1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận án tiến sỹ kinh tế: Phát triển nông nghiệp các tỉnh trung du miền núi phía bắc Việt Nam theo hướng bền vững

169 681 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 169
Dung lượng 5,73 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trung du miền núi phía Bắc là vùng có núi non hùng vĩ nhất Việt Nam, là nơi có đông đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sống nhất đất nước (3554 dân tộc) và cũng là nơi có đường biên giới trên bộ rất dài với hai nước: Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa (trên 1500 km) và Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào (560 km). Chính vì vậy, Trung du miền núi phía Bắc là địa bàn có vị trí đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội, gìn giữ môi trường và bảo đảm an ninh quốc phòng của đất nước.Thấy rõ vị trí quan trọng của vùng Trung du miền núi phía Bắc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, nên trong những năm vừa qua, đặc biệt là từ khi thực hiện đường lối đổi mới đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam và Chính phủ Việt Nam luôn quan tâm đến việc đầu tư phát triển mọi mặt đối với vùng này. Nhờ đó, kinh tế của toàn vùng đã có sự phát triển khá nhanh; đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các dân tộc sinh sống trong vùng đã có sự cải thiện đáng kể, đặc biệt là các mặt: ăn, ở, đi lại, học tập, điện, nước sinh hoạt và nghe nhìn; an ninh quốc phòng trên địa bàn cơ bản được giữ vững.Song do là vùng núi cao, địa hình bị chia cắt phức tạp, cơ sở hạ tầng thấp kém, dân cư sống phân tán và trình độ dân trí còn quá thấp, nên kinh tế của vùng dù đã có phát triển khá, nhiều lĩnh vực sản xuất kinh doanh mới được hình thành và phát triển, đáng chú ý là các ngành công nghiệp, thương mại và dịch vụ, nhưng ngành sản xuất rộng lớn nhất, quan trọng nhất vẫn là ngành nông nghiệp. Sản xuất nông nghiệp, trong đó quan trọng nhất là các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi và lâm nghiệp vẫn là lĩnh vực chính giải quyết việc làm, thu nhập và bảo đảm đời sống cho đại bộ phận lao động và dân cư trong vùng.

Trang 1

-NGUYỄN THANH HẢI

ph¸t triÓn n«ng nghiÖp c¸c tØnh trung du miÒn nói phÝa b¾c viÖt nam theo híng bÒn v÷ng

CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ PHÁT TRIỂN

MÃ SỐ: 62.31.05.01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

- GS.TSKH LÊ DU PHONG

- PGS.TS PHẠM NGỌC LINH

HÀ NỘI, NĂM 2014

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Nghiên cứu sinh cam đoan trong luận án này:

- Các thông tin, số liệu trích dẫn được trình bày theo đúng quy định.

- Các thông tin, số liệu sử dụng là trung thực, xác đáng, tin cậy, có căn cứ.

- Những luận cứ, phân tích, đánh giá, kiến nghị được trình bày trong luận án là nghiên cứu và quan điểm cá nhân riêng của nghiên cứu sinh Không sao chép nguyên văn của bất kỳ tài liệu nào đã được công bố.

Nghiên cứu sinh cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập và hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung của luận án.

Tác giả luận án

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

MỤC LỤC ii

BẢNG CHỮ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC BẢNG iv

DANH MỤC HÌNH iv

LỜI NÓI ĐẦU 4

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 10

1.1 Những nghiên cứu của thế giới 10

1.2 Các nghiên cứu trong nước 12

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG 28

2.1 Những nhận thức cơ bản về phát triển bền vững 28

2.2 Phát triển nông nghiệp bền vững 31

2.2.1 Nông nghiệp và đặc điểm của sản xuất nông nghiệp 31

2.2.2 Phát triển nông nghiệp bền vững và các chỉ tiêu đánh giá 35

2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển bền vững sản xuất nông nghiệp 43

2.4 Kinh nghiệm phát triển bền vững nông nghiệp của một số nước và vùng lãnh thổ trên thế giới 46

2.4.1 Kinh nghiệm của Hà Lan 46

2.4.2 Kinh nghiệm Hàn Quốc 53

2.4.3 Kinh nghiệm của Thái Lan 59

2.4.4 Kinh nghiệm của Trung Quốc 61

2.4.5 Những bài học có thể rút ra cho Việt Nam nói chung, cho các tỉnh Trung du miền núi phía Bắc nói riêng về phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững .63

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP THEO HƯỚNG BỀN VỮNG Ở CÁC TỈNH TRUNG DU MIỀN NÚI PHÍA BẮC VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2000- 2012 65

3.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội của các tỉnh trung du miền núi phía Bắc ảnh hưởng đến phát triển bền vững nông nghiệp 65

Trang 4

3.1.1 Đặc điểm tự nhiên 65

3.1.2 Đặc điểm kinh tế 69

2.1.3 Đặc điểm xã hội 70

3.2 Thực trạng phát triển sản xuất nông nghiệp các tỉnh Trung du Miền núi phía Bắc giai đoạn 2000- 2012 71

3.2.1 Sản xuất nông nghiệp có sự tăng trưởng liên tục và khá ổn định 72

3.2.2 Ngành trồng trọt phát triển đều qua các năm 73

3.2.3 Ngành chăn nuôi của các địa phương trong vùng đã từng bước phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá 83

3.2.4 Ngành lâm nghiệp đã được các tỉnh trong vùng quan tâm phát triển 89

3.2.5 Thuỷ sản cũng đã được các tỉnh vùng Trung du miền núi phía Bắc quan tâm phát triển 91

3.2.6 Các hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp: 93

3.3 Đánh giá tính bền vững của phát triển nông nghiệp ở các tỉnh Trung du miền núi phía Bắc Việt Nam thời gian qua 95

3.3.1 Bền vững về kinh tế 95

2.3.2 Bền vững về mặt xã hội 104

3.3.3 Bền vững về môi trường 109

3.4 Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững ở các tỉnh Trung du miền núi phía Bắc 113

CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP NÂNG CAO TÍNH BỀN VỮNG ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP Ở CÁC TỈNH TRUNG DU MIỀN NÚI PHÍA BẮC ĐẾN NĂM 2020 119

4.1 Dự báo tình hình thế giới và trong nước có thể tác động đến phát triển bền vững sản xuất nông nghiệp ở các tỉnh vùng Trung du miền núi phía Bắc đến năm 2020 119

4.1.1 Bối cảnh quốc tế 119

4.1.2 Bối cảnh trong nước 121

4.1.3 Bối cảnh của vùng 123

4.2 Những quan điểm chủ yếu cần được quán triệt trong phát triển nông nghiệp các tỉnh vùng Trung du miền núi phía Bắc theo hướng bền vững đến năm 2020 125 4.3 Những định hướng chủ yếu phát triển nông nghiệp theo hướng bền

Trang 5

vững ở các tỉnh vùng Trung du miền núi phía Bắc dến năm 2020 127

4.3.1 Đối với ngành trồng trọt 128

4.3.2 Đối với ngành chăn nuôi 129

4.3.3 Đối với ngành lâm nghiệp 130

4.3.4 Đối với ngành thuỷ sản 131

4.4 Những giải pháp chủ yếu phát triển nông nghiệp ở các tỉnh vùng Trung du miền núi phía Bắc theo hướng bền vững đến năm 2020 132

4.4.1 Tập trung làm tốt công tác quy hoạch phát triển nông nghiệp trên địa bàn toàn vùng cũng như ở từng địa phương trong vùng 132

4.4.2 Xây dựng các vùng chuyên canh sản xuất hàng hoá ở các tỉnh hoặc liên tỉnh có lợi thế 133

4.4.3 Xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho phát triển sản xuất của toàn vùng, cũng như của từng tỉnh trong vùng 136

4.4.4 Lựa chọn hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp phù hợp với điều kiện và đặc điểm của vùng Trung du miền núi phía Bắc 137

4.4.5 Lựa chọn phương thức canh tác phù hợp với điều kiện của vùng Trung du miền núi phía Bắc nói chung, của từng tỉnh trong vùng nỏi riêng 139

4.4.6 Ứng dụng các tiến bộ mới của khoa học và công nghệ vào sản xuất nông nghiệp của các địa phương trong vùng 141

4.4.7 Đầu tư thoả đáng cho việc đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực phục vụ sản xuất nông nghiệp của vùng 143

4.4.8 Đầu tư phát triển các loại dịch vụ hỗ trợ phát triển nông nghiệp 145

4.4.9 Mở rộng thị trường tiêu thụ các loại nông sản hàng hoá do người dân trong vùng làm ra 147

4.4.10 Giải quyết có hiệu quả vấn đề an sinh xã hội cho người nông dân 148

4.4.11 Mạnh dạn điều chỉnh một số chính sách đối với vùng dân tộc miền núi nói chung với sản xuất nông nghiệp nói riêng 150

KẾT LUẬN 152

CÁC CÔNG TRÌNH TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 154

TÀI LIỆU THAM KHẢO 155

Trang 6

PHỤ LỤC 159

BẢNG CHỮ VIẾT TẮT

EU Cộng đồng Châu Âu

IUNC Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên Quốc tế

FAO Tổ chức lương thực và nông nghiệp của Liên Hợp Quốc

GDP Tổng sản phẩm quốc nội

LD Lao động

NCS Nghiên cứu sinh

UNDP Chương trình phát triển Liên hợp quốc

VNĐ Việt Nam Đồng

XB Xuất bản

WCED Hội ðồng thế giới về môi trýờng và phát triển của Liên hợp Quốc

Trang 7

DANH MỤC BẢNGBảng 2.1: Vị thế của hàng nông sản Hà Lan trên thị trường thế giới 47 Bảng 3.1: Khái quát tình hình cơ bản của các địa phương vùng Trung du miền

núi phía Bắc năm 2012 68

Bảng 3.2: Năng suất, sản lượng lúa của các địa phương vùng Trung du và

Miền núi phía Bắc giai đoạn 2000- 2012 74

Bảng 3.3: Năng suất và sản lượng ngô của các địa phương vùng Trung du và

Miền núi phía Bắc giai đoạn 2000- 2012 76

Bảng 3.4: Lượng lương thực có hạt tính bình quân đầu người của vùng Trung

du miền núi phía Bắc giai đoạn 2000-2012 78

Bảng 3.5: Giá trị sản phẩm trồng trọt thu được trên 1 ha đất trồng trọt của các

tỉnh vùng Trung du miền núi phía Bắc 82

Bảng 3.6: Thực trạng phát triển ngành chăn nuôi các tỉnh vùng Trung du miền

núi phía Bắc giai đoạn 2000-2012 84

Bảng 3.7: Giá trị sản xuất thuỷ sản của các tỉnh vùng Trung du và Miền núi

phía Bắc giai đoạn 2000-2010 (giá 1994) 92

Bảng 3.8: Thực trạng tổ chức sản xuất Nông nghiệp của vùng Trung du miền

núi phía Bắc 94

Bảng 3.9: Năng suất, sản lượng lúa và ngô vùng Trung du miền núi phía Bắc

giai đoạn 2000-2012 97

Bảng 3.10: Giá trí sản phẩm trồng trọt và nuôi trồng thủy sản tính trên một ha

của các địa phương vùng Trung du miền núi phía Bắc giai đoạn2008-2011 98

Bảng 3.11: Giá trị sản xuất lâm nghiệp tính trên 1 ha của các tỉnh vùng Trung

du miền núi phía Bắc năm 2010 102

Bảng 3.12: Thu nhập bình quân đầu người 1 tháng của các địa phương vùng

Trung du miền núi phía Bắc 104

Bảng 3.13: Tỷ lệ hộ nghèo ở các địa phương vùng Trung du và Miền núi phía

Bắc từ năm 2006-2011 105

Bảng 3.14: Kết quả phát triển giáo dục và đào tạo của vùng Trung du và Miền

núi phía Bắc giai đoạn 2000-2012 106

Bảng 3.15: Diện tích rừng bị cháy ở các tỉnh Trung du và Miền núi phía Bắc

giai đoạn 2000-2012 112

Trang 8

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1 : Ba trụ cột của phát triển bền vững 29 Hình 3.1: Diện tích các tỉnh vùng Trung du miền núi phía Bắc 66 Hình 3.2 : Giá trị sản xuất nông- lâm- thuỷ sản vùng Trung du và Miền núi

phía Bắc giai đoạn 2000-2010 72

Hình 3.3: Giá trị sản xuất lâm nghiệp của các tỉnh vùng Trung du và Miền

núi phía Bắc giai đoạn 2000-2012 - (giá nă m

1994 - năm 2012 theo giá 2010) 91

Hình 3.4: Giá trị sản xuất nông nghiệp vùng Trung du Miền núi phía Bắc giai

vùng trong cả nước năm 2008 - 2011 101

Hình 3.8: Cơ cấu sản xuất nông nghiệp vùng Trung du và Miền núi Phía Bắc

giai đoạn 2000-2010 103

Trang 9

LỜI NÓI ĐẦU1- Tính cấp thiết của đề tài

Trung du miền núi phía Bắc là vùng có núi non hùng vĩ nhất Việt Nam, là nơi

có đông đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sống nhất đất nước (35/54 dân tộc) và cũng

là nơi có đường biên giới trên bộ rất dài với hai nước: Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa(trên 1500 km) và Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào (560 km) Chính vì vậy, Trung dumiền núi phía Bắc là địa bàn có vị trí đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội,gìn giữ môi trường và bảo đảm an ninh quốc phòng của đất nước

Thấy rõ vị trí quan trọng của vùng Trung du miền núi phía Bắc trong sựnghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, nên trong những năm vừa qua, đặc biệt là từ khithực hiện đường lối đổi mới đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam và Chính phủ ViệtNam luôn quan tâm đến việc đầu tư phát triển mọi mặt đối với vùng này Nhờ đó,kinh tế của toàn vùng đã có sự phát triển khá nhanh; đời sống vật chất và tinh thầncủa đồng bào các dân tộc sinh sống trong vùng đã có sự cải thiện đáng kể, đặc biệt

là các mặt: ăn, ở, đi lại, học tập, điện, nước sinh hoạt và nghe nhìn; an ninh quốcphòng trên địa bàn cơ bản được giữ vững

Song do là vùng núi cao, địa hình bị chia cắt phức tạp, cơ sở hạ tầng thấp kém,dân cư sống phân tán và trình độ dân trí còn quá thấp, nên kinh tế của vùng dù đã cóphát triển khá, nhiều lĩnh vực sản xuất kinh doanh mới được hình thành và pháttriển, đáng chú ý là các ngành công nghiệp, thương mại và dịch vụ, nhưng ngànhsản xuất rộng lớn nhất, quan trọng nhất vẫn là ngành nông nghiệp Sản xuất nôngnghiệp, trong đó quan trọng nhất là các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi và lâmnghiệp vẫn là lĩnh vực chính giải quyết việc làm, thu nhập và bảo đảm đời sống chođại bộ phận lao động và dân cư trong vùng

Tuy nhiên, hiện tại sản xuất nông nghiệp của vùng Trung du miền núi phía Bắcđang đứng trước những thách thức hết sức nghiêm trọng trong sự phát triển, đó là:

- Thứ nhất, đất sản xuất nông nghiệp ít, chỉ có 1.570.600 ha, chiếm 15,13%

diện tích đất sản xuất nông nghiệp của cả nước, nhưng phân bố rất phân tán trên

Trang 10

nhiều cấp độ địa hình khác nhau và độ màu mỡ của đất khá thấp Điều đáng nói làdiện tích đất sản xuất nông nghiệp của vùng không ngừng bị suy giảm về số lượng

do việc chuyển đổi mục đích sử dụng (phát triển công nghiệp, nhất là thuỷ điện,khai thác hầm mỏ; phát triển thương mại, du lịch, dịch vụ và phát triển đô thị), vàsuy giảm về chất lượng do bị xói mòn và rửa trôi vì mưa lũ tác động

- Thứ hai, vùng Trung du miền núi phía Bắc có diện tích đất lâm nghiệp lớn

nhất trong các vùng của cả nước (5.662.700 ha, chiếm 34,79% diện tích đất lâmnghiệp của cả nước) Rừng của vùng Trung du miền núi phía Bắc không chỉ là nơibảo vệ nguồn đất, nguồn nước, điều hoà khí hậu cho vùng này, mà còn cho cả vùngĐồng bằng Bắc bộ Thế nhưng, điều hết sức đáng quan ngại là diện tích rừng củavùng bị giảm hết sức nhanh trong những năm gần đây, có tỉnh như Sơn La độ chephủ của rừng chỉ còn trên 10%

- Thứ ba, Trung du miền núi phía Bắc là vùng có nguồn tài nguyên nước rất

phong phú (sông, suối, ao, hồ nhiều), song do việc sử dụng không hợp lý nên hiệnnay nguồn nước phục vụ cho sản xuất nông nghiệp trên địa bàn đang hết sức khókhăn Nguồn tài nguyên nước trên địa bàn ngày càng cạn kiệt và ô nhiễm nặng

- Thứ tư, do nhiều lý do khách quan và chủ quan mang lại, như: phát triển theo

chiều rộng, chạy theo lợi ích trước mắt, hiểu biết hạn chế v.v nên trong sản xuấtnông nghiệp, người dân đã dùng các loại phân hoá học, các loại thuốc bảo vệ thựcvật cho các loại cây trồng, các loại thuốc phòng trừ dịch bệnh cho các loài vật nuôi,các loại hoá chất trong bảo vệ, cất trữ nông sản.v.v không đúng quy định đã làmcho đất đai, nguồn nước của vùng bị ô nhiễm và huỷ hoại khá nặng, ảnh hưởng lớnđến sản xuất nông nghiệp của vùng trong tương lai

- Thứ năm, cùng với sự thấp kém, sự lạc hậu của kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội

toàn vùng nói chung, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ sản xuất nông nghiệp củavùng nói riêng, thì điều hết sức đáng lo ngại của nông nghiệp vùng này là phươngthức sản xuất còn hết sức lạc hậu Tổ chức theo hộ gia đình và dựa trên phương thứcquảng canh là chính

- Thứ sáu, hoạt động sản xuất nông nghiệp của vùng dựa vào sức lao động của

Trang 11

con người là chính, song người lao động ở trình độ mọi mặt, nhất là trình độ hiểubiết về khoa học kỹ thuật nông nghiệp khá hạn chế, thu nhập và đời sống tuy có kháhơn trước, những vẫn thuộc loại thấp nhất trong cả nước.

- Thứ bảy, vùng có biên giới chung với Trung Quốc trên 1500 km, một thị

trường có trên 1,3 tỷ người là một lợi thế không nhỏ trong việc tiêu thụ các loạinông sản làm ra Tuy nhiên, Trung Quốc là một thị trường hết sức phức tạp, sức épcủa họ đối với sự phát triển nông nghiệp của vùng là hoàn toàn không nhỏ, nhất làtrong tương lai

Những khó khăn, thách thức nêu trên cho thấy nếu cứ tiếp tục duy trì phươngthức phát triển nông nghiệp vùng Trung du miền núi phía Bắc như hiện nay chắcchắn sẽ mang lại cho vùng nói riêng và đất nước nói chung những hậu quả hết sứcnghiêm trọng về nhiều mặt

Xuất phát từ đó, NCS chọn vấn đề “Phát triển nông nghiệp các tỉnh Trung du miền núi phía Bắc việt Nam theo hướng bền vững” làm đề tài luận án Tiến sĩ kinh tế

Mục tiêu cụ thể:

- Trình bày rõ lý luận về phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững.

- Phân tích, đánh giá đúng thực trạng phát triển nông nghiệp theo hướng bềnvững ở các tỉnh Trung du miền núi phía Bắc Việt Nam thời gian qua

- Đề xuất quan điểm, định hướng và giải pháp chủ yếu thúc đẩy nông nghiệp

Trang 12

các tỉnh Trung du miền núi phía Bắc Việt Nam phát triển theo hướng bền vững tớinăm 2020.

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là phát triển nông nghiệp theo hướng bềnvững Trong đó, nông nghiệp được hiểu theo nghĩa rộng là gồm: nông nghiệp, lâmnghiệp và thuỷ sản Tuy nhiên, do điều kiện của vùng Trung du miền núi phía BắcViệt Nam diện tích mặt nước không nhiều, ngành thuỷ sản có vị trí khá hạn chế, nênluận án tập trung nghiên cứu các hoạt động thuộc lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi vàlâm nghiệp là chính

Phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững được hiểu là sản xuất nông nghiệpphù hợp với điều kiện tự nhiên của vùng, đạt hiệu quả cao, mang lại thu nhập tốt chongười lao động và bảo vệ được môi trường sinh thái Tuy nhiên, do những hạn chế vềliệu, nên mảng xã hội và môi trường luận án cũng chỉ có thể đề cập được ở một mức độnhất định, không thể bảo đảm như những gì lý luận đã nêu ra

Về phạm vi không gian: luận án tiến hành nghiên cứu ở 14 tỉnh của vùng (có

so sánh với các vùng khác trong nước) Trong nghiên cứu, Luận án nghiên cứu pháttriển nông nghiệp theo hướng bền vững của toàn vùng Trung du miền núi phía Bắc

và nhìn từ khía cạnh của kinh tế phát triển, không nghiên cứu sâu từng địa phươngcũng như từng sản phẩm cụ thể

Về phạm vi thời gian: luận án tiến hành nghiên cứu, đánh giá thực trạng pháttriển nông nghiệp ở các tỉnh Trung du miền núi phía Bắc trong giai đoạn 2000-2012

và về đề xuất các giải pháp nâng cao tính bền vững của nông nghiệp cho vùng đếnđến năm 2020

4- Về cách tiếp cận và các phương pháp nghiên cứu.

Cách tiếp cận nghiên cứu:

Để giải quyết thành công các mục tiêu và nội dung nghiên cứu đã đề ra, NCS

sử dụng các cách tiếp cận nghiên cứu sau đây:

- Thứ nhất, đi từ lý luận đến thực tiễn Tức là từ khái niệm, nội dung, các tiêu

Trang 13

chí đánh giá về phát triển nông nghiệp đã được các Nhà khoa học đúc kết và đượccộng đồng quốc tế thừa nhận, tiến hành xem xét, đánh giá thực trạng phát triển nôngnghiệp theo hướng bền vững của các tỉnh Trung du miền núi phía Bắc Việt Nam, rút

ra những mặt thành công cũng như những mặt còn hạn chế và nguyên nhân chủ yếucủa thực trạng đó Từ đó có được những đề xuất có cơ sở khoa học, có tính khả thicho việc phát triển nông nghiệp của vùng theo hướng bền vững trong giai đoạn tới

- Thứ hai, đi từ vĩ mô đến vi mô Tức là xuất phát từ các chủ trương, chính

sách của Đảng cộng sản Việt Nam và Chính phủ Việt Nam về phát triển nôngnghiệp theo hướng bền vững để xem xét, đánh giá việc triển khai thực hiện của cácđịa phương, các cơ sở sản xuất và người dân như thế nào

- Thứ ba, đi từ thực tiễn tới lý luận, từ vi mô đến vĩ mô Tức là từ thực tiễn

phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững của các địa phương vùng Trung dumiền núi phía Bắc Việt Nam có thể đúc kết thành một số vấn đề để bổ sung cho lýluận về phát triển bền vững nông nghiệp nói chung, cũng như bổ sung, hoàn thiệncác chủ trương, chính sách của Đảng và Chính phủ đối với vấn đề này

- Thứ tư, tiếp cận theo hướng liên ngảnh và liên vùng Tức là nghiên cứu phát

triển nông nghiệp theo hướng bền vững ở các tỉnh vùng Trung du miền núi phía Bắcphải được thực hiện trong mối quan hệ chặt chẽ với các ngành, các lĩnh vực kháctrên địa bàn, cũng như với các vùng khác trong cả nước

- Thứ năm, tiếp cận theo hướng hệ thống là cách nhìn nhận vấn đề qua cấu trúc

hệ thống, thứ bậc và động lực của chúng, đó là một tiếp cận toàn diện và động Tiếpcận này giúp cho việc phân tích mối quan hệ biện chứng giữa các thành tố trongphát triển bền vững bao gồm kinh tế, xã hội và môi trường

- Thứ sáu, tiếp cận thể chế, tiếp cận này góp phần cho việc phân tích việc thực

thi các chính sách, quy định của chính phủ từ đó xác định được các giải pháp phùhợp với đặc điểm riêng của vùng trung du miền núi phía Bắc, tạo được động lực chophát triển

- Phương pháp nghiên cứu

Trang 14

Những phương pháp nghiên cứu chính được sử dụng trong luận án bao gồm:

- Phương pháp thu thập số liệu:

+ Thu thập số liệu thông qua các tài liệu, báo cáo: Đây là các số liệu được

thu thập qua các niêm giám thống kê, các báo cáo của các tỉnh trung du miền núiphía Bắc Việt Nam và các nghiên cứu liên quan đã được triển khai trên địa bàn

+ Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế: Để có cơ sở vững chắc cho việc

phân tích, đánh giá đúng thực trạng phát triển nông nghiệp theo hướng bền vữngcủa các tỉnh Trung du miền núi phía Bắc, từ đó có thể đề xuất được một số kiếnnghị có cơ sở khoa học cho quá trình phát triển này trong tương lai, NCS đã tiếnhành khảo sát thực tế tại một số địa bàn trong vùng có sự nổi trội trong phát triểnnông nghiệp

+ Phương pháp chuyên gia: Đây là hình thức thu thập thông tin thông qua

việc tham khảo ý kiến của các nhà Khoa học, nhà Quản lý am hiểu về vấn nghiêncứu, cụ thể:

 NCS đã gặp gỡ, trao đổi với một số đồng chí lãnh đạo Sở Nông nghiệp vàPhát triển Nông thôn một số địa phương trong vùng như: Sở Nông nghiệp vàPhát triển Nông thôn Phú Thọ, Tỉnh Bắc Giang, Thái Nguyên, Sơn La vềthực trạng phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững của địa phương họtrong thời gian qua và những dự định cho tương lai về vấn đề này

 NCS cũng đã đến một số huyện có những sản phẩm nông nghiệp đặc sản vàtrong thực tiễn họ đã phát triển các sản phẩm đó khá tốt như: huyện Lục Ngạntỉnh Bắc Giang (trồng Vải); huyện Bắc Quang tỉnh Hà Giang (trồng Cam);huyện Mộc Châu tỉnh Sơn La (nuôi bò, trồng hoa); huyện Sa Pa tỉnh Lào Cai(trồng Hoa, nuôi cá Hồi, cá Tầm) v.v để tìm hiểu thực tế khai thác các lợi thếtrong phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững của các địa phương này

 NCS cũng đã gặp gỡ, xin ý kiến của một số nhà khoa học, nhà quản lý amhiểu về phát triển bền vững đặc biệt là phát triển nông nghiệp bền vững ở Bộ

Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, trường Đại

Trang 15

học Nông nghiệp Hà Nội, Đại học Kinh tế Quốc dân v.v Về các vấn đề cóliên quan đến luận án của mình.

+ Phương pháp phân tích cây vấn đề và phân tích SWOT (điểm mạnh, điểm

yếu, cơ hội và thách thức) Phương pháp phân tích cây vấn đề giúp cho NCS phântích được gốc rễ của vấn đề ảnh hưởng đến PTBV tại các tỉnh trung du miền núiphía Bắc Phân tích SWOT, giúp cho NCS phân tích được cụ thể về điểm mạnh,điểm yếu, cơ hội và thách thức từ đó đưa ra được những giải pháp phù hợp với điềukiện của đặc thù của vùng

- Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu: Luận án đã tổng hợp các lý luận, các

nghiên cứu có liên quan đến phát triển bền vững, phát triển nông nghiệp theo hướngbền vững nói chung, phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững đối với các tỉnhvùng Trung du miền núi phía Bắc Việt Nam nói riêng Phương pháp tổng hợp cònđược sử dụng trong việc thu thập và xử lý các tài liệu thực tiễn có liên quan đến nộidung nghiên cứu của luận án

Việc tổng hợp các tư liệu được triển khai theo nhiều bước:

+ Tìm kiếm, tổng hợp các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học, các tổchức quốc tế trên thế giới nói về phát triển bền vững đối với một quốc gia, mộtvùng lãnh thổ, hoặc một ngành, một lĩnh vực kinh tế cụ thể

+ Sưu tầm các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học, các nhà quản lý,các Viện Nghiên cứu, các trường đại học ở Việt Nam đã được xuất bản nói về pháttriển bền vững kinh tế - xã hội của đất nước nói chung hoặc phát triển bền vững đốivới một vùng, một ngành hoặc một lĩnh vực nào đó nói riêng

+ Sưu tầm các luận án tiến sĩ, luận văn thạc sỹ đã nghiên cứu đề cập đến cácvấn đề có liên quan đến phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững ở các địaphương vùng Trung du miền núi phía Bắc (phát triển các loại cây trồng, vật nuôi có

ưu thế, phương thức tổ chức sản xuất nông nghiệp, đào tạo, bồi dưỡng kiến thức chongười nông dân v.v.)

+ Tập hợp số liệu thống kê về phát triển nông nghiệp của cả nước nói chung

Trang 16

của từng tỉnh trên địa bàn vùng Trung du miền núi phía Bắc nói riêng Ngoài ra,NCS cũng đã cố gắng đến một số huyện trong vùng để thu thập một số tư liệu vềphát triển nông nghiệp để phục vụ cho việc nghiên cứu, viết luận án.

- Phương pháp phân tích số liệu:

+ Phương pháp biện chứng: Đây là phương pháp được sử dụng xuyên suốt

luận án, đặc biệt khi phân tích về tác động qua lại giữa lĩnh vực kinh tế-xã hội vàmôi trường trong quá trình phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững, cũng nhưtác động của việc đầu tư các nguồn lực đến quá trình phát triển đó Mặt khác cáctỉnh vùng trung du miền núi phía Bắc có quan hệ mật thiết với các tỉnh vùng đồngbằng sông Hồng và các tỉnh phía Nam của nước CHND Trung Hoa, các tỉnh phíaBắc của nước CHDNND Lào, nên cũng phải phân tích để thấy được tác động qualại trong phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững của vùng này với các vùngphía trên như thế nào, từ đó có được những giải pháp hợp lý cho tương lai

+ Phương pháp so sánh, lịch sử: Quá trình phát triển nông nghiệp của các tỉnh

Trung du miền núi phía Bắc theo hướng bền vững không chỉ được phân tích, sosánh, đối chiếu qua từng giai đoạn phát triển của bản thân vùng này, mà còn được

so sánh với các địa phương, các vùng khác trong cả nước

5- Những đóng góp chủ yếu của luận án

- Luận án đã hệ thống hoá và làm rõ các khái niệm có liên quan đến phát triển

bền vững nông nghiệp, đặc biệt là khái niệm, nội dung và các chỉ tiêu chủ yếu đánhgiá Trên cơ sở đó đã xây dựng được khung lý luận cho việc nghiên cứu thực trạngphát triển nông nghiệp theo hướng bền vững ở các tỉnh Trung du miền núi phía BắcViệt Nam

- Đã vận dụng khung lý luận được xây dựng đánh giá đúng thực trạng pháttriển nông nghiệp theo hướng bền vững ở các tỉnh Trung du miền núi phía Bắc ViệtNam giai đoạn từ năm 2000 đến nay

- Trên cơ sở dự báo bối cảnh trong nước và quốc tế có thể tác động đến phát

Trang 17

triển nông nghiệp các tỉnh Trung du miền núi phía Bắc theo hướng bền vững giaiđoạn từ nay đến năm 2020, luận án đã đưa ra hệ thống quan điểm, định hướng vàgiải pháp nhằm đẩy nhanh quá trình phát triển theo hướng bền vững của nôngnghiệp vùng này.

Chương 4: Giải pháp nâng cao tính bền vững đối với phát triển nông nghiệp ởcác tỉnh Trung du miền núi phía Bắc Việt nam đến năm 2020

Trang 18

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

Vào những năm cuối của thế kỷ XX, do sự bùng nổ về dân số, sự phát triểnvượt bậc về kinh tế, nên con người khai thác và sử dụng quá mức làm cạn kiệt cácnguồn tài nguyên, huỷ hoại môi trường đến mức báo động Trước thực trạng đó,phạm trù phát triển bền vững được ra đời Phạm trù phát triển bền vững xuất hiệnlần đầu tiên vào năm 1980 trong ấn phẩm “Chiến lược bảo tồn thế giới” được công

bố bởi Hiệp hội Bảo tồn thiên nhiên và Tài nguyên thiên nhiên Quốc tế (IUCN) vớinội dung là:

“ Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học”.

Bắt đầu từ đó, phát triển bền vũng của một quốc gia nói chung, của từngngành, từng lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực nông nghiệp, lĩnh vực có liên quan mậtthiết đến các nguồn tài nguyên thiên nhiên như: đất đai, nguồn nước, rừng và biển

và liên quan đến cuộc sống của con người nói riêng, đã được nhiều tổ chức, cácviện nghiên cứu, các trường đại học, các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu vàđưa vào ứng dụng trong thực tiễn cuộc sống Dưới đây là một số nghiên cứu đángquan tâm của thế giới và trong nước có liên quan đến vấn đề này:

1.1 Những nghiên cứu của thế giới

1-Robert Goodland, George Ledec đã có công trình nghiên cứu: Neoclasical

economics and Principles of sustainable Development, Elsevier B.V, USA-1987,nghiên cứu về chuyển đổi các mô hình kinh tế-xã hội từ chủ yếu dựa vào khai thác,

sử dụng quá mức các nguồn tài nguyên thiên nhiên sang mô hình kinh tế xã hội pháttriển bền vững, vừa bảo đảm đáp ứng được sự phát triển hiện tại của xã hội loàingười, vừa tạo ra được cơ sở phát triển cho các thế hệ tương lai [40]

Trang 19

2- Sudhir Anand và Amartya Sen, trong công trình nghiên cứu: Phát triển bềnvững: Khái niệm và các ưu tiên, do UNDP công bố tại New York, January 1996cũng đã khẳng định rằng: Phát triển bền vững cần được hiểu một cách toàn diện,đầy đủ trên cả ba khía cạnh là, tăng trưởng kinh tế ổn định, thực hiện tốt tiến bộ vàcông bằng xã hội, khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả các nguồn tàinguyên thiên nhiên và nâng cao chất lượng môi trường sống Để bảo đảm phát triểnbền vững các tác giả cũng đã đưa ra nhiều điều cần lưu ý, trong đó đáng quan tâmlà: Sử dụng hợp lý đất đai, bảo về rừng và nguồn tài nguyên nước, tiết kiệm nănglượng và giảm nghèo, thực hiện công bằng xã hội [41]

3- Dakley, Peter et al trong nghiên cứu: Projects with People: The Practice ofParticipation in Rural Development, Geneva: International Labour Offic, đã nêu rõ:muốn phát triển kinh tế xã hội nông thôn nhanh, theo hướng hiện đại, con đườngđúng nhất là phải phát triển theo hướng bền vững, tức là phải kết hợp hài hoà trongviệc sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên với nguồn lực con người Trong đó,nghiên cứu cho rằng việc để người nông dân tham gia vào thực thi, cũng như kiểmtra, giám sát các chương trình, dự án phát triển nông thôn là yếu tố cực kỳ quantrọng cho sự phát triển bền vững của khu vực này [42]

4- Frank Ellis (1995) đã có công trình nghiên cứu: Chính sách nông nghiệptrong các nước đang phát triển, Nhà xuất bản Nông nghiệp ấn hành, đã phân tíchkhá toàn diện những mặt tích cực cũng như những mặt còn hạn chế trong chínhsách phát triển nông nghiệp của các nước đáng phát triển, đặc biệt là những mặtcòn hạn chế Do muốn phát triển mạnh, muốn nhanh chóng nâng cao mức sốngcủa người dân, nhất là về tiêu thụ lương thực và thực phẩm, các nước này thườngvấp phải sai lầm là khai thác một cách quá mức các nguồn tài nguyên thiên nhiên

và sử dụng quá mức các loại phân hoá học, các loại thuốc phòng trừ sâu bệnh vàdịch bệnh, các loại hoá chất kích thích cây trồng phát triển, gia súc gia cầm tăngtrọng, cũng như bảo quản các loại nông sản đã sản xuất ra Hậu quả là môi trườngsinh thái và môi trường sống của con người bị huỷ hoại Xuất phát từ đó FrankEllis khuyên các nước đang phát triển nên nhanh chóng điều chỉnh lại chính sách

Trang 20

phát triển nông nghiệp, trong đó quan trọng là nên phát triển nông nghiệp theohướng bền vững [45]

5-World Bank (1998) trong nghiên cứu: Agriculture and Environment,Perspectives on Sustainable Rural Development, Ernst Lutz cũng đã khuyến cáo vớicác quốc gia, nhất là các quốc gia đang phát triển rằng: Trong quá trình phát triểnkinh tế xã hội ở khu vực nông thôn, phải đặc biệt coi trọng việc gắn kết hài hoà giữaphát triển sản xuất với gìn giữ và bảo vệ môi trường, nhất là môi trường đất, môitrường nước, môi trường không khí và môi trường rừng Các quốc gia chỉ có thể đạtđược sự thành công trong phát triển kinh tế-xã hội khu vực nông thôn khi và chỉ khi

đi theo hướng phát triển bền vững [44]

6-World Bank (2003): Phát triển bền vững trong một thế giới năng động, thayđổi thể chế, tăng trưởng và chất lượng cuộc sống Công trình nghiên cứu này đã chỉ

ra rằng, trong thời đại ngày nay, thời đại khoa học và công nghệ phát triển hết sứcnhanh chóng và toàn cầu hoá là một xu thế phát triển khách quan, xu thế tất yếu, cácquốc gia muốn phát triển nhanh, muốn không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sốngcủa người dân, con đường duy nhất là phải phát triển bền vững [45]

1.2 Các nghiên cứu trong nước

Quan điểm phát triển bền vững kinh tế xã hội nói chung, phát triển bền vữngtừng ngành, từng lĩnh vực cụ thể nói riêng đã đi vào Việt Nam khá sớm và đã đượcĐảng Cộng sản Việt Nam, Chính phủ Việt Nam, các Nhà khoa học Việt Nam cũngnhư các ngành, các địa phương ở Việt Nam tiếp nhận, nghiên cứu và triển khai ứngdụng khá nhanh Đã có nhiều Hội nghị, Hội thảo, nhiều Chủ trương, Chính sách vànhiều công trình nghiên cứu về phát triển bền vững đất nước nói chung, phát triểnbền vững nông nghiệp nói riêng được thực hiện ở Việt Nam trong thời gian qua.Dưới đây là một số nghiên cứu tiêu biểu:

1- Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam: Định hướng chiến lược phát triểnbền vững ở Việt Nam Đây có thể coi là tuyên ngôn của Việt Nam về phát triển bềnvững đất nước giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2020 Trên cơ sở thấy rõ sự cần thiết

Trang 21

phải phát triển đất nước theo hướng bền vững, Chiến lược này đã đưa ra những địnhhướng cơ bản về sử dụng các nguồn lực (các nguồn tài nguyên thiên nhiên, nguồnlực con người, nguồn lực khoa học-công nghệ ) để phát triển nhanh và có hiệu quảnền kinh tế, nâng cao thu nhập cho người lao động, thực hiện ngày càng tốt hơn sựcông bằng và dân chủ xã hội, gìn giữ và bảo vệ tốt môi trường sinh thái [8]

2- Hội nghị Quốc gia về phát triển bền vững: Diễn đàn “Phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững” Hà Nội, tháng 12/2004 Diễn đàn này đã chỉ rõ sự

cần thiết phải phát triển nông nghiệp và nông thôn Việt Nam bền vững, theo hướng:Phải bảo vệ và sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên đất và nước phục vụ sản xuấtnông nghiệp, phải đẩy mạnh việc trồng rừng và bảo vệ rừng, phải khai thác hợp lý cácnguồn lợi thuỷ hải sản, phải bảo tồn và phát triển đa dạng sinh học và phải kiểm soátchặt chẽ việt sử dụng các loại hoá chất trong sản xuất nông nghiệp, cũng như phải quantâm đúng mức đến xây dựng và hiện đại hoá kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội nông thôn,đến việc giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao động, thực hiện dân chủ

và công bằng xã hội đối với mọi tầng lớp dân cư trên địa bàn [18]

3- Nguyễn Quang Thái, Ngô Thắng Lợi “Phát triển bền vững ở Việt Nam”.

Nhà xuất bản Xã hội, HN 2007 Công trình này đã đưa ra các quan niệm về pháttriển bền vững, đặc biệt đã đi sâu phân tích sự những kết quả bước đầu, cũng nhưnhững mặt còn hạn chế của Việt Nam trong phát triển bền vững trên cả ba phươngdiện: Kinh tế, xã hội và môi trường Trên cơ sở đó công trình nghiên cứu cũng đãkhuyến nghị các chính sách và giải pháp ở tầm vĩ mô nhằm thực hiện tốt hơn vấn đềphát triển bền vững ở Việt Nam trong những năm tiếp theo [22]

4-TS Đinh Văn Ân: “Quan niệm và thực tiễn phát triển kinh tế-xã hội tốc độ nhanh, bền vững, chất lượng cao ở Việt Nam” Nhà xuất bản Thống kê, HN 2005.

Công trình nghiên cứu này đã hệ thống hoá và đưa ra quan niệm về phát triển bềnvững kinh tế-xã hội của một quốc gia Trên cơ sở đó, công trình đã đi sâu nghiêncứu, phân tích thực trạng phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam những năm đã qua,chỉ ra những gì là phù hợp với phát triển bền vững, cái gì là chưa phù hợp, thậm chí

đi ngược lại với phát triển bền vững, và kiến nghị các giải pháp nhằm phát huy

Trang 22

những mặt tốt và khắc phục những mặt còn hạn chế để giúp kinh tế-xã hội ViệtNam phát triển ngày càng bền vững hơn [2]

5- PGS.TS Bùi Tất Thắng: “Phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế Việt Nam (thời kỳ 2011-2020)” Nhà XB Khoa học Xã hội, Hà Nội 2010 Công trình

nghiên cứu này đã tập trung phân tích các lý thuyết về phát triển nhanh và bền vữngcủa các học giả trên thế giới Trên cơ sở đó đã đưa ra khái niệm về phát triển nhanh

và bền vững cũng như các tiêu chí đánh giá đối với nó có cơ sở khoa học và phùhợp với Việt Nam Từ đó công trình đã đi sâu phân tích, đánh giá quá trình pháttriển nền kinh tế Việt Nam trong những năm vừa qua, chỉ ra những mặt phát triểnđúng, phù hợp với xu thế của thời đại, cũng như những mặt còn yếu kém, chưa phùhợp với các tiêu chí bền vững cần quan tâm khắc phục Công trình nghiên cứu cũng

đã đề xuất nhiều cơ chế, chính sách và giải pháp ở tầm vĩ mô nhằm giúp nền kinh tếViệt Nam có thể phát triển nhanh và bền vững trong giai đoạn từ 2011-2020 [31]

6- Ngô Thắng Lợi: "Phát triển bền vững vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ đến năm 2020" Đề tài nghiên cứu khoa học trọng điểm cấp bộ, Hà Nội 2010.1

Nhờ sự quan tâm của Đảng và Chính phủ, sự nỗ lực to lớn của các địa phươngtrên địa bàn, thời gian qua vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ đã có sự phát triển khátốt, nhất là trên các mặt: Tốc độ tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, mạng lướikết cấu hạ tầng và thu hút vốn đầu tư Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ đã trở thànhtrung tâm kinh tế - chính trị - khoa học kỹ thuật, cung cấp dịch vụ cho khu vực phíabắc và cả nước

Tuy vậy, sự phát triển của vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ còn bộc lộ nhiềuyếu kém và hạn chế đứng trên góc độ phát triển bền vững

Đề tài đã tập trung phân tích sự chưa bền vững trong phát triển của vùng trêncác khía cạnh: Tăng trưởng của các ngành, các lĩnh vực kinh tế, cơ cấu kinh tế vùngtheo ngành, theo thành phần kinh tế, theo từng địa phương, việc phát triển các

1 Công trình nghiên cứu này đã cho thấy: Theo quyết định số 147/TTg ngày 11-9-1997,vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ được xác định gồm 5 tỉnh, thành phố là: Hà Nội, HảiPhòng, Quảng Ninh, Hải Dương, Hưng Yên Đến năm 2004, theo quyết định145/2004/QĐ-TTg vùng có thêm 3 tỉnh nửa là: Hà Tây, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc

Trang 23

ngành các lĩnh vực kinh tế có hàm lượng công nghiệp cao, việc toàn dụng lao độngđời sống của người dân và vấn đề ô nhiễm môi trường.

Từ thực trạng đó, đề tài đã kiến nghị nhiều chính sách và giải pháp nhằm pháthuy lợi thế của vùng và khắc phục những hạn chế, yếu kém còn đang tồn tại bảođảm cho vùng phát triển nhanh hơn, mạnh hơn và bền vững hơn [21]

7-Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2000) : “Chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá thời kỳ 2001-2010”.

Trong chiến lược này, Bộ đã đưa ra những định hướng chủ yếu, cũng như nhữngchính sách và giải pháp cơ bản nhằm sử dụng hợp lý, có hiệu quả các nguồn lực,đặc biệt là đất đai, nguồn nước, rừng, biển, vốn, lao động, khoa học và công nghệ nhằmphát triển nhanh , theo hướng bền vững nông nghiệp và nông thôn nước ta, từ đó tạođiều kiện thuận lợi thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá của đất nước [7]

8- Hà Ban: “Thách thức và triển vọng phát triển bền vững nông nghiệp và nông thôn tỉnh Kon Tum”, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 11/2007 Công trình nghiên cứu

này đã hệ thống hoá một số vấn đề lý luận về phát triển bền vững nói chung, pháttriển bền vững nông nghiệp và nông thôn nói riêng, từ đó vận dụng vào phân tíchthực trạng phát triển nông nghiệp, nông thôn tỉnh Kon Tum trong thời gian trước

đó, chỉ ra những thành công cũng như những mặt còn hạn chế trong phát triển hailĩnh vực này theo hướng bền vững Trên cơ sở đó, công trình nghiên cứu đã đề xuấtcác cơ chế, chính sách và giải pháp nhằm tạo điều kiện cho nông nghiệp, nông thôntỉnh Kon Tum phát triển theo hướng bền vững trong những năm tiếp theo [6]

9- Nguyễn Hồng Cư: “Phát triển nông sản xuất khẩu theo hướng bền vững ở Tây Nguyên” Luận án Tiến sĩ kinh tế, Đà Nẵng 2010 Công trình này tập trung

nghiên cứu thực trạng sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm: cà phê, chè, cao su, hạttiêu và hạt điều theo hướng bền vững ở vùng Tây Nguyên trong những năm vừaqua Từ đó đề xuất các cơ chế, chính sách và giải pháp nhằm giúp sản xuất và xuấtkhẩu các loại nông sản này trên địa bàn theo hướng bền vững hơn, hiệu quả hơntrong những năm tiếp theo [9]

10- PGS.TS Lê Du Phong, PTS Hoàng Văn Hoa: “Phát triển kinh tế-xã hội

Trang 24

các vùng dân tộc và miền núi theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá”, Nhà xuất

bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1998 Công trình nghiên cứu này đã tập trung phântích thực trạng phát triển kinh tế-xã hội và môi trường của các vùng miền núi và dântộc ở Việt Nam, đặc biệt là những khó khăn, bất cập, ảnh hưởng đến sự phát triểnnhanh và bền vững (nhất là vùng miền núi phía Bắc) Trên cơ sở đó công trìnhnghiên cứu đã đề xuất một hệ thống các giải pháp đồng bộ nhằm giúp các vùng nàytháo gỡ khó khăn để phát triển nhanh và theo hướng bền vững trong quá trình thựchiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá [16]

11- PGS.TS Lê Du Phong, PTS Hoàng Văn Hoa: “Kinh tế thị trường và sự phân hoá giàu nghèo ở vùng dân tộc và miền núi phía Bắc nước ta hiện nay” Nhà

xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà nội 1999 Công trình nghiên cứu này đã đi sâu phântích thực trạng phát triển nền kinh tế thị trường ở vùng dân tộc và miền núi phía Bắc

kể từ khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường, đặc biệt là phân tích thực trạngphân hoá giàu nghèo trên địa bàn này trong quá trình phát triển đó, chỉ ra những vấn

đề bức xúc cần quan tâm giải quyết để kinh tế xã hội của vùng phát triển theo đúngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm mục tiêu mà Đảng ta đã đề ra là: Dân giàu,nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh [15]

12- Từ Thái Giang: "Nghiên cứu phát triển sản xuất cà phê bền vững trên địa bàn tỉnh Đăclăk", Luận án tiến sĩ kinh tế, Hà Nội 2012 Công trình nghiên cứu:

Đăclăk được xem là thủ phủ cà phê của Việt Nam, với diện tích trồng cà phê lớnnhất so với các tỉnh trong cả nước Năm 2010, Đăclăk có hơn 190 nghìn ha và phêchiếm khoảng 40% diện tích cà phê của cả nước; sản lượng đạt khoảng 400 nghìn tấn,chiếm trên 30% sản lượng cà phê của cả nước, kim ngạch xuất khẩu cà phê đạt xấp xỉ600trUSD/năm (chiếm trên 90% kim ngạch xuất khẩu của tỉnh, chiếm 30% kim ngạchxuất khẩu cà phê của cả nước) Cà phê giữ vị trí đặc biệt quan trọng đối với phát triểnkinh tế - xã hội của tỉnh Đăclăk (đóng góp trên 40% GDP của tỉnh)

Bên cạnh những thành tựu, đóng góp ở trên, sản xuất cà phê của tỉnh Đăclăkcũng còn bộc lộ nhiều hạn chế, thể hiện sự phát triển chưa bền vững: quy hoạchphát triển sản xuất cà phê còn chưa tốt, vẫn còn nhiều nơi trồng cà phê phân tán,

Trang 25

nhỏ lẻ, khó khăn cho quản lý, chỉ đạo sản xuất; cơ sở hạ tầng, máy móc thiết bịphục vụ cho sản xuất, chế biến yếu kém, lạc hậu Trình độ của lao động sản xuất càphê thấp, không đồng đều; một số nội dung về sản xuất chưa được quan tâm; việc tổchức quản lý sản xuất còn nhiều bất cập Sự liên kết giữa các tác nhân trong quátrình sản xuất còn kém bền vững, kém hiệu quả Chất lượng sản phẩm cà phê kém

so với yêu cầu của thị trường trong và ngoài nước Hiệu quả kinh tế còn thấp, khinhu cầu tiêu dùng cà phê tăng thì người sản xuất mở rộng diện tích, và ngược lại thì

họ phá bỏ cây cà phê để chuyển sang cây trồng khác Đời sống của người sản xuất

cà phê còn nhiều bấp bênh, môi trường sinh thái bị tàn phá nghiêm trọng (diện tíchrừng tự nhiên ngày càng giảm, nước ngầm ngày càng cạn kiệt)

Từ đó công trình đã đưa ra một hệ thống các biện pháp về chính sách, kinh tế,

kỹ thuật, tổ chức quản lý v.v nhằm giúp phát triển sản xuất cà phê bền vững trênđịa bàn tỉnh Đăclăk những năm sắp tới [14]

13- Đào Duy Tâm: "Nghiên cứu giải pháp phát triển bền vững rau an toàn ở

Hà Nội" Luận án tiến sỹ, Hà Nội 2010 Công trình nghiên cứu này đã chỉ ra rằng:

Hà Nội là một trong những địa phương có diện tích trồng rau lớn nhất cảnước Năm 2010, toàn thành phố có 11650 ha trồng rau, trong đó có 5048 ha đấtchuyên rau, với các chủng loại rau phong phú, đa dạng

Do nhu cầu rau của thành phố tăng nhanh, một bộ phận không nhỏ người trồngrau kiến thức còn hạn chế, chạy theo lợi nhuận là chính, nên đã lạm dụng quá mứcviệc sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật, các chất hóa học kích thích sự tăngtrưởng, giữ cho rau quả tươi lâu v.v trong quá trình sản xuất rau và đưa ra thị trườngnhiều loại rau không an toàn ảnh hưởng xấu đến sức khỏe người tiêu dùng Theocông bố của Bộ y tế, năm 2009 Việt Nam đã xảy ra 152 vụ ngộ độc thực phẩm làmcho 5200 người bị bệnh, trong đó có 35 người tử vong Hà Nội chiếm tỷ lệ khá lớn

Vì thế, ngay từ năm 1996 Hà Nội đã triển khai chương trình sản xuất rau antoàn trên địa bàn Đến năm 2010, Hà Nội đã có 1315ha chuyên trồng rau an toàn,chiếm 22,7% tổng diện tích trồng rau của thành phố Hiện nay, trên địa bàn thànhphố đã có một số xã sản xuất rau an toàn có thương hiệu như: Vân Nội, Đông Dư,

Trang 26

Văn Đức, Lĩnh Nam, Đặng Xá v.v.

Việc sản xuất rau an toàn đã mang lại hiệu quả khá cao (giá trị thu được bìnhquân từ sản xuất rau theo quy trình hướng dẫn đạt 200 đến 250 triệu đồng ha/năm,một số nơi sản xuất rau ăn lá ngắn ngày và rau cao cấp còn đạt mức doanh thu từ

300 - 350 triệu đồng/ha

Tuy nhiên, sản xuất rau an toàn của Hà Nội vẫn chưa thật bền vững Ngườisản xuất rau một số nơi vẫn chưa tuân thủ nghiêm túc quy trình sản xuất vì chưa tinvào triển vọng của ngành trồng rau an toàn Người tiêu dùng cũng còn hoài nghi đốivới rau an toàn được tiêu thụ trên thị trường Sản xuất rau an toàn chi phí cao songgiá bán vẫn còn thấp, chưa có tác dụng kích thích đối với người sản xuất rau antoàn

Từ đó luận án đã đưa ra một hệ thống các biện pháp đồng bộ, cả về kinh tế, kỹthuật, tổ chức quản lý, cả về tuyên truyền vận động nhằm đẩy mạnh hơn nữa việcphát triển bền vững rau an toàn ở Hà Nội những năm tiếp theo

Riêng đối với phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững ở các tỉnh Trung

du miền núi phía Bắc chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách tổng quát vàtoàn diện trên phạm vi toàn vùng Song nghiên cứu ở từng địa phương, hoặc một vàiđịa phương (tỉnh, huyện) hay nghiên cứu riêng cho một số sản phẩm đặc trưng trênmột địa bàn cụ thể của vùng thì cũng đã có khá nhiều công trình Dưới đây là một

số công trình tiêu biểu: [32]

14- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ: kết nối sản xuất của hộ nông dân đốivới thị trường khu vực Trung du miền núi Đông Bắc, mã số B2011-1109, do TS ĐỗQuang Giám trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội làm chủ nhiệm Đề tài đã tậptrung nghiên cứu thực trạng sản xuất và tiêu thụ một số nông sản chủ yếu của 3 tỉnhvùng Trung du miền núi Đông Bắc là: Bắc Giang, Tuyên Quang và Lạng Sơn Quanghiên cứu đề tài đã cho thấy:

+ Huyện Hàm Yên của tỉnh Tuyên Quang rất có lợi thế trong việc sản xuấtcam Sành Toàn huyện Hàm Yên có 16 xã trồng Cam, trong đó xã ít nhất (xã TháiHòa) là 4,8ha, xã trồng nhiều (xã Phù Lưu) 984,5ha Năm 2010, toàn huyện có 2548

Trang 27

hộ trồng Cam, với diện tích là 2238ha, năng suất bình quân 64,3 tạ/1ha và sản lượngCam thu được của năm 2010 là 13232 tấn Nếu bình quân 1 tấn là 5 triệu đồng thì1ha cũng thu được trên 30 triệu đồng.

+ Huyện Lục Ngạn tỉnh Bắc Giang lại rất có lợi thế trong việc sản xuất VảiThiều Năm 2011, toàn huyện Lục Ngạn có 18595ha trồng vải thiều, năng suất đạt64,7 tạ/1 ha, sản lượng vải thu hoạch được của năm này là 120.250 tấn Vải thiềucủa Lục Ngạn được tiêu thụ ở thị trường trong nước và ngoài nước dưới dạng: Tươi,sấy khô, chế biến Năm 2011, huyện Lục Ngạn đã xuất khẩu 69565 tấn vải ra nướcngoài và đạt kim ngạch 23827730 USD

+ Huyện Chi Lăng tỉnh Lạng Sơn có điều kiện rất thuận lợi cho việc phát triểncây Na Năm 2010, toàn huyện Chi Lăng có 1200ha trồng Na, với sản lượng 6300 tấngiá bán khoảng 30-35 nghìn đồng/kg 1ha/1 năm cũng thu được 70-75 triệu đồng

Đề tài cũng nghiên cứu hiện trạng sản xuất và tiêu thụ một số loại nông sảnkhác như: cây rau, màu, cây công nghiệp và sản phẩm chăn nuôi của 3 tỉnh này

Từ thực trạng nghiên cứu trên, đề tài cho rằng muốn phát triển mạnh các loạinông sản có lợi thế, bảo đảm cho hiệu quả kinh tế cao, các địa phương phải giảiquyết đồng bộ nhiều vấn đề cho sản xuất nông nghiệp trong đó phải đặc biệt chútrọng phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững [13]

15-Đề tài nghiên cứu phát triển nông lâm kết hợp theo hướng kinh tế trang trạimột số tỉnh Trung du và miền núi phía bắc Luận án tiến sĩ của Trần Thị Thu Thủy,

Hà Nội 2010 Công trình nghiên cứu này đã chỉ ra rằng:

Các tỉnh Trung du và miền núi phía Bắc do điều kiện tự nhiên mang lại là đấtsản xuất nông nghiệp không nhiều, nhưng đất lâm nghiệp thì khá rồi dào, muốn sửdụng đất có hiệu quả, cho thu nhập cao phải chọn phương thức canh tác hợp lý.Thực tiễn phát triển nông nghiệp của vùng nhiều năm qua đã cho thấy nông lâm kếthợp là phương thức canh tác hợp lý nhất đối với các tỉnh vùng Trung du và miềnnúi phía Bắc vì: Vừa mang lại cho người nông dân thu nhập cao, vừa bảo vệ đượcmôi trường tự nhiên của vùng

Trang 28

Tuy nhiên, muốn thực hiện tốt phương thức canh tác nông lâm kết hợp đòi hỏiphải có hình thức tổ chức sản xuất hợp lý Công trình nghiên cứu đã chỉ ra rằngphương thức canh tác nông lâm kết hợp muốn thực hiện có hiệu quả phải có mộtquy mô sản xuất tương đối lớn trước hết là về diện tích đất đai, kinh tế hộ gia đìnhvới quy mô sản xuất nhỏ không phù hợp với phương thức canh tác này, mà phải làkinh tế trang trại

Công trình nghiên cứu đã tập trung phân tích thực trạng phát triển nông lâmkết hợp theo hướng kinh tế trang trại ở 6 tỉnh: Hòa Bình, Sơn La, Tuyên Quang,Phú Thọ, Bắc Giang và Yên Bái Từ đó đi đến kết luận là: Phát triển nông lâm kếthợp theo hướng kinh tế trang trại tuy là đúng, cho hiệu quả cao và phù hợp với cáctỉnh Trung du miền núi phía Bắc là nhân tố quan trọng giúp nông nghiệp của vùngphát triển theo hướng bền vững, song do nhiều khó khăn, nhất là năng lực của ngườinông dân (về vốn, về kiến thức) và thị trường nên trang trại phát triển theo phươngthức này vẫn chưa nhiều

Từ đó, công trình nghiên cứu đã đưa ra các giải pháp về chính sách, về kinh tế

- kỹ thuật, tổ chức quản lý, đào tạo nguồn nhân lực v.v nhằm giúp thúc đẩy mạnhhơn phát triển nông lâm kết hợp theo hướng trang trại ở các tỉnh vùng Trung du vàMiền núi phía Bắc [37]

16- Đề tài "Giải pháp góp phần phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững trên địa bàn huyện Hạ Hòa tỉnh Phú Thọ" Luận văn thạc sỹ của Bùi Thị Thảo

Nguyên, Hà Nội 2013

Qua nghiên cứu đề tài cho thấy: Hạ Hòa là một huyện Trung du miền núi củatỉnh Phú Thọ có diện tích tự nhiên 34026,5ha, trong đó đất sản xuất nông nghiệp là13479,4ha đất lâm nghiệp 13903,3ha diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản1068,9ha Dân số toàn huyện năm 2012 là 106500 người, trong đó số người trong

độ tuổi lao động là 66839 người

Trong 30 năm thực hiện đường lối đổi mới vừa qua, kinh tế của huyện Hà Hòa

đã có sự phát triển theo hướng tiến bộ, hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Tuynhiên, do hạn chế về nhiều mặt nên cơ bản kinh tế của huyện vẫn là kinh tế nông

Trang 29

nghiệp Năm 2012, khu vực sản xuất nông nghiệp vẫn chiếm 67,7% lực lượng laođộng của toàn huyện, công nghiệp và xây dựng 19,8%, dịch vụ chỉ có 12,5% Vềmặt giá trị sản xuất, khu vực nông nghiệp chiếm 43,8%, khu vực công nghiệp vàxây dựng 32,5%, dịch vụ 23,7%

Công trình nghiên cứu cho thấy sản xuất nông nghiệp của Hạ Hòa đã có sựphát triển khá mạnh mẽ trong thời gian qua, giá trị sản xuất tăng đều qua các năm(2010 là 189,9 tỷ đồng), 2011 là 192,4 tỷ đồng, năm 2012 đạt 197,4 tỷ Năng suất,sản lượng các sản phẩm cây trồng, vật nuôi đều có xu hướng tăng Sản xuất nôngnghiệp của huyện đã giữ vai trò quan trọng trong việc giải quyết việc làm, tăng thunhập, cải thiện đời sống cho người dân trên địa bàn

Tuy nhiên, công trình nghiên cứu cũng cho thấy nông nghiệp của huyện HạHòa phát triển vẫn chưa theo hướng bền vững Cơ cấu giữa các ngành trong nôngnghiệp vẫn chưa hợp lý (nông nghiệp chiếm 79,9% giá trị sản xuất toàn ngành,trong khi lâm nghiệp chỉ có 11,5% và thủy sản là 8,6%) Năng suất, sản lượng câytrồng, vật nuôi tuy có tăng song tăng không nhiều, một số loại còn giảm Chẳng hạnđàn Bò từ 11678 con năm 2010 giảm xuống còn 9526 con năm 2012

Sản xuất nông nghiệp sản xuất chủ yếu vẫn dựa trên cơ sở hộ gia đình, sảnxuất nhỏ lẻ, lao động chân tay là chính Mặt khác, trong sản xuất người nông dânvẫn còn thiếu những hiểu biết cơ bản về kỹ thuật canh tác, về yêu cầu của thị trườngđối với từng loại nông sản nên việc sử dụng phân hóa học, các loại thuốc bảo vệthực vật, các chất kích thích cồn khá tùy tiện, ngoài ra Để giải quyết nhu cầu vềtăng thu nhập, người ta cũng đã chuyển một diện tích không nhỏ rừng phòng hộ,rừng đặc dụng sang rừng sản xuất, hoặc sang đất trồng cây lâu năm Điều này đãlàm cho độ che phủ của rừng trên địa bàn huyện bị giảm, hiện tượng xói mòn, rửatrôi đất gia tăng

Xuất phát từ đó công trình nghiên cứu đã đề xuất một số các giải pháp vềchính sách, về tổ chức quản lý, về đào tạo bồi dưỡng kiến thức mọi mặt cho ngườinông dân nhằm giúp Hạ Hòa có thể phát triển nông nghiệp theo hướng bền vữngtrong những năm sắp tới [25]

Trang 30

17- Công trình nghiên cứu: "Giải pháp phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững trên địa bàn huyện Cẩm Khê tỉnh Phú Thọ" Luận văn thạc sỹ của Cao Thị Kim

Oanh, Hà Nội 2013

Công trình nghiên cứu đã cho thấy: Cẩm Khê là một huyện miền núi phía tâyBắc tỉnh Phú Thọ, có diện tích tự nhiên 23464,8ha, trong đó đất sản xuất nôngnghiệp 17,823,1ha, đất lâm nghiệp 6280,9ha và đất mặt nước nuôi trồng thủy sản786,8ha Dân số của huyện năm 2012 là 127.583 người, trong đó số người trong độtuổi lao động là 72.720 người

Công trình nghiên cứu đã cho thấy: tuy gần 30 năm thực hiện đường lối đổimới vừa qua được sự quan tâm hỗ trợ mạnh mẽ về nhiều mặt của tỉnh nên kinh tếcủa huyện Cẩm Khê đã có sự phát triển mạnh theo hướng công nghiệp hóa, hiện đạihóa Giá trị sản xuất của khu vực nông nghiệp đã giảm nhanh trong tổng giá trị sảnxuất của toàn huyện, từ 44,56% năm 2008 giảm xuống còn 38,24% năm 2012.Trong khi đó sản xuất của khu vực dịch vụ lại tăng mạnh, từ 25% lên 38,59% Tuy nhiên, nông nghiệp vẫn là ngành sản xuất thu hút và giải quyết việc làmchủ yếu cho người lao động trên địa bàn của huyện Năm 2012, lao động khu vựcnông nghiệp vẫn chiếm tới 72% lực lượng lao động làm việc trong các ngành kinh

tế, công nghiệp và xây dựng chỉ chiếm 15,4% và dịch vụ chiếm 12,8%

Sản xuất nông nghiệp của huyện Cẩm Khê thời gian qua tuy có sự phát triểntương đối khá: Sản lượng thóc từ 34258 tấn năm 2008 tăng lên 40783,6 tấn năm2012; Sản lượng rau từ 25446 tấn tăng lên 30919 tấn; đàn trâu bò từ 24559 con lên

25119 con; đàn lợn từ 45117 con tăng lên 63456 con; giá trị ngành sản xuất ngànhlâm nghiệp từ 25,3 tỷ đồng tăng lên 39,6 tỷ đồng; sản lượng thủy sản nuôi trồngđược từ 3964 tấn tăng lên 4804,9 tấn v.v

Tuy nhiên, sản xuất nông nghiệp của huyện Cẩm Khê vẫn còn nhiều điều bấtcập: cơ cấu lạc hậu năm 2012 ngành nông nghiệp vẫn chiếm 78,7% giá trị sản xuấttoàn khu vực nông - lâm - thủy sản; ngành lâm nghiệp chỉ có 10,5% và ngành thủysản là 10,8% sản xuất nông nghiệp vẫn hết sức phân tán, nhỏ lẻ Tổ chức sản xuấtvẫn dựa trên cơ sở hộ gia đình với lao động thủ công và kinh nghiệm truyền thống

Trang 31

là chính Các sản phẩm do nông nghiệp làm ra chất lượng còn thấp, sức cạnh tranhtrên thị trường hạn chế Đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp và bị bỏ hoang dothu nhập từ sản xuất nông nghiệp quá thấp, các loại dịch bệnh như lở mồm, longmóng ở gia súc, cúm gia cầm, các loại thiên tai như: ngập úng, lũ quét, hạn hán, xảy

ra thường xuyên Trong sản xuất người nông dân sử dụng phân hóa học, các chấtkích thích, các loại thuốc bảo vệ thực vật tùy tiện, việc xử lý chất thải chăn nuôikhông được quan tâm v.v Vì thế ô nhiễm môi trường đang diễn ra khá trầm trọng ởCẩm Khê, sản xuất nông nghiệp của huyện bởi vậy vẫn chưa bền vững

Từ đó, công trình nghiên cứu này đã đưa ra một hệ thống các biện pháp vềkinh tế - kỹ thuật, tổ chức và quản lý tuyên truyền và giáo dục nhằm giúp nôngnghiệp huyện Cẩm Khê phát triển theo hướng bền vững trong thời gian tới

Một số công trình nghiên cứu khác tuy không trực tiếp đề cập đến việc pháttriển nông nghiệp của các địa phương vùng Trung du miền núi phía Bắc theo hướngbền vững nhưng lại đi sâu nghiên cứu giải quyết từng vấn đề cụ thể của nông nghiệpnhư: Sản xuất lúa gạo, rau, chăn nuôi, đào tạo nghề cho nông dân v.v trên từng địabàn cụ thể của vùng Các nghiên cứu này thực chất cũng là những nghiên cứu tìm racách phát triển nông nghiệp của vùng theo hướng bền vững Dưới đây là một sốcông trình tiêu biểu: [27]

18- Công trình: "Xây dựng và phát triển thương hiệu gạo nếp Vải của huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên" Luận văn thạc sỹ của Nguyễn Thị Thắng, Thái

Nguyên năm 2013

Công trình nghiên cứu này cho thấy, gạo nếp Vải là một đặc sản nông nghiệpcủa huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên Gạo nếp Vải có hương thơm, vị ngậy,đậm, dẻo rất ngon được người tiêu dùng ưa chuộng và có giá bán cao trên thịtrường

Huyện Phú Lương đã xây dựng vùng trồng lúa nếp Vải tại địa bàn 5 xã: ÔnLương, Phú Lý, Hợp Thành, Yên Đỗ, Yên Tranh nhằm tạo ra vùng sản xuất chuyêncanh nếp Vải đặc sản có thương hiệu trên thị trường Huyện cũng đã xây dựng quytrình chọn lọc, phục tráng nguyên bản giống nếp Vải cổ xưa và tiến hành tập huấn kỹ

Trang 32

thuật gieo cấy, chăm sóc giống nếp này cho 800 cán bộ, nông dân trên địa bàn huyện.Tuy nhiên để, phát triển gạo nếp Vải bền vững, huyện Phú Lương cần phảixây dựng và phát triển thương hiệu của sản phẩm này Công trình nghiên cứu đãđưa ra thương hiệu cho gạo nếp Vải và đề xuất một số các giải pháp chủ yếu nhằmphát triển thương hiệu này trong thời gian tới [34]

19- Công trình nghiên cứu: "Phát triển sản xuất rau hữu cơ tại huyện Lương Sơn tỉnh Hòa Bình", Luận văn thạc sỹ của Lưu Văn Huy, Hà Nội 2013.

Công trình nghiên cứu này cho thấy: Mô hình sản xuất rau hữu cơ được triểnkhai tại huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình từ năm 2008 và bước đầu đem lại kết quảtích cực Tốc độ tăng trưởng năng suất đạt 19,35%/năm; tốc độ tăng trưởng sảnlượng đạt 43,28%/năm Thu nhập từ sản xuất rau hữu cơ đạt 158 triệuđồng/1ha/năm, cao gấp 2,5 lần sản xuất lúa 2 vụ; gấp 2,4 lần sản xuất chuyên raumàu khác; gấp 1,8 lần sản xuất 2 vụ lúa 1 vụ khoai lang và gấp 3,5 lần sản xuất 1 vụlúa, 1 vụ lạc xuân Bên cạnh đó, sản xuất rau hữu cơ còn duy trì và nâng cao độ màu

mỡ của dất do không sử dụng các loại hóa chất như thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ thựcvật, thuốc diệt cỏ cũng như các loại phân hóa học…

Tuy nhiên, thực tiễn sản xuất rau hữu cơ ở huyện Lương Sơn cũng bộc lộnhiều điều hạn chế: Sản xuất tự phát, manh mún, chưa có quy hoạch vùng sản xuấtrau hữu cơ; cơ sở vật chất - kỹ thuật phục vụ sản xuất còn yếu kém; hầu hết ngườisản xuất đều là người dân tộc Mường có trình độ dân trí nhìn chung còn thấp, sảnxuất chủ yếu vẫn theo kinh nghiệm cha truyền con nối Trong khi đó, việc tập huấn

và chuyển giao kỹ thuật sản xuất rau hữu cơ từ dự án làm còn nhỏ giọt, khôngthường xuyên, không cập nhật; các cơ quan quản lý nhà nước chưa có các chínhsách khuyến khích thỏa đáng đối với việc phát triển trồng rau hữu cơ Chính vì thế,tuy có khá nhiều lợi thế, song sản xuất rau hữu cơ tại huyện Lương Sơn vẫn chưathực sự bền vững

Từ đó, công trình nghiên cứu đã đề xuất nhiều biện pháp phù hợp, có cơ sởkhoa học, có tính khả thi nhằm giúp huyện Lương Sơn tỉnh Hòa Bình phát triển rauhữu cơ mạnh mẽ hơn, bền vững hơn trong thời gian tới [17]

20- Công trình nghiên cứu: "Phát triển chăn nuôi trâu trên địa bàn huyện Văn

Trang 33

Chấn tỉnh Yên Bái", Luận văn thạc sỹ của Võ Văn Tuấn, Hà Nội 2013.

Công trình nghiên cứu cho thấy: Văn Chấn là huyện nằm ở phía Đông Namtỉnh Yên Bái có diện tích tự nhiên 121090ha, trong đó đất sản xuất nông nghiệp là18649ha, chiếm 15,4% trong tổng quỹ đất của huyện, đất lâm nghiệp 75117hachiếm 62% Dân số toàn huyện khoảng 145 nghìn người

Là một huyện miền núi, nên Văn Chấn là huyện rất có điều kiện chăn nuôi giasúc, nhất là nuôi Trâu Nuôi Trâu (cả lấy thịt và sức kéo phục vụ cho nhu cầu trong

và ngoài huyện) là ngành chăn nuôi chính của người dân huyện này Năm 2012,Văn Chấn có 19599 con trâu, đã xuất bán 1709 con Phát triển chăn nuôi Trâu ởVăn Chấn không những giúp cho địa phương giải quyết việc làm, tăng thu nhập chongười nông dân (1 hộ nuôi 4-8 con trâu, 1 năm có thể thu được trên 4 triệu đồng tiềnlãi), mà còn giúp cho nông nghiệp của huyện phát triển theo hướng thâm canh (cungcấp phân bón, giữ rừng…)

Tuy nhiên, chăn nuôi trâu của người dân huyện Văn Chấn còn rất lạc hậu, năm

2012 trong tổng số 19599 con trâu của huyện thì có tới 8057 con là nuôi theophương thức thả rông, nuôi bán nhốt là 9774 con, nuôi nhốt chỉ có 1768 con Do cơ

sở vật chất - kỹ thuật phục vụ chăn nuôi thấp kém, thức ăn cho Trâu chủ yếu dựavào nguồn cỏ tự nhiên, kiến thức chăn nuôi của người dân rất hạn chế, nên tuy rất

có điều kiện phát triển, song chăn nuôi trâu của người dân huyện Văn Chấn đạt hiệuquả thấp vì luôn chịu sự tác động nặng nề của thiên tai, nhất là giá rét Năm 2012,

số trâu chết trên địa bàn huyện là 558 con, chiếm 2,8% tổng đàn trâu của địaphương Phát triển chăn nuôi trâu của huyện Văn Chấn vì thế thiếu tính bền vững.Công trình nghiên cứu đã đưa ra nhiều biện pháp có cơ sở khoa học, có tínhkhả thi từ quy hoạch, chọn giống, xây dựng chuồng trại, xây dựng cơ sở cung cấpthức ăn, cho đến công tác thú y, phương thức chăn thả, bồi dưỡng kiến thức chongười nông dân v.v nhằm giúp chăn nuôi Trâu của huyện Văn Chấn phát triển cóhiệu quả hơn, bền vững hơn trong những năm tới [38]

21- Công trình nghiên cứu: "Giải pháp đẩy mạnh đào tạo nghề cho lao động nông thôn tỉnh Bắc Kạn", Luận văn thạc sỹ của Ngọc thị Hoài Thương, Hà Nội 2013.

Công trình nghiên cứu này đã cho thấy: Bắc Kạn là một trong số các tỉnh

Trang 34

nghèo nước của nước ta Tỉnh có diện tích tự nhiên 485941 ha, trong đó đất lâmnghiệp chiếm tới 375337ha (chiếm 77,2% diện tích tự nhiên); đất sản xuất nôngnghiệp rất ít, chỉ có 39650ha (chiếm 8,8%) Năm 2012, dân số toàn tỉnh Bắc Kạn là

296500 người, chủ yếu đồng bào các dân tộc thiểu số, dân tộc kinh có chỉ 19,3%

Do điều kiện tự nhiên và xã hội mang lại, nên kinh tế của tỉnh chủ yếu là kinh tếnông nghiệp; năm 2012, dân cư nông thôn của tỉnh chiếm tới 85%, lao động nôngnghiệp vẫn còn tới 78,3% trong tổng số lao động của tỉnh, và trong số này chỉ có17% được đào tạo nghề

Vấn đề đặt ra là, muốn thực hiện công nghiệp hóa - hiện đại hóa, Bắc Kạn phảitập trung vào đào tạo, nâng cao trình độ mọi mặt cho lực lượng lao động nông thôn(chủ yếu là nông nghiệp), nhất là trình độ chuyên môn kỹ thuật, trình độ tổ chứcquản lý, các kiến thức cơ bản về thị trường, ý thức tổ chức kỹ luật trong lao động.Chỉ có như vậy mới nâng cao được năng suất lao động nông nghiệp, từ đó làm chonông nghiệp phát triển bền vững, đáp ứng tốt các nhu cầu nông sản cho thị trường,

và đào điều kiện để rút dần lao động ra khỏi nông nghiệp, nông thôn chuyển sangcho công nghiệp - xây dựng và dịch vụ

Công trình nghiên cứu đã đề xuất nhiều giải pháp có tính khả thi từ mục tiêu đàotạo, nội dung, chương trình đào tạo, phương thức đào tạo, kinh phí phục vụ cho việcđào tạo, đến các chính sách cần có như: chính sách hỗ trợ người học, chính sách thu hútgiải quyết việc làm cho người lao động sau khi học v.v Nhằm giúp Bắc Kạn thực hiệntốt công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn thời gian tới [28]

Trang 35

- Thứ hai, về phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững cũng đã có một sốcông trình nghiên cứu trong nước đề cập đến, tuy nhiên chỉ trong phạm vi một hoặcmột vài nông sản và trên một tỉnh hoặc một huyện mà thôi

- Thứ ba, riêng đối với vùng Trung du miền núi phía Bắc cũng đã có một sốcông trình nghiên cứu trực tiếp hoặc gián tiếp về phát triển sản xuất nông nghiệptheo hướng bền vững, song phạm vi nghiên cứu cũng giới hạn ở một sản phẩm cụthể tại một địa phương cụ thể Chưa có công trình nào nghiên cứu sự phát triển nôngnghiệp của toàn vùng theo hướng bền vững

Các tỉnh Trung du miền núi phía Bắc là một vùng lãnh thổ có điều kiện tựnhiên - kinh tế - xã hội tương đối giống nhau, lại có mối quan hệ rất mật thiết vớivùng đồng bằng sông Hồng nhất là về thời tiết, khí hậu, nguồn nước và lại có vị trírất đặc biệt về an ninh quốc phòng, vì vậy trên bình diện toàn vùng rất cần có sựphát triển nông nghiệp theo hướng bền vững nhằm bảo đảm sự cân bằng sinh tháichung cho toàn vùng và vùng đồng bằng sông Hồng Đây là khoảng trống mà cáccông trình nghiên cứu đã có chưa thực hiện Luận án của nghiên cứu sinh cố gắnggiải quyết khoảng trống đó

Còn rất nhiều công trình nghiên cứu khác nữa có liên quan đến phát triển bềnvững nông nghiệp Phải nói rằng, các công trình nghiên cứu đã có ở trong và ngoàinước đã nghiên cứu khá sâu sắc, toàn diện về phát triển bền vững nói chung, pháttriển bền vững nông nghiệp nói riêng Tuy nhiên, các công trình đã có, hoặc lànghiên cứu phát triển bền vững nói chung, hay phát triển bền vững nông nghiệp nóiriêng ở tầm vĩ mô, hoặc ở một ngành, một địa phương cụ thể, chưa có công trìnhnghiên cứu nào về phát triển nông nghiệp các tỉnh Trung du miền núi phía Bắc theohướng bền vững cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn

Trang 36

CHƯƠNG 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG

2.1 Những nhận thức cơ bản về phát triển bền vững

Khái niệm phát triển bền vững xuất hiện trong phong trào bảo vệ môi trường

từ những năm đầu của thập niên 70 của thế kỷ XX Trong báo cáo “Tương lai củachúng ta” của Hội đồng Thế giới về Môi trường và Phát triển (WCED) của Liênhợp quốc (1987), phát triển bền vững được định nghĩa là “Một quá trình của sự thayđổi mà trong đó sự khai thác tài nguyên, phương hướng đầu tư, định hướng pháttriển kỹ thuật và sự thay đổi về pháp luật đều làm hài hoà và gia tăng khả năng đápứng nhu cầu và khát vọng của nhân loại trong cả hiện tại và tương lai” hay “pháttriển bền vững là sự phát triển không chỉ nhằm đáp ứng nhu cầu của thế hệ hiện tại

mà còn không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai”.Nội hàm về phát triển bền vững được tái khẳng định tại Hội nghị Thượng đỉnhTrái đất về Môi trường và Phát triển tổ chức ở Rio de janeiro (Brazil) năm 1992 vàHội nghị Thượng đỉnh Thế giới về Phát triển bền vững tổ chức ở Johannéberg(Cộng hoà Nam Phi) năm 2002: “Phát triển bền vững là quá trình phát triển có sựkết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa ba mặt của sự phát triển Đó là: phát triểnkinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường”

Nội dung phát triển bền vững được xác định bao gồm ba trụ cột: [33]

(i) Bền vững về kinh tế: Đảm bảo tăng trưởng kinh tế ổn định, lâu dài và hiệuquả;

(ii) Bền vững về mặt xã hội: Đảm bảo công bằng xã hội và phát triển con người(iii) Bền vững về môi trường: là khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên thiênnhiên, bảo vệ và không ngừng cải thiện chất lượng môi trường sống, đảm bảo chocon người được sống trong môi trường sạch, lành mạnh và an toàn, hài hoà trong

Trang 37

mối liên hệ giữa con người với xã hội và tự nhiên.

Hình 2.1 : Ba trụ cột của phát triển bền vững

Ba trụ cột của phát triển bền vững nêu trên là các mục tiêu cần đạt đượctrong quá trình phát triển, đồng thời là ba nội dung hợp thành quá trình phát triểntrong điều kiện hiện đại Sự phát triển hiện đại không chỉ là sự phát triển với hệkinh tế thị trường hiện đại, với sự tác động mạnh mẽ của tiến bộ khoa học và côngnghệ, mở rộng hội nhập kinh tế quốc tế, mà còn bao hàm một nội dung mới- pháttriển bền vững với ba mục tiêu trên đây Quan niệm phát triển hiện đại là pháttriển bền vững cũng có nghĩa là không chỉ xác lập những cơ sở, điều kiện cần thiếtđối với việc giải quyết những mâu thuẫn vốn có của tiến trình kinh tế thị trường,giải quyết mâu thuẫn giữa phát triển kinh tế - xã hội và môi trường mà còn phảibao gồm nội dung bền vững

Đương nhiên, trong từng nội dung của phát triển bền vững sẽ có một số chỉtiêu cụ thể giúp người ta đánh giá đúng đắn hơn, chính xác hơn sự phát triển bềnvững của từng quốc gia hay từng vùng của các quốc gia đó Song trong thực tiễn, vìmỗi quốc gia, mỗi vùng có điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội khác nhau, có quátrình phát triển khác nhau nên các chỉ tiêu này cũng có sự khác biệt ở một chừngmực nhất định Điều này có nghĩa là, ở các nước đang phát triển thường người ta đặtmục tiêu phát triển kinh tế cao hơn mục tiêu ổn định xã hội và bảo vệ môi trường,chỉ khi đạt được trình độ phát triển cao, người ta mới coi trọng việc kết hợp hài hoà

hµng ThÕ giíi

PTBV

Mục tiêu Môi trường

Mục

tiêu

Xã hội

Mục tiêu

Xã hội Môi trường

PTBV

Trang 38

giữa ba mặt: kinh tế, xã hội, môi trường trong sự phát triển [31]

Ngày nay, do nhiều yếu tố tác động, đặc biệt là những hậu quả do khai tháccác nguồn tài nguyên bừa bãi, do phát triển thiếu tính toán, phát triển với mọi giá và

do tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu, nên phát triển bền vững đã trở thành nhucầu cấp bách và xu thế tất yếu trong tiến trình phát triển của xã hội loài người [1]

Từ năm 1992 đến nay đã có 113 nước trên thế giới xây dựng và thực hiện Chươngtrình nghị sự 21 về phát triển bền vững cấp quốc gia và 6.416 Chương trình nghị sự

21 cấp địa phương

Ở Việt Nam, cuối những năm 90 của thế kỷ XX, phát triển bền vững đã bắtđầu được quan tâm Quan điểm phát triển bền vững đã được khẳng định trong chỉthị số 36-CT/TW ngày 25/6/1998 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác bảo vệmôi trường trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, đặc biệt là trongchiến lược phát triển kinh tế-xã hội giai đoạn 2001-2010 do Đại hội Đảng toàn quốclần thứ IX thông qua Chiến lược viết: “Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững,tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môitrường” và “Phát triển kinh tế - xã hội gắn chặt với bảo vệ và cải thiện môi trường,bảo đảm sự hài hoà giữa môi trường nhân tạo với môi trường tự nhiên, giữ gìn đadạng sinh học [10]

Chính phủ Việt Nam cũng đã có Quyết định số 153/QĐ-TTg về việc ban hànhđịnh hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (Chương trình nghị sự 21).Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam là một chiến lược khungbao gồm những định hướng lớn làm cơ sở pháp lý để các Bộ, ngành, địa phương,các tổ chức và cá nhân có liên quan triển khai thực hiện, đồng thời đó cũng là vănbản thể hiện sự cam kết của Việt Nam với quốc tế

Như vậy, phát triển bền vững đã trở thành đường lối, quan điểm, chiến lược,chính sách phát triển đất nước của Đảng và Nhà nước Việt Nam

Mục tiêu tổng quát của phát triển bền vững Việt Nam hướng tới là đạt được sựđầy đủ về vật chất, sự giàu có về tinh thần và văn hoá, sự bình đẳng của các công

Trang 39

dân và sự đồng thuận của xã hội, sự hài hoà giữa con người và tự nhiên; phát triểnphải kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hoà được ba mặt là phát triển kinh tế, phát triển

xã hội và bảo vệ môi trường [1]

Cụ thể từng mặt như sau:

- Mục tiêu phát triển bền vững về kinh tế là đạt được sự tăng trưởng cao, ổnđịnh, với cơ cấu hợp lý, đáp ứng được yêu cầu nâng cao đời sống của nhân dân,tránh được sự suy thoái hoặc đình trệ trong tương lai, tránh để lại gánh nặng nợ nầnlớn cho các thế hệ mai sau

- Mục tiêu phát triển bền vững về xã hội là đạt được kết quả cao trong việcthực hiện tiến bộ và công bằng xã hội,bảo đảm chế độ dinh dưỡng và chất lượngchăm sóc sức khoẻ nhân dân ngày càng được nâng cao, mọi người đều có cơ hộiđược học hành và có việc làm, giảm tình trạng đói nghèo và hạn chế khoảng cáchgiàu nghèo giữa các tầng lớp và nhóm xã hội, giảm các tệ nạn xã hội, nâng cao mức

độ công bằng về quyền lợi và nghĩa vụ giữa các thành viên và giữa các thế hệ trongmột xã hội, duy trì và phát huy được tính đa dạng và bản sắc văn hoá dân tộc, khôngngừng nâng cao trình độ văn minh về đời sống vật chất và tinh thần

- Mục tiêu của phát triển bền vững về môi trường là khai thác hợp lý, sử dụngtiết kiệm và có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên; phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý vàkiểm soát có hiệu quả ô nhiễm môi trường, bảo vệ tốt môi trường sống; bảo vệ đượccác vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, khu dự trữ sinh quyền và bảo tồn sự đadạng sinh học; khắc phục suy thoái và cải thiện chất lượng môi trường

2.2 Phát triển nông nghiệp bền vững

2.2.1 Nông nghiệp và đặc điểm của sản xuất nông nghiệp

Nông nghiệp, nếu hiểu theo nghĩa hẹp nó chỉ có ngành trồng trọt, chăn nuôi vànghề phụ nông thôn (dịch vụ cho sản xuất nông nghiệp) Nhưng nếu hiểu theo nghĩarộng nó bao gồm cả lâm nghiệp và ngư nghiệp nữa Trong luận án này, NCS sẽnghiên cứu nông nghiệp theo nghĩa rộng

Nông nghiệp là ngành sản xuất có đầu tiên trong lịch sử (buổi ban đầu là trồng

Trang 40

trọt, sau là chăn nuôi, lâm nghiệp và ngư nghiệp) Cho đến nay, xã hội loài người đãtrải qua 5 phương thức sản xuất khác nhau, và với sự phát triển của khoa học côngnghệ, của phân công và hợp tác lao động, đã có hàng trăm ngành sản xuất, kinhdoanh,dịch vụ khác nhau xuất hiện trong nền kinh tế của nhân loại như: côngnghiệp, thương nghiệp, xây dựng, giao thông vận tải, du lịch, tài chính, ngânhàng.v.v Mặc dù vậy, nông nghiệp vẫn là ngành chiếm vị trí hết sức quan trọng trongnền kinh tế quốc dân của hầu hết các quốc gia Sở dĩ như vậy vì, nông nghiệp làngành sản xuất và cung cấp cho con người những sản phẩm tối cần thiết của cuộcsống, đó là lương thực và thực phẩm Những sản phẩm mà với trình độ phát triển củakhoa học công nghệ ngày nay chưa một ngành sản xuất nào có thể thay thế được, vàthiếu những sản phẩm đó, con người và xã hội loài người không thể tồn tại và pháttriển được Anghen đã từng viết: “Trước hết con người cần phải có ăn, uống và ở,mặc trước khi lo đến chuyện làm chính trị, khoa học, nghệ thuật, tôn giáo ” [23] Kinh tế, xã hội càng phát triển, thu nhập và đời sống của người dân ngàycàng cao, thì nhu cầu của con người đối với các sản phẩm nông nghiệp ngàycàng tăng, tăng cả về số lượng, về chất lượng và về chủng loại Sự tăng này dohai yếu tố tạo ra:

Một là, do dân số không ngừng tăng Trước công nguyên 5.000 năm, dân sốcủa thế giới mới có khoảng 5-6 triệu người, đến năm 1945, sau Đại chiến thế giớilần thứ hai, con số đó đã là 2,5 tỷ người, và giờ đây là 7 tỷ người Nhìn vào ViệtNam, ta cũng thấy rất rõ sự tăng này Năm 1945, dân số của cả nước ta là 25 triệungười, sau 61 năm, đến năm 2012, dân số nước ta đã lên tới 87.840.000 người, tăng

3, 5 lần Cứ giả thiết rằng, nhu cầu lương thực và thực phẩm của người dân nước tanăm 2011 không thay đổi gì so với năm 1945, thì riêng việc tăng dân số cũng đã đòihỏi lượng lương thực và thực phẩm của cả nước tăng lên gấp 3,5 lần

Hai là, do nhu cầu của bản thân từng người đối với các sản phẩm do nôngnghiệp sản xuất ra cũng tăng không ngừng, nhất là nhu cầu về thịt, trứng, sữa, vềcác loại rau, các loại hoa quả và các sản phẩm chế biến từ nguyên liệu có nguồn gốc

Ngày đăng: 03/03/2015, 15:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3- Lê Du Phong, Hoàng Văn Hoa, Nguyễn Văn Áng (2001), "Đào tạo cán bộ ở các xã đặc biệt khó khăn vùng miền núi phía Bắc", Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà nội, năm 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đào tạo cán bộ ởcác xã đặc biệt khó khăn vùng miền núi phía Bắc
Tác giả: Lê Du Phong, Hoàng Văn Hoa, Nguyễn Văn Áng
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 2001
4- Nguyễn Đăng Bình (2012), "Đầu tư phát triển theo hướng tăng trưởng nhanh gắn với giảm nghèo tại Việt Nam trong thời kỳ đến năm 2020". Luận án TS kinh tế, Hà Nội 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đầu tư phát triển theo hướng tăng trưởngnhanh gắn với giảm nghèo tại Việt Nam trong thời kỳ đến năm 2020
Tác giả: Nguyễn Đăng Bình
Năm: 2012
5- Nguyến Văn Bích (2007), "Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam sau 20 năm đổi mới: quá khứ và hiện tại". NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam sau 20 nămđổi mới: quá khứ và hiện tại
Tác giả: Nguyến Văn Bích
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2007
6- Hà Ban (2007), "Thách thức và triển vọng phát triển bền vững nông nghiệp và nông thôn tỉnh Kon Tum", NXB Đà Nẵng, tháng 11/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thách thức và triển vọng phát triển bền vững nông nghiệpvà nông thôn tỉnh Kon Tum
Tác giả: Hà Ban
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
Năm: 2007
9- Nguyễn Hồng Cử (2010), "Phát triển nông sản xuất khẩu theo hướng bền vững ở Tây Nguyên". Luận án TS kinh tế, Đà Nẵng 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nông sản xuất khẩu theo hướng bềnvững ở Tây Nguyên
Tác giả: Nguyễn Hồng Cử
Năm: 2010
12- Nguyễn Quang Dũng (2010), "Nghiên cứu hỗ trợ xây dựng mô hình phát triển nông thôn dựa vào cộng đồng để làm cơ sở cho việc đề xuất cơ chế chính sách phát triển nông thôn mới trong điều kiện của Việt Nam ". Đề tài khoa học cấp Bộ, Hà Nội 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu hỗ trợ xây dựng mô hình pháttriển nông thôn dựa vào cộng đồng để làm cơ sở cho việc đề xuất cơ chế chínhsách phát triển nông thôn mới trong điều kiện của Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Quang Dũng
Năm: 2010
13- Đỗ Quang Giám (2013), "Kết nối sản xuất của hộ nông dân với thị trường khu vực Trung du miền núi đông Bắc", Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, mã số B2011 - 1109 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết nối sản xuất của hộ nông dân với thị trườngkhu vực Trung du miền núi đông Bắc
Tác giả: Đỗ Quang Giám
Năm: 2013
14- Từ Thái Giang (2012), "Nghiên cứu phát triển sản xuất cà phê bền vững trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk", Luận án TS kinh tế, Hà Nội 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu phát triển sản xuất cà phê bền vững trênđịa bàn tỉnh Đăk Lăk
Tác giả: Từ Thái Giang
Năm: 2012
15- Lê Du Phong, Hoàng Văn Hoa (1999), "Kinh tế thị trường và sự phân hoá giàu nghèo ở vùng dân tộc và miền núi phía Bắc nước ta hiện nay", Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế thị trường và sự phân hoágiàu nghèo ở vùng dân tộc và miền núi phía Bắc nước ta hiện nay
Tác giả: Lê Du Phong, Hoàng Văn Hoa
Nhà XB: Nhà xuấtbản Chính trị Quốc gia
Năm: 1999
16- Lê Du Phong, Hoàng Văn Hoa (1998), "Phát triển kinh tế- xã hội các vùng dân tộc và miền núi theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa", Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà nội, năm 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển kinh tế- xã hội các vùngdân tộc và miền núi theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Tác giả: Lê Du Phong, Hoàng Văn Hoa
Nhà XB: Nhà xuất bảnChính trị quốc gia
Năm: 1998
17- Lưu Văn Huy (2012), "Phát triển sản xuất rau hữu cơ tại huyện Lương Sơn tỉnh Hòa Bình", Luận văn thạc sỹ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển sản xuất rau hữu cơ tại huyện Lương Sơntỉnh Hòa Bình
Tác giả: Lưu Văn Huy
Năm: 2012
18- Hội nghị Quốc gia về phát triển bền vững: Diễn đàn “Phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững”, Hà Nội, tháng 12/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nông nghiệpvà nông thôn bền vững
21- Ngô Thắng Lợi (2010), "Phát triển bền vững vùng kinh tế trọng điểm bắc Bộ đến năm 2020", Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển bền vững vùng kinh tế trọng điểm bắc Bộđến năm 2020
Tác giả: Ngô Thắng Lợi
Năm: 2010
22- Nguyễn Quang Thái- PGS.TS. Ngô Thắng Lợi, Phát triển bền vững ở Việt Nam: Thành tựu, cơ hội, thách thức và triển vọng, Nhà xuất bản Lao động- xã Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển bền vững ở ViệtNam: Thành tựu, cơ hội, thách thức và triển vọng
Nhà XB: Nhà xuất bản Lao động- xã
23- Mác-Anghen, Tuyển tập, tập II, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, năm1962 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập, tập II
Nhà XB: Nhà xuất bản Sự thật
24- Lê Du Phong-Tô Đình Mai (2007), "Góp phần nghiên cứu chính sách Lâm nghiệp ở Việt Nam". NXB Nông nghiệp, Hà Nội 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần nghiên cứu chính sách Lâmnghiệp ở Việt Nam
Tác giả: Lê Du Phong-Tô Đình Mai
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2007
25- Bùi Thảo Nguyên (2013), "Giải pháp góp phần phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững trên địa bàn huyện Hạ Hòa tỉnh Phú Thọ" , Luận văn thạc sỹ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp góp phần phát triển nông nghiệp theohướng bền vững trên địa bàn huyện Hạ Hòa tỉnh Phú Thọ
Tác giả: Bùi Thảo Nguyên
Năm: 2013
27- Cao Thị Kim Oanh (2013), "Giải pháp phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững trên địa bàn huyện Cẩm Khê - tỉnh Phú Thọ", Luận văn thạc sỹ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp phát triển nông nghiệp theo hướngbền vững trên địa bàn huyện Cẩm Khê - tỉnh Phú Thọ
Tác giả: Cao Thị Kim Oanh
Năm: 2013
28- Ngọc Thị Hoài Phương (2013), "Giải pháp đẩy mạnh đào tạo nghề cho lao động nông thôn tỉnh Bắc Kạn", Luận văn Thạc sỹ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp đẩy mạnh đào tạo nghề cho laođộng nông thôn tỉnh Bắc Kạn
Tác giả: Ngọc Thị Hoài Phương
Năm: 2013
29- Đặng Kim Sơn (2006), "Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam 20 năm đổi mới và phát triển". NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam 20 năm đổi mớivà phát triển
Tác giả: Đặng Kim Sơn
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2006

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG CHỮ VIẾT TẮT - Luận án tiến sỹ kinh tế: Phát triển nông nghiệp các tỉnh trung du miền núi phía bắc Việt Nam theo hướng bền vững
BẢNG CHỮ VIẾT TẮT (Trang 6)
Hình 2.1 : Ba trụ cột của phát triển bền vững - Luận án tiến sỹ kinh tế: Phát triển nông nghiệp các tỉnh trung du miền núi phía bắc Việt Nam theo hướng bền vững
Hình 2.1 Ba trụ cột của phát triển bền vững (Trang 52)
Bảng 2.1: Vị thế của hàng nông sản Hà Lan trên thị trường thế giới Tên hàng nông sản Mức xuất khẩu - Luận án tiến sỹ kinh tế: Phát triển nông nghiệp các tỉnh trung du miền núi phía bắc Việt Nam theo hướng bền vững
Bảng 2.1 Vị thế của hàng nông sản Hà Lan trên thị trường thế giới Tên hàng nông sản Mức xuất khẩu (Trang 70)
Hình 3.1: Diện tích các tỉnh vùng Trung du miền núi phía Bắc - Luận án tiến sỹ kinh tế: Phát triển nông nghiệp các tỉnh trung du miền núi phía bắc Việt Nam theo hướng bền vững
Hình 3.1 Diện tích các tỉnh vùng Trung du miền núi phía Bắc (Trang 89)
Hình 3.2 : Giá trị sản xuất nông- lâm- thuỷ sản vùng Trung du và Miền núi phía Bắc giai đoạn 2000-2010 - Luận án tiến sỹ kinh tế: Phát triển nông nghiệp các tỉnh trung du miền núi phía bắc Việt Nam theo hướng bền vững
Hình 3.2 Giá trị sản xuất nông- lâm- thuỷ sản vùng Trung du và Miền núi phía Bắc giai đoạn 2000-2010 (Trang 95)
Bảng 3.2: Năng suất, sản lượng lúa của các địa phương vùng Trung du và Miền núi phía Bắc giai đoạn 2000- 2012 - Luận án tiến sỹ kinh tế: Phát triển nông nghiệp các tỉnh trung du miền núi phía bắc Việt Nam theo hướng bền vững
Bảng 3.2 Năng suất, sản lượng lúa của các địa phương vùng Trung du và Miền núi phía Bắc giai đoạn 2000- 2012 (Trang 97)
Bảng trên cho thấy, năm 2000 năng suất lúa bình quân của các địa phương vùng Trung du miền núi phía Bắc là 34,9 tạ/ha, thế nhưng đến năm 2012 đã đạt 48,4 tạ/ha, tăng thêm được 13,5 tạ/ha, bình quân mỗi năm tăng thêm 1,12 tạ - Luận án tiến sỹ kinh tế: Phát triển nông nghiệp các tỉnh trung du miền núi phía bắc Việt Nam theo hướng bền vững
Bảng tr ên cho thấy, năm 2000 năng suất lúa bình quân của các địa phương vùng Trung du miền núi phía Bắc là 34,9 tạ/ha, thế nhưng đến năm 2012 đã đạt 48,4 tạ/ha, tăng thêm được 13,5 tạ/ha, bình quân mỗi năm tăng thêm 1,12 tạ (Trang 98)
Bảng 3.3:Năng suất và sản lượng ngô của các địa phương vùng Trung du và Miền núi phía Bắc giai đoạn 2000- 2012 - Luận án tiến sỹ kinh tế: Phát triển nông nghiệp các tỉnh trung du miền núi phía bắc Việt Nam theo hướng bền vững
Bảng 3.3 Năng suất và sản lượng ngô của các địa phương vùng Trung du và Miền núi phía Bắc giai đoạn 2000- 2012 (Trang 99)
Bảng số liệu trên cho thấy, năng suất ngô bình quân của các tỉnh vùng Trung du miền núi phía Bắc đã tăng khá nhanh trong những năm vừa qua, từ 23,9 tạ/ha năm 2000 lên 36,3 tạ/ha năm 2012, tăng 12,4 tạ sau 12 năm, bình quân mỗi năm tăng 1,03 tạ - Luận án tiến sỹ kinh tế: Phát triển nông nghiệp các tỉnh trung du miền núi phía bắc Việt Nam theo hướng bền vững
Bảng s ố liệu trên cho thấy, năng suất ngô bình quân của các tỉnh vùng Trung du miền núi phía Bắc đã tăng khá nhanh trong những năm vừa qua, từ 23,9 tạ/ha năm 2000 lên 36,3 tạ/ha năm 2012, tăng 12,4 tạ sau 12 năm, bình quân mỗi năm tăng 1,03 tạ (Trang 100)
Bảng số liệu trên cho thấy, bình quân lương thực có hạt tính trên một nhân khẩu của vùng Trung du miền núi phía Bắc đã tăng nhanh , tăng liên tục và ổn định suốt giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2012 - Luận án tiến sỹ kinh tế: Phát triển nông nghiệp các tỉnh trung du miền núi phía bắc Việt Nam theo hướng bền vững
Bảng s ố liệu trên cho thấy, bình quân lương thực có hạt tính trên một nhân khẩu của vùng Trung du miền núi phía Bắc đã tăng nhanh , tăng liên tục và ổn định suốt giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2012 (Trang 101)
Bảng số liệu trên cho thấy, tuy so với bình quân chung cả nước, giá trị sản phẩm trồng trọt thu được trên 1 ha đất trồng trọt của vùng Trung du miền núi phía Bắc còn một khoảng cách không nhỏ, song nó cũng đã có bước tiến đều và tiến không nhỏ từ năm 2008 - Luận án tiến sỹ kinh tế: Phát triển nông nghiệp các tỉnh trung du miền núi phía bắc Việt Nam theo hướng bền vững
Bảng s ố liệu trên cho thấy, tuy so với bình quân chung cả nước, giá trị sản phẩm trồng trọt thu được trên 1 ha đất trồng trọt của vùng Trung du miền núi phía Bắc còn một khoảng cách không nhỏ, song nó cũng đã có bước tiến đều và tiến không nhỏ từ năm 2008 (Trang 105)
Bảng 3.6:Thực trạng phát triển ngành chăn nuôi các tỉnh vùng Trung du miền núi phía Bắc giai đoạn 2000-2012 - Luận án tiến sỹ kinh tế: Phát triển nông nghiệp các tỉnh trung du miền núi phía bắc Việt Nam theo hướng bền vững
Bảng 3.6 Thực trạng phát triển ngành chăn nuôi các tỉnh vùng Trung du miền núi phía Bắc giai đoạn 2000-2012 (Trang 106)
Bảng số liệu trên cho thấy, trên cả 4 lĩnh vực chăn nuôi: Trâu, bò, lợn và gia cầm ở các tỉnh vùng Trung du miền núi phia Bắc, từ năm 2000 đến năm 2012, đều có sự phát triển khá tốt, cụ thể: - Luận án tiến sỹ kinh tế: Phát triển nông nghiệp các tỉnh trung du miền núi phía bắc Việt Nam theo hướng bền vững
Bảng s ố liệu trên cho thấy, trên cả 4 lĩnh vực chăn nuôi: Trâu, bò, lợn và gia cầm ở các tỉnh vùng Trung du miền núi phia Bắc, từ năm 2000 đến năm 2012, đều có sự phát triển khá tốt, cụ thể: (Trang 108)
Hình 3.3: Giá trị sản xuất lâm nghiệp của các tỉnh vùng Trung du và Miền núi phía Bắc giai đoạn 2000-2012 - (giá năm 1994 - năm 2012 theo giá 2010) - Luận án tiến sỹ kinh tế: Phát triển nông nghiệp các tỉnh trung du miền núi phía bắc Việt Nam theo hướng bền vững
Hình 3.3 Giá trị sản xuất lâm nghiệp của các tỉnh vùng Trung du và Miền núi phía Bắc giai đoạn 2000-2012 - (giá năm 1994 - năm 2012 theo giá 2010) (Trang 113)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w