1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

skkn một số ví dụ thực tế dùng trong giảng dạy công dân 10 thpt chuyên lương thế vinh

20 3,2K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 99,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bản thân tôi khi tìm cách “Phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh” đã nhận thấy: chỗ khó hiểu trong kiến thức cần truyền đạt sẽ bớt đi nhiều nếu tìm được những ví dụ thực tế, gần

Trang 1

2SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC

-I THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN:

1 Họ và tên: PHẠM TRÍ QUÂN

2 Ngày tháng năm sinh: 27/03/1958

3 Nam, nữ: nam

4 Địa chỉ: khu phố 2, phường Trảng Dài, Biên Hoà, Đồng Nai

5 Điện thoại: 0613.917784

6 E-mail: quan7980@yahoo.com

7 Chức vụ: Giáo viên

8 Đơn vị công tác: Trường THPT Nguyễn Trãi

II TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO:

- Học vị (hoặc trình độ chuyên môn, nghiệp vụ) cao nhất: Cử nhân

- Năm nhận bằng: 2002

- Chuyên ngành đào tạo: Giáo dục chính trị

- Trường đào tạo: ĐHSP TP Hồ Chí Minh

III KINH NGHIỆM KHOA HỌC:

- Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm: Giảng dạy môn GDCD

- Số năm có kinh nghiệm: 03

Trang 2

Tên sáng kiến kinh nghiệm

MỘT SỐ VÍ DỤ THỰC TẾ DÙNG TRONG

GIẢNG DẠY CÔNG DÂN 10

LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

Nếu ai đã từng giảng dạy Giáo dục Công dân lớp 10 đều biết chương trình được đánh giá bởi 3 chữ K: “khó, khô, khổ”

Tại sao lại có chuyện như vậy? Câu trả lời nằm trong nội dung chương trình Công dân nói chung và Công dân lớp 10 nói riêng Theo đó chương trình Công dân

lớp 10 gồm 2 phần Phần thứ nhất chiếm toàn bộ học kỳ 1 có tiêu đề là “Công dân

với việc hình thành thế giới quan, phương pháp luận khoa học” Như vậy, phần

này chính là Triết học, hay đúng hơn, là một số nội dung đã được rút gọn của triết học Mác- Lênin Mà triết học thì bao giờ cũng hết sức cao xa, trừu tượng, nhất là đối với lứa tuổi vẫn còn trẻ con của học sinh lớp 10

Vì vậy trong quá trình dạy và học, cả thầy lẫn trò đều gặp khó khăn Dù vậy, muốn hay không thì thầy vẫn phải dạy, và trò vẫn phải học, muốn ra sao thì ra, coi

như đã hoàn thành một nhiệm vụ bất khả thi Bản thân tôi khi tìm cách “Phát huy

tính tích cực, chủ động của học sinh” đã nhận thấy: chỗ khó hiểu trong kiến thức

cần truyền đạt sẽ bớt đi nhiều nếu tìm được những ví dụ thực tế, gần gũi với cuộc sống đời thường, hoặc gần gũi với những kiến thức về khoa học tự nhiên mà học sinh đã biết, thay vì dùng những ví dụ trong sách giáo khoa, là những thứ đã được đặt ra từ thế kỷ 20 do đó rất xa lạ với lứa tuổi 15 của học sinh lớp 10 hiện đang sống trong thế kỷ 21

Với mong muốn giúp học sinh bớt khó hiểu, tiết học bớt nặng nề khi học những những vấn đề cao siêu đó, xin trình bày ra đây một số ví dụ kiểu vừa nói, cho các bài 3, 4, 5, 6, 7 trong sách Giáo dục công dân lớp 10, xem như là thực hiện

thêm một “nhiệm vụ bất khả …” khác nữa của mình

Trang 3

I THỰC TRẠNG TRƯỚC KHI THỰC HIỆN GIẢI PHÁP CỦA ĐỀ TÀI

1 Thuận lợi:

- Chương trình đã được thực hiện từ 10 năm nay nhờ thế giáo viên có rất nhiều dịp để cải tiến quá trình giảng dạy bao gốm cả cải tiến về phương pháp giảng dạy, cách tiếp cận vấn đề cần truyền đạt, cách thức kiểm tra đánh giá kết quả giảng dạy của mình cũng như thu hoạch của học sinh Ngoài ra cũng do chương trình đã được thực hiện lâu như vậy do đó trên internet c1 rất nhiều giáo án mẫu để tham khảo, cũng như có rất nhiều câu hỏi dược đặt ra và rất nhiều giải đáp dưới nhiều quan điểm khác nhau tạo điều kiện thuận lợi cho việc tham khảo

- Xã hội hiện nay tạo điều kiện cho GV (và cả HS) có điều kiện tiếp cận nhiều nguồn thông tin từ nhiều phương tiện khác nhau

- HS đã tiếp cận với phương pháp dạy học tích cực từ những năm học cấp dưới ở hầu hết các môn học nên rất thuận lợi cho việc tiếp thu bài học dù là dưới hình thưc giảng dạy truyền thống hay hiện đại cho nên GV có thể rơng5 tay thử nghiệm nhiều cách thức giảng dạy khác nhau

2 Khó khăn:

- Tài liệu tham khảo đặc thù phục vụ cho môn GDCD 10 không phong phú,

và hầu như đều na ná như nhau từ cách đặt vân đề đến nội dung, nhất là những vi

dụ minh họa đực nêu ra rất cũ kỹ xa rời thực tế của cuộc sống hiện nay nên khó tiếp thu với học sính đặc biệt là HS lớp 10 (tính trong HS cấp 3)

- Quan niệm của xã hội, gia đình, và đặc biệt là HS đối với bộ môn naỳ còn khá lệch lạc: không đầu tư, không chú ý thậm chí là xem thường hoặc học cho xong…

3 Số liệu thống kê

Không có số liệu thống kê cụ thể

Trang 4

II NỘI DUNG ĐỀ TÀI

A Các ví dụ có thể dùng trong bài 3

1 Thế giới vật chất luôn vận động

Bài này sách giáo khoa đưa ra khá nhiều ví dụ về vận động trong phần 1a

(Thế nào là vận động) và cả trong câu hỏi 6 phần câu hỏi và bài tập Tuy nhiên để

bài học dễ hiểu hơn giáo viên nên hướng dẫn để học sinh cho thêm những ví dụ khác gần gũi hơn như

- Xe chạy, quạt quay, trái đất di chuyển xung quanh mặt trời, chim bay (vận động cơ học)

- Nước sôi, các êlectron chuyển đông xung quanh hạt nhân, các phân tử khí trong quả bóng chuyển động (vận động vật lý)

- Sắt bị ôxy hóa, ôxy và hydro kết hợp thành nước, axít ăn mòn kim loại (vận động hóa học)

- Hoa nở, đứa trẻ đang lớn, người lớn đang già (vận động sinh học)

- Triều Trần thay thế triều Lý, Sự tăng trưởng kinh tế, sự tăng dân số của một nước (vận động xã hội)

Nhìn chung kiến thức bài này không quá khó ngoài việc phải chúng minh quan điểm “vận động là phương thức tồn tại của thế giới vật chất” Nhưng đáng buồn là mặc dù dây là phần rất quan trọng nhưng sách giáo khoa lại nêu rất sơ sài:

“Chúng ta biết rằng

- Trái đất chỉ tồn tại khi tự quay quanh trục của nó và quay xung quanh mặt trời

- Sự sống chỉ tồn tại khi có trao đổi chất với môi trường bên ngoài”

Sau đó đi tới kết luận

“Bất kỳ sự vật hiện tượng nào cũng luôn vận động Bằng vận động và thông qua vận động mà sự vật hiện tượng tồn tại và thể hiện đặc tính của mình Bởi vậy vận động là thuộc tính vốn có, là phương thức tồn tại của các sự vật hiện tượng”

Tất nhiên điều đó không hề sai nhưng lập luận không vững nhất là ở ví dụ 1:

“Trái đất chỉ tồn tại khi tự quay quanh trục của nó và quay xung quanh mặt trời”.

Trang 5

Chỗ này học sinh có quyền thắc mắc: dù không quay quanh trục của nó và xung quanh mặt trời thì trái đất vẫn còn đó, sao lại bảo rằng không tồn tại?

Vì vậy để lập luận vững hơn nên sửa lại là: Trái đất chỉ là trái đất (tồn tại

với tư cách là trái đất) khi tự quay quanh trục của nó và quay xung quanh mặt trời (nếu không nó chỉ là một hành tinh chết và không đáng được gọi là trái đất) Vì

vậy, nên sửa lại một chút về cách trình bày như sau

Bất kỳ sự vật hiện tượng nào cũng luôn vận động Bằng vận động và thông qua vận động mà sự vật hiện tượng tồn tại và thể hiện đặc tính của mình

Ví dụ:

- Trái đất chỉ là trái đất, (một hành tinh có sự sống) khi tự quay quanh trục của nó và quay xung quanh mặt trời

- Sự sống chỉ tồn tại khi có trao đổi chất với môi trường bên ngoài”

Bởi vậy: vận động là thuộc tính vốn có, là phương thức tồn tại của các sự vật hiện tượng

2 Thế giới vật chất luôn phát triển

Cũng tương tự phần 1, sách giáo khoa đã nêu khá rõ khái niệm phát triển đồng thời nêu khá nhiều ví dụ cho nên không khó để hiểu khái niệm phát triển Tuy nhiên phần quan trọng nhất: chứng minh phát triển là khuynh hướng tất yếu của thế giới vật chất thì lại rất sơ sài

“ Quá trình phát triển của các sự vật hiện tượng không diễn ra một cách đơn giản thẳng tắp mà diễn ra quanh co, phức tạp, đôi khi có bước thụt lùi tạm thời Song khuynh hướng tất yếu của quá trình đó là cái mới ra đời thay thế cái cũ, cái tiến bộ thay thế cái lạc hậu”

Nêu vấn đề như vậy hoàn toàn chỉ là đưa ra một khẳng định, nhất là sau đó

sách giáo khoa đưa ra một yêu cầu: “Vận dụng quan điểm trên đây, em hãy phân

tích cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nước ta trong giai đoạn từ năm 1930 đến 1945”

Thử hỏi học sinh dựa vào quan điểm nào? Quan điểm “quá trình phát triển

của các sự vật hiện tượng không diễn ra một cách đơn giản thẳng tắp mà diễn ra

Trang 6

quanh co, phức tạp, …” hay quan điểm “khuynh hướng tất yếu của quá trình đó là cái mới ra đời thay thế cái cũ, …” để phân tích trong khi chưa hiểu tại sao

“khuynh hướng tất yếu của quá trình đó là cái mới ra đời thay thế cái cũ, cái tiến

bộ thay thế cái lạc hậu”

Lẽ ra để học sinh nắm được quan điểm này trước hết phải nêu vài ví dụ để

chứng minh quan điểm : “Quá trình phát triển của các sự vật hiện tượng không

diễn ra một cách đơn giản thẳng tắp mà diễn ra quanh co, phức tạp, đôi khi có bước thụt lùi tạm thời”

Ví dụ

+ Quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc của nước ta trong giai đoạn từ năm 1930 đến 1945 (có lúc thành công, có lúc tạm thời thất bại nhưng cuối cùng

là thắng lợi)

+ Quá trình tiến hóa của các giống loài (một số bị tiêu diệt, nhưng một số khác được sinh ra và nói chung đó là quá trình phát triển)

+ Sự lụi tàn và thay thế của những nền văn minh trong lịch sử (nhưng nhìn chung lịch sử loài người là phát triển )

Từ đó đi tới kết luận: “khuynh hướng tất yếu là cái mới ra đời thay thế cái

cũ, cái tiến bộ thay thế cái lạc hậu” thì sẽ hợp lý và rõ ràng hơn

B Các ví dụ có thể dùng trong bài 4

1 Thế nào là mâu thuẫn

a/ Mặt đối lập của mâu thuẫn

Đây là bài học mở đầu cho chùm 3 bài về các quy luật của chủ nghĩa Mác-Lênin Nếu học sinh không nắm được kiến thức cơ bản của bài này thì rất khó nắm kiến thức cơ bản bài 5 và 6 Trong đó việc nắm được khái niệm mâu thuẫn, mặt đối lập của mâu thuẫn và đưa ra được nhiều ví dụ về mâu thuẫn là vô cùng quan trọng Muốn học sinh đưa ra được các ví dụ về mâu thuẫn thì chính sách giáo khoa và giáo viên phải đưa ra được rất nhiều ví dụ để học sinh tham khảo và dựa vào đó để tìm thêm những ví dụ khác Rất tiếc về việc này sách giáo khoa đã không làm được

Trang 7

vì vậy nhiệm vụ nặng nề này trút lên vai của giáo viên Cho nên xin đưa ra đây một

số ví dụ để tham khảo

- Trên-dưới, trong-ngoài, trái-phải, tốt-xấu (điều này có vẻ đương nhiên).

- Cha-con, mẹ-con, thầy-trò (vì cha, mẹ nuôi dưỡng con cái, con cái nhân sự nuôi dưỡng của cha mẹ, thầy dạy, trò học …)

Xin nhắc là hoàn toàn có thể chấp nhận những ví dụ kiểu thứ hai này vì theo

định nghĩa: Mặt đối lập của mâu thuẫn là những khuynh hướng, tính chất

chúng phát triển theo những chiều hướng trái ngược nhau

Từ những ví dụ này và từ định nghĩa mâu thuẫn: mâu thuẫn là một chỉnh thể

trong đó 2 mặt đối lập … có thể nêu các ví dụ về mâu thuẫn như sau:

Cha mâu thuẫn với con, thầy mâu thuẫn với trò, học mâu thuẫn với dạy, kiến thức đã học mâu thuẫn với kiến thức chưa học, nam sinh mâu thuẫn với nữ sinh, học sinh chăm mâu thuẫn với học sinh lười …

Ngoài ra cũng cần nhấn mạnh:“Khi nói đến mặt đối lập của mâu thuẫn là

nói đến những mặt đối lập ràng buộc nhau bên trong mỗi sự vật hiện tượng không nên hiểu đó là mặt đối lập bất kỳ giữa sự vật hiện tượng này với sự vật hiện tượng kia”

b/ Sự thống nhất giữa các mặt đối lập

Nếu đồng ý với lý luận trên thì sẽ dễ dàng chấp nhận các ví dụ sau (mà nếu

chấp nhận điều này thì sẽ chấp nhận các ví dụ về mâu thuẫn bên trên): Có con thì

mới có cha Có cha thì mới có con (vì có sinh con mới trở thành cha) Có trò thì mới có thầy Có thầy thì mới có trò, và có thể nói đùa bằng câu trong truyện cổ tích

Việt Nam: “sinh con rồi mới sinh cha, sinh cháu giữ nhà rồi mới sinh ông”

c/ Sự đấu tranh giữa các mặt đối lập

Có thống nhất đương nhiên có đấu tranh Hoàn toàn có thể vận dụng những

ví dụ bên trên: Cha đấu tranh với con, thầy đấu tranh với trò Điều này nghe thật

vô lý nhưng hoàn toàn có thể chấp nhận được khi hiểu đấu tranh ở đây là sự tác

động nhau: thầy tác động (dạy…) trò, trò tác động thầy (đặt câu hỏi …) Ngược lại

đấu tranh giữa giai cấp thống trị và giai cấp bị trị là loại trừ, gạt bỏ nhau

Trang 8

Như vậy ngoài việc cung cấp thật nhiều ví dụ như trên, điều quan trọng

trong phần này là phải nhấn mạnh ý sau:”khái niệm đấu tranh trong quy luật mâu

thuẫn có ý nghĩa khái quát, tùy thuộc vào hình thức tồn tại cụ thể của các dạng vật chất mà chúng có những biểu hiện khác nhau (tác động, bài trừ gạt bỏ)”

2 Mâu thuẫn là nguồn gốc vận đông phát triển của sự vật hiện tượng

Nếu học sinh có thể hiểu được khái niệm mâu thuẫn bên trên thì vấn đề còn

lại của bài trở nên hết sức đơn giản theo gợi ý trong sách giáo khoa (tìm một mâu

thuẫn trong lớp: ở đây giáo viên nên yêu cầu học sinh tìm một mâu thuẫn có tính chất loại trừ nhau: VD: Nếu mâu thuẫn giữa kiến thức đã học với kiến thức chưa

học trong chương trình lớp 10 được giải quyết thì học sinh lớp 10 sẽ trở thành học

sinh lớp 11)

C Các ví dụ có thể dùng trong bài 5

1 Chất

Trong bài này việc hiểu chính xác khái niệm chất và lượng hết sức quan trọng Tuy nhiên các ví dụ trong sách giáo khoa lại rất dài dòng, bí hiểm và dễ gây hiểu lầm đặc biệt là khái niệm về lượng Xin nêu ra đây một số ví dụ có thể dùng

để làm rõ bài học như sau:

Nếu dựa vào khái niệm: “Chất là khái niệm dùng để chỉ những thuộc tính

tiêu biểu, phân biệt nó vói sự vật hiện tượng khác” thì có thể nêu ví dụ sau

- Đường có những tính chất: ngọt, dạng tinh thể, tan trong nước

- Muối có những tính chất: mặn, dạng tinh thể, tan trong nước

Và hoàn toàn có thể chấp nhận kết luận: Ngọt là chất của đường, mặn là

chất của muối, chạy bằng sức người là chất của xe đạp, chạy bằng động cơ là chất của xe máy

Tuy nhiên khi đi so sánh với nước mía thì tính chất phân biệt của đường là dạng tinh thể chứ không phải là ngọt, khi đi so sánh với ô tô thì tính chất phân biệt của xe máy là có 2 bánh chứ không phải có động cơ Vì vậy phải nói cho đầy đủ:

- Chất của đường là ngọt, có dạng tinh thể

- Chất của xe máy là có 2 bánh và chạy bằng động cơ

Trang 9

Cũng giống như trong ví dụ của sách giáo khoa:

- Chất của cách mạng tháng 8 năm 1945 là cách mạng dân tộc, dân chủ,

nhân dân (dân tộc không thôi chưa đủ, dân chủ, nhân dân không thôi cũng chưa

đủ)

- Chất của học sinh lớp 10 trường Nguyễn Trãi là học lớp 10 tại trường

Nguyễn Trãi thôi chưa đủ (vì chỉ phân biệt nhưng chưa tiêu biểu) mà phải thêm

vào tính chất: đã đậu kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 Nguyễn Trãi

2 Lượng

Nếu thấy như trên là đúng thì sẽ thấy còn nhiều tính chất khác nữa của sự vật hiện tượng và nếu những tính chất đó không phải là chất, thì sẽ đương nhiên là lượng (học sinh dễ dàng suy ra điều này) giáo viên chỉ còn cần phải khẳng định

bằng cách viện dẫn khái niệm lượng trong sách giáo khoa: Lượng dùng để chỉ

những thuộc tính …”

Nếu hiểu được như vậy thì sẽ dễ dàng thấy lượng không phải chỉ biểu thị

bằng các con số như trong các ví dụ của sách giáo khoa (và chính những ví dụ này

đã gây hiểu lầm là lượng cần phải biểu thị bằng những con số) đồng thời chất và

lượng là 2 khái niệm có sự phân biệt tương đối và có thể hoán đổi cho nhau (cùng

một tính chất ở chỗ này là chất nhưng chỗ khác lại là lượng) Chất và lượng đều là

thuộc tính của sự vật hiện tượng, không thể có chất mà không có lượng, không thể

có lượng mà không có chất

Sau đây là một số ví dụ về lượng:

- Lượng của học sinh lớp 10 trường Nguyễn Trãi là 15 tuối, đã học hết

chương trình lớp 9, hiện ở tại TP Biên Hòa …

- Lượng của nước là thể lỏng, không màu, không mùi, không vị

3 Quan hệ giữa sự biến đổi về lượng và sự biến đối về chất

a/ Sự biến đổi về lượng sẽ dẫn đến sự biến đối về chất

Khi đã tự mình nêu được nhiều ví dụ về chất và lượng học sinh sẽ dễ dàng trả lời các câu hỏi đại loại như: 1 kg vàng, 2 kg vàng có phải là lượng của vàng

không, 1 học sinh, 2 học sinh có phải là lượng của học sinh không (câu trả lời là

Trang 10

không vì 1 kg vàng, 2 kg vàng không phải là tính chất của vàng), từ đó sẽ dễ dàng

hiểu được quy luật: sự biến đổi về lượng sẽ dẫn đến sự biến đối về chất (học sinh

lớp 10 sau khi học hết năm, trải qua đủ các kỳ thi, đạt học lực từ trung bình trở lên

… sẽ trở thành học sinh lớp 11)

b/ Chất mới ra đời lại bao hàm một lượng mới tương ứng

Hiểu tất cả những điều trên thì điều này trở nên dễ dàng:

- Học sinh lớp 10 khi trở thành học sinh lớp 11 sẽ có nhiều kiến thức hơn, số

năm đi học nhiều hơn, tuổi lớn hơn…

- Nước khi đã đông thành nước đá thì sẽ có trạng thái khác, nhiệt độ khác, tỉ trọng khác … hay nói cách khác: chất mới ra đời lại bao hàm một lượng mới tương

ứng

Từ tât cả những điều nêu trên, nhận định quan trọng cần phải được rút ra là:

“để tạo ra sự biến đối về chất nhất thiết phải tạo ra sự biến đổi về lượng đến một giới hạn nhất định”

D Các ví dụ có thể dùng trong bài 6

1 Phủ định biện chứng và phủ định siêu hình

Bài này thực ra không nhiều kiến thức khó Khái niệm phủ định biện chứng

và phủ định siêu hình học sinh có thể dễ dàng hiểu Tuy nhiên nếu không có ví dụ thích hợp học sinh sẽ khó nắm được tính khách quan và tính kế thừa của phủ định biện chứng, đó là chưa kể khái niệm tính khách quan là gì

a/ Tính khách quan của phủ định biện chứng

Việc đầu tiên cần làm là giải thích khái niệm tính khách quan là gì Không phải hoc sinh nào cũng biết tính khách quan hay tính tất yếu khách quan là tính bắt buộc phải có, tất nhiên sẽ xảy ra Nếu hiểu được khái niệm này học sinh sẽ dễ dàng hiểu tính khách quan của phủ định biện chứng nghĩa là sự phủ định biện chứng đương nhiên sẽ xảy ra, không thể tránh khỏi, khi đó sẽ dễ dàng chấp nhận tính khách quan của nó thông qua những ví dụ sau đây

- Gieo một hạt đậu nếu không có gì bất thường xảy ra chắc chắn nó sẽ mọc thành cây

Ngày đăng: 02/03/2015, 13:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w