1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Biểu hiện, nguồn gốc kinh điển và giá trị nghệ thuật trong thơ Nguyễn Công Trứ

21 877 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 136,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

tIỂU LUẬN ĐỀ TÀI Biểu hiện, nguồn gốc kinh điển và giá trị nghệ thuậttrong thơ Nguyễn Công Trứ. 1. Bạch diện thư sinh Nguyễn Công Trứ (1778 – 1858), tự Tồn Chất, hiệu Ngộ Trai, biệt hiệu Hy Văn, người làng Uy Viễn, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Cha của ông là Nguyễn Công Tấn, đậu cử nhân làm giáo thụ phủ An Sơn, Nghệ An, rồi tri phủ Tiên Hưng, Sơn Nam Hạ (Thái Bình). Khi Tây Sơn ra bắc ông xướng nghĩa Cần Vươn. Không thành về nhà dạy học, Nguyễn Huệ mời ra làm quan mấy lần ông đều từ chối. Mẹ (trắc thất, không biết tên) là con gái quan nội thị Nguyễn Cảnh Nhạc, người Hà Đông. Nguyễn Công Trứ học giỏi, không chỉ văn chương khoa cử mà cả binh thư, binh pháp. Khi Gia Long “Bắc tuần”, Nguyễn Công Trứ đón xa giá dâng Thái bình thập sách. Ông đi nhiều lần không đỗ. Năm 1813 đi thi, ông làm đôi câu đối: Anh em ôi, băm sáu tuổi rồi, khắp đông tây nam bắc bốn phương trời, đâu cũng lừng danh công tử tác; Trời đất nhẽ, một phen này nữa, xếp cung kiếm cầm thư vào

Trang 1

MỤC LỤC

Lời dẫn 1

Phần một: Cuộc đời của Nguyễn Công Trứ 2

1 Bạch diện vô thư 2

2 Hội lộ thênh thang 2

3 Hoạn hải ba đào (sóng gió quan trường) 3

Phần hai: Giới thuyết chung về tư tưởng Lão Trang 4

1 Lão Tử, “Đạo đức kinh” và những vấn đề cơ bản 4

2 Trang Tử và sự kế thừa tinh hoa Lão Tử trong “Nam hoa kinh” 5

3 Ảnh hưởng của Đạo gia trong văn học trung đại Việt Nam 6

Phần ba: Biểu hiện, nguồn gốc kinh điển và giá trị nghệ thuật trong thơ Nguyễn Công Trứ

8 1 Chí nam nhi 8

2 Tài tình 10

3 Du – Hành lạc 13

4 Nhân tình thế thái 15

5 Phong cách, nghệ thuật thơ Nguyễn Công Trứ 16

6 Nguyễn Công Trứ – Cha đẻ của loại hình hát nói 17

Kết luận 20

LỜI DẪN

Tư tưởng Lão – Trang có một ảnh hưởng rộng lớn đến mọi mặt của đời sống con người, xưa và nay Văn học cũng không nằm ngoài sự ảnh hưởng đó, rất nhiều nhà thơ, nhà văn, nhà dịch thuật đã chiêm nghiệm, áp dụng tư tưởng này vào trong tác

Trang 2

phẩm và cách hành văn của mình, từ đó truyền tải những thông điệp sâu sắc, mangđậm triết lí nhân sinh quan, vì con người Trong đó, Nguyễn Công Trứ – một nhàthơ cuối thế kỉ XVIII – đầu thế kỉ XIX là một ví dụ, một minh chứng hùng hồn nhấtkhi phần lớn tác phẩm của ông đều thấm đậm tinh thần Lão – Trang

Tư tưởng ấy đã ảnh hưởng lớn đến cuộc đời và sự nghiệp của ông, mà thông quađó, khí chất của nhà thơ lỗi lạc này được bộc lộ một cách rọ rệt nhất, tạo nên nhữngdấu ấn riêng, đặc trưng riêng mà không có một nhà thơ nào có được

Phần lớn các mô tả về nhân cách Nguyễn Công Trứ cho đến nay thường lấy cáchọc thuyết triết học- đạo đức Nho- Đạo- Phật làm hệ qui chiếu để phân tích, lý giải.Nhìn từ bất cứ một học thuyết nào, ta cũng dễ thấy Nguyễn Công Trứ không hề làđệ tử thuần thành Kích thước của tư tưởng và tâm hồn ông rất khó đo đạc bằng cáckhuôn học thuyết có sẵn, với việc dẫn dụng các loại kinh điển 1

Căn cứ vào những nghiên cứu, những tư liệu đã có trước đây và một vài sự tìmhiểu thêm về thơ Nguyễn Công Trứ, em xin được trình bày bài tiểu luận với tiêu đề:

Biểu hiện, nguồn gốc kinh điển và giá trị nghệ thuật

trong thơ Nguyễn Công Trứ

PHẦN MỘT

1 Bạch diện thư sinh

1 PGS.TS Trần Nho Thìn, Khoa Văn học, ĐH KHXH&NV – ĐHQG HN; ân cách Nguyễn Công Trứ, nhìn từ quan

điểm bản thể luận, Tạp chí nghiên cứu Văn học, số 3 – 2009

2 PGS.TS Lê Giang, Khoa Văn học và Ngôn ngữ, ĐH KHXH&NV – ĐHQG TP.HCM; Văn học Việt Nam đầu thế kỉ

XVIII – cuối thế kỉ XIX, TP.HCM – 2008.

Trang 3

Nguyễn Công Trứ (1778 – 1858), tự Tồn Chất, hiệu Ngộ Trai, biệt hiệu Hy Văn, người làng Uy Viễn, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh.

Cha của ông là Nguyễn Công Tấn, đậu cử nhân làm giáo thụ phủ An Sơn, Nghệ

An, rồi tri phủ Tiên Hưng, Sơn Nam Hạ (Thái Bình) Khi Tây Sơn ra bắc ông xướngnghĩa Cần Vươn Không thành về nhà dạy học, Nguyễn Huệ mời ra làm quan mấylần ông đều từ chối

Mẹ (trắc thất, không biết tên) là con gái quan nội thị Nguyễn Cảnh Nhạc, ngườiHà Đông

Nguyễn Công Trứ học giỏi, không chỉ văn chương khoa cử mà cả binh thư, binh

pháp Khi Gia Long “Bắc tuần”, Nguyễn Công Trứ đón xa giá dâng Thái bình thập

sách Ông đi nhiều lần không đỗ Năm 1813 đi thi, ông làm đôi câu đối:

Anh em ôi, băm sáu tuổi rồi, khắp đông tây nam bắc bốn phương trời, đâu cũng

lừng danh công tử tác;

Trời đất nhẽ, một phen này nữa, xếp cung kiếm cầm thư vào một gánh, làm cho nổi tiếng trượng phu kềnh.

Năm ấy ông đậu tú tài Khoa sau – 1819, ông đậu giải nguyên, khi đó Nguyễn

Công Trứ 41 tuổi

2 Hoạn lộ thênh thang

Nguyễn Công Trứ làm quan qua nhiều chức vụ khác nhau ở nhiều lĩnh vực hoạtđộng khác nhau: kinh tế, quân sự, hành chính, giáo dục, có thể kể đến như: Hành tẩuở Quốc sử quán (1820), Tri huyện Đường Hào (Hải Dương, 1823), Tư nghiệp QuốcTử Giám (1824), Thanm tán quân vụ Bắc Thành, Thị lang bộ Hình (1826), ThựTham tri bộ Hình (1828), Dinh điền sứ hai huyện Kim Sơn, Tiền Hải (1828 – 1829),Bố chánh sứ Hải Dương (1832), Thượng thư bộ binh, Tổng đốc Hải An (1935)

3 Hoạn hải ba đào (sóng gió quan trường)

Trang 4

Ông bị giáng cách 7 lần, kể đến như: 1836 – vì để cho tù nhân trốn mất nên ông

bị giáng 4 cấp; 1841 – được phong làm Tán lý cơ vụ trấn Tây Thành cùng TrươngMinh Giảng, đánh thắng quân Chân Lạp, nhưng rồi phải rút quân, nên bị cách xuốnglàm Tuần phủ An Giang; 1843 – Tổng đốc An Hà (An Giang – Hà Tiên) vụ choNguyễn Công Trứ, Tuần phủ An Giang tổ chức buôn lậu nên Nguyễn Công Trứ bịphạt trượng và cách chức làm lính ở đồn biên giới Quảng Ngãi (1834); 1846 –Quyền Án sát Quảng Ngãi; 1847 – Thự phủ doãn Thừa Thiên; 1848 – 71 tuổi vềhưu, 10 năm sau thì mất

Ông có 1 vợ chính, 12 vợ lẽ, 26 con (12 trai và 14 gái)

“Nguyễn Công Trứ là nhà nho nhưng ông không hoàn toàn nho Ông bàn đếnxuất xử, hành tàng như nhà nho nhưng ông có nhiều đam mê, có nhiều dục vọng,muốn có cái thú vui của người lập nên sự nghiệp lừng lẫy mà cũng muốncó cảnhững thú vi của người nhà dật mê cảnh núi sông giăng gió, Ông muốn làm “trượngphu kềnh” chứ không phải “đại trượng phu” Đối với ông, cái gì cũng chưa đủ” 3

PHẦN HAI

1 Lão Tử, “Đạo đức kinh” và những vấn đề cơ bản

3 Trần Đình Hượu.

4 Ngô Thị Thu Thủy; Văn học Việt Nam trong mối quan hệ với tư tưởng Lão Trang.

Trang 5

Lão Tử, nhà triết học Trung Quốc thời Xuân Thu, là người khai sinh ra trườngphái triết học Đạo gia Theo “Sử ký” Tư Mã Thiên và truyền thuyết, Lảo Tử họ Lý,tên Nhĩ, tự Bá Dương, thụy là Đam, còn gọi là Lão Đam Ông là người làng KhúcNhân, huyện Khổ, nước Sở (nay thuộc Hà Nam, Trung Quốc) Ông là quan sử, từnggiữ chức Thư tùng thất cho nhà Chu, sau lui về ở ẩn.

Toàn bộ tư tưởng của Lão Tử được trình bày ngắn gọn và súc tích trong cuốn

“Đạo đức kinh” gồm 81 chương, chia làm 2 thiên: “Đạo kinh” (quyển thượng) và

“Đức kinh” (quyển hạ)

Cốt lõi triết học của Lão Tử là “Đạo” Đạo vốn là nòng cốt, cơ sở và tinh hoa của

tư duy triết học phương Đông Trong “Đạo đức kinh”, Lão Tử đả trình bày một kháiniệm rất mới, rất thâm viễn về “Đạo”, đem lại cho “Đạo” một nội dung mới màtrước đó trong tư duy triết học Trung Quốc chưa hề có và sau này cũng chưa có văntriết nào có thể vượt xa hơn

Lão tử cho rằng “Đạo” là bản nguyên của thế giới, “thứ hình thành trong cõi hỗnđộn, sinh ra trước cả trời đất, là mẹ của thiên hạ” Ở đây, Đạo là thực thể khách quansinh ra trước muôn vật, là chủ tế của mọi hiện tượng tự nhiên xã hội Bản chất củaĐạo là “vô”: “thiên hạ vạn vật sinh ở hữu, hữu sinh ở vô”, tuy nhiên Đạo là “thườngvô” (cái vô hằng thường) mà cũng là thường hữu (cái hữu hằng thường) Như vậy,

“Đạo” trong nhận thức của Lão Tử là một phạm trù rất trừu tượng

Mở rộng tư tưởng về Đạo đến lĩnh vực đời sống xã hội, Lão Tử đề xuất họcthuuyết “vô vi” như là một học thuyết về nghệ thuật sống của con người trong sựhòa hợp với tự nhiên

Vô vi không phải là không làm gì mà theo Lão Tử, “vô vi” là hoạt động một cáchtự nhiên, không làm trái với quy luật tự nhiên, không làm những việc gò ép giả tạođến thái quá hoặc bất cập Nếu không thuận theo tự nhiên, đem ý chí, dục vọng củacon người cưỡng ép vạn vật là trái với đạo vô vi, tất nhiên sẽ thất bại

Trang 6

“Vô vi” còn có nghĩa là không làm mất cái đức tự nhiên thuần phác vốn có củavạn vật, không ham muốn những gì traái với bản tính tự nhiên của mình Nếu có tìmcách thỏa mãn dục vọng, tất sẽ can thiệp tự nhiên và chuốc lấy tai họa.

“Đạo đức kinh” là tác phẩm kinh điển của Đạo gia Với tác phẩm này, Lão Tử đãkhai sinh ra một trường phái triết học, một học thuyết, tư tưởng đối cực với Nho gia,cùng Nho gia ngự trị tâm hồn người Trung Hoa và ảnh hưởng sâu rộng đến đời sốngtinh thần của các nước trong vùng văn hóa Hán trên 2000 năm lịch sử

2 Trang Tử và sự kế thừa tinh hoa Lão Tử trong “Nam hoa kinh”

Trang Tử (369 – 286 tr.CN), tên thật là Trang Chu, nhà tư tưởng lớn của TrungQuốc thời Chiến Quốc, là một đại biểu quan trọng của Đạo gia Ông là ngườixứMông, nước Tống, từng làm quan coi Tất viên, sau vềẩn cư tại núi Nam Hoa

Tác phẩm “Nam hoa kinh” được lưu truyền đến nay còn 33 thiên, chia làm 3phần lớn: Nội thiên, Ngoại thiên, Tạp thiên Tuy nhiên theo phỏng đoán của nhiềunhà nghiên cứu, chỉ có Nội thiên là do Trang Tử viết còn phần lớn là do người đờiviết thêm vào

Trung tâm toàn bộ học thuyết triết học của Trang Tử là quan niệm về đạo đức,

“cái cốt yếu nhất vẫn quy về thuyết Lạo Tử” Và như vậy, so với học thuyết của LãoTử, học thuyết của Trang Tử có điểm tương đồng và có cả tính kế thừa Cả hai ôngđều có tư tưởng chống lại giáo điều truyền thống và chế độ đương thời

Học thuyết của Trang Tử ra sức bài xích Nho, Mặc, lấy bản thể vũ trụ làm chủ.Xuất phát từ ý tưởng chống lại học thuyết “chính danh” của Khổng Tử, nghĩa làchống lại đường lối “hữu vi”, Trang Tử đề xuất khái niệm “vô danh” Mặt khác, ôngcũng tuyên bố đường lối triết học của mình là xuất phát từ tự nhiên để giải thích nó.Như vậy, “vô vi” chính là điểm cốt lõi trong triết lý nhân sinh cùa Trang Tử Ông đãphát hiện hơn nữa tư tưởng “vô vi” của Lão Tử, chủ trương thuận tự nhiên, chốnglại tất cả những gì gọi là “nhân sinh” và coi đó là “mẫu mực sống của các bậc thánhnhân”

Trang 7

So với Lão Tử, nội hàm “vô vi” của Trang tử được mở rộng đến hành vi nhâncách của con người, đó là làm cho mọi vật đều được tư do bình đẳng sống theo bảntính tự nhiên để đạt tới hạnh phúc tuyệt đối Đó chính là cái đức thuận tự nhiên,không chịu sự ràng buộc bởi các mối liên hệ xã hội của con người.

3 Ảnh hưởng của Đạo gia trong văn học trung đại Việt Nam

Trên phương diện triết học, tư tưởng Lão Trang khi đi vào đời sống văn học đảtạo cảm hứng tiêu dao cho giới trí thức Việt Nam Từ nguồn tác động này đả sảnsinh ra nhiều nhà thơ lớn cho dân tộc

Trí thức Việt Nam thời trước đều được đào tạo theo nền Hán học, trưởng thànhtừ cửa Khổng sân Trình Con đường trong đời của họ là chăm lo đèn sách để làmquan tham chính, mặc dù không phải lúc nào con đường công danh cũng thuận lợicả Cuộc đời của một nho sĩ thường chia làm bai giai đoạn: hành nho, hiển nho, ẩnnho Ngoài thời kì làm quan lập danh thì họ lui về ẩn dật Thú vui của họ lúc luitriều là cầm kỳ thi tửu, triết lísống của họ là ân bần lạc đạo, vui thỏa trong cảnh tiêudao, thanh nhàn, rời xa công danh phú quý

Những nhà nho tiêu biểu cho tầng lớp trí thức, thi sĩ lựa chọn con đường ẩn dậtđể nhàn thân, nhàn tâm sau những năm tháng tận lực cống hiến cho triều đình phảikể đến như: Nguyễn Du, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phùng Khắc Khoan, Đào Duy Từ.Đặc biệt, có một cái tôi ngoại cỡ, phóng túng, ngất ngưởng trên thi đàn văn họcTrung đại Việt Nam: Nguyễn Công Trứ Ông là nhà thơ lớn, hiện thân của conngười tự do trong cõi tục, có được phong thái tiêu dao nội tại của kẻ “đứng trên tìnhthế, đứng ngoài trần ai, không vướng tục, như tiên” Ông nhàn ngay cả khi đang làmquan, ung dung tự tại ngay cả khi biếm trích Cái ngông của Nguyễn Công Trứ kếtục cái ngông của Trang Tử Thơ ông thể hiện ước vọng được du laảm đến cùng cốcthân sơn với thơ rượu địch đàn, tỏ với đời phẩm chất thanh cao của kẻ sĩ khôngmàng danh lợi Cũng như nhiều nhà nhi khác, ông cũng nhiêu khi mơ về “tòa đá

Trang 8

Khương công”, “áo xuân Nghiêm tử” Tất cả những điều đó nói lên phản ứng củaông đối với xã hội đương thời.

Tiếp nhận học thuyết Lão Trang ở những khía cạnh tích cực nhất của nó, các tácgia Việt Nam tiêu biểu trong thời kì trug đại đã tạo ra một truyền thống hưởng nhànvới cuộcsống thanh bạch nơi laàng quê Đồng thời, đối với nền văn học dân tộc, họđã tạo ta một không gian thanh thoát trong một xã hội kỷ cương chặt chẽ, xô bồ vànhiều ngang trái

Tinh thần của tư tưởng Lão Tử cũng đạo điều kiện cho việc sử dụng điển tích,điển cố torng thơ ca Trong “Đạo đức kinh”, Lão Tử khi phát biểu luận điểm họcthuyết của mình cũng nói về sự bất lực của ngôn ngữ: “Đạo khả đạo phi thườngđạo” (Đạo mà có thể nói ra được không phải là đạo vĩnh cửu) Có thể nhận thứcđược đạo bằng sự cảm nhận và quan sát cái thể hiện bên trong, cái bản chất của vấnđề Trong căn chương, có những điều không thể diễn tả một cách thẳng thừng, rõràng, hay không thể diễn tả một cách ngắn gọn, đầy đủ ý, mà chỉ nên gợi ra một từngữ để người đọc từ đó có thể tự suy luận, người viết phải nhờ đến điển cố Cáchnói của điển cố là cách nói có vẻ thu hẹp, nhưng đằng sau có bề mặt ấy là cả thế giớihình ảnh sinh động, phong phú về ý tưởng, sâu sắc về ý nghại, được diễn đạt theolối ẩn dụ, nguyên tắc gợi ý để người đọc tự liên tưởng, cảm nhận và tìm đến ý nghĩađúng đắn nhất, xác thực nhất Điển cố với khả năgn khơi dậy óc liên tưởng, sự suyngẫm của người đọc sẽ tạo một sức mạnh và sự thú vị đưa họ đến ngọn nguồn chân

lý của vấn đề.5

PHẦN BA BIỂU HIỆN, NGUỒN GỐC KINH ĐIỂN VÀ GIÁ TRỊ NGHỆ THUẬT

5 TS Đoàn Ánh Loan, Khoa Văn học và Ngôn ngữ, ĐH KHXH&NV – ĐHQG TP.HCM; Ảnh hưởng của quan điểm

Nho giáo và Đạo giáo trong việc sử dụng điển cố Việt Nam.

6 PGS.TS Lê Giang, Khoa Văn học và Ngôn ngữ, ĐH KHXH&NV – ĐHQG TP.HCM; Văn học Việt Nam đầu thế kỉ

XVIII – cuối thế kỉ XIX, TP.HCM – 2008.

Trang 9

Như đã nói ở trên, Nguyễn Công Trứ là tiêu biểu cho một thế hệ trí thức có tưtưởng, quan điểm ngông cường, khác lạ và mới mẻ trong giai đoạn từ đầu thế kỉXVIII – cuối thế kỉ XIX Về tác phẩm, ông có trên 1000 bài thơ Nôm, còn lạikhoảng 150 bài, chỉ có 1 bài thơ chữ Hán Nội dung các tác phẩm của ông chủ yếuxoay quanh và làm rõ những vấn đề thiết yếu sau:

1 Chí nam nhi

Nguyễn Công Trứ đã thể hiện khái quát quan điểm, thái độ của mình về việc lậpcông dương danh:

Đã mang tiếng ở trong trời đấtPhải có danh gì với núi sông

(Đi thi tự vịnh)

Từ lòng trung hiếu và nợ công danh, mà phải thỏa mãn chí “tang bồng hồ thỉ”, ratài kinh tế:

Có trung hiếu nên đứng trong trời đấtKhông công danh thời nát với cỏ câyChí tang bồng hồ thỉ dạ nào khuâyPhải hăm hở ra tài kinh tế

(Gánh trung hiếu)

Ông cho rằng: Trung hiếu như nghĩa vụ “tông truyền” của kẻ sĩ Thân không phảilà một nỗi khổ tiên thiên (có thân là có khổ), mà thân phải gắn với danh:

Nhập thế cục bất khả vô công nghiệp, Xuất mẫu hoài tiện thị hữu quân thân.

Mà chữ danh liền với chữ thân,Thân đã có ắt danh phải có

Ngày phút chốc kim rồi lại cổ,Có hẹn gì sau chẳng bằng nay

(Nghĩa người đời)

Trang 10

Hay trong bài thơ “Luận kể sĩ”, ông đã đưa ra quan điểm, nhận định của mình vềvị trí của kẻ sĩ:

Tước hửu ngũ sĩ cư kỳ liệt Dân hữu tứ, sĩ chi vi tiên.

Có giang sơn thì sĩ đã có tên,Từ Chu Hán vốn sĩ này là quý

Miền hương đảng đã khen rằng hiếu đễ,Đạp lập thân phải giữ lấy cương thường

Khí hạo nhiên chí đại vi cương,

So chính khí đã lấp trong trời đất

(Luận kẻ sĩ)

Chí nam nhi, công danh, gánh trung hiếu, nợ tang bồng, ý muốn nhập thế sốngmột cuộc đời ý nghĩa:

Thông minh nhất nam tử, Yến vi thiên hạ kỳ.

Trót sinh ra thời phải có chi chi,Chẳng lẽ tiêu lưng ba vạn sáu?

Đố kỵ sá chỉ con tạo,Nợ tang bồng quyết trả cho xong

Đã xông pha bút trận thì gắng gỏi kiếm cung,Làm cho rõ tu mi nam tử

Trong vũ trụ đã đành phận sự,Phải có danh gì với núi sông

Đi không chẳng lẽ về không! (Chí nam nhi)

Thơ Nguyễn Công Trứ là bài ca của kẻ sĩ với tinh thần nhập thế tích cực, hyvọng góp sức mình vào sự nghiệp xây dựng đất nước Đại Việt hùng mạnh và buổiđầu triều Nguyễn đang lên Thơ ông cũng cho thấy biểu hiện phong phú của hình

Ngày đăng: 03/03/2015, 09:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w