1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

skkn 1 số bài tập giúp học sinh khiếm thị lớp 2 rèn luyên kỹ năng định hướng trong trường học

18 358 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 1,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ BÀI TẬP GIÚP HỌC SINH KHIẾM THỊ LỚP 2 RÈN KỸ NĂNG ĐỊNH HƯỚNG DI CHUYỂN TRONG TRƯỜNG HỌC Người thực hiện: ĐOÀN NGỌC HƯƠNG Lĩnh vực nghiên cứu: Quản lý giáo

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI TRUNG TÂM NUÔI DẠY TRẺ KHUYẾT TẬT

Mã số

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ BÀI TẬP GIÚP HỌC SINH KHIẾM THỊ LỚP 2 RÈN KỸ NĂNG ĐỊNH HƯỚNG DI CHUYỂN TRONG

TRƯỜNG HỌC

Người thực hiện: ĐOÀN NGỌC HƯƠNG Lĩnh vực nghiên cứu:

Quản lý giáo dục Phương pháp dạy học bộ môn Phương pháp giáo dục

Lĩnh vực khác: ………

Có đính kèm:

Mô hình Phần mềm Phim ảnh Hiện vật khác

Năm học: 2011 - 2012

Trang 2

SƠ LƯỢC VỀ LÝ LỊCH KHOA HỌC

I THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN

1 Họ và tên: ĐOÀN NGỌC HƯƠNG

2 Ngày, tháng, năm sinh: 08/8/1982

3 Nam, nữ: Nữ

4 Địa chỉ: Ấp 2, xã Bình Lợi, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai

5 Điện thoại: 0613 954171 (CQ) – Di động: 0983019907

6 Fax: E-mail: huongco06@yahoo.com.vn

7 Chức vụ: Giáo viên

8 Đơn vị công tác: Trung tâm Nuôi dạy trẻ khuyết tật Đồng Nai

II TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO

- Học vị (hoặc trình độ chuyên môn, nghiệp vụ) cao nhất: Cử nhân Khoa học - Đại học Sư phạm TP HCM

- Năm nhận bằng: 2009

- Chuyên ngành đào tạo: Giáo dục đặc biệt

III KINH NGHIỆM KHOA HỌC

- Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm: Dạy trẻ Khiếm thị - Nhìn kém

- Số năm có kinh nghiệm: 09 năm

- Các sáng kiến kinh nghiệm đã có trong 05 năm gần đây:

+ Một số biện pháp hỗ trợ rèn kỹ năng viết cho học sinh nhìn kém

(Năm 2009)

+ Một số biện pháp rèn kỹ năng đọc cho học sinh nhìn kém lớp 4

(Năm 2011)

Trang 3

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI

TRUNG TÂM NUÔI DẠY TRẺ KHUYẾT TẬT

MỘT SỐ BÀI TẬP GIÚP HỌC SINH KHIẾM THỊ LỚP 2 RÈN KỸ NĂNG ĐỊNH HƯỚNG DI CHUYỂN TRONG TRƯỜNG HỌC

I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Như chúng ta đã biết, đối với một người bình thường, nhờ có đôi mắt với tầm bao quát được sự vật, hiện tượng trong các điều kiện khác nhau kể cả ban ngày lẫn ban đêm nên việc định hướng di chuyển, đi lại từ nơi này đến nơi khác đươc thực hiện một cách dễ dàng, thuận lợi Còn với người khiếm thị, do bị những hạn chế về khả năng thị giác, họ không thể quan sát rõ ràng, đầy đủ các sự vật, các quá trình và hiện tượng thực tế xung quanh Họ gặp rất nhiều khó khăn khi xác định mối quan hệ không gian giữa các sự vật, khoảng cách và phương hướng Do vậy, việc đi lại, di chuyển một cách độc lập, an toàn và thoải mái là những thách thức, khó khăn vô cùng lớn

Trong năm học 2011 -2012, khi được phân công chủ nhiệm lớp hai, tôi nhận thấy: Trải qua lớp một, đa số học sinh khiếm thị đã được trang bị những kỹ năng cơ bản về cơ giác vận động, định hướng nơi cơ thể, tiếp cận vật thể,…Tuy nhiên khi

bước vào chương trình “Định hướng di chuyển trong trường”, các em gặp rất nhiều

khó khăn trong việc bảo vệ an toàn cho bản thân, xác định đúng mục tiêu cần đến, ghi nhớ lộ trình, tìm sự hỗ trợ từ người khác; thường đi lệch hướng, tư thế đi không đẹp, chưa có sự nhạy bén cao trong việc sử dụng âm thanh cho định hướng di chuyển, … Mặc dù như thế, nhưng học sinh khiếm thị luôn có một niềm khát khao rất lớn đó là bản thân mình có thể tự đi lại một cách chững chạc, đẹp mắt, đảm bảo

an toàn và đến đúng mục tiêu mà không phụ thuộc vào sự dẫn dắt của người sáng Chính vì vậy: Kỹ năng định hướng di chuyển tốt có một ý nghĩa rất quan trọng đối với học sinh khiếm thị Định hướng đúng, đi đẹp, an toàn phải được rèn luyện trong cả quá trình dài Đối với các em, những khó khăn do khuyết tật của mình gây

ra trong cuộc sống, trong học tập nói chung và định hướng di chuyển nói riêng là rất lớn Việc tìm hiểu, giúp đỡ và hỗ trợ phù hợp cho các em là vô cùng quan trọng và thiết thực

Từ thực tế đứng lớp, quan sát thực trạng vấn đề này, tôi thiết nghĩ cần phải có những biện pháp nào đó nhằm giúp các em học sinh khiếm thị lớp 2 rèn kỹ năng định hướng di chuyển một cách thuận lợi và hiệu quả

Xuất phát từ nhiều lí do như trên, kết hợp với kinh nghiệm của bản thân, tôi đã

áp dụng “Một số bài tập giúp học sinh khiếm thị lớp 2 rèn kỹ năng định hướng di

chuyển trong trường học” Và hôm nay, tôi xin được chia sẻ với các bạn trong sáng

kiến kinh nghiệm này

II TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI

1 Cơ sở lý luận

1.1 Thế nào là trẻ khiếm thị?

Trẻ khiếm thị là trẻ bị khuyết tật về thị giác Cơ quan thị giác của trẻ bị phá hủy một bộ phận nào đó hoặc bị phá hủy hoàn toàn dẫn đến giảm hoặc mất khả năng

Trang 4

cảm nhận ánh sáng, màu sắc và sự vật, hiện tượng Hay nói một cách khác trẻ khiếm thị là trẻ có bệnh lí, tật khúc xạ hay khiếm khuyết của mắt gây giảm thị lực, có thị lực dưới 3/10 sau khi đã được điều trị bệnh lí về mắt và chỉnh kính

1.2 Thế nào là định hướng di chuyển?

Đối với người khiếm thị: Định hướng di chuyển là khả năng sử dụng các giác quan còn lại để xác định vị trí của mình ở một không gian nhất định; tìm hiểu và quyết định hướng đi, đi từ vị trí cố định hiện tại đến vị trí mong muốn khác một cách

an toàn, chính xác và thoải mái

1.3 Vai trò của các giác quan đối với trẻ khiếm thị trong việc định hướng di chuyển:

Theo quy luật bù trừ, khi gặp hạn chế về thị giác thì các giác quan còn lại sẽ gia tăng hoạt động làm nhiệm vụ hỗ trợ, bổ sung, thay thế, bù trừ cho các chức năng của thị giác Nhờ đó, trẻ khiếm thị vẫn nhận thức được thế giới khách quan Đây chính là

cơ sở khoa học để rèn cho trẻ kỹ năng định hướng di chuyển Theo đó, các giác quan còn lại của trẻ khiếm thị giữ vai trò như sau:

- Vai trò của xúc giác: Đối với trẻ khiếm thị, xúc giác là một giác quan cực kỳ quan trọng; sử dụng xúc giác là một cách tiếp xúc với thế giới trực tiếp và có ý nghĩa cao Xúc giác có thể phản ánh hầu hết các thuộc tính không gian, thời gian và các tính chất của vật thể thay thị giác

- Vai trò của thính giác: Thính giác có vai trò to lớn trong quá trình định hướng di chuyển của trẻ khiếm thị Thông qua âm thanh, trẻ có thể xác định được vị trí, phương hướng, khoảng cách, gọi tên được đồ vật,…

- Vai trò của khứu giác, vị giác: mùi, vị giúp trẻ biết nhiều thông tin phản ánh bản chất của sự vật; qua đó, trẻ có thể hiểu mùi vị đó thuộc cái gì, hiện tượng gì, chuyện gì đang diễn ra và sẽ xảy ra,…

- Vai trò của cơ giác vận động: Khi bị khiếm thị, cảm giác cơ giác vận động được phát triển và rất cần thiết cho trẻ để nhận thức định hướng, biết được các phía của bản thân, giúp trẻ cảm nhận được sự di chuyển của bản thân, nền đường, chỗ gồ ghề để điều chỉnh bước đi,…

Tuy nhiên, đối với học sinh khiếm thị, để sử dụng tốt chức năng của các giác quan này trong định hướng di chuyển là cả một quá trình rèn luyện lâu dài, bền bỉ và vấp phải rất nhiều khó khăn

1.4 Những khó khăn mà trẻ khiếm thị thường gặp khi định hướng di chuyển tại Trung tâm Nuôi dạy trẻ khuyết tật Đồng Nai:

Do hạn chế về khả năng nhìn, nên khi định hướng di chuyển trẻ khiếm thị thường gặp các khó khăn sau:

- Di chuyển khó khăn, chậm chạp Từ đó, trẻ khiếm thị ít hoặc lười đi lại, lười vận động di chuyển

- Tư thế đi đứng sai hoặc không đẹp (thường hếch mặt lên trời, hoặc cúi mặt xuống, hai chân đá về hai bên, tay vung vẩy khi đi,…)

- Do tri giác về thế giới xung quanh không đầy đủ nên ảnh hưởng xấu đến biểu tượng của trẻ mù Biểu tượng của trẻ mù thường mang tính chất: khuyết lệch, đứt đoạn, sơ sài, mức độ khái quát thấp

Trang 5

- Tình trạng mỏi mắt, nhức mắt, chảy nước mắt thường xuyên xảy ra dẫn đến trẻ tập trung kém, trong thời gian ngắn

- Không lường trước được: khung cảnh, khoảng cách, số lượng đối tượng, đặc điểm tâm lí của đối phương khi giao tiếp

- Khó nắm bắt kịp nội dung lời nói của người khác, thiếu hình ảnh thị giác dẫn tới hiểu sai ý hoặc thiếu chính xác

- Không nhớ được các lộ trình đã từng đi qua

Sau khi đã nắm rõ được dạng tật và đặc điểm của đối tượng học sinh mà mình đang chủ nhiệm, hiểu được những nhu cầu giáo dục đặc biệt của các em, hiểu được những khó khăn khi định hướng di chuyển mà các em gặp phải; tôi đã cho áp dụng một số bài tập phù hợp giúp học sinh khiếm thị lớp 2 định hướng di chuyển thuận lợi

và hiệu quả trong Trung tâm Nuôi dạy trẻ khuyết tật Đồng Nai

2 Nội dung, biện pháp thực hiện các giải pháp của đề tài

Sau đây là “Một số bài tập giúp học sinh khiếm thị lớp 2 rèn kỹ năng định

hướng di chuyển trong trường học”.

* Bài tập 1: Sử dụng các thế tay an toàn

Mục đích: Đây là cách sử dụng các tư thế của tay để đảm bảo an toàn cho cơ thể khi di chuyển

a An toàn ngang

 Các bước thực hiện:

- Cánh tay và cổ tay song song với nền nhà, đưa bàn tay về phía trước ngang vai, cách 20 - 25cm

- Các ngón tay khép lại, lòng bàn tay hướng về phía trước, đầu và các ngón tay phải đủ che bờ vai bên kia

- Phản ứng nhanh, có đủ sức, cần kịp thời ở các đầu ngón tay

 Công dụng:

- Thăm dò, kiểm tra khi nghi ngờ hoặc có cảm giác gặp chướng ngại vật

- Đi ngang qua cửa

- Đi vào chỗ không quen thuộc

- Tìm những vật dụng thông thường có tầm cao ngang vai như: tủ, kệ,…

b An toàn dưới

 Các bước thực hiện:

- Cánh tay duỗi thẳng xuống giữa người, lưng bàn tay hướng ra ngoài, các ngón tay khép lại, cách người 20 - 25cm

 Công dụng:

- Che chở phần dưới cơ thể khi nghi ngờ có chướng ngại vật thấp

- Tìm những mục tiêu thấp ngang tầm cánh tay bỏ thõng xuống như đầu giường, bàn, ghế,…

c An toàn trên

 Các bước thực hiện:

- Lòng bàn tay hướng ra ngoài, đầu ngón tay giữa chạm vào mí tóc ở trán

- Đưa tay ra cách mặt 20 - 25cm, các ngón tay khép lại và hướng lên trời

 Công dụng:

Trang 6

- Che mặt tránh vật lơ lửng như cành cây, cửa sổ đang mở,

- Tìm các mục tiêu vừa mặt như: dây phơi, …

- Tìm vật rơi khi cúi xuống

Hình 1: Học sinh khiếm thị đang sử dụng thế tay an toàn ngang

Hình 2, 3: Học sinh khiếm thị đang sử dụng thế tay an toàn dưới

Trang 7

Hình 4,5: Học sinh khiếm thị đang sử dụng thế tay an toàn trên

Do mất đi một phần hoặc hoàn toàn khả năng nhìn nên học sinh khiếm thị không thể lường trước được những gì phía trước mặt mình, những gì có thể gây nguy hiểm cho bản thân nếu như va phải trên đường di chuyển Được luyện tập kỹ

càng, thường xuyên bài tập này sẽ tạo cho trẻ sự tự tin, thói quen và sự tự chủ sử

dụng các thế tay an toàn khi cần thiết

* Bài tập 2: Nhắm hướng thẳng

 Công dụng:

- Giúp cho học sinh khiếm thị có kỹ năng tập trung tư tưởng, tưởng tượng một đường thẳng trước mặt và đi thẳng trên con đường đó; đi ngay ngắn, không lệch

về một phía

 Các bước thực hiện:

- Hai bàn chân đứng song song và hơi cách khoảng ở giữa, thân hình thẳng, đầu thẳng

- Hai cánh tay để thẳng với thân người

- Bước đi tự nhiên, không do dự, thẳng hướng tới mục tiêu cần đến

Vì thiếu kinh nghiệm và hình ảnh trực quan nên trong thực tế học sinh khiếm thị thường gặp rất nhiều khó khăn khi muốn đến một nơi nào đó Luyện tập bài tập này để tạo thành kỹ năng nhắm hướng thẳng cho học sinh khiếm thị, giúp các em không đi chệch hướng

Có rất nhiều tình huống để giúp trẻ thực hành bài tập này, hãy chọn lựa phù hợp với đối tượng học sinh và điều kiện hiện có

Ví dụ:

 Yêu cầu học sinh tập đi bằng chân không (sử dụng cảm giác xúc giác) trên nền xi măng dọc theo đường rãnh có sẵn

Trang 8

 Trò chơi “Đập lon”: Thông báo với học sinh khoảng cách từ vạch mức

đến mục tiêu là cái lon treo (đơn vị tính là bước chân của các em) Học sinh sẽ nối tiếp nhau xuất phát từ vạch mức, nhắm hướng thẳng đến đập lon

 Rèn cho học sinh nhắm hướng thẳng bằng cách đi dọc sân chơi, dựa vào lề

xi măng có sẵn, đi theo tiếng vỗ tay hoặc âm thanh

Hình 6, 7: Học sinh khiếm thị đang thực hiện bài tập “Nhắm hướng thẳng”

với lề xi măng và đường rãnh trên nền xi măng

* Bài tập 3: Dò tường

 Công dụng:

- Lấy hướng đi song song với tường

- Duy trì được phương hướng đến mục tiêu mà không bị gián đoạn,

- Giúp học sinh khiếm thị có thể đi lại giữa các lớp, di chuyển từ lớp học đến các phòng chức năng khác trong trường một cách chính xác

 Tiến hành theo các bước sau:

- Đứng song song cách mặt tường 20cm tại nơi xuất phát

- Cánh tay duỗi thẳng ngang tầm hông, lưng bàn tay hướng vào tường

- Các ngón tay co lại

- Tiến hành di chuyển trong khi tay dò tường di chuyển theo cho đến mục tiêu

Với bài tập này, luôn luôn phải áp dụng cùng lúc với bài tập sử dụng các thế tay an toàn để tránh những chướng ngại vật ngang tầm ngực như: cánh cửa sổ mờ, cánh cửa lớn mở lơ lửng

Ví dụ:

 Yêu cầu học sinh sử dụng kỹ năng dò tường để đi xung quanh lớp học

Trang 9

 Thực hành di chuyển từ lớp 1A đến lớp 2

Hình 8, 9: Học sinh khiếm thị đang thực hiện bài tập “Dò tường”

* Bài tập 4: Xác định điểm mốc

Muốn định hướng được tốt, đi đến vị trí định đến một cách an toàn, đòi hỏi học sinh khiếm thị ngoài việc dựa vào định hướng bản thân còn phải xác định các vật thể trong không gian, lấy đó làm điểm mốc để đi tới đích

 Các bước thực hiện:

- Xác định các điểm cố định, không thay đổi trong trường như: văn phòng, cầu thang, nhà ăn, thư viện, cột cờ,…

- Tìm mối quan hệ của chúng (khoảng cách, vị trí tương quan,…) để xác định hướng đi

- Dựa vào các điểm mốc như các điểm chỉ dẫn trên đường nhằm duy trì phương hướng của mình một cách chính xác

- Trong quá trình đi kết hợp với các thế tay an toàn và kỹ năng dò tường

Ví dụ: Thực hành xác định các điểm mốc trên đoạn đường từ nhà số 1 đến cầu

thang giữa của dãy lớp học như sau:

 Thông báo cho học sinh biết về các điểm mốc trên đường đi gồm: nhà số

1, nhà số 2, bậc tam cấp, cầu thang đầu tiên, phòng Phó Giám đốc, phòng Can thiệp sớm, phòng Vi tính, lớp Dự bị, lớp 1A1, cầu thang giữa

 Hướng dẫn các em đi trên đoạn đường này để xác nhận lại số lượng các điểm mốc GV vừa nêu

 Cho học sinh thực hành di chuyển lại để ước lượng khoảng cách (đơn vị tính là bước chân của các em) và vị trí tương quan của chúng

 GV theo dõi, chỉnh sửa và cho học sinh luyện tập nhiều lần

Trang 10

Ghi nhận kịp thời, đầy đủ những khó khăn và sự tiến bộ của học sinh làm cơ sở

để nâng dần mục đích yêu cầu cho việc luyện tập của học sinh theo thời gian

* Bài tập 5: Rèn kỹ năng nghe

Trong hoạt động định hướng di chuyển, kỹ năng nghe đóng một vai trò rất quan trọng Nó giúp học sinh khiếm thị xác định, gọi tên được âm thanh nghe thấy; xác định vị trí, phương hướng và gọi tên được đối tượng phát ra âm thanh Nhờ đó, các

em sẽ lập được mối liên hệ giữa âm thanh với sự vật, hiện tượng trên đường di chuyển để đưa ra những định hướng chính xác, phù hợp

Hãy hướng dẫn học sinh khiếm thị thực hiện bài tập sau:

a Phát hiện âm thanh

- Cho trẻ đi dạo ngoài trời; đi xung quanh trường; đến từng lớp, từng phòng chức năng,… và khuyến khích các em nghe, phân loại các tiếng động mà các em nghe thấy

- Yêu cầu trẻ xác định các loại tiếng động trong băng ghi âm GV đã chuẩn bị sẵn

- Chú ý rèn cho trẻ biết phát hiện các loại phương tiện giao thông khác nhau qua âm thanh

b Nghe - hiểu âm thanh

- Khi nghe âm thanh của vật gì đó, luyện tập cho trẻ hiểu với âm thanh như vậy thì vật đó đang, sẽ thực hiện hoạt động gì, có nguy hiểm không

c Định vị âm thanh

- Yêu cầu trẻ xác định vị trí, phương hướng của đối tượng gây ra âm thanh Thực hiện bài tập trên nhằm giúp trẻ dựa vào các hiểu biết về âm thanh để dễ dàng hơn trong việc xác định phương hướng, di chuyển đến vị trí đã định

* Bài tập 6: Giao tiếp

Trong trường học, trên đường đi từ lớp này đến lớp khác, từ sân chơi vào phòng ăn,…chắc chắn rằng học sinh khiếm thị sẽ gặp rất nhiều người với những vai trò và nhiệm vụ khác nhau như: thầy cô, các bạn học sinh, chú bảo vệ, khách tham quan Tuy nhiên, do không nhìn thấy nên học sinh khiếm thị thường thụ động, ngại giao tiếp hoặc nhờ sự giúp đỡ từ người khác trong khi điều này là vô cùng cần thiết nếu như trẻ đang di chuyển mà bị lạc đường, không tìm được đích đến, quên hướng đi,…Chính vì vậy, giáo viên hãy hướng dẫn cho học sinh khiếm thị luyện tập nhiều lần bài tập về giao tiếp như sau:

 Lý thuyết: Đưa ra các tình huống cụ thể có thể xảy ra trong cuộc sống (như:

Em muốn đi đến thư viện, nhưng đến ngã rẽ em không nhớ phải rẽ hướng nào; đang suy nghĩ thì em nghe thấy tiếng hai cô giáo đang trò chuyện, em phải làm sao?,…)

để trẻ nêu cách giải quyết bằng giao tiếp, từ đó rút ra kinh nghiệm cho bản thân

 Thực hành: Sau khi học sinh khiếm thị đã được luyện tập về lý thuyết, giáo viên hãy đưa trẻ vào thực hành; mạnh dạn tạo ra những tình huống từ đơn giản đến nâng cao trên đường định hướng di chuyển của trẻ để các em tự thực hiện, vượt qua các khó khăn để đến nơi an toàn

Học sinh cần được rèn sự tự chủ trong tiếp thu và diễn đạt ngôn ngữ lời nói, điệu bộ; phải hiểu và thể hiện được sự khiêm tốn, lịch sự, thích học hỏi của bản thân Thông qua giao tiếp, không những các em sẽ nhận được một lượng lớn thông tin cần thiết mà còn kịp thời nhận được sự hỗ trợ phù hợp khi di chuyển

Ngày đăng: 02/03/2015, 12:39

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Học sinh khiếm thị đang sử dụng thế tay an toàn ngang. - skkn 1 số bài tập giúp học sinh khiếm thị  lớp 2 rèn luyên kỹ năng định hướng trong trường học
Hình 1 Học sinh khiếm thị đang sử dụng thế tay an toàn ngang (Trang 6)
Hình 10: Học sinh khiếm thị đang thực hiện bài tập “Tránh chướng ngại vật”. - skkn 1 số bài tập giúp học sinh khiếm thị  lớp 2 rèn luyên kỹ năng định hướng trong trường học
Hình 10 Học sinh khiếm thị đang thực hiện bài tập “Tránh chướng ngại vật” (Trang 12)
Bảng so sánh mức độ đạt được các kỹ năng định hướng di chuyển - skkn 1 số bài tập giúp học sinh khiếm thị  lớp 2 rèn luyên kỹ năng định hướng trong trường học
Bảng so sánh mức độ đạt được các kỹ năng định hướng di chuyển (Trang 15)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w