1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

biện pháp hướng dẫn học sinh học chương i, iv sinh học 11 trung học phổ thông theo quan điểm cấp cơ thể đa bào của thế giới sống

112 336 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 1,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA SƯ PHẠM ĐỖ THỊ NINH BIỆN PHÁP HƯỚNG DẪN HỌC SINH HỌC CHƯƠNG I, IV SINH HỌC 11 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THEO QUAN ĐIỂM CẤP CƠ THỂ ĐA BÀO CỦA THẾ GIỚI SỐNG LUẬN

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA SƯ PHẠM

ĐỖ THỊ NINH

BIỆN PHÁP HƯỚNG DẪN HỌC SINH HỌC CHƯƠNG I, IV SINH HỌC 11 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THEO QUAN ĐIỂM

CẤP CƠ THỂ ĐA BÀO CỦA THẾ GIỚI SỐNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM SINH HỌC Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

(Bộ môn Sinh học)

Mã số: 60 14 10

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Đức Thành

HÀ NỘI – 2009

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu 3

3 Mục tiêu nghiên cứu 5

4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 5

5 Giả thuyết nghiên cứu 6

6 Nhiệm vụ nghiên cứu 6

7 Phương pháp nghiên cứu 6

8 Đóng góp của đề tài 7

9 Cấu trúc luận văn 8

Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về dạy học sinh học 11 theo quan điểm cấp độ cơ thể 1.1 Cơ sở lý luận 9

1.1.1 Quan điểm cấp cơ thể cần được thể hiện trong dạy HS học 11 THPT 9

1.1.2 Khái niệm về cấp độ cơ thể trong các cấp tổ chức sống 9

1.1.3 Biện pháp hướng dẫn học sinh học 16

1.2 Cở sở thực tiễn 27

1.2.1 Kết quả khảo sát nhận thức và dạy học của GV khi dạy sinh học 11 theo quan điểm cấp cơ thể 27

1.2.2 Nguyên nhân của thực trạng 32

Chương 2 Biện pháp hướng dẫn học sinh học chương I, IV sinh học 11 theo quan điểm cấp độ cơ thể 2.1 Biện pháp chung 36

2.1.1 Biện pháp lôgic 36

2.1.2 Biện pháp kĩ thuật 40

Trang 3

2.1.3 Biện pháp tổ chức 47

2.2 Sử dụng các biện pháp đã đề xuất để hướng dẫn học sinh học chương I và chương IV 49

2.2.1 Hướng dẫn học sinh học chương I “Chuyển hóa vật chất và năng lượng” 49

2.2.2 Hướng dẫn học sinh học chương IV “Sinh sản” 60

2.3 Vận dụng các biện pháp thiết kế một số giáo án theo quan điểm cấp cơ thể 67

Chương 3 Thực nghiệm sư phạm 3.1 Mục đích 81

3.2 Nội dung thực nghiệm 81

3.2.1 Các lớp thực nghiệm 81

3.2.2 Các lớp đối chứng 81

3.3 Phương pháp 82

3.4 Kết quả thực nghiệm sư phạm 82

3.4.1 Phân tích định lượng 83

3.4.2 Phân tích định tính 87

Kết luận và đề nghị 1 Kết Luận 92

2 Đề nghị 93

Tài liệu tham khảo 94

Phụ lục 99

Trang 4

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Do yêu cầu xây dựng chương trình sinh học mới

Ngày nay, cùng với sự phát triển của khoa học và công nghệ, khối lượng tri thức nhân loại cứ 4 – 5 năm lại tăng lên gấp đôi Vì vậy, chương trình giáo dục phổ thông phải thay đổi cho phù hợp với sự phát triển đó Sự thay đổi đồng bộ từ mục tiêu, nội dung, phương pháp, giúp cho HS có khả năng theo kịp với sự phát triển đó khi các em còn ngồi trên ghế nhà trường

Từ năm 2001, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã triển khai thực hiện đổi mới chương trình SGK cho các cấp học từ tiểu học đến THPT Chương trình được thí điểm trong 3 năm từ năm 2003 đến 2006, đến năm 2007 –

2008 SGK Sinh học mới được áp dụng đại trà trong cả nước

Theo Quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 05 tháng 5 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Đưa ra các quan điểm xây dựng và phát triển chương trình sinh học hiện nay, nội dung sinh học qua các lớp phải thể hiện được quan điểm “Cấu trúc chương trình Trung học cơ sở và Trung học phổ thông” Điều đó có nghĩa là các kiến thức sinh học trong chương trình Trung học cơ sở chỉ đề cập tới các kiến thức về cấu tạo và chức năng của các cơ quan, hệ cơ quan trong cơ thể của các đối tượng cụ thể (vi sinh vật, nấm, TV, ĐV và người) Các kiến thức trong chương trình THPT được trình bày theo các cấp tổ chức sống từ các hệ nhỏ đến các hệ lớn: tế bào → cơ thể → quần thể - loài → quần xã → hệ sinh thái – sinh quyển Các kiến thức trình bày trong chương trình THPT là những kiến thức Sinh học đại cương, chỉ ra những nguyên tắc tổ chức, những quy luật vận động chung cho giới sinh vật

1.2 Thực trạng sách giáo khoa Sinh học 11 hiện nay

SGK Sinh học hiện hành được viết dựa trên 5 quan điểm Trong đó phải thể hiện quan điểm dạy theo cấp tổ chức của thế giới sống Nghĩa là

Trang 6

dạy những nét đại cương của từng cấp tổ chức sống (như cấp tế bào, cấp cơ thể, quần thể - loài, quần xã, hệ sinh thái - sinh quyển) Như vậy, Sinh học 11 phải chỉ ra những nét đại cương về các biểu hiện sống của cấp cơ thể chứ không chỉ dạy về những biểu hiện sống ở từng đối tượng cụ thể là TV và ĐV

Hiện nay SGK viết theo hướng trình bày hoạt động sinh lý TV và hoạt động sinh lý ĐV Điều này, gây không ít khó khăn cho GV trong việc thực hiện dạy “Sinh học cơ thể”, nhiều GV do không nắm vững được quan điểm chỉ đạo của Bộ nên hầu như dạy hoạt động sinh lý TV và

ĐV tách rời nhau

Theo yêu cầu dạy Sinh học 11 theo quan điểm cấp cơ thể nhưng hiện nay chưa có tài liệu nào hướng dẫn cụ thể GV phải dạy như thế nào để làm nổi bật được “Cấp cơ thể” Ngay sách GV cũng chỉ nói giữa TV và ĐV có nhiều điểm chung nhưng chưa chỉ rõ chung như thế nào và chưa hướng dẫn

HS học như thế nào để chỉ ra những điểm chung đó

1.3 Thực trạng dạy học hiện nay

Hiện nay, hầu hết GV đều hướng dẫn HS học Sinh học 11 theo hướng sinh lí TV và sinh lí ĐV Rất ít GV để ý đến việc dạy sinh học cơ thể là dạy những nét chung về biểu hiện sống của cấp cơ thể thông qua cơ thể TV và

cơ thể ĐV Những GV đã để ý đến việc tìm điểm chung khi dạy thì lại gặp phải khó khăn trong việc xác định đặc điểm chung, hoặc khó khăn trong biện pháp hướng dẫn HS chỉ ra điểm chung Hầu như GV hướng dẫn HS lĩnh hội lần lượt từng hoạt động sinh lí ở TV sau đó là ĐV

Do vậy, thực trạng dạy Sinh học 11 ở nhiều GV hiện nay thực chất mới dừng lại dạy sinh lí TV và sinh lí ĐV Từ thực tế trên tôi chọn đề tài

“Biện pháp hướng dẫn học sinh học chương I, IV Sinh học 11 trung học phổ thông theo quan điểm cấp cơ thể đa bào của thế giới sống”

Trang 7

- Tác giả N.M Veczilin (Liên Xô cũ) trong tác phẩm: “Đại cương về phương pháp dạy học sinh học” cũng đề cập “tổ chức tự học cho HS không chỉ chú ý đến nội dung, phương pháp mà việc tổ chức sắp xếp lôgic của tài liệu cũng có ý nghĩa lớn”

* Ở Việt Nam

Mục tiêu của dạy học là hướng dẫn cho học sinh học, nghĩa là giúp học sinh có khả năng tự chiếm lĩnh tri thức Ở Việt Nam có nhiều công trình nghiên cứu về các phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực của học sinh Cụ thể:

- Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên chu kỳ 1993 – 1996 cho giáo viên THPT, GS Trần Bá Hoành đã đề cập đến việc sử dụng câu hỏi để tổ chức hoạt động cho học sinh trong phương pháp vấn đáp trong bài lên lớp hướng dẫn GV tự nâng cao năng lực sử dụng câu hỏi trong dạy học

- Luận án tiến sỹ của Hoàng Hữu Niềm (2001): “Phương pháp hướng dẫn tự học phần cơ sở di truyền học cho học viên tại các trung tâm giáo dục

Trang 8

thường xuyên” đã sử dụng tài liệu học tập dạng phiếu học tập vào hướng dẫn học sinh tự học

- Luận văn Thạc sĩ của Trần Hoàng Xuân (2003): “Xây dựng và sử dụng bảng hệ thống trong dạy học Sinh học 10 ở Trung học phổ thông”

- Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Nghĩa “Vận dụng tiếp cận hệ thống trong dạy học Sinh học cơ thể lớp 11 Trung học phổ thông phân ban” Trong luận án tác giả đã đưa ra cách vận dụng tiếp cận hệ thống trong dạy học Sinh học cơ thể lớp 11

- Luận văn thạc sĩ của tác giả Đỗ Thị Hồng Hạnh (2007): “Thiết kế

và sử dụng phiếu học tập trong phương pháp thảo luận nhóm môn giáo dục học tại trường Trung học Sư phạm Thanh Hóa”

- Phạm Thị Hằng (2002) “Sử dụng bài toán nhận thức kết hợp câu hỏi tự lực nghiên cứu tài liệu giáo khoa để tổ chức dạy học các QLDT - lớp

11 – THPT”

- Luận văn Thạc sĩ của tác giả Nguyễn Trung Thành (2005): “Sử dụng câu hỏi, bài tập để hình thành và phát triển khái niệm trong dạy học sinh thái học Trung học phổ thông”

- Nguyễn Thị Hường (2007), “Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan dạng MCQ chương I, chương II Sinh học 11 nâng cao THPT để kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh”

- Vũ Văn Nam (2007), “Tường minh hóa mục tiêu bài học bằng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn (MCQ) phần chuyển hóa vật chất và năng lượng (chương I, Sinh học 11 nâng cao)

- Trong cuốn kỹ thuật dạy HS học của giáo sư Trần Bá Hoành năm

1993 đã đề cập đến các biện pháp nhằm định hướng cho các hoạt động học tập tự lực của HS như: câu hỏi vấn đáp, phiếu học tập HS bằng hoạt động

Trang 9

tự lực khi nghiên cứu SGK để trả lời các câu hỏi, hoàn thành phiếu học tập

để tự mình lĩnh hội tri thức

- Luận văn thạc sĩ của tác giả Đàm Ngọc Chương (1997): “Hướng dẫn học sinh sư phạm ôn tập nắm hệ thống tri thức cơ bản toàn bộ chương trình giáo dục bằng phương pháp sơ đồ lôgic”

Các công trình trên đã đề xuất các phương pháp tích cực trong quá trình DH sinh học bằng cách đưa ra các câu hỏi, bài tập, bài toán nhận thức, bài tập tình huống kết hợp với công tác độc lập nghiên cứu SGK của HS đã góp phần nâng cao hiệu quả giảng dạy, tạo nên động lực học tập, hứng thú nhận thức, khát vọng tham gia của HS vào việc tìm tòi tri thức vận dụng vào đời sống Trong hướng dẫn HS học Sinh học 11 theo quan điểm cấp độ

cơ thể hiện nay vẫn chưa được nghiên cứu Vì vậy, việc nghiên cứu đề xuất các biện pháp hướng dẫn HS học Sinh học 11 là rất quan trọng phù hợp với thực tiễn dạy học hiện nay

3 Mục tiêu nghiên cứu

Xác định được đặc điểm của chuyển hóa vật chất và năng lượng, sinh sản ở TV, ĐV Từ đó chỉ ra những điểm tương đồng về CHVC&NL, sinh sản giữa TV và ĐV, đồng thời xác định được những biện pháp hướng dẫn

HS học CHVC&NL, sinh sản theo quan điểm cấp cơ thể

4 Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu

4.1 Khách thể nghiên cứu

HS lớp 11 THPT

4 Đối tượng nghiên cứu

Cấp cơ thể và những đặc điểm, điểm tương đồng về CHVC&NL, sinh sản giữa TV và ĐV Những biện pháp hướng dẫn HS học chương

“Chuyển hóa vật chất và năng lượng” và chương “Sinh sản” thể hiện cấp độ

cơ thể

Trang 10

5 Giả thuyết nghiên cứu

Nếu xác đinh được những điểm tương đồng về chuyển hóa vật chất

và năng lượng, sinh sản ở cấp độ cơ thể và biện pháp thực hiện sẽ giúp HS nắm vững kiến thức Sinh học 11 nói chung, chương I và IV nói riêng

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

6.1 Nghiên cứu tổng quan các tài liệu để xây dựng cơ sở lí luận về hướng dẫn HS học Sinh học 11 thể hiện cấp độ cơ thể

6.2 Điều tra, đánh giá thực trạng dạy học Sinh học 11 hiện nay theo quan điểm dạy cấp độ cơ thể

6.3 Phân tích nội dung Sinh học 11 nói chung và chương I, IV để xác định những đặc điểm CHVC&NL, sinh sản ở TV và ĐV, điểm tương đồng về CHVC&NL, sinh sản giữa TV và ĐV

6.4 Xác định biện pháp hướng dẫn HS học chương I, IV theo quan điểm cấp độ cơ thể

6.5 Thực nghiệm sư phạm để kiểm tra giả thuyết khoa học của đề tài

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Nghiên cứu lý thuyết

- Tổng quan về tình hình nghiên cứu về biện pháp hướng dẫn HS học, những tài liệu về đường lối, chính sách phát triển Giáo dục – Đào tạo của Đảng và Nhà nước để xác định phương hướng, những quan điểm chỉ đạo nghiên cứu của đề tài

- Nghiên cứu hệ thống hóa cơ sở lí luận và thực tiễn về các biện pháp hướng dẫn HS học Sinh học 11 theo quan điểm cấp cơ thể

Trang 11

- Nghiên cứu những công trình đã công bố về các biện pháp hướng dẫn HS học và dạy học theo quan điểm cấp cơ thể để đưa ra biện pháp áp dụng vào dạy Sinh học 11 theo quan điểm cấp cơ thể

+ Thời gian thực nghiệm tháng 3 năm 2008

+ Chọn lớp: 4 lớp khối 11 có kết quả học tập tương đương nhau + Chọn giáo viên: giáo viên có trình độ chuyên môn khá cùng dạy TN + Bố trí TN: Các lớp ĐC được dạy theo phương pháp mà thực tế các

GV đang sử dụng Các lớp TN được hướng dẫn học theo các biện pháp đề tài đưa ra

- Mẫu TN: Trường THPT thị trấn Tủa Chùa Tỉnh Điện Biên

- Xử lý kết quả: Sử dụng các tham số thống kê toán học

8 Đóng góp của đề tài

8.1 Hệ thống hóa cơ sở lý luận về hướng dẫn HS học Sinh học 11 theo

quan điểm cấp độ cơ thể

8.2 Xác định được thực trạng việc dạy học Sinh học 11 theo quan điểm cấp

tổ chức sống để làm tư liệu cho việc chỉ đạo dạy học Sinh học 11 hiện nay 8.3 Xác định đặc điểm CHVC&NL, sinh sản ở cơ thể TV, ĐV và những điểm tương đồng về các hoạt động này

8.4 Xây dựng được biện pháp hướng dẫn HS học Sinh học 11 thể hiện cấp

độ cơ thể

Trang 12

8.5 Qua kết quả thực nghiệm sư phạm khẳng định được tính khả thi và hiệu quả của biện pháp hướng dẫn HS học chương I, IV từ đó có cơ sở mở rộng các chương còn lại

9 Cấu trúc luận văn

Cấu trúc luận văn gồm 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về dạy học Sinh học 11 theo quan điểm cấp độ cơ thể

Chương 2 Biện pháp hướng dẫn học sinh học chương I, IV Sinh học

11 theo quan điểm cấp độ cơ thể

Chương 3 Thực nghiệm sư phạm

Trang 13

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DẠY HỌC SINH HỌC 11 THEO QUAN ĐIỂM CẤP ĐỘ CƠ THỂ

“Các kiến thức sinh học trong chương trình Trung học cơ sở đề cập

tới các đối tượng cụ thể (vi sinh vật, nấm, TV, ĐV và con người) Trong đó

chủ yếu trình bày các kiến thức về cấu tạo và chức năng của các cơ quan, hệ

cơ quan trong cơ thể Riêng lớp 9 đề cập tới các mối quan hệ di truyền và biến dị, sinh vật và môi trường”

“Các kiến thức sinh học trong chương trình Trung học phổ thông được nghiên cứu các cấp cơ bản của tổ chức sống, từ các hệ nhỏ đến các hệ lớn: tế bào  cơ thể  quần thể - loài  quần xã  hệ sinh thái – sinh quyển, cuối cùng tổng kết những đặc điểm chung của các tổ chức sống cơ bản theo quan điểm tiến hóa sinh thái” [5, tr.7]

Sinh học lớp 11 được nghiên cứu về “Sinh học cơ thể” - một cấp độ

tổ chức của thế giới sống Khi dạy Sinh học 11 phải chỉ ra được những nét chung về những biểu hiện sống của cấp độ cơ thể (đa bào) như: CHVC&NL, cảm ứng, sinh trưởng và phát triển, sinh sản, qua biểu hiện sống ở TV và ĐV

1.1.2 Khái niệm về cấp độ cơ thể trong các cấp tổ chức sống

1.1.2.1 Khái niệm về các cấp tổ chức sống

Trang 14

Thế giới sống là một dạng vật chất, dạng vật chất này có cấu trúc theo thể thức riêng và được tạo nên bởi những nguyên tố có trong tự nhiên Các nguyên tố được kết hợp theo thể thức nhất định tạo nên các phân tử và đại phân tử Các phân tử, đại phân tử lại được kết hợp theo thể thức nhất định tạo nên cấp cao hơn liền kề đó là các bào quan Cứ như vậy tạo nên các cấp bậc từ nhỏ đến lớn Ngày nay, người ta đã xác định được các cấp bậc từ nhỏ đến lớn là: phân tử → bào quan  tế bào  mô → cơ quan → hệ cơ quan  cơ thể  quần thể - loài  quần xã  hệ sinh thái – sinh quyển Trong những cấp tổ chức này thì các cấp như tế bào, cơ thể, quần thể, quần

xã và hệ sinh thái là những cấp tổ chức cơ bản

Các cấp tổ chức của thế giới sống được tổ chức theo nguyên tắc thứ bậc, tổ chức sống cấp dưới là đơn vị cấu trúc nên tổ chức sống cấp trên Các cấp tổ chức sống cấp dưới được kết hợp theo thể thức nhất định làm cho tổ chức sống cấp trên có những đặc điểm mà tổ chức sống cấp dưới không có được Ví dụ: Ribôxôm gồm rARN và prôtêin có chức năng tổng hợp prôtêin Ti thể gồm phôtpholipit, prôtêin có chức năng là trạm năng lượng Hoạt động của các bào quan giúp tế bào thực hiện được chức năng của nó là: trao đổi chất và năng lượng, sinh trưởng và phát triển, cảm ứng, sinh sản mà mỗi bào quan ribôxôm, ti thể không có được

Để hình thành khái niệm mỗi cấp tổ chức cơ bản trên, trước hết cần xác định được khái niệm cấp tổ chức cơ bản

Cấp tổ chức cơ bản được hiểu là một cấp độ tổ chức của thế giới sống

có thể tồn tại, phát triển độc lập trong tự nhiên

Từ khái niệm chung về cấp tổ chức cơ bản, ta coi đó là khái niệm giống

để có thể hình thành các khái niệm về các cấp tổ chức cơ bản như sau:

- Cấp tế bào là một cấp độ tổ chức của thế giới sống được tạo nên bởi các bào quan thích ứng với môi trường

Trang 15

- Cấp cơ thể là một cấp độ tổ chức của thế giới sống được tạo nên bởi các cơ quan hay hệ cơ quan thích ứng với môi trường

- Cấp quần thể là một cấp độ tổ chức của thế giới sống được tạo nên bởi các cá thể cùng loài và là đơn vị sinh sản và tiến hóa

- Cấp quần xã là một cấp độ tổ chức của thế giới sống được tạo nên bởi các quần thể khác loài và là đơn vị chuyển hóa vật chất và năng lượng trong sinh giới

- Cấp hệ sinh thái – sinh quyển là một cấp độ tổ chức của thế giới sống được tạo nên bởi các quần xã và sinh cảnh của nó, là đơn vị tuần hoàn vật chất trong tự nhiên [36, tr.9]

Từ các khái niệm về các cấp của tổ chức cơ bản của thế giới sống cho thấy một cách khái quát phạm vi nghiên cứu của mỗi cấp trong hệ thống các cấp độ tổ chức của thế giới sống Thế giới sống là một hệ hoàn chỉnh, hệ lớn chứa đựng các hệ nhỏ hơn trong nó hay nói một cách khác mỗi cấp độ

tổ chức lớn hơn bao gồm những cấp độ tổ chức nhỏ liền kề với nó Mỗi cấp

độ tổ chức bao giờ cũng tồn tại đồng thời cấu trúc và các chức năng sinh lí tương ứng Phân biệt được ranh giới về cấu trúc và hoạt động sinh lí của mỗi cấp độ tổ chức là cơ sở thể hiện được quan điểm cấp độ tổ chức khi dạy từng lớp, từng chương, từng bài

1.1.2.2 Khái niệm cấp cơ thể

Cấp cơ thể là một cấp độ tổ chức của thế giới sống được tạo nên bởi các cơ quan hay hệ cơ quan (hay được tạo nên bởi một hay nhiều tế bào) tồn tại và thích ứng với những điều kiện nhất định của môi trường

Trong hệ thống sống, cơ thể là một cấp tổ chức cơ bản Cấp cơ thể là một hệ thống nhỏ trong hệ thống lớn là thế giới sống Hệ thống này bao gồm sự tương tác giữa các cấp tổ chức nhỏ hơn như sự kết hợp của các mô

Trang 16

tạo thành cơ quan, sự kết hợp hoạt động của các cơ quan giúp cơ thể thực hiện được chức năng của nó

Các cấp tổ chức của thế giới sống được tổ chức theo nguyên tắc thứ bậc, các cấp tổ chức cấp dưới là đơn vị cơ bản để tạo nên các tổ chức sống cấp trên Mỗi cấp tổ chức sống cấp trên có những chức năng mà cấp dưới không có được Ví dụ: Các mô riêng lẻ không thực hiện được chức năng tiêu hóa, sự kết hợp của các mô thành cơ quan, hệ cơ quan giúp tiêu hóa thức ăn

Cơ thể có thể là đơn bào hoặc là đa bào Ở Sinh học 11 nghiên cứu hoạt động sống ở cấp độ cơ thể nhưng lại chỉ nghiên cứu cơ thể đa bào Cơ thể đơn bào có đặc điểm biểu hiện sống như ở cấp tế bào Cơ thể đa bào lại chỉ nghiên cứu giới hạn ở hai giới TV và ĐV

Sinh học 11 nghiên cứu về hoạt động sống ở cấp cơ thể (đa bào) nghĩa là nghiên cứu mọi hoạt động sống diễn ra ở cơ quan hay hệ cơ quan Trong đó chỉ nghiên cứu giới hạn từ môi trường ngoài đến cơ quan hoặc hệ

cơ quan đến môi trường trong cơ thể Ví dụ: Khi hướng dẫn HS học chương

“Chuyển hóa vật chất và năng lượng”, GV cần hướng dẫn HS chỉ ra phạm

vi nghiên cứu CHVC&NL ở cấp cơ thể là: vật chất từ môi trường ngoài qua

cơ quan thu nhận, cơ quan vận chuyển đến dịch mô và sản phẩm của chuyển hóa từ dịch mô theo cơ quan vận chuyển đến cơ quan bài tiết để thải

ra ngoài môi trường

Cấp cơ thể được nghiên cứu từ mô → cơ quan → hệ cơ quan Có thể hiểu khái niệm về mô và cơ quan như sau:

Mô là tập hợp nhiều tế bào cùng loại cùng thực hiện một chức năng nhất định Ví dụ, mô biểu bì gồm nhiều tế bào biểu mô có chức năng bảo

vệ, mô cơ gồm nhiều tế bào cơ có chức năng vận động, mô thần kinh gồm nhiều nơron có chức năng dẫn truyền xung thần kinh

Trang 17

Trong cơ thể, nhiều mô khác nhau tập hợp lại thành cơ quan, nhiều

cơ quan tập hợp thành một hệ cơ quan thực hiện một chức năng nhất định của cơ thể Ví dụ, hệ tuần hoàn có tim co bóp để đẩy máu, mạch máu có chức năng dẫn máu

Cơ thể là một thể thống nhất Cơ thể đa bào được tạo nên bởi các tế bào → mô → cơ quan → hệ cơ quan nhưng hoạt động thống nhất nhờ có sự điều hòa và điều chỉnh chung, do đó thích nghi được với môi trường sống

Mô, cơ quan, hệ cơ quan nếu bị tách khỏi cơ thể thì chúng không thể thực hiện được chức năng sống của mình Ví dụ: Quả tim ếch, cơ chân ếch khi bị tách khỏi cơ thể và được kích thích bằng dòng điện có thể co rút một thời gian nhưng không thể hoạt động lâu dài như ở trong cơ thể ếch

Sinh học 11 nghiên cứu hoạt động sống ở cấp độ cơ thể, đại diện là

cơ thể TV và cơ thể ĐV Ở cơ thể đa bào, tế bào là đơn vị cấu trúc nhưng hoạt động sống diễn ra trong tế bào đã được nghiên cứu ở lớp 10 nên hoạt động sống diễn ra ở cấp cơ thể chỉ nghiên cứu từ môi trường dịch bào đến các mô, cơ quan, hệ cơ quan Mô, cơ quan, hệ cơ quan là các cấp tổ chức trung gian của cấp cơ thể Như vậy, cơ thể cũng là một hệ thống sống bao gồm các hệ nhỏ hơn là mô, cơ quan và hệ cơ quan

Hoạt động sống ở cấp cơ thể được nghiên cứu trong mối liên hệ giữa cấu trúc và chức năng, giữa chức năng của các mô, cơ quan, hệ cơ quan trong hoạt động sống chung của cơ thể Như vậy, khi nghiên cứu hoạt động sống ở cấp cơ thể thì các mô, cơ quan, hệ cơ quan có mối quan hệ qua lại, phụ thuộc lẫn nhau

Mỗi hoạt động sống ở cấp cơ thể đều được nghiên cứu mối quan hệ giữa cấu trúc và chức năng Cấu trúc đã được nghiên cứu kỹ ở lớp 6, 7, 8 Ở lớp 11 chủ yếu nghiên cứu hoạt động sinh lý dựa trên cấu tạo của cơ thể

Trang 18

Hoạt động sinh lý ở cấp cơ thể là những hoạt động sinh lý đều có ở

TV và ĐV Hoạt động sinh lý giữa TV và ĐV cũng có nhiều điểm riêng, ngay trong một giới hoạt động sinh lý giữa các ngành cũng đã khác nhau, những điểm khác nhau giữa TV và ĐV ta coi là điểm riêng biệt Sinh học

11 giúp HS tìm hiểu hoạt động sinh lý ở cơ thể TV, cơ thể ĐV, từ đó rút ra những quy luật, quá trình sống đặc trưng ở cấp cơ thể Sách giáo khoa Sinh học 11 biên soạn theo hướng lồng ghép sinh học cơ thể TV (phần A), sinh học cơ thể ĐV (phần B) để HS nắm được các chức năng sinh lý có ở TV và

ĐV, đồng thời so sánh các hoạt động sinh lý ở hai giới TV và ĐV

Tóm lại, nghiên cứu hoạt động sống ở cấp cơ thể về phạm vi là nghiên cứu hoạt động sống diễn ra từ gian bào cho đến các cơ quan hoặc hệ

cơ quan đến môi trường ngoài

1.1.2.3 Quan điểm cấp cơ thể trong dạy học chương I và chương IV

Nội dung chương I tìm hiểu về chuyển hóa vật chất và năng lượng, chương IV tìm hiểu về sinh sản ở TV và ĐV Mỗi chương được trình bày theo cấu trúc phần A - Hoạt động sinh lý ở TV; phần B - Hoạt động sinh lý

ở ĐV Để HS nhận thức được quá trình chuyển hóa vật chất và năng lượng, sinh sản có ở TV và ĐV, đồng thời có thể so sánh rút ra những đặc điểm chung có ở từng hoạt động sinh lý giữa TV và ĐV Mỗi hoạt động sinh lý ở

cơ thể TV và ĐV đều được nghiên cứu dựa trên mối quan hệ giữa cấu tạo

và chức năng

Quá trình chuyển hóa vật chất và năng lượng ở cơ thể trong SGK được viết tách rời thành hai phần: phần A (CHVC&NL ở TV); phần B (CHVC&NL ở ĐV) Nội dung của chương tìm hiểu các chức năng sinh lý trao đổi chất của cơ thể dựa trên cấu trúc Mỗi hoạt động sống được giải thích dựa trên cấu trúc tương ứng của cơ quan, hệ cơ quan Ví dụ: Nghiên cứu giai đoạn thu nhận thức ăn bằng cách tìm hiểu hoạt động của cơ quan

Trang 19

tiêu hóa dựa trên cấu trúc của ống tiêu hóa Cấu tạo của cơ quan, hệ cơ quan

là cơ sở để tìm hiểu các hoạt động sống ở cơ thể

Chuyển hóa vật chất và năng lượng ở cấp cơ thể về bản chất quá trình diễn ra như ở trong tế bào nhưng phạm vi diễn ra ở cơ quan hoặc hệ cơ quan Quá trình chuyển hóa ở cấp cơ thể được tính từ dạng vật chất được hấp thụ vào cơ thể, nhờ hệ mạch vận chuyển đến tất cả các tế bào trong cơ thể, tại các tế bào xảy ra quá trình chuyển hóa, sau cùng là vận chuyển các chất dư thừa, độc hại ra ngoài Quá trình chuyển hóa diễn ra trong tế bào đã được học ở lớp 10, quá trình chuyển hóa ở cấp cơ thể sẽ tìm hiểu từ gian bào đến mô cho tới các cơ quan hệ cơ quan Ví dụ: quá trình CHVC&NL ở

cơ thể được nghiên cứu từ thức ăn ở môi trường ngoài được cơ thể hấp thụ, vận chuyển đến các tế bào làm nhiệm vụ biến đổi, sau đó sản phẩm dư thừa, độc hại của quá trình biến đổi được vận chuyển ra ngoài môi trường Quá trình biến đổi diễn ra trong tế bào (diễn biến tổng hợp, phân giải) đã được tìm hiểu ở cấp tế bào - lớp 10 nên ở cấp cơ thể không trình bày lại

Chương IV – Sinh sản, một đặc trưng cơ bản của cơ thể sống, là quá trình tạo ra cơ thể mới, truyền lại đặc điểm di truyền cho thế hệ sau, giúp duy trì sự tồn tại và phát triển của loài Nội dung chương được nghiên cứu trong 8 bài, trong đó 2 bài tìm hiểu về sinh sản ở TV, 4 bài tìm hiểu về sinh sản ở ĐV, 1 bài thực hành và 1 bài ôn tập chương II, III, IV

Mỗi nội dung được nghiên cứu lần lượt ở TV đến ĐV, sau khi tìm hiểu nội dung tương ứng ở mục ĐV có thể so sánh đối chiếu tìm ra điểm tương đồng Thường trong một loài cũng có những hình thức sinh sản khác nhau mà cấp cơ thể đa bào lại bao gồm nhiều loài rất xa nhau, nên chắc chắn hình thức biểu hiện là rất phong phú Nhưng ở đây ta đang xét quan điểm cấp độ tổ chức của cơ thể đa bào nên sau khi hình thành những nội

Trang 20

dung về sinh sản ở TV, ĐV cần chỉ ra điểm chung của sinh sản, còn những điểm chỉ có ở TV hay chỉ có ở ĐV coi là những điểm riêng cần được chú ý

1.1.3 Biện pháp hướng dẫn học sinh học

1.1.3.1 Khái niệm hướng dẫn học sinh học

Quá trình dạy học là một hệ thống bao gồm nhiều nhân tố với vị trí

và chức năng khác nhau Trong quá trình vận động và phát triển thì mỗi nhân tố đều phát huy tác dụng của mình Song hoạt động dạy và hoạt động học là hai nhân tố trung tâm

Dạy - học hiện nay là dạy theo hướng phát huy tính tích cực của HS Nghĩa là: thầy thực hiện chức năng tổ chức, điều khiển, chỉ đạo còn trò thực hiện chức năng tự tổ chức, tự điều khiển quá trình nhận thức Như vậy, để

HS tự tổ chức và tự điều khiển quá trình nhận thức đi đúng hướng thì vai trò của thầy giáo trong việc hướng dẫn HS học là rất quan trọng Bởi thầy giáo

có tổ chức, điều khiển và chỉ đạo đúng hướng thì trò mới tự chiếm lĩnh được tri thức theo mục tiêu giáo dục

Như vậy, cần phải hiểu bản chất của hướng dẫn học là như thế nào? Hướng dẫn HS học có nghĩa là GV đóng vai trò là người định hướng, tổ chức và chỉ đạo giúp người học tự chiếm lĩnh tri thức, hình thành kĩ năng,

kĩ xảo, thông qua đó hình thành và phát triển nhân cách của họ Hướng dẫn

HS học phải theo đúng quan điểm chỉ đạo của Bộ, nghĩa là theo quan điểm xây dựng chương trình của Bộ Giáo dục đã đề ra, khi hướng dẫn HS học Sinh học 11 theo quan điểm cấp độ cơ thể nên sử dụng các biện pháp để HS

có thể tự mình chỉ ra được điểm tương đồng giữa TV và ĐV

Ta đã biết, mục đích của hoạt động dạy - học cuối cùng là hình thành tri thức khoa học, phát triển nhân cách cho trò Tuy nhiên, phương pháp để

đi đến tri thức khoa học là rất quan trọng Mỗi loại tri thức khoa học khác nhau cần biện pháp để chiếm lĩnh khác nhau Ví dụ, tri thức thuộc lĩnh vực

Trang 21

văn học cần biện pháp hình thành kiến thức khác với tri thức toán học Do vậy, mỗi một môn học hay nội dung khác nhau sẽ có những biện pháp hướng dẫn học khác nhau

Phương pháp là hệ thống các nguyên tắc, các thao tác có thể nhằm từ những điều kiện nhất định ban đầu tới một mục đích định trước GV có thể

sử dụng phương pháp để nhồi nhét thông tin hoặc khơi dậy ý thức tự giác hay hướng dẫn quá trình học tập

Mục đích của dạy học là tạo cho trò khả năng năng động, sáng tạo, tích cực học tập Tri thức là phương tiện khơi dậy niềm hứng thú cho HS Chúng ta đang thực hiện quá trình cải cách giáo dục, trong dạy học GV cần chú ý sử dụng biện pháp kỹ thuật nào để mang lại mục tiêu giáo dục

Khối lượng tri thức của nhân loại ngày càng tăng lên cùng với sự phát triển của xã hội, trong khi đó thời gian học trên lớp của trò không thay đổi Do đó, GV cần quan tâm đến phương pháp và biện pháp giảng dạy nhằm khơi dậy niềm hứng thú của HS để trò có động cơ thúc đẩy tính tự giác, tích cực học tập và rèn luyện, biết cách tìm ra chân lí

Như vậy, dạy học chính là hướng dẫn quá trình học tập, không phải là mang tri thức sẵn có của nhân loại truyền đạt cho HS trong khi họ không có chút nỗ lực nào cả, hướng dẫn học phải giúp học trò tự phát hiện và nâng cao khả năng sáng tạo của học trò Trong hướng dẫn HS học chương CHVC&NL, sinh sản theo cấp cơ thể GV nên lựa chọn các biện pháp để HS

có thể tìm được điểm tương đồng giữa TV và ĐV

1.1.3.2 Các biện pháp hướng dẫn học

Như đã biết, hoạt động học không chỉ giới hạn trong một không gian, thời gian cố định Hoạt động học có thể là ở trên lớp, trên thư viện hoặc ở nhà Trong hoạt động học thì học trên lớp giúp GV có thể hướng dẫn được tất cả các HS trong lớp Việc xác định các biện pháp dạy học cần dựa vào

Trang 22

mục tiêu, nội dung bài học Từ mục tiêu xác định các nội dung dạy học và các biện pháp để hình thành được các nội dung đó

Trong dạy học, có nhiều phương pháp để hướng dẫn HS học, tuy nhiên lựa chọn biện pháp nào lại phụ thuộc vào mục tiêu và nội dung dạy học Trong hướng dẫn học, lựa chọn các biện pháp qua các khâu: thứ nhất: xác định lôgic bài học; thứ hai: lựa chọn các biện pháp kĩ thuật như câu hỏi, bài tập, phiếu học tập ; thứ ba: tổ chức dạy học trên lớp bằng các biện pháp

kĩ thuật theo lôgic DH đưa ra

Trong dạy học Sinh học 11 theo quan điểm cấp độ cơ thể Những đặc điểm về CHVC&NL, sinh sản ở TV, ĐV là những đặc điểm riêng lẻ ở từng giới Sử dụng suy luận quy nạp để xác định điểm tương đồng giữa TV và

ĐV bằng cách hình thành những khái niệm, quá trình, quy luật về

Trang 23

CHVC&NL, sinh sản ở TV, ĐV sau đó rút ra điểm tương đồng về khái niệm, quá trình, quy luật giữa TV và ĐV

Quy nạp là lôgic tư duy đi từ việc nhận thức các sự việc riêng lẻ đến việc nhận thức cái chung Quy nạp bắt đầu từ việc tích lũy những hiểu biết của nhiều sự kiện và hiện tượng cùng loại Nhờ so sánh, phân tích các nhóm đối tượng cùng loại mà người ta phát hiện được các dấu hiệu và thuộc tính chung của chúng Quy nạp chỉ có kết quả khi đã tích luỹ được đầy đủ các sự kiện qua quan sát, thực nghiệm Quy nạp cần thiết cho quá trình hình thành những khái niệm Ví dụ: để hình thành khái niệm sinh sản, từ những ví dụ cây lúa hình thành từ hạt lúa, lợn con được sinh ra từ cơ thể lợn mẹ, cua đứt càng mọc càng mới, số gà trong đàn tăng lên 10 con do được mua thêm

GV cho HS phân biệt ví dụ nào là sinh sản và rút ra được dấu hiệu sinh sản

là tạo ra cơ thể mới từ những cá thể ban đầu, duy trì sự tồn tại của loài

- Diễn dịch

Là quá trình đi ngược lại phương pháp quy nạp, nghĩa là đi từ khái niệm, định luật, đến các sự kiện, hiện tượng riêng lẻ Hoặc cụ thể hóa các kết luận bằng cách nêu các hiện tượng, sự vật đơn nhất, hoặc giải thích sự vật, hiện tượng dựa trên các khái niệm quy luật tương ứng đã biết

Sử dụng diễn dịch trong dạy học Sinh học cơ thể, có thể đi từ điểm chung sau đó phân tích, giải thích bằng những biểu hiện ở TV và ĐV

Trong dạy học, khi sử dụng suy luận quy nạp, diễn dịch có thể sử dụng các thao tác tư duy sau:

+ Phân tích

Là sự phân chia trong tư duy đối tượng hay hiện tượng thành những yếu tố hợp thành, các dấu hiệu, các đặc tính riêng biệt của đối tượng hay hiện tượng đó thành những yếu tố nhỏ hơn hoặc những mối quan hệ giữa toàn thể và bộ phận, hay quan hệ giống loài

Trang 24

+ Tổng hợp

Là sự kết hợp trong tư duy các yếu tố, các thành phần của sự vật hay hiện tượng trong một chỉnh thể Trong thực tế mọi sự vật, hiện tượng đều tồn tại đồng thời các yếu tố cũng như các mặt khác nhau tác động lẫn nhau

Để nhận thức đầy đủ sự vật, hiện tượng, con người thường bắt đầu xem xét

từ một tổng thể toàn vẹn, nghĩa là tổng hợp sơ bộ, sau đó mới phân tích từng yếu tố, cuối cùng tổng hợp cao hơn, đầy đủ hơn

+ So sánh

Trong nhận thức không chỉ dừng lại nhận thức về từng sự vật, hiện tượng riêng lẻ mà còn phải hiểu sự vật hiện tượng này giống sự vật hiện tượng khác như thế nào Phương pháp so sánh giúp phân tích những điểm giống nhau và khác nhau giữa các đối tượng Tùy vào mục đích dạy học mà

có thể nặng về tìm điểm giống hay điểm khác

Trong dạy học Sinh học cơ thể, sử dụng phương pháp so sánh để tìm

ra điểm giống giữa TV và ĐV hình thành hoạt động sống thể hiện ở cấp cơ thể, điểm khác nhau giữa TV và ĐV là những điểm riêng thể hiện sự thích nghi với điều kiện sống của TV và ĐV

- Tương tự

Trong lôgic học, tương tự được coi là phương pháp lĩnh hội tri thức mới, là suy luận trong đó kết luận về sự giống nhau của các dấu hiệu được rút ra trên cơ sở giống nhau của các dấu hiệu khác của các đối tượng

Tương tự là suy luận, trong đó kết luận về dấu hiệu thuộc về dấu hiệu xác định nào đó được rút ra trên cơ sở giống nhau của đối tượng ấy với đối tượng khác ở hàng loạt dấu hiệu Tương tự giúp HS tìm những đặc điểm ở

ĐV giống với đặc điểm CHVC&NL, sinh sản ở TV GV có thể sử dụng những nội dung về CHVC&NL, sinh sản đã học ở TV sau đó cho HS sử dụng suy luận tương tự để tìm ra những điểm biểu hiện ở ĐV

Trang 25

Cũng như mọi hình thức của suy luận lôgic, tương tự không phải là kết quả của việc xây dựng tuỳ tiện, nó được hình thành trong quá trình hoạt động thực tiễn của con người Trong quá trình ấy con người nhận thức rằng mội sự vật hiện tượng là một hệ thống hoàn chỉnh các dấu hiệu liên hệ qua lại với nhau Các dấu hiệu đó không tồn tại biệt lập mà nằm trong mối liên

hệ tất yếu bên trong Nếu giải thích được các mối liên hệ cơ bản sâu sắc giữa các dấu hiệu riêng biệt tác động qua lại với nhau thì có thể chuyển từ

sự hiểu biết các dấu hiệu của các đối tượng khác trong mối quan hệ giống nhau nào đó với đối tượng đầu tiên [16, tr.147 - 148]

Ví dụ: CHVC&NL ở TV có các giai đoạn: thu nhận, vận chuyển, biến đổi và bài xuất thì CHVC&NL ở ĐV có thu nhận, vận chuyển, bài xuất thì cũng có thể có giai đoạn biến đổi

* Biện pháp kĩ thuật

- Biện pháp sử dụng câu hỏi

+ Khái niệm câu hỏi:

Câu hỏi là dạng cấu trúc ngôn ngữ diễn đạt một yêu cầu, một đòi hỏi, một mệnh đề cần được giải quyết Câu hỏi được sử dụng vào những mục đích khác nhau ở những khâu khác nhau của quá trình dạy học [7, tr9]

+ Các loại câu hỏi

Theo Trần Bá Hoành (1996), để phát huy tính tích cực của HS trong quá trình học tập GV có thể sử dụng 5 dạng câu hỏi sau đây:

 Câu hỏi kích thích sự quan sát, chú ý

 Câu hỏi yêu cầu so sánh, phân tích

 Câu hỏi yêu cầu tổng hợp khái quát hóa

 Câu hỏi liên hệ thực tế

 Câu hỏi kích thích tư duy sáng tạo

Trang 26

Câu hỏi dùng để mã hóa nội dung dạy - học, GV có thể từ nội dung khoa học mà HS cần phải đạt đến để đặt câu hỏi cho HS tìm hiểu GV cần lưu ý để đặt câu hỏi hướng dẫn HS sinh học, vì khi sử dụng câu hỏi không đảm bảo được tính chính xác của nội dung thì việc định hướng tìm tòi của

HS sẽ không đạt được mục tiêu dạy - học Câu hỏi đặt ra cần bám sát mục tiêu học CHVC&NL, sinh sản ở cơ thể

Theo biện pháp lôgic dạy học, con đường chung là quy các kiến thức CHVC&NL, sinh sản ở TV và ĐV về những khái niệm, quá trình, quy luật

có cùng bản chất sinh học HS cần nắm vững kiến thức về CHVC&NL, sinh sản ở TV và ĐV mới có thể rút ra được điểm chung giữa hai giới này Như vậy, câu hỏi dùng để dạy hoạt động sống ở cấp cơ thể có thể là những câu hỏi phân tích, tổng hợp về hoạt động sống của TV, ĐV hoặc câu hỏi có tính chất so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa để rút ra hoạt động sống thể hiện ở cấp cơ thể

Theo lôgic dạy sinh học cơ thể thì HS phải nắm vững được kiến thức

về CHVC&NL, sinh sản ở TV, ĐV rồi mới so sánh rút ra điểm tương đồng SGK biên soạn theo hướng thể hiện các hoạt động sống ở TV rồi đến các hoạt động sống ở ĐV nên nếu theo hướng lôgic dạy xong CHVC&NL, sinh sản ở TV, ĐV rồi mới rút ra điểm chung thì câu hỏi khi dạy phần TV chủ yếu là dạng câu hỏi hình thành kiến thức mới về CHVC&NL, sinh sản ở TV; còn dạy phần ĐV vừa sử dụng câu hỏi, bài tập hình thành kiến thức mới vừa kết hợp câu hỏi mang tính chất so sánh, phân tích, tổng hợp khái quát hóa để HS dễ dàng rút ra điểm tương đồng sau mỗi nội dung học

- Biện pháp sử dụng bảng hệ thống

Bảng hệ thống là một công cụ để diễn đạt nội dung và giúp khảo sát

sự vật hiện tượng bằng tiếp cận hệ thống

Trang 27

Trong các biện pháp sử dụng công cụ, bảng hệ thống giúp HS dễ dàng tổng kết những điểm tương đồng về CHVC&NL, sinh sản giữa TV và

ĐV Với cách biên soạn của sách giáo khoa theo hướng viết tách riêng quá trình CHVC&NL, sinh sản TV và ĐV thì bảng hệ thống giúp HS thuận lợi trong việc đối chiếu so sánh CHVC&NL, sinh sản giữa TV và ĐV để chỉ ra điểm tương đồng

Với đặc điểm cấu trúc của bảng hệ thống theo chiều ngang và chiều dọc nên có thể đưa cả đối tượng so sánh và tiêu chí so sánh vào trong bảng Khi thiết lập bảng hệ thống hóa có thể đưa mỗi đối tượng cần so sánh vào một cột, điểm giống nhau được rút ra thể hiện ở một cột thuộc diễn biến của cấp cơ thể

Sử dụng bảng hệ thống HS có thể hệ thống lại được nội dung về CHVC&NL, sinh sản ở TV, ĐV, đồng thời có thể so sánh đối chiếu để rút

ra điểm tương đồng về CHVC&NL, sinh sản thuộc cấp cơ thể

- Biện pháp sử dụng phiếu học tập

Phiếu học tập là những tờ giấy rời, in sẵn những công tác độc lập hay nhóm nhỏ, được phát cho HS yêu cầu tự lực hoàn thành trong một thời gian ngắn của tiết học

Mỗi phiếu học tập có thể giao cho HS một hoặc một vài nhiệm vụ nhận thức cụ thể nhằm dẫn dắt tới một kiến thức, tập dượt một kĩ năng, rèn luyện một thao tác tư duy hay thăm dò thái độ trước một vấn đề Điều quan trọng là qua công tác độc lập với phiếu học tập, HS được phát triển các kĩ năng tư duy, làm tăng hiệu quả của các phương pháp dạy học tích cực Trong mỗi phiếu học tập có thể sử dụng câu hỏi, bài tập hoặc bảng hệ thống cho HS hoàn thành

Mối phiếu học tập cần có mục đích rõ ràng, diễn đạt ngắn gọn, chính xác Khối lượng công việc trong mỗi phiếu học tập vừa phải, đa số HS có

Trang 28

thể hoàn thành được trong thời gian quy định Mỗi phiếu học tập có chỉ dẫn

đủ rõ phần cho HS điền công việc của mình phải thực hiện, phần ghi tên HS theo dõi đánh giá

* Biện pháp tổ chức

Hiện nay, với sự phát triển của xã hội lượng tri thức ngày càng tăng lên theo cấp số nhân Thời gian học trên lớp không thay đổi, nếu sử dụng phương pháp thuyết trình không hình thành hết được kiến thức cho HS, đặc biệt là không giúp cho người học có năng lực tự học Do vậy, phương pháp dạy học thực chất là biện pháp hướng dẫn HS học

Để thực hiện được mục đích và nhiệm vụ DH, hoạt động DH phải được tổ chức với nhiều hình thức khác nhau Mỗi hình thức tổ chức được xác định bởi những yêu cầu nhất định như nội dung, thời gian, địa điểm, phương tiện, thành phần HS, trình tự và cách thức hoạt động của GV và HS

Trong thực tiễn DH có thể áp dụng nhiều hình thức tổ chức DH khác nhau: DH trên lớp, DH ngoài lớp, ngoài trường, thảo luận, xêmina, tự học ở nhà Mỗi hình thức dạy học này do có những đặc điểm riêng nên có những

ưu điểm riêng Với việc đổi mới quan điểm, mục tiêu, nội dung, phương pháp đào tạo hiện nay cần phối kết hợp các hình thức tổ chức dạy học Tuy nhiên, trong hướng dẫn HS học, tổ chức DH trên lớp hướng dẫn được tất cả

HS trong lớp theo mục tiêu đưa ra [29, tr.11] Trong phạm vi đề tài này chỉ chủ yếu giới thiệu biện pháp tổ chức hướng dẫn HS học chương CHVC&NL, sinh sản trên lớp

Hoạt động học tập trên lớp có thể có nhiều hình thức tổ chức khác nhau: GV có thể cho HS độc lập nghiên cứu SGK để hoàn thành mục tiêu học tập hoặc phân chia HS học tập theo nhóm Trong việc tổ chức học theo nhóm có thể cho các nhóm thực hiện cùng một nội dung học tập hoặc mỗi nhóm tìm hiểu một nội dung khác nhau

Trang 29

Trong dạy học Sinh học 11 theo quan điểm cấp cơ thể vừa phải hình thành kiến thức về TV, ĐV, đồng thời chỉ ra được điểm tương đồng giữa

TV và ĐV Như vậy, trước khi hướng dẫn HS tìm điểm tương đồng thì trò

đã phải nắm được nội dung về CHVC&NL, sinh sản ở TV và ĐV Theo biện pháp lôgic GV có thể hướng dẫn HS đồng thời một hoạt động sống ở

cả TV và ĐV hoặc tìm hiểu xong TV rồi mới đến ĐV

Trong hướng dẫn học tập trên lớp, GV đóng vai trò là người chỉ đạo,

tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức, giúp HS phát huy vai trò độc lập sáng tạo của cá nhân Các khâu hướng dẫn HS học trên lớp bao gồm: GV đặt câu hỏi hoặc giao bài tập cho HS; HS độc lập nghiên cứu hoặc thảo luận nhóm, trình bày kết quả; GV tổng kết rút ra kiến thức cơ bản

+ Độc lập: trong việc tìm kiếm vấn đề nhận thức trong việc giải quyết nhiệm vụ nhận thức với sự hướng dẫn ít, nhiều hoặc không có sự hướng dẫn của GV

+ Tìm ra cách giải quyết mới với những cách giải quyết đã có sẵn Tìm ra cách giải quyết độc đáo trong nhiều cách giải quyết Tìm ra cách giải quyết nhạy bén phù hợp với điều kiện hoàn cảnh mới

- Thảo luận nhóm

Sau khi HS độc lập nghiên cứu, GV tổ chức cho HS thảo luận để trao đổi kiến thức mình tìm hiểu được Không phải nội dung bài học nào cũng

Trang 30

có thể tổ chức dạy học theo nhóm Chỉ những nội dung phức tạp, có nhiều cách hiểu khác nhau, những nội dung có tính chủ đề đòi hỏi HS phải tự tìm hiểu, tự nghiên cứu Khi thiết kế hoạt động nhóm, GV cần chú ý làm sao cho mỗi nhóm, cũng như từng thành viên trong nhóm có nhiệm vụ cụ thể, hướng vào giải đáp các câu hỏi đặt ra hay nội dung chính của bài học Chính vì vậy, dạy học nhóm có thể được sử dụng trong toàn giờ học, hoặc cũng có thể sử dụng ở một vài thời điểm của tiết học Điều này phụ thuộc vào nội dung, vào nhiệm vụ học tập, vào kĩ năng làm việc nhóm của HS, vào điều kiện trường, lớp, vào phương tiện dạy học [6, tr.33]

Mỗi nhóm cử nhóm trưởng và thư kí để điều hành và ghi chép quá trình thực hiện nhiệm vụ của nhóm Nhóm trưởng dẫn dắt buổi thảo luận, khuyến khích mọi thành viên trong nhóm cùng tham gia, tránh các cuộc tranh cãi tay đôi giữa cá nhân và điều khiển cuộc thảo luận đi đúng hướng, tạo điều kiện cho mỗi thành viên phát biểu ý kiến của mình một cách tự do

và bình đẳng Thư kí ghi lại toàn bộ diễn biến cuộc thảo luận, cả ý kiến thống nhất và chưa thống nhất cần được làm rõ

- Nhiệm vụ của giáo viên trong tổ chức hướng dẫn học Sinh học + GV giao nhiệm vụ cho nhóm có thể thông báo trực tiếp cho HS, cũng có thể thông qua phiếu giao việc, sử dụng máy chiếu để tất cả HS nhìn

và nghe rõ nhiệm vụ thảo luận của mình

+ GV chuẩn bị và gợi ý cho chương trình thảo luận của nhóm có hiệu quả Sẽ hiệu quả hơn nếu chuẩn bị sẵn câu hỏi tình huống in sẵn ra các phiếu học tập phát cho mỗi HS, tạo điều kiện cho HS làm việc độc lập để tích luỹ kiến thức và hiểu biết về thực tiễn GV cũng cần khẳng định kết quả làm việc của HS, chỉ ra những vấn đề cần phải suy nghĩ và làm rõ thêm

+ Chủ đề đưa ra thảo luận phải rõ ràng GV phải cho các thành viên trong nhóm hiểu rõ nhiệm vụ của mình trong buổi thảo luận Các nhóm hoạt

Trang 31

động theo nội dung được phân công GV có thể đi lại hay quan sát giải thích thêm về nhiệm vụ thảo luận và trao đổi với HS nếu cần thiết, tuy nhiên cần để HS tự thảo luận độc lập với nhau và chỉ can thiệp khi thấy thật sự cần thiết

+ Khi hết thời gian thảo luận, các nhóm của đại diện trình bày kết quả hoạt động của nhóm mình Các nhóm khác chú ý lắng nghe, cho ý kiến

bổ sung, nên yêu cầu làm rõ hơn nội dung mà mình quan tâm Nếu hai nhóm cùng xủ lý một nội dung, để tiết kiệm thời gian, GV có thể yêu cầu

1 nhóm báo cáo, nhóm kia nêu ý kiến bổ sung, hoặc trình bày ý kiến khác nhóm trước

+ Kết quả làm việc của nhóm có thể trình bày trên máy chiếu, cũng

có thể trên các khổ giấy rộng, treo xung quanh lớp học, tạo điều kiện cho các thành viện của nhóm khác quan sát, trao đổi và học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau [21, tr 21 - 22]

+ Giáo viên tổng kết và chính xác hóa kiến thức

ra trường và các GV đã có kinh nghiệm giảng dạy lâu năm Kết quả thu được như sau:

Trang 32

Bảng 1.1 Kết quả phiếu điều tra

GV Tỷ lệ

Thầy cô hiểu thế

nào về dạy cấp cơ

Chỉ dạy hoạt động sinh lý TV, ĐV 17 53,13% Dạy hoạt động sinh lý TV, ĐV rồi

rút ra điểm tương đồng giữa TV và

24 75%

Sử dụng câu hỏi để khái quát điểm

Sử dụng bảng hệ thống hóa 6 18,75% Dạy bài tổng kết theo hướng

Dạy bài tổng kết theo nội dung đề

Trang 33

Qua kết quả điều tra GV từ cách hiểu, cách dạy và những khó khăn

GV gặp phải khi dạy Sinh học 11 theo quan điểm cấp độ cơ thể Cho thấy:

Câu 1: Thầy (cô) hiểu thế nào về dạy cấp độ cơ thể ở Sinh học 11?

Kết quả điều tra thu được (bảng 1.1) Trong đó 14/32 (43,75%) GV

đã hiểu đúng về dạy “Sinh học cơ thể” là dạy những điểm tương đồng về hoạt động sinh lý giữa TV và ĐV Song thực tế vẫn còn một số lượng lớn

GV chưa hiểu đúng về dạy theo quan điểm cấp cơ thể (59,38%) Những GV này cho rằng dạy Sinh học 11 theo quan điểm cấp cơ thể là dạy hoạt động sinh lý TV, ĐV Như vậy, phần lớn GV hiện nay còn chưa hiểu đúng yêu cầu chỉ đạo của Bộ Giáo dục về dạy Sinh học 11 theo quan điểm cấp cơ thể Nhiều GV khi trả lời phiếu điều tra còn cho biết chỉ dạy theo SGK chứ không quan tâm đến dạy theo quan điểm cấp độ cơ thể là phải dạy như thế nào

Câu 2: Thầy cô đã dạy Sinh học 11 bằng cách nào?

Từ kết quả bảng 1.1 cho thấy (59,38%) GV đã dạy Sinh học 11 bằng cách dạy cấu trúc của các cơ quan, hệ cơ quan rồi rút ra hoạt động sống, trong đó chỉ có 6 (18,75%) là dạy hoạt động sinh lý dựa trên cấu trúc cơ quan, hệ cơ quan Điều đó chứng tỏ GV chưa nắm bắt được quan điểm chỉ đạo của Bộ Giáo dục về dạy hoạt động sinh lý ở cấp cơ thể Ở chương trình THCS chủ yếu trình bày các kiến thức về cấu tạo và chức năng của các cơ quan, hệ cơ quan trong cơ thể Trong khi đó, phần lớn GV còn đi sâu vào dạy cấu trúc của các cơ quan, hệ cơ quan rồi mới rút ra hoạt động sống tức

là hầu như dạy giải phẫu cơ thể TV, ĐV mà chưa thể hiện được dạy hoạt động sinh lý

Mặt khác, từ việc hiểu sai về dạy Sinh học 11 theo quan điểm cấp cơ thể mà dẫn đến (53,13%) GV trong khi dạy chỉ dạy hoạt động sinh lý ở hai đối tượng TV và ĐV tách rời nhau Kết quả là HS chỉ nắm được những kiến

Trang 34

thức rời rạc ở TV và ĐV, chưa biết kết nối kiến thức phần TV và ĐV để tìm điểm tương đồng thể hiện ở cấp cơ thể

Câu 3: Thầy (cô) đã sử dụng những biện pháp nào để dạy Sinh học 11 theo

quan điểm cấp cơ thể

Qua phân tích câu trả lời của GV cho thấy:

- 12 (37,5%) GV không trả lời đã sử dụng biện pháp nào để dạy Sinh học 11 theo quan điểm cấp cơ thể SGK viết tách riêng hoạt động sinh lý

TV và ĐV, nếu GV chỉ dạy hoạt động sinh lý TV, ĐV hoặc có chỉ ra điểm tương đồng theo một vài câu hỏi trong SGK thì vẫn chưa đạt được mục tiêu dạy “Sinh học cơ thể” Điều quan trọng là GV phải biết sử dụng biện pháp nào để vẫn sử dụng nội dung SGK mà lại thể hiện được là dạy sinh lý

ở cấp cơ thể Những GV chưa chỉ ra biện pháp nào chứng tỏ GV còn chưa chú ý đến các biện pháp hướng dẫn HS chỉ ra được điểm tương đồng giữa

TV và ĐV

- Số GV còn lại (62,5%) đưa ra câu trả lời không rõ ràng, chưa thể hiện rõ được là GV đã sử dụng những biện pháp nào để thể hiện được điểm tương đồng Ví dụ: GV Nguyễn Thị Hiền, Nguyễn Thị Phương Thảo (Trường THPT Yên Dũng 3), Nguyễn Đức Dũng (THPT Vân Nội) chỉ nói một cách rất chung là dạy hoạt động sinh lý TV, ĐV rồi rút ra điểm tương đồng giữa TV và ĐV chứ chưa đưa ra biện pháp nào để hướng dẫn HS chỉ

ra điểm tương đồng giữa hai giới TV và ĐV; GV Nguyễn Bích Ngân (THPT Vân Nội) sử dụng biện pháp: phân tích tranh mô tả cấu tạo từ đó rút

ra đặc điểm thích nghi, khi dạy có liên hệ với cấp phân tử, tế bào đã học ở lớp 10

Như vậy, ngoài số GV chưa hiểu về dạy theo quan điểm cấp cơ thể thì những GV đã hiểu được dạy Sinh học 11 theo quan điểm cấp cơ thể là chỉ ra điểm tương đồng giữa hai giới TV và ĐV thì lại lúng túng hoặc

Trang 35

không đưa ra được biện pháp làm thế nào để hướng dẫn HS chỉ ra được điểm tương đồng Có thể nói đây là khó khăn của các GV đang giảng dạy Sinh học

11 hiện nay, để khắc phục khó khăn này cần đưa ra các biện pháp giúp GV

có thể dạy Sinh học 11 theo đúng quan điểm chỉ đạo của Bộ Giáo dục

Câu 4: Khi dạy hoạt động sống ở cấp cơ thể, thầy (cô) gặp thuận lợi và khó

khăn gì?

- Thuận lợi: Hầu hết GV không trả lời phần này, một số GV trả lời thì cho rằng dạy sinh lý ở cấp cơ thể gần gũi với đời sống nên HS dễ tiếp thu Tuy nhiên, đây không phải là điểm thuận lợi để giúp GV hướng dẫn HS hình thành điểm tương đồng giữa TV và ĐV

- Khó khăn: 8/32 (25%) GV xác định được khó khăn cơ bản trong dạy sinh học theo quan điểm cấp cơ thể là xác định điểm tương đồng giữa

TV và ĐV và làm thế nào để chỉ ra được điểm tương đồng trong khi SGK viết riêng hoạt động sinh lý ở TV với ĐV Qua phỏng vấn các GV Nguyễn Thị Thơ (THPT - Tủa Chùa), Hoàng Thị Lan (THPT – Thành phố Điện Biên), Nguyễn Thị Hợp (Sở GD Tỉnh Điện Biên) và một số GV khác cho biết các thầy, cô hiện nay chủ yếu dạy theo cấu trúc các bài trong SGK, cũng có bài GV cho tìm điểm tương đồng, tuy nhiên việc so sánh mới chỉ dừng lại ở một vài nội dung nhỏ chứ không hệ thống Một trong những khó khăn của GV là do GV chưa xác định được các biện pháp hướng dẫn HS chỉ

ra điểm tương đồng Hầu hết GV không chỉ ra được những điểm thuận lợi, khó khăn khi dạy Sinh học 11 theo quan điểm cấp cơ thể, điều này chứng tỏ

GV còn chưa thực sự chú ý đến chuyên môn hoặc chưa được hướng dẫn cụ thể về dạy “Sinh học cơ thể”

Câu 5: Để dạy học Sinh học 11 theo quan điểm cấp cơ thể, theo thầy (cô)

có thể sử dụng biện pháp nào sau đây:

- Trong mỗi bài về TV, nhấn mạnh điểm tương đồng

Trang 36

- Trong mỗi bài ở mục ĐV, chỉ ra được điểm tương đồng và điểm riêng biệt

- Sử dụng câu hỏi, bài tập để khái quát điểm tương đồng

- Sử dụng bảng hệ thống hóa

- Dạy bài tổng kết theo hướng dẫn của SGK

- Dạy bài tổng kết chương IV theo nội dung như sau:

Tóm lại, qua kết quả điều tra cho thấy nhiều GV còn chưa hiểu được dạy “Sinh học cơ thể” là gì? Những GV hiểu được định hướng dạy Sinh học

11 theo cấp độ cơ thể thì lại gặp khó khăn trong việc xác định điểm tương đồng và giải pháp thực hiện Như vậy, việc xác định các nội dung dạy sinh học cơ thể và biện pháp giảng dạy là rất quan trọng trong dạy học Sinh học

11 hiện nay

1.2.2 Nguyên nhân của thực trạng

1.2.2.1 Cấu trúc nội dung sách giáo khoa

Sinh học cơ thể được nghiên cứu trong 4 chương tương ứng với 4 nội dung:

Trang 37

Chương I Chuyển hóa vật chất và năng lượng

Chương II Cảm ứng

Chương III Sinh trưởng và phát triển

Chương IV Sinh sản

Mỗi chương được chia thành hai phần: phần A – Sinh học cơ thể TV, phần B – Sinh học cơ thể ĐV Mỗi nội dung về TV và ĐV được viết tách rời nhau, điều này dễ gây hiểu lầm cho GV là dạy hoạt động sinh lí TV và dạy hoạt động sinh lí ĐV Sau mỗi bài cũng có câu hỏi tìm điểm tương đồng, nhưng câu hỏi còn ít và chưa khái quát

- Do các hình thức phân chia ở TV và ĐV là không cùng tiêu chí nên khó tìm điểm giống giữa TV và ĐV Ví dụ, khi tìm những hình thức sinh sản vô tính ở cơ thể đa bào

+ Nếu theo cách phân chia của SGK (TV có hai hình thức sinh sản sinh dưỡng và sinh sản bào tử, trong sinh sản sinh dưỡng có các hình thức sinh sản bằng thân, rễ, lá Còn ở ĐV có 4 hình thức sinh sản vô tính là: phân đôi, nảy chồi, phân mảnh và trinh sinh) sẽ thấy không có hình thức sinh sản nào giống nhau giữa TV và ĐV Ngay trong sách hướng dẫn cũng chỉ ra hình thức sinh sản vô tính ở ĐV và TV chỉ giống nhau ở bản chất là không có sự kết hợp giao tử đực và giao tử cái và cơ thể mới tạo ra nhờ nguyên phân, còn các hình thức sinh sản là khác nhau

+ Nếu khi phân chia các hình thức sinh sản ở TV và ĐV đều dựa vào bản chất cơ chế hình thành cơ thể mới từ tế bào làm nhiệm vụ sinh dưỡng hay tế bào làm nhiệm vụ sinh sản hay từ một phần cơ thể mẹ hình thành cơ thể con như thế nào thì có thể kết luận ở TV và ĐV đều có hai hình thức sinh sản vô tính là sinh sản bào tử và sinh sản sinh dưỡng, trong hình thức sinh sản sinh dưỡng có hai hình thức nảy chồi và tái sinh

Trang 38

- Trong cùng một nội dung bài học, đề mục ở trong bài TV và trong bài ĐV phân chia cũng khác nhau, nội dung trong mỗi đề mục không thống nhất do đó khó tìm ra điểm chung Ví dụ, quá trình sinh sản hữu tính

+ Ở bài “Sinh sản hữu tính ở TV” nội dung được chia thành 2 phần: phần I – Khái niệm; phần II – Sinh sản hữu tính ở TV có hoa (quá trình sinh sản hữu tính được nghiên cứu với ba giai đoạn: quá trình hình thành hạt phấn

và túi phôi; quá trình thụ phấn và thụ tinh; quá trình hình thành hạt, quả)

+ Ở bài “Sinh sản hữu tính ở ĐV” nội dung được chia làm 4 phần: phần I – Sinh sản hữu tính là gì; phần II – Quá trình sinh sản hữu tính ở ĐV; phần III – Các hình thức thụ tinh; phần IV - Đẻ trứng và đẻ con Các hình thức thụ tinh, đẻ trứng và đẻ con là 2 giai đoạn trong quá trình sinh sản hữu tính trong khi đó SGK lại đưa hình thức thụ tinh, đẻ trứng và đẻ con ra một mục riêng Việc phân chia như vậy không thống nhất với bài “Sinh sản hữu tính ở TV” gây khó khăn cho việc hướng dẫn HS tìm điểm tương đồng Mặt khác, ở ĐV ngoài hai hình thức thụ tinh ngoài và thụ tinh trong, nếu xét

về nguồn gốc giao tử thì còn hai hình thức thụ tinh nữa là tự thụ tinh và thụ tinh chéo Trong khi đó, mục các hình thức thụ tinh chỉ nêu ra hai hình thức thụ tinh là thụ tinh ngoài và thụ tinh trong, hình thức thụ tinh chéo có được

đề cập đến nhưng lại giới thiệu trong phần II

Như vậy, theo cách trình bày của SGK tách riêng hoạt động sinh lý của TV và ĐV, cấu trúc trình bày mỗi nội dung cũng không tương ứng giữa

TV và ĐV gây không ít khó khăn cho việc dạy hoạt động sinh lý ở cấp cơ thể Vì vậy, cần phải có những biện pháp giảng dạy để khi sử dụng SGK vẫn thể hiện được quan điểm cấp cơ thể

1.2.2.2 Hướng dẫn của sách giáo viên

Theo điều tra cho thấy, hiện nay GV chủ yếu dựa vào tài liệu hướng dẫn giảng dạy Sinh học 11 là SGV Trong khi đó SGV lại chưa hướng dẫn

Trang 39

rõ ràng, ví dụ ở trang 5 (giới thiệu về Sinh học 11) cũng chỉ nói “mặc dù được chia làm hai phần nhưng các quá trình sinh lí diễn ra trong cơ thể TV

và ĐV có những điểm chung và có những điểm riêng biệt Sự giống nhau trong các chức năng sống chứng tỏ TV và ĐV có nguồn gốc thống nhất Sự khác biệt trong các chức năng sống nói lên sự đa dạng, sự tiến hóa thích nghi của ĐV và môi trường sống ” Điều này chưa làm rõ ý là GV phải dạy hoạt động sinh lí ở cấp cơ thể dựa vào hoạt động sinh lí ở TV và hoạt động sinh lí ở ĐV

Mặt khác, SGV chưa gợi mở cho GV nên sử dụng biện pháp nào để thể hiện cấp cơ thể, ngay trong hướng dẫn cụ thể từng bài cũng không hướng dẫn làm thế nào để giúp HS có thể chỉ ra điểm tương đồng giữa TV

và ĐV, ví dụ bài 18 Do đó, GV hiện nay hầu như dạy sinh lý TV và dạy sinh lý ĐV, kết quả là HS chỉ lĩnh hội được các khái niệm, quá trình rời rạc

ở TV và ĐV mà không thấy được kiến thức sinh học chung ở cả TV và ĐV

Vì vậy, việc xác định các biện pháp giúp GV dạy Sinh học 11 theo đúng quan điểm cấp cơ thể là rất quan trọng

Từ thực trạng cho thấy phần lớn GV còn lúng túng trong việc thực hiện mục tiêu dạy “Sinh học cơ thể”, chứng tỏ các giáo viên hiện nay chưa được bồi dưỡng thường xuyên về chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm,

Trang 40

Chương 2 BIỆN PHÁP HƯỚNG DẪN HỌC SINH HỌC CHƯƠNG I,

IV SINH HỌC 11 THEO QUAN ĐIỂM CẤP ĐỘ CƠ THỂ

2.1 Biện pháp chung

Từ phần tổng quan về các biện pháp dạy học, có thể sử dụng các biện pháp sau vào dạy chương CHVC&NL, sinh sản Sinh học 11 theo quan điểm cấp cơ thể

2.1.1 Biện pháp lôgic

Bản chất của biện pháp này là sử dụng con đường lôgic để rút ra được những nội dung thể hiện ở cấp cơ thể Con đường chung là khái quát hóa các kiến thức thuộc chương CHVC&NL, sinh sản ở TV, ĐV sau đó so sánh tìm ra điểm tương đồng trong từng hoạt động sống giữa TV và ĐV Các kiến thức trong chương CHVC&NL, sinh sản thuộc kiến thức khái niệm, quá trình, quy luật Vì vậy, khi xác định điểm tương đồng giữa TV và

ĐV cần dựa vào các kiến thức này là tiêu chí để xác định

Trong hướng dẫn học, GV vẫn phải giúp HS nêu được đặc điểm về quá trình CHVC&NL, sinh sản ở TV, ĐV như sách giáo khoa, đồng thời phải kết hợp sử dụng các biện pháp lôgic để HS chỉ ra được những điểm tương đồng giữa TV và ĐV về các hoạt động sống Con đường lôgic có thể khác nhau nhưng kết quả chung là phải đưa biểu hiện sống ở từng giới về dấu hiệu chung có cùng bản chất sinh học

Sinh học 11 giới thiệu những hoạt động sống qua hai đại diện là TV

và ĐV rồi tìm điểm tương đồng trong từng mặt hoạt động sống xác định những diễn biến thuộc cấp cơ thể Sách giáo khoa biên soạn theo hướng lồng ghép kiến thức Sinh học về CHVC&NL, sinh sản ở TV và ĐV điều này thuận lợi cho GV hướng dẫn HS chỉ ra hoạt động sống biểu hiện ở từng giới Khi hình thành và phân chia khái niệm cần dựa vào cơ chế biểu hiện

Ngày đăng: 03/03/2015, 08:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Thái Trần Bái (chủ biên) - Nguyễn Văn Khang (2007), Động vật học không xương sống. Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Động vật học không xương sống
Tác giả: Thái Trần Bái (chủ biên) - Nguyễn Văn Khang
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
3. Đinh Quang Báo, Nguyễn Đức Thành (2005), Lý luận dạy học sinh học phần đại cương”. Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận dạy học sinh học phần đại cương”
Tác giả: Đinh Quang Báo, Nguyễn Đức Thành
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005
4. Đinh Quang Báo (chủ biên) - Trần Khánh Ngọc - Nguyễn Văn Hiền – Lê Thủy Trang – Vũ Thị Mai Anh (2007), Giáo án và tư liệu dạy học điện tử môn sinh học lớp 11. Nxb Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo án và tư liệu dạy học điện tử môn sinh học lớp 11
Tác giả: Đinh Quang Báo (chủ biên) - Trần Khánh Ngọc - Nguyễn Văn Hiền – Lê Thủy Trang – Vũ Thị Mai Anh
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2007
5. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2006), Chương trình giáo dục phổ thông môn sinh học. Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình giáo dục phổ thông môn sinh học
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
6. TS. Nguyễn Thị Kim Dung (2005), “Một số tiêu chí đánh giá chất lượng dạy học theo nhóm ở tiểu học”, Tạp chí Giáo dục, số 124 tháng 10 năm 2005, tr.33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số tiêu chí đánh giá chất lượng dạy học theo nhóm ở tiểu học”, "Tạp chí Giáo dục
Tác giả: TS. Nguyễn Thị Kim Dung
Năm: 2005
7. TS. Phan Đức Duy – PGS.TS. Nguyễn Khoa Lân (và cộng sự), Một số vấn đề về dạy HS học ở trường trung học phổ thông. Đại học Huế trường đại học Sư phạm, Nxb giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về dạy HS học ở trường trung học phổ thông
Nhà XB: Nxb giáo dục
8. Đỗ Ngọc Đạt (2000), Bài giảng lý luận dạy học hiện đại. Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng lý luận dạy học hiện đại
Tác giả: Đỗ Ngọc Đạt
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội
Năm: 2000
9. Nguyễn Thành Đạt (tổng chủ biên) – Lê Đình Tuấn - Nguyễn Như Khanh (2006), Sinh học 11 sách giáo viên. Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh học 11 sách giáo viên
Tác giả: Nguyễn Thành Đạt (tổng chủ biên) – Lê Đình Tuấn - Nguyễn Như Khanh
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
10. Nguyễn Thành Đạt (tổng chủ biên) – Lê Đình Tuấn - Nguyễn Như Khanh (2006), Sinh học 11, sách giáo khoa. Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh học 11, sách giáo khoa
Tác giả: Nguyễn Thành Đạt (tổng chủ biên) – Lê Đình Tuấn - Nguyễn Như Khanh
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
11. Nguyễn Thành Đạt (tổng chủ biên) - Phạm Văn Lập - Trần Dụ Chi - Trịnh Nguyên Giao - Phạm Văn Ty (2007), Sinh học 10, sách giáo khoa. Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh học 10, sách giáo khoa
Tác giả: Nguyễn Thành Đạt (tổng chủ biên) - Phạm Văn Lập - Trần Dụ Chi - Trịnh Nguyên Giao - Phạm Văn Ty
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
12. Nguyễn Thành Đạt - Nguyễn Đức Thành - Phạm Xuân Viết (2005). Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên giáo viên THPT chu kỳ III (2004 – 2007) môn sinh. Nxb Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên giáo viên THPT chu kỳ III (2004 – 2007) môn sinh
Tác giả: Nguyễn Thành Đạt - Nguyễn Đức Thành - Phạm Xuân Viết
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2005
13. Nguyễn Thành Đạt (tổng chủ biên) - Phạm Văn Lập - Trần Dụ Chi - Trịnh Nguyên Giao - Phạm Văn Ty (2006), Sinh học 10, sách giáo viên.Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh học 10, sách giáo viên
Tác giả: Nguyễn Thành Đạt (tổng chủ biên) - Phạm Văn Lập - Trần Dụ Chi - Trịnh Nguyên Giao - Phạm Văn Ty
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
14. Nguyễn Thành Đạt (chủ biên) - Phạm Văn Lập - Đặng Hữu Lanh – Mai Sỹ Tuấn (2007), Sinh học 12, sách giáo viên. Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh học 12, sách giáo viên
Tác giả: Nguyễn Thành Đạt (chủ biên) - Phạm Văn Lập - Đặng Hữu Lanh – Mai Sỹ Tuấn
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
15. Nguyễn Thành Đạt (chủ biên) - Phạm Văn Lập - Đặng Hữu Lanh – Mai Sỹ Tuấn (2007), Sinh học 12, sách giáo khoa. Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh học 12, sách giáo khoa
Tác giả: Nguyễn Thành Đạt (chủ biên) - Phạm Văn Lập - Đặng Hữu Lanh – Mai Sỹ Tuấn
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
17. C.Vill và V.Đêthiơ (1980), Các nguyên lý và quá trình sinh học. Tập III (Người dịch: Nguyễn Như Hiền, Trịnh Bá Hữu, Mai Đình Yên, Đỗ Công Huỳnh), Nxb Khoa học và kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nguyên lý và quá trình sinh học
Tác giả: C.Vill và V.Đêthiơ
Nhà XB: Nxb Khoa học và kỹ thuật
Năm: 1980
18. C.Vill và V.Đêthiơ (1979), Các nguyên lý và quá trình sinh học. Tập II (Người dịch: Nguyễn Như Hiền, Trịnh Bá Hữu, Mai Đình Yên, Đỗ Công Huỳnh), Nxb Khoa học và kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nguyên lý và quá trình sinh học
Tác giả: C.Vill và V.Đêthiơ
Nhà XB: Nxb Khoa học và kỹ thuật
Năm: 1979
19. Nguyễn Như Khanh – Cao Phi Bằng (2008), Sinh lý học thực vật. Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh lý học thực vật
Tác giả: Nguyễn Như Khanh – Cao Phi Bằng
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2008
20. Nguyễn Kỳ (1994), Phương pháp giáo dục tích cực. Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp giáo dục tích cực
Tác giả: Nguyễn Kỳ
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1994
21. Đỗ Thị Hồng Hạnh (2007), Thiết kế và sử dụng phiếu học tập trong phương pháp thảo luận nhóm môn giáo dục học tại trường trung học sư phạm Thanh hóa. Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế và sử dụng phiếu học tập trong phương pháp thảo luận nhóm môn giáo dục học tại trường trung học sư phạm Thanh hóa
Tác giả: Đỗ Thị Hồng Hạnh
Năm: 2007
22. Trịnh Hữu Hằng (2007), Sinh học cơ thể động vật. Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh học cơ thể động vật
Tác giả: Trịnh Hữu Hằng
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội
Năm: 2007

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Kết quả phiếu điều tra - biện pháp hướng dẫn học sinh học chương i, iv sinh học 11 trung học phổ thông theo quan điểm cấp cơ thể đa bào của thế giới sống
Bảng 1.1. Kết quả phiếu điều tra (Trang 32)
Bảng 2.1. So sánh quá trình thu nhận vật chất và năng lượng ở TV và ĐV - biện pháp hướng dẫn học sinh học chương i, iv sinh học 11 trung học phổ thông theo quan điểm cấp cơ thể đa bào của thế giới sống
Bảng 2.1. So sánh quá trình thu nhận vật chất và năng lượng ở TV và ĐV (Trang 42)
Bảng 2.2. Quá trình CHVC&NL ở TV và ĐV - biện pháp hướng dẫn học sinh học chương i, iv sinh học 11 trung học phổ thông theo quan điểm cấp cơ thể đa bào của thế giới sống
Bảng 2.2. Quá trình CHVC&NL ở TV và ĐV (Trang 43)
Bảng 2.4. So sánh quá trình sinh sản hữu tính ở TV  và ĐV - biện pháp hướng dẫn học sinh học chương i, iv sinh học 11 trung học phổ thông theo quan điểm cấp cơ thể đa bào của thế giới sống
Bảng 2.4. So sánh quá trình sinh sản hữu tính ở TV và ĐV (Trang 47)
Bảng 2.5. Đặc điểm các hình thức hinh sản vô tính ở TV, ĐV, cơ thể - biện pháp hướng dẫn học sinh học chương i, iv sinh học 11 trung học phổ thông theo quan điểm cấp cơ thể đa bào của thế giới sống
Bảng 2.5. Đặc điểm các hình thức hinh sản vô tính ở TV, ĐV, cơ thể (Trang 48)
Bảng 2.6. Quá trình chuyển hóa vật chất và năng lượng ở TV - biện pháp hướng dẫn học sinh học chương i, iv sinh học 11 trung học phổ thông theo quan điểm cấp cơ thể đa bào của thế giới sống
Bảng 2.6. Quá trình chuyển hóa vật chất và năng lượng ở TV (Trang 57)
Bảng 2.7. So sánh quá trình thu nhận vật chất ở TV và ĐV - biện pháp hướng dẫn học sinh học chương i, iv sinh học 11 trung học phổ thông theo quan điểm cấp cơ thể đa bào của thế giới sống
Bảng 2.7. So sánh quá trình thu nhận vật chất ở TV và ĐV (Trang 62)
Bảng 2.9. Phân biệt  sinh sản vô tính và sinh sản hữu tính ở TV - biện pháp hướng dẫn học sinh học chương i, iv sinh học 11 trung học phổ thông theo quan điểm cấp cơ thể đa bào của thế giới sống
Bảng 2.9. Phân biệt sinh sản vô tính và sinh sản hữu tính ở TV (Trang 68)
Bảng 2.11.  so sánh về sinh sản vô tính giữa TV và ĐV - biện pháp hướng dẫn học sinh học chương i, iv sinh học 11 trung học phổ thông theo quan điểm cấp cơ thể đa bào của thế giới sống
Bảng 2.11. so sánh về sinh sản vô tính giữa TV và ĐV (Trang 70)
Bảng  2.12.  So sánh về quá trình sinh sản hữu tính giữa TV và ĐV - biện pháp hướng dẫn học sinh học chương i, iv sinh học 11 trung học phổ thông theo quan điểm cấp cơ thể đa bào của thế giới sống
ng 2.12. So sánh về quá trình sinh sản hữu tính giữa TV và ĐV (Trang 70)
Hình thành  giao tử - biện pháp hướng dẫn học sinh học chương i, iv sinh học 11 trung học phổ thông theo quan điểm cấp cơ thể đa bào của thế giới sống
Hình th ành giao tử (Trang 71)
Bảng 3.2. So sánh kết quả giữa nhóm TN và ĐC trong thực nghiệm - biện pháp hướng dẫn học sinh học chương i, iv sinh học 11 trung học phổ thông theo quan điểm cấp cơ thể đa bào của thế giới sống
Bảng 3.2. So sánh kết quả giữa nhóm TN và ĐC trong thực nghiệm (Trang 90)
Bảng 3.3. Phân loại trình độ HS qua các bài kiểm tra TN - biện pháp hướng dẫn học sinh học chương i, iv sinh học 11 trung học phổ thông theo quan điểm cấp cơ thể đa bào của thế giới sống
Bảng 3.3. Phân loại trình độ HS qua các bài kiểm tra TN (Trang 92)
Hình thức SS - biện pháp hướng dẫn học sinh học chương i, iv sinh học 11 trung học phổ thông theo quan điểm cấp cơ thể đa bào của thế giới sống
Hình th ức SS (Trang 106)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w