1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

quy hoạch phát triển mạng lưới khám, chữa bệnh tỉnh nghệ an giai đoạn 2014 - 2025

75 350 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 861,16 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong đó: - Dịch vụ y tế công cộng là các dịch vụ mà lợi ích của những dịch vụ này không chỉ giới hạn ở việc cung ứng trực tiếp dịch vụ khám, chữa bệnh cho người sử dụng mà còn cung ứng

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan: Khóa luận “Quy hoạch phát triển mạng lưới khám, chữa bệnh tỉnh Nghệ An giai đoạn 2014 - 2025” là do bản thân tôi nghiên cứu, sưu tầm tài liệu và xây dựng với sự giúp đỡ của giáo viên hướng dẫn là Thầy Hoàng Sỹ Động

Hà Nội, ngày 21 tháng 05 năm 2014

Tác giả

Trần Thị Thái

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian qua, với sự hướng dẫn tận tình của Thầy Hoàng Sỹ

Động em đã cố gắng để hoàn thành tốt bài khóa luận với đề tài : „’Quy hoạch phát triển mạng lưới khám, chữa bệnh tỉnh Nghệ An giai đoạn 2014-2025”

Do trình độ lý luận cũng như kinh nghiệm thực tế còn hạn chế nên bài khóa luận khó tránh khỏi thiếu sót, rất mong thầy cô và các bạn góp ý để bài khóa luận của em thêm hoàn thiện

Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến thầy Hoàng Sỹ Động cùng các bạn đã giúp đỡ em trong việc nghiên cứu, chỉnh sửa, đánh giá bài khóa luận

để em có thể đạt được kết quả tốt Qua sự hướng dẫn của thầy em đã phần nào hiểu được cách thức trình bày một bài khóa luận hoàn chỉnh với cách sắp xếp các mục, số liệu một cách chặt chẽ, câu chữ trình bày ngắn gọn, súc tích và dễ hiểu Cũng nhờ vậy mà em có thể nâng cao được khả năng phân tích, tổng hợp thông tin – một trong những kĩ năng rất quan trọng cho sinh viên chuẩn

bị ra trường như em

Em xin chân thành cảm ơn Thầy!

Trang 3

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ DỊCH VỤ Y TẾ VÀ QUY

HOẠCH Y TẾ 5

1.1 Dịch vụ y tế 5

1.1.1 Khái niệm 5

1.1.2 Đặc điểm 7

1.1.3 Phân loại dịch vụ y tế 8

1.1.4 Khu vực cung cấp dịch vụ y tế 10

1.2 Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về quy hoạch y tế 11

1.2.1 Khái niệm quy hoạch ngành, lĩnh vực và quy hoạch y tế 11

1.2.2 Sự cần thiết phải phát triển quy hoạch y tế ở Việt Nam 12

1.2.3 Tình hình quy hoạch y tế Việt Nam những năm gần đây và một số kinh nghiệm phát triển y học của các nước trên thế giới 13

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN MẠNG LƯỚI KHÁM, CHỮA BỆNH TỈNH NGHỆ AN ĐẾN NĂM 2013 21

2.1 Tình hình hoạt động y tế của tỉnh Nghệ An đến năm 2013 21

2.1.1 Công tác phòng chống dịch bệnh 21

2.1.2 Công tác khám, chữa bệnh - Phục hồi chức năng 21

2.1.3 Thực hiện Chương trình mục tiêu y tế quốc gia 24

2.2 Thực trạng phát triển mạng lưới khám, chữa bệnh tỉnh Nghệ An đến năm 2013 28

2.2.1 Phát triển hệ y tế công lập 28

2.2.2 Mạng lưới khám, chữa bệnh – phục hồi chức năng 30

2.2.3 Phát triển mạng lưới phân phối thuốc, công nghiệp dược 33

2.2.4 Cơ sở vật chất và công suất sử dụng giường bệnh 33

2.2.5 Đánh giá chung về mạng lưới khám, chữa bệnh tỉnh Nghệ An đến năm 2013 35

Trang 4

2.2.6 Những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức của mạng lưới

khám, chữa bệnh tỉnh Nghệ An trong những năm qua 46

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP THỰC HIỆN QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN MẠNG LƯỚI KHÁM, CHỮA BỆNH TỈNH NGHỆ AN GIAI ĐOẠN 2014 – 2025 49

3.1 Quan điểm và mục tiêu quy hoạch mạng lưới khám, chữa bệnh 49

3.1.1 Quan điểm quy hoạch 49

3.1.2 Mục tiêu quy hoạch 49

3.2 Định hướng phát triển mạng lưới khám, chữa bệnh tỉnh Nghệ An trong giai đoạn 2014 - 2025 51

3.2.1 Phát triển mạng lưới y tế dự phòng 51

3.2.2 Phát triển mạng lưới khám, chữa bệnh - phục hồi chức năng 53

3.2.3 Phát triển mạng lưới lưu thông, phân phối thuốc, kiểm soát chất lượng thuốc và trang thiết bị y tế 57

3.2.4 Phát triển các mô hình y tế cộng đồng khác 58

3.2.5 Phát triển công nghiệp sản xuất thuốc và nguyên liệu làm thuốc 59

3.2.6 Phát triển mô hình y tế Viện - Trường trong đào tạo, nghiên cứu khoa học và chăm sóc sức khỏe nhân dân 59

3.3 Các giải pháp thực hiện quy hoạch mạng lưới khám, chữa bệnh tỉnh Nghệ An trong giai đoạn 2014 - 2025 60

3.3.1 Giải pháp về tài chính và đầu tư 60

3.3.2 Giải pháp cải cách hành chính 61

3.3.3 Giải pháp phát triển khoa học và công nghệ, bảo vệ môi trường 62

3.3.4 Phát triển nguồn nhân lực 63

3.3.5 Một số giải pháp khác 63

KẾT LUẬN 67

TÀI LIỆU THAM KHẢO 68

Trang 5

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

ATVSTT : An toàn vệ sinh thực phẩm BHYT : Bảo hiểm y tế

BSGĐ : Bác sĩ gia đình BVĐK : Bệnh viện Đa khoa CSSK : Chăm sóc sức khỏe DSĐH : Dược sĩ Đại học DS/KHHGĐ : Dân số/Kế hoạch hóa gia đình ĐKKV : Đa khoa khu vực

GB : Giường bệnh GDSK : Giáo dục sức khỏe KCB : Khám chữa bệnh NSNN : Ngân sách nhà nước HNĐK : Hữu nghị Đa khoa TYT : Trạm y tế

TW : Trung Ương VSATTP : Vệ sinh An toàn thực phẩm PKĐKKV : Phòng khám Đa khoa khu vực UBND : Ủy ban Nhân dân

YHCT : Y học cổ truyền YTDP : Y tế dự phòng

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Sơ đồ 1.1: Biểu thị nội hàm khái niệm quy hoạch 11

Sơ đồ 1.2: Biểu thị quy trình quy hoạch 12

Bảng 2.1: Kết quả thực hiện các chỉ tiêu 41

Bảng 3.1: Một số chỉ tiêu y tế cơ bản 53

Bảng 3.2: Dự kiến giường bệnh năm 2014 54

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Trong nhiều năm qua nước ta nói chung và tại tỉnh Nghệ An nói riêng

đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, thể hiện bằng việc huy động các nguồn lực cho nền y tế,

đa dạng hóa các loại hình chăm sóc sức khỏe; phát huy tính chủ động, sáng tạo của các địa phương, các ngành, các đoàn thể xã hội và toàn dân vào nhiệm

vụ chăm lo sức khỏe

Tỉnh Nghệ An đã rất chú trọng đến việc phát triển quy hoạch mạng lưới khám, chữa bệnh trong những năm qua và đã đạt được nhiều bước chuyển biến tích cực cho nền y tế của tỉnh Mạng lưới y tế ngày càng được củng cố và phát triển, nhiều cơ sở y tế mới được quy hoạch, xây dựng với đội ngũ cán bộ

y tế có trình độ chuyên môn ngày càng được tập trung, chú trọng để nâng cao trình độ; các dịch vụ y tế ngày một đa dạng, nhiều công nghệ mới được nghiên cứu và ứng dụng, việc cung ứng thuốc và trang thiết bị đã được tăng cường quản lý Nhân dân ở các vùng miền hầu hết đã được chăm sóc sức khỏe nhiều hơn trước

Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu đã đạt được trong công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho người dân vẫn còn tồn tại nhiều bất cập và yếu kém Hệ thống kinh tế chậm đổi mới chưa phù hợp với sự thay đổi của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và sự thay đổi của cơ cấu bệnh tật; chất lượng, dịch vụ y tế chưa đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của nhân dân; điều kiện chăm sóc cho người nghèo, vùng sâu vùng xa, dân tộc thiểu số còn nhiều khó khăn và hạn chế; năng lực sản xuất và cung ứng thuốc còn yếu; vệ sinh môi trường, an toàn thực phẩm còn chưa được kiểm soát chặt chẽ

Với mục tiêu là: “Xây dựng và phát triển mạng lưới khám, chữa bệnh

tỉnh Nghệ An đồng bộ từ tỉnh đến cơ sở, từng bước hiện đại, theo hướng công bằng - hiệu quả phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh và của đất nước Nâng cao chất lượng dịch vụ y tế đáp ứng nhu cầu khám, chữa

Trang 8

bệnh của nhân dân Phấn đấu đạt và vượt các chỉ tiêu về sức khỏe đã đề ra trong Chiến lược chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân giai đoạn 2011 -

2020, sớm đưa Nghệ An trở thành một trong những trung tâm y tế kỹ thuật cao của khu vực Bắc Trung Bộ‟‟ Tôi nhận thấy việc quy hoạch mạng lưới khám, chữa bệnh là một vấn đề hết sức cấp thiết đối với cả nước nói chung và tỉnh Nghệ An nói riêng

Là một người con sinh ra và lớn lên ở mảnh đất nơi đây, tôi rất muốn tìm hiểu về vấn đề y tế của tỉnh nhà để hiểu rõ hơn những nhu cầu bảo vệ và nâng cao sức khỏe của người dân quê hương tôi nói riêng và nhân dân cả

nước nói chung Vì thế, tôi đã lựa chọn cho mình đề tài “Quy hoạch phát

triển mạng lưới khám, chữa bệnh tỉnh Nghệ An giai đoạn 2014 - 2025” Tôi

xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của Thầy Hoàng Sỹ Động, thầy đã giúp tôi rất nhiều trong quá trình hoàn thành bài khóa luận này Tôi hi vọng bài khóa luận của mình sẽ nhận được sự quan tâm và đóng góp ý kiến phản hồi của các bạn và thầy cô trong khoa để giúp bản thân tôi có cách nhìn nhận

đúng đắn hơn về vấn đề nghiên cứu

2 Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài

+ Mục tiêu của đề tài

Thông qua quá trình khảo sát, nghiên cứu đề tài tập trung phân tích tình hình quy hoạch mạng lưới khám, chữa bệnh tỉnh Nghệ An trong những năm qua, kết quả thu thập tính đến năm 2013 để từ đó đưa ra những giải pháp nhằm quy hoạch phát triển mạng lưới khám chữa bệnh của tỉnh Nghệ An trong giai đoạn 2014 - 2025

+ Nhiệm vụ của đề tài

Đúc kết cơ sở lý luận và thực tiễn về việc quy hoạch y tế

Phân tích thực trạng quy hoạch mạng lưới khám, chữa bệnh của tỉnh Nghệ An đến năm 2013

Trang 9

Đưa ra giải pháp phát triển quy hoạch mạng lưới khám, chữa bệnh của tỉnh Nghệ An trong giai đoạn mới, giai đoạn 2014 - 2025.

3 Giới hạn phạm vi nội dung nghiên cứu

+ Về mặt không gian

Địa bàn nghiên cứu của đề tài bao gồm các cơ sở y tế công lập và ngoài công lập trên địa bàn tỉnh Nghệ An (không tính đến các cơ sở khám, chữa bệnh ngoài ngành đóng trên địa bàn tỉnh)

4 Phương pháp nghiên cứu

+ Phương pháp thu thập tài liệu

Các tài liệu được thu thập từ nhiều nguồn như các giáo trình, số liệu thống kê, các công trình nghiên cứu có nội dung liên quan bằng phương pháp sao chép, thống kê

+ Phương pháp xử lý số liệu

Các số liệu được xử lý thông qua các phương pháp: tổng hợp, thống

kê, so sánh để thấy rõ thực trạng phát triển quy hoạch mạng lưới khám, chữa bệnh của tỉnh Nghệ An

5 Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và các phụ lục, nội dung chính của đề tài

được trình bày trong 3 chương:

Trang 10

Chương 1: Những vấn đề cơ bản về dịch vụ y tế và quy hoạch y tế Chương 2: Thực trạng mạng lưới khám, chữa bệnh tỉnh Nghệ An đến

năm 2013

Chương 3: Giải pháp thực hiện quy hoạch phát triển mạng lưới khám,

chữa bệnh tỉnh Nghệ An trong giai đoạn 2014 - 2025

Trang 11

Chất lượng dịch vụ y tế bao gồm 2 thành phần: chất lượng kĩ thuật và chất lượng chức năng Chất lượng kĩ thuật là sự chính xác trong kĩ thuật chuẩn đoán và điều trị bệnh Chất lượng chức năng bao gồm các đặc tính khác nhau như: Cơ sở vật chất bệnh viện, giao tiếp với nhân viên y tế, cách thức tổ chức quy trình khám, chữa bệnh mà người bệnh phải thực hiện, cách thức bệnh viện chăm sóc bệnh nhân

Trên thực tế các dịch vụ y tế vẫn ít nhiều mang tính chất của hàng hóa:

có nhu cầu, có người cung cấp và có người sử dụng thì phải trả tiền (người trả tiền có thể là cá nhân, tập thể, Nhà nước)

Thị trường y tế không phải là thị trường tự do, bởi trong thị trường tự

do giá của một mặt hàng được xác định dựa trên sự thỏa nguyện của người mua và người bán Còn trong thị trường dịch vụ y tế không có sự thỏa thuận này, bởi giá dịch vụ do người bán quyết định

Chính vì vậy, việc bất đối xứng thông tin giữa bên cung cấp dịch vụ và bên sử dụng dịch vụ dẫn đến việc người dân hiểu biết rất ít về bệnh tật và các chủ định điều trị, do vậy người bệnh hầu như phải dựa vào các quyết định của thầy thuốc trong việc lựa chọn các dịch vụ y tế Vấn đề này cần phải được

Trang 12

kiểm soát chặt chẽ nếu không sẽ dẫn đến tình trạng lạm dụng dịch vụ từ phía cung ứng, đẩy cao chi phí y tế

Dịch vụ y tế là một ngành dịch vụ có điều kiện, tức là có sự hạn chế nhất định đối với sự gia nhập thị trường của các nhà cung ứng dịch vụ y tế Muốn cung ứng dịch vụ y tế cần được cấp giấy phép hành nghề và cần đảm bảo những điều kiện nhất định về cơ sở vật chất Nói một cách khác, trong thị trường dịch vụ y tế không có sự cạnh tranh hoàn hảo

Do tính chất đặc thù của dịch vụ y tế và thị trường y tế, Nhà nước đóng vai trò rất quan trọng trong việc quản lý và cung ứng dịch vụ chăm sóc sức khỏe Nhà nước cần giữ vai trò cung ứng đối với các dịch vụ y tế công cộng

và dịch vụ dành cho các đối tượng cần ưu tiên còn để tư nhân cung ứng dịch

vụ y tế tư Đồng thời với sự tạo điều kiện thuận lợi phát triển các loại hình dịch vụ y tế tư, Nhà nước đóng vai trò rất quan trọng trong việc quản lý và kiểm soát giá cả, chất lượng dịch vụ, tăng cường thông tin và thẩm định điều kiện hành nghề

Mỗi người đều có nguy cơ mắc bệnh và chăm sóc sức khỏe ở các mức

độ khác nhau Chính bởi không dự đoán được thời điểm mắc bệnh nên người dân luôn gặp khó khăn trong việc chi trả các chi phí y tế không lường trước được Với đặc điểm như vậy, trong khi nhu cầu của người bệnh và xã hội ngày càng phát triển nhưng nếu không có dịch vụ y tế thì việc tính mạng của con người bị đe dọa bởi bệnh tật chỉ là điều sớm hay muộn mà thôi Trước tình hình đó, vấn đề chăm sóc sức khỏe cho con người được đặt lên hàng đầu

Dịch vụ y tế là một dịch vụ trong đó người cung ứng và người sử dụng quan hệ với nhau thông qua giá dịch vụ

Dịch vụ y tế là loại hàng hóa mà người sử dụng (người bệnh) thường không thể hoàn toàn tự mình chủ động lựa chọn loại dịch vụ theo ý muốn mà phụ thuộc rất nhiều vào bên cung ứng (cơ sở y tế) Ví dụ như khi người bệnh

có nhu cầu khám, chữa bệnh thì việc điều trị bằng phương pháp nào, trong thời gian bao lâu hoàn toàn do thầy thuốc quyết định Vì vậy, người bệnh chỉ

Trang 13

có thể tự lựa chọn nơi điều trị và ở một chừng mực nào đó thì có thể lựa chọn người chữa bệnh cho mình chứ không thể tự bản thân lựa chọn phương pháp chữa bệnh cho mình Mặt khác do dịch vụ y tế là loại hàng hóa gắn liền với tính mạng con người nên mặc dù không có tiền nhưng vẫn cần phải khám, điều trị bệnh Đây cũng chính là điểm khác biệt so với các loại hàng hóa khác Với các loại hàng hóa khác, người mua có nhiều phương pháp để lựa chọn, thậm chí có thể không mua nếu như khả năng tài chính không cho phép

1.1.2 Đặc điểm

Cũng như các loại hình dịch vụ khác, dịch vụ y tế có các đặc điểm sau:

- Tính chất vô hình của dịch vụ: Dịch vụ xuất hiện đa dạng nhưng không tồn tại ở một mô hình cụ thể như đối với sản xuất hàng hóa

- Tính chất đúng thời điểm và không thể dự trữ, nếu như không thỏa mãn hai điều kiện này thì dịch vụ không có giá trị

- Do phụ thuộc vào nhiều yếu tố: Không gian, thời gian, trạng thái tâm

lý, hoàn cảnh của các bên tham gia nên chất lượng dịch vụ mang tính chất không đồng đều

- Do tính chất không thể dự trữ và không đồng đều nên gặp khó khăn trong việc tiêu chuẩn hóa dịch vụ Tuy nhiên, vẫn có thể xác định được một mức độ phục vụ nhất định nào đó

- Dịch vụ không thể tồn tại độc lập mà gắn liền với người tạo ra dịch vụ Khác với hàng hóa, dịch vụ là sự gắn chặt song hành giữa dịch vụ với người tạo ra dịch vụ

- Chính từ sự yêu cầu của người sử dụng mà dịch vụ hình thành và quá trình tạo ra dịch vụ cũng chính là quá trình tiêu dùng dịch vụ Đó là sự ảnh hưởng mật thiết của người tiêu dùng với sự tồn tại của dịch vụ

Tuy nhiên, dịch vụ y tế có những đặc điểm riêng không giống với các dịch vụ khác như:

Trang 14

- Mỗi người đều có nguy cơ mắc bệnh và nhu cầu chăm sóc sức khỏe khác nhau Chính bởi bệnh tật là điều mà người ta không đoán trước được nên thường gặp khó khăn trong việc chi trả các chi phí y tế

- Dịch vụ y tế là dịch vụ đi ngược lại với thông lệ “cầu quyết định cung”, trong dịch vụ y tế “cung quyết định cầu” bởi người dân hoàn toàn phụ thuộc vào những quyết định của bác sĩ

- Dịch vụ y tế là loại hàng hóa luôn gắn liền với sức khỏe của con người, chính vì vậy, dù không có tiền nhưng người ta vẫn phải mua để chăm sóc sức khỏe cho bản thân mình

- Dịch vụ y tế nhiều khi không bình đẳng trong mối quan hệ, đặc biệt trong tình trạng cấp cứu: Không thể chờ đợi được và phải chấp nhận dịch vụ bằng mọi giá

- Bên cung cấp dịch vụ có thể là một tổ chức mà cũng có thể là cá nhân

Để được là bên cung cấp dịch vụ y tế thì phải có giấy phép hành nghề theo quy định của Nhà nước

1.1.3 Phân loại dịch vụ y tế

a Phân loại theo đối tượng phục vụ

Có 3 loại dịch vụ y tế: dịch vụ y tế công cộng, dịch vụ y tế cho các đối tượng cần chăm sóc ưu tiên, dịch vụ y tế cá nhân Trong đó:

- Dịch vụ y tế công cộng là các dịch vụ mà lợi ích của những dịch vụ này không chỉ giới hạn ở việc cung ứng trực tiếp dịch vụ khám, chữa bệnh cho người sử dụng mà còn cung ứng gián tiếp cho cộng đồng các dịch vụ phòng bệnh, giáo dục y tế

- Dịch vụ y tế cho các đối tượng cần chăm sóc ưu tiên: sẽ được dành cho một số đối tượng đặc biệt như người nghèo, bà mẹ và trẻ em, người có công với cách mạng

- Dịch vụ y tế cá nhân: là các dịch vụ y tế chỉ cung ứng trực tiếp cho người sử dụng dịch vụ

Trang 15

b Phân loại theo phân tuyến kỹ thuật và danh mục kỹ thuật trong khám, chữa bệnh

Danh mục kỹ thuật trong khám, chữa bệnh là những dịch vụ y tế mà các cơ sở y tế đăng ký với Nhà nước được cung cấp tại đơn vị mình Danh mục kỹ thuật trong khám, chữa bệnh được sắp xếp theo chuyên khoa, chuyên ngành dịch vụ như: dịch vụ khoa ngoại, chấn thương, nội, sản, nhi,

Phân tuyến kỹ thuật là những quy định của cơ quan Nhà nước trong phạm vi chuyên môn kỹ thuật cho các tuyến từ tuyến xã, huyện, tỉnh đến Trung ương

Theo tiêu thức này, dịch vụ y tế bao gồm các hoạt động sau:

- Hoạt động y tế dự phòng (bao gồm cả lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm)

- Hoạt động khám, chữa bệnh, phục hồi chức năng

- Hoạt động khám, chữa bệnh bằng y học cổ truyền

- Hoạt động sản xuất, kiểm nghiệm và phân phối thuốc

c Phân loại theo tiêu thức của WTO

- Các dịch vụ nha khoa và y tế: Các dịch vụ chủ yếu nhằm mục đích dự phòng, chuẩn đoán và chữa bệnh qua tham vấn với các bệnh nhân mà không

có chăm sóc tại bệnh viện

- Các dịch vụ do hộ sinh, y tá, vật lý trị liệu và nhân viên kỹ thuật y tế cung cấp: Các dịch vụ như giám sát trong thai kì và sinh con chăm sóc (không nhập viện), tư vấn và dự phòng cho bệnh nhân tại gia

- Các dịch vụ bệnh viện: Các dịch vụ được cung cấp theo chỉ dẫn của bác sĩ chủ yếu đối với các bệnh nhân nội trú nhằm mục đích chữa trị, phục hồi và/ hoặc duy trì tình trạng sức khỏe

- Các dịch vụ y tế con người khác: Các dịch vụ ngoại trú; Các dịch vụ y

tế kèm nơi ở thay vì các dịch vụ bệnh viện

Trang 16

1.1.4 Khu vực cung cấp dịch vụ y tế

a Khu vực công cộng

Khu vực công cộng cung cấp dịch vụ y tế chính là Nhà nước Nhà nước cung cấp các dịch vụ y tế mà thị trường không thể đáp ứng được hoặc nếu có thì cũng rất ít Các dịch vụ được khu vực này cung cấp bằng cách:

- Xây dựng các bệnh viện phục vụ người dân Mọi người đều có thể đến đó khám, chữa bệnh và được tư vấn miễn phí về những dịch vụ cần thiết

- Tiêm phòng vacxin miễn phí

- Cấp phát thuốc miễn phí

- Tổ chức vận động cán bộ, bác sĩ đến những vùng sâu, vùng xa để khám, chữa bệnh

- Thường xuyên mở các lớp tập huấn nâng cao trình độ chuyên môn cho các bác sĩ

- Mở các cuộc trao đổi chuyên môn giữa các y, bác sĩ

b Khu vực tư nhân

Khu vực này cung cấp dịch vụ y tế bằng cách tự mở các phòng khám

để phục vụ mọi người Tất cả mọi người tới đây đều được thỏa mãn nhu cầu của mình Do đặc điểm của khu vực này là vì mục tiêu lợi nhuận nên giá cả của những dịch vụ mà khu vực tư nhân cung cấp luôn mắc hơn so với khu vực công Nhưng lợi thế của khu vực tư nhân là cung ứng dịch vụ một cách nhanh gọn và người dân đến khám, chữa bệnh hầu như có ấn tượng tốt

Như đã trình bày ở trên, chúng ta thấy rằng dịch vụ y tế là không thể thiếu đối với mỗi người trong cuộc sống Đó là một dịch vụ đặc biệt với đặc điểm riêng biệt là con người mặc dù không có khả năng chi trả nhưng vẫn phải tiêu dùng Nhưng mục tiêu cuối cùng của các nhà tư nhân này đều là đạt lợi nhuận tối đa Chính vì vậy, nhiều lĩnh vực của dịch vụ y tế sẽ không được các nhà tư nhân tham gia vào vì họ không đạt được mục tiêu lợi nhuận Mặt khác, cũng có những nhà tư nhân vì mục tiêu lợi nhuận mà họ bất chấp tất cả

Trang 17

để có thể đạt được lợi nhuận như: Khám chữa bệnh với giá mắc, thái độ phục

vụ không tốt, ai có tiền thì phục vụ tốt còn không có thì phục vụ với thái độ thờ ơ

1.2 Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về quy hoạch y tế

1.2.1 Khái niệm quy hoạch ngành, lĩnh vực và quy hoạch y tế

1.2.1.1 Khái niệm quy hoạch ngành, lĩnh vực

Hiện nay trên thực tế có 2 cách định nghĩa cơ bản như sau:

- Cách thứ nhất là định nghĩa theo cách làm quy hoạch: Quy hoạch

ngành, lĩnh vực là một môn khoa học, dựa trên cơ sở của nhiều môn khoa học khác và mang tính sáng tạo về phương pháp tiếp cận, bộ công cụ và mục tiêu, kịch bản, phương hướng phát triển, giải pháp thực hiện trên không gian xác định và theo thời gian, chú trọng tương lai gần, đặt trong xu thế phát triển chung (Định nghĩa theo cách làm quy hoạch)

Tuy nhiên, khái niệm đưa ra như vậy chưa phản ánh đầy đủ công việc chính mà mới chỉ phản ánh bước thứ nhất là làm quy hoạch

Từ cách định nghĩa trên, có thể đưa ra sơ đồ, thể hiện khái niệm về làm quy hoạch ngành, lĩnh vực như sau:

Không gian quy hoạch

Sơ đồ 1.1: Biểu thị nội hàm khái niệm quy hoạch

Thời gian quy hoạch

- Cách định nghĩa thứ hai là một chu trình từ làm, thực hiện quy hoạch

và giám sát, đánh giá quy hoạch: Quy hoạch ngành/lĩnh vực là lộ trình của

Phương hướng, giải pháp

Trang 18

các hoạt động chính để đạt được mục tiêu rõ ràng, chú trọng tổ chức không gian trên cơ sở khai thác, phát huy tiềm năng, lợi thế tại một phạm vi không gian nhất định theo thời gian xác định

Sơ đồ 1.2: Biểu thị quy trình quy hoạch

Cách định nghĩa thứ hai này biểu thị đầy đủ, đúng bản chất hơn so với cách định nghĩa thứ nhất Định nghĩa này còn đưa vào những vấn đề mới là cạnh tranh trong thời đại toàn cầu hóa vào khái niệm như khai thác, phát huy tiềm năng, lợi thế và quan trọng hơn nữa đã đưa vấn đề nội dung tổ chức không gian – một nội dung quan trọng của quy hoạch nhưng Việt Nam luôn yếu kém và cần khắc phục

1.2.1.2 Khái niệm quy hoạch y tế

Quy hoạch y tế - là quá trình xác định vấn đề sức khỏe cộng đồng Xác định nhu cầu và nguồn lực, xây dựng mục tiêu ưu tiên, và đề ra những hành vi hành chính cần thiết để đạt được những mục tiêu này

Hệ thống y tế theo quy hoạch này gồm mạng lưới cung cấp dịch vụ y tế

dự phòng, y tế cơ sở, khám bệnh, chữa bệnh và phục hồi chức năng, mạng lưới sản xuất, lưu thông, phân phối và cung ứng thuốc

1.2.2 Sự cần thiết phải phát triển quy hoạch y tế ở Việt Nam

Từ khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới – WTO, nền kinh tế nước ta đã có những chuyển biến tích cực, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế và khu vực ngày càng được nâng cao Tuy nhiên, bên cạnh những cơ hội phát triển trên mọi lĩnh vực thì cũng có không ít những thách thức, khó khăn mà nước ta phải đối mặt – đó là cạnh tranh quốc tế Chúng ta

Trang 19

phải cạnh tranh trên về mọi mặt, vì vậy, cạnh tranh về y tế không nằm ngoài cuộc cạnh tranh này

Với sự phát triển không ngừng của nền y học thế giới, một vấn đề đặt

ra cho nền y học Việt Nam là chúng ta phải làm như thế nào để có thể đáp ứng được nhu cầu khám, chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe ngày càng cao của người dân Nền kinh tế phát triển, thu nhập của người dân tăng cao nên ngày càng có nhiều người bệnh tin tưởng vào dịch vụ y tế của nước ngoài Phải đối diện với cạnh tranh quốc tế về trình độ công nghệ, dịch vụ y tế chất lượng cao đang là một thực tế và thách thức cho quy hoạch y tế ở Việt Nam

Do vậy, vấn đề mang tính cấp thiết là chúng ta phải có những giải pháp cần thiết trong đào tạo, nghiên cứu, quản lý, đặc biệt là xây dựng, phát triển quy hoạch y tế để đáp ứng được nhu cầu chăm sóc sức khỏe của nhân dân, tiến tới xuất khẩu dịch vụ y tế và nâng cao khả năng cạnh tranh trên trường quốc tế

1.2.3 Tình hình quy hoạch y tế Việt Nam những năm gần đây và một số kinh nghiệm phát triển y học của các nước trên thế giới

1.2.3.1 Tình hình quy hoạch y tế tại Việt Nam

a Cung ứng dịch vụ y tế dự phòng

Ở tuyến tỉnh đã có 63 trung tâm y tế dự phòng tỉnh, 63 Chi cục DS - KHHGĐ, 62 trung tâm phòng chống HIV/AIDS, 20 Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm và các trung tâm chuyên khoa Nội tiết, Lao, phòng chống bệnh xã hội

Cơ bản kiểm soát tốt bệnh dịch, không để xảy ra dịch lớn Duy trì tỷ lệ tiêm chủng cao như thanh toán bại liệt, loại trừ uốn ván sơ sinh, sởi Đạt kế hoạch tất cả các chỉ tiêu về phòng chống lao và hầu hết các các chỉ tiêu về phòng chống HIV/AIDS Chương trình phòng chống lao bao phủ 100% lãnh thổ, giảm tỷ lệ mắc còn 225/100.000 dân (2011); chữa khỏi cho 92% số bệnh nhân lao mới được phát hiện hằng năm

Trang 20

Giảm dần số trường hợp mắc và chết do HIV/AIDS hằng năm Các chương trình phòng chống bệnh không lây nhiễm được mở rộng cả về phạm

vi bao phủ, đối tượng được sàng lọc, quản lý điều trị Chương trình phòng chống tăng huyết áp đã hoàn thành vượt mức kế hoạch truyền thông Xây dựng mạng lưới tổ chức chương trình phòng chống đái tháo đường Triển khai

có hiệu quả việc kiểm soát các bệnh gây mù có thể phòng chữa được theo Kế hoạch quốc gia phòng chống mù lòa giai đoạn 2009 - 2013

Đạt và vượt kế hoạch các chỉ tiêu sức khỏe bà mẹ và chăm sóc thai sản năm 2012 như sàng lọc trước sinh và sơ sinh, số người mới sử dụng các biện pháp tránh thai, quản lý và chăm sóc thai sản Tỷ lệ suy dinh dưỡng nhẹ cân ở trẻ em dưới 5 tuổi ước tính là 16,2%, giảm 0,6% so với năm 2011

b Cung ứng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh, phục hồi chức năng

Mạng lưới tổ chức KCB ngày càng được mở rộng Đến hết năm 2012,

cả nước có 1.180 bệnh viện với 25,04 giường bệnh/10.000 dân (24,3 giường công lập) Có 35 bệnh viện đa khoa và chuyên khoa tuyến TW; 382 bệnh viện

đa khoa và chuyên khoa tuyến tỉnh tập trung ở tỉnh lỵ Hầu hết các huyện (561) đều có bệnh viện đa khoa thực hiện cung ứng dịch vụ KCB ban đầu Có

150 bệnh viện tư nhân được cấp phép hoạt động với 9.611 giường bệnh Ngoài ra 78,8% các TYT xã đã triển khai KCB BHYT

Dịch vụ KCB tại bệnh viện gia tăng đáng kể Năm 2012 đã có gần 132

triệu lượt khám tại bệnh viện, tăng 6,8% so với năm 2011, trong đó tăng nhiều nhất là khối bệnh viện tư nhân (19,1%) Tình hình quá tải tại các bệnh viện tuyến trung ương và tuyến tỉnh được cải thiện một phần, tỷ lệ sử dụng giường bệnh giảm nhẹ

Khả năng cung ứng dịch vụ của mạng lưới y tế cơ sở được cải thiện

Từ các đề án 225 và 47, đã có 145 bệnh viện huyện, 46 phòng khám đa khoa khu vực hoàn thành và đưa vào sử dụng Tại tuyến huyện, sau 10 năm, số bệnh viện đa khoa tăng 17%, số giường bệnh tăng 64% 76,8% số trạm y tế xã đạt chuẩn quốc gia y tế xã năm 2011

Trang 21

Tình hình sử dụng dịch vụ y tế tại tuyến y tế cơ sở đặc biệt là bệnh viện

đa khoa huyện tăng rõ rệt Tỷ lệ người sử dụng dịch vụ KCB ngoại trú tăng từ

11,9% (2004) lên 17,6% (2010), KCB nội trú tăng tương ứng từ 35,4% lên 38,2% Số lượt người bệnh nội trú tăng 1,5 lần và số lượt người bệnh ngoại trú tăng 3 lần sau 10 năm Năm 2012, với số giường bệnh chỉ chiếm 30,5% nhưng tổng số khám bệnh chiếm 45%

Mô hình bác sĩ gia đình (BSGĐ) được quan tâm với trên 500 bác sĩ

chuyên khoa cấp I đã được đào tạo Đề án phát triển BSGĐ được phê duyệt nhằm tăng cường năng lực quản lý, cung cấp dịch vụ CSSK toàn diện, liên tục cho các cá nhân và hộ gia đình Từ năm 2013 đến năm 2015, thí điểm thành lập 80 phòng khám BSGĐ tại Hà Nội, TP Hồ Chí Minh và một số địa phương Chăm sóc liên tục đã có kết quả đáng khích lệ trong một số chương trình mục tiêu quốc gia về y tế

Mạng lưới bệnh viện điều dưỡng - phục hồi chức năng đã được hình thành tại hầu hết các tỉnh, thành phố Chương trình phục hồi chức năng dựa

vào cộng đồng được phát triển rộng khắp tại 51 tỉnh, thành phố với 337 quận, huyện và 4.604 xã, phường; tính đến năm 2010, đã điều tra, phát hiện, quản lý sức khỏe cho hơn 170.000 người khuyết tật, tiến hành phục hồi chức năng cho 23,2% người có nhu cầu và 44,7% người khuyết tật

Cung ứng dịch vụ KCB bằng YHCT được mở rộng theo Kế hoạch hành

động của Chính phủ về phát triển y, dược cổ truyền Việt Nam đến năm 2020

Cả nước hiện có 58 bệnh viện YHCT; 100% bệnh viện đa khoa tỉnh và 90% bệnh viện huyện có khoa hoặc tổ YHCT, 85% số TYT xã có hoạt động KCB bằng y dược học cổ truyền Ngoài ra còn có 3 bệnh viện và hơn 10.000 phòng chẩn trị y dược học cổ truyền tư nhân Tỷ lệ KCB bằng YHCT chiếm 8,8% ở tuyến tỉnh, 9,1% ở tuyến huyện và 24,6% ở tuyến xã

c Củng cố, hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở

- Củng cố tổ chức, mạng lưới và hoạt động chuyên môn của y tế xã Bảo đảm 80% số trạm y tế xã có bác sĩ, trong đó 100% các trạm y tế xã ở

Trang 22

đồng bằng và 60% các trạm y tế xã miền núi có bác sĩ; 100% trạm y tế xã có

nữ hộ sinh hoặc y sĩ sản, nhi, trong đó 80% là nữ hộ sinh trung học; 80% trạm

y tế xã có cán bộ làm công tác y dược học cổ truyền; trung bình mỗi cán bộ trạm y tế xã phục vụ từ 1.000 đến 1.200 dân Bảo đảm tối thiểu có 5 cán bộ y

tế theo chức danh do Bộ Y tế quy định cho 1 trạm y tế xã Ở các thành phố lớn, số lượng cán bộ trạm y tế được cân đối theo tỷ lệ cứ 1.400 đến 1.500 dân

- Bảo đảm mỗi trường phổ thông có từ 01 - 02 cán bộ y tế phục vụ Các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp có trạm y tế cơ sở

d Củng cố và nâng cao năng lực quản lý nhà nước về dược, phát triển

hệ thống sản xuất, lưu thông phân phối và cung ứng thuốc Bảo đảm an toàn

+ Thành lập Viện Kiểm nghiệm an toàn vệ sinh thực phẩm quốc gia trên cơ sở phát triển Trung tâm Kiểm nghiệm an toàn vệ sinh thực phẩm hiện đặt tại Viện Dinh dưỡng

+ Củng cố cơ quan quản lý nhà nước các cấp về dược phẩm, an toàn vệ sinh thực phẩm, mỹ phẩm

Trang 23

- Quy hoạch và phát triển ngành dược trở thành một ngành kinh tế - kỹ thuật mũi nhọn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá

+ Quy hoạch và phát triển toàn diện cả về công nghiệp bào chế thuốc, công nghiệp sản xuất thuốc từ dược liệu, các vùng nuôi, trồng dược liệu trọng điểm, công nghiệp sản xuất nguyên liệu hoá dược và nguyên liệu kháng sinh làm thuốc

+ Quy hoạch, tổ chức lại và phát triển hệ thống phân phối, cung ứng thuốc, bảo đảm ổn định thị trường thuốc với giá cả hợp lý, bảo đảm chất lượng phục vụ công tác phòng bệnh và chữa bệnh cho nhân dân

1.2.3.2 Kinh nghiệm phát triển y học của các nước trên thế giới

- Phát triển y học ở Cuba

Sức mạnh của lưỡi hái tử thần không tha bất kỳ quốc gia nào – bất kỳ ai – bất kỳ độ tuổi nào Điển hình trường hợp tổng thống Venezuaela, ông cũng phải trải qua khoảng thời gian chống chọi với căn bệnh ung thư cùng với nỗi đau đớn cả về thể xác lẫn tinh thần Và sự kiện ông chọn đất nước Cuba để chữa bệnh như một lời nhắn gởi rằng đây là đất nước đạt được những thành tựu vĩ đại trong lịch sử y học Thế giới

Cuba được biết đến là đất nước có hệ thống y tế tốt nhất Thế giới thông qua sự kiểm định và chứng nhận của Tổ chức Y tế Thế Giới (WHO) Cuba hiện là nước có tuổi thọ trung bình của người dân thuộc loại cao nhất tại Mỹ Latinh (78 tuổi) Nhờ áp dụng công nghệ gen, các trung tâm sinh học Cuba đã sản xuất hàng loạt các dược phẩm công nghệ cao cấp, có uy tín trên thị trường quốc tế như Vaccine chống viêm não Nhật Bản B,C, điều trị ung thư phổi, phòng viêm gan B, chữa nhồi máu cơ tim… Cuba đã xuất khẩu 38 loại dược phẩm tới 40 quốc gia trên Thế giới mang về cho ngân sách nhà nước hàng trăm triệu USD/năm

Vào những năm 90 của thế kỷ 20, Cuba trở thành quốc gia đầu tiên phát triển và tung ra thị trường vaccine viêm não Nhật Bản, sau đó là vaccine

Trang 24

viêm gan siêu vi B Hiện vaccine viêm gan siêu vi B của nước này được xuất khẩu sang 30 nước trên Thế giới, trong đó có Trung Quốc, Ấn Độ, Nga, Pakistan

Nối tiếp các thành công vang dội đó, đến năm 2012 các nhà khoa học Cuba đã mang đến cho bệnh nhân ung thư một niềm hy vọng lớn đó là việc bào chế thành công sản phẩm chống ung thư từ nọc độc của bọ cạp xanh, một loại bọ cạp đặc chủng của Cuba Loại sản phẩm này được coi là thành tựu mới của nền y học Cuba Bước tiến đột phá trong nền Y học Cuba không những chứng minh đất nước Cuba có nền y học tiến bộ nhất Thế giới mà còn là cánh tay chìa ra giành lấy sinh mạng của những con người đang cố gắng vượt qua căn bệnh ung thư quái ác

Trong những năm qua, chính phủ Singapore đã đầu tư rất mạnh cho công nghệ sinh y học, tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng và đào tạo, quyết tâm biến Singapore thành trung tâm hàng đầu thế giới về công nghệ sinh y học

Các tập đoàn y tế nhà nước và tư nhân của Singapore đã mở văn phòng đại diện ở khắp mọi nơi trên thế giới nhưng thị trường trọng điểm của họ vẫn

là các nước ASEAN Ở Việt Nam có các văn phòng như: Singhealth, NHG, Parkway… Ở Singapore những điều kiện tiên quyết để phát triển y học là uy tín, trọng thị và rõ ràng Các chuyên gia tâm lý đã khẳng định, yếu tố tâm lý tác động rất nhiều đến sự chuyển biến của bệnh tật Trong quá trình chữa bệnh, điều trị về tinh thần là vô cùng quan trọng Có những bệnh nhân mắc phải căn bệnh nan y như ung thư, nếu được sống trong một môi trường thân thiện, thoải mái, tâm lý tốt, có thể kéo dài sự sống thêm vài năm, thậm chí là

Trang 25

vài chục năm Chính điều này đã được các bác sỹ tại Singapore áp dụng rất thành công, nhờ vậy và đất nước Singapore trở thành nước xuất khẩu dịch vụ

Ở Nhật, thực hiện BHYT bắt buộc Trước đây, hệ thống BHYT toàn dân của Nhật không chi trả cho kiểm tra sức khỏe ban đầu, nhưng hiện nay đã bắt đầu thay đổi và sử dụng nguồn tài chính BHYT cho khám sức khỏe Sự phát triển của khối y tế tư nhân góp phần giảm gánh nặng cho tầng lớp trung lưu, trong đó thẻ BHYT sẽ được chi trả tại các cơ sở y tế tư nhân này

Đó là mô hình hay mà Việt Nam có thể áp dụng trong 10-15 năm tới nhằm giảm quá tải bệnh viện, giảm chi phí đầu tư công

- Kinh nghiệm đào tạo nguồn nhân lực y tế của một số nước trong khu vực:

Thiếu hụt bác sĩ và mất cân đối trong phân bổ nhân lực y tế là một vấn

đề của nhiều quốc gia, giải pháp nhằm giải quyết tình trạng này ở một số nước trong khu vực như Thái Lan, Indonesia, Myanmar, Philippines,… là:

+ Tăng cường đào tạo: Mở rộng mạng lưới đào tạo nhân lực y tế Các

chương trình đào tạo ngắn hạn, dài hạn, đào tạo chuyên khoa được phát triển theo nhu cầu thực tế của đất nước trong từng giai đoạn

Trang 26

+ Chính sách tài chính: Chế độ khuyến khích bằng lương và phụ cấp

cho bác sỹ làm việc ở nông thôn; Cho vay tiền học, cấp học bổng có điều kiện cho sinh viên y khoa

+ Ngoài ra, còn một số chính sách khác như: các chương trình đào tạo

chuẩn được phê duyệt; Đưa các trường đào tạo y khoa về tại nông thôn

Trang 27

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN MẠNG LƯỚI KHÁM,

Năm 2013, giám sát các bệnh trong chương trình tiêm chủng mở rộng:

có 01 trường hợp viêm não do vi rút, 01 trường hợp liệt mềm cấp, không có tử vong

- Công tác kiểm dịch cửa khẩu đường bộ, đường không, đường biển

được giám sát chặt chẽ

- Công tác Phòng chống lụt bão và tìm kiếm cứu nạn:

Đã có kế hoạch, chủ động, chuẩn bị đầy đủ người, phương tiện, thuốc men, xử lý các tình huống khi có lụt bão, tai nạn hàng loạt xảy ra

Năm 2011, tỉnh Nghệ An đã hỗ trợ cứu nạn, khắc phục hậu quả kịp thời trong vụ tai nạn sập mỏ đá ở xã Nam Thành, huyện Yên Thành sáng 01/4/2011, khắc phục lụt bão do cơn bão số 2 tại Tương Dương, Kỳ Sơn; tích cực chủ động phòng chống các cơn bão số bão số 3, 4, 5, do đó giảm thiểu thiệt hại đáng kể do lụt bão

2.1.2 Công tác khám, chữa bệnh - Phục hồi chức năng

Chất lượng công tác khám, chữa bệnh được cải thiện đáng kể, chất lượng các dịch vụ y tế ngày càng được nâng cao, cơ bản đáp ứng nhu cầu của nhân dân

Trang 28

Áp dụng thành công nhiều phương pháp và kỹ thuật điều trị mới, hiện đại vào khám và điều trị, phát triển các kỹ thuật mới như: triển khai thành công phẫu thuật Lasik tại Bệnh viện HNĐK tỉnh, can thiệp tim mạch (bít thông liên thất, thông liên nhĩ, nong hẹp van động mạch phổi) tại bệnh viện Sản - Nhi và đã trở thành phẫu thuật thường quy tại bệnh viện; Một số kỹ thuật mới ở Bệnh viện Ung Bướu như: Đốt Ung thư bằng sóng cao tần, mổ nội soi lồng ngực, cắt u trung thất, cắt thùy phổi do Ung thư; Bệnh viện Mắt, Bệnh viện Chấn thương chỉnh hình, đã thực hiện thành công nhiều kỹ thuật chuyên khoa; Một số bệnh viện tuyến huyện, thành phố đã triển khai mổ nội soi như: Yên Thành, Thanh Chương, Thành phố Vinh, góp phần giải quyết người bệnh tại chỗ cũng như giảm tải cho tuyến tỉnh

Đặc biệt, năm 2012 tại Bệnh viện HNĐK tỉnh, với sự giúp đỡ của Bệnh viện Tim mạch TW, Bệnh viện Tim Hà Nội, triển khai kỹ thuật mổ tim hở, đã

mổ thành công 39 ca, đưa kỹ thuật mổ tim hở trở thành kỹ thuật thường xuyên tại Nghệ An

Trong 6 tháng đầu năm 2013 khám bệnh cho trên 2 triệu lượt người, điều trị nội trú trên 220 ngàn lượt người, trên 27 ngàn ca phẫu thuật các loại (số liệu thu thập được của năm 2012 cùng kì là khám bệnh cho trên 1,5 triệu lượt người, điều trị nội trú trên 200 ngàn lượt người, trên 25 ngàn ca phẫu thuật các loại)

Năm 2012, Khai trương Bệnh viện Ung bướu, thành lập các Bệnh viện chuyên khoa: Bệnh viện Mắt, Bệnh viện Chấn thương chỉnh hình, Bệnh viện Sản - Nhi, chứng tỏ bước đi đúng hướng và phát triển vững chắc của Ngành

y tế Nghệ An

Công tác khám, chữa bệnh cho người nghèo, đối tượng chính sách, trẻ

em < 6 tuổi được triển khai thực hiện tốt ở các tuyến

Thực hiện khám, chữa bệnh theo phân cấp, phân tuyến kỹ thuật, đẩy mạnh công tác xã hội hóa về y tế tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân, góp phần giảm tải cho tuyến trên

Trang 29

Việc giảm tải bệnh viện: Các bệnh viện đã tổ chức khám bệnh cả ngày thứ 7 và chủ nhật, đưa thiết bị máy xét nghiệm ra làm tại khoa khám bệnh để xét nghiệm thuận tiện cho bệnh nhân, kê đặt thêm giường ở một số khoa có lưu lượng bệnh nhân nội trú đông để người bệnh có thêm chỗ nằm, giải quyết kịp thời nhu cầu khám, chữa bệnh cho nhân dân Thường xuyên tổ chức hội chẩn trực tuyến với các bệnh viện TW qua mạng tại bệnh viện HNĐK tỉnh để nâng cao trình độ chuyên môn và giải quyết được những ca bệnh khó tại chỗ

Hoạt động các bệnh viện ngoài công lập đã góp phần tích cực trong công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân, tạo điều kiện thuận lợi cho việc lựa chọn các dịch vụ y tế thuận tiện của nhân dân, góp phần giảm tải cho các bệnh viện công lập; Nhiều bệnh viện đã đầu tư về cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế hiện đại, đã triển khai được một số dịch vụ kỹ thuật tuyến TW, các bệnh viện

đã xây dựng và tổ chức thực hiện quy chế chuyên môn, quy chế bệnh viện theo quy định của Bộ Y tế Một số bệnh viện tư nhân tham gia tích cực một số hoạt động xã hội trong lĩnh vực chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân; khám, chữa bệnh, cấp thuốc miễn phí cho người nghèo và đối tượng chính sách

Kết hợp y học cổ truyền và y học hiện đại trong công tác khám, chữa bệnh Đến nay các BVĐK tuyến huyện đã có khoa y học cổ truyền hoạt động

có hiệu quả; Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh được đầu tư về mọi mặt (cơ sở hạ tầng, trang thiết bị, cán bộ), phát triển theo hướng hiện đại, đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền cho nhân dân Trong 10 tháng đầu năm

2012 đã có trên 10 ngàn lượt bệnh nhân đến khám chữa bệnh tại bệnh viện Thực hiện niêm yết công khai giá viện phí ở khu vực đón tiếp bệnh nhân vào viện tại khoa Khám bệnh và khu vực thanh toán viện phí bệnh nhân

ra viện; tổ chức bàn hướng dẫn thủ tục tại khoa Khám bệnh; hướng dẫn thực hiện cho các khoa, phòng trong bệnh viện để thống nhất thực hiện đúng bảng giá tính đúng, thu đúng đảm bảo quyền lợi người bệnh

Tại các đơn vị đã tổ chức tuyên truyền giải thích cho người bệnh và nhân dân hiểu, đồng thuận để phối hợp thực hiện

Trang 30

Các bệnh viện đã sữa chữa, nâng cấp, cải tạo, mở rộng khoa khám bệnh, mua sắm bổ sung bàn khám, các bộ dụng cụ khám bệnh, trang thiết bị xét nghiệm, mua sắm bổ sung bàn, ghế, giường, tủ, các trang thiết bị của các buồng bệnh, thay thế các trang thiết bị hư hỏng, cải thiện các điều kiện phục

vụ người bệnh như: chăn, ga, gối, đệm, quần áo bệnh nhân Tổng kinh phí ước tính trên 10 tỷ đồng

Về số lượng bệnh nhân đến khám, điều trị, chuyển viện năm 2013: + Số lượng bệnh nhân đến khám bệnh tại bệnh viện tăng 49,3%;

+ Số lượng bệnh nhân điều trị nội trú tăng 28,62%;

+ Số lượng bệnh nhân điều trị ngoại trú tăng 43,11%;

Tỷ lệ bệnh nhân chuyển viện: Toàn tỉnh 4,9% năm 2013 (năm 2012 là 2,9%), cụ thể: tuyến huyện 6,1%, tuyến tỉnh 4,7%, bệnh viện tư nhân 4%

Công tác khám, chữa bệnh cho người nghèo, đối tượng chính sách, trẻ

em dưới 6 tuổi được triển khai thực hiện tốt ở các tuyến

(*) Công tác bảo vệ sức khoẻ cán bộ:

Với sự quan tâm của lãnh đạo tỉnh ủy, đầu tư nâng cấp trang thiết bị cho Ban bảo vệ sức khoẻ cán bộ, Khoa nội A các bệnh viện được củng cố và phát triển đáp ứng nhu cầu bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ cán bộ Trong 6 tháng đầu năm 2013 tại Ban bảo vệ sức khoẻ cán bộ tỉnh đã khám bệnh, cấp thuốc điều trị ngoại trú cho 11.288 lượt người, khám sức khoẻ định kỳ 754 thuộc diện Nội A, đạt 81%

2.1.3 Thực hiện Chương trình mục tiêu y tế quốc gia

Hầu hết các Chương trình đều đã đạt 40 - 50% chỉ tiêu kế hoạch đề ra:

a Chương trình phòng chống các bệnh lây nhiễm

- Phòng chống Lao: Năm 2013, phát hiện 2.328 trường hợp lao các thể,

tỷ lệ điều trị lao khỏi đạt 90%/85% kế hoạch Năm 2012, phát hiện 1.018 trường hợp, còn năm 2011 phát hiện 1.866 trường hợp với tỷ lệ điều trị lao khỏi lần lượt là 90,3% và 90%

Trang 31

- Phòng chống Phong: Năm 2013, khám phát hiện 01 trường hợp

phong mới, đạt 33% kế hoạch Năm 2012: 02 trường hợp Năm 2011, phát hiện phong mới: 05/03 BN, đạt 166,6% kế hoạch

- Phòng chống Sốt xuất huyết: Tuyên truyền phòng, chống bệnh sốt

xuất huyết Trong 6 tháng đầu năm 2013 không có dịch, không có bệnh nhân sốt xuất huyết Trong 9 tháng đầu năm 2012 có 81 người mắc (Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Hưng Nguyên, Nghi Lộc, ), không có tử vong, dịch đã được khống chế dập tắt Trong tháng 8/2011 có 59 bệnh nhân sốt xuất huyết xảy ra

ở huyện Quỳnh Lưu, không có tử vong Đến cuối tháng 9/2011 dịch đã được khống chế dập tắt

- Phòng chống Sốt rét: Giám sát, phát hiện, quản lý, điều trị bệnh nhân

sốt rét Trong 6 tháng đầu năm 2013 không có dịch sốt rét xảy ra, có 601 ca sốt rét lâm sàng, 127 ký sinh trùng sốt rét (chủ yếu là sốt rét ngoại lai), dân số được bảo vệ: 746.000 người Năm 2012, số bệnh nhân mắc sốt rét: 961, ký sinh trùng sốt rét: 152, nhưng chủ yếu là sốt rét ngoại lai (do bà con đi làm ăn

ở Tây Nguyên về), không có tử vong Số liệu năm 2011 thu thập được là số mắc sốt rét: 732 ca, ký sinh trùng sốt rét 74

b Chương trình phòng chống các bệnh không lây nhiễm

- Chăm sóc sức khỏe Tâm thần dựa vào cộng đồng: Quản lý và điều trị

ổn định hoà nhập cộng đồng 4.093 bệnh nhân Chuẩn bị triển khai 20 xã mới trong dự án

- Phòng chống tăng huyết áp: Tập huấn về công tác phòng, chống bệnh

tăng huyết áp, chuẩn bị triển khai khám sàng lọc, phát hiện, điều trị bệnh nhân tăng huyết áp ở các huyện dự án Năm 2011, Tổ chức tập huấn công tác phòng chống bệnh tăng huyết áp cho cán bộ y tế tuyến huyện, xã; cấp phát tờ rơi áp phích; khám sàng lọc phát hiện bệnh tăng huyết áp trong cộng đồng ở 4 huyện điểm (Quỳnh Lưu, Nghi Lộc, Diễn Châu, TP.Vinh) với 47.912 người;

số người được phát hiện tăng huyết áp là 2.684

Trang 32

- Phòng chống Đái tháo đường: Tổ chức tập huấn chuyên môn, khám

sàng lọc 8.126 trường hợp, quản lý và điều trị bệnh nhân đái tháo đường Năm

2011, khám sàng lọc 9.534 trường hợp có nguy cơ cao mắc bệnh đái tháo đường, phát hiện mới 4.557 trường hợp mắc bệnh, trên 60% bệnh nhân đái tháo đường được phát hiện được điều trị theo phác đồ quy định của Bộ Y tế

- Phòng chống ung thư: Tổ chức truyên truyền về bệnh ung thư và

phòng chống ung thư; tập huấn chuyên môn cho cán bộ y tế các đơn vị; khám phát hiện ung thư sớm; chăm sóc và điều trị bệnh nhân ung thư

- An toàn truyền máu: Tích cực tuyên truyền vận động hiến máu nhân

đạo cứu người; Bảo quản sử dụng tốt lượng máu thu gom, tiếp nhận 8.126 đơn vị máu (Năm 2011 tiếp nhận 5.000 đơn vị máu, 9 tháng đầu năm 2012 tiếp nhận 3.570 đơn vị), đảm bảo an toàn truyệt đối trong truyền máu

- Tiêm chủng mở rộng: Đảm bảo an toàn trong tiêm chủng, tiêm đầy đủ

cho các cháu dưới 1 tuổi năm 2013 đạt 37,2% (năm 2012 đạt 73,9%), tiêm AT2 cho phụ nữ có thai năm 2013 đạt 32,6% (năm 2012 đạt 77,3%), bảo vệ uốn ván sơ sinh đạt 40,8% (năm 2012 đạt 79,2%)

- Phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ em dưới 5 tuổi: Triển khai thực

hành dinh dưỡng cho bà mẹ mang thai; cân trẻ dưới 2 tuổi đạt 95%, theo dõi bằng biểu đồ tăng trưởng đạt 95% Cuối năm 2013, tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng giảm xuống còn 19,5% (năm 2012 là 19,6% và năm 2011 là 20,9%)

- Chăm sóc sức khoẻ sinh sản - chăm sóc trẻ em: Đa dạng hóa các biện

pháp tránh thai, cung cấp kịp thời các dịch vụ tránh thai cho khách hàng; khám thai đủ 3 lần/3 kỳ thai nghén cho phụ nữ đẻ đạt 49%/75% kế hoạch; tỷ

lệ phụ nữ đẻ được cán bộ y tế giúp đỡ đạt 97%; giảm tỷ lệ tử vong mẹ 69,2%, giảm tỷ lệ tử vong trẻ < 5 tuổi còn 58,6% (năm 2012: 60,4%), tỷ lệ tử vong trẻ

< 1 tuổi còn 66,2 % (năm 2012: 66,9%)

- Chương trình Quân - Dân y kết hợp: Phối hợp tốt trong công tác

phòng chống dịch bệnh, khám, chữa bệnh, chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho

Trang 33

nhân dân và bộ đội; 100% đơn vị có kế hoạch đảm bảo công tác y tế phục vụ khu vực phòng thủ và đảm bảo cho năm đầu chiến tranh

c Chương trình phòng, chống HIV/AIDS

Năm 2013, tuyên truyền về phòng chống HIV/AIDS; Chăm sóc, điều trị bệnh nhân HIV/AIDS tại cộng đồng; điều trị Methadone 321 người; điều trị ARV cho 1.993 bệnh nhân; Triển khai phòng khám ngoại trú và tiếp nhận điều trị ARV tại huyện Quế Phong và Quỳ Châu Triển khai thực hiện các Dự

án khác về phòng chống HIV/AIDS tại Nghệ An theo đúng tiến độ Trong năm phát hiện 08 xã có người nhiễm HIV/AIDS mới; 411 ca nhiễm HIV mới (tăng 53 ca so cùng kỳ); chuyển sang AIDS 342 (tăng 42 ca); tử vong do AIDS 171 ca (tăng 34 ca)

Năm 2012, Trong 9 tháng đầu năm 2012 ghi nhận số xã/phường có người nhiễm HIV mới: 3; Số người phát hiện nhiễm HIV mới: 249; Số chuyển sang AIDS: 249; Số chết do AIDS: 129

d Chương trình Vệ sinh an toàn thực phẩm

Toàn tỉnh thành lập 30 đoàn thanh, kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm nhân Tháng hành động vì chất lượng an toàn vệ sinh thực phẩm, trước, trong dịp lễ, tết trên địa bàn toàn tỉnh, kết quả: Thanh, kiểm tra: 20.786 cơ sở, trong

đó 80% cơ sở đạt tiêu chuẩn ATVSTP (năm 2012: 87%), 20% số cơ sở không đạt tiêu chuẩn VSATTP, phạt cảnh cáo 205 cơ sở, phạt tiền 160 cơ sở, nạp kho bạc Nhà nước 87,7 triệu đồng Trong năm có 06 vụ ngộ độc thực phẩm (trong đó có 02 vụ > 50 người ở Nam Đàn và Nghĩa Đàn), 184 người mắc, tử vong do ngộ độc độc tố tự nhiên (cùng kỳ năm 2012: 05 vụ ngộ độc, 44 người mắc, 1 ca tử vong) Trong 9 tháng đầu năm 2011 đã có 5 vụ ngộ độc thực phẩm, 24 người mắc, không có tử vong

e Chương trình Dân số/Kế hoạch hóa gia đình

- Mục tiêu: Nâng cao chất lượng dân số, hợp lý về cơ cấu dân số Giảm

tỷ lệ sinh; giảm tỷ lệ sinh con thứ 3; giảm tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên

Trang 34

- Tổ chức triển khai có hiệu quả các Chỉ thị, Nghị quyết, Đề án đã được phê duyệt về công tác Dân số/KHHGĐ

- Kết quả (dự ước) các chỉ tiêu kế hoạch năm 2013 đều đạt và vượt kế hoạch đề ra, cụ thể:

+ Giảm tỷ suất sinh: 0,77% (kế hoạch 0,3-0,4%) (Năm 2012: 1,97%)+ Tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên: 17,82% (giảm 0,36%) (Năm 2012: 15,1%, năm 2011: 14,75%)

+ Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên: 11,15 %, đạt 100% kế hoạch

+ Tỷ số giới tính khi sinh: 115 bé trai/100 bé gái, đạt kế hoạch (Năm 2012: 118/100)

Các chương trình y tế khác: Triển khai hoạt động đạt kế hoạch đề ra

2.2 Thực trạng phát triển mạng lưới khám, chữa bệnh tỉnh Nghệ An đến năm 2013

2.2.1 Phát triển hệ y tế công lập

2.2.1.1 Các cơ quan quản lý nhà nước về công tác y tế

- Cơ quan Sở Y tế

Gồm có 08 phòng chức năng (Kế hoạch tổng hợp, Tài chính Kế toán,

Nghiệp vụ Y, Quản lý Dược, Quản lý hành nghề Y - Dược tư nhân, Tổ chức

cán bộ, Thanh tra và Văn phòng) và Bộ phận thường trực Công Đoàn Ngành

Trang 35

- Phòng y tế cấp huyện

Gồm 21 phòng y tế trực thuộc UBND huyện (17 huyện, 03 thị xã và 01 thành phố) Tổng số nhân lực hiện có 46 người Trong đó có 27 bác sỹ, 01 dược sỹ và 18 cán bộ khác Hầu hết các Phòng Y tế thiếu nhân lực, không có phương tiện, hiệu quả hoạt động còn hạn chế

Các trung tâm tuyến tỉnh, bao gồm: Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh; Trung tâm Chăm sóc Sức khỏe sinh sản, Trung tâm Phòng chống Sốt rét - Ký sinh trùng và Côn trùng; Trung tâm Phong và Da liễu; Trung tâm Phòng chống HIV/AIDS; Trung tâm Kiểm nghiệm Dược - Mỹ phẩm; Trung tâm Giám định Y khoa; Trung tâm Huyết học - Truyền máu; Trung Tâm Giám định Pháp Y - Tâm thần; Trung tâm Giám định Pháp Y (nằm trong khuôn viên Trung tâm Giám định Y khoa) Hiện tại 03 trung tâm chưa có trụ sở làm việc (Trung tâm Huyết học - truyền máu; Trung Tâm Giám định Pháp Y - Tâm thần; Trung tâm Giám định Pháp Y)

b Tuyến huyện

Y tế tuyến huyện gồm: 21 Trung tâm Y tế huyện, trong đó có Trung tâm y tế huyện Nghĩa Đàn có 80 giường bệnh; 21 Trung tâm Dân số - Kế hoạch hóa gia đình (trực thuộc Chi cục Dân số) Các Trung tâm Y tế tuyến huyện đang từng bước được đầu tư xây mới, nâng cấp cơ sở vật chất bằng nhiều nguồn vốn khác nhau (vốn 30a, Ngân sách tỉnh và vốn ODA)

Trang 36

c Tuyến xã

Tính đến 31/12/2013 có 87,5% xã có bác sỹ công tác; có 50,83% xã đạt Tiêu chí Quốc gia về y tế (244/480); 100% Trạm y tế có nữ hộ sinh trung học hoặc y sỹ sản nhi Hiện tại chất lượng cơ sở hạ tầng và trang thiết bị trạm y tế

đã xuống cấp nhiều, điều kiện chăm sóc bệnh nhân nhiều nơi còn thiếu thốn, chưa đáp ứng được nhu cầu ngày càng lớn của người dân Những xã đạt chuẩn quốc gia về y tế được đầu tư cơ sở vật chất khá hơn, nhưng nhìn chung

cơ sở hạ tầng và trang thiết bị còn thiếu và không đồng bộ, lý do một phần vì

từ năm 2004 đến nay không có chương trình, dự án nào đầu tư cho Trạm Y tế tuyến xã Bắt đầu từ năm 2011 tổ chức khám chữa bệnh cho các đối tượng tham gia BHYT tại tuyến xã

d Y tế thôn, bản

Toàn tỉnh có 5.877 thôn, bản, xóm Trong đó có 5.774 thôn, bản có nhân viên y tế thôn, bản hoạt động (=98,23%) Trong đó: có 63 nhân viên y tế thôn, bản hưởng lương theo viên chức (huyện Tương Dương); 579 nhân viên

y tế thôn, bản hưởng phụ cấp trách nhiệm 0,5 (575.000đ/người); số còn lại

hưởng phụ cấp 0,3 (345.000đ/người)

2.2.2 Mạng lưới khám, chữa bệnh – phục hồi chức năng

Tính đến 31/12/2013, trên địa bàn tỉnh Nghệ An có 39 bệnh viện (không kể bệnh viện bộ, ngành đóng trên địa bàn) với 6.491 giường bệnh, đạt 22,1 giường bệnh/vạn dân (không kể giường bệnh các bệnh viện bộ, ngành

đóng trên địa bàn và giường bệnh trạm y tế) (Năm 2006 có 3.905 giường bệnh, đạt 12,16 giường bệnh/vạn dân)

2.2.2.1 Hệ thống khám, chữa bệnh công lập

a Tuyến xã

Tuyến xã có 479 Trạm y tế, mỗi trạm có từ 4 - 5 cán bộ y tế, chủ yếu làm nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người dân và thực hiện chương trình Dân số/KHHGĐ ở cấp xã

Trang 37

b Tuyến huyện

Tuyến huyện, gồm: 17 bệnh viện huyện, thành phố, thị xã với 2.200 giường bệnh và 22 phòng khám đa khoa khu vực với 370 giường bệnh Đây là tuyến điều trị với các trang thiết bị kỹ thuật đơn giản, giải quyết một số cấp cứu và bệnh tật thông thường tại địa phương

Các bệnh viện tuyến huyện đa số được xây dựng từ nhiều năm trước nhưng không đủ kinh phí duy tu, bảo dưỡng thường xuyên nên đang xuống cấp nghiêm trọng, riêng Bệnh viện Thị xã Thái Hòa chưa được đầu tư xây dựng Về trang thiết bị y tế so với chuẩn của Bộ Y tế thì còn thiếu nhiều Đến nay đã có khoảng trên 50% bệnh viện đa khoa huyện đạt số trang thiết bị ở mức tối đa là 60 - 70% so với tổng danh mục trang thiết bị theo Quy định

c Tuyến tỉnh

Tuyến tỉnh, gồm: Bệnh viện Hữu nghị Đa khoa tỉnh và các Bệnh viện chuyên khoa (Nhi, Tâm thần, Y học cổ truyền, Chống lao và bệnh phổi, Nội tiết, Mắt, Điều dưỡng – Phục hồi chức năng và 02 Bệnh viện Đa khoa Khu vực (Tây Bắc và Tây Nam) với 2.365 giường bệnh Đây là tuyến có khả năng đáp ứng hầu hết các yêu cầu về điều trị, cấp cứu bệnh nhân (Bệnh viện Hữu nghị Đa khoa tỉnh có thể giải quyết được một số bệnh của tuyến Trung ương)

Nhìn chung, theo đánh giá chủ quan của mình, tôi thấy hệ thống khám, chữa bệnh công lập của tỉnh Nghệ An trong nhiều năm qua đã được đầu tư bằng nhiều nguồn vốn khác để xây mới và nâng cấp, cải tạo cơ sở hạ tầng và

bổ sung trang thiết bị y tế, chất lượng các dịch vụ từng bước được cải thiện Tuy nhiên, mạng lưới khám, chữa bệnh phát triển thiếu đồng bộ, đầu tư chắp

vá trong điều kiện luôn phải điều chỉnh quy hoạch, bệnh viện xây dựng thiếu

hệ thống xử lý chất thải, tình trạng quá tải ở bệnh viện tuyến tỉnh thường xuyên xảy ra Trong khi đó mô hình tổ chức y tế tuyến huyện chưa ổn định, trình độ áp dụng khoa học kỹ thuật hiện đại còn kém và cũng chưa được đầu

tư máy móc nhiều, cán bộ vừa thiếu lại vừa yếu Còn mô hình tổ chức y tế tuyến xã và phòng khám đa khoa khu vực chưa được quan tâm đầu tư nhiều,

Ngày đăng: 02/03/2015, 21:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
14. “Không thể và có thể trong nền Y học Thế giới”. www.suckhoedoisong.vn ngày 18/04/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Không thể và có thể trong nền Y học Thế giới
15. Ban biên tập Cổng thông tin điện tử Bộ Y tế “Thượng nghị sĩ Quốc hội Nhật Bản nói chuyện về Y tế toàn cầu và Phát triển”. www.moh.gov.vn ngày 5/3/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thượng nghị sĩ Quốc hội Nhật Bản nói chuyện về Y tế toàn cầu và Phát triển”. "www.moh.gov.vn
16. Bộ Y tế Việt Nam “Báo cáo chung tổng quan ngành Y tế Việt Nam năm 2013”. www.jahr.org.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chung tổng quan ngành Y tế Việt Nam năm 2013
1. Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An. Quyết định phê duyệt về việc quy hoạch mạng lưới khám, chữa bệnh tỉnh Nghệ An giai đoạn năm 2011 đến 2020, quyết định số 97/2010/QĐ-UBND Khác
2. UBND tỉnh Nghệ An, Quyết định về việc quy định chuẩn quốc gia về y tế xã, số 43/2005/QĐ-UB ngày 25/03/2005 Khác
3. Thủ tướng Chính phủ. Quyết định số: 81/ 2009/QĐ-TTg ngày 21 tháng 05 năm 2009 về việc phê duyệt Quy hoạch phát triển ngành công nghiệp hoá dƣợc đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2025 Khác
4. Thủ tướng Chính phủ. Quyết định số 197/2007/QĐ-TTg ngày 28/12/2007 phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển Kinh tế - Xã hội tỉnh Nghệ An đến năm 2020 Khác
5. Thủ tướng Chính phủ. Quyết định số 36/2004/QĐ-TTg ngày 17 tháng 03 năm 2004 về việc phê duyệt chiến lƣợc phòng, chống HIV/AIDS ở Việt Nam đến năm 2010 và tầm nhìn 2020 Khác
6. Thủ tướng Chính phủ. Quyết định số 222/2003/QĐ-TTg ngày 03 tháng 11 năm 2003 về việc phê duyệt chiến lƣợc phát triển y dƣợc học cổ truyền giai đoạn đến năm 2010 Khác
7. Thủ tướng Chính Phủ. Quyết định số 153/2006/QĐ-TTg. Phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống y tế Việt Nam giai đoạn đến năm 2010 và tầm nhìn đến 2020 Khác
8. Thủ tướng Chính phủ. Quyết định số 255/2006/QĐ-TTg, ngày 09 tháng 11 năm 2006, về việc phê duyệt chiến lƣợc quốc gia y tế dự phòng Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 Khác
9. Bộ Y tế. Quy định về Quy tắc ứng xử của công chức, viên chức, người lao động làm việc tại các cơ sở y tế số 2014/TT-BYT Khác
10. Bộ Y tế. Quy định chi tiết phân tuyến chuyên môn kỹ thuật đối với hệ thống cơ sở khám bệnh, chữa bệnh số 2013/TT-BYT Khác
11. PGS.TS Hoàng Sỹ Động, Nguyễn Thị Bích Phương (2013). Giáo trình Quy hoạch ngành, lĩnh vực Khác
12. Đỗ Nguyên Phương (1999) Y tế Việt Nam trong quá trình đổi mới, NXB Y học Khác
13. Bộ Y tế (2008), Những quy định mới nhất về quản lý tài chính, kế toán khám và chữa bệnh, thanh tra, kiểm tra chế độ đối với cán bộ công chức nghành y tế, NXB Hồng Đức Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Kết quả thực hiện các chỉ tiêu - quy hoạch phát triển mạng lưới khám, chữa bệnh tỉnh nghệ an giai đoạn 2014 - 2025
Bảng 2.1 Kết quả thực hiện các chỉ tiêu (Trang 47)
Bảng 3.1: Một số chỉ tiêu y tế cơ bản  TT  Chỉ tiêu chủ yếu  Đơn vị - quy hoạch phát triển mạng lưới khám, chữa bệnh tỉnh nghệ an giai đoạn 2014 - 2025
Bảng 3.1 Một số chỉ tiêu y tế cơ bản TT Chỉ tiêu chủ yếu Đơn vị (Trang 59)
Bảng 3.2: Dự kiến kế hoạch giường bệnh năm 2014 - quy hoạch phát triển mạng lưới khám, chữa bệnh tỉnh nghệ an giai đoạn 2014 - 2025
Bảng 3.2 Dự kiến kế hoạch giường bệnh năm 2014 (Trang 60)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w