1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chuyên đề Kiểm định thực chứng về tác động của cấu trúc sở hữu tới hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp

39 389 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 39
Dung lượng 1,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ CÁC CÔNG TY XÂY DỰNG NIÊM YẾT TRÊNHAI SỞ GIAO DỊCH HNX VÀ HOSE Bên cạnh hoạt động sản xuất chính là xây dựng, các công ty niêm yết ngành xây dựng ở Việt Nam còn thự

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

-CHUYÊN ĐỀ 2

KIỂM ĐỊNH THỰC CHỨNG VỀ TÁC ĐỘNG CỦA

CẤU TRÚC SỞ HỮU TỚI HIỆU QUẢ HOẠT

ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP

Chuyên ngành: Ngân hàng – Tài chính

Nghiên cứu sinh : LÊ ĐỨC HOÀNG

Người hướng dẫn khoa học : PGS.TS LƯU THỊ HƯƠNG

Trang 2

HÀ NỘI – 2014

Trang 3

MỤC LỤC

KIỂM ĐỊNH THỰC CHỨNG VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CẤU TRÚC SỞ HỮU TỚI HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP 1

Trang 4

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ CÁC CÔNG TY XÂY DỰNG NIÊM YẾT TRÊN

HAI SỞ GIAO DỊCH HNX VÀ HOSE

Bên cạnh hoạt động sản xuất chính là xây dựng, các công ty niêm yết ngành xây dựng ở Việt Nam còn thực hiện một số hoạt động sản xuất kinh doanh khác Trong 115 công ty niêm yết trong lĩnh vực xây dựng có hơn 60 công ty hoạt động trong lĩnh vực xây dựng (bao gồm xây dựng, lắp đặt các công trình, tư vấn, thiết kế, giám sát…) Các công ty còn lại đều hoạt động theo mô hình đa ngành, trong đó chủ yếu là thực hiện các hoạt động có liên quan đến lĩnh vực xây dựng, như kinh doanh bất động sản (46 công ty), khai thác, … Ngoài ra, một số nhóm công ty đặc thù như các công ty thuộc nhóm Lilama thường có thêm các hoạt động chế tạo, lắp đặt, sửa chữa máy móc, các thiết bị cơ khí Hoặc nhóm các công ty Xây dựng điện bên cạnh hoạt động chính là xây dựng các công trình điện dân dụng và công nghiệp còn thực hiện sản xuất, mua bán hoặc xuất nhập khẩu các thiết bị điện, sản xuất và kinh doanh điện năng Như vậy, có thể thấy ngành nghề kinh doanh của các công

ty xây dựng niêm yết là khá đa dạng Tuy nhiên, các lĩnh vực kinh doanh này hầu hết có liên quan và góp phần tăng cường năng lực trong lĩnh vực hoạt động chính là xây dựng

Ngành xây dựng và ngành bất động sản luôn có mối tương quan chặt chẽ Chính vì vậy, tình hình khó khăn của ngành bất động sản trong thời gian qua đã khiến cho ngành xây dựng trở nên điêu đứng Kết quả kinh doanh năm 2008-2013 của các công ty xây dựng niêm yết phản ánh khá rõ thực tế này.

Năm 2008 đánh dấu một chặng đường khó khăn của các doanh nghiệp xây dựng niêm yết, hoạt động kinh doanh của ngành xây dựng liên tục phải

Trang 5

đối diện với nhiều trở ngại, khó khăn Nửa đầu năm 2008, diễn biến lạm phát trong nước làm giá các nguyên vật liệu chủ chốt như thép; xi măng; gạch, kính, đá tăng mạnh Các chi phí xây dựng tại thời điểm tháng 5 năm 2008 đã tăng hơn 40% so với cuối năm 2007 Bên cạnh đó, chi phí tài chính của nhiều công ty xây dựng niêm yết tăng đáng kể, phần lớn do phí lãi vay tăng cao (trên 20%/năm) Nhiều chủ công trình buộc phải trì hoãn tiến độ dự án để tránh bị lỗ Năm 2008 cũng đánh dấu một sự khó khăn mới của ngành xây dựng đó là chịu ảnh hưởng từ sự đóng băng của ngành bất động sản.

Bước sang năm 2009, triển vọng kinh doanh của ngành xây dựng cũng không sáng sủa hơn khi nền kinh tế toàn cầu và trong nước suy giảm, thị trường bất động sản vẫn chưa thoái khỏi tình trạng ảm đạm Bên cạnh phải xử

lý các khó khăn tồn đọng, các doanh nghiệp trong ngành xây dựng còn phải đối mặt với thách thức về khả năng thanh toán do rủi ro tài chính tăng cao

Từ giữa năm 2009- 2010, thị trường bất động sản có dấu hiệu hồi phục, ngành xây dựng có dấu hiệu phục hồi, đưa các dấu hiệu lạc quan về thị trường Các doanh nghiệp nhận được nhiều ưu đãi về chính sách, đặc biệt là các khoản vay từ phía Ngân hàng, cung cầu trên thị trường bất động sản mang lại dấu hiệu lạc quan Cổ phiếu ngành xây dựng biến động khá mạnh trong nửa sau năm 2009 khi chỉ trong 2 tháng (từ tháng 8-10/2009) đã tăng gấp 3 lần nhưng lại trượt dốc manh mẽ để trở lại mốc cũ trong 2 tháng ngay sau đó Các công ty thuộc Tổng công ty Sông Đà thường đóng vai trò dẫn dắt nhóm ngành này trong mỗi giai đoạn có biến động mạnh Phần lớn các doanh nghiệp Sông Đà hoạt động trong lĩnh vực xây lắp công trình hạ tầng (chủ yếu

là thủy điện), nên hoạt động kinh doanh có tính ổn định cao Tính tại thời điểm cuối năm 2009, các cổ phiếu Sông Đà đã tăng trung bình khoảng gần 90% so đầu năm, gần gấp 2 lần so với mức tăng trung bình của 2 chỉ số VNINDEX và HNXINDEX Các công ty thuộc Tổng công ty cổ phần xuất

Trang 6

nhập khẩu và xây dựng Vinaconex cũng tạo được những đợt sóng mạnh hồi tháng 9-10 năm 2009 với sự dẫn dắt của cổ phiếu mẹ VCG Tuy nhiên, do các doanh nghiệp này chủ yếu kinh doanh trong lĩnh vực xây dựng dân dụng, kết quả kinh doanh chịu nhiều rủi ro nên không được đánh giá cao như các cổ phiếu Sông Đà

Từ năm 2011-2013 đánh dấu một sự khó khăn của các doanh nghiệp xây dựng niêm yết Khác với hai năm trước (2009, 2010), mặc dù được nhiều sự

hỗ trợ, quan tâm từ phía Nhà nước, tuy nhiên, những năm trở lại đây, những khó khăn đặc biệt ảnh hưởng tiêu cực từ phía thị trường bất động sản đã làm giảm hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp xây dựng các lý do có thể

kể đến như : Khoản phải thu tăng mạnh cho thấy các nhà thầu khó thu tiền chủ đầu tư hơn trước, Lợi nhuận nhiều công ty xây dựng bị ảnh hưởng một phần vì phải tăng các khoản trích lập dự phòng khoản phải thu khó đòi, đầu

tư công giảm khiến nhu cầu xây dựng bị sụt giảm, tín dụng ngân hàng, mặc

dù đã được nới lỏng hơn so với những năm trước, nhưng các doanh nghiệp vẫn gặp khó khăn trong việc tiếp cận vốn vay Lãi suất vẫn ở mức cao khiến chi phí tài chính trở thành gánh nặng của các doanh nghiệp xây dựng

Lợi nhuận của nhiều công ty xây dựng trong năm 2013 giảm mạnh Mặc

dù các doanh nghiệp trong ngành vẫn tạo ra doanh thu đáng kể nhưng lợi nhuận trong những năm trở lại đây lại sụt giảm đáng kể Tổng doanh thu của ngành xây dựng và bất động sản trong 9 tháng đầu năm 2013, theo thống kê của Vietstock, đã có sự tăng trưởng mạnh mẽ so với cùng kỳ năm trước với mức tăng trưởng 37.5% đạt 74,286 tỷ đồng Trong đó, VIC đứng đầu bảng doanh thu với 11,601 tỷ đồng trong 9 tháng đầu năm 2013, tiếp theo

làVCG với 8,423 tỷ đồng, CTD với 3,763 tỷ đồng và PVX với 3,426 tỷ đồng Tổng lợi nhuận sau thuế các công ty mẹ trong ngành cũng có bước đột phá khi tăng mạnh hơn 2 lần so với cùng kỳ đạt 6,686 tỷ đồng Tuy nhiên nếu loại

Trang 7

bỏ doanh thu đột biến từ VIC thì kết quả lợi nhuận của ngành không thực sự tích cực khi chỉ đạt 752 tỷ đồng và sụt giảm gần 9% so với cùng kỳ.

Một số doanh nghiệp có doanh thu tăng đáng chú ý, trong nhóm tăng trưởng doanh thu, CTCP PIV (HNX: PIV) là doanh nghiệp có kết quả tăng đến 33 lần so với cùng kỳ năm trước Tuy nhiên, doanh thu của PIV lại đến từ kinh doanh thương mại, bán buôn hàng hóa chứ không đến từ hoạt động chính của công ty Cụ thể, 6 tháng đầu năm 2014, PIV đạt doanh thu hơn 58 tỷ đồng, gấp 33 lần cùng kỳ năm trước Đây cũng là quý mà PIV đạt doanh thu cao nhất kể từ khi niêm yết từ năm 2010.Tiếp đến là CIG, CID và SVN đều

có doanh thu tăng vượt bậc, lần lượt gấp 11, 7 và 4 lần so với nửa đầu năm 2013.Tuy nhiên trong số các doanh nghiệp này, chỉ có CID có doanh thu chủ yếu đến từ lĩnh vực chính là xây dựng Mặc dù doanh thu trong ngành Xây dựng lớn như vậy nhưng khoảng 71 doanh nghiệp đã báo cáo nửa đầu năm

2014 đều đối mặt với thua lỗ trong nửa đầu năm Kết quả, tổng lợi nhuận mà

71 doanh nghiệp trên sàn đã công bố BCTC cho con số hết sức khiêm tốn, chỉ hơn 133 tỷ đồng, bằng 49% lợi nhuận đạt được nửa đầu năm 2013

1.1 Số lượng công ty xây dựng niêm yết tại Việt Nam

Căn cứ vào kết quả phân ngành năm 2013 được công bố chính thức của

Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh và Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội dựa theo VSIC2007 và HaSIC ( ngày 30.10.2013), số lượng công ty cổ phần niêm yết hoạt động trong lĩnh vực xây dựng tại Việt Nam là

115 công ty, chiếm hơn 17% tổng số công ty niêm yết Trong đó có 32 doanh nghiệp niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh và

83 doanh nghiệp niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội Trong 115 công ty này, có nhiều công ty có mối liên hệ mật thiết với nhau do cùng được được hình thành từ nguồn vốn của các Tổng Công ty Xây dựng Nhà nước lớn, thông qua hình thức công ty mẹ - công ty con hoặc đóng vai trò là cổ đông chi

Trang 8

phối, như Tổng công ty Sông Đà, Tổng công ty Lắp Máy Việt Nam (LILAMA), Tổng công ty xuất nhập khẩu và xây dựng Việt Nam (Vinaconex)

Phân loại các công ty xây dựng niêm yết theo nhóm doanh nghiệp có liên quan

Nhóm doanh nghiệp Số lượng doanh nghiệp Tỷ lệ

Hầu hết các công ty xây dựng kể trên có lịch sử hình thành và hoạt động

từ hàng chục năm trước, song thời gian các công ty niêm yết lần đầu trên 2 Sở giao dịch không đồng đều Số lượng các công ty niêm yết trên sàn có sự tăng đột biến trong năm 2006 (21 công ty so với 1 công ty trong năm 2005) Sự tăng đột biến này có thể lý giải bởi sự bùng nổ của thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn 2004-2007 Việc có thể bán chứng khoán lần đầu ra công chúng với giá cao đồng thời thu hút được nguồn vốn lớn là động lực để các công ty, không chỉ riêng trong lĩnh vực xây dựng, đẩy mạnh niêm yết cổ phiếu trong thời gian này Cùng với sự tăng trưởng nóng của thị trường bất động sản tại Việt Nam, năm 2010 lại một lần nữa chứng kiến một số lượng lớn các công ty thuộc ngành xây dựng tiến hành niêm yết cổ phiếu của mình tại cả hai Sở giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh và Hà Nội (38 công ty, chiếm tỷ lệ 32% tổng số công ty xây dựng đang niêm yết hiện nay) Tuy nhiên, khi thị trường bất động sản có sự suy thoái nghiêm trọng và gần như đóng băng, hoạt động niêm yết cổ phiếu của các công ty xây dựng trên sàn

Trang 9

cũng theo đó cũng có xu hướng chững lại Chỉ có 6 cổ phiếu của các công ty xây dựng được niêm yết trên cả 2 sở giao dịch trong 3 năm trở lại đây, từ

1.2 Quy mô tổng tài sản

Tính đến ngày 31/12/2013, tổng tài sản của các doanh nghiệp niêm yết ở Việt Nam đạt 152.000 tỷ đồng, tăng hơn gấp đôi so với con số 70.000 tỷ đồng của năm 2008, đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 16%/năm Tính đến thời điểm cuối năm 2013, 82 trong tổng số 115 công ty xây dựng niêm yết (chiếm 71%) có quy mô tổng tài sản dưới 1.000 tỷ đồng Tuy nhiên, 30% số doanh nghiệp còn lại có tổng tài sản lên tới 114.000 tỷ đồng, chiếm tới 75% tổng tài sản của các doanh nghiệp xây dựng niêm yết Phần lớn các công ty này là tập đoàn lớn ( công ty mẹ) như : Tổng công ty xây dựng Sông Đà, Vinaconex, Bình Dương,

Trong 115 công ty xây dựng niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội, công ty có tổng tài sản nhỏ nhất là Công

Trang 10

ty cổ phần PIV (23,378 tỷ đồng) Cá biệt, có 2 công ty có quy mô tổng tài sản rất lớn, vượt xa so với các công ty còn lại, đó là Tổng Công ty Xuất nhập khẩu và Xây dựng Việt Nam Vinanconex (23.041 tỷ đồng) và Tổng Công ty

Cổ phần Xây lắp Dầu khí Việt Nam (16.515 tỷ đồng) Các công ty còn lại có tổng tài sản năm trong khoảng từ 1.000 tỷ đồng đến 8.000 tỷ đồng

Trong giai đoạn 6 năm từ 2008 đến 2013 quy mô tài sản của các doanh nghiệp niêm yết trong lĩnh vực xây dựng tăng đáng kể Số lượng các công ty có quy mô nhỏ có chiều hướng giảm, đặc biệt là trong nhóm có tổng tài sản từ 50 đến 200 tỷ (từ 37 công ty trong năm 2008 giảm xuống còn 14 công ty trong năm 2013) Theo chiều hướng ngược lại, số lượng các công ty có quy mô tổng tài sản trên 1000 tỷ tăng mạnh, từ 11 công ty tăng lên 32 công ty sau 5 năm

Phân loại công ty xây dựng niêm yết theo quy mô tài sản

Số

lượng

Tỷ trọng

Số lượng

Tỷ trọng

Số lượng

Tỷ trọng

Số lượng

Tỷ trọng

Số lượng

Tỷ trọng

Số lượng

Tỷ trọng

có 12 công ty niêm yết (bao gồm các công ty có mã giao dịch SII, PVV, PSG, PXS, FCN, PVA, HUT, SD7, TDC, HBC, CTD và CII) đạt tốc độ tăng trưởng

Trang 11

tổng tài sản rất cao, trung bình khoảng 70,1% mỗi năm trong suốt thời kỳ 2008-2013 (gấp hơn 4 lần tốc độ tăng trung bình là 16%).

Hình 1 Quy mô tài sản của các công ty xây dựng niêm yết trong giai

đoạn 2008-2013

1.3 Lợi nhuận

Doanh thu của các doanh nghiệp tăng trưởng tốt tuy nhiên lợi nhuận thực

tế lại không mấy khả quan trong những năm qua chủ yếu xuất phát từ:

- Lợi nhuận gộp giảm hay tỷ lệ giá vốn hàng bán trên tổng doanh

thu gia tăng: Trong bối cảnh thị trường năm 2013 thì nhiều doanh nghiệp

trong ngành đối mặt với nhiều khó khăn liên quan tới giá vốn hàng bán trong ngành như ảnh hưởng dây chuyền của việc tăng giá nhiên liệu (điện, xăng); giá bán giảm để kích thích tiêu thụ trong hoàn cảnh khó khăn

- Chi phí tài chính, cụ thể chi phí lãi vay gia tăng: Tổng chi phí lãi vay

của ngành vẫn gia tăng trong thời gian qua đã ảnh hưởng không nhỏ đến

Trang 12

khoản thu nhập tài chính Cụ thể, tổng chi phí lãi vay của ngành trong 9 tháng đầu năm 2013 là 5.280 tỷ đồng, trong khi cùng kỳ năm ngoái là 4.348 tỷ đồng1 Bên cạnh đó, áp lực trả nợ ngắn hạn cao Tổng giá trị nợ vay của

ngành tính đến cuối tháng 9/2013 là 218,388 tỷ đồng, giảm nhẹ so với con số 222,437 tỷ đồng ở thời điểm đầu năm 2013 Nợ vay của ngành vẫn đang tập trung chủ yếu ở khoản nợ vay ngắn hạn với gần 152,691 tỷ đồng chiếm gần 70% tổng nợ vay; trong khi đó nợ vay dài hạn chỉ có 65,757 tỷ đông Như vậy, có thể áp lực trả nợ gốc của ngành vẫn đang đứng ở mức cao Nỗi lo về

áp lực trả nợ của ngành có thể sẽ giảm bớt phần nào khi hoạt động mua lại nợ xấu của VAMC đang diễn ra khá nhanh trong thời gian qua

-Hàng tồn kho bắt đầu sụt giảm nhưng dự phòng cũng tăng lên Lượng hàng tồn kho của ngành tính đến cuối tháng 9 năm 2013 đã giảm

được hơn 400 tỷ đồng so với đầu năm Đây là tín hiệu khá tích cực; tuy nhiên nếu so với tổng giá trị hàng tồn kho của toàn ngành (khoảng 114,371 tỷ đồng) thì mức giảm này là không đáng kể Tuy cải thiện về tổng giá trị hàng tồn kho nhưng khoản dự phòng của khoản mục này đã gia tăng đáng kể từ mức 328 tỷ đồng đầu năm lên 847 tỷ đồng

Việc lãi suất đi vay giảm xuống nhưng chi phí lãi vay của ngành vẫn gia tăng xuất phát từ việc tổng giá trị vay nợ của ngành (ngắn hạn và dài hạn) tại thời điểm cuối tháng 9/2013 vẫn đứng ở mức cao hơn 218 ngàn tỷ đồng, tăng khá mạnh so với thời điểm cùng kỳ năm ngoái chỉ gần 176 ngàn tỷ đồng.Hoạt động kinh doanh của các công ty xây dựng từ năm 2008-2013 gặp nhiều khó khăn do thị trường bất động sản đóng băng, đầu tư công giảm ( ảnh hưởng tiêu cực tới nhu cầu xây dựng trong nước), tín dụng ngân hàng đã được nới lỏng, tuy nhiên khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp xây dựng vẫn còn tồn tại nhiều khó khăn

Qua hình vẽ, có thể thấy rằng lợi nhuận của các doanh nghiệp trong ngành tỷ lệ thuận với quy mô của các doanh nghiệp, cụ thể các doanh nghiệp

1 Nguồn stoxplus

Trang 13

có quy mô lớn thường có ưu thế về lợi nhuận Cụ thể, trong 43 công ty có mức lợi nhuận lớn hơn 10 tỷ đồng trong năm 2013, có 35 công ty (chiếm tỷ lệ 82%) có mức tổng tài sản lớn hơn 500 tỷ đồng Mặt khác, trong 72 công ty có mức lợi nhuận nhỏ hơn 10 tỷ đồng còn lại (bao gồm cả các công ty có mức lợi nhuân âm), có đến 51 công ty (chiếm tỷ lệ 71%) có mức tổng tài sản nhỏ hơn

500 tỷ đồng Như vậy có thể thấy, nhìn chung, đối với các doanh nghiệp xây dựng niêm yết tại Việt Nam, quy mô tổng tài sản lớn sẽ là một điều kiện thuận lợi để đạt được mức lợi nhuận lớn trong năm

Tổng tài sản và lợi nhuận của các công ty xây dựng niêm yết năm 2013

Đơn vị: tỷ đồng

Phân nhóm các công ty theo quy mô lợi nhuận trong thời kỳ 6 năm từ

2008 đến 2013, có thể thấy rằng tình hình lợi nhuận của các công ty xây dựng niêm yết có sự biến động không đều qua các năm, đặc biệt là ở nhóm có mức lợi nhuận cao Cụ thể, số lượng công ty có mức lợi nhuận lớn hơn 20 tỷ tăng dần trong giai đoạn 2008 đến 2010 (từ 22 công ty trong năm 2008 lên 52 công

ty trong năm 2010), và giảm mạnh trong giai đoạn sau đó (chỉ còn 26 công ty trong năm 2013) Số lượng các công ty có mức lợi nhuận trong khoảng từ 5 đến 20 tỷ lại giảm liên tục qua các năm Ngược lại, số các công ty thuộc nhóm thu nhập thấp nhất (nhỏ hơn 1 tỷ) lại tăng lên Như vậy, có thể thấy rằng mặc

dù quy mô tổng tài sản của các công ty xây dựng niêm yết tại Việt Nam có xu

Trang 14

hướng tăng lên, thể hiện qua số lượng công ty có quy mô tài sản lớn ngày càng tăng, thì quy mô lợi nhuận lại có xu hướng giảm xuống.

Phân loại công ty xây dựng niêm yết theo quy mô lợi nhuận

Năm Nhỏ hơn 0 Từ 0 đến 1 tỷVND Từ 1 tỷ đến 5 tỷ VND Từ 5 đến 20 tỷ Từ 20 tỷ đến 100 tỷ Trên100 tỷ

Số

lượng

Tỷ trọng

Số lượng

Tỷ trọng

Số lượng

Tỷ trọng

Số lượng

Tỷ trọng

Số lượng

Tỷ trọng

Số lượng

Tỷ trọng 200

1.4 Hiệu quả hoạt động

Để đo lường hiệu quả hoạt động của một doanh nghiệp, các chỉ tiêu kế toán thường được sử dụng là ROA và ROE

ROA, ROE trung bình ngành của các công ty xây dựng niêm yết

Cùng xu hướng với chỉ tiêu lợi nhuận, tỷ lệ ROA và ROE trung bình của các công ty xây dựng niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ

Trang 15

Chí Minh và Hà Nội cũng có sự tăng lên trong giai đoạn đầu của thời kỳ nghiên cứu (2008-2010), song lại giảm rất mạnh trong những năm sau đó (2011-2013) Tỷ lệ ROA trung bình trong năm 2013 chỉ còn ở mức rất thấp (0.47%) so với con số 5.03% của năm 2010 Đặc biệt, năm 2012 và 2013 chứng kiến tỷ lệ ROE trung bình của các công ty xây dựng niêm yết đạt mức

âm, với con số lần lượt là -13.54% và -3.1% Điều đáng lưu ý ở đây là tuy số lượng công ty đạt mức lợi nhuận âm trong hai năm này chỉ chiếm khoảng 17% tổng số công ty thuộc phạm vi nghiên cứu (22 công ty trong năm 2012

và 19 công ty trong năm 2013), song tỷ lệ ROE trung bình ngành vẫn nhỏ hơn

0, cho thấy tỷ lệ ROE của những công ty nói trên đạt mức âm rất lớn Qua tính toán cho thây mức ROE trung bình đối với các công ty thuộc nhóm này lần lượt là -117% và -61,45% trong hai năm 2012 và 2013 Lý giải cho hiện tượng này là do sự đóng băng của thị trường bất động sản Việt Nam, khiến một số doanh nghiệp khó khăn trong hoạt động kinh doanh và dẫn đến thua

lỗ Hơn nữa, đặc thù của ngành xây dựng là sản xuất và kinh doanh với quy

mô lớn, nên khi xảy ra sự khó khăn trong khả năng tiêu thụ sản phẩm và giá thành dẫn đến sự sụt giảm nghiêm trọng trong lợi nhuận cũng là điều dễ hiểu.Biểu diễn ROE các năm của các công ty xây dựng niêm yết tại Việt Nam với mốc sắp xếp theo thứ tự tăng dần là năm 2008, ta thấy rõ ràng ROE biến động theo chiều hướng khá tiêu cực sau 5 năm (Trong biểu đồ đã loại bỏ đi 2 trường hợp trong năm 2013: Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây lắp Dầu khí Sài gòn – mã chứng khoán PSG và Công ty Cổ phần Xây lắp Dầu khí Miền Trung – mã chứng khoán CXM, do 2 công ty này trong năm 2013 có mức lợi nhuận

âm, đồng thời vốn chủ sở hữu cũng âm, do đó không tính được ROE) Sự biến động tiêu cực này thể hiện ở những điểm sau:

Thứ nhất, tỷ lệ ROE của các công ty có xu hướng đi xuống trong thời kỳ

nghiên cứu Tuy tỷ lệ này có sự tăng lên trong năm 2009 và 2010, song mức tăng này không nhiều, đồng thời tiếp theo đó là sự giảm mạnh trong những năm tiếp theo, đặc biệt là năm 2012 và 2013 (đường biểu diễn tỷ lệ ROE năm sau nằm dưới đường biểu diễn của năm trước)

Trang 16

Thứ hai, có nhiều công ty có tỷ lệ ROE âm rất lớn (nhỏ hơn -50%, cá

biệt có công ty lên đến -250%), đặc biệt là trong hai năm 2012 và 2013, trong khi đó, phần lớn các công ty có tỷ lệ ROE dương cũng chỉ nằm trong khoảng dưới 10%

Tỷ lệ ROE của các công ty xây dựng niêm yết trong giai đoạn 2008-2013

Xu hướng tương tự cũng xảy ra với tỷ lệ ROA của các công ty được nghiên cứu Tỷ lệ này biến động không đều qua các năm và giữa các công ty với nhau Có rất nhiều công ty có tỷ lệ ROA cao trong năm 2008 và 2009, song lại giảm mạnh trong những năm tiếp theo đó, có nhiều trường hợp còn ở mức âm Điều này cho thấy sự không ổn định trong hiệu quả hoạt động kinh doanh của các công ty niêm yết trong ngành xây dựng ở Việt Nam

Tỷ lệ ROE của các công ty xây dựng niêm yết trong giai đoạn 2008-2013

Trang 17

1.5 Hiệu suất sử dụng tổng tài sản

Hiệu suất sử dụng tổng tài sản (hay còn gọi là số vòng quay tổng tài sản)

là thước đo khái quát nhất hiệu quả sử dụng tài sản trong doanh nghiệp Tỷ số này được tính bằng doanh thu trong năm chia cho tổng tài sản bình quân của doanh nghiệp trong năm đó Hiệu suất sử dụng tổng tài sản của các công ty xây dựng niêm yết được biểu diễn trong biểu đồ

Hiệu suất sử dụng tổng tài sản của các công ty xây dựng niêm yết trong

giai đoạn 2008-2013

Có thể thấy rằng, khác với các chỉ tiêu về hiệu quả hoạt động (ROA và

Trang 18

ROE), hiệu suất sử dụng tổng tài sản của các công ty xây dựng niêm yết có sự dao động trong khoảng từ 0,5 đến 1 Tuy nhiên, cũng giống như ROA và ROE, chỉ tiêu này cũng cho thấy sự giảm dần trong 2 năm 2012 và 2013 Có nhiều doanh nghiệp đạt mức chỉ số tương đối cao (lớn hơn 1.5), tuy nhiên tập trung chủ yếu trong 3 năm 2009, 2010 và 2011 Trái lại, cũng có không ít công ty có chỉ số hiệu quả sử dụng tổng tài sản rất thấp (tỷ số Doanh thu/ Tổng tài sản gần ở mức 0), tập trung chủ yếu ở hai năm 2012 và 2013 Đây cũng là 2 năm tồi tệ nhất của thị trường bất động sản Việt Nam, khi mà không

có nhiều giao dịch trên thị trường, lượng hàng tồn kho bất động sản tăng lên nhanh chóng và ở con số rất lớn (đạt giá trị gần 100.000 tỷ đồng tại thời điểm cuối năm 2013)

1.6 Kết luận

Có thể thấy được rằng, tình hình hoạt động kinh doanh của các công ty xây dựng niêm yết trong giai đoạn 2008-2013 cũng không nằm ngoài xu hướng chung của thị trường xây dựng và bất động sản Việt Nam trong cùng thời kỳ Cùng với sự bùng nổ và sự phát triển nóng của thị trường, các công ty xây dựng niêm yết tại Việt Nam cũng tăng nhanh chóng cả về số lượng và quy mô Tuy nhiên, sau khi bong bóng bất động sản vỡ, thị trường gần như bị đóng băng, kể cả những khách hàng có nhu cầu cũng dè dặt trong các giao dịch, thì tình hình hoạt động của phần lớn các công ty có chiều hướng đi xuống, một số còn sụt giảm nghiêm trọng Thực trạng này đặt ra vấn đề cho các công ty cần phải có những biện pháp để phục hồi và nâng cao năng lực hoạt động của chính mình để đứng vững trước các đối thủ cạnh tranh, đồng thời tự bảo vệ trước những rủi ro do biến động của thị trường mang lại

Trang 19

CHƯƠNG 2 KIỂM ĐỊNH THỰC CHỨNG VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CẤU TRÚC SỞ HỮU TỚI HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP

2 Mô hình và phương pháp nghiên cứu

2.1 Dữ liệu và nguồn dữ liệu

Dữ liệu được sử dụng trong nghiên cứu này được thu thập từ báo cáo tài chính của 112 công ty trong ngành xây dựng niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX) và Sở giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh ( HOSE) trong giai đoạn 2008 – 2013 Bài viết sử dụng số liệu bảng, cấu trúc dữ liệu bảng được kết hợp từ 2 thành phần: thành phần dữ liệu chéo ( cross – section) và thành phần dữ liệu theo chuỗi thời gian ( time series) Việc kết hợp

2 loại dữ liệu có nhiều lợi thế và thuận lợi trong phân tích, đặc biệt khi muốn quan sát, phân tích sự biến động của các nhóm đối tượng nghiên cứu sau các biến cố hay theo thời gian cũng như phân tích sự khác biệt giữa các giữa các nhóm đối tượng nghiên cứu Ưu điểm của dữ liệu bảng: (1) Khắc phục vấn đề phương sai sai số thay đổi (Heterogeneity) – vốn là một hiện tượng phổ biến khi trong mẫu quan sát theo thời gian có nhiều hơn một đối tượng, (2) phù hợp cho các nghiên cứu về sự thay đổi theo thời gian (Dynamics of Change), (3) dữ liệu bảng có khả năng đo lường và tìm hiểu các tác động mà không thể quan sát được khi tách riêng ra thành chuỗi thời gian (Time Series) hay dữ liệu chéo (Cross-Section Data),(4) khắc phục được hiện tượng đa cộng tuyến

2.2 Phương pháp nghiên cứu

Bài viết sử dụng kiểm định Hausman để kiểm tra dữ liệu thu được sẽ theo mô hình nào giữa mô hình tác động cố định FEM và mô hình tác động ngẫu nhiên REM Ngoài ra, các phân tích thống kê mô tả cũng được sử dụng kết hợp với các kết quả hồi quy để đưa ra kết luận về các giả thuyết Trong bài

Ngày đăng: 03/03/2015, 14:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1 Quy mô tài sản của các công ty xây dựng niêm yết trong giai - Chuyên đề  Kiểm định thực chứng về tác động của cấu trúc sở hữu tới hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
Hình 1 Quy mô tài sản của các công ty xây dựng niêm yết trong giai (Trang 11)
Bảng 1: Thống kê mô tả cho các biến trong mô hình. - Chuyên đề  Kiểm định thực chứng về tác động của cấu trúc sở hữu tới hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
Bảng 1 Thống kê mô tả cho các biến trong mô hình (Trang 23)
Bảng 2: Hệ số tương quan giữa các biến số - Chuyên đề  Kiểm định thực chứng về tác động của cấu trúc sở hữu tới hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
Bảng 2 Hệ số tương quan giữa các biến số (Trang 24)
Bảng 4: Tác động của SO lên hệ số ROE - Chuyên đề  Kiểm định thực chứng về tác động của cấu trúc sở hữu tới hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
Bảng 4 Tác động của SO lên hệ số ROE (Trang 27)
Bảng 5 và bảng 6 phản ánh tác động của sở hữu Nhà nước tới ROA &  ROE của các công ty xây dựng niêm yết - Chuyên đề  Kiểm định thực chứng về tác động của cấu trúc sở hữu tới hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
Bảng 5 và bảng 6 phản ánh tác động của sở hữu Nhà nước tới ROA & ROE của các công ty xây dựng niêm yết (Trang 28)
Bảng 7: Tác động của FO lên hệ số ROE: - Chuyên đề  Kiểm định thực chứng về tác động của cấu trúc sở hữu tới hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
Bảng 7 Tác động của FO lên hệ số ROE: (Trang 31)
Bảng 9: Tác động của phi tuyến của sở hữu nhà nước lên Q: - Chuyên đề  Kiểm định thực chứng về tác động của cấu trúc sở hữu tới hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
Bảng 9 Tác động của phi tuyến của sở hữu nhà nước lên Q: (Trang 33)
Bảng 10: Tác động của phi tuyến của sở hữu nhà nước lên ROE: - Chuyên đề  Kiểm định thực chứng về tác động của cấu trúc sở hữu tới hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
Bảng 10 Tác động của phi tuyến của sở hữu nhà nước lên ROE: (Trang 34)
Bảng 11: Tác động của phi tuyến của sở hữu nhà nước lên ROA. - Chuyên đề  Kiểm định thực chứng về tác động của cấu trúc sở hữu tới hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
Bảng 11 Tác động của phi tuyến của sở hữu nhà nước lên ROA (Trang 35)
Bảng 13: Tác động của phi tuyến của sở hữu nước ngoài lên ROE. - Chuyên đề  Kiểm định thực chứng về tác động của cấu trúc sở hữu tới hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
Bảng 13 Tác động của phi tuyến của sở hữu nước ngoài lên ROE (Trang 37)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w