Hành động quyết liệt của ông nhằm ngăn chặn sự suy thoái năm 1923 thông qua việc mua 1 lượng trái phiếu chính phủ đã trở thànhbằng chứng rõ ràng về sức mạnh của hoạt động thị trường mở t
Trang 1ĐỀ TÀI THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ
CỦA MỸ GIAI ĐOẠN 2011-2013
(Lần 1)
Nhóm: Future Bank Lớp: thứ 6 ca 1
Trang 2Danh mục các từ viết tắtS
6 Temporary open market
operation
Temporary OMO
OMO tạm thời
dịch thị trường mở NewYork
1
0
Large – scale assetspurchase
LSAP Kế hoạch mua
giấy tờ có giá với sốlượng lớn
Trang 3I TỔNG QUAN NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ CỦA MỸ
1.1 Lịch sử phát triển Nghiệp vụ thị trường mở tại Mỹ
Như một ngân hàng trung ương của quốc gia, Cục dự trữ Liên bang Mỹ (Fed)chịu trách nhiệm xây dựng và thực hiện chính sách tiền tệ Việc xây dựng các chínhsách tiền tệ liên quan đến việc phát triển một kế hoạch nhằm theo đuổi các mục tiêucủa giá cả ổn định, việc làm đầy đủ và tổng quát hơn, một môi trường tài chính ổnđịnh cho nền kinh tế Trong việc thực hiện kế hoạch đó, Fed sử dụng các công cụ củachính sách tiền tệ để tạo ra thay đổi lãi suất, số lượng tiền và tín dụng trong nền kinh
tế từ đó đạt được các mục tiêu đề ra
Nghiệp vụ thị trường mở, một trong những công cụ chính của chính sách tiền tệtại Mỹ, được tìm ra một cách bất ngờ và là bước tiến lớn nhất trong quá trình pháttriển của FED từ một tổ chức thụ động sang chủ động Sau chiến tranh thế giới thứnhất, chủ tịch Fed Benjamin Strong nhận ra rằng vàng không còn đóng vai trò trungtâm trong việc kiểm soát tín dụng nữa Hành động quyết liệt của ông nhằm ngăn chặn
sự suy thoái năm 1923 thông qua việc mua 1 lượng trái phiếu chính phủ đã trở thànhbằng chứng rõ ràng về sức mạnh của hoạt động thị trường mở tác động đến tính sẵnsàng của tín dụng trong hệ thống thị trường mở Đồng thời các quan chức của Fedcũng nhận ra rằng khi Fed mua chứng khoán sẽ làm tăng dự trữ NHTM và nới lỏngtín dụng, do đó ảnh hưởng đến các điều kiện tín dụng chung trong cả nước Từ đó Fed
đã bắt đầu sử dụng nghiệp vụ này như 1 công cụ của chính sách tiền tệ
Tháng 5 năm 1922 một ủy ban được thành lập để phối hợp chính sách đầu tưthông qua một địa điểm tập trung, các Ngân hàng Dự trữ Liên bang New York, tiếptheo đó Ủy ban thị trường mở liên bang Mỹ FOMC ra đời thay thế cho OMIC và trởthành cơ quan hoạch định chính sách mạnh nhất của Fed FOMC chịu trách nhiệmthực hiện CSTT của Mỹ, quản lý các tài khoản SOMA tại Ngân hàng dự trữ liên bangNewYork thông qua ủy quyền Desk thực hiện nghiệp vụ thị trường mở thay cho toàn
bộ hệ thống dự trữ liên bang
Ngày nay nghiệp vụ này càng trở nên hiệu quả khi nó thể hiện tính linh hoạt,chủ động của Fed trong việc tác động trực tiếp vào dự trữ của các ngân hàng và lãisuất thông qua việc mua bán các loại chứng khoán
Trang 41.2 Đặc điểm nghiệp vụ thị trường mở
Thứ nhất, chủ thể giao dịch: Giao dịch trên thị trường mở được thực hiện bởi các
chủ thể là FED và các đại lý kinh doanh chính (primary dealers) -các đại lý chứngkhoán chính phủ những đại lý mà thiết lập mối quan hệ kinh doanh với FED Hoạtđộng này dựa trên cơ sở các đại lý chính có tài khoản tại các ngân hàng thanh toán bùtrừ, đó là các tổ chức lưu ký
Thứ hai, hàng hóa giao dịch: Fed sử dụng 3 loại hàng hóa chính trên thị trường
mở là trái phiếu kho bạc, trái phiếu chính phủ và chứng khoán có đảm bảo bằng tàisản thế chấp MBS
Thứ ba, phương thức giao dịch: giao dịch trên thị trường mở diễn ra thông qua
hoạt động đấu giá DESK bắt đầu quá trình này bằng cách thông báo thông qua một hệthống đấu giá điện tử được gọi là FedTrade, mời các đại lý nộp hồ sơ dự thầu hoặcchào hàng cho phù hợp Phương thức giao dịch được sử dụng là mua kỳ hạn và muahẳn:
Hoạt động mua kỳ hạn sử dụng hợp đồng mua lại (repo) và hợp đồng mua lạingược (repo ngược) để tạm thời ảnh hưởng đến các giao dịch hàng ngày tại thị trườngliên bang từ đó ảnh hưởng đến kích thước của danh mục đầu tư của hệ thống dự trữliên bang Repo là một hình thức cho vay thế chấp mà Fed cho các đại lý chính vaytiền và các đại lý cung cấp các chứng khoán có chất lượng cao cho Fed như tài sản thếchấp chung đối với các khoản vay Có 2 loại repo là repo dài hạn và repo ngắn hạn.Trong đó repo ngắn hạn có kỳ hạn ngắn hơn 14 ngày, chủ yếu là các hợp đồng muaqua đêm với chức năng chính là điều chỉnh mức dự trữ ngân hàng cần thiết trong ngàyhôm đó Loại thứ hai, repo dài hạn có kỳ hạn 14 ngày được sử dụng để bù đắp sự biếnđộng theo từng giai đoạn
Trái ngược với các giao dịch repo là repo ngược Trong khi các hoạt động repodùng để bù đắp các thiếu hụt tạm thời trong dự trữ của hệ thống ngân hàng thì repongược nhằm làm giảm bớt dư thừa tạm thời Thay vì cho các đại lý vay tiền, các quầygiao dịch vay mượn tiền từ các đại lý bằng tài sản thế chấp từ hệ thống tài khoản thị
Trang 5 Hoạt động mua hẳn: Mua hoặc bán hẳn chứng khoán trên cơ sở tăng hoặc giảm
dự trữ và thay đổi kích thước hoặc thành phần SOMA Danh mục đầu tư là một trongnhững công cụ được sử dụng bởi FED để thực hiện CSTT
II THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ CỦA MỸ GIAI ĐOẠN 2011-2013
2.1 Thực trạng hoạt động nghiệp vụ thị trường mở
2.1.1 Năm 2011
a) Bối cảnh kinh tế
Tốc độ tăng trưởng thấp hơn kì vọng: Mặc dù đã cho thấy nhiều
dấu hiệu khả quan vào cuối năm 2010 với tốc độ tăng trưởng 3%vào quý IV, nhưng kinh tế Mỹ đã chững lại trong suốt năm 2011, vớitốc độ tăng trưởng trung bình chỉ ở mức 1,8% Điều này đã dẫn đếnnhững lo ngại rằng sự phục hồi của kinh tế Mỹ chỉ là nhất thời vàkhông đáng kể Trong khi đó, lạm phát vẫn giữ ở mức ổn định 3,2%
Khủng hoảng nợ công: sau hàng tháng đứng trước mối đe dọa
ngừng hoạt động chính phủ, với mức thâm hụt ngân sách lên tớimức kỉ lục 9% GDP, hai viện của Mỹ đã đi đến một thỏa thuận nângmức trần nợ công lên 400 tỉ $, đồng thời cắt giảm chi tiêu công ,chỉ24h trước khi Mỹ chính thức rơi vào cảnh vỡ nợ
Mức tín nhiệm hạ: S&P 500 lần đầu tiên trong lịch sử hạ mức tín
nhiệm của Mỹ từ AAA xuống AA+ do những rắc rối về nợ công xảy
ra
Tỉ lệ thất nghiệp cao: Tình trạng thất nghiệp cao ở Mỹ vẫn tiếp
tục kéo dài và giữ ở mức 9%, bất chấp sự ra đời của đạo luật việclàm Mỹ (American Jobs Act) do sự tăng trưởng không mấy tích cực
Trang 6của nền kinh tế, cũng như sự thoái hóa kĩ năng do phải nghỉ laođộng quá lâu.
Kì vọng của người dân và doanh nghiệp vào nền kinh tế vẫn ởmức thấp, các doanh nghiệp chần chừ trong việc đầu tư nhằm đợi cơhội tốt hơn
b) Định hướng hoạt động thị trường mở
Mục tiêu thực hiện OMO trong năm: thay đổi kích cỡ cũng như
thành phần danh mục giấy tờ có giá nắm giữ trong tài khoản SOMA,nhằm tiến hành áp lực giảm đối với lãi suất dài hạn (giữ cố định ởmức từ 0 đến 0,25%) và tạo ra các điều kiện tài chính thuận lợinhằm thúc đẩy nền kinh tế
Trong nửa đầu năm 2011, FED tiếp tục thực hiện và hoàn tất kế
hoạch mua giấy tờ có giá với số lượng lớn (LSAP – Large-scale assetspurchase) đã đề ra vào tháng 11/2010 bằng việc mua vào số tráiphiếu kho bạc trị giá 600 tỉ$ từ cuối năm 2010 đến cuối tháng6/2011 Mục tiêu chính của hoạt động này là làm giảm số lượng tínphiếu kho bạc nắm giữ bởi khu vực tư, tạo ra áp lực giảm với lãi suấtdài hạn
Trong nửa sau của năm 2011, hoạt động đáng chú ý nhất của
FOCC diễn ra vào tháng 9/2011 Trong hội nghị này, FOMC đã quyếtđịnh (1) thay đổi hoạt động tái đầu tư từ trái phiếu chính phủ và tráiphiếu đảm bảo bằng thế chấp (MBS) sang chỉ còn MBS, (2) kéo dài kìhạn trung bình của trái phiếu kho bạc (hay còn gọi với cái tên làOperation Twist) bằng việc mua 400 tỉ $ trái phiếu kho bạc dài hạnhơn (từ 6 năm trở lên) và bán lượng tương tự trái phiếu kho bạc ngắnhạn hơn (từ 3 tháng đến 3 năm) Mục tiêu của hoạt động này là làm
Trang 7c) Thực trạng hoạt động nghiệp vụ thị trường mở
Trước tình hình nền kinh tế phục hồi chậm chạp, tăng trưởng ở mức thấp, tíndụng bị trì trệ do lãi suất ở mức cao thì ngay từ đầu năm 2011, Fed đã định hướnghoạt động thị trường OMO theo 2 giai đoạn: nửa đầu năm 2011 Fed tiếp tục thực hiện
và hoàn tất kế hoạch mua giấy tờ có giá với số lượng lớn; nửa cuối năm là việc tậptrung vào hoạt động gia tăng kỳ hạn trung bình cho các chứng khoán Năm 2011, đánhdấu một năm OMO của Mỹ hoạt động sôi nổi trên tất cả các công cụ:
Thứ nhất, về trái phiếu kho bạc Chương trình mua giấy tờ có giá với số lượng
lớn (LSAP) từ tháng 11/2010 đến tháng 3/2011 đã nâng tổng khối lượng chứng khoántrong SOMA từ 2.2 nghìn tỷ USD tại thời điểm đầu năm lên 2.6 nghìn tỷ USD vàocuối năm; trong đó khối lượng trái phiếu kho bạc cũng tăng lên 64% tổng khối lượngvào cuối năm so với tỷ lệ 47% hồi đầu năm Sau đó tỷ lệ trái phiếu kho bạc này tiếptục tăng Fed quyết định tái đầu tư phần vốn gốc của các trái phiếu chính phủ vàchứng khoán MBS vào trái phiếu kho bạc (xem hình 2.1 )
Hình 2.1: Khối lượng các tài sản trong danh mục SOMA giai đoạn 2007-2011
Như vậy, trong suốt giai đoạn 2007-2011 thì trái phiếu kho bạc luôn chiếm mộtkhối lượng lớn trong tổng danh mục đầu tư, cho thấy vai trò quan trọng của loại hànghóa này Trong đó tổng quy mô của trái phiếu kho bạc tăng từ 1 nghìn tỷ USD cuốinăm 2010 lên 1.7 nghìn tỷ vào tháng 9/2011 và duy trì tại mức này cho đến hết năm
Trang 8Có được kết quả này là do trong năm 2011 Ủy ban thị trường mở đã mua vào tổngcộng 773 tỷ USD trái phiếu kho bạc từ thị trường thứ cấp Trong đó có 480 tỷ là đểhoàn tất chương trình LSAP từ cuối năm 2010 Trong suốt tháng 9, trái phiếu kho bạcvẫn tiếp tục mua để thay thế cho 40 tỷ USD trái phiếu chính phủ và 120 tỷ USDchứng khoán MBS (xem hình 2.2)
Hình 2.2: Khối lượng mua và bán trái phiếu kho bạc năm 2011
Sau khi hoàn tất chương trình LSAP vào tháng 6 thì trong nửa sau của năm,hoạt động đáng chú ý nhất của FOMC đó là việc mua vào 400 tỷ USD trái phiếu khobạc dài hạn (có thời gian đáo hạn từ 6-30 năm) và bán ra lượng tương đương trái phiếungắn hạn hơn (thời gian đáo hạn từ 3 tháng – 3 năm) để gia tăng kỳ hạn trung bìnhcho các trái phiếu này Trước đây, các trái phiếu kho bạc thường có kỳ hạn ngắn, saumột loạt các nghiệp vụ xử lý bảng CĐKT của Fed được tiến hành từ năm 2007 đã làmtăng tỷ lệ trái phiếu dài hạn Kết quả là, cuối năm 2011 số trái phiếu có kỳ hạn hơn 3năm chiếm 1 tỷ lệ phần trăm trong danh mục cao hơn so với năm 2010 Cụ thể, Fed đãmua vào 133 tỷ trái phiếu kho bạc có kỳ hạn từ 6-30, đồng thời bán ra 1 lượng tươngđương loại trái phiếu kỳ hạn từ 3 tháng – 3 năm trong quý 4/2011 (hình 2.3)
Hình 2.3: Khối lượng mua bán trái phiếu kho bạc cho 3 mục tiêu: LSAP, tái đầu
tư và mở rộng kỳ hạn
Trang 9Bảng 2.1: Hoạt động mua bán trái phiếu kho bạc trong năm 2011
LSAP(tháng 1– tháng 6)
Tái đầu tư(tháng 7 –tháng 9)
Hình 2.4: Cơ cấu kỳ hạn của trái phiếu kho bạc
Trang 10Mục đích của việc kéo dài thời hạn của các trái phiếu kho bạc này là để bẻ cácđường cong lãi suất trái phiếu, làm giảm áp lực lên lãi suất dài hạn Thông thườngđường cong lãi suất trái phiếu có chiều hướng lên trên, tức là lợi suất kỳ hạn ngắnthấp, lợi suất kỳ dạn dài cao hơn Nhưng thông qua hành động “bán ngắn mua dài” sẽlàm giá của trái phiếu chính phủ dài hạn có xu hướng gia tăng (do Fed mua) trong khilãi suất dài hạn không đổi sẽ làm cho lợi tức của trái phiếu này giảm đi, lợi tức của tráiphiếu ngắn hạn tăng lên Kết quả là sẽ giúp lãi suất vay của Mỹ về lâu dài sẽ giảm;đồng thời hành động này không làm tăng cung tiền nên sẽ không làm gia tăng lạmphát và ngăn cản đà mất giá của USD.
Thứ hai, về chứng khoán đảm bảo bằng tài sản thế chấp (MBS) Trong danh
mục SOMA thì chứng khoán MBS chiếm một tỷ trọng khá lớn, tuy nhiên khối lượngMBS đã giảm từ 992 tỷ USD vào cuối năm 2010 xuống còn 871 tỷ USD vào cuốitháng 9 năm 2011.Từ tháng 10 đến cuối năm 2011, Ủy ban thị trường mở tái đầu tư 77
tỷ USD của việc thanh toán vốn gốc trái phiếu chính phủ và chứng khoán MBS vàoMBS, trong quý 4 tập trung vào chứng khoán có kỳ hạn 30 năm với mức lãi suất 3.5%đến 4% (xem hình 2.5)
Hình 2.5: Cơ cấu MBS theo lãi suất năm 2010 và 2011
Trang 11Để thực hiện được các hoạt động đó thì ngay sau phiên họp vào tháng 9/2011của FOMC, Ủy ban thị trường mở đã lên kế hoạch định hướng việc mua chứng khoánMBS bằng cách công bố chính xác khối lượng sẽ mua trong giai đoạn từng tháng tiếptheo, được xác định bằng tổng thanh toán vốn gốc từ trái phiếu chính phủ và MBS kỳvọng sẽ nhận được trong giai đoạn đó Để điều hành các hoạt động đó, Ủy ban thịtrường mở đã nhận được lời chào hàng cạnh tranh từ các nhà giao dịch sơ cấp và lựachọn cách rao bán hấp dẫn nhất là thông qua hệ thống sàn giao dịch điện tử Hệ thốngnày cho phép người mua cố định các đề nghị cho tối đa 4 bên tham gia Do hệ thốnggiới hạn số đối tác mõi giao dịch nên Uỷ ban đã phải xoay vòng giữa những đối tácgiao dịch sơ cấp Nhờ vậy, hoạt động mua vào của MBS trở nên thường xuyên hơnnhững giao dịch mua trái phiếu kho bạc có hệ thống cho phép tất cả mọi nhà mua sơcấp có thể tham gia vào từng hoạt động.
Thứ ba, về trái phiếu chính phủ Trong năm 2011, không diễn ra hoạt động
mua hay bán trái phiếu chính phủ Khoảng 44 tỷ USD trái phiếu chính phủ trong danhmục SOMA đã đến hạn vào năm 2011, giảm tổng khối lượng xuống còn 104 tỷ USDvào cuối năm 2011 Đến cuối tháng 9 năm 2011, việc thanh toán vốn gốc các tráiphiếu chính phủ đến hạn được tái đầu tư vào trái phiếu kho bạc với khối lượng là 40 tỷUSD và thêm 4 tỷ USD được đầu tư vào MBS từ tháng 9 đến tháng 12 năm 2011.Ngược lại với việc gia tăng nắm giữ các trái phiếu kho bạc có kỳ hạn dài thì Fed lạitập trung vào các trái phiếu chính phủ có kỳ hạn ngắn hơn 5 năm có ngày đáo hạn làcuối năm 2011, và chi có 16 tỷ USD là có ngày đáo hạn sau năm 2016
Trang 122.1.2 Năm 2012
a) Bối cảnh kinh tế
Nửa đầu năm 2012, tỉ lệ tăng trưởng GDP của Mỹ giảm so với
nửa cuối năm 2011, chỉ đạt mức 2%, lý do là từ hệ quả của cuộckhủng hoảng nợ công châu Âu Bên cạnh đó, sự khó khăn trong việctiếp cận tín dụng đối với hộ gia đình và doanh nghiệp vừa và nhỏ,kết hợp với chính sách tài khóa thắt chặt cũng là những yếu tố kìmhãm phát triển kinh tế Mỹ
Thị trường lao động giai đoạn này vẫn phát triển yếu, tỉ lệ thấtnghiệp giữ ở mức 8,25% Mặc dù đầu năm chịu tác động tăng từ giáxăng dầu, nhưng chỉ số giá tiêu dùng vẫn giảm trong giai đoạn này,
và lạm phát dài hạn vẫn được giữ ổn định Trên thị trường tài chính,lợi tức từ trái phiếu kho bạc dài hạn giảm mạnh, hệ quả từ chínhsách kéo dài kì hạn của FED, rủi ro trái phiếu doanh nghiệp giữ ởmức ổn định hoặc thấp hơn Thị trường bất động sản tiếp tục phụchồi do lãi suất thế chấp giảm, một phần của kế hoạch Tái cấp vốnmua nhà của chính phủ Mỹ
Nửa cuối năm 2012, GDP Mỹ tăng ở mức khiêm tốn – 1,5%
-tương đương với mức tăng GDP nửa đầu năm, do các điều kiện bấtlợi kìm hãm sự tăng trưởng.Tuy nhiên điều kiện tài chính đã có sựnới lỏng do hiệu quả từ các chính sách tiền tệ do FOMC thực hiện.Cho dù vậy, điều kiện tín dụng cho các doanh nghiệp và hộ gia đìnhvẫn bị thắt chặt, thêm vào đó, chi tiêu chính phủ bị cắt giảm mạnh,nhu cầu nước ngoài yếu làm giảm lượng xuất khẩu, dẫn đến sựchững lại của nền kinh tế Mỹ Mặc dù gặp phải những yếu tố nhưtrên, thị trường lao động vẫn tăng trưởng, dù rất thấp, nhưng ổnđịnh Tỉ lệ thất nghiệp vào tháng 1/2012 là dưới 8%
Trang 13Lạm phát vẫn được giữ ở mức ổn định, chỉ số giá tiêu dùng tăng1,5% trong năm Triển vọng giữ được lạm phát ở mức thấp là rất khảquan.
b) Định hướng hoạt động thị trường mở
Mục tiêu thực hiện hoạt động thị trường mở trong năm 2012:
FED tiếp tục tiến hành điều chỉnh cơ cấu cũng như kích cỡ danh mục
giấy tờ có giá mình đang nắm giữ, từ đó (1) áp đặt xu hướng giảmlên lãi suất dài hạn, (2) hỗ trợ thị trường bất động sản, (3) tạo cácđiều kiện tài chính thuận lợi nhằm thúc đẩy quá trình phục hồi nềnkinh tế
Điểm đáng chú ý trong hoạt động OMO cùa FED năm 2012, đó
là sự tiếp diễn và mở rộng thời hạn của chương trình Mở rộng kì hạntrái phiếu (đã bắt đầu từ cuối năm 2011), với tổng trị giá trái phiếudài hạn (có kì hạn từ 6 năm trở lên) đã mua là 667 tỉ $ Song songvới đó, FED đã gần như xóa sổ hẳn lượng trái phiếu kho bạc ngắnhạn (có kì hạn còn lại từ 3 tháng đến 3 năm) mà mình đang nắm giữthông qua việc bán ra với giá trị tương đương
FED cũng đồng thời tiếp tục tiến hành hoạt động tái đầu tư vàotrái phiếu chính phủ và trái phiếu đảm bảo bằng tài sản của các tổchức trực thuộc chính phủ, với tổng lượng mua vào cố định hàngtháng ở mức 85 tỉ $ Điển hình cho hoạt động này chính là sự kiệncho vay cứu cánh Maiden Lane 1,2,3 đối với tập đoàn Bear Stearn vàAIG
c) Thực trạng hoạt động thị trường mở
Nghiệp vụ thị trường mở trong năm 2012 tiếp tục cố gắng mang lại sự hồi phụccho nền kinh tế qua việc điều chỉnh cơ cấu và khối lượng của bảng cân đối tài sản củaFed Những tác động này nhằm hạ thấp mức lãi suất dài hạn, kích thích thị trường cầm
Trang 14Tổng quy mô của tài khoản hệ thống thị trường mở (SOMA) hầu như không thayđổi trong phần lớn của năm, tuy nhiên lại có một sự thay đổi đáng kể trong cơ cấugiấy tờ có giá, đặc biệt là cơ cấu về kì hạn Sự thay đổi về kì hạn các giấy tờ có giá làkết quả của “chương trình mở rộng kì hạn” hay thường được biết đến với tên gọi QE2.5 Ngoài ra, vào tháng 10/2012 một chương trình nới lỏng định lượng mới được đưa
ra (QE3) với tốc độ mua vào 40 tỷ USD MBS mỗi tháng Cho đến hết năm 2012, dướitác động của 2 chương trình này, quy mô giấy tờ có giá nắm giữ tại SOMA đạt mức2.8 nghìn tỷ USD
Hình 2.6 : Quy mô và cơ cấu của SOMA
Thứ nhất, về trái phiếu kho bạc Trong suốt năm 2012, quy mô trái phiếu kho
bạc nắm giữ bởi SOMA giữ ổn định ở mức 1,7 nghìn tỷ USD (xem hình 2.6) tuynhiên về cơ cấu kì hạn thì có sự thay đổi đáng kể Điều này là do trong chương trìnhMEP, FED sẽ tiến hành mua những trái phiếu kho bạc có kì hạn dài và tương ứng với
đó là bán những giấy tờ có giá kì hạn ngắn Cho đến cuối năm, 61% lượng trái phiếukho bạc nắm giữ của SOMA có kì hạn từ 6 năm trở lên (xem hình 2.7) trong khi đó,chứng khoán kì hạn thấp hơn 3 năm hầu như bị loại bỏ khỏi danh mục đầu tư Kì hạntrung bình của SOMA vào thời điểm cuối năm 2012 đã đạt 10,4 năm tăng 3 năm sovới thời điểm đầu năm 2012
Trang 15Trong suốt năm 2012, Fed đã mua vào tổng cộng 534 tỷ USD giá trị mệnh giácủa chứng khoán kho bạc trên thị trường thứ cấp, trong đó có 267 tỷ USD mua từtháng 1 đến tháng 6 nhằm hoàn thiện gói 400 tỷ của MEP như đã công bố vào cuốinăm 2011, thêm vào đó là 267 tỷ tỷ từ tháng 7 cho đến hết năm nhằm mở rộng góiMEP Những chứng khoán kho bạc mua vào có kì hạn từ 6 cho đến 30 năm, với tốc độ
là 45 tỷ USD mỗi tháng Giá trị mệnh giá của khối lượng chứng khoán kì hạn dài muavào gần như tương đương với giá trị mệnh giá bán ra của trái phiếu kho bạc kì hạnngắn Trong năm này, Fed đã bán tổng cộng 500 tỷ chứng khoán thường và trái phiếuđiều lạm phát điều chỉnh (Bảng 2.2)
Bảng 2.2: thống kê nghiệp vụ trong chương trình MEP
Thứ hai, chứng khoán có đảm bảo bằng thế chấp (MBS) Khối lượng MBS nắm
giữ bởi SOMA tăng 165 tỷ USD trong năm 2012, đạt mức 1 nghìn tỷ vào thời điểmcuối năm Đây là kết quả của gói nới lỏng định lượng thứ 3 (QE3) được FOMC đưa ra