Vấn đề nghiên cứu Gỉa thuyết nghiên cứu - Việc hướng dẫn học sinh ghi nhớ nội dung bài mới ở khối lớp 7 bằng phương pháp sử dụng bản đồ tư duy đươc hay không?. Xuất phát từ lí do trên,
Trang 1MỤC LỤC
1 TÓM TẮT -Trang 3
2 GIỚI THIỆU -Trang 3
2.1 Giải pháp thay thế -Trang 4 2.2 Vấn đề nghiên cứu -Trang 4
3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU -Trang 5
3.1 Khách thể nghiên cứu -Trang 5 3.2 Thiết kế nghiên cứu -Trang 5 3.3 Qui trình nghiên cứu -Trang 6 3.4 Đo lường thu thập dữ liệu -Trang 8
4 PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VÀ BÀN LUẬN KẾT QUẢ -Trang 8
4.1 Phân tích dữ liệu -Trang 8 4.2 Bàn luận kết quả -Trang 9
5 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ -Trang 10
5.1 Kết luận: -Trang 10 5.2 Khuyến nghị -Trang 10 TÀI LIỆU THAM KHẢO -Trang 11 PHỤ LỤC -Trang 11 ĐÁNH GIÁ -Trang 25
DANH MỤC VIẾT TẮT
- HS: Học sinh
- TBC: Trung bình chuẩn
Trang 2KẾ HOẠCH
NGHIÊN C U KHOA H C S PH M NG D NGỨU KHOA HỌC SƯ PHẠM ỨNG DỤNG ỌC SƯ PHẠM ỨNG DỤNG Ư PHẠM ỨNG DỤNG ẠM ỨNG DỤNG ỨU KHOA HỌC SƯ PHẠM ỨNG DỤNG ỤNG
BƯỚC HOẠT ĐỘNG
1 Hiện trạng
Nguyên nhân
- HS chỉ biết về nhà học thuộc lòng kiến thức bài học
- Các em còn ghi nhớ kiến thức bài học một cách máy móc, lộn xộn, dẫn đến khó nhớ mau quên
- Còn nhầm lẫn giữa kiến thức này với kiến thức kia dẫn đến kết quả học tập thấp
- Học sinh bị hổng kiến thức
2 Giải pháp thay thế Phương pháp sử dụng bản đồ tư duy để ghi nhớ nội dung bài mới
ngay tại lớp
3 Vấn đề nghiên cứu
Gỉa thuyết nghiên cứu
- Việc hướng dẫn học sinh ghi nhớ nội dung bài mới ở khối lớp
7 bằng phương pháp sử dụng bản đồ tư duy đươc hay không ?
- Bản vẽ bản đồ tư duy của HS
- Kết quả các bài kiểm tra của HS
4 Thiết kế - Chọn thiết kế mẫu 2: Chọn lớp 7A1 một nhóm (5 em), chọn
lớp 7A2 một nhóm (5 em) có trình độ, kết quả học tập tương đương để thực hiện
Nhóm của lớp 7A1: nhóm thực nghiệm Nhóm của lớp 7A2: nhóm đối chứng
Lớp KT trước khi
nhóm tác động Tác động
KT sau khi nhóm tác động
Trong đó:
O1, O2 là kết quả kiểm tra trước khi nhóm tác động
O3, O4 là kết quả kiểm tra sau khi nhóm tác động
x là tác động Nếu O3 O4 0 thì tác động có ảnh hưởng tốt
5 Đo lường 1 Kết quả kiểm tra của HS trả lời các câu hỏi tự luận
2 Bài kiểm tra tương tự như các bài kiểm tra thường trên lớp
3 Kiểm chứng độ giá trị nội dung của bài kiểm tra sau tác động với giáo viên khác
Trang 34 Kiểm chứng độ tin cậy bằng cách chấm điểm nhiều lần do giáo viên khác đảm nhiệm
6 Phân tích dữ liệu - Sử dụng phép kiểm chứng T-test độc lập và mức độ ảnh hưởng
7 Kết quả - Kết quả đối với mỗi vấn đề nghiên cứu có ý nghĩa không?
- Nếu có ý nghĩa, mức độ ảnh hưởng như thế nào?
- Tương quan giữa các bài kiểm tra như thế nào ?
1 TÓM TẮT:
Hiện nay, chúng ta thường ghi chép thông tin bằng các ký tự, đường thẳng, con số Với cách ghi chép này, chúng ta mới chỉ sử dụng một nửa của bộ não - não trái, mà chưa sử dụng kỹ năng bên não phải, nơi giúp chúng ta xử lý các thông tin về nhịp điệu, màu sắc, không gian và cách ghi chép thông thường khó nhìn được tổng thể của cả vấn đề
Qua nghiên cứu cho thấy, nhiều học sinh chưa biết cách học, cách ghi kiến thức vào bộ não mà chỉ học thuộc lòng, học vẹt, thuộc một cách máy móc, thuộc nhưng không nhớ được kiến thức trọng tâm của bài mới ngay tại lớp, hoặc không biết liên tưởng, liên kết các kiến thức có liên quan với nhau
Xuất phát từ lí do trên, cho nên tôi chọn đề tài nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
“Hướng dẫn học sinh ghi nhớ nội dung bài mới môn Địa lý ở khối lớp 7 Trường THCS Tân Hiệp bằng phương pháp sử dụng bản đồ tư duy”
Qua quá trình nghiên cứu, tôi thấy đề tài đã có khả năng thay đổi phương pháp học tập của học sinh, phát huy được tính chủ động, sáng tạo của các em, các em có khả năng ghi nhớ kiến thức bài mới nhanh hơn ngay tại lớp, lâu hơn và nhất là năng động hơn trong quá trình học tập
2
GIỚI THIỆU :
Trong quá trình giảng dạy môn Địa Lí ở Trường THCS Tân Hiệp, tôi nhận thấy việc tiếp
cận và lĩnh hội kiến thức, nội dung bài học là một phần khó khăn đối với học sinh Tuy nhiên việc ghi nhớ kiến thức nội dung bài mới ngay tại lớp một cách khoa học và chính xác
là một phần đặc biệt khó khăn đối với các em Một trong các nguyên nhân dẫn đến những khó khăn đó là:
* Về học sinh:
Học sinh chưa có phương pháp ghi nhớ kiến thức một cách khoa học, logic, chưa biết sắp xếp kiến thức theo một trình tự nhất định, rõ ràng, thể hiện mối liên hệ giữa các
Trang 4kiến thức đó Các em còn ghi nhớ kiến thức bài học một cách máy móc, lộn xộn, dẫn đến khó nhớ, mau quên
Học sinh chỉ chú trọng đến việc học thuộc lòng, từng chữ từng câu mà chưa chú ý đến nội dung của các câu từ đó trong nội dung bài học còn nhầm lẫn giữa kiến thức này với kiến thức kia dẫn đến kết quả học tập thấp
Thời gian dành cho việc học tập của học sinh là chưa phù hợp (một số học sinh ngoài việc học tập ở trường còn phải tham gia lao động sản xuất phụ giúp gia đình)
Học sinh bị hổng kiến thức nên việc khái quát nội dung bài học là quá khó với các em
* Về Giáo viên
Việc đổi phương pháp còn chưa đồng bộ, còn sử dụng nhiều các phương pháp dạy học truyền thống trong đó phương pháp đàm thoại vẫn chiếm một tỉ lệ khá cao
Khi kiểm tra miệng còn chú trọng quá nhiều đến việc trả lời các câu hỏi dưới dạng ghi nhớ kiến thức một cách máy móc
Để thay đổi những hiện trạng trên đề tài này sử dụng phương pháp ghi nhớ nội dung bài mới bằng phương pháp sử dụng bản đồ tư duy
* GIẢI PHÁP THAY THẾ
Hướng dẫn học sinh ghi nhớ nội dung bài mới bằng phương pháp sử dụng bản đồ tư duy trong phần ghi nhớ bài mới ngay tại lớp
* VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Việc hướng dẫn học sinh khối lớp 7 Trường THCS Tân Hiệp ghi nhớ nội dung bài mới bằng phương pháp sử dụng bản đồ tư duy có mang lại hiệu quả hay không?
Với một từ khóa trung tâm học sinh sẽ vẽ tóm tắt những nhánh kiến thức cụ thể với những màu sắc khác nhau Từ việc giúp các em học sinh có khả năng ghi nhớ và tái hiện kiến thức một cách khoa học, logic và chính xác thì tôi cũng muốn phát huy tính tích cực, năng động và sáng tạo của học sinh trong quá trình tự vẽ bản đồ tư duy cho bài học của mình
Trong thực tế học lý thuyết chúng ta có hình ảnh và màu sắc giúp học sinh ghi nhớ sâu sắc các vấn đề trong cuộc sống cũng như trong học tập Sử dụng bản đồ tư duy là hình thức ghi chép nhằm tìm tòi đào sâu, mở rộng một ý tưởng, tóm tắt những ý chính của nội dung bài mới bằng cách kết hợp việc sử dụng hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết qua
Trang 5đó giúp học sinh phát huy tính tích cực, năng động và sáng tạo của học sinh tôi muốn truyền cho các em lòng tin vào môn học địa lí, lòng say mê tìm hiểu địa lí cơ sở, địa lí các Châu, đặc biệt là địa lí Việt Nam ứng dụng của nó trong đời sống
* Dữ liệu thu thập được: Các bảng vẽ bản đồ tư duy của học sinh Các bài kiểm tra của
học sinh sau các lần kiểm tra
* Giả thuyết nghiên cứu: Việc ghi nhớ nội dung bài mới ở khối lớp 7 bằng phương pháp
sử dụng bản đồ tư duy sẽ nâng cao được khả năng ghi nhớ bài ngay tại lớp không cần thuộc lòng nhằm phát huy được tính năng động và sáng tạo của các em
3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU :
3.
1 Khách thể nghiên cứu:
Tôi đã lựa chọn học sinh hai lớp 7A1 và 7A2 Trường THCS Tân Hiệp – Tân Châu – Tây Ninh, mỗi lớp 5 học sinh có trình độ học tập tương đương nhau để có điều kiện thuận lợi cho việc nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
- Về giáo viên:
- Được sự phân công giảng dạy Địa Lý 7 trong nhiều năm tôi đã tích cực nghiên cứu
và sử dụng có hiệu quả các phương tiện kết hợp với đồ dùng dạy học tự làm, luôn lựa chọn, vận dụng phối hợp các phương pháp dạy học tích cực vào mỗi tiết dạy Bên cạnh đó tôi thường xuyên dự giờ đồng nghiệp và được các đồng nghiệp dự giờ rút kinh nghiệm, cùng nhau trao đổi để tìm ra biện pháp tối ưu nhất kích thích học sinh chủ động trong giờ học
- Về học sinh:
Các em học sinh hai lớp được lựa chọn có nhiều điểm tương đồng nhau trong quá trình học tập, có trình độ học tập tương đương nhau
3.2 Thiết kế nghiên cứu:
Bước 1: Thiết kế 1
Chọn hai lớp để nghiên cứu là lớp 7A1 và lớp 7A2, trong đó lớp 7A1 là lớp thực nghiệm và lớp 7A2 là lớp đối chứng Tôi chọn mỗi lớp 5 học sinh với các tiêu chí tương đương nhau, cho các em làm một bài kiểm tra 30 phút (kiểm tra trước tác động) Kết quả cho thấy điểm trung bình của hai nhóm có sự khác nhau do đó tôi sử dụng phép kiểm
chứng T- test để kiểm chứng sự chênh lệch giữa điểm trung bình của hai nhóm trước khi
tác động
Kết quả:
Trang 6Bảng 1:
Nhóm thực nghiệm – 7A1 Nhóm đối chứng – 7A2
Với p = 0,31 > 0,05 do đó sự chênh lệch điểm trung bình của hai nhóm là không có ý nghĩa, hai nhóm được coi là tương đương
Bước 2: Thiết kế 2:
Kiểm tra trước và sau tác động đối với các nhóm tương đương
Bảng 2:
Nhóm Kiểm tra trước
tác động
tác động Thực nghiệm
(lớp 7A1, 5HS)
O1 Hướng dẫn ghi nhớ nội dung bài
mới bằng phương pháp sử dụng bản
đồ tư duy
O3
Đối chứng
(lớp 7A2, 5HS)
O2 Không hướng dẫn ghi nhớ bài mới
bằng phương pháp sử dụng bản đồ
tư duy
O4
Ở thiết kế này tôi sử dụng phép T-test độc lập
3.3 Qui trình nghiên cứu:
a/ Cơ sở lí luận
Trước những yêu cầu của xã hội, thời đại và sự phát triển của khoa học – kĩ thuật, mục tiêu của môn học Địa Lý ngày nay không đơn thuần chỉ là cung cấp kiến thức và rèn luyện kĩ năng cho học sinh, mà qua đó phải góp phần cùng môn học khác đào tạo ra những con người có năng lực hành động, tính sáng tạo, năng động, tính tự lực, năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng để giải quyết những tình huống, vấn đề của cuộc sống Cho nên gần đây
đã có nhiều cuộc cải tiến ở giảng dạy giáo dục phổ thông, trong đó có bậc Trung học cơ sở,
mà tiêu biểu là đổi mới phương pháp dạy học Vì vậy cần phải đổi mới phương pháp dạy
và học, áp dụng những phương pháp mới, hiện đại để bồi dưỡng cho học sinh năng lực tư duy sáng tạo, năng lực tự giải quyết vấn đề, năng lực chủ động chiếm lĩnh tri thức Đặc biệt
Trang 7đối với bộ môn Địa Lý thì khả năng ghi nhớ bài mới ngay tại lớp không cần học thuộc lòng
có vai trò quyết định đến việc phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh
b/ Thực tế tổ chức dạy học
Thời gian tiến hành thực nghiệm vẫn tuân theo kế hoạch dạy học của nhà trường và theo thời khóa biểu để đảm bảo tính khách quan Cụ thể:
Bảng 3: Kế hoạch giảng dạy
Thứ ngày Môn/Lớp Tiết theo PPCT Tên bài dạy
Năm
8/1/2013
Sáu
9/1/2013
Năm
15/1/2013
Sáu
16/1/13
c/ Biện pháp thực hiện
* Chuẩn bị của giáo viên:
- Lựa chọn các bài ( chương VII Bài 36,37,38,39 ) với các bài có nội dung lý thuyết lớn, cần ghi nhớ nhiều
- Giáo viên hướng dẫn cách chọn từ khóa (từ trung tâm), cách tạo các nhánh cấp 1, nhánh cấp 2, … đặc biệt là cách chọn màu sắc cho mỗi nhánh Giới thiệu một số loại bản
đồ tư duy đã được tạo trên máy tính và của học sinh ở các trường mà giáo viên sưu tầm được để học sinh tham khảo
* Chuẩn bị của học sinh
- Giấy, hộp màu, bút và các vật dụng học tập cần thiết khác
- Chuẩn bị ý tưởng cho bản đồ tư duy của mình
* Tiến hành thực nghiệm
Sau khi học xong một bài học Thay vì giáo viên chỉ hướng dẫn học sinh về nhà học nội dung lý thuyết như bình thường thì nay giáo viên dành thời gian khoảng 5 phút để hướng dẫn học sinh tạo một bản đồ tư duy theo các nhánh như: kiến thức trọng tâm trong khung sách giáo khoa(nhánh cấp 1) Từ các nhánh cấp 1 đó thì học sinh sẽ tạo các nhánh cấp 2 hoặc cấp 3 theo từng bài học cụ thể
Trang 8Giáo viên hướng dẫn cách sử dụng màu sắc cho mỗi nhánh (nhánh cấp 1 sử dụng màu
gì thì nhánh cấp 2, cấp 3 cũng sử dụng màu đó Mỗi nhánh ta chỉ sử dụng một màu)
Học sinh tiến hành tạo ngay một bản đồ tư duy trên giấy nháp mà không cần tô màu sau đó nộp lại cho giáo viên
Giáo viên nhận xét chỉ rõ những ưu điểm, tồn tại của những bản đồ tư duy đó ngay tại lớp và yêu cầu học sinh về nhà tự tạo cho mình một bản đồ tư duy thể hiện nội dung bài học và học bài theo cấu trúc của bản đồ tư duy đã tạo Ở những tiết học sau giáo viên tiến hành kiểm tra khả năng ghi nhớ và tái hiện kiến thức ở phần kiểm tra miệng và thu lại bản
đồ tư duy của học sinh
Các bài được thực hiện theo kế hoạch đã nêu trong bảng 3
3.4 Đo lường và thu thập dữ liệu
- Bài kiểm tra trước tác động là bài kiểm tra 45 phút với mục đích tái hiện kiến thức về nội dung trọng tâm của các bài 36,37,38,39 do cô Phạm Thị Thúy giáo viên giảng dạy môn Địa
Lí khối 8 Trường THCS Tân Hiệp ra đề, coi bài kiểm tra và chấm bài kiểm tra dựa trên biểu điểm và đáp án đã xây dựng (xem phần phụ lục)
Giáo viên bắt đầu tác động ở lớp 7A1 từ tiết PPCT 41: Thiên Nhiên Bắc Mĩ đến tiết PPCT 42: Dân cư Bắc Mĩ (xem bảng 3)
Bài kiểm tra sau tác động là bài kiểm tra 45 phút sau khi học xong tiết PPCT 42: Dân
cư Bắc Mĩ, với mục tiêu kiểm tra khả năng ghi nhớ và tái hiện kiến thức đã học về Châu
Mĩ … do cô Phạm Thị Thúy và Trương Thị Thu Trang là giáo viên giảng dạy môn Địa Lí
ở trường THCS Tân Hiệp ra đề, coi kiểm tra và chấm bài kiểm tra dựa trên biểu điểm và đáp án đã xây dựng (xem phần phụ lục)
4 PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VÀ BÀN LUẬN KẾT QUẢ
4.1 Phân tích dữ liệu
Bảng 5: So sánh điểm trung bình bài kiểm tra sau tác động
Nhóm thực nghiệm (7A1)
(5 học sinh)
Nhóm đối chứng (7A2) (5 học sinh)
Trang 9(SMD)
Với kết quả trên đã chứng minh 2 nhóm là tương đương Sau tác động kiểm chứng chênh lệch điểm trung bình bằng T- Test cho kết quả p = 0.02 < 0,05 cho thấy sự chênh
lệch giữa điểm trung bình nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng rất có ý nghĩa, tức là
chênh lệch kết quả điểm trung bình của lớp 7a1 cao hơn điểm trung bình của lớp 7a2 là không ngẫu nhiên mà do kết quả của tác động
Chênh lệch giá trị trung bình chuẩn SMD = 1,4 > 1 cho thấy mức độ ảnh hưởng của dạy
học có hướng dẫn phương pháp ghi nhớ kiến thức bằng việc sử dụng bản đồ tư duy ở lớp 7A1 là rất lớn
* Giả thuyết của đề tài:
“Hướng dẫn học sinh cách ghi nhớ ghi nhớ bài mới ngay tại lớp ở chương VII bằng phương pháp sử dụng bản đồ tư duy” ở trường THCS Tân Hiệp, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh đã được kiểm chứng
0
1
2
3
4
5
6
7
8
9
nhóm TN (7A1) Nhóm ĐC (7A2)
Biểu đồ so sánh điểm trung bình của hai nhóm trước và sau tác động
4.2 Bàn luận kết quả
Kết quả của bài kiểm tra sau tác động của nhóm thực nghiệm là TBC = 8.0 kết quả bài kiểm tra tương ứng của nhóm đối chứng là TBC = 6,4 Độ chênh lệch điểm số giữa hai nhóm là 1,6 Điều đó cho thấy điểm trung bình chuẩn của hai lớp đối chứng và thực nghiệm đã có sự khác biệt rõ rệt, lớp được tác động có điểm trung bình chuẩn cao hơn lớp đối chứng
Trang 10Chênh lệch giá trị trung bình chuẩn của hai bài kiểm tra là SMD = 1,4 Điều này có nghĩa mức độ ảnh hưởng của tác động là rất lớn
Phép kiểm chứng T-test ĐTB sau tác động của hai lớp là p = 0,02 < 0,05 Kết quả này khẳng định sự chênh lệch điểm trung bình của hai nhóm không phải là do ngẫu nhiên mà là
do tác động
* Hạn chế: Nghiên cứu này có thể thực hiện được ở tất cả các môn học trong Trường THCS Tuy nhiên nếu không phối hợp nhịp nhàng cân đối phương pháp sử dụng bản đồ tư duy logic khoa học với việc cần nắm vững nội dung của các kiến thức đó thì sẽ mang lại hiệu quả không cao, dễ sa vào hình thức mà bỏ qua nội dung dạy và học
Trong quá trình nghiên cứu đề tài này người nghiên cứu cũng cần phải có trình độ tin học nhất định, phải biết khai thác tốt các nguồn thông tin qua mạng Internet, biết thiết
kế và kiểm tra hợp lí
5 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
5.1 Kết luận:
Học sinh ghi nhớ nội dung bài mới bằng phương pháp sử dụng bản đồ tư duy đối với học sinh khối lớp 7 trường THCS Tân Hiệp, Tân Châu, Tây Ninh đã giúp cho các em nâng cao kết quả học tập Bên cạnh đó thì đề tài còn rèn luyện được khả năng tư duy, kỹ năng thuyết trình và làm việc khoa học Sử dụng bản đồ tư duy giúp cho các em hiểu được nội dung bài học một cách rõ ràng và hệ thống Việc ghi nhớ cũng như vận dụng cũng sẽ tốt hơn Chỉ cần nhìn vào bản đồ tư duy, bất kỳ học sinh nào cũng có thể thuyết trình được nội dung bài học
5.2 Khuyến nghị
Trong thực tế hiện nay, còn nhiều học sinh Học thụ động, chỉ đơn thuần là nhớ kiến thức một cách máy móc mà chưa rèn luyện kỹ năng, học sinh chỉ học bài nào biết bài đấy, cô lập nội dung của các môn, phân môn mà chưa có sự liên hệ kiến thức với nhau vì vậy mà chưa phát triển được tư duy logic và tư duy hệ thống Sử dụng bản đồ tư duy giúp các em ghi nhớ bài mới ngay tại lớp không cần thuộc lòng và nâng cao hiệu quả học tập