Nội dung chủ yếu của Luận văn : Từ phân tích kết quả thu thuế qua từng năm chỉ ra ưu, nhược điểm và tác động của chính sách thuế đến số thu Ngân sách, và phát triển kinh tế, thực hiện cô
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân, được xuất phát từ yêu cầu phát sinh trong công việc để hình thành hướng nghiên cứu Các số liệu có nguồn gốc rõ ràng tuân thủ đúng nguyên tắc và kết quả trình bày trong luận văn được thu thập được trong quá trình nghiên cứu là trung thực chưa từng được ai công bố trước đây
Hà Nội, tháng 5 năm 2014
Tác giả luận văn
Nguyễn Mạnh Tuân
Trang 2MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
KÍ HIỆU VIẾT TẮT v
DANH SÁCH CÁC BẢNG vi
MỞ ĐẦU 1
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
2 MỤC ĐÍCH, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2
3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3
4 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN 3
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THUẾ VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ 4
1.1 KHÁI NIỆM VÀ PHÂN LOẠI THUẾ 4
1.1.1 Khái niệm 4
1.1.2 Bản chất, chức năng 5
1.2 HỆ THỐNG THUẾ VÀ PHÂN LOẠI THUẾ 8
1.2.1 Khái niệm hệ thống thuế 8
1.2.2 Phân loại thuế 9
1.3 VAI TRÒ CỦA THUẾ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 11
1.4 NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ 15
1.4.1 Khái niệm 15
1.4.2 Nội dung cơ bản của công tác quản lý thuế 15
1.5 TỔ CHỨC QUẢN LÝ THUẾ 18
1.5.1 Quản lý đối tượng nộp thuế 18
1.5.2 Quản lý đối tượng tính thuế 19
1.5.3 Công tác tính thuế 20
1.5.4 Nộp thuế vào ngân sách nhà nước 20
1.5.5 Công tác thanh tra, kiểm tra chống thất thu thuế 21
1.6.CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ THU THUẾ 21
Trang 31.7 NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC THU THUẾ 27
1.7.1 Các yếu tố khách quan 27
1.7.2 Các yếu tố chủ quan 30
1.8 KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRONG CÔNG TÁC THU THUẾ 33
1.8.1 Anh quốc 33
1.8.2 Những bài học rút ra cho công tác quản lý thuế 39
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THU THUẾ TẠI CHI CỤC THUẾ HUYỆN TIỀN HẢI 43
2.1 ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA CHI CỤC THUẾ HUYỆN TIỀN HẢI 43
2.1.1 Khái quát tình hình đặc điểm đơn vị 43
2.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội huyện Tiền Hải 44
2.1.3 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của Chi cục thuế huyện Tiền Hải 47
2.2 MỘT SỐ VĂN BẢN PHÁP LÝ TRONG LĨNH VỰC QUẢN LÝ THUẾ 56
2.2.1 Văn bản pháp luật 56
2.2.2 Văn Bản Dưới Luật 60
2.3.THỰC TRẠNG THU THUẾ TẠI CHI CỤC THUẾ HUYỆN TIỀN HẢI 63
2.3.1 Chính sách phân cấp ngân sách huyện tiền hải 63
2.3.2 Kết Quả Công Tác Thu Thuế 71
2.4 ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC THU THUẾ TẠI CHI CỤC THUẾ TIỀN HẢI 77
2.4.1 Kết Quả Đạt Được 77
2.4.2 Những Hạn Chế 83
2.4.3.Nguyên Nhân Của Những Hạn Chế 83
CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THU THUẾ TẠI CHI CỤC THUẾ HUYỆN TIỀN HẢI – THÁI BÌNH 85
3.1 ĐỊNH HƯỚNG CÔNG TÁC THU THUẾ TẠI CHI CỤC THUẾ HUYỆN TIỀN HẢI 85
Trang 43.2 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THU THUẾ TẠI CHI CỤC
THUẾ HUYỆN TIỀN HẢI – THÁI BÌNH 86
3.2.1 Giải pháp cụ thể mang tính địa phương 86
3.2.2 Giải pháp mang tính vĩ mô 96
3.3 KIẾN NGHỊ ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC THU THUẾ TẠI CHI CỤC THUẾ HUYỆN TIỀN HẢI 99
3.3.1 Kiến nghị đối với Cục thuế Thái Bình 99
3.3.2 Kiến nghị đối với UBND Huyện: 99
3.3.4 Kiến nghị đối với chi cục thuế huyện Tiền Hải: 100
KẾT LUẬN 102
TÀI LIỆU THAM KHẢO 104
Trang 5KÍ HIỆU VIẾT TẮT
NSTW Ngân sách trung ương
NSĐP Ngân sách địa phương
HĐND Hội đồng nhân dân
HĐBT Hội đồng bộ trưởng
HTXNN Hợp tác xã nông nghiệp
DN Doanh Nghiệp
DNQD Doanh Nghiệp Quốc doanh
DNNQD Doanh Nghiệp Ngoài Quốc Doanh GTGT Giá trị gia tăng
Trang 6DANH SÁCH CÁC BẢNG
BẢNG 1: Dự toán thu ngân sách nhà nước năm 2014 huyện tiền hải 60
BẢNG 3: So Sánh dự toán Tỉnh giao và Huyện giao năm 2013 70 BẢNG 4: Tình hình thực hiện thu thuế CTNDV – NQD 74 BẢNG 5: Công Tác Thực Hiện Thu Thuế 3 Năm Từ 2011 Đến 2013 81
Trang 7MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước và là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế quốc dân Chính vì vậy mà các nhà kinh tế, các nhà quản lý luôn quan tâm nghiên cứu về chính sách thuế của quốc gia nói chung
và của từng địa phương nói riêng Trọng tâm của các nghiên cứu là: làm thế nào để chính sách thuế đạt được mục đích tạo nguồn thu vững chắc, đảm bảo cân đối thu chi Ngân sách Nhà nước; đồng thời góp phần phát huy tác dụng điều tiết vĩ mô nền kinh tế, thực hiện công bằng xã hội
Huyện Tiền Hải tỉnh Thái Bình đã nhanh chóng hoà cùng với cả nước tạo thế, tạo đà vững bước đi lên; xây dựng Huyện trở thành một trung tâm kinh tế-văn hoá-du lịch ngày càng vững mạnh của tỉnh Thái Bình Trong quá trình phát triển kinh tế, huyện đã luôn quan tâm xây dựng ngành tài chính - thuế tạo nguồn thu ngân sách, đáp ứng được nhiệm vụ chi tiêu ngày càng cao của huyện nhà
Kết quả thu ngân sách qua các năm ngày càng tăng, nhờ chính sách thuế đã phần nào hợp lý, tạo thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh phát triển; nuôi dưỡng được nguồn thu; Hệ thống quản lý thu thuế đã từng bước cải cách, hiện đại hóa, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng cho đội ngũ công chức thuế, tăng hiệu quả trong quản lý thu thuế Tuy nhiện, Hệ thống chính sách thuế vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề ở chính sách thuế, cũng như trong quá trình tổ chức quản lý thu thuế Hệ thống chính sách thuế chưa bắt nhịp được với sự phát triển ngày càng cao về khoa học, công nghệ Sự hội nhập và quá trình toàn cầu hóa một cách nhanh chóng đã làm cho chính sách thuế cũng như công tác tổ chức quản lý thuế bộc lộ nhiều bất cập và tính khả thi thấp Bên cạnh đó, cơ cấu tổ chức quản lý thu thì chưa phù hợp, thiếu chặt chẽ, chồng chéo, nặng nề nên gây thất thu lớn về số lượng cơ sở, đơn vị thực
tế có kinh doanh nhưng không nộp thuế hoặc nộp không đầy đủ, nợ đọng dây
Trang 8dưa thu ngân sách Trong điều tiết vĩ mô nền kinh tế chưa phát huy hết tác dụng của công cụ thuế để đẩy mạnh sản xuất kinh doanh có lợi cho quốc kế dân sinh, thực hiện đóng góp hợp lý, công bằng cho Ngân sách Nhà nước Vì
vậy, việc chọn đề tài : "Các Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Thu Thuế Tại Chi Cục Thuế Huyện Tiền Hải-Thái Bình" có ý nghĩa thiết thực cả về mặt
lý luận và thực tiễn
2 MỤC ĐÍCH, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Luận văn được thực hiện nhằm đạt được những mục đích sau đây:
- Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần hệ thống hóa những vấn đề
lý luận về thuế và công tác quản lý thuế
- Phân tích đánh giá thực trạng về công tác quản lý thu thuế trên địa bàn huyện Tiền Hải
- Nghiên cứu, đề xuất những giải pháp để hoàn thiện tổ chức bộ máy
và nâng cao hiệu quả công tác thu thuế trên địa bàn
Đối tượng nghiên cứu là các sắc thuế chủ yếu đang thực hiện và cơ cấu
tổ chức bộ máy của Cục Thuế Thừa Thiên Huế hiện tại, đề ra cơ cấu tổ chức mới theo hướng cải cách bộ máy hành chính và hiện đại hóa nền tài chính
quốc gia, phù hợp thông lệ quốc tế và khu vực
Phạm vi nghiên cứu là công tác quản lý thuế trong đó có nhấn mạnh
đến công tác thu thuế tại huyện Tiền Hải Với phạm vi đó, trọng tâm của vấn
đề nghiên cứu chủ yếu bao gồm các loại thuế chủ yếu và các đối tượng quản
lý thu thuế của địa phương Nội dung chủ yếu của Luận văn : Từ phân tích kết quả thu thuế qua từng năm chỉ ra ưu, nhược điểm và tác động của chính sách thuế đến số thu Ngân sách, và phát triển kinh tế, thực hiện công bằng xã hội
ở địa phương; nghiên cứu các nguyên nhân về mặt chính sách, chế độ, về tổ chức quản lý thu thuế, về đối tượng nộp thuế để đưa ra được những giải pháp
tổ chức quản lý thuế khả thi trong thời gian tới
Trang 93 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Do nét đặc thù của chủ đề nghiên cưu, để thưc hiện đề tài này, các phương pháp nghiên cứu truyền thống và được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu khoa học xã hội đã được sử dụng Cụ thể của các phương pháp nghiên cứu này là: phương pháp duy vật lịch sử, phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp điều tra, thu thập, tổng hợp và phân tích số liệu thống kê, phương pháp phân tích định lượng và phương pháp hạch toán, tứclà sử dụng
hệ thống các chỉ tiêu GO, IC, để đánh giá kết quả và hiệu quả công tác quản lý thu thuế
4 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Luận văn gồm 3 phần chính : ngoài phần mở đầu, kết luận, phần chính của luận văn gồm bốn chương :
Chương 1 : Cơ sở lý luận về thuế và công tác quản lý thu thuế
Chương 2 :Thực trạng thu thuế tại huyện Tiền Hải
Chương 4 : Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý thu thuế trên địa bàn huyện Tiền Hải
Trang 10CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THUẾ VÀ CÔNG TÁC
QUẢN LÝ THU THUẾ
1.1 KHÁI NIỆM VÀ PHÂN LOẠI THUẾ
1.1.1 Khái niệm
Thuế trên thực tế đã tồn tại từ khi các Nhà nước hình thành, song các lý luận về kinh tế của thế giới, cho đến nay vẫn chưa có sự thống nhất tuyệt đối khái niệm về thuế [33] Nhìn chung các quan điểm của các nhà kinh tế đưa ra, mới nhìn nhận từ những khía cạnh khác nhau của thuế, do đó không phản ánh đầy đủ bản chất chung nhất của phạm trù này Gần đây trong một số công trình nghiên cứu về thuế các nhà kinh tế cho rằng, để vạch rõ bản chất của thuế thì trong định nghĩa phải nêu bật được các khía cạnh sau : Nội dung kinh
tế của thuế được đặc trưng bởi các quan hệ tiền tệ giữa Nhà nước với các pháp nhân và các thể nhân; những mối quan hệ dưới dạng tiền tệ này được nảy sinh một cách khách quan và có ý nghĩa xã hội đặc biệt [39][42] Kết hợp những hạt nhân hợp lý của các quan niệm về thuế kể trên, có thể nêu lên khái niệm tổng quát về thuế như sau:
Thuế là một khoản chuyển giao thu nhập bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho Nhà nước theo các mức độ mà pháp luật quy định Khoản chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế để phục vụ cho mục tiêu phục vụ lợi ích công cộng Nguồn thu về thuế không được sử dụng cho mục tiêu cá nhân
Trong thực tế, ở nước ta hiện nay khi hình thành quỹ tiền tệ tập trung, Nhà nước thực hiện các chức năng của mình trong đó có chức năng quản lý
và xây dựng kinh tế thông qua việc kiến thiết, xây dựng, phát triển cơ sở hạ tầng và các công trình phúc lợi xã hội khác thì người nộp thuế thông qua đó đựơc hưởng một phần kết quả nộp thuế của mình [22] Như vậy thuế ở nước
ta luôn luôn là một khoản thu bắt buộc, không được hoàn trả trực tiếp cho
Trang 11người nộp thuế nhưng họ được gián tiếp hưởng lợi do chính sách đầu tư, phát triển của Nhà nước cho các công trình phúc lợi xã hội khác nhau [40][43]
1.1.2 Bản chất, chức năng
Từ khái niệm thuế nói trên ta có thể thấy được bản chất của thuế được thể hiện bởi các thuộc tính bên trong vốn có của nó, những thuộc tính đó có tính ổn định tương đối qua từng giai đoạn phát triển [43] Nghiên cứu về thuế, người ta thấy có những đặc điểm riêng biệt để phân biệt với các công cụ tài chính khác như sau :
a) Thuế là một khoản chuyển giao thu nhập của các tầng lớp nhân dân cho Nhà nước mang tính bắt buộc phi hình sự Tính bắt buộc phi hình sự là thuộc tính cơ bản vốn có của thuế, phân biệt thuế với các hình thức huy động tài chính khác của Ngân sách Nhà nước [43]
Đặc điểm này vạch rõ nội dung kinh tế của thuế là những quan hệ tiền
tệ, được hình thành khách quan và có ý nghĩa xã hội đặc biệt, việc động viên mang tính chất bắt buộc của Nhà nước ta [39]
Phân phối mang tính chất bắt buộc dưới hình thức thuế là một phương thức phân phối của Nhà nước mà kết quả của quá trình đó là một bộ phận thu nhập của người nộp thuế được chuyển giao cho Nhà nước mà không kèm theo một sự cấp phát hoặc những quyền lợi nào khác cho người nộp thuế
Tính cưỡng bức, bắt buộc của việc chuyển giao thu nhập bắt nguồn từ những lý do sau :
Thứ nhất, hình thức chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế không
gắn với lợi ích cụ thể của người nộp thuế, do đó không thể sử dụng phương pháp tự nguyện trong việc chuyển giao Để đảm bảo nhu cầu chi tiêu công cộng Nhà nước tất yếu phải sử dụng quyền lực chính trị để bắt buộc các đối tượng có thu nhập phải chuyển giao [21]
Thứ hai, trong một xã hội hiện đại, các thành viên của cộng đồng ngày
càng có nhu cầu cao về hàng hóa công cộng [20] Nhìn chung đại bộ phận hàng hóa công cộng do Nhà nước sản xuất và cung cấp Để sản xuất và cung
Trang 12cấp hàng hóa công cộng tất yếu phải bỏ chi phí, các chi phí đó phải được bù đắp từ nguồn thu nhập của những người thụ hưởng hàng hóa công cộng Song
do tính chất của hàng hóa công cộng không thể phân bổ theo khẩu phần để sử dụng và không muốn sử dụng theo khẩu phần, do đó, không có tính cạnh tranh, không thể trao đổi theo cơ chế thị trường Chính vì vậy trong việc cung cấp hàng hóa công cộng xuất hiện “người ăn không” nghĩa là không tự nguyện trả tiền cho việc thừa hưởng hàng hóa công cộng Do vậy để có chi phí cho việc cung cấp hàng hóa công cộng, Nhà nước chỉ có thể sử dụng phương pháp bắt buộc “người ăn không” chuyển giao thu nhập từ khu vực tư sang khu vực công [22]
Tuy nhiên tính bắt buộc của thuế không có nội dung hình sự, nghĩa là hành động đóng thuế cho Nhà nước không phải là hành động xuất hiện khi biểu hiện phạm pháp, mà hành động đóng thuế là hành động thực hiện nghĩa
vụ của người công dân [26]
Từ đặc trưng này, thuế không giống như các hình thức huy động tài chính khác của ngân sách Nhà nước như phí, lệ phí, công trái hoặc hình thức phạt bằng tiền Hình thức phạt bằng tiền cũng là hình thức bắt buộc, song việc phạt bằng tiền chỉ xảy ra đối với người nộp phạt khi có hành vi vi phạm luật
lệ làm phương hại đến lợi ích nhà nước hoặc cộng đồng [31]
b) Việc chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế không mang tính chất hoàn trả trực tiếp, biểu hiện ở các khía cạnh:
Thứ nhất, sự chuyển giao thu nhập thông qua thuế không mang tính đối
giá, nghĩa là mức thuế mà các tầng lớp trong xã hội chuyển giao cho Nhà nước không hoàn toàn dựa trên mức độ người nộp thuế thừa hưởng những dịch vụ và hàng hóa công cộng do Nhà nước cung cấp [43], [20] Người nộp thuế cũng không có quyền đòi hỏi Nhà nước phải cung cấp hàng hóa, dịch vụ công cộng trực tiếp cho mình mới phát sinh khoản chuyển giao khoản thu nhập cho Nhà nước, mặt khác mức độ cung cấp dịch vụ công cộng của Nhà nước cũng không nhất thiết ngang bằng mức độ chuyển giao [1], [21]
Trang 13Thứ hai, Khoản chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế không hoàn
trả trực tiếp có nghĩa là người nộp thuế suy cho cùng sẽ nhận được các dịch
vụ công cộng của Nhà nước Đặc điểm này giúp chúng ta phân biệt sự khác nhau giữa thuế và các khoản phí, lệ phí [23]
c) Việc chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế được quy định trước bằng pháp luật
Đặc điểm này, một mặt thể hiện tính pháp lí cao của thuế, mặt khác phản ánh sự chuyển giao thu nhập này không mang tính chất tùy tiện mà dựa trên những cơ sở khoa học nhất định và đã được xác định trong luật thuế Những tiêu thức thường được xác định trước đối với thuế là : đối tượng chịu thuế, đối tượng nộp thuế, mức thuế phải nộp, thời hạn cụ thể và những chế tài mang tính cưỡng chế khác [23]
d) Các khoản chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế chịu sự ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế, chính trị và xã hội trong những thời kỳ nhất định
Yếu tố kinh tế tác động đến thuế thường là mức độ tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân, thu nhập bình quân đầu người, giá cả, thị trường, sự biến động của ngân sách Nhà nước
Yếu tố chính trị, xã hội tác động đến thuế thường là thể chế của Nhà nước, tâm lí, tập quán của các tầng lớp dân cư, truyền thống văn hóa, xã hội của dân tộc Do thuế chịu sự ràng buộc của các yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội như vậy nên người ta thường nói thuế mang ý nghĩa kinh tế, chính trị, xã hội tổng hợp [23]
e) Các khoản chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế chỉ được giới hạn trong phạm vi biên giới quốc gia với quyền lực pháp lí của nhà nước đối với con người và tài sản [23]
Tóm lại, những thuộc tính cơ bản trên đây của thuế đã phản ánh bản chất và nội dung bên trong của thuế Từ những thuộc tính đó giúp ta phân biệt thuế với các hình thức động viên khác của ngân sách nhà nước trên nhiều
phương diện khác nhau
Trang 141.2 Hệ thống thuế và phân loại thuế
1.2.1 Khái niệm hệ thống thuế
Hệ thống thuế là tổng hợp các hình thức khác nhau mà giữa chúng có mối quan hệ mật thiết bao hàm việc xây dựng các sắc thuế, loại thuế; phương pháp thu, nộp trên những nguyên tắc nhất định Tùy thuộc vào khả năng và ý đồ của từng Nhà nước trong việc điều tiết dòng thu nhập quốc dân, ở những giai đoạn lịch sử cụ thể mà hình thành những hệ thống thuế khác nhau Tuy vậy, bất kỳ một hệ thống thuế nào cũng phải bao gồm 2 bộ phận : Hệ thống chính sách thuế
và Hệ thống quản lý thuế Chính sách thuế là tổng hợp các phương hướng của Nhà nước trong lĩnh vực thu nộp thuế; quản lý thuế là các biện pháp, thủ pháp thực hiện chính sách thuế để đạt được những mục tiêu đã định
Khi xem xét hệ thống thuế của một quốc gia nhất định, người ta ít chú
ý đến số lượng của các sắc thuế, các loại thuế trong hệ thống đó, mà chủ yếu đánh giá, xem xét đến khía cạnh chất lượng của nó Mỗi quốc gia tùy theo điều kiện lịch sử, kinh tế, xã hội ở từng giai đoạn cụ thể mà định hướng xây dựng hệ thống thuế riêng của mình Hệ thống thuế đó phản ánh những mục tiêu của Nhà nước đặt ra [41]
Ở Việt nam, trong giai đoạn 1990 – 1998, Hệ thống chính sách thuế đã được cải cách đáng kể, đã xây dựng được một hệ thống chính sách thuế gồm 9 sắc thuế và một số loại phí, lệ phí, cụ thể :
- Thuế doanh thu
- Thuế hàng hoá
- Thuế lợi tức
- Thuế xuất khẩu, nhập khẩu
- Thuế nông nghiệp
- Thuế tài nguyên
- Thuế nhà, đất
- Thuế thu nhập dân cư
- Thuế vốn
Trang 15Và một số thuế mang tính chất lệ phí (như thuế môn bài, thuế sát sinh…) [41]
Hệ thống chính sách thuế hiện nay được xây dựng và hoàn chỉnh có tính pháp lý cao nhất đó là các văn bản Luật và đã đáp ứng được một số yêu cầu của một hệ thống chính sách thuế hiện đại, đó là :
+ Về tài chính : Đã bao quát hết mọi nguồn thu có thể bồi dưỡng, khai thác và động viên nhằm đáp ứng được nhu cầu chi tiêu cần thiết ngày càng tăng của ngân sách nhà nước, tạo được phần tích lũy cho phát triển kinh tế, xây dựng cơ sở hạ tầng
+ Về kinh tế : Thực sự phát huy tác dụng là công cụ có hiệu lực của Nhà nước tích cực góp phần quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế, tăng cường hạch toán kinh tế, khuyến khích phát triển sản xuất kinh doanh Thực hiện tốt chính sách kinh tế đối ngoại trong quá trình hội nhập với khu vực và thế giới
+ Về xã hội : Từng bước thực hiện yêu cầu động viên đóng góp công bằng, bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, các tầng lớp dân cư, giảm dần khoảng cách chênh lệch về thu nhập và tiêu dùng xã hội, góp phần ổn định chính trị, kinh tế, an toàn xã hội
+ Về nghiệp vụ : Chính sách chế độ đã có sự đơn giản, rõ ràng, dễ hiểu,
dễ kiểm tra; phát huy được quyền dân chủ và nâng cao được trách nhiệm và nghĩa vụ công dân về thuế [41]
1.2.2 Phân loại thuế
Để phục vụ cho công tác nghiên cứu, quản lý và tổ chức hành thu trong thực tế, người ta tiến hành phân loại thuế theo một số tiêu thức nhất định
1.2.2.1 Phân loại theo tính chất kinh tế của thuế
Theo cách phân loại truyền thống đã hình thành từ rất lâu, thuế được chia thành hai loại : thuế trực thu và thuế gián thu Sự phân loại này phụ thuộc vào đối tượng đánh thuế, mối quan hệ tương hỗ giữa người nộp thuế và nhà nước
Trang 16- Thuế trực thu là loại thuế đánh trực tiếp lên một khoản thu nhập (tiền lương, lợi nhuận, lợi tức ) hoặc tài sản (ruộng đất, nhà cửa, chứng khoán ) nào đó của người nộp thuế
Thuế trực thu thường đụng chạm trực tiếp đến lợi ích của người nộp thuế, dễ gây ra tâm lý bất bình trong nhân dân Ở nước ta, trong hệ thống thuế hiện hành, các loại thuế dưới đây được xem là thuế trực thu : như thuế lợi tức, thuế thu nhập, thuế tài nguyên, thuế nhà đất và thuế sử dụng đất nông nghiệp
- Thuế gián thu là một loại thuế đánh vào hàng hoá, dịch vụ và được ấn định dưới hình thức một khoản phụ thêm được cấu thành trong giá cả hàng hoá, dịch vụ nhằm điều tiết một phần thu nhập của người tiêu dùng
Khi áp dụng hình thức thuế gián thu, mối quan hệ giữa người nộp thuế
và nhà nước được thể hiện một cách gián tiếp
Ngày nay, sự phân biệt giữa thuế trực thu và thuế gián thu không còn rõ nét như trước đây Ở giác độ hành chính đã có sự thống nhất quản lý đối với hai loại thuế Trong các hệ thống thuế hiện đại, còn tồn tại hai phương thức thu thuế, nhưng mỗi phương thức đều tương ứng với hình thức thu gián tiếp Thuế lúc này sẽ do người chủ các đơn vị nộp đối với các khoản lương bổng, hoặc do chủ ngân hàng nộp đối với các khoản tiền lãi về động sản, hay do người bán hàng nộp đối với các khoản chi tiêu Tuy nhiên, thuế trực thu đáp ứng yêu cầu đánh thuế dựa trên khả năng chi trả hơn thuế gián thu, thuế suất trung bình sẽ tăng khi thu nhập gia tăng, và những người có thu nhập cao sẽ phải chịu thuế suất trung bình cao hơn [43]
1.2.2.2 Phân loại theo đối tượng đánh thuế
Phân loại theo đối tượng đánh thuế, hệ thống thuế bao gồm các loại:
- Thuế đánh vào hàng hoá: thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu, nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng
- Thuế đánh vào thu nhập, như: thuế lợi tức, thuế thu nhập
- Thuế đánh vào tài sản, như: thuế nhà, thuế đất, thuế chuyển quyền sử dụng nhà, đất
Trang 17- Thuế đánh vào các tài sản thuộc sở hữu công cộng, như: thuế tài nguyên, thu vốn ngân sách
Vận dụng cách phân loại này trong thực tế cho thấy hệ thống thuế bao gồm nhiều loại thuế với những tác dụng riêng có khác nhau, từng loại thuế phát huy vai trò điều tiết trong các lĩnh vực nhất định song chúng vừa hổ trợ, bổ sung cho nhau
để đảm bảo thực hiện chức năng toàn diện của hệ thống thuế
Ngoài ra còn một số cách phân loại như:
- Phân loại thuế dựa vào tính chất lũy tiến và lũy thoái
- Phân loại thuế theo chế độ phân cấp quản lý, điều hành ngân sách: Thuế nhà nước, thuế địa phương
- Phân loại theo phương thức sử dụng: Thuế tổng hợp, thuế chuyên dùng [43]
1.3 Vai trò của thuế trong nền kinh tế thị trường
Quản lý Nhà nước đối với kinh tế là một chức năng vốn có của Nhà nước, đặc biệt trong nền kinh tế thị trường thì nhất thiết vai trò đó càng được coi trọng và phát huy Với vai trò chủ yếu là tạo ra cơ sở pháp lý cho sự phát triển kinh tế - xã hội, sự can thiệp tích cực của Nhà nước thông qua hệ thống Pháp luật, đặc biệt là pháp luật tài chính, thuế, ngân hàng, trong đó vai trò của thuế trở nên cực kỳ quan trọng Thuế được coi là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế, là nguồn thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nước, có ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hội Thuế điều tiết thu nhập trong xã hội và góp phần đảm bảo công bằng xã hội [20]
Thuế là khoản thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nước :
Để có một nền tài chính Quốc gia lành mạnh chủ yếu phải dựa vào nguồn thu từ nội bộ nền kinh tế quốc dân Đặc biệt đối với nước ta hiện nay, các khoản viện trợ giảm xuống nhiều thì thuế phải trở thành nguồn thu chủ yếu của Ngân sách quốc gia, là một bộ phận cơ bản của chính sách tài chính quốc gia Sau 20 năm đổi mới tình hình kinh tế nước ta có nhiều chuyển biến tích cực Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm sau tăng hơn năm trước, bình quân
Trang 18trong 5 năm 2009-2013 là 7,5% [42] Lạm phát được kìm hãm và đẩy lùi, thị trường được mở rộng, kim ngạch xuất khẩu tăng, tạo điều kiện cho sản xuất trong nước phát triển Quan hệ kinh tế đối ngoại từng bước được mở rộng và phát triển hội nhập Trong bối cảnh đó thu ngân sách hàng năm tăng đều đặn năm sau cao hơn năm trước đáp ứng được nhu cầu chi thường xuyên, chi đầu
tư phát triển, góp phần tích lũy cho Ngân sách và cả việc chi trả nợ vay Được như vậy thuế đã góp phần tích cực trong việc tăng thu Ngân sách Tỷ lệ động viên GDP vào Ngân sách Nhà nước ngày càng tăng Trong đó mức động viên
thuế và phí chiếm vai trò quan trọng
Đơn Vị TínhNghìn Tỷ Đồng
Nguồn: Tổng Cục Thuế, 2013
Sơ Đồ 1 : Kết quả thu ngân sách của nước ta giai đoạn 2011 – 2013
Ngân sách Nhà nước được thu từ nhiều nguồn khác nhau: Từ thuế, Phí
- lệ phí, viện trợ nước ngoài, tín dụng nhưng thuế và phí, đặc biệt là thuế là nguồn thu chủ yếu, là bộ phận cơ bản của nền tài chính quốc gia ở các nước phát triển, thuế chiếm trên dưới 90% tổng thu ngân sách Ở Việt Nam vai trò của thuế trong tổng thu ngân sách chiếm tỷ trọng lớn ngày càng tăng Trong năm 1990 tỷ trọng thuế và phí trong Tổng thu ngân sách nhà nước (NSNN) là
Trang 1976,8%, năm 2001 tăng lên 96,5% và tỷ lệ điều tiết từ GDP hàng năm khoảng 21-22%; tốc độ thu ngân sách qua các năm được thể hiện theo biểu đồ trên về
kết quả thu ngân sách của nước ta [37]
Với cơ cấu nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần Hệ thống thuế được
áp dụng thống nhất, đồng bộ giữa các thành phần kinh tế đã bao quát toán bộ mọi hoat động sản xuất kinh doanh
Các nguồn thu nhập, mọi tiêu dùng của xã hội thuế đã hoàn thành được nhiệm vụ tập trung tích lũy ngân sách đảm bảo cho yêu cầu chi của Nhà nước
về các mặt: Chi thường xuyên, chi đầu tư phát triển
Thuế là công cụ quản lý điều tiết vĩ mô nền kinh tế:
Thuế là một công cụ sắc bén của Nhà nước để quản lý kinh tế - xã hội với chức năng chủ yếu là đảm bảo nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước và điều tiết vĩ mô nền kinh tế, hướng dẫn tiêu dùng khuyến khích sản xuất phát triển theo định hướng của Nhà nước [32]
Một trong những yêu cầu có tính nguyên tắc là chính sách thuế phải phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế trong từng thời kỳ Do vậy, bằng các sắc thuế khác nhau áp dụng đối với từng ngành, từng lĩnh vực khác nhau Nhà nước điều chỉnh quy mô đầu tư vào các ngành, các lĩnh vực khác nhau
Thực hiện cân đối hàng - tiền, cân đối cung cầu ở tầm vĩ mô, hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý giữa các ngành, các vùng lãnh thổ giữa Trung ương và Địa phương đáp ứng nhu cầu sản xuất tiêu dùng tích lũy trong toàn
bộ nền kinh tế quốc dân Đây là điều kiện quan trọng ổn định để thúc đẩy tốc
độ phát triển của nền kinh tế
Thông qua Pháp luật thuế Nhà nước xác định đúng đắn cơ cấu và quan
hệ giữa các sắc thuế, quy định chính xác, hợp lý đối tượng nộp thuế, chế độ miễn giảm, phương pháp quản lý thuế để đảm bảo việc thu đúng thu đủ đồng thời khuyến khích, nâng đỡ những hoạt động sản xuất kinh doanh cần thiết cho xã hội, khuyến khích những thành phần kinh tế cần thiết, các danh nghiệp sản xuất kinh doanh có hiệu quả Đồng thời hạn chế, thu hẹp những ngành
Trang 20nghề, những mặt hàng cần thiết phải hạn chế kể từ sản xuất đến tiêu dùng xã hội theo định hướng của chiến lược phát triển kinh tế của Đảng, Nhà nước có lợi cho quốc kế dân sinh
"Khuyến khích các cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế cạnh tranh và chống độc quyền không thể áp dụng một cơ chế tài chính đồng nhất cho các doanh nghiệp Nhà nước trong giai đoạn chuyển đổi hiện nay (giữa các doanh nghiệp kinh doanh theo cơ chế thị trường và các doanh nghiệp phục vụ các lợi ích công cộng) để điều tiết kinh tế - xã hội Mặt khác để chống độc quyền cần thiết phải có Luật về mặt tài chính cần phải sử dụng công cụ thuế" [Trích Lê Thanh Huệ, trang 37]
Thuế góp phần khuyến khích việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, bảo
vệ môi trường sinh thái đồng thời khuyến khích việc khai thác, sử dụng một cách tiết kiệm có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, vật tư trong nước [8]
Bằng các quy định phù hợp với các chuẩn mực và thông lệ quốc tế, Thuế không những khuyến khích được hoạt động xuất khẩu hàng hoá nội địa,
từ đó thúc đẩy sản xuất phát triển đồng thời thuế đã tạo điều kiện tốt cho quan
hệ hợp tác quốc tế trong khu vực và quốc tế Mở rộng, phát triển đầu tư hợp tác quốc tế thông qua chính sách khuyến khích đầu tư và xuất nhập khẩu [15]
Thuế góp phần bảo đảm bình đẳng giữa các đối tượng nộp thuế
và góp phần thực hiện công bằng xã hội:
Hệ thống thuế mới bao gồm 9 sắc thuế được áp dụng thống nhất đối với mọi thành phần kinh tế, mọi ngành nghề và các tầng lớp dân cư Các đối tượng nộp thuế bình đẳng về quyền và nghĩa vụ đối với việc nộp thuế, không một ai có những đặc quyền đặc lợi riêng Chính sách thuế không phân biệt, ưu tiên hay hạn chế giữa các thành phần kinh tế Mọi tổ chức, cá nhân đều phải chịu sự điều chỉnh giống nhau của Pháp luật thuế [10]
Thực hiện chức năng phân phối lại thu nhập quốc dân bằng các sắc thuế
và các mức thuế suất khác nhau đối với từng lĩnh vực, từng mức thu nhập Nhà nước thực hiện việc điều tiềt thu nhập giữa các thành phần kinh tế và các cá
Trang 21nhân trong xã hội Bằng cách đó, Nhà nước thu hẹp, rút ngắn khoảng cách chênh lệch quá mức về thu nhập giữa các bộ phận trong xã hội Người có thu nhập cao phải nộp thuế cao, người có thu nhập thấp nộp thuế thu nhập ít [17]
Nhưng đồng thời khuyến khích các doanh nghiệp, các cá nhân sản xuất kinh doanh giỏi, có hiệu quả bằng cách thừa nhận các khoản thu nhập hợp pháp của họ
Trong điều kiện kinh tế chưa phát triển, ý thức Pháp luật, tính tự giác của số lớn các đối tượng nộp thuế chưa cao Để đảm bảo sự công bằng về nghĩa vụ nộp thuế thì một việc hết sức quan trọng là phải tăng cường công tác quản lý thu thuế Thông qua việc kiểm tra, thanh tra việc chấp hành Pháp luật thuế phát hiện và xử lý nghiêm mọi hành vi vi phạm Pháp luật thuế Từ yêu cầu đó trong mọi luật thuế đều quy định rõ các biện pháp xử phạt, cưỡng chế Nhờ đó thuế đã góp phần tích cực trong việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế của các tổ chức, cá nhân trong xã hội Góp phần vào việc thực hiện công bằng xã hội nói chung
1.4 NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ
1.4.1 Khái niệm
Quản lý thuế là quá trình tổ chức, quản lý và kiểm tra việc thực hiện những quy định trong luật thuế nhằm huy động đầy đủ những khoản tiền thuế vào ngân sách nhà nước theo luật định [7][20]
1.4.2 Nội dung cơ bản của công tác quản lý thuế
1.4.2.1 Tổ chức bộ máy
Để thực hiện công tác quản lý thu thuế, trước hết bộ máy quản lý thuế phải được tổ chức thống nhất từ trung ương đến địa phương, mỗi bộ phận có chức năng riêng biệt, không chồng chéo đồng thời có sự phối hợp thống nhất chặt chẽ, hỗ trợ nhau trong công tác quản lý thu thuế
- Bộ máy thu thuế nhà nước được tổ chức thống nhất, thành hệ thống dọc từ Trung ương đến các Quận, Huyện Ở Trung ương có Tổng Cục Thuế thuộc Bộ Tài Chính Ở Tỉnh, Thành Phố, Đặc khu trực thuộc trung ương có
Trang 22Cục Thuế thuộc Tổng Cục Thuế đồng thời chịu sự chỉ đạo của UBND cùng cấp Ở các Huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh có Chi cục thuế chịu sự quản lý song trùng của Cục thuế và UBND huyện, thị cùng cấp Các đội thuế phường, xã trực thuộc chi cục quản lý và UBND phường, xã, thị trấn cùng cấp [6][40]
1.4.2.2 Chức trách, nhiệm vụ chủ yếu của cơ quan thuế các cấp
- Tổng Cục Thuế :
Đây là cơ quan thuế cao nhất trong hệ thống thu thuế nhà nước Cơ cấu gồm có: Các phòng chức năng và phòng nghiệp vụ được tổ chức theo các sắc thuế Tổng Cục Thuế có một số nhiệm vụ chủ yếu:
Một là, giúp Bộ Tài Chính soạn thảo các văn bản pháp qui về thuế và các khoản thu khác trình cơ quan chức năng có thẩm quyền ban hành và tổ chức thực hiện thống nhất các văn bản này trong cả nước Tổng Cục thuế cũng được quyền ban hành theo ủy quyền của Bộ Trưởng Bộ Tài Chính các văn bản về nghiệp vụ quản lý thu thuế và hướng dẫn cơ quan thuế cấp dưới thực hiện thống nhất
Hai là, hướng dẫn lập kế hoạch và tổng hợp kế hoạch thu thuế và thu khác trình Bộ trưởng Bộ Tài Chính xem xét để trình các cơ quan có thẩm quyền quyết định Tổng Cục thuế xem xét giao chỉ tiêu thu thuế và thu khác cho cơ quan thuế cấp dưới, hướng dẫn, chỉ đạo cấp dưới tổ chức thu thuế và thu khác trên địa bàn và đảm bảo thu đủ, kịp thời vào ngân sách nhà nước
Ba là, tổ chức thanh tra bộ máy thu thuế và các đối tượng nộp thuế; xử
Trang 23Hai là, trực tiếp thu thuế đối với các đối tượng nộp thuế Theo phân cấp hiện nay về công tác thu thuế thì Cục thuế trực tiếp thu thuế đối với các doanh nghiệp nhà nước trung ương đóng trên địa bàn, các doanh nghiệp nhà nước do tỉnh quản lý, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, ngoài quốc doanh thu theo phương pháp khấu trừ, lệ phí trước bạ và một số đơn vị thu khác ngân sách [31]
- Chi Cục Thuế
Về cơ cấu tổ chức, Chi Cục Thuế gồm các tổ chuyên môn, nghiệp vụ và các đội, tổ, trạm trực tiếp quản lý thu thuế Chi cục Thuế có các nhiệm vụ chủ yếu sau:
+ Lập kế hoạch thu thuế hàng năm, quý, tháng trên địa bàn
+ Tham gia với các cơ quan chức năng xét duyệt đăng ký kinh doanh, đăng ký nộp thuế Trực tiếp quản lý đăng ký tính thuế của các đối tượng nộp thuế do Chi cục quản lý
+ Tổ chức các biện pháp thu thuế: tính thuế lập sổ thuế, thông báo số thuế phải nộp; đôn đốc thực hiện đầy đủ, kịp thời mọi khoản thu vào Kho bạc nhà nước; xem xét và đề nghị xét miễn, giảm thuế và các khoản thu khác theo quy định của nhà nước; thực hiện thanh quyết toán kết quả thu thuế đến từng
hộ nộp thuế
+ Tổ chức kiểm tra chống khai man lậu thuế; kiểm tra và xử lý các vi phạm chính sách chế độ thuế; vi phạm kỷ luật trong nội bộ ngành thuế; giải quyết các đơn khiếu nại theo thẩm quyền và theo sự ủy quyền của cơ quan thuế cấp trên
+ Tổ chức công tác thống kê, kế toán, thông tin báo cáo tình hình và kết quả thu nộp thuế theo chế độ quy định
+ Quản lý kinh phí chi tiêu, trang phục, ấn chỉ của bộ máy thuế ở Quận, Huyện
Năm 1992, ngành thuế tập trung sắp xếp lại bộ máy Chi Cục Thuế theo chỉ thị 238 của Chính Phủ và thông tư số 64 của Bộ Tài Chính về việc thành
Trang 24lập các đội thuế Xã - Phường gắn với chính quyền cơ sở Đồng thời thực hiện qui trình thu thuế tách 3 bộ phận độc lập nhau : Bộ phận quản lý và đôn đốc thu nộp, bộ phận tính thuế lập bộ và bộ phận kiểm tra thanh tra
Việc gắn đội thuế phường, xã với chính quyền cơ sở đã có tác dụng tích cực trong việc điều tra lập bộ quản lý nguồn thu đầy đủ, sát thực tế và tổ chức hành thu kịp thời; chống thất thu về doanh số và số đối tượng nộp thuế; góp phần thực hiện sự công bằng hợp lý về mức thuế của các đối tượng nộp thuế, tăng cường mối quan hệ chặt chẽ giữa chính quyền và cơ quan thuế địa phương, đề cao trách nhiệm của chính quyền cơ sở đối với công tác thuế, vì vậy chất lượng và hiệu quả quản lý thu thuế đã được nâng lên rõ rệt [23][31]
1.5 Tổ chức quản lý thuế
Nhiệm vụ của công tác quản lý thuế là làm thế nào để quản lý tốt đối tượng nộp thuế, quản lý đối tượng tính thuế, tính thuế đúng và nộp thuế vào
ngân sách nhà nước kịp thời, đúng quy định
1.5.1 Quản lý đối tượng nộp thuế
Đối tượng nộp thuế là cá nhân, đơn vị, tổ chức có thu nhập có nhiệm vụ chuyển giao một bộ phận thu nhập của mình cho nhà nước thông qua việc đóng thuế Đối tưọng nộp thuế thưòng rất đông và đa dạng do đó công tác quản lý ĐTNT cũng phải tuỳ theo đặc điểm của đối tượng để quản lý Trong quản lý đối tượng nộp thuế, yêu cầu phải tổ chức lực lượng cán bộ trực tiếp hợp lý, nhất là đội thuế phường xã, số lượng đối tượng nộp thuế và các ngành nghề sản xuất, kinh doanh, dịch vụ để bố trí cán bộ phù hợp, có khả năng quản lý bao quát đến thôn, tổ dân phố, đường phố Trách nhiệm của cán bộ thuế phải nắm chắc tất cả các tổ chức, cá nhân đang hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trên địa bàn theo từng ngành nghề, quy mô kinh doanh, quan trọng là theo dõi cho được các biến động của các đối tượng kinh doanh: cơ sở mới phát sinh, đang tạm nghỉ, nghỉ hẳn, tái hoạt động, kinh doanh vãng lai, các hoạt động kinh doanh ngầm, các đối tượng xin nghỉ nhưng thực chất vẫn kinh doanh trốn thuế, kinh doanh không đúng ngành nghề theo giấy phép,
Trang 25hoạt động buôn lậu, gian lận thương mại Đây là khâu cơ bản trong công tác quản lý thu thuế
Hệ thống cấp mã số thuế của ngành thuế ra đời góp phần tích cực vào công tác quản lý thu thuế của ngành Mã số thuế là nhân tố cơ bản để ngành thuế thực hiện hiện đại hoá công tác quản lý thu thuế, quản lý chặt chẽ các đối tượng nộp thuế trên địa bàn toàn quốc và thực hiện đối chiếu chéo các hoạt động kinh doanh giữa các đối tượng nộp thuế nhằm phát hiện các trường hợp
kê khai sai để trốn lậu thuế hoặc đề nghị hoàn thuế sai Mặt khác, hệ thống mã
số thuế còn được sử dụng khai thác phục vụ cho công tác quản lý nhà nước [39],[43], [16]
1.5.2 Quản lý đối tượng tính thuế
Theo [1], [11] thì trong giai đoạn hiện nay, quản lý đối tượng tính thuế thật sự là một vấn đề khó khăn Để thực hiện tốt khâu quản lý này đòi hỏi phải
có các điều kiện sau:
+ Về phía quản lý nhà nước phải xây dựng các định mức (sản lượng, giá tính thuế, tỷ lệ động viên, mức thuế suất ) sát hợp theo từng ngành nghề, quy mô kinh doanh và điều kiện kinh doanh của từng địa phương, từng vùng kinh tế có tính chất hướng dẫn kinh doanh đồng thời giúp công tác quản lý kinh tế của nhà nước chặt chẽ hơn
+ Các tổ chức cá nhân kinh doanh phải chấp hành tốt pháp lệnh kế toán-thống kê, thực hiện tốt chế độ sổ sách kế toán và hạch toán kinh tế đầy đủ
+ Trong hoạt động kinh doanh phải thực hiện tốt chế độ hoá đơn, chứng
từ hợp pháp
+ Cán bộ thuế phải có trình độ nghiệp vụ giỏi, đồng thời phải am hiểu
về hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ của đối tượng nộp thuế để theo dõi quản lý chuẩn xác
+ Mọi sự vi phạm phải được xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật Các vấn đề trên tuy rằg pháp luật đều có quy định, nhưng thực chất sự chấp hành của các tổ chức, cá nhân kinh doanh chưa thật nghiêm túc: đối với
Trang 26doanh nghiệp nhà nước thì thực hiện khá chặt chẽ, nhưng đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh thì quá trình kinh doanh gắn với lợi ích cá nhân nên rất khó quản lý được doanh số tính thuế một cách đầy đủ [31][39]
1.5.3 Công tác tính thuế
Nếu quản lý tốt đối tượng nộp thuế, xác định đúng đối tượng tính thuế thì tính thuế sẽ dễ dàng Tuy nhiên việc xác định đối tượng tính thuế rất phức tạp, việc tính thuế, lập sổ thuế, tính thuế nợ, tính phạt, miễn giảm thuế, là công việc rất tốn nhiều công sức và rất dễ nhầm lẫn, gây thất thu thuế hoặc không công bằng trong đối tượng nộp thuế Cần phải cải tiến phương pháp tính thuế thủ công sang tự động hoá bằng máy vi tính và cập nhật kịp thời các thông tin về kết quả kinh doanh và khả năng nộp thuế của các tổ chức, cá nhân kinh doanh để tính thuế nhanh chóng, chuẩn xác, thông báo nộp thuế kịp thời đến đối tượng nộp thuế
Về phía đối tượng nộp thuế, do trình độ còn hạn chế và không đồng đều
do đó đòi hỏi cần phải có chính sách thuế đơn giản, rõ ràng, dễ hiểu và tạo điều kiện cho đối tượng nộp thuế tự kê khai, tự tính và tự nộp thuế vào ngân sách nhà nước
1.5.4 Nộp thuế vào ngân sách nhà nước
Nộp thuế vào ngân sách nhà nước kịp thời là kết quả sau cùng của công tác hành thu Đối với các doanh nghiệp tự kê khai, nộp thuế trực tiếp vào Kho bạc Nhà nước thì khâu kiểm tra tờ khai thuế cần được thực hiện nhanh và chuẩn xác để đối tượng nộp thuế trực tiếp nộp thuế vào Kho bạc Nhà nước Đồng thời cơ quan thuế phải cập nhật số liệu nộp thuế của từng đối tượng để nắm chắc thông tin, đôn đốc hoặc xử lý các trường hợp chậm nộp thuế
Đối với các hộ kinh doanh ngoài quốc doanh nộp thuế trực tiếp tại Kho bạc hoặc đội thuế thì công tác kiểm tra, đôn đốc nộp thuế khá vất vả, bởi vì số lượng đối tượng nộp thuế rất đông, việc thông báo thuế phải kịp thời đồng loạt và phải đến nơi kinh doanh đôn đốc nộp thuế Việc theo dõi cập nhật thông tin số liệu về ĐTNT thường không được kịp thời và chưa đầy đủ nên
Trang 27chậm xử lý các trường hợp chậm nộp thuế, trốn thuế có nhiều khả năng xảy
ra Từ sự chậm trể và xử lý vi phạm không nghiêm theo quy định của pháp luật thường xuyên như vậy, đã tạo thành thói quen cho đối tượng nộp thuế, làm giảm hiệu lực thi hành của luật thuế và dễ sinh ra tiêu cực trong công tác quản lý thu thuế Do đó cần có những quy định cụ thể và phối hợp với chính quyền địa phương xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm, đảm bảo thực thi chính sách thuế
1.5.5 Công tác thanh tra, kiểm tra chống thất thu thuế
Thanh tra, kiểm tra thuế nhằm thực hiện nhiệm vụ thu đúng, thu đủ, thu kịp thời vào ngân sách nhà nước đảm bảo công bằng xã hội, chống các hành
vi kinh doanh trái pháp luật, buôn lậu trốn thuế Giúp cho đối tượng nộp thuế thực hiện tốt các chính sách, pháp luật về thuế, đề ra những biện pháp chấn chỉnh kịp thời những sai sót của đối tượng nộp thuế, những thiếu sót về chính sách, chế độ thuế; đồng thời thấy được những ưu, nhược điểm trong quy trình quản lý thu thuế
Thật ra công tác quản lý thu thuế không chỉ là một số nghiệp vụ chủ yếu như nêu trên mà là cả một quy trình quan hệ phối hợp giữa sự lãnh đạo của chính quyền các cấp, giữa các Sở, Ngành và Cơ quan chức năng với cơ quan thuế trong tất cả các khâu công việc của công tác quản lý thu thuế đến từng đối tượng nộp thuế
1.6 CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ THU THUẾ
Để huy động một bộ phận GDP vào NSNN, đáp ứng nhu cầu chi tiêu cần thiết, Nhà nước cần ban hành các chính sách thuế (Hệ thống chính sách thuế) Nhưng muốn đưa các chính sách thuế vào đời sống xã hội phải thông qua hệ thống quản lý thuế để tổ chức thực thi các chính sách thuế Hệ thống quản lý thuế bao gồm: Cơ cấu tổ chức bộ máy,các quy trình quản lý về nghiệp
vụ và lực lượng đội ngũ cán bộ công chức
Giữa hai nội dung hệ thống chính sách thuế và hệ thống quản lý thuế luôn có mối quan hệ hữu cơ, hệ thống chính sách là cơ sở là tiền đề để hình
Trang 28thành hệ thống quản lý thuế và ngược lại hệ thống quản lý thuế là nơi tổ chức thực hiện các chính sách thuế là nơi đưa chính sách thuế đi vào cuộc sống và
từ đó phản ảnh những chính sách không phù hợp cần phải sửa đổi, phải bãi bỏ hay xây dựng ban hành chính sách mới Có hệ thống chính sách thuế tốt nhưng không có bộ máy quản lý tốt thì hiệu quả quản lý cũng không cao và ngược lại nếu có tổ chức bộ máy tốt nhưng không có hệ thông chính sách thuế hiệu quả, bao quát hết nguồn thu thì cũng không đảm bảo được yêu cầu đặt ra Trong thực tế người ta thường gọi hệ thống chính sách thuế và hệ thống quản
lý thuế là Hệ thống thuế hay gọi tắt là công tác quản lý thuế [36][43]
Để đánh giá một hệ thống thuế được coi là tích cực, hiệu quả hay không phải là một công việc dễ dàng Tuy nhiên, nếu xem xét các yêu cầu chung của sự phát triển nền kinh tế quốc dân, cũng như đòi hỏi một nền xã hội dân chủ trong việc xác lập một hệ thống thuế tích cực, phù hợp thì tất yếu phải đặt ra những tiêu thức cần thiết cho việc xây dựng một hệ thống thuế hiệu quả Adam Smit (1723-1790) – người đặt nền móng cho khoa học tài chính trong tác phẩm nền tảng của mình “Nghiên cứu về bản chất và nguyên nhân giàu có của nhân loại” đã vạch ra 4 nguyên tắc cơ bản xây dựng hệ thống thuế hợp lý đó là:
+ Thuế phải được huy động phù hợp với khả năng và sức lực của dân cư + Mức thuế và thời hạn thanh toán cần phải được xác định chính xác + Thời gian thu thuế cần phải được quy định thuận lợi đối với người nộp + Các chi phí để tổ chức thu nộp thuế cần phải thấp nhất
Trên cơ sở các nguyên tắc kể trên, các nhà kinh tế học hiện đại đã hoàn chỉnh, bổ sung nó và khái quát hóa thành những tiêu chuẩn đánh giá một hệ thống thuế tích cực, hiệu quả Từ đó các tiêu chuẩn đó trở thành kim chỉ nam trong việc xây dựng hệ thống thuế các quốc gia có nền kinh tế theo định hướng thị trường đó là: Hệ thống thuế phải đảm bảo công bằng, minh bạch, thuận lợi và hiệu quả [43]
Trang 29- Tính công bằng (về mặt xã hội tính công bằng còn mang ý nghĩa về đạo đức-pháp luật) : Tính công bằng là đòi hỏi khách quan trong tiến trình
phát triển của lịch sử Trong một xã hội dân chủ, tính công bằng cần phải được thực hiện trước hết đối với sự phân chia gánh nặng của thuế khóa Có công bằng trong việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế mới động viên các thành viên hăng hái hoạt động sản xuất kinh doanh, giữ vững được thể chế chính trị Tuy nhiên cho đến nay, tiêu thức để đánh giá tính công bằng của một hệ thống chính sách thuế cũng đang có nhiều ý kiến khác nhau Các nhà kinh tế cho rằng tính công bằng của thuế khóa phải dựa trên nguyên tắc công bằng theo chiều ngang và nguyên tắc công bằng theo chiều dọc [43]
Hệ thống thuế được coi là công bằng theo chiều ngang : Nếu các cá nhân về mọi mặt đều như nhau thì được đối xử ngang nhau trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế Tuy nhiên trong thực tế nguyên tắc này tỏ ra khó áp dụng bởi vì nó không chỉ rõ tiêu thức nào xác định hai cá nhân như nhau, mặt khác
nó cũng không nói rõ việc đối xử như nhau trong việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế là như thế nào
Hệ thống thuế được coi là công bằng theo chiều dọc, nếu người có khả năng nộp thuế nhiều hơn thì phải nộp thuế cao hơn người khác Trong thực tế
để áp dụng nguyên tắc này cần xác định rõ hai vấn đề : tiêu thức xác định khả năng và mức độ nộp thuế cao hơn
- Tính chính xác (hay còn gọi là tính minh bạch) : Một hệ thống thuế
chính xác thể hiện sự rõ ràng và minh bạch, trước hết phải chỉ rõ ai chịu thuế, mức thuế phải nộp và thời hạn nộp thuế
Theo quan điểm này, trên thực tế thu nhập cá nhân là loại thuế minh bạch rõ ràng, còn thuế thu nhập công ty là loại thuế tồi, bởi vì người nộp thuế
là công ty song người chịu thuế cuối cùng là các cổ đông và họ không biết rõ phần thuế mà mình phải chịu bao nhiêu
Nói chung hệ thống thuế không chính xác, rõ ràng và minh bạch sẽ gây khó khăn cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước
Trang 30- Tính thuận tiện: Tính thuận tiện thể hiện sự dễ hiểu, dễ thực hiện, dễ
quản ly và khả năng thích ứng một cách dễ dàng của hệ thống thuế với những hoàn cảnh kinh tế thay đổi [31]
Nếu hệ thống thuế dễ có khả năng thích ứng thì mới phát huy được chức năng điều chỉnh của nó Hệ thống thu nhập là hệ thống có khả năng điều chỉnh tự động với sự biến đổi của hoàn cảnh kinh tế Khi nền kinh tế thịnh vượng thì thu nhập tăng lên và từ đó số thuế đang thu trên thu nhập sẽ tăng Ngược lại, khi nền kinh tế suy thoái, thu nhập giảm thì số thuế thu nhập sẽ giảm Đôi khi tính chất điều chỉnh tự động này không có tác động mạnh đối với sự biến đổi nền kinh tế, bắt buộc các Chính phủ phải chủ động điều chỉnh các loại thuế và thuế suất Song sự điều chỉnh này chỉ có tác dụng tích cực khi thời điểm điều chỉnh phù hợp với thời điểm thay đổi hiện trạng của nền kinh tế Để đảm bảo được yêu cầu này mà không vi phạm nguyên tắc đã định, trong việc xây dựng hệ thống thuế cơ quan lập pháp chỉ ấn định khung thuế suất, việc tăng giảm thuế suất cụ thể thuộc về cơ quan hành pháp Có như vậy, mới đảm bảo cho hệ thống thuế thích ứng với hoàn cảnh kinh tế
- Tính hiệu quả : hệ thống thuế phải đảm bảo tính hiệu quả xét trên các
mặt sau đây :
Thứ nhất, hiệu quả đối với nền kinh tế là lớn nhất
Xét trên phương diện kinh tế, hành vi đánh thuế của Chính phủ bao giờ cũng ảnh hưởng đến việc phân bổ nguồn lực của xã hội và chịu sự chi phối của hai tác nhân có xu hướng vận động không đồng nhất là : Nhà nước và các lực lượng thị trường
Sự phân bổ nguồn lực dưới tác động của thị trường thường dựa trên yêu cầu của các quy luật kinh tế thị trường, còn sự phân bổ các nguồn lực dưới tác động của Nhà nước thường dựa trên yêu cầu của xã hội và yêu cầu của quản
lý, điều chỉnh theo chức năng của Nhà nước Nói chung sự phân bổ nguồn lực dưới tác động của các lực lượng thị trường thường đạt được tính hiệu quả cao Tuy nhiên do động cơ chủ yếu là lợi nhuận nên xét ở tầm vĩ mô, việc phân bổ
Trang 31nguồn lực dưới tác động của các lực lượng thị trường, trong nhiều trường hợp không hoàn toàn mang lại hiệu quả chung cho nền kinh tế quốc dân Bởi vậy, tất yếu cần phải có sự kết hợp và can thiệp của các hệ thống phân bổ nguồn lực của Nhà nước, trong đó có công cụ thuế để điều chỉnh các xu hướng vận động khác nhau nhằm đảm bảo hiệu quả chung của nền kinh tế thị trường
Như vậy tính hiệu quả kinh tế của thuế phải được xem xét trên hai góc độ: giảm tối thiểu những tác động tiêu cực của thuế trong phân bổ nguồn lực vốn đã đạt được hiệu quả dưới tác động của lực lượng thị trường; tăng cường vai trò của thuế đối với việc phân bổ nguồn lực chưa đạt được hiệu quả
Thứ hai, hiệu quả tổ chức thu thuế là lớn nhất
Điều đó thể hiện ở chỗ, tổng số thuế thu được nhiều nhất với chi phí tổ chức thu thuế là thấp nhất Trên thực tế khi thu thuế bao giờ cũng phát sinh chi phí, đó là các khoản chi phí trực tiếp quản lý của cơ quan thuế và những chi phí gián tiếp do người nộp thuế gánh chịu Tính hiệu quả của thu thuế thể hiện: thuế thu được nhiều nhất trên cơ sở chi phí trực tiếp của cơ quan thuế và chi phí gián tiếp của người nộp thuế là thấp nhất
Các khoản chi phí trên gọi là phí hành chính và sự tăng hay giảm các khoản chi phí này phụ thuộc vào:
+ Tính phức tạp hay đơn giản của hệ thống chính sách thuế
+ Số lượng và mức độ phân biệt của thuế suất đối với đối tượng nộp thuế cũng như cơ sở tính thuế
+ Sự lựa chọn các loại thuế : Nói chung các loại thuế có cơ sở tính thuế phức tạp, yêu cầu quản lý cao thường có chi phí hành chính lớn
+ Hệ thống quản lý thuế: Nôi dung cơ bản của hệ thống quản lý thuế bao gồm: Xây dựng cơ cấu tổ chức các cơ quan từ trung ương đến địa phương hình thành một bộ khung cho toàn bộ guồng máy hoạt động, xây dựng hệ thống các quy định, quy trình quản lý về nghiệp vụ và về quan hệ giữa các bộ phận, các cơ quan trong toàn bộ máy và xây dựng một đội ngũ lực lượng cán
bộ đủ về số lượng, có phẩm chất đạo đức, năng lực chuyên môn nghiệp vụ,
Trang 32trình độ kiến thức lý luận và kiến thức khoa học kỹ thuật Cả 3 nội dung đó phải thống nhất chặt chẽ, không chồng chéo, trùng lắp Đây là yếu tố quan trọng mang tính chủ quan của con người do đó thường ảnh hưởng đến chi phí hành chính thuế làm giảm thiểu tính hiệu quả của công tác quản lý thuế
Nhằm giảm bớt chi phí hành chính đòi hỏi hệ thống thuế phải đơn giản Mặt khác hệ thống thuế có đơn giản, dễ hiểu thì việc quản lý, kiểm tra kiểm soát của nhà nước đối với người nộp thuế mới dễ dàng, thuận lợi
Thứ ba, hiệu quả xã hội cao nhất: Đảm bảo giải quyết tối ưu các chính
sách xã hội.Điều này thường được thể hiện trong các chính sách thuế do nhà nước ban hành
* Vận dụng ở điều kiện ở nước ta hiệu quả của công tác thuế thể hiện:
- Đảm bảo huy động thu nhập Quốc dân (GDP) vào ngân sách nhà nước chiếm tỷ trọng khoảng từ 19%-22% Đồng thời tạo điều kiện để người nộp thuế, người chịu thuế có điều kiện mở rộng phát triển sản xuất kinh doanh, nâng cao thu nhập và mức sống (gánh nặng về thuế vừa phải mà dân chúng có thể thực hiện được và tự nguyện thực hiện)
- Chi phí quản lý thuế/1 đồng tiền thuế nộp vào Ngân sách nhà nước là thấp nhất.Chi phí quản lý thuế được thể hiện trên hai mặt:
Một mặt là chi phí của cơ quan thuế: Bao gồm toàn bộ các khoản chi để duy trì cho sự tồn tại, vận hành của bộ máy quản lý thuế, chi phí cho công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật về thuế, chi phí cho việc đào tạo nguồn lực, chi cho các hoạt động phối hợp hổ trợ thực hiện nhiệm vụ thu thuế In ấn tài liệu ấn phẩm Mặt khác đó là chi phí của người nộp thuế như: Chi phí cho việc kê khai, tính thuế, nộp thuế, quyết toán thuế Chi phí quản lý thuế là khoản tiêu hao cho quá trình quản lý Do vậy, nếu ban hành một sắc thuế tăng
số thu vào Ngân sách nhà nước nhưng tỷ lệ chi phí trên 1 đồng tiền thuế thu vào Ngân sách nhà nước với tốc độ cao hơn tốc độ tăng thu thì chưa thể coi là chính sách thuế có hiệu quả
Trang 33Trên góc độ này, nếu ta gọi Z là số tiền chi phí cho công tác quản lý thuế, bao gồm : chi phí cho con người (ký hiệu là V) như: lương, phụ cấp theo lương, thưởng và các khoản chi đảm bảo hoạt động quản lý thu thuế (ký hiệu
là C) bao gồm: chi hoạt động thường xuyên, chi nghiệp vụ phí; chi mua sắm trang thiết bị; K là số thuế thu được hàng năm và P là hiệu quả công tác quản
lý thuế thì hiệu quả công tác quản lý thuế được thể hiện bằng công thức:
K
P = - (Đơn vị tính : lần)
Z
P cho ta thấy được là chi ra 1 đồng cho công tác quản lý thuế thì thu về
được bao nhiêu đồng tiền thuế
Và
K
P/v = - (Đơn vị tính : lần)
V
P/v cho ta thấy được là chi ra 1 đồng cho con người làm công tác quản
lý thuế thì thu về bao nhiêu đồng tiền thuế cho Ngân sách
1.7 NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC THU THUẾ
Hiện nay, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội mà Đảng đề ra trong giai đoạn 2011 – 2020 là:
Trang 34“ Đưa nước tar a khỏi tình trạng kém phát triển; nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng để đến năm
2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại hóa Nguồn lực con người, năng lực khoa học và công nghệ, kết cáu hạ tầng, tiềm lực kinh tế, quốc phòng an ninh được tăng cường; thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được hình thành về cơ bản; vị thế của nước ta trên trường quốc tế nâng cao “
Mục tiêu đến năm 2020 là: “ Để Việt Nam trở thành một nước công nghiệp sau 20 năm nữa đòi hỏi nền kinh tế phải đạt tăng trưởng cao một cách bền vững trên 8% trong một thời gian dài và hướng tới mước tăng trưởng bình quân hai con số/năm; cơ cấu kinh tế (tính theo GDP) tiên tiến với công nghiệp chiếm 45-50%, dịch vụ chiếm 40-50%, tích lũy từ nội bộ nền kinh tế đạt trên 30%/GDP, xuất khẩu tăng với tốc độ gấp 1,5 lần trở lên so với tốc độ tăng GDP Chất lượng cuộc sống vật chất và văn hóa ngày càng tăng cao theo hướng văn minh hiện đại, nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật của mọi người dân trong xã hội được nâng cao Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được hoàn thiện cơ bản và chủ động hội nhập kinh tế với thế giới một cách có hiệu quả.”
Muốn thực hiện được chiến lược trên thì Nhà nước phải có chính sách thuế hợp lí Chính sách đó vừa đảm bảo nguồn thu cho Nhà nước vừa “vừa sức” với các doanh nghiệp, hộ kinh doanh, người dân nói chung
1.7.1.2 Kinh tế - xã hội của đất nước
Bên cạnh chính sách phát triển kinh tê – xã hội của Đảng và Nhà nước, thực trạng tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước cũng là một nhân
tố làm ảnh hưởng đáng kể tới sự thực thi pháp luật Thuế ở Việt Nam hiện nay
Thuế có vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh nền kinh tế Thuế có ảnh hưởng trực tiếp đến giá cả và thu nhập nên căn cứ vào từng tình hình huống kinh tế, Nhà nước có thể sử dụng thuế làm công cụ điều chỉnh nền kinh
tế Các qui định về đối tượng, phạm vi đánh thuế, thuế suất, điều kiện miễn
Trang 35giảm thuế…Xét về hiện tượng thì mang tính cưỡng chế nhưng bản chất là để điều chỉnh quan hệ kinh tế nhất định, nhằm khuyến khích hay hạn chế đầu tư vào ngành nghề, sản phẩm hoặc dịch vụ nào đó Bởi đơn giản là, người nộp thuế sẽ thấy đầu tư vào đâu thì có lợi hơn
Việc thực thi thuế là nhằm những mục đích về kinh tế - xã hội Vì vậy, sự phát triển của nền kinh tế - xã hội sẽ có những tác động nhất định tới việc thực thi luật thuế Hiện nay, nước ta đang bước vào nền kinh tế thị trường với những thành tựu đáng kể Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước đạt 5,8% gấp 1,9 lần tốc độ tăng trưởng 2011 Đáng chú ý là sự phục hồi diễn ra ở hầu hết các ngành, các lĩnh vực kinh tế then chốt: Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 5,8%; giá trị sản xuất công nghiệp tăng 13,6%; thị trường trong nước tiếp tục phát triển ổn định với tốc độ tăng trưởng cao, trong đó tổng mức bán lẻ hang hóa dịch vụ tiêu dung theo giá thực tế tăng 24,1%, hoạt động du lịch sôi nổi, lượng khách quốc tế đến Việt Nam tăng 36,2% so cùng kì các năm trước; thực hiện vốn đầu tư toàn xã hội ước tính tăng 26,23% so với cùng kì năm trước đặc biệt là khu vực ngoài nhà nước tăng tới 46,38%
Như vậy, nhìn một cách tích cực, mọi mặt của đời sống, kinh tế, xã hội đều có sự tiến bộ rõ rệt Ngày càng có nhiều hang hóa, dịch vụ được sinh ra
Từ quá trình sản xuất đến lưu thông, hang hóa và dịch vụ này đều có sự tăng thêm đáng kể về giá trị Vì thế, về phía Nhà nước, khoản thuế thu thêm sẽ ngày càng tăng Bởi lẽ, người tiêu dung có đời sống khá giả hơn, sẵn sàng bỏ
ra khaonr tiền lớn để mua những hàng hóa đã được tính thuế Về phía đối tượng nộp thuế, họ sẽ thực thi pháp luật thuế hiệu quả hơn nếu như bước vào nền kinh tế thị trường, nền kinh tế phát triển Do trong môi trường này, uy tín của, một doanh nghiệp sẽ ngày càng càng chiếm vị trí quan trọng trên thương,
nó còn cao hơn cả những món lợi nhất thời mà DN có thể thu đc từ trốn thuế
Nếu tình hình kinh tế - xã hội khó khăn thì việc thực thi pháp luật thuế
sẽ có thể theo chiều hướng xấu Lúc đó, sự làm ăn gặp nhiều khó khăn hơn thì
có thể lợi nhuận, tiền bạc mới là cái các DN cần hàng đầu Điều này rất dễ
Trang 36xảy ra nếu tình hình đất nước phát triển giống như những tháng đầu năm 2010: “ Việc huy động vốn cho đầu tư và sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn, nhất là vốn tín dụng với lãi xuất có xu hướng tăng khi phải vay với lãi xuất thỏa thuận Hiệu quả đầu tư và hiệu quả sản xuất kinh doanh còn thấp, trong khi đó áp lực cạnh tranh của nước ngoài trên thị trường quốc tế và cả ở thị trường trong nước ngày càng gay gắt hơn.”
1.7.1.3 Yêu cầu thu ngân sách Nhà nước
Thuế là nguồn thu chủ yếu của NSNN Một nền tài chính quốc gia lành mạnh phải dựa chủ yếu vào nguồn thu từ nội bộ nền kinh tế quốc dân
Hiện nay, nguồn thu từ nước ngoài đã giảm nhiều, kinh tế đối ngoại chịu sức ép của quan hệ “ mua bán sòng phẳng”, “ có vay có trả”, thuế là công
cụ quan trọng góp phần tích cực giảm bội chi NSNN, giảm lạm phát, ổn định kinh tế - xã hội, chuẩn bị điều kiện cho phát triển kinh tế đất nước lâu dài
Một nhà nước cần một nguồn thu lớn để vận hành bộ máy nhà nước và thực hiện những công việc của đất nước thì các loại thuế sẽ được đặt ra càng nhiều Mặt khác, nếu nhu cầu thu cao thì nhà nước cần phải thiết lập một bộ máy thực thi việc thu thuế có hiệu quả, từ đó cũng phần nào tránh được việc trốn thuế, gian lận thuế
Hệ thống thuế mang tính chấp vá, chồng chéo, thiếu căn cứ kinh tế, có thể vừa gây lạm thu, vừa gây thất thu lớn cho ngân sách nhà nước Ngược lại,
hệ thống chính sách thuế khoa học, đơn giản, dễ hiểu và ổn định trong thời
Trang 37gian dài tạo điều kiện nâng cao hiểu biết và nhận thức về nghĩa vụ công dân đối với thuế, tranh thủ được sự đồng tình ủng hộ rộng rãi của các tầng lớp dân
cư và tự giác chấp hành luật thuế, từ đó tác dụng thúc đẩy hạch toán kinh tế, thực hiện nghiêm chế độ kế toán, hoá đơn chứng từ [31]
1.7.2.2 Tổ chức bộ máy quản lý thuế
Yếu tố này có vai trò quan trọng mang tính quyết định cho việc thực thi chủ trương, chính sách, bảo đảm thắng lợi cho công cuộc cải cách thuế Hệ thống bộ máy quản lý thuế phải được kiện toàn, củng cố để có đủ điều kiện thực hiện có hiệu quả các chức năng, nhiệm vụ của cả hệ thống thuế Bộ máy quản lý thuế phải thống nhất từ trung ương đến địa phương, bảo đảm hiệu lực của cả hệ thống trong quá trình triển khai hệ thống chính sách thuế mới [2], [29]
Phẩm chất cách mạng và năng lực toàn diện của các cán bộ quản lý thuế phải được nâng cao về quan điểm, lập trường, đạo đức, về trình độ nghiệp vụ thuế, về khả năng tổ chức quản lý, thông thạo về kế toán, kiểm toán, có trình độ ngoại ngữ, biết sử dụng vi tính phù hợp với sự phát triển của ngành và đáp ứng được yêu cầu quản lý ngày càng cao trong tình hình hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ ngày càng đa dạng và phức tạp [41]
1.7.2.3 Quy trình quản lý thu nộp thuế
Đây chính là cơ chế vận hành hết sức quan trọng trong quá trình tổ chức quản lý, hành thu Cần thiết phải xây dựng một quy trình quản lý, thu nộp thuế, quyết toán thuế chặt chẽ từ khâu quản lý đối tượng nộp thuế, lập bộ thuế và thông báo thuế, tổ chức thu nộp qua hệ thống kho bạc, theo dõi chấm
bộ thuế, quyết toán và xử lý nợ đọng, xem xét miễn giảm thuế, báo cáo cung cấp thông tin trong hệ thống
Mỗi đối tượng quản lý thuế, chẳng hạn đối tượng thực hiện thu theo phương pháp khấu trừ, phương pháp kê khai hay khoán thuế hoặc theo từng sắc thuế như thuế nông nghiệp, thuế nhà đất, đều phải xây dựng một quy trình cụ thể, chặt chẽ theo nguyên tắc “khép kín”, có sự độc lập của từng
khâu, kiểm tra giám sát lẫn nhau [40]
Trang 381.7.2.4 Công tác tin học
Khối lượng công việc quản lý hành thu thuế là rất lớn, chi phí rất cao
và ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả thu ngân sách nhà nước Phương pháp càng tiến bộ thì kết quả quản lý thu thuế càng cao Do vậy, việc ứng dụng công nghệ tin học là một khả năng tốt nhất có tác dụng mạnh trong việc đẩy mạnh cải cách thuế và phát huy những tiến bộ của ngành thuế trong công tác quản lý và hành thu thuế hiện nay [19], [20]
Đặc điểm của công tác quản lý thuế là phải quản lý trực tiếp đến từng đối tượng nộp thuế theo nhiều loại sắc thuế với số lượng đối tượng nộp thuế rất lớn mà theo quy định thì tất cả các chứng từ hoạt động kinh doanh, kê khai nộp thuế, căn cứ tính thuế, thông báo thuế phải lưu giữ là nguyên tắc bắt buộc Do vậy, nếu làm bằng phương pháp thủ công thì sẽ cần rất nhiều nhân lực và chi phí cao Mặt khác, sự sai sót, chậm trễ trong việc tính thuế và cung cấp thông tin để chỉ đạo hành thu sẽ có nhiều khả năng tạo ra kẽ hở để thất thu thuế, tiêu cực trong công tác quản lý thu thuế Nếu ứng dụng tốt công tác tin học sẽ tự động hoá các khâu công việc trên và theo một quy trình chặt chẽ sẽ nâng cao tính pháp lý và hiệu quả sẽ rất tốt trong công tác quản lý hành thu thuế hiện nay [40]
1.7.3.5 Công tác tuyên truyền chính sách thuế
Các chính sách chế độ, luật, pháp lệnh về thuế chỉ có thể thực thi một cách đầy đủ, thống nhất khi công tác phổ biến giáo dục được triển khai sâu rộng trong quảng đại quần chúng Mọi tổ chức, cá nhân cần phải biết đầy đủ các quy định, những việc phải làm và mức độ sẽ bị xử lý đối với từng hành vi trốn lậu thuế, không chấp hành nghiêm việc kê khai, đăng ký thuế; vi phạm về
sử dụng hoá đơn chứng từ, sổ sách kế toán, dây dưa nợ đọng trốn thuế Tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về thuế còn có ý nghĩa nâng cao tính tự giác, ý thức về nghĩa vụ của công dân đối với nhà nước và sự kiểm tra giám sát của xã hội đối với việc thực thi các chính sách, pháp luật về thuế,
đảm bảo tính công khai, công bằng xã hội [40]
Trang 391.7.3.6 Sự phối hợp giữa các ban ngành chức năng
Thuế là một trong những chính sách lớn của Đảng, Nhà nước Là công
cụ quan trọng để Nhà nước quản lý kinh tế, quản lý xã hội hay nói một cách khác thuế là một phạm trù kinh tế - chính trị tổng hợp, do đó thực hiện chính sách thuế không phải là công việc đơn phương của ngành thuế Cần có sự phối hợp với các đoàn thể và cơ quan có liên quan để triển khai đồng bộ việc thi hành chính sách thuế với các chính sách khác và quản lý kinh tế- xã hội trên địa bàn [11]
Cần phát huy chức năng của các toà án hành chính kinh tế trong việc giải quyết các tranh chấp giữa cơ quan thuế và người nộp thuế bảo đảm tính khách quan trong việc thực hiện đầy đủ các quy định về thuế của nhà nước [36]
+ Trình độ nhận thức và ý thức chấp hành luật thuế của nhân dânNhà nước đưa được công tác thuế vào quần chúng nhân dân là công việc rất quan trọng góp phần phát huy tác dụng của chính sách thuế; nâng cao tính pháp lý của hệ thống chính sách thuế; giáo dục tính tự giác về nghĩa vụ nộp thuế và quyền lợi được hưởng về thuế, tạo điều kiện giúp thuế trở thành công cụ mạnh mẽ trong trong điều khiển kinh tế quốc gia Nếu trình độ nhận thức và ý thức chấp hành thuế của quần chúng nhân dân cao sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý thuế đồng thời qua sự phản hồi những vấn đề bất hợp lý sẽ góp phần hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về thuế [36]
Tóm lại, công tác quản lý thu thuế có nhiều nhân tố tác động, chúng ta cần chú trọng đến những nhân tố cơ bản nhất, nhưng cũng không nên bỏ qua những yếu tố khác về kinh tế-xã hội và tác động của môi trường
1.8 KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ
1.8.1 Anh quốc
Năm 1996, Cơ quan thu nội địa Anh đã đưa vào áp dụng cơ chế tự kê khai, tự nộp thuế (TKTN) TKTN tác động tới hơn 8 triệu đối tượng nộp thuế
Trang 40cá nhân, chủ yếu là các đối tượng làm thuê và tự kinh doanh với các công việc rất phức tạp, 700 000 tổ chức hợp danh và 300 000 quĩ tín thác
Về trách nhiệm tính thuế:
Thay đổi lquân trọng nhất của cơ chế là chuyển trách nhiệm xác định
số thuế phải nộp từ cơ quan thuế sang thành trách nhiệm của đối tượng nộp thuế (đối tượng nộp thuế phải chịu trách nhiệm tự khai, tự tính, tự nộp) [42]
a) Công tác quản lý thuế theo chức năng trong cơ chế tự kê khai, tự nộp thuế
* Công tác tuyên truyền hỗ trợ ĐTNT
Công tác tuyên truyền, hỗ trợ ĐTNT đóng vai trò quan trọng hàng đầu,
là nhiệm vụ cơ bản của cơ quan thuế, nên số cán bộ làm công tác này là rất lớn chiếm khoảng 28% số cán bộ toàn ngành thuế Tuy nhiên, xu hướng ngày càng giảm số cán bộ xuống do việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật như điện thoại, internet vv nên công tác dịch vụ được thuận lợi hơn
Cơ sở vật chất để thực hiện công tác hỗ trợ: được bố trí rất thuận tiện
cho người nộp thuế, là nơi tiếp nhận các loại văn bản giấy tờ gửi đến cơ quan thuế, được trang bị máy tính nối mạng để người nộp thuế có thể truy cập tìm hiểu chính sách thuế
10 giờ tối hàng ngày (trừ lễ giáng sinh, ngày bán hàng hạ giá và năm mới)
- Tiến hành các chiến dịch tuyên truyền toàn quốc qua các phương tiện phát thanh, truyền hình và internet, hoặc tại các địa điểm hỗ trợ của cơ quan thuế; cơ quan thuế có thể mở cửa tiếp khách hàng tại các trung tâm hỗ trợ cả
7 ngày trong tuần và 24 giờ trong ngày