọng và rất mực yêu thương con

+ Thứ hai: Sau khi làm rõ nội dung đó cần tiến hành đánh giá, phát biểu cảm tưởng, cảm nghĩ về nhân vật lão Hạc

Từ đây Học sinh dễ dàng nhận ra khung của toàn bài nghị luận (mở bài, thân bài và kết luận)

- GV:

+ Hướng dẫn HS xác định tìm ý và lập dàn ý

+ Cách sắp xếp các ý, các nội dung luận điểm, luận cứ đã phù hợp chưa?

- GV dùng bảng phụ tổng hợp nội dung bố cục 3 phần để HS quan sát và đối chiếu vào bài làm của mình

* Hoạt động 3: GV nhận xét ưu điểm, khuyết điểm của bài làm HS

Trang 7

* Hoạt động 4: Trả bài , lấy điểm vào sổ

Do mục đích chính của giờ “Trả bài” là hướng dẫn và sửa chữa lỗi sai nên trong 4 hoạt động (1,2,3,4) GV chỉ hướng dẫn học sinh lập dàn ý nhanh và chỉ ra ưu điểm, khuyết điểm của bài làm, lấy điểm vào sổ Những hoạt động này diễn ra trong khoảng 15 đến 17 phút

* Hoạt động 5: Phần “nhận diện và sữa lỗi” (trọng tâm) Thời gian từ 28 đến 30

phút

- HS đọc những lỗi sai của mình để chuẩn bị cho khâu chữa, tự đối chiếu với yêu cầu nêu ra và tự đánh giá được ưu, nhược điểm bài viết của chính mình và chuẩn bị cho việc sửa lỗi sai

- GV nêu yêu cầu và nguyên tắc chữa lỗi: Chữa vào ô dành cho HS chữa bài (phần

lề bên trái) hoặc phần giấy cuối bài Tránh chữa xoá trong bài viết (các em chữa bài trên tinh thần tự giác chủ động và có thảo luận)

- GV yêu cầu HS xem lại bài của mình

- Mời HS có lỗi trong bài viết đọc những chỗ đã dánh dấu trong bài của mình và gọi tên lỗi sai, tự chữa, hoặc nhờ bạn khác chữa giúp (nếu HS đó không nhận diện được lỗi sai và không biết chữa lỗi) GV cho HS phân loại những lỗi sai: Lỗi chính

tả, lỗi dùng từ, lỗi ngữ nghĩa, lỗi thiếu hụt chủ đề, chưa liên kết đoạn

- Chép sẵn những lỗi sai lên bảng phụ (mỗi loại sai một bảng phụ) để HS tiếp nhận lỗi dễ hơn

- Có 2 cách chữa lỗi:

Cách 1: GV hướng dẫn những học sinh có cùng kiểu lỗi sai để chữa, gọi 2 đến 3

em chia bảng để chữa Dựa vào lỗi sai trong bảng phụ để chữa vào bảng chính

Ví dụ 1:

- GV: Hãy đọc tên các lỗi sai và chữa lại như thế nào cho đúng?

Gọi HS đọc các từ gạch chân trong bài viết của mình: Thực dân Phán, chước kẻ thù, con chó vàng…(GV ghi lên bảng)

- GV: Hãy đọc tên các lỗi sai trên và chữa lại

- HS: Đó là những lỗi sai về chính tả – và chữa: Thực dân Pháp, trước kẻ thù,

Trang 8

con chó Vàng… Những HS không được gọi chữa, tự nhìn vào lỗi GV gạch chân sai trong bài làm của các em và tự chữa

- GV: Mời HS khác nhận xét, bổ sung hoàn chỉnh, ghi lên bảng tên kiểu lỗi Tiết

“Trả bài” không những rèn luyện kỹ năng viết mà còn rèn kỹ năng nói trước tập thể

Ví dụ 2: Gọi HS khác đọc các phần lỗi tiếp theo: … “ lão Hạc chết một cách

đoan trang”

- GV: Hãy chỉ ra lỗi sai trong câu văn trên:

- HS: Đó là lỗi về cách dùng từ chưa sát ý- “đoan trang” - và chữa: “Lão Hạc chết một cách bi thảm”

Cách 2:

Đưa ra một lúc nhiều kiểu lỗi, mời HS ở từng trình độ khác nhau (Yếu, TB, khá, giỏi) nhận diện lỗi sai

Ví dụ 1 : HS đọc một đoạn văn : “Đó là lão nông gầy rộc, râu tóc lơ thơ, khuôn mặt

hốc hác, đôi mắt buồn nhưng đầy tình thương triền từ và phúc hậu sống trong xã hội phong kiến cũ đầy bất công ngang tràng, lão cũng như người nông dân khác sống lam lũ, vất vả, không đủ sống nhưng tâm hồn vẫn trong sáng…”

- GV: Hãy nhận diện và sữa lỗi trong đoạn văn trên? (HS tìm và trả lời)

- GV: Nêu câu hỏi: Bạn dùng từ có đúng không? Đã phù hợp với văn cảnh chưa? Câu nào tối nghĩa? Câu nào dài, rườm rà? cách chữa như thế nào?

- HS : Nhận diện và sữa lỗi trong đoạn văn của bạn Đó là:

- Sai lỗi chính tả “ ngang tràng”

- Sai lỗi dùng từ “râu tóc lơ thơ”

- Sử dụng dấu chấm câu chưa đúng chỗ

- Lỗi về hành văn…

- GV hướng dẫn HS cùng sửa các lỗi sai

Ví dụ 2:

- Lỗi sai khác của em X:

- HS đọc lỗi sai- GV ghi lên bảng

Trang 9

… “Lão Hạc rất yêu con, hoa lợi trong mảnh vườn lão dành dụn cho con, mảnh vườn lão để lại cho con “ thà chết chứ không chịu bán đi một sào” Cúng vì con, một sự hy sinh cực kỳ to lớn Lão yêu quý cậu Vàng như con, như bạn “như một

bà hiếm hoi gọi đứa con là cầu tự” Cho nó ăn như nhà giàu Lão ăn gì thì cho nó

ăn nấy Có thể nói cậu vàng được đối xử chăm sóc như con, như cháu là nguồn vui, cho dựa tinh thần, giúp cho lão Hạc vơi đi nỗi cô đơn Vì thế khi bán cậu vàng, lão Hạc chìm trong đáy bể bi kịch…”

- GV: Hãy nhận diện những lỗi sai trong đoạn văn trên của bạn?

- HS1: Đoạn văn nghe rất lủng củng

- HS2: + Đoạn văn sai lỗi chính tả: “dành dụn, cúng vì con, cho dựa tinh thần”

+ Lỗi dùng từ chưa hợp: “lão Hạc chìm trong đáy bể bi kịch”

- HS3: + Bạn chưa chú ý khi đặt dấu chấm

+ Trích dẫn chứng sai: “Như một bà hiếm hoi gọi đứa con là cầu tự”, đồng thời đặt dẫn chứng này vào ý “Lão yêu quí cậu Vàng như là con” là chưa hợp

- HS4: Diễn đạt còn lủng củng ý rời rạc

Giáo viên hướng dẫn học sinh cùng sửa lỗi sai

Ví dụ 3: HS đọc “… Cái buồn ấy rồi cũng qua đi Lão tu chí làm ăn cho cái vườn

nhỏ bé của mình tuy cái vườn của lão nhỏ như một hạt cát giữa sa mạc.”

- GV: Lỗi sai trên của bạn là gì?

- HS: + Sai về lỗi dùng từ: “tu chí”

+ Sai vì so sánh thiếu chính xác: “…Cái vườn của lão nhỏ như một hạt cát giữa sa mạc.”

- GV định hướng cho HS chữa lỗi sai trên

Ví dụ 4 : Ghi đoạn văn của học sinh lên bảng phụ:

… Vợ chết, con đi xa, lão sống thui thủi một mình….đến khi không còn đi làm được nữa, mà còn sống thì còn phải ăn, lão Hạc đã có sự suy tính âm thầm mà quyết liệt: lão sẽ tự tử, để dành trọn vẹn mảnh vườn cho đứa con trai Và rồi lão đã

tự tử khi đã nhờ cậy được ông giáo trông nom mảnh vườn đó “để không còn ai tơ

Trang 10

tưởng dòm ngó”, sau này nhờ ông trao lại cho con trai lão…Tức là lão Hạc quyết chết để bảo vệ mảnh vườn cho con trai lão đó là sự hy sinh vô cùng lớn lao của một người cha, vì đứa con thân yêu Nhưng kỳ thực , lão Hạc có một nhân cách hết sức cao đẹp mà bề ngoài không dễ nhìn thấy Đó là con người nhân hậu vô cùng Tình cảm của lão Hạc đối với Cậu Vàng của lão được tác giả thể hiện thật cảm động: Lão gọi nó là Cậu vàng như một bà hiếm hoi gọi đứa con cầu tự…

- GV: Nhận xét đoạn văn trên của bạn? (ưu điểm, nhược điểm)

Lỗi sai trên của bạn là gì?

- HS : Lỗi đứt mạch, ý từ câu nọ sang ý câu kia

Lỗi không tách đoạn, không chuyển đoạn (cả đoạn văn trình bày 2 nội dung là: Tình yêu thương con và tấm lòng nhân hậu đối với Cậu Vàng)

- GV : bổ sung: đoạn văn còn sử dụng lặp từ: “lão Hạc” có thể thay thế “Ông” hoặc bỏ bớt 1 số chỗ “Lão Hạc” Với “Lão” và định hướng HS cách chữa bằng cách tách 2 ý thành 2 đoạn văn, cách liên kết giữa 2 đoạn Đoạn 1: trình bày theo quy nạp (như ý của HS) nhưng sửa một số từ “nhưng kỳ thực được tác giả thể hiện thật cảm động ” Đoạn 2: Con trai lão đi xa, lão dành tình cảm của mình cho cậu Vàng như một người cha dành tình cảm cho con vậy Lão gọi “cậu Vàng”, dành phần ăn cho cậu Vàng

* Hoạt động 6: Đọc những đoạn văn, bài văn hay của một số em (GV chọn

trước)

Ngoài việc hướng dẫn HS nhận diện và sữa chữa các lỗi sai trong bài viết của mình Để phát huy những ưu điểm trong bài làm của HS, GV còn chọn một số đoạn văn, bài văn hay để đọc trước lớp Gọi chính em HS viết đoạn văn, bài văn đó nói lên kinh nghiệm phương pháp bài viết của mình để học sinh trong lớp học tập

GV định hướng HS phân tích tìm ra được những câu hay, đoạn văn hay để học tập rút kinh nghiệm

Đề số 2:

Cảm nhận của em về nhân vật ông Sáu trong truyện ngắn "Chiếc lược ngà" của nhà văn Nguyễn Quang Sáng.

Ngày đăng: 03/03/2015, 20:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w