Quan điểm hệ thống Nghiên cứu ảnh hưởng của công nghiệp tới sự phát triển kinh tế xã hội tỉnh Nam Định, đưa ra những phân tích và đánh giá một cách tổng hợp, do đó, việc áp dụng quan đi
Trang 1i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân và không sao chép dưới bất kỳ hình thức nào Các số liệu có nguồn gốc rõ ràng, tuân thủ đúng nguyên tắc và kết quả trình bày trong khóa luận được thu thập trong quá trình nghiên cứu là trung thực, chưa từng được ai công bố trước đây
Hà Nội, ngày 20 tháng 5 năm 2014
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Thu Hà
Trang 2ii
LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới Ths Trần Thị
Ninh, giảng viên khoa Quy hoạch phát triển, là người tận tình hướng dẫn tôi
trong suốt thời gian làm khóa luận tốt nghiệp
Tôi xin cảm ơn các Thầy, Cô giáo đang công tác tại Học viện Chính
sách và Phát triển đã giảng dạy tôi trong suốt thời gian học tập tại trường và
tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận này
Cảm ơn bạn bè đã cổ vũ động viên tôi trong suốt quá trình học tập tại trường
Tuy bản thân đã cố gắng, nhưng do thời gian và trình độ có hạn nên
chắc chắn khóa luận này còn nhiều thiếu sót và hạn chế nhất định Kính mong
nhận được sự góp ý của Thầy Cô và các bạn
Hà Nội, ngày 20 tháng 5 năm 2014
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Thu Hà
Trang 3iii
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH ẢNH
MỞ ĐẦU……… 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài 1
3 Giới hạn phạm vi nội dung nghiên cứu 2
4 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu 2
5 Kết cấu của khóa luận 4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN……….5
1.1 Cơ sở lý luận về quy hoạch ngành 5
1.1.1 Quan điểm về quy hoạch ngành 5
1.1.2 Nội dung quy hoạch ngành 5
1.2 Thực tiễn quy hoạch ngành ở Việt Nam 7
1.2.1 Thành tựu đạt được 7
1.2.2 Hạn chế 8
CHƯƠNG 2: TIỀM NĂNG VÀ HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP TỈNH NAM ĐỊNH………18
2.1 Tiềm năng phát triển công nghiệp tỉnh Nam Định 18
2.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên 18
2.1.2 Dân số và lao động 23
2.1.3 Đất đai và tài nguyên 24
2.1.4 Hệ thống cơ sở hạ tầng 28
2.2 Hiện trạng ngành công nghiệp tỉnh Nam Định 32
2.2.1 Số lượng các cơ sở sản xuất công nghiệp 32
2.2.2 Lực lượng lao động công nghiệp 33
2.2.3 Quy mô và năng lực sản xuất 34
2.2.4 Sản phẩm công nghiệp 39
2.2.5 Trình độ công nghệ sản xuất công nghiệp 40
2.2.6 Hiện trạng về thị trường sản xuất nguyên phụ liệu 41
2.2.7 Tình hình đầu tư và hiệu quả đầu tư 42
2.2.8 Đánh giá chung hiện trạng phát triển công nghiệp 44
Trang 4iv
CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP
TỈNH NAM ĐỊNH GIAI ĐOẠN 2011 – 2020, TẦM NHÌN ĐẾN
NĂM 2025……….48
3.1 Phương án quy hoạch phát triển công nghiệp tỉnh Nam Định giai đoạn 2011 – 2020, tầm nhìn đến năm 2025 48
3.1.1 Quan điểm, mục tiêu và định hướng phát triển công nghiệp của tỉnh giai đoạn 2011 – 2020, tầm nhìn đến năm 2025 48
3.1.2 Nội dung bản quy hoạch phát triển công nghiệp giai đoạn 2011 – 2020, tầm nhìn đến năm 2025 52
3.2 Đánh giá quy hoạch phát triển công nghiệp tỉnh Nam Định giai đoạn 2011 – 2020, tầm nhìn đến năm 2025 61
3.2.1 Đánh giá nội dung bản quy hoạch 61
3.2.2 Đánh giá việc thực hiện quy hoạch 69
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ……… 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO………75
Trang 5v
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
C.B CNXD
ĐT
DV GCKL GTSXCN HĐND KTXH KVKT NLTS SX&PP
TP TTCN
TW UBND VLXD XDCB
Chế biến Công nghiệp xây dựng Đầu tư
Dịch vụ Gia công kim loại Giá trị sản xuất công nghiệp Hội đồng nhân dân
Kinh tế xã hội Khu vực kinh tế Nông lâm thủy sản Sản xuất và phân phối Thành phố
Tiểu thủ công nghiệp Trung ương
Ủy ban nhân dân Vật liệu xây dựng Xây dựng cơ bản
Trang 6vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH ẢNH
Hình 2.1 Diễn biến chuyển dịch cơ cấu lao động Nam Định qua các năm 23
Hình 2.2 Hiện trạng sử dụng đất tỉnh Nam Định qua các năm 25
Hình 2.3 Số lượng cơ sở sản xuất công nghiệp giai đoạn 2000 - 2012 32
Bảng 2.1 Cơ sở sản xuất công nghiệp phân theo ngành công nghiệp 33
Bảng 2.2 Lao động sản xuất công nghiệp phân theo ngành công nghiệp 34
Bảng 2.3 Giá trị sản xuất công nghiệp phân theo thành phần kinh tế 35
Bảng 2.4 Giá trị sản xuất công nghiệp phân theo các ngành công nghiệp 37
Bảng 2.5 Tổng hợp giá trị tăng thêm ngành công nghiệp 39
Bảng 2.6 Kim ngạch xuất khẩu ngành công nghiệp 40
Bảng 2.7 Tổng hợp vốn đầu tư ngành công nghiệp 43
Bảng 2.8 Lãi, lỗ của các doanh nghiệp ngành công nghiệp 44
Bảng 3.1 Mục tiêu tăng trưởng các chuyên ngành công nghiệp Nam Định đến năm 2025 50
Bảng 3.2 Giá trị sản xuất công nghiệp và tốc độ tăng trưởng đến năm 2025 của công nghiệp Nam Định phân theo ngành cấp I (phương án I) 54
Bảng 3.3 Giá trị sản xuất công nghiệp và tốc độ tăng trưởng đến năm 2025 của công nghiệp Nam Định phân theo ngành cấp I (phương án II) 55
Bảng 3.4 Giá trị sản xuất công nghiệp và tốc độ tăng trưởng đến năm 2025 của công nghiệp Nam Định phân theo ngành cấp I (phương án III) 56
Trang 71
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, ngành quy hoạch nổi lên là một trong những ngành quan trọng nhất hiện nay Bất cứ ngành nào để thực hiện một chiến lược nhất định cũng cần đến quy hoạch kế hoạch dài hạn để thực hiện được một cách thống nhất nhất và có hiệu quả cao Tuy nhiên các bản quy hoạch đưa ra đều được xuất phát từ các cán bộ dựa trên kinh nghiệm công tác chứ chưa qua đào tạo cơ bản về ngành quy hoạch Vì vậy, cần phân tích đánh giá các bản quy hoạch đưa ra để nhìn nhận được các mặt tích cực và các điểm chưa hoàn thiện của bản quy hoạch để đề xuất bản quy hoạch hoàn chỉnh hơn và rút ra kinh nghiệm cho những lần làm quy hoạch sau này
Nam Định là một địa phương có nhiều tiềm năng công nghiệp với các lợi thế sẵn có của nó, tuy nhiên ngành công nghiệp tỉnh vẫn chưa đạt được những thành tựu nổi bật Tỉnh đã có quy hoạch phát triển công nghiệp giai đoạn 2011 -
2020, tầm nhìn đến năm 2025 nhưng việc đánh giá quy hoạch để có những điều chỉnh, bổ sung phù hợp với tình hình thực tế là điều rất cần thiết Với những lý
do trên, tôi đã chọn đề tài “Đánh giá quy hoạch phát triển công nghiệp Nam
Định giai đoạn 2011 - 2020, tầm nhìn đến năm 2025”
2 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài
2.1 Mục tiêu của nghiên cứu
Đánh giá được điểm hợp lý và bất hợp lý của bản quy hoạch ngành công nghiệp
Trang 82
2.2 Nhiệm vụ của nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu đã đề ra, khóa luận phải thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về quy hoạch ngành
- Đánh giá tiềm năng và hiện trạng phát triển công nghiệp của tỉnh Nam Định
- Đánh giá nội dung và việc thực hiện bản quy hoạch ngành công nghiệp tỉnh Nam Định
3 Giới hạn phạm vi nội dung nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu trong phạm vi nội dung của bản quy hoạch phát triển công nghiệp tỉnh Nam Định giai đoạn 2011 – 2020, tầm nhìn đến năm 2025
4 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
4.1 Quan điểm nghiên cứu
4.1.1 Quan điểm tổng hợp
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là một thể tổng hợp bao gồm các thành phần tự nhiên và kinh tế - xã hội Các thành phần đó có quan hệ chặt chẽ và luôn tác động qua lại với nhau, vì vậy việc vận dụng quan điểm tổng hợp có ý nghĩa rất quan trọng
4.1.2 Quan điểm hệ thống
Nghiên cứu ảnh hưởng của công nghiệp tới sự phát triển kinh tế xã hội tỉnh Nam Định, đưa ra những phân tích và đánh giá một cách tổng hợp, do đó, việc áp dụng quan điểm hệ thống giúp tác giả có được cái nhìn đa dạng và chính xác hơn về mối liên hệ giữa các yếu tố được phân tích
Trang 93
4.1.3 Quan điểm kinh tế
Quan điểm kinh tế được thể hiện trong đề tài thông qua các chỉ tiêu kinh tế được sử dụng trong nghiên cứu như tốc độ tăng trưởng, sự chuyển dịch cơ cấu…
có được trong thời kì nghiên cứu
4.1.4 Quan điểm phát triển bền vững
Phát triển bền vững vừa được coi là quan điểm, vừa được coi là mục tiêu của việc phát triển công nghiệp Trong bối cảnh hiện nay, phát triển bền vững ngày càng được quan tâm và trở thành mục tiêu phát triển trong tất cả các lĩnh vực
4.1.5 Quan điểm lịch sử viễn cảnh
Vận dụng quan điểm lịch sử viễn cảnh giúp tác giả có thể đưa ra những nhận định về xu hướng phát triển của công nghiệp dựa trên những yếu tố như lịch sử phát triển, thực trạng và xu thế phát triển chung của vùng, của cả nước
4.2 Phương pháp nghiên cứu
4.2.1 Phương pháp thu thập số liệu
Đây là phương pháp được sử dụng nhiều trong quá trình tìm hiểu và nghiên cứu làm đề tài Các tài liệu được tác giả thu thập từ nhiều nguồn như các giáo trình, số liệu thống kê, các công trình nghiên cứu có nội dung liên quan Ngoài ra tác giả còn thu thập thêm thông tin từ báo chí, Internet…để phục vụ cho
đề tài
4.2.2 Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh
Các tài liệu sau khi thu thập sẽ được xử lí qua các bước như phân tích, tổng hợp, so sánh…để trở thành những tài liệu, dẫn chứng phục vụ tốt cho mục đích của tác giả trong đề tài
Trang 104
4.2.3 Phương pháp chuyên gia
Việc tiếp cận và thu thập thông tin từ các chuyên gia, những nhà nghiên cứu khoa học am hiểu về quy hoạch giúp tôi có thêm nhiều thông tin bổ ích, đóng góp không nhỏ vào nội dung nghiên cứu của đề tài
5 Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Nội dung chính của khóa luận được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 2: Tiềm năng và hiện trạng phát triển công nghiệp tỉnh Nam Định Chương 3: Đánh giá quy hoạch phát triển công nghiệp tỉnh Nam Định giai đoạn 2011 - 2020, tầm nhìn đến năm 2025
Trang 115
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Cơ sở lý luận về quy hoạch ngành
1.1.1 Quan điểm về quy hoạch ngành
Thuật ngữ “Quy hoạch” là một từ Hán Việt và được du nhập vào nước ta
từ khi Trung Quốc giúp đỡ ta xây dựng khu công nghiệp Việt Trì, khu gang thép
Thái Nguyên vào những năm 1950 - 1960 Lúc đầu, quy hoạch được hiểu là
quản trị các hoạt động kinh tế - xã hội trên một không gian địa lý nhất định, sau
đó thuật ngữ này được áp dụng rộng rãi, trong nhiều trường hợp không còn
nguyên nghĩa ban đầu, như: quy hoạch cán bộ, quy hoạch tuyến tính (toán học)…
Theo Viện Chiến lược phát triển (2004), quy hoạch là “việc lựa chọn
phương án phát triển và tổ chức không gian kinh tế - xã hội cho thời kỳ dài hạn
trên lãnh thổ xác định” Với định nghĩa này, đối tượng của quy hoạch là các hoạt
động kinh tế - xã hội Tương tự, quy hoạch ngành hay quy hoạch lãnh thổ cũng
là việc lựa chọn phương án phát triển cơ cấu kinh tế ngành dựa trên nguyên tắc
phân công lao động theo ngành/lãnh thổ và giải quyết được mối quan hệ liên
ngành và liên vùng (Ngô Doãn Vịnh, 2003) Do vậy, dạng quy hoạch này được
áp dụng phổ biến, rộng khắp ở tất cả các quốc gia trên thế giới, bởi một lẽ đơn
giản: mọi hoạt động của con người đều gắn với không gian
Theo Nghị định số 92/2006/NĐ-CP của Chính phủ: Về lập, phê duyệt và
quản lý quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch ngành được
nhắc tới là một phần của quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội
1.1.2 Nội dung quy hoạch ngành
Quy hoạch phát triển được gọi là quy hoạch “mềm” có tính chất định
hướng và phải phù hợp với điều kiện kinh tế thị trường Nội dung chủ yếu của
quy hoạch phát triển ngành bao gồm:
Trang 126
(1) Phân tích, dự báo các yếu tố phát triển ngành, trong đó có phân tích, dự báo đầy đủ yếu tố thị trường và yêu cầu về năng lực cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ
(2) Phân tích, đánh giá hiện trạng phát triển và phân bố ngành trên các vùng lãnh thổ Phân tích cơ cấu ngành, sản phẩm chủ yếu, đầu tư, công nghệ, lao động, tổ chức sản xuất
(3) Xác định vị trí, vai trò của ngành đối với nền kinh tế quốc dân và các mục tiêu phát triển của ngành Phân tích cung cầu trên thế giới và khu vực; phân tích tình hình cạnh tranh trên thế giới và trong nước
(4) Luận chứng các phương án phát triển cơ cấu ngành, sản phẩm chủ yếu
và các điều kiện chủ yếu đảm bảo mục tiêu quy hoạch được thực hiện (đầu tư, công nghệ, lao động)
(5) Luận chứng phương án phân bố ngành trên các vùng lãnh thổ, nhất là đối với các công trình then chốt và phương án bảo vệ môi trường
(6) Xác định các giải pháp về cơ chế, chính sách và đề xuất các phương án
(7) Xây dựng danh mục công trình, dự án đầu tư trọng điểm có tính toán cân đối nguồn vốn để bảo đảm thực hiện, trong đó có chia ra bước đi cho 5 năm đầu tiên; tổ chức thực hiện quy hoạch
(8) Thể hiện các phương án quy hoạch phát triển ngành trên bản đồ quy hoạch
Trang 13Đến năm 2010, nhiều quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực, sản phẩm đã được triển khai Theo báo cáo của các Bộ, ngành, đến nay đã có 102 quy hoạch ngành, lĩnh vực, sản phẩm chủ yếu được lập, trong đó có 38 quy hoạch được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và 27 quy hoạch được Bộ trưởng phê duyệt theo ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ
Chất lượng các dự án quy hoạch được nâng lên một bước Nhiều quy hoạch ngành, quy hoạch vùng, quy hoạch các khu công nghiệp, khu kinh tế đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, làm cơ sở cho hoạch định chính sách phát triển và triển khai đầu tư xây dựng Các dự án quy hoạch đã coi trọng yêu cầu về tính thống nhất giữa quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội với quy hoạch xây dựng, quy hoạch sử dụng đất; giữa hiệu quả trước mắt với hiệu quả lâu dài; giữa hiệu quả cục bộ với hiệu quả tổng thể, kết hợp chặt chẽ giữa hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội với đảm bảo quốc phòng, an ninh, có tính tới yêu cầu phát triển bền vững
Trang 148
Hệ thống các giải pháp thực thi quy hoạch đã thực sự đóng vai trò nền tảng trong việc xác định các nhiệm vụ trọng tâm, các giải pháp chiến lược và phương thức tổ chức thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ đặt ra từng thời kỳ Đã chuyển dần trọng tâm sang quy hoạch định hướng phát triển, đồng thời chuyển dần việc điều hành kế hoạch từ can thiệp vi mô sang duy trì cân đối vĩ mô, sử dụng những công cụ gián tiếp, gắn với việc xây dựng kế hoạch theo chương trình, mục tiêu nhằm giải quyết những vấn đề bức xúc nhất về kinh tế - xã hội Nhờ vậy, trên cả nước đã hình thành hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội, gắn kết các chương trình đào tạo với nhu cầu phát triển nguồn nhân lực và khoa học công nghệ
1.2.2 Hạn chế
1.2.2.1 Về phương pháp, quy trình lập quy hoạch
- Quy hoạch đơn lẻ, tách rời, thiếu tính liên kết hệ thống:
Đây là bất cập trầm trọng nhất trong phương pháp tiếp cận lập quy hoạch ngành, lĩnh vực và sản phẩm chủ yếu hiện nay
Ví dụ điển hình về thiếu tính liên kết hệ thống thể hiện trong quy hoạch mạng lưới kết cấu hạ tầng giao thông vận tải Bộ Giao thông vận tải chủ trì lập quy hoạch mạng lưới giao thông đường bộ, quy hoạch mạng lưới đường sắt, mạng lưới đường cao tốc, hệ thống cảng hàng không, hệ thống cảng biển Các quy hoạch này đều được lập, thẩm định và phê duyệt riêng rẽ Chính việc nghiên cứu lập quy hoạch đơn lẻ như vậy đã dẫn đến tình trạng thiếu đồng bộ trong hệ thống kết cấu hạ tầng ngay từ khâu đầu tiên là quy hoạch Thiếu đồng bộ của hệ thống giao thông đô thị đang gây tắc nghẽn giao thông ở các thành phố lớn Thiếu đồng bộ giữa cảng biển với cầu đường ra vào cảng dẫn đến tình trạng hầu hết các cảng biển hiện nay không phát huy được hiệu quả do việc triển khai chậm trễ các dự án dường bộ, đường sắt qua cảng
Trang 159
Tách rời các công đoạn sản xuất để lập quy hoạch: Cùng một sản phẩm công nghiệp nhưng có hai Bộ lập quy hoạch khác nhau cho 3 công đoạn sản xuất Ví dụ Bộ Công thương lập quy hoạch phát triển nhiên liệu sinh học, quy hoạch sản xuất cồn nhiên liệu phục vụ ngành sản xuất nhiên liệu sinh học; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn lập quy hoạch trồng sắn nguyên liệu cho các nhà máy sản xuất nhiên liệu sinh học
Tách rời sản xuất và phân phối: Bộ Công thương lập quy hoạch sản xuất sản phẩm thuốc lá và phát triển vùng nguyên liệu thuốc lá đến năm 2020; đồng thời cũng lập quy hoạch mạng lưới kinh doanh bán buôn sản phẩm thuốc lá giai đoạn 2011 - 2020
- Khép kín, thiếu sự tham gia của cộng đồng:
Các quy hoạch hiện nay chủ yếu vẫn mang tính áp đặt, sử dụng quyền lực Nhà nước để điều chỉnh các hành vi phát triển trong xã hội, không có sự tham gia của các đối tượng điều chỉnh và chịu tác động của quy hoạch Trong các văn bản quy phạm hướng dẫn quy trình lập quy hoạch phát triển ngành, sản phẩm chưa có văn bản nào quy định việc phải có sự tham gia của cộng đồng vào quá trình xây dựng quy hoạch Nếu có thì việc lấy ý kiến tham gia của cộng đồng chỉ mang tính hình thức, đối phó Vì vậy vai trò của cộng đồng trong công tác lập quy hoạch còn mờ nhạt và ít đem lại hiệu quả
- Quá chú trọng về nhu cầu phát triển, coi nhẹ tính toán cân đối nguồn lực thực thi quy hoạch:
Hầu hết các quy hoạch đã được phê duyệt trong những năm gần đây đều được lập dựa trên cách tiếp cận từ việc nghiên cứu nhu cầu phát triển đặt ra để đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội Tiếp theo, các phương án quy hoạch phát triển ngành, sản phẩm được xây dựng dựa trên cơ sở điều kiện và khả năng
Trang 1610
phát triển của ngành, sản phẩm đó Danh mục các chương trình và dự án làm cơ
sở để kêu gọi xúc tiến đầu tư rất dài, tính ưu tiên, lựa chọn chưa cao Điều này dẫn đến việc đầu tư dàn trải, chậm hoàn thành, kém hiệu quả
Ví dụ: Tổng hợp nhu cầu đầu tư từ các chương trình, dự án quy hoạch hệ thống kết cấu hạ tầng đã được lập từ các Bộ, ngành, địa phương giai đoạn
2011 - 2015 khoảng 2.200 - 2.300 nghìn tỷ đồng (tương đương 110 - 115 tỷ USD), giai đoạn 2016 - 2020 khoảng 3.700 - 3.800 nghìn tỷ đồng (tương đương
185 - 190 tỷ USD) Như vậy, tổng nhu cầu đầu tư của các dự án kết cấu hạ tầng được quy hoạch cà giai đoạn đến 2020 theo giá năm 2010 khoảng 295 - 305 tỷ USD, nếu tính theo giá thực tế khoảng 385 - 390 tỷ USD Tuy nhiên, theo tính toán của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong 10 năm 2011 - 2020, khả năng huy động nguồn vốn đầu tư cho phát triển với mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, chuyển đổi
mô hình tăng trưởng, theo đó tỷ lệ vốn đầu tư toàn xã hội trên GDP giảm xuống còn khoảng 33,5 - 35% Với tỷ lệ huy động như vậy, tổng vốn đầu tư toàn xã hội thời kỳ 10 năm có khả năng đạt khoảng 710 - 720 tỷ USD Tổng nguồn vốn có khả năng huy động để đầu tư cho phát triển hạ tầng khoảng 210 - 215 tỷ USD, đáp ứng trên 50% nhu cầu đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng theo quy hoạch Như vậy còn khoảng gần 50% số chương trình, dự án trong quy hoạch rất khó có thể được thực hiện
1.2.2.2 Về nội dung quy hoạch
- Tính dự báo kém và tầm nhìn hạn hẹp dẫn đến chất lượng quy hoạch không đảm bảo:
Quy hoạch là định hướng của sự sắp xếp hợp lý, khoa học các yếu tố vật chất của một ngành, một địa phương, một vùng lãnh thổ nhằm phát huy tối ưu tiềm năng và hiệu quả hoạt động của chúng để phục vụ cho phát triển Quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực phải nhằm mục đích là làm cho ngành, lĩnh vực
Trang 1711
đó phát triển hiệu quả, đồng bộ, hài hòa trong tổng thể nền kinh tế quốc dân ở phạm vi quốc gia hay rộng hơn là toàn cầu trong xu hướng hội nhập quốc tế Tầm nhìn của người lập quy hoạch quyết định phần lớn đến kết quả phát triển của ngành hay địa phương Tầm nhìn càng xa thì quy hoạch càng xác thực và khả thi
Dự báo đúng là cơ sở quan trọng để có quy hoạch chất lượng Dự báo càng chính xác thì quy hoạch càng hiệu quả và có tính khả thi càng cao Đây cũng là khâu yếu kém nhất hiện nay ở Việt Nam trong quá trình nghiên cứu lập quy hoạch dẫn đến tình trạng quy hoạch xa rời thực tế và thường xuyên phải điều chỉnh một cách bị động Hầu hết các nhà quy hoạch đều gặp khó khăn trong việc
dự báo nhu cầu tăng trưởng trong phạm vi 5 - 10 năm và càng khó khăn hơn khi
dự báo dài hạn tới 20 năm
Kết quả phỏng vấn điều tra về chất lượng của các quy hoạch phát triển ngành hiện nay do Bộ Kế hoạch và Đầu tư tiến hành cho thấy 62,5% số người được hỏi cho rằng chất lượng các quy hoạch phát triển ngành hiện nay có chất lượng trung bình, không có ai đánh giá chất lượng quy hoạch ngành hiện nay là tốt hoặc rất tốt
- Chồng chéo, trùng lặp, mâu thuẫn:
Kết quả điều tra các đối tượng cán bộ quản lý, cán bộ tham mưu và cán bộ
kỹ thuật (cấp tỉnh) liên quan trực tiếp tới công tác quy hoạch tại các tỉnh Vùng Trung du miền núi phía Bắc do Bộ Kế hoạch và Đầu tư tiến hành năm 2010 cho thấy sự chồng chéo, trùng lặp xảy ra chủ yếu ở các quy hoạch cùng cấp phê duyệt (84,88%)
Mâu thuẫn giữa các quy hoạch thể hiện dưới nhiều hình thức, nhiều mức
độ khác nhau Từ mâu thuẫn trong quy hoạch phát triển tất yếu dẫn đến mâu
Trang 1812
thuẫn trong các quyết định đầu tư và là nguyên nhân gây ra tranh chấp giữa các doanh nghiệp, giữa doanh nghiệp với cơ quan quản lý nhà nước Hệ quả là các doanh nghiệp phải gánh chịu hậu quả nặng nề khi quyết định đầu tư vào khu vực
có xung đột về quy hoạch
Điển hình là mâu thuẫn giữa hai quy hoạch do hai cơ quan lập trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt: Trong Quy hoạch phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 phê duyệt tại Quyết định 2190/QĐ-TTg ngày 24/12/2009, công suất cảng khu vực thành phố Hồ Chí Minh được dự báo đến năm 2015 là 53 - 62,5 triệu tấn/năm và đến năm 2020 là
80 - 90 triệu tấn/năm, nhưng trong quy hoạch chung xây dựng thành phố Hồ Chí Minh được phê duyệt tại Quyết định số 24/QĐ-TTg ngày 06/01/2010 xác định tổng công suất cảng biển của khu vực này là 76 triệu tấn vào năm 2010 (thực tế
đã đạt xấp xỉ như vậy) và khoảng 200 triệu tấn/năm vào năm 2020
1.2.2.3 Về tổ chức thực hiện quy hoạch
Thực tế có rất nhiều quy hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt nhưng không được thực hiện như đã được phê duyệt hoặc được thực hiện nhưng không đầy đủ nội dung đã phê duyệt, và kết quả là không đem lại ý nghĩa như mong muốn Hầu hết các quy hoạch đều bị phá vỡ, đầu tư sai quy hoạch trong quá trình triển khai thực hiện quy hoạch Các kế hoạch phát triển hằng năm chưa thực sự bám sát, cụ thể hóa các quy hoạch đã được duyệt
Điển hình là quy hoạch phát triển ngành thép được Thủ tưởng Chính phủ phê duyệt vào tháng 9/2007, mục tiêu đến năm 2015 Việt Nam sản xuất từ 15 đến 18 triệu tấn thép, đến năm 2020 sản xuất khoảng 20 triệu tấn/năm Như vậy chỉ cần xây dựng từ 1 đến 2 liên hợp luyện thép là đủ Tuy nhiên, sau hơn 2 năm triển khai thực hiện quy hoạch đã có 32 dự án sản xuất thép được cấp phép đầu
tư ngoài quy hoạch với tổng công suất thiết kế hơn 60 triệu tấn/năm Nếu những
Trang 19Đứng trên góc độ đầu tư toàn xã hội, việc có quá nhiều nhà máy sản xuất thép tạo nên dư thừa công suất, gây lãng phí vốn đầu tư, hiệu quả kinh tế thấp; đồng thời còn gây áp lực cho ngành điện, vì sản xuất thép là ngành tiêu tốn nhiều năng lượng Ngoài ra, việc phát triển tràn lan các cơ sở sản xuất thép còn gây tác hại cho môi trường, lãng phí đất đai, tài nguyên
1.2.2.4 Về quản lý quy hoạch
- Công tác kế hoạch đối với quy hoạch không được thực hiện nghiêm túc
- Việc thẩm định quy hoạch còn mang tính hình thức, khép kín
- Công tác thông tin quy hoạch bị coi nhẹ, tính công khai và minh bạch của quy hoạch chưa cao, việc công bố quy hoạch đã được phê duyệt còn sơ sài, mang tính hình thức
- Việc giám sát, kiểm tra, thanh tra đối với công tác quy hoạch chưa được coi trọng đúng mức, không phát hiện sớm những vấn đề phát sinh để kịp thời ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện thống nhất trong cả nước; chưa góp phần tích cực đẩy lùi những hiện tượng tham ô, lãng phí trong quá trình thực hiện quy hoạch
- Việc điều chỉnh, bổ sung quy hoạch quá dễ dàng, tùy tiện, thiếu căn cứ khách quan, khoa học, không dựa trên lợi ích quốc gia mà chạy theo nhu cầu, đề
Trang 2014
xuất của doanh nghiệp và chủ đầu tư, xuất phát từ lợi ích cục bộ của một địa phương, một doanh nghiệp, làm cho tính pháp lý của quy hoạch bị hạ thấp và nhiều nội dung của quy hoạch không được tổ chức, thực hiện nghiêm túc
1.2.3 Nguyên nhân của những hạn chế
Tình trạng yếu kém, bất cập trong quy hoạch phát triển ngành, sản phẩm ở Việt Nam hiện nay bắt nguồn từ 3 nhóm nguyên nhân chính sau đây:
1.2.3.1 Nguyên nhân liên quan đến cơ chế quản lý
Nguyên nhân nổi bật trước hết là cơ chế quản lý chia cắt, không đồng bộ trong lĩnh vực quy hoạch làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc quản lý quy hoạch Cơ chế quản lý chia cắt không chỉ tác động tới sự chồng chéo, mâu thuẫn, bất cập trong quy hoạch mà còn tạo ra sự vận hành trục trặc của toàn bộ hệ thống quản lý
Quy hoạch sử dụng đất do Bộ Tài nguyên Môi trường chủ trì lập và quản
lý được Quốc hội thông qua đóng vai trò tiền đề đưa ra những số liệu về diện tích các loại đất, phân bổ cho nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và quốc phòng
an ninh Tuy nhiên, các ngành kinh tế như công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải, năng lượng, viễn thông, văn hóa, y tế, giáo dục… lại phải căn cứ vào chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội để xây dựng các quy hoạch của ngành
Quy hoạch sử dụng đất có tác động trực tiếp đến các ngành kinh tế - xã hội
và đòi hỏi quy hoạch phát triển các ngành này phải được tích hợp đầy đủ trong quy hoạch sử dụng đất Nhưng trên thực tế, do cơ chế quản lý chia cắt nên quy hoạch sử dụng đất thường không đảm bảo được tiến độ thống nhất và tương thích với quy hoạch phát triển các ngành, sản phẩm
Trang 2115
Quy hoạch xây dựng cũng phải tích hợp đầy đủ với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội và quy hoạch phát triển ngành Nhưng cũng do cơ chế quản lý chia cắt, các quy hoạch thuộc sự quản lý của các Bộ ngành khác nhau với hệ thống ngành dọc khác nhau mà các quy hoạch phát triển ngành, sản phẩm chưa thể gắn kết được với quy hoạch xây dựng cũng như quy hoạch sử dụng đất
Việc cùng một lúc các cơ quan khác nhau lập các quy hoạch phát triển trong một mặt bằng vùng, tỉnh tất yếu dẫn đến nguy cơ thiếu đồng bộ, chồng chéo mâu thuẫn, chưa kể đến bản thân số liệu cơ sở, các tiêu chí tính toán đã không trùng khớp Hậu quả là công cụ quản lý quy hoạch không thể sử dụng được một cách hiệu quả, thậm chí còn bị vô hiệu hóa bởi trên cùng một vị trí mặt bằng có thể được chỉ đạo thực hiện các mục đích sử dụng đất khác nhau với ranh giới quy hoạch khác nhau
Rõ ràng, cơ chế quản lý chia cắt đã gây ra sự bị động, lúng túng cho các cơ quan quản lý, vì công cụ quan trọng nhất là quy hoạch đã không được xác lập và được vận hành một cách đồng bộ, đặc biệt là trong điều kiện thông tin và các tiêu chí quy hoạch chưa thống nhất Một khi công cụ quy hoạch không hiệu quả thì logic thực tiễn là sự phát triển phi kế hoạch sẽ lấn lướt Kết quả là các cơ quan quản lý bị đẩy vào tình thế bị động và phải luôn đối mặt và chạy theo xử lý hậu quả của sự phát triển tự phát, luôn tiềm ẩn nguy cơ đe dọa nghiêm trọng tới sự phát triển bền vững của cả Quốc gia
1.2.3.2 Nguyên nhân liên quan đến pháp luật về quản lý quy hoạch
Cơ sở pháp lý liên quan đến quy hoạch nói chung và quy hoạch phát triển ngành, sản phẩm nói riêng chưa được hoàn thiện
Trong suốt thời gian qua, nước ta chưa hề có một văn bản cấp Luật trực tiếp điều chỉnh các hoạt động quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội Luật Tổ chức
Trang 2216
Quốc hội, Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cũng như một số luật, pháp lệnh chuyên ngành khác tuy có đề cập đến việc xây dựng và thông qua quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, bao gồm cả các quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực, sản phẩm nhưng còn phân tán, chia cắt, thiếu tính liên kết và chưa đầy đủ cơ sở pháp lý cho việc xác đinh nội dung cũng như quy trình xây dựng, thông qua và tổ chức thực hiện quy hoạch Cho đến cuối năm 2006, Chính phủ mới ban hành Nghị định 92/2006/NĐ-CP về lập, phê duyệt
và quản lý quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội Đồng thời, Chính phủ cũng ban hành Nghị định số 99/2006/NĐ-CP về công tác kiểm tra thực hiện chính sách, chiến lược quy hoạch, kế hoạch Đến năm 2008, Chính phủ ban hành Nghị định số 04/2008/NĐ-CP về sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 92/2006/NĐ-CP
Phạm vi điều chỉnh của các Nghị định nói trên mới chỉ liên quan đến một phần công tác quy hoạch, đồng thời với tầm giá trị pháp lý còn hạn chế, các Nghị định chưa bao quát toàn diện các hoạt động quy hoạch, không thể điều chỉnh những nội dung chưa hợp lý thuộc những luật khác đã ban hành
Các quy định trong các Nghị định 92/2006/NĐ-CP và 04/2008/NĐ-CP vẫn thể hiện tư tưởng nghiên cứu đơn lẻ, tách rời trong quy hoạch các ngành, lĩnh vực, sản phẩm chủ yếu, coi nhẹ việc lập các quy hoạch mang tính tổng thể, tích hợp nhiều chuyên ngành có liên quan đến nhau; đánh đồng quy hoạch phát triển lĩnh vực kết cấu hạ tầng với quy hoạch phát triển các ngành sản xuất kinh doanh
1.2.3.3 Nguyên nhân liên quan đến nhân lực quản lý, tham mưu và tư vấn quy hoạch
Quy hoạch phát triển nhân lực đang bị nhận thức sai trong đội ngũ nhân lực quản lý và chuyên gia quy hoạch Nhận thức và quan niệm về quy hoạch phát triển còn quá nhiều điểm chưa thống nhất giữa các cơ quan quản lý và tư vấn quy
Trang 2317
hoạch, giữa Trung ương và địa phương Sự lộn xộn trong quy hoạch như hiện nay chủ yếu do các cơ quan quản lý, các tổ chức tư vấn quy hoạch và đội ngũ chuyên gia tư vấn quy hoạch phát triển còn thiếu năng lực chuyên môn, thiếu tầm nhìn và khả năng dự báo kém.[1]
Trang 2418
CHƯƠNG 2: TIỀM NĂNG VÀ HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP TỈNH NAM ĐỊNH
2.1 Tiềm năng phát triển công nghiệp tỉnh Nam Định
2.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên
2.1.1.1 Vị trí địa lý
Nam Định là tỉnh duyên hải nằm ở phía Đông Nam của vùng đồng bằng sông Hồng có diện tích tự nhiên 1.669 km2
(2012) Nam Định có tọa độ địa lý là
19o54’ - 20o40’ vĩ độ Bắc và 105o55’ - 106o45’ kinh độ Đông, phía Tây Bắc giáp tỉnh Hà Nam, phía Bắc giáp tỉnh Thái Bình, phía Tây và Tây Nam giáp tỉnh Ninh Bình, phía Nam và phía Đông giáp biển Nam Định là tỉnh ở vị trí trung chuyển giữa các tỉnh phía Nam đồng bằng châu thổ sông Hồng và các tỉnh Bắc
Trung Bộ
Nam Định có 10 đơn vị hành chính cấp huyện trong đó có 3 huyện giáp biển Thành phố Nam Định là đô thị loại 1 và là trung tâm chính trị, kinh tế và văn hoá của tỉnh
Trang 2519
Trang 2620
Nam Định nằm trong vùng ảnh hưởng trực tiếp của Tam giác tăng trưởng
Hà Nội - Hải Phòng - Hạ Long và tuyến hành lang kinh tế Côn Minh – Lào Cai -
Hà Nội - Hải Phòng, Hành lang Nam Ninh - Lạng Sơn - Hà Nội - Hải Phòng và
Vành đai kinh tế ven vịnh Bắc Bộ, có mạng lưới đường bộ (QL1, QL10, QL21), đường sắt xuyên Việt dài 45 km với 5 nhà ga, đường biển và hệ thống
sông ngòi thuận lợi cho giao lưu kinh tế, có bờ biển dài trên 72 km và vùng thềm
lục địa rộng lớn Đặc biệt chỉ cách Thủ đô Hà Nội, thành phố Hải Phòng khoảng
90km Đây là những thị trường tiêu thụ rộng lớn (nhất là nông sản thực phẩm và
lao động), đồng thời cũng là những trung tâm hỗ trợ đầu tư, kỹ thuật, kinh
nghiệm quản lý, chuyển giao công nghệ và cung cấp thông tin cho Nam Định
Vị trí địa lý như trên tạo điều kiện thuận lợi cho Nam Định phát triển sản
xuất hàng hoá quy mô lớn và mở rộng giao lưu kinh tế - xã hội với các tỉnh trong
vùng, cả nước và quốc tế Song mặt khác cũng là một thách thức lớn đối với
Nam Định trong điều kiện cạnh tranh thu hút vốn đầu tư nước ngoài
2.1.1.2 Điều kiện tự nhiên
a Khí hậu
Nam Định có khí hậu đặc trưng của một tỉnh đồng bằng Bắc Bộ là nhiệt
đới gió mùa với thời tiết nóng ẩm mưa nhiều vào mùa hạ và lạnh vào mùa đông
Nhiệt độ trung bình trong năm từ 23 - 24°C, biên độ nhiệt độ trung bình trong
chiếm khoảng 70 - 80% lượng mưa cả năm Từ tháng 11 đến tháng 4, lượng mưa
giảm xuống rất thấp, đặc biệt một số tháng hầu như không có mưa Mưa trong
Trang 2721
mùa đông thường là mưa nhỏ, mưa phùn Hằng năm, toàn tỉnh Nam Định nhận
được một lượng bức xạ phong phú 110 - 120 kcal/cm2/năm, cán cân bức xạ cao
trên 87 kcal/cm2/năm Độ ẩm trung bình năm là 80 - 85% Nhìn chung, khí hậu
Nam Định có các chỉ số cao về độ ẩm, ánh sáng và ít có sự phân hóa theo lãnh
thổ Đặc điểm khí hậu này thích hợp với việc phát triển trồng trọt, chăn nuôi và
các hoạt động du lịch
Do nằm trong vùng vịnh Bắc Bộ nên hàng năm Nam Định thường chịu
ảnh hưởng của bão hoặc áp thấp nhiệt đới, bình quân khoảng 4 – 6 cơn/năm,
thường rơi vào tháng 7 - 10 Thuỷ triều tại vùng biển Nam Định thuộc loại nhật
triều, biên độ triều trung bình từ 1,6 - 1,7m, lớn nhất là 3,3m và nhỏ nhất là
0,1m Dòng chảy sông Hồng và sông Đáy bị ảnh hưởng bởi thuỷ triều đã bồi lên
phù sa cho các sông Kết quả là có nhiều vùng đất phù sa lớn như Cồn Lu và Cồn
Ngạn (huyện Giao Thuỷ) hoặc Cồn Trời và Cồn Mờ (huyện Nghĩa Hưng) đã hình thành
b Địa hình
Nam Định là tỉnh nằm ở hạ lưu của hai con sông lớn là sông Hồng và sông
Đáy Địa hình chủ yếu là đồng bằng ven biển Phía Tây Bắc có một ít đồi núi
thấp như: núi Gôi (Côi Sơn), núi Ngăm (Trang Nghiêm), núi Nề (Thanh Nê), núi
Hồ (Hồ Sơn), núi Tiên Hương, núi Phương Nhi, núi Ngô Xá, núi Mai Sơn thuộc
hai huyện Vụ Bản, Ý Yên Đồi núi của Nam Định không cao và có dòng chảy
của khe ngòi liền kề tạo nên cảnh non nước hữu tình Phía Nam tỉnh được phù sa
sông Hồng, sông Đáy bồi đắp nên miền đất này tương đối bằng phẳng, phì nhiêu
Địa hình Nam Định thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam Nhìn chung,
có thể chia Nam Định thành 3 vùng: Vùng đồng bằng thấp trũng: gồm các huyện
Vụ Bản, Ý Yên, Mỹ Lộc, Nam Trực, Trực Ninh, Xuân Trường Vùng đồng bằng
ven biển: gồm các huyện Giao Thuỷ, Hải Hậu và Nghĩa Hưng với bờ biển dài
Trang 2822
72km nhưng bị chia cắt bởi các cửa sông lớn như cửa Ba Lạt (Sông Hồng), cửa sông Đáy, cửa sông Ninh Cơ và cửa sông Lạch Giang (Sông Sò) Vùng này đất đai phì nhiêu, có nhiều tiềm năng phát triển kinh tế tổng hợp ven biển Vùng trung tâm công nghiệp - dịch vụ là thành phố Nam Định, nơi đã từng là một trong những trung tâm công nghiệp dệt lớn của cả nước và là trung tâm thương mại - dịch vụ, cửa ngõ phía Nam của đồng bằng sông Hồng
c Sông ngòi
Mạng lưới sông ngòi của Nam Định dài 530km với mật độ sông 0,33km/km² Chỉ tỉnh riêng chiều dài của bốn con sông chính đã lên tới 251km Xen kẽ với các sông chính, một hệ thống gồm 21 kênh rạch phân bốn rộng khắp theo hình xương cá với chiều dài 279km Cơ chế nước của hệ thống sông được phân biệt rõ rệt giữa hai mùa mưa và mùa khô Đáy sông của vùng thấp của các sông không sâu, tốc độ dòng chảy chậm Do vậy, vào mùa mưa, nhiều nơi bị ngập lụt và thành vùng chứa nước
Nhìn chung, các sông đều chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam và đổ ra biển Các sông chảy qua địa phận Nam Định phần lớn đều thuộc hạ lưu nên lòng sông thường rộng và không sâu lắm, có quá trình bồi đắp phù sa ở cửa sông Chịu ảnh hưởng của đặc điểm địa hình và khí hậu nên chế độ nước sông chia làm hai mùa rõ rệt: mùa lũ và mùa cạn Vào mùa lũ, lưu lượng nước sông khá lớn, lại gặp lúc mưa to kéo dài, nếu không có hệ thống đê điều ngăn nước thì đồng bằng
sẽ bị ngập lụt Vào mùa cạn, lượng nước sông giảm nhiều, các sông chịu ảnh hưởng lớn của thủy triều, khiến cho vùng cửa sông bị nhiễm mặn
Các sông lớn gồm có sông Nam Định (còn gọi là sông Đào), sông Ninh
Cơ, sông Hồng (ranh giới tự nhiên với Thái Bình) và sông Đáy (với Ninh Bình) Ngoài ra, Nam Định còn có các mạng lưới các sông nhỏ góp phần vào việc tưới tiêu và cung cấp nước dùng cho người dân địa phương
Trang 29Tổng số lao động làm việc trong các ngành kinh tế của Nam Định năm
2012 là 1.038,2 ngàn người, tăng 42 ngàn người so với năm 2005, trong đó lao động khu vực 1 chiếm khoảng 66,4%, lao động khu vực 2 khoảng 18,0%, lao động khu vực 3 là 15,6%
Tổng số lao động làm việc trong các ngành kinh tế của Nam Định năm
2012 là 1.038,2 ngàn người, tăng 42 ngàn người so với năm 2005, trong đó lao động khu vực 1 chiếm khoảng 66,4%, lao động khu vực 2 khoảng 18,0%, lao động khu vực 3 là 15,6%
KV nông, lâm, thủy sản KV công nghiệp - xây dựng KV dịch vụ Hình 2.1 Diễn biến chuyển dịch cơ cấu lao động Nam Định qua các năm
Trang 3024
Cơ cấu lao động có xu hướng chuyển dịch mạnh sang khu vực công nghiệp xây dựng và dịch vụ, giảm mạnh tỷ trọng lao động nông nghiệp do việc chuyển dịch sản xuất theo hướng công nghiệp - dịch vụ và một phần nữa là việc
di dân cơ học tới các địa phương khác của lực lượng lao động nông nghiệp
Tỷ lệ lao động qua đào tạo cũng tăng mạnh qua các năm và đạt khoảng 36,2% năm 2012 so với mức 21% năm 2000 Tuy vậy chất lượng lao động của Nam Định nhìn chung vẫn còn thấp, nguồn lao động qua đào tạo tương đối dồi dào và có thể đáp ứng được nhu cầu về lao động có kỹ năng cho các ngành kinh
tế Tuy nhiên, trong tương lai khi kinh tế Nam Định phát triển và chuyển biến về chất thì nhu cầu về lao động có trình độ là rất cao, do đó việc đào tạo lao động có
kỹ năng và tay nghề giỏi là vấn đề cần quan tâm trong thời gian tới
Khi hạ tầng giao thông và cảng phát triển và với nguồn nhân lực có trình
độ, Nam Định sẽ có lợi thế trong việc thu hút nhiều ngành công nghiệp sử dụng lao động có kỹ năng Cùng với xu hướng chuyển dịch và phân công sản xuất, Nam Định có khả năng trở thành một trong những mắt xích trong phát triển công nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng trong tương lai
2.1.3 Đất đai và tài nguyên
- Tài nguyên đất
Diện tích đất tự nhiên của Nam Định năm 2012 là 165.142,4ha, tăng thêm 156,1ha so với năm 2005 do được bồi tụ ra biển ở vùng Giao Thuỷ và Nghĩa Hưng Đất ở Nam Định bao gồm các loại: đất cát (ven sông và ven biển), đất mặn, đất phèn, đất phù sa, đất feralit, đất sỏi đá và đất mới biến đổi, trong đó nguồn đất chủ yếu là đất dành cho nông nghiệp chiếm khoảng 68,6%, còn lại là đất phi nông nghiệp là 28,8% và đất chưa sử dụng còn rất thấp là 2,6%
Trang 3125
Đất nông nghiệp Đất phi nông nghiệp Đất chưa sử dụng
Hình 2.2 Hiện trạng sử dụng đất tỉnh Nam Định qua các năm
Theo cấu tạo đất, đất mặt của Nam Định có thể được chia thành hai vùng Vùng phía Bắc bao gồm các huyện Ý Yên, Vụ Bản, Mỹ Lộc và thành phố Nam Định Vùng phía Nam bao gồm các huyện Trực Ninh, Nam Trực, Xuân Trường, Hải Hậu, Nghĩa Hưng và Giao Thuỷ Hầu hết đất đai là phù sa mới bồi đắp bao phủ trên 82% diện tích mặt đất Đất kiềm chiếm 14%, còn lại là các loại đất khác như đất cát, đất phèn, đất feralitic Về cơ bản, loại đất chủ yếu của Nam Định là đất phù sa phát triển từ trầm tích sông Chất lượng đất thích hợp để phát triển nhiều loại cây trồng khác nhau
- Tài nguyên nước
Nam Định có nguồn nước mặt và nước ngầm khá dồi dào, phân bố tương đối đồng đều Trên địa bàn tỉnh có nhiều sông lớn chảy qua, bao gồm sông Hồng, sông Đáy, sông Ninh Cơ, sông Đào và hệ thống hồ, đầm, ao, kênh mương dày đặc Tại những vùng tiếp giáp biển Nam Định còn có nước lợ và nước mặn với độ mặn 1,5 - 4,2%
Nuớc mặn ngầm phân bố thành từng dải, chạy dọc ven biển từ cửa Đáy
Trang 3226
đến Ba Lạt Nước ngọt ngầm phân bố rộng rãi, có thể khai thác ở độ sâu trung
bình 40 - 120m dùng cho sinh hoạt, và ở độ sâu 250 - 350m dùng trong công
nghiệp Tuy nhiên trong thời gian gần đây, mực nước ngầm đã có sự suy giảm
0,5 - 0,7m mỗi năm Ngoài ra một số nguy cơ đáng báo động khác đối với tài
nguyên nước ngầm của Nam Định như nhiễm bẩn do nước thải sinh hoạt, nước
thải công nghiệp và nước thải làng nghề, hiện tượng nước ngầm bị nhiễm mặn
tại một số khu vực quan trắc tại huyện Giao Thủy và Hải Hậu
- Tài nguyên biển
Nam Định có tiềm năng lớn về nguồn lợi thuỷ sản ở cả 3 vùng nước ngọt,
lợ, mặn Các loài thủy hải sản rất phong phú: 65 loài thực vật nổi, 59 loài động
vật nổi và giun nhiều tơ thuộc lớp động vật đáy Mặt nước vùng cửa sông còn có
nhiều tảo và thực vật thuỷ sinh là thức ăn cho cá, ốc, tôm, cua
Cá: nhìn chung phong phú về giống loài, nhưng nghèo về mật độ và trữ
lượng, đặc biệt là những loài có giá trị kinh tế cao Thành phần giữa cá xa bờ và
gần bờ, giữa tầng trên và tầng đáy không có sự khác nhau lớn Trữ lượng ước
tính khoảng 157.000 tấn, chiếm khoảng 20% tổng trữ lượng cá Vịnh Bắc Bộ,
trong đó cá nổi khoảng 95.150 tấn, cá đáy 62.350 tấn Khả năng cho phép khai
thác khoảng 70.000 tấn, trong đó cá nổi 38.100 tấn, cá đáy 31.900 tấn
Tôm: đã phát hiện có 45 loài tôm thuộc họ tôm he, trong đó có 9 loài có
giá trị kinh tế, tập trung ở cửa Ba Lạt, trữ lượng ước tính khoảng 3.000 tấn, khả
năng khai thác cho phép khoảng 1.000 tấn
Mực: Có 20 loài, trữ lượng khoảng 2.000 tấn, khả năng khai thác cho phép
1.000 tấn/năm, trong đó hơn 600 tấn ở độ sâu 30m nước trở vào và trên 400 tấn ở
độ sâu 30m nước trở ra
Ngoài ra còn có các loại hải sản khác như moi, sò huyết, sò lông,
Trang 3327
bào ngư,…
Tổng diện tích mặt nước có thể phát triển nuôi trồng thuỷ sản có khoảng 22.000 ha, trong đó mặt nước mặn lợ khoảng 8.500 ha Vùng mặt nước ngọt có khoảng 13.500 ha Nguồn lợi thuỷ sản của tỉnh có thể sản xuất và khai thác được quanh năm nhưng do ảnh hưởng của bão hoặc gió mùa Đông Bắc mạnh nên mỗi năm thường chỉ sản xuất và khai thác được từ 240 - 270 ngày
- Tài nguyên rừng
Toàn tỉnh có hơn 4.356ha rừng, chủ yếu là rừng phòng hộ ở các huyện ven biển như Hải Hậu, Giao Thuỷ, Nghĩa Hưng để chắn sóng bảo vệ đê biển và ở các đồi trọc thuộc huyện Ý Yên, Vụ Bản và các bãi bồi ven biển
- Tài nguyên khoáng sản
Khoáng sản của Nam Định nghèo cả về chủng loại lẫn trữ lượng Nam Định có một số loại khoáng sản như:
Nhiên liệu: than nâu ở Giao Thuỷ, nằm trong vùng than Đồng bằng sông Hồng với trữ lượng dự báo đến độ sâu âm 1400m gần 200 triệu tấn Theo Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng than Đồng bằng sông Hồng đang được Bộ Công Thương thẩm định để trình Thủ tướng Chính phủ thì đến năm
2020, mỏ than trên địa bàn tỉnh Nam Định sẽ được thăm dò để đánh giá trữ lượng Nếu kết quả thăm dò cho thấy mỏ than Nam Định có đủ trữ lượng kinh tế
và nếu 2 mỏ khai thác thử nghiệm tại Hưng Yên và Thái Bình thành công (khẳng định được công nghệ, hiệu quả kinh tế và bảo vệ môi trường) sẽ xem xét khai thác trong giai đoạn sau 2020
Dầu mỏ và khí đốt được phát hiện ở thềm lục địa Giao Thuỷ
Kim loại: có các vành phân tán Inmenit, zircon, mônazit, mới chỉ tìm kiếm
Trang 3428
và phát hiện tại Hải Hậu và Nghĩa Hưng, có quy mô nhỏ
Nguyên liệu sét: bao gồm sét làm gốm sứ phân bố tại núi Phương Nhi đã được khai thác phục vụ xí nghiệp gốm sứ Bảo Đài; sét gạch ngói nằm rải rác ở các bãi ven sông như Đồng Côi (Nam Trực), trữ lượng khoảng 2 triệu tấn; Sa Cao (Xuân Trường) trữ lượng 5 - 10 triệu tấn; Hoành Lâm (Giao Thuỷ)…, sét làm bột màu có ở Nam Hồng (Nam Trực)
2.1.4 Hệ thống cơ sở hạ tầng
2.1.4.1 Giao thông
Với vị trí cách thủ đô Hà Nội gần 90km và gần khu vực vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, mạng lưới giao thông gồm cả đường sắt, đường bộ, đường sông, đường biển tạo cho Nam Định giao lưu với các tỉnh trong vùng, trong nước và nước ngoài tương đối thuận lợi Tuy vậy, hầu hết các tuyến giao thông đều có quy mô nhỏ, chất lượng thấp chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển KT-XH, đặc biệt là phát triển công nghiệp
Đường sắt: đường sắt Bắc - Nam chạy qua địa bàn tỉnh Nam Định dài 42km, mỗi ngày có hàng chục chuyến tàu Bắc - Nam chạy qua ga Nam Định
Hệ thống đường bộ trên địa bàn tỉnh Nam Định gồm các tuyến quốc lộ, tỉnh lộ và đường huyện, đường xã có tổng chiều dài hơn 8000 km, trong đó quốc
lộ (QL10, QL21, QL38B) là 136 km; Đường tỉnh (10 tuyến) là 367 km; Đường huyện 400 km; đường xã, liên xã 1.925km và đường thôn xóm 5.172,52km Hệ thống giao thông của Nam Định liên tục được mở rộng và nâng cấp Từ năm
2010 đến nay, đã hoàn thành quốc lộ 21 Nam Định - Thịnh Long, tỉnh lộ 490C Nam Định - Thịnh Long Năm 2013 đã hoàn thành tuyến Nam Định - Phủ Lý nối Quốc lộ 1 tác động rất lớn đến phát triển kinh tế xã hội của tỉnh
Đường sông: Nam Định là tỉnh có ưu thế về mạng lưới đường sông với bốn con sông lớn có tổng chiều dài 251km: sông Hồng (74,5km, các loại tàu có
Trang 3529
tải trọng 400 - 800 tấn đi lại thuận tiện); sông Đào (33,5km, tàu 100 - 200 tấn); sông Ninh Cơ (61km, tàu 400 - 600 tấn, có thể vận chuyển hàng hoá về tới cảng Phà Đen - Hà Nội); sông Đáy (82km, tà u 400 - 800 tấn)
Đường biển: Nam Định có 72km đường biển và cảng Hải Thịnh với 200m cầu tàu, năng lực 2 triệu tấn/năm, đảm bảo cho tàu 2.000 tấn ra vào cảng
2.1.4.2 Thông tin liên lạc
Mạng lưới thông tin liên lạc của Nam Định ngày càng được mở rộng theo hướng hiện đại Hiện 100% số xã và thị trấn trên địa bàn tỉnh đã có điện thoại và điểm bưu điện văn hoá với 01 bưu điện trung tâm tại thành phố Nam Định, 10 bưu điện huyện và 70 bưu điện khu vực Tổng số thuê bao điện thoại (cả cố định
và di động trả sau là 387.500 thuê bao, tỷ lệ đạt 21,22 máy/100 dân trong đó điện thoại cố định 19,6 máy/100 dân Số lượng thuê bao Internet năm 2009 là 27.230 thuê bao, tăng mạnh 10.700 thuê bao so với năm 2008, tỷ lệ đạt 1,48 thuê
bao/100 dân
2.1.4.3 Cấp điện
Tính đến hết năm 2012, Nam Định đã có mạng lưới điện tương đối hoàn chỉnh và hiện đại, đáp ứng nhu cầu cho sự phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo phục vụ cho an ninh - quốc phòng trên địa bàn tỉnh, bao gồm:
1 trạm biến áp 220/110kV với tổng công suất 2x125 MV ;
9 trạm biến áp 110kV với tổng công suất 365 MV ; 17 trạm biến áp trung gian 35/10 KVA với dung lượng 91,2 MVA và 7 trạm biến áp 35/6 KV với tổng dung lượng 52,68 MVA
449 trạm biến áp 35/0,4 kV với tổng công suất 157 MV ;
590 trạm biến áp 22/0,4 kV với tổng công suất 198 MV ;
803 trạm biến áp 10/0,4 kV với tổng công suất 186 MV ;
78 trạm biến áp 6/0,4 kV với tổng công suất 22 MV
Trang 3630
Hệ thống lưới điện đã đến với 100% số xã trên địa bàn tỉnh với tổng chiều dài đường dây 35kV là 565,298km; đường dây 22kV là 177,97km; đường dây 10kV là 785,51km; đường dây 6KV là 49,83km; Lưới điện hạ áp trên địa bàn tỉnh có tổng cộng 9.921,1km
2.1.4.4 Cấp nước
Toàn tỉnh hiện có 36 trạm cấp nước sạch tập trung, phân bố ở các xã của 9 huyện, 5 nhà máy phân bố ở các khu đô thị với tổng công suất 115.510 m3/ngày đêm Trong đó, công suất trên địa bàn Thành phố Nam Định là 70.000 m3
/ngày đêm Hiện nay, đã cung cấp nước sạch cho 188.277 hộ dân khu vực nông thôn và
đô thị Tỷ lệ dân cư sử dụng nước sạch tại Thành phố Nam Định đạt khoảng 95%, các đô thị khác đạt khoảng 75% với định mức bình quân 80 lít/người/ngày đêm Hầu hết các trạm cung cấp nước đều sử dụng nguồn nước mặt tại các con sông lớn trên địa bàn tuy nhiên một số hệ thống trạm cung cấp sử dụng nước sông nội đồng có nguy cơ ô nhiễm rất cao
Vùng nông thôn chủ yếu dùng nước giếng khoan với khoảng 80.000 giếng
2.1.5 Thuận lợi, khó khăn, cơ hội, thách thức cho phát triển công nghiệp Nam Định
- Vị trí địa lý thuận lợi để giao lưu kinh
tế xã hội, vừa là thị trường tiêu thụ
rộng lớn các sản phẩm công nghiệp,
vừa tiếp thu công nghệ từ các tỉnh phát
triển hơn như Hà Nội, Hải Phòng
- Đất đai bằng phẳng, phì nhiêu, thuận
lợi để phát triển kinh tế tổng hợp ven
biển
- Mạng lưới sông ngòi dày đặc thuận
lợi cho phát triển thủy điện cũng như
- Nam Định nằm trong vùng vịnh Bắc
Bộ, chịu ảnh hưởng của bão, thiên tai dẫn đến mất mùa, ảnh hưởng đến công nghiệp chế biến lương thực thực phẩm
- Khí hậu nhiệt đới gió mùa đặc trưng
dễ làm hư hỏng máy móc
- Nguồn khoáng sản có trữ lượng nhỏ, không có tiềm năng phát triển ngành
Trang 3731
phục vụ đủ nhu cầu cho các ngành
công nghiệp khác
- Quỹ đất còn khá lớn để phục vụ sản
xuất công nghiệp
- Nguồn lao động dồi dào; cơ cấu lao
động đang chuyển dần sang khu vực
công nghiệp
- Tài nguyên thiên nhiên dồi dào, đặc
biệt là thủy sản, đảm bảo cung cấp
nguyên liệu cho các ngành công nghiệp
chế biến
- Hệ thống cơ sở hạ tầng đang được
nâng cấp, đặc biệt là giao thông gồm cả
đường sắt, đường bộ, đường sông và
đường biển thuận tiện cho việc giao
thương và thu hút vốn đầu tư vào
ngành công nghiệp
công nghiệp khai thác
- Chất lượng lao động nhìn chung vẫn còn thấp
- Các tuyến giao thông vẫn còn quy mô nhỏ và chất lượng chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển công nghiệp
- Sự quan tâm của Trung ương Đảng và
Chính phủ
- Trong điều kiện hội nhập, hơn nữa
Nam Định đang ngày càng mở rộng
quy mô phát triển dễ dàng thu hút vốn
đầu tư từ bên ngoài hơn
- Phát triển công nghiệp cần phải chú trọng tới vấn đề ô nhiễm môi trường, đảm bảo hướng tới phát triển bền vững
- Nhu cầu nâng cao chất lượng sản phẩm công nghiệp ngày càng tăng, đòi hỏi cạnh tranh cao
Trang 3832
2.2 Hiện trạng ngành công nghiệp tỉnh Nam Định
2.2.1 Số lượng các cơ sở sản xuất công nghiệp
Tính đến hết năm 2012, trên địa bàn tỉnh Nam Định có 35.225 cơ sở sản xuất CN - TTCN, trong đó, các cơ sở ngoài quốc doanh chiếm trên 99%, kinh tế quốc doanh trung ương có 8 cơ sở, kinh tế quốc doanh địa phương có 3 cơ sở
Trong khu vực kinh tế ngoài quốc doanh, các cơ sở thuộc thành phần kinh
tế cá thể chiếm tỷ lệ lớn khoảng trên 97,4% Số cơ sở thuộc thành phần kinh tế tư nhân có mức gia tăng trong những năm gần đây, năm 2012 tăng thêm 93 cơ sở
so với năm 2009 Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài hiện có 13 cơ sở
Hình 2.3 Số lượng cơ sở sản xuất công nghiệp giai đoạn 2000 - 2012
Số cơ sở sản xuất trong ngành chế biến năm 2012 chiếm khoảng 79% tổng
số cơ sở công nghiệp trên địa bàn và có xu hướng không ổn định trong những năm gần đây với mức tăng 1.044 cơ sở so với năm 2009 và giảm 959 cơ sở so với năm 2005 Xu hướng giảm diễn ra đối với ngành công nghiệp khai thác với mức sụt giảm tương ứng là 13 cơ sở và 674 cơ sở
Trang 39Công nghiệp chế biến 27.177 28.818 26.815 27.859 Sản xuất và phân phối
(Nguồn: Niên giám thống kê Nam Định)
2.2.2 Lực lượng lao động công nghiệp
Lao động ngành công nghiệp năm 2012 của Nam Định là 164.055 người, chiếm khoảng 15,8% tổng số lao động toàn tỉnh
Theo phân ngành công nghiệp, lao động công nghiệp chế biến có tỷ trọng cao nhất trong các ngành, luôn chiếm trên 80% trong cơ cấu lao động ngành công nghiệp và có xu hướng ngày càng tăng Ngược lại là sự suy giảm tỷ trọng của lao động ngành công nghiệp khai thác Lao động trong ngành sản xuất và phân phối điện nước không có sự thay đổi lớn về tỷ trọng qua các năm do quy
mô của ngành còn nhỏ bé so với quy mô ngành công nghiệp của tỉnh
Trang 40(Nguồn: Niên giám thống kê Nam Định)
Trình độ lao động tại các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh như sau: các giám đốc doanh nghiệp phần lớn đều có trình độ đại học phù hợp với lĩnh vực đang quản lý, trong đó đa phần đã tham gia các khóa học về lý luận chính trị, quản lý kinh tế, quản lý nhân sự, Tuy nhiên chất lượng lao động tại các doanh nghiệp chưa cao, lao động phổ thông vẫn chiếm tỷ lệ tương đối, lao động qua đào tạo nghề chiếm khoảng 30%, trong khi tại Nam Định hiện có 04 trường đại học, 05 trường cao đẳng, 09 trường trung cấp chuyên nghiệp và hàng chục trung tâm dạy nghề, hàng năm có thể đào tạo ra hàng chục ngàn lao động
có trình độ
2.2.3 Quy mô và năng lực sản xuất
Trong giai đoạn 2001 - 2005 giá trị SXCN tăng trưởng bình quân 20,18%/năm, cao hơn mức tăng trưởng chung 16%/năm của ngành công nghiệp toàn quốc Trong giai đoạn 2006 - 2012, Nam Định tiếp tục duy trì mức tăng trưởng bình quân khá cao là 20,67%/năm, cao gần 1,5 lần so với mức