Là một người dân của tỉnh Nam Định, với mong muốn đóng góp một phần nhỏ bé vào công cuộc phát triển của Tỉnh nên em chọn đề tài: “Thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA ở tỉnh Nam Định: Thực t
Trang 1BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ HỌC VIỆN CHÍNH SÁCH VÀ PHÁT TRIỂN
Giáo viên hướng dẫn : Th.S Bùi Quý Thuấn Sinh viên thực hiện : Trần Thị Thương Hằng Khóa : I
Ngành : Kinh tế Chuyên ngành : Kinh tế đối ngoại
HÀ NỘI – NĂM 2014
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu do tôi thực hiện
Các số liệu và kết quả nghiên cứu trình bày trong luận văn chưa từng được công bố ở các nghiên cứu khác
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Sinh viên thực hiện
Trần Thị Thương Hằng
Trang 3DANH MỤC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
Ký hiệu,
chữ viết tắt
Tiếng anh Tiếng việt
ADB Asian Development Bank Ngân hàng phát triển Châu Á FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài IBRD International Bank for
Reconstruction and Development
Ngân hàng quốc tế về Tái thiết và Phát triển
IDA International Development
Association
Hiệp hội Phát triển quốc tế
JBIC Japan Bank for International
Cooperation
Ngân hàng Hợp tác quốc tế Nhật Bản
JICA The Japan International
Cooperation Agency
Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản
ODA Official Development Assistant Viện trợ phát triển chính thức
Trang 4DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Danh sách các nhà tài trợ và lĩnh vực đƣợc hỗ trợ vốn ODA
thời kỳ 1993-2013
32
Bảng 2.2 Nguồn vốn ODA tiếp nhận và thực hiện thời kỳ 1993-2013 33
Sơ đồ 2.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy Sở Kế hoạch và Đầu tƣ tỉnh Nam
Định
28
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 2
DANH MỤC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT 3
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU 4
LỜI MỞ ĐẦU 7
CHƯƠNG 1 10
NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGUỒN VỐN ODA 10
1.1 Khái niệm về nguồn vốn ODA 10
1.2 Đặc điểm của nguồn vốn ODA 13
1.3 Phân loại ODA 14
1.3.1 Phân loại ODA theo phương thức hoàn trả 14
1.3.2 Phân loại ODA theo nguồn cung cấp 15
1.3.3 Phân loại theo mục tiêu sử dụng 16
1.4 Vai trò và ý nghĩa của nguồn vốn ODA 17
1.4.1 Đối với bên tiếp nhận vốn 17
1.4.2 Đối với bên tài trợ 18
1.5 Kinh nghiệm về thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA của các nước 18
1.5.1 Những kinh nghiệm thành công 18
1.5.2 Những bài học thất bại 21
1.5.3 Những bài học kinh nghiệm 22
CHƯƠNG 2 25
THỰC TRẠNG THU HÚT VÀ SỬ DỤNG NGUỒN VỐN ODA Ở TỈNH NAM ĐỊNH. 25
2.1 Giới thiệu tổng quan về Sở Kế hoạch và Đầu tư Nam Định 25
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển Sở Kế Hoạch và Đầu tư Tỉnh Nam Định 25
Trang 62.1.1.1 Lịch sử hình thành 25
2.1.1.2 Quá trình phát triển 25
2.1.2 Chức năng và nhiệm vụ 27
2.1.3.1 Chức năng 27
2.1.2.2 Nhiệm vụ 27
2.1.3 Sơ đồ cơ cấu tổ chức bộ máy Sở Kế hoạch và Đầu tư 28
2.1.4 Sự cần thiết phải tăng cường quản lý các dự án ODA của Sở Kế hoạch
và Đầu tư Nam Định……….28
2.2 Giới thiệu tổng quan về tình hình kinh tế - xã hội Tỉnh Nam Định 30
2.3 Thực trạng thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA ở Tỉnh Nam Định 31
2.3.1 Đánh giá chung tình hình thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA ở Tỉnh Nam Định trong thời kỳ 1993-2013 31
2.3.2 Tình hình thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA ở Tỉnh Nam Định 34
2.3.2.1 Tình hình thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA 34
2.3.2.2 Tình hình giải ngân 36
2.3.2.3 Quy trình quản lý thực hiện dự án ODA ở tỉnh Nam Định 38
2.3.2.4 Tình hình thực hiện chế độ báo cáo 39
2.3.2.5 Kết quả đạt được và những khó khăn, hạn chế trong thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA ở Tỉnh Nam Định 39
CHƯƠNG 3 47
ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP THU HÚT SỬ DỤNG ODA Ở TỈNH NAM ĐỊNH 47
3.1 Định hướng thu hút và sử dụng vốn ODA đến năm 2020, kế hoạch đến năm 2030 47
3.2 Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA ở tỉnh Nam Định 50
Trang 73.2.1.1 Hiểu đúng bản chất và xây dựng chiến lược thu hút và sử dụng nguồn
vốn ODA phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh Nam Định 50
3.2.1.2 Công tác vận động tài trợ ODA phải theo đúng chiến lược thu hút và sử dụng ODA 51
3.2.1.3 Tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá các dự án ODA 51
3.2.1.4 Nâng cao năng lực đội ngũ quản lý và thực hiện ODA 52
3.2.2 Nhóm giải pháp tăng cường năng lực thu hút và sử dụng ODA 53
3.2.2.1 Đẩy mạnh tốc độ giải ngân 53
3.2.2.2 Sử dụng ODA hiệu quả 55
KẾT LUẬN 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO 58
PHỤ LỤC 60
Trang 8LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Từ ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính – ngân hàng bắt đầu từ năm
2008 và cuộc khủng khoảng nợ công Châu Âu, nền kinh tế thế giới nói chung và nền kinh tế Việt Nam vẫn đang trong giai đoạn suy thoái, trì trệ chưa có chuyển biến tích cực nào Và vực dậy nền kinh tế hiện nay là điều kiên tiên quyết của bất kì quốc gia nào Đối với Việt Nam, vừa phải vực lại nền kinh tế, vừa thực hiện mục tiêu hoàn thành quá trình Công nghiệp hóa - hiện đại hóa tới năm 2020 thì càng khó khăn hơn Do đó, việc thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn vốn đầu tư phát triển ODA trở thành chiến lược quan trọng của Việt Nam và các nước trên thế giới Bởi nguồn vốn này là một yếu tố cần thiết cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội: nâng cao cơ sở hạ tầng, xóa đói giảm nghèo và cải thiện đời sống của nhân dân Cùng chung tay thực hiện nhiệm vụ chung của đất nước, tỉnh Nam Định cũng
đã và đang đặt ra nhiều định hướng và mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội trong các giai đoạn Nguồn vốn ODA cũng được Tỉnh sử dụng để hỗ trợ cho mọi nỗ lực phát triển của Tỉnh và đất nước Thực tế cho thấy, nhiều chương trình dự án ODA của Tỉnh đã hoàn thành đã và đang dần phát huy hiệu quả đóng góp cho sự phát triển của Tỉnh
Bên cạnh việc thực hiện nhiệm vụ chung của đất nước, Tỉnh Nam Định còn phấn đấu thực hiện mục tiêu trở thành trung tâm kinh tế của vùng Đồng bằng sông Hồng nên việc đánh giá tình hình và đề suất những giải pháp thu hút, sử dụng ODA một cách hiệu quả rất được Tỉnh ủy quan tâm hiện nay
Là một người dân của tỉnh Nam Định, với mong muốn đóng góp một phần
nhỏ bé vào công cuộc phát triển của Tỉnh nên em chọn đề tài: “Thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA ở tỉnh Nam Định: Thực trạng và Giải pháp” làm luận văn tốt
nghiệp để giúp mọi người có cái nhìn sâu hơn, rõ ràng hơn về vấn đề này
2 Đối tượng và mục đích nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tình hình thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA ở Tỉnh Nam Định
Mục đích nghiên cứu của đề tài là dựa trên thực trạng thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA tại Tỉnh Nam Định để từ đó đề ra những giải pháp nhằm nâng cao
Trang 93 Phạm vi nghiên cứu
Thực trạng thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA là một vấn đề có phạm vi nghiên cứu rất rộng có thể trong phạm vi quốc gia, khu vực hay phạm vi quốc tế Trong phạm vi đề tài này tập trung nghiên cứu về tình hình thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA ở Tỉnh Nam Định từ năm 2010 đến 2013
4 Phương pháp nghiên cứu
Bài nghiên cứu sử dụng hệ thống phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác nin, cụ thể là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, phương pháp tổng hợp so sánh và phương pháp thống kê, đối chiếu số liệu để xử lý số liệu
Lê-5 Kết cấu của khóa luận
Từ mục tiêu và phạm vi nghiên cứu, bài nghiên cứu được trình bày gồm ba chương để giải quyết tốt các nhiệm vụ đề ra:
Chương 1: Những lý luận chung về nguồn vốn ODA
Chương 2: Thực trạng thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA ở Tỉnh Nam Định Chương 3: Định hướng và giải pháp thu hút sử dụng nguồn vốn ODA ở Tỉnh Nam Định
Trang 10CHƯƠNG 1 NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGUỒN VỐN ODA
1.1 Khái niệm về nguồn vốn ODA
Lịch sử hình thành nguồn vốn ODA: Viện trợ phát triển chính thức đã có từ rất
lâu đời, nhưng sau chiến tranh thế giới thứ II, loại hình viện trợ này mới thực sự phổ biến và được quốc tế hóa
Sau chiến tranh thế giới thứ II, nhiều nước bị tàn phá nặng nề về kinh tế (chủ yếu là các nước Châu Âu), trong khi đó Mỹ không những không bị suy sụp bởi chiến tranh mà còn giàu lên trông thấy Với sức mạnh về mọi mặt của mình, nổi bật nhất là kinh tế, Mỹ đã đưa ra kế hoạch Marshall, vừa để trợ giúp các nước Tây Âu phục hồi kinh tế, vừa để chi phối, kiểm soát các nước này và ngăn chặn việc mở rộng ảnh hưởng của Liên Xô Trong thời kì từ năm 1947 đến 1951 Mỹ đã rót khoảng 2,5% tổng sản phẩm quốc gia (GNP) của mình vào công cuộc tái thiết Tây
Âu Để tiếp nhận viện trợ của kế hoạch Marshall, các nước Châu Âu đã đưa ra một chương trình phục hồi kinh tế và thành lập Tổ chức Hợp tác kinh tế Châu Âu, về sau trở thành Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD)
Được thúc đẩy bởi những tính toán lợi ích về mặt kinh tế và chính trị, Mỹ tìm cách mở rộng ảnh hưởng của mình thông qua việc tăng cường viện trợ ODA cho các nước đang phát triển, những quốc gia ở Thế giới thứ ba trong thập niên 1950 Đồng thời, Ngân hàng Tái thiết và Phát triển quốc tế (IBRC), tiền thân của Ngân hàng Thế giới (WB) cũng bắt đầu chuyển trọng tâm từ công cuộc tái thiết Châu Âu sang quá trình phát triển ở Thế giới thứ ba Các tổ chức chuyên biệt của Liên hợp quốc, ví dụ như Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp (FAO), Tổ chức Y tế thế giới (WHO) cũng lớn mạnh cả về số lượng và quy mô trong các thập niên 1950 và 1960 Cùng với sự hình thành đông đảo các tổ chức đa phương là sự ra đời của nhiều
tổ chức viện trợ tại các nước phát triển Tây Âu cũng như ở các nơi khác Trong vòng 20 năm kế tiếp, chương trình viện trợ song phương từ các nước cung cấp viện trợ khác còn tăng hơn rất nhiều so với của Mỹ Trong khuôn khổ hợp tác và phát triển, các nước OECD đã lập ra những Ủy ban chuyên môn, trong đó có Ủy ban Viện trợ Phát triển (DAC), nhằm giúp các nước đang phát triển nhanh phát triển
Trang 11Thập niên 1970 còn chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của viện trợ nước ngoài
từ các nước xuất khẩu dầu mỏ OPEC mới nổi lên Trong thập niên 1980, Nhật Bản tăng nhanh viện trợ nước ngoài, vượt qua Mỹ trở thành nước cung cấp viện trợ lớn nhất thế giới vào cuối thập niên này Đầu thập niên 1990, viện trợ cho các nước đang phát triển tăng rất nhanh, tuy nhiên đến những năm đầu thế kỷ 21 này, hầu hết các quốc gia phát triển đều liên tục cắt giảm viện trợ do những khó khăn về kinh tế trên toàn cầu, và thế giới phải liên tục xử lý, đương đầu với những tình huống cấp bách như viện trợ chống thiên tai (động đất, sóng thần, sâu bệnh, hạn hán…) Gần đây chủ nghĩa khủng bố đã làm cho thế giới phải chi tiêu ngày càng nhiều của hơn vào lĩnh vực này
Hiện nay đồng thời với việc cung cấp ODA song phương, các nước còn chuyển giao ODA cho các nước đang phát triển thông qua các tổ chức viện trợ đa phương Các tổ chức đó bao gồm: Các tổ chức thuộc hệ thống Liên hợp quốc như: Chương trình Phát triển của Liên hợp quốc (UNDP), Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF), Chương trình lương thực thế giới (WFP), Quỹ dân số Liên hợp quốc (UNFPA), Tổ chức Y tế thế giới (WHO), Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực (FAO); Liên minh Châu Âu (EU); Các tổ chức Phi Chính phủ (NGOs); Các tổ chức tài chính quốc tế, gồm: Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), Ngân hàng phát triển Châu Phi (AfDB), Quỹ viện trợ của OPEC; Quỹ Kuwait…
ODA được hình thành từ rất lâu và cho đến nay có rất nhiều tổ chức đưa ra khái niệm về ODA như sau:
Theo DAC: “Viện trợ phát triển chính thức ODA là nguồn vốn hỗ trợ chính
thức từ bên ngoài bao gồm các khoản viện trợ và cho vay với các điều kiện ưu đãi; ODA được hiểu là nguồn vốn dành cho các nước đang và kém phát triển (và các tổ chức nhiều bên), được các cơ quan thừa hành của Chính phủ, các tổ chức Liên Chính phủ, các tổ chức Phi Chính phủ tài trợ Vốn ODA phát sinh từ nhu cầu cần thiết của một quốc gia, một địa phương, một ngành được tổ chức quốc tế hay nước bạn xem xét và cam kết tài trợ, thông qua một hiệp định quốc tế được đại diện có thẩm quyền hai bên nhận và hỗ trợ vốn ký kết Hiệp định quốc tế hỗ trợ này được chi phối bởi công pháp quốc tế”
Trang 12Theo WB: “ODA là một phần của tài chính phát triển chính thức (ODF) trong
đó có yếu tố viện trợ không hoàn lại cộng với cho vay ưu đãi và phải chiếm ít nhất 25% trong tổng viện trợ thì gọi là ODA”
ODF là tài trợ phát triển chính thức, là tất cả nguồn tài chính mà Chính phủ các nước phát triển và tổ chức đa phương dành cho các nước đang và kém phát triển, loại vốn vay này gồm có ODA và các hình thức ODF khác, trong đó ODA chiếm tỷ trọng lớn
Theo định nghĩa của UNDP: “ODA bao gồm tất cả các khoản viện trợ không
hoàn lại và các khoản cho vay đối với các nước đang phát triển, cụ thể là: Do khu vực chính thức thực hiện, chủ yếu nhằm thúc đẩy kinh tế và phúc lợi, cung cấp với các điều khoản ưu đãi về mặt tài chính (nếu là vốn vay thì có phần không hoàn lại ít nhất là 25%)”
Theo Nghị định số 17/2001/NĐ-CP ngày 04 tháng 05 năm 2001 của Chính
phủ Việt Nam về việc ban hành quy chế quản lý và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức định nghĩa: “Hỗ trợ phát triển chính thức (gọi tắt là ODA) là hoạt động hợp tác phát triển giữa Nhà nước hoặc Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với Nhà tài trợ, bao gồm: Chính phủ nước ngoài và các tổ chức liên Chính phủ hoặc liên quốc gia”
Theo cách hiểu chung nhất: ODA là tất cả các khoản viện trợ không hoàn lại
hoặc các khoản tín dụng ưu đãi (cho vay dài hạn và lãi suất thấp) của các chính phủ, các tổ chức liên chính phủ, các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức thuộc hệ thống Liên Hợp Quốc, các tổ chức tài chính quốc tế dành cho các nước đang và chậm phát triển
Với tên gọi nguồn hỗ trợ phát triển chính thức, ODA về nguyên tắc chỉ tập trung cho việc khôi phục và thúc đẩy sự phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội của một quốc gia như xây dựng đường xá, giao thông công cộng, các công trình thủy lợi, bệnh viện, trường học, cấp thoát nước và vệ sinh môi trường Những dự án được đầu tư từ vốn ODA thường là các dự án không hoặc ít có khả năng sinh lời cao, ít
có khả năng thu hút được nguồn đầu tư tư nhân Vì vậy, nguồn lực này rất có ý nghĩa để hỗ trợ thực hiện các chương trình, dự án phục vụ lợi ích công cộng
Trang 131.2 Đặc điểm của nguồn vốn ODA
Thứ nhất, vốn ODA mang tính ưu đãi Vốn ODA có thời gian cho vay (hoàn
trả vốn dài), có thời gian ân hạn dài Chẳng hạn, vốn ODA của WB, ADB, JBIC có thời gian hoàn trả là 40 năm và thời gian ân hạn là 10 năm
Thông thường, trong ODA có thành tố viện trợ hoàn lại, đây cũng chính là điểm phân biệt giữa viện trợ và cho vay thương mại Thành tố cho vay không được xác định dựa vào thời gian cho vay, thời gian ân hạn và so sánh với lãi suất viện trợ với mức lãi suất tín dụng thương mại Sự ưu đãi ở đây là so sánh lãi suất với tập quán thương mại quốc tế Sự ưu đãi còn thể hiện ở chỗ vốn ODA chỉ dành cho các nước đang và chậm phát triển vì mục tiêu phát triển Có hai điều kiện cơ bản nhất
để các nước đang và chậm phát triển có thể nhận được ODA là:
Điều kiện thứ nhất: Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) bình quân đầu người thấp Nước có GDP bình quân đầu người càng thấp thì thường được tỷ lệ viện trợ không hoàn lại của ODA càng lớn và khả năng vay với lãi suất thấp và thời gian ưu đãi càng lớn
Điều kiện thứ hai: Mục tiêu sử dụng vốn ODA của các nước này phải phù hợp với chính sách và phương hướng ưu tiên xem xét trong mối quan hệ giữa bên cấp và bên nhận ODA Thông thường các nước cung cấp ODA đều có những chính sách và
ưu tiên riêng của mình, tập trung vào một số lĩnh vực mà họ quan tâm hay có khả năng kỹ thuật và tư vấn Đồng thời, đối tượng ưu tiên của các nước cung cấp ODA cũng có thể thay đổi theo từng giai đoạn cụ thể Vì vậy, nắm bắt được xu hướng ưu tiên và tiềm năng của các nước, các tổ chức cung cấp ODA là rất cần thiết
Về thực chất, ODA là sự chuyển giao có hoàn lại hoặc không hoàn lại trong những điều kiện nhất định một phần tổng sản phẩm quốc dân từ các nước phát triển sang các nước đang và chậm phát triển Do vậy, ODA rất nhạy cảm về mặt xã hội
và chịu sự điều chỉnh của dư luận xã hội từ phía nước cung cấp cũng như từ phía tiếp nhận ODA
Thứ hai, vốn ODA mang tính ràng buộc
ODA có thể ràng buộc (hoặc ràng buộc một phần hoặc không ràng buộc) nước nhận về đặc điểm, chỉ tiêu Ngoài ra mỗi nước cung cấp viện trợ cũng đều có những ràng buộc khác và nhiều khi các ràng buộc này rất chặt chẽ đối với nước nhận Ví
Trang 14dụ, Nhật Bản quy định vốn ODA của Nhật đều được thực hiện bằng đồng Yên Nhật
Vốn ODA mang yếu tố chính trị: Các nước viện trợ nói chung đều không quên dành được lợi ích cho mình vừa gây ảnh hưởng chính trị vừa thực hiện xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tư vấn vào nước tiếp nhận viện trợ Chẳng hạn, Bỉ, Đức và Đan Mạch yêu cầu khoảng 50% viện trợ phải mua hàng hóa dịch vụ của nước mình Canada yêu cầu tới 65% Nhìn chung 22% viện trợ của DAC phải được sử dụng để mua hàng hóa và dịch vụ của các quốc qia viện trợ
Thứ ba, ODA là nguồn có khả năng gây nợ
Khi tiếp nhận và sử dụng nguồn vốn ODA do tính chất ưu đãi nên gánh nặng
nợ thường xuyên xuất hiện Một số nước do không sử dụng hiệu quả ODA có thể tạo nên sự tăng trưởng nhất thời nhưng sau một thời gian lại lâm vào vòng nợ nần
do không có khả năng trả nợ Vấn đề là ở chỗ vốn ODA không có khả năng đầu tư trực tiếp cho sản xuất, nhất là cho xuất khẩu trong khi việc trả nợ lại dựa vào xuất khẩu thu ngoại tệ Do đó, trong khi hoạch định chính sách sử dụng ODA phải phối hợp với các nguồn để tăng cường sức mạnh kinh tế và khả năng xuất khẩu
1.3 Phân loại ODA
1.3.1 Phân loại ODA theo phương thức hoàn trả
Viện trợ không hoàn lại (ODA không hoàn lại): Viện trợ mà Nhà tài trợ cung
cấp viện trợ để bên nhận viện trợ thực hiện các chương trình, dự án theo sự thỏa thuận giữa các bên Bên nhận tài trợ sử dụng cấp phát lại hoặc cho doanh nghiệp vay lại theo nhu cầu phát triển kinh tế của đất nước Viện trợ không hoàn lại chiếm khoảng 25% tổng số ODA toàn cầu và thường ưu tiên cho những chương trình, dự
án thuộc các lĩnh vực: y tế, dân số, kế hoạch hóa gia đình, giáo dục – đào tạo, các vấn đề xã hội
Viện trợ không hoàn lại thường được thực hiện dưới các dạng:
- Hỗ trợ kỹ thuật: Thực hiện các nghiên cứu phát triển, lập nghiên cứu khả thi, đánh giá tác động về môi trường, nghiên cứu thay đổi thể chế chính sách, đào tạo tăng cường năng lực quản lý, hỗ trợ ngành nghề, xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng cơ bản Các tổ chức tài trợ thực hiện thông qua việc thuê mướn chuyên gia về
để đào tạo cho nước nhận ODA
Trang 15- Viện trợ nhân đạo bằng hiện vật: Các nước tiếp nhận ODA dưới hình thức hiện vật như: Lương thực, vải, thuốc chữa bệnh, vật tư, nguyên liệu… nhưng thông thường sẽ được tính với giá rất cao
- Đầu tư các dự án bảo vệ môi trường: Các dự án xử lý chất thải rắn đô thị, xử
lý nước thải đô thị, xây dựng các bệnh viện phục vụ cộng đồng…
Viện trợ có hoàn lại: Nhà tài trợ sẽ cho nước cần vay vốn một khoản tiền hoặc
hàng hóa (bao gồm cả vật tư, nguyên nhiên liệu) tùy theo quy mô và mục đích đầu
tư với mức lãi xuất ưu đãi và thời gian trả nợ thích hợp, trong đó yếu tố không hoàn lại của khoản vay tối thiểu là 25%
Những điều kiện ưu đãi thường là:
- Lãi suất thấp: tùy thuộc vào mục tiêu vay và nước vay
- Thời hạn vay nợ dài: Nhằm giúp giảm gánh nặng trả nợ cho các nước trong thời gian đầu còn gặp khó khăn (từ 20-30 năm)
- Có thời gian ân hạn (không trả lãi hoặc hoãn trả nợ) từ 10-12 năm để bên tiếp nhận có đủ thời gian pháp huy hiệu quả sử dụng nguồn vốn vay
ODA cho vay hỗn hợp: là các khoản ODA kết hợp một phần ODA không hoàn
lại và có hoàn lại theo các điều kiện của tổ chức Hợp tác kinh tế và phát triển, những yếu tố không hoàn lại phải đạt không dưới 25% của tổng giá trị các khoản đó; hoặc có thể kết hợp một phần không hoàn lại, một phần ưu đãi và một phần tín dụng thương mại
Nhìn chung trong xu hướng phát triển hiện nay, các nước cung cấp ODA có chiều hướng giảm hình thức viện trợ không hoàn lại và tăng hình thức tín dụng ưu đãi hoặc cho vay hỗn hợp Bên cạnh đó, hiện đang xuất hiện xu hướng đồng tài trợ của nhiều quốc gia khác nhau cho một chương trình, dự án
1.3.2 Phân loại ODA theo nguồn cung cấp
ODA song phương (chiếm khoảng 80%): Là khoản viện trợ trực tiếp từ nước
này đến nước kia thông qua hiệp định được ký kết giữa hai Chính phủ ODA song phương chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số ODA thế giới do ODA song phương dựa trên mối quan hệ hữu nghị giữa hai quốc gia với nhau nên thủ tục tiến hành cung cấp và tiếp nhận so với ODA đa phương đơn giản hơn, thời gian ký kết cũng nhanh hơn và các lĩnh vực hợp tác cũng đa dạng, quy mô dự án cũng linh hoạt hơn Tuy nhiên vấn đề tài trợ song phương cũng có những điều kiện ràng buộc khi cho vay:
Trang 16Bên nhận tài trợ thường phụ thuộc việc thuê chuyên gia tư vấn của nước tài trợ; Nước nhận tài trợ phải mua máy móc, hàng hóa, dịch vụ của nước tài trợ và thông qua các điều kiện ràng buộc này, các nhà tài trợ mở rộng được thị trường, thị phần cung cấp hàng hóa, kỹ thuật và dịch vụ của nước mình ở các nước tiếp nhận ODA
và cả các mục tiêu phi kinh tế (chính trị và sự ảnh hưởng)
ODA đa phương (chiếm khoảng 20%): là viện trợ chính thức của một tổ chức
quốc tế (IMF, WB,…) hay tổ chức khu vực (ADB, EU,…) hoặc của một Chính phủ của một nước dành cho Chính phủ của một nước nào đó, nhưng có thể được thực hiện thông qua các tổ chức đa phương (UNDP, UNICEF,…), có thể các khoản viện trợ của các tổ chức tài chính quốc tế được chuyển trực tiếp cho bên nhận viện trợ Các tổ chức tài chính quốc tế cung cấp ODA chủ yếu:
- Ngân hàng thế giới (WB)
- Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF)
- Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB)
Nguồn vốn đa phương chiếm khoảng 20% trong tổng số ODA trên thế giới, nhưng được hình thành từ sự đóng góp của các nước thành viên của mỗi tổ chức Vì vậy, điều kiện mà các tổ chức đa phương đặt ra chủ yếu có lợi cho các nước đóng góp (đặc biệt cho những nước có mức đóng góp cao); hầu hết các nhà tài trợ đều dựa vào tỷ lệ đóng góp của mình trong quỹ đa phương để gây áp lực buộc bên nhận phải thực hiện những đòi hỏi của mình
1.3.3 Phân loại theo mục tiêu sử dụng
Hỗ trợ cán cân thanh toán: Gồm các khoản ODA cung cấp để hỗ trợ ngân
sách Chính phủ, thường được thực hiện thông qua các dạng:
- Hỗ trợ nhập khẩu dưới hình thức nhận viện trợ hàng hóa: Chính phủ nước nhận ODA tiếp nhận một lượng hàng hóa có giá trị tương đương với các khoản cam kết, sau đó bán hàng hóa ở thị trường nội địa để thu nội tệ
- Chuyển giao trực tiếp cho nước nhận ODA: loại hình này rất ít
Tín dụng thương mại: Thông thường nước cung cấp thường yêu cầu bên tiếp
nhận phải dùng phần lớn hoặc hầu hết vốn vay chỉ để mua hàng hóa của nước cung cấp
Trang 17Viện trợ phi dự án: Nước viện trợ và nước tiếp nhận ký kết hiệp định cho mục
đích tổng quát mà không cần xác định chính xác khoản viện trợ sẽ sử dụng cho dự
án nào
Tài trợ theo chương trình, dự án: Thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng vốn
ODA Điều kiện để nhận tài trợ là phải có dự án cụ thể, chi tiết và các hạng mục sẽ
sử dụng ODA Tài trợ cơ bản thường dùng cho các dự án xây dựng đường giao thông, cầu, cống, hệ thống đê sông, biển, các dự án bảo vệ môi trường, xây dựng nhà máy cung cấp nước sạch, bệnh viện, trường học… Nói chung để xây dựng cơ
sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội
1.4 Vai trò và ý nghĩa của nguồn vốn ODA
1.4.1 Đối với bên tiếp nhận vốn
Đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa cho các nước đang phát triển: Để rút ngắn giai đoạn phát triển kinh tế, khắc phục tình trạng lạc hậu, tận dụng tối đa lợi thế của nước đi sau để thúc đẩy kinh tế trong nước phát triển
Tạo thêm nguồn lực chủ đọng đầu tư cho sự phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế -
kỹ thuật – xã hội: Để phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - kỹ thuật – xã hội tạo tiền đề cho sự phát triển kinh tế đòi hỏi phải có nhiều vốn, song các nguồn vốn đầu tư vô cùng lớn lớn này lại không sinh lợi trực tiếp ngay tức thì mà nó chỉ tạo tiền đề cho các nước khác phát triển Vì thế, các nước đang phát triển đều tận dụng nguồn vốn
ưu đãi ODA cho đầu tư phát triển kinh tế - kỹ thuật – xã hội
Tiếp thu những thành tựu khoa học kỹ thuật – công nghệ hiện đại: ODA dưới dạng viện trợ không hoàn lại giúp cho các nước nhận viện trợ tiếp thu được những thành tựu khoa học, công nghệ hiện đại của các nước phát triển, có cơ hội để nhập khẩu máy móc hiện đại và phát triển nguồn nhân lực cần thiết cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Hoàn thiện cơ cấu kinh tế: Đối với các nước đang phát triển khó khăn kinh tế
là vấn đề không thể tránh khỏi, trong đó, nợ nước ngoài và thâm hụt cán cân thanh toán là những vấn đề được quan tâm nhất Do đó, nguồn vốn ODA được sử dụng cho việc làm giảm những khó khăn đó, từ đó Chính phủ có thể đưa ra những thể chế chính sách và điều chỉnh chính sách cơ cấu kinh tế cho phù hợp
Hỗ trợ thực hiện về mặt chiến lược về mặt xã hội: Xét về mặt tổng thể tổng thể, ODA cũng là công cụ quan trọng hỗ trợ các nước đang và chậm phát triển thực
Trang 18hiện chiến lược xóa đói giảm nghèo, góp phần xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn, điện khí hóa nông thôn, thủy lợi, chỉnh trang đô thị, giải quyết các vấn nạn về ô nhiễm môi trường, bảo vệ sức khỏe cho phụ nữ và trẻ em… là những chương trình, dự án mang lại ý nghĩa phát triển xã hội một cách sâu sắc
Tăng khả năng thu hút vốn FDI và tạo điều kiện để mở rộng đầu tư phát triển trong nước: Để thu hút vốn đầu tư, mỗi quốc gia phải đảm bảo cho mình một môi trường đầu tư thuận lợi đảm bảo đầu tư có lợi với chi phí thấp và hiệu quả đầu tư cao Muốn thực hiện được vấn đề này Chính phủ phải tập trung vào việc nâng cấp, cải thiện và xây dựng cơ sở hạ tầng, hệ thống tài chính, nghiên cứu sửa đổi, bổ sung hoàn thiện hệ thống luật pháp… Chỉ có như thế mới thu hút được nguồn vốn FDI, thúc đẩy đầu tư trong nước phát triển
1.4.2 Đối với bên tài trợ
Tạo điều kiện cho các công ty của bên cung cấp hoạt động thuận lợi hơn tại các nước tiếp nhận ODA một cách gián tiếp Các công ty này nhận được sự ưu đãi của nước tiếp nhận trong công việc kinh doanh: Giành được quyền ưu tiên trong các cuộc đấu thầu, bán sản phẩm, ưu đãi về đất đai, ưu đãi về thuế… làm cho sản phẩm của họ tăng thêm tính cạnh tranh so với các sản phẩm cùng loại có xuất xứ từ các nước khác
Ngoài những nguồn lợi về kinh tế, nước viện trợ còn có thể đạt được những mục đích về chính trị, nâng tầm ảnh hưởng của họ về mặt kinh tế, văn hóa đối với nước nhận viện trợ
1.5 Kinh nghiệm về thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA của các nước
1.5.1 Những kinh nghiệm thành công
Indonesia:
Hàng năm các bộ, ngành chủ quản phải lập danh mục các dự án cần hỗ trợ ODA, gửi đến Bộ Kế hoạch quốc gia (BAPPENAS) để tổng hợp Bộ Kế hoạch quốc gia thường có quan điểm độc lập với bộ chủ quản, dựa trên lợi ích tổng thể của quốc gia để xem xét, thẩm định các dự án ODA Đến nay, rất nhiều dự án bị Bộ Kế hoạch quốc gia từ chối, đã thể hiện rõ tính độc lập, chủ quyền của Indonesia trong quan hệ quốc tế Ngay cả địa điểm ký các dự án ODA cũng thay đổi Nếu trước đây thường
ký tại Hoa Kỳ (trụ sở của WB) hoặc Philippines (trụ sở của ADB), thì đến nay hầu
Trang 19hết các dự án đều được ký tại Jakarta để tránh việc đoàn đàm phán của Indonesia bị đối tác nước ngoài gây ảnh hưởng
Thuê các luật sư giỏi để tư vấn cho Chính phủ trong quá trình đàm phán, thu hút và sử dụng ODA đang ngày càng trở thành xu hướng phổ biến ở Indonesia, nhất
là đối với các dự án ODA có sử dụng vốn vay lớn
Chính phủ Indonesia tuyên bố nguyên tắc chỉ vay tiếp dự án mới khi đã thực hiện xong dự án cũ, thể hiện rõ quyết tâm sử dụng thật sự hiệu quả và giải ngân đúng tiến độ nguồn hỗ trợ phát triển chính thức Bên cạnh đó, Chính phủ cũng nhấn mạnh nguyên tắc, vay ODA phải đảm bảo độ an toàn cao Đối với các dự án ODA
có sử dụng vốn lớn, yêu cầu phải có chuyên gia tư vấn là điều kiện tiên quyết nhằm đảm bảo tính hiệu quả của dự án
Bộ Tư pháp Indonesia cũng đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút, quản lý
và sử dụng các dự án ODA, vì Bộ Tư pháp là cơ quan đưa ra ý kiến về pháp lý đối với các dự thảo Hiệp định vay vốn nước ngoài Mục đích của cơ chế điều phối này
là tránh sự trùng lặp trong hoạt động hợp tác
Trung quốc: Nguyên nhân thành công của việc thu hút và sử dụng ODA ở
Trung Quốc là: Có chiến lược hợp tác tốt, xây dựng tốt các dự án, cơ chế điều phối
và thực hiện tốt cơ chế theo dõi và giám sát Việc trả vốn ODA ở Trung Quốc theo cách “ai hưởng lợi, người đó trả nợ” Quy định này bắt buộc người sử dụng phải tìm giải pháp sản sinh lợi nhuận và lo bảo vệ nguồn vốn ODA mà họ đang nắm giữ
Ba Lan: Ba Lan quan niệm để sử dụng vốn ODA đạt hiệu quả, trước hết phải
tập trung đầu tư vào nguồn nhân lực và năng lực thể chế Chính phủ Ba Lan cho rằng, việc thực hiện dự án ODA mà giao cho các bộ phận hành chính không phải là thích hợp Cơ sở luật pháp rõ ràng và chính xác trong toàn bộ quá trình là điều kiện
để kiểm soát và thực hiện thành công các dự án ODA Ba Lan đề cao hoạt động phối hợp với đối tác viện trợ
Ở Ba Lan, các nguồn hỗ trợ được coi là “quỹ tài chính công”, việc mua sắm tài sản công phải tuân theo Luật mua sắm công và theo những quy tắc kế toán chặt chẽ Quá trình giải ngân khá phức tạp nhằm kiểm soát đồng tiền được sử dụng đúng mục đích Trong đó, nhà tài trợ có thể yêu cầu nước nhận viện trợ thiết lập hoặc sửa đổi
hệ thống thể chế và hệ thống luật pháp Cơ quan chịu trách nhiệm gồm có các Bộ, một số cơ quan Chính phủ, trong đó Bộ Phát triển đóng vai trò chỉ đạo
Trang 20Ba Lan đặc biệt chú trọng công tác kiểm soát và kiểm toán Công tác kiểm toán tập trung vào kiểm toán các hệ thống quản lý Trong đó chịu trách nhiệm gồm
có kiểm toán nội bộ trong mỗi cơ quan, các công ty kiểm toán nước ngoài được thuê, và các dịch vụ kiểm toán của Ủy ban châu Âu Khi công tác kiểm toán phát hiện có những sai sót, sẽ thông báo các điểm không hợp lệ cho tất cả các cơ quan Công tác kiểm soát tập trung vào kiểm tra tình hình hợp pháp và tính hợp thức của các giao dịch, kiểm tra hàng năm và chứng nhận các khoản chi tiêu, kiểm tra cuối kỳ, kiểm tra bất thường
Chính phủ Ba Lan cho rằng, kiểm tra và kiểm toán thường xuyên không phải
để cản trở mà là để thúc đẩy quá trình dự án
Malaysia: Ở Malaysia, vốn ODA được quản lý tập trung vào một đầu mối là
Văn phòng Kinh tế Kế hoạch Vốn ODA được đất nước này dành cho thực hiện các
dự án xóa đói giảm nghèo, nâng cao năng lực cho người dân
Văn phòng Kinh tế Kế hoạch Malaysia là cơ quan lập kế hoạch ở cấp Trung ương, chịu trách nhiệm phê duyệt chương trình dự án, và quyết định phân bổ ngân sách phục vụ mục tiêu phát triển quốc gia
Malaysia đánh giá cao hỗ trợ kỹ thuật từ các nhà tài trợ Mục đích lớn nhất của Malaysia là nhận hỗ trợ kỹ thuật để tăng cường năng lực con người thông qua các lớp đào tạo
Malaysia công nhận rằng họ chưa có phương pháp giám sát chuẩn mực Song chính vì vậy mà Chính phủ rất chú trọng vào công tác theo dõi đánh giá Kế hoạch theo dõi và đánh giá được xây dựng từ lập kế hoạch dự án và trong lúc triển khai Cũng tương tự như Ba Lan, Malaysia đặc biệt chú trọng đơn vị tài trợ trong hoạt động kiểm tra, giám sát Phương pháp đánh giá của đất nước này là khuyến khích phối hợp đánh giá giữa nhà tài trợ và nước nhận viện trợ, bằng cách hài hòa
hệ thống đánh giá của hai phía Nội dung đánh giá tập trung vào hiệu quả của dự án
so với chính sách và chiến lược, nâng cao công tác thực hiện và chú trọng vào kết quả
Hoạt động theo dõi đánh giá được tiến hành thường xuyên Cũng quan niệm như Ba Lan, Malaysia cho rằng công tác theo dõi đánh giá không hề làm cản trở dự
án, trái lại sẽ giúp nâng cao tính minh bạch, và đặc biệt là giảm lãng phí
Trang 21Mỗi nước mỗi cách và dù theo cách nào đi nữa, mục tiêu lớn nhất mà lân bang của chúng ta đã đặt ra và đạt được, đó là bảo vệ tối đa nguồn vốn, và phục vụ tốt nhất cho xã hội dân sinh
Philippin, Thái Lan:
Một dự án sử dụng vốn ODA, trước khi đề xuất với chính phủ và nhà tài trợ thì phải làm rõ các nội dung:
- Tính cấp thiết của dự án (mặt kinh tế, tài chính và xã hội)
- Nên tiếp cận vốn ODA hay huy động vốn trong nước thì hiệu quả hơn
- Chỉ rõ mức vốn cần tiếp nhận và vốn trong nước cần bổ sung
- Hiệu quả sử dụng và khả năng hoàn vốn ODA
Và đưa ra những quy định, quy chế chặt chẽ khi sử dụng vốn ODA
+ Mỗi chương trình, dự án sử dụng vốn ODA đều dành một khoản chi phục vụ cho công tác tư vấn mang tính chất bắt buộc khoảng 4-5% giá trị dự án nhằm chi trả cho 3 hoạt động thuê khảo sát lập dự án tiền khả thi, dự án khả thi và giám sát thực hiện dự án Các công việc này được thực hiện do một cơ quan tư vấn độc lập, chuyên môn hoá
+ Thực hiện dự án, mua sắm thiết bị phải tuân theo nguyên tắc đấu thầu Tuỳ từng dự án mà tuân thủ đấu thầu trong nước hay đấu thầu quốc tế Công tác tổ chức chuẩn bị, thực hiện do một Công ty tư vấn (một cơ quan chuyên trách về đấu thầu đảm nhận thay mặt ban quản lý dự án)
+ Phần đánh giá hiệu quả dự án được thực hiện do một cơ quan quản lý Nhà nước về vốn ODA (hoặc thuê một cơ quan có chức năng chuyên môn hoá)
+ Kiểm soát chặt chẽ tiến độ thực hiện, hoạt động chi tiêu của dự án sử dụng vốn ODA
1.5.2 Những bài học thất bại
Các nước thuộc khu vực Châu Mỹ La tinh: Có những nước sử dụng nguồn
vốn ODA vào mục đích phi sản xuất, chủ yếu dung để nhập khẩu hàng tiêu dùng Bên cạnh đó, nạn tham nhũng, hối lộ trong các quan chức Chính phủ của các nước này đã khiến cho nền kinh tế không được cải thiện mà còn rơi vào tình trạng bi đát hơn trước Một số nước còn xem nhẹ hoặc bỏ qua nguyên tắc đấu thầu cạnh tranh
đã dẫn đến việc mua máy móc thiết bị cao hơn rất nhiều so với giá thị trường
Trang 22Brazil: Có cơ cấu đầu tư bất hợp lý được biểu hiện rõ nét vào những năm 90
của thế kỷ 20 khi nước này tiến hành xây các công trình hạ tầng với lượng vốn đầu
tư rất lớn (chiếm khoảng ¾ lượng vốn đầu tư cho phát triển), cụ thể: Xây dựng nhiều nhà máy thủy điện hiện đại với số vốn đầu tư cho một nhà máy đã cao gấp mười lần số vốn đầu tư vào thủy lợi vùng Đông Bắc; Xây dựng tổ hợp công-nông nghiệp gang thép ở vùng Đông Bắc với tổng số vốn đầu tư quá lớn là 62 tỷ USD… Chính điều này đã làm cho Brazil trở thành con nợ lớn nhất thế giới với tổng số nợ
là 108 tỷ USD vào năm 1986
Châu Phi: Vì đây là khu vực nghèo nhất thế giới nên các tổ chức Chính phủ
và Phi Chính phủ đã tiến hành viện trợ rất lớn cho khu vực này Tuy nhiên, thay vì đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp là lĩnh vực chính để thúc đẩy nền kinh tế phát triển
và giải quyết được nạn đói cho những nước này thì Chính phủ của các nước lại tập trung vào việc pháp triển thành thị và xây dựng các biệt thự lớn Đây chính là nguyên nhân để đưa các nước này ngày càng lâm vào tình trạng đói nghèo hơn do việc đầu tư không đúng mục đích
1.5.3 Những bài học kinh nghiệm
Từ những kinh nghiệm thành công và những bài học thất bại của các nước trên thế giới, Tỉnh Nam Định nói riêng và Việt Nam nói chung cần nhìn nhận và thực hiện tốt những vấn đề sau:
Thứ nhất: Nhận thức rõ về vai trò và bản chất nguồn vốn ODA không phải là
nguồn vốn cho không và đó là một khoản vay nước ngoài để có chính sách và mục tiêu đúng đắn
Thứ hai: Khi tiến hành thu hút nguồn vốn ODA, các chương trình dự án ODA
phải được xây dựng dựa trên cơ cấu và quy hoạch hợp lý của từng ngành, từng vùng đảm bảo việc thực hiện các chương trình, dự án này là đúng hướng đảm bảo nguồn vốn ODA được sử dụng có hiệu quả
Thứ ba: Đảm bảo tính chủ động trong tiếp nhận, quản lý và sử dụng ODA:
Indonesia đã từng phải trả giá cho những hạn chế trong nhận thức về tiếp nhận ODA, từ đó dẫn đến hai xu hướng tiêu cực: (1) Để cho các đối tác nước ngoài thông qua các dự án ODA áp đặt các điều kiện tiên quyết nhằm gián tiếp hoặc trực tiếp gây ảnh hưởng tới công việc nội bộ của quốc gia; (2) Chấp nhận cả những dự án
Trang 23gì cho đất nước Đây thực sự là điều đáng phải chú ý vì thực tế ở nước ta hiện nay cũng có lúc, có nơi do yếu kém về nhận thức hoặc do các nguyên nhân khác đã chạy đua “xin” dự án ODA bằng mọi giá
Bên cạnh đó, cần tăng cường tính chủ động trong tiếp nhận ODA Thực chất vốn ODA là sự ưu đãi của đối tác nước ngoài hoặc các tổ chức quốc tế dành cho các nước có nền kinh tế kém phát triển hơn, vì thế nước tiếp nhận viện trợ cũng có thể mạnh dạn đề nghị sửa đổi, bổ sung các điều khoản không hợp lý và đi ngược lại lợi ích của quốc gia
Thứ tư: Có cơ chế theo dõi, giám sát chặt chẽ các dự án ODA: Từ thực tiễn
quản lý ODA của các nước, việc thu hút ODA không khó bằng việc quản lý và sử dụng hiệu quả ODA Nếu không có cơ chế quản lý và giám sát nghiêm ngặt đối với các dự án ODA, thì sẽ dẫn đến tình trạng dự án chậm tiến độ, sử dụng nguồn vốn lãng phí, tình trạng tham nhũng xuất hiện và chất lượng các dự án ODA không cao Công tác quản lý, giám sát phải được tiến hành thường xuyên, liên tục qua hình thức kiểm tra định kỳ, hoặc đột xuất nhằm kiểm tra việc chấp hành các quy định về quản lý; phát hiện kịp thời những sai sót, yếu kém trong việc thực hiện các quy định của pháp luật và điều ước quốc tế về ODA
Đánh giá dự án có thể được tiến hành vào các thời điểm khác nhau của dự án như đánh giá ban đầu được tiến hành ngay sau khi bắt đầu thực hiện dự án; đánh giá giữa kỳ vào giữa thời gian thực hiện chương trình, dự án; đánh giá kết thúc tiến hành ngay sau kết thúc dự án và đánh giá tác động tiến hành trong vòng 3-5 năm kể
từ ngày đưa dự án vào khai thác, sử dụng Thêm vào đó, việc đánh giá dự án phải được tiến hành bởi các chuyên gia độc lập được thuê tuyển, có đủ trình độ chuyên môn và kinh nghiệm cần thiết
Kiểm toán là một công việc quan trọng để tăng tính giải trình, tính công khai
và minh bạch của chủ đầu tư, ban quản lý dự án để xem xét việc sử dụng vốn ODA
có tuân thủ những quy định về mua sắm công, định mức chi phí quản lý dự án hay không?
Thứ năm: Tăng cường công tác phân cấp trong quản lý ODA: Huy động sự
tham gia của các tổ chức phi chính phủ (xã hội dân sự) vào quá trình thu hút, quản
lý và sử dụng ODA (cụ thể là thu hút sự tham gia của các viện nghiên cứu) Thêm vào đó, việc phân cấp quản lý phải có sự phân định rõ ràng về chức năng, nhiệm vụ,
Trang 24quyền hạn của các cơ quan quản lý để mỗi cấp quản lý thấy được nghĩa vụ và quyền lợi, cũng như dám chịu trách nhiệm trước những sai sót do mình gây ra
Thứ sáu: Thận trọng tiếp nhận các nguồn vay ODA: Bài học kinh nghiệm của
Malaysia cho thấy, nước này chỉ vay ODA cho các dự án thật sự cần thiết, có mục tiêu đã được xác định là ưu tiên và ngân sách trong nước không huy động được Mặt khác, cần tăng cường năng lực các cơ quan của Chính phủ trong việc quản lý các nguồn ODA, từ khâu thu hút đến khâu sử dụng, tuyệt đối tránh tham nhũng, lãng phí, bởi ODA cũng là một nguồn của ngân sách nhà nước
Trang 25CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THU HÚT VÀ SỬ DỤNG NGUỒN VỐN ODA Ở
TỈNH NAM ĐỊNH
2.1 Giới thiệu tổng quan về Sở Kế hoạch và Đầu tư Nam Định
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển Sở Kế Hoạch và Đầu tư Tỉnh Nam Định
2.1.1.1 Lịch sử hình thành
Ngày 02/9/1995, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản tuyên ngôn độc lập khai sinh
ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa – Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam
2.1.1.2 Quá trình phát triển
Trải qua quá trình xây dựng và trưởng thành, cùng với ngành kế hoạch và đầu
tư cả nước, ngành kế hoạch đầu tư Tỉnh Nam Định đã có những bước tiến quan trọng, luôn kịp thời đáp ứng những nhiệm vụ tham mưu cho Tỉnh ủy, HĐND và UBND
Thời kỳ 1955 – 1960:
Nhiệm vụ trọng tâm của Ủy ban kế hoạch là tham mưu cho tỉnh thực hiện nhiệm vụ xây dựng kế hoạch khôi phục kinh tế sau chiến tranh (1955 – 1957) và kế hoạch 3 năm cải tạo xây dựng cơ sở vật chất kinh tế xã hội, cải thiện đời sống dân
cư (1958 – 1960) Các kế hoạch này đã tập trung giải quyết nhiệm vụ xác lập quyền làm chủ của nhân dân lao động, thực hiện người cày có ruộng, tiến hành hợp tác sản xuất với các hình thức từ tổ đổi công tiến hành hợp tác Đến cuối năm 1960 đã có 75% số hộ nông dân vào hợp tác xã sản xuất Nông – Lâm – Ngư nghiệp
Thời kỳ 1961 – 1965 – Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất
Đây là kế hoạch 5 năm đầu tiên cùng với các tỉnh của miền Bắc xây dựng CNXH và thực hiện nhiệm vụ công nghiệp hóa ở miền Bắc, ưu tiên phát triển công
Trang 26nghiệp nặng, xây dựng các công trình lớn, hình thành một bước cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế mới và quan hệ sảm xuất mới, sở hữu quốc doanh và tập thể chiếm ưu thế tuyệt đối Tháng 8/1964, Mỹ đánh phá miền Bắc, kế hoạch phải chuyển sang thời chiến, những kết quả của kế hoạch 5 năm này có ý nghĩa quan trọng, tích lũy được nhiều kinh nghiệm, tạo tiền đề cho công tác kế hoạch của Tỉnh góp phần cùng với các tỉnh miền Bắc thực hiện việc chuẩn bị và chi viện cho chiến trường miền Nam
Thời kỳ 1965 – 1975 – Là thời kỳ hợp nhất của Tỉnh Nam Hà
Các kế hoạch ngắn hạn 1969, 1972, 1973, 1975 đã được triển khai với nội dung cơ bản là phục vụ kinh tế của tỉnh sau chiến tranh phá hoại và cùng với các tỉnh miền Bắc chuẩn bị các dự án phát triển cơ sở hạ tầng KT-XH của thành phố, thị
xã và các nơi trong Tỉnh bị giặc Mỹ đánh phá ác liệt trong giai đoạn chiến tranh phá hoại miền Bắc, vừa chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam phục vụ cho chiến lược xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước
Thời kỳ 10 năm sau thống nhất đất nước 1976-1985 là thời kỳ hợp nhất thành Tỉnh Hà Nam Ninh
Nhiệm vụ trọng tâm của ngành kế hoạch là tham mưu cho tỉnh nghiên cứu, tổng hợp và xây dựng các kế hoạch 5 năm lần thứ 2 (1976-1980), kế hoạch 5 năm lần thứ 3 (1981-1985), nhằm cùng cả nước thực hiện nhiệm vụ, mục tiêu kinh tế -
xã hội của chặng đường đầu tiến lên CNXH
Thời kỳ 1986-2006:
Mục tiêu tổng quát của kế hoạch thời kỳ này là huy động sức mạnh tổng hợp của mọi thành phần kinh tế, tận dụng mọi lợi thế của tỉnh để đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế văn hóa - xã hội, tạo tiền đề cần thiết cho giai đoạn phát triển cao hơn sau năm 2000 Mặc dù năm 1998 do tình hình thiên tai, thời tiết diễn biến phức tạp, có nhiều khó khăn cho lường hết nhưng những mục tiêu kinh tế - xã hội của kế hoạch 5 năm cơ bản hoàn thành, một số chỉ tiêu vượt cao
Thời kỳ 2001-2005:
Trong kế hoạch 5 năm 2001-2005, ngành Kế hoach và Đầu tư đã phối hợp với các ngành, các cấp tham mưu xây dựng nhiều chương trình kinh tế và cơ chế chính
Trang 27nghiệp, đẩy mạnh sắp xếp đổi mới DNNN, thực hiện đưa các chính sách, pháp luật mới vào đời sống kinh tế - xã hội và đời sống doanh nghiệp
Thời kỳ 2006-2010
Trong thời kỳ, ngành Kế hoạch và Đầu tư tỉnh đã tham mưu bám sát diễn biến tình hình kinh tế - xã hội, phối hợp với các ngành liên quan để xây dựng và đề xuất với UBND Tỉnh các giải pháp điều hành thực hiện kế hoạch hàng tháng, hàng quý Tích cực huy động các nguồn lực từ mọi thành phần kinh tế cho đầu tư phát triển và chuyển dịch cơ cấu đầu tư theo hướng tập trung vào các mục tiêu nhiệm vụ phát triển các kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội quan trọng, đáp ứng các nhu cầu thiết yếu của nhân dân, phát triển nguồn nhân lực, phát triển khoa học công nghệ, xóa đói giảm nghèo…
Trong điều kiện có những thuận lợi và khó khăn, thách thức đan xen, trong đó
có những khó khăn, thách thức gay gắt vượt xa so với dự báo ( khủng hoảng tài chính, kinh tế toàn cầu; thiên tai, dịch bệnh liên tiếp xảy ra, lạm phát liên tục tăng cao), kế hoạch 5 năm 2006-2010 có 11/18 chỉ tiêu chủ yếu đạt và vượt kế hoạch Xây dựng mới một số công trình hạ tầng quan trọng có tác động lâu dài đến sự phát triển kinh tế - xã hội, góp phần cải thiện đáng kể bộ mặt đô thị và nông thôn của Tỉnh
2.1.2 Chức năng và nhiệm vụ
2.1.2.1 Chức năng
Sở Kế hoạch và Đầu tư Nam Định là cơ quan chuyên môn thuộc UBND Tỉnh,
có chức năng tham mưu, giúp UBND Tỉnh thực hiện chức năng quản lý Nhà nước
về kế hoạch và đầu tư, gồm: Tổng hợp về quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế -
xã hội; tổ chức thực hiện và đề xuất về cơ chế, chính sách quản lý kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh; đầu tư trong nước, đầu tư nước ngoài ở địa phương; quản lý nguồn
hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), nguồn viện trợ phi Chính phủ; đấu thầu; đăng
ký kinh doanh trong phạm vi địa phương; tổng hợp và thống nhất quản lý các vấn
đề về doanh nghiệp, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân; tổ chức cung ứng các dịch vụ công thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Sở theo quy định của pháp luật
2.1.2.2 Nhiệm vụ
- Phối hợp cùng các ngành các cấp xây dựng và tham mưu cho UBND Tỉnh giao kế hoạch hằng năm đúng tiến độ, có chất lượng tốt
Trang 28- Hướng dẫn các cấp các ngành xây dựng và điều chỉnh Quy hoạch và hoàn thành xây dựng Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của Tỉnh đến năm 2020
- Tổ chức tốt việc xây dựng và đề xuất với Tỉnh các cơ chế chính sách quản lý kinh tế - xã hội trên địa bàn
- Chủ động đề xuất và tham mưu cho Tỉnh các giải pháp tích cực, hiệu quả để thực hiện và hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch hàng năm và 5 năm
- Chủ động tham mưu cho Tỉnh tạo nguồn lực để đầu tư phát triển, đẩy nhanh tiến độ các công trình lớn trọng điểm để hoàn thành và đưa vào sử dụng
- Chỉ đạo thực hiện tốt pháp luật về Doanh nghiệp và đầu tư Thực hiện cải cách hành chính, cải thiện môi trường kinh doanh và đầu tư trên địa bàn Tỉnh
- Thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” thành đợt chính trị sâu rộng trong đảng bộ và cơ quan, việc học tập được liên
hệ với tư tưởng, đạo đức và công tác của Đảng bộ, cơ quan và từng cán bộ đảng viên
- Đảng ủy và Ban giám đốc phối hợp lãnh đạo, chỉ đạo bổ sung sửa đổi và ban hành quy chế làm việc cho nhiệm kỳ mới một cách cụ thể đầy đủ sát thực tế hơn
- Làm tốt công tác kiểm tra giám sát
- Đảng ủy và Ban giám đốc lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức tốt, thực hiện có hiệu quả công tác cải cách hành chính, bộ phận “Một cửa” đi vào hoạt động có nề nếp Từng bước hoàn thiện cơ sở vật chất của cơ quan, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ, đảng viên, công chức, nhân viên cơ quan
2.1.3 Sơ đồ cơ cấu tổ chức bộ máy Sở Kế hoạch và Đầu tư
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ cơ cấu Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Nam Định
BAN GIÁM ĐỐC
Tổ chức hành
Thẩm định đầu tư Tổng hợp Đăng ký kinh doanh
Lao động
-Văn xã
Công nghiệp
- Cơ sở hạ tầng
Nông nghiệp-Phát triển nông thôn
Kinh tế dịch vụ- Đối ngoại
Trang 292.1.4 Sự cần thiết phải tăng cường quản lý các dự án ODA của Sở Kế hoạch và Đầu tư Nam Định
Sở Kế hoạch và Đầu tư Tỉnh Nam Định là cơ quan chủ yếu đảm đương công tác quản lý về ODA trong việc thu hút và sử dụng ở địa bàn Tỉnh Nam Định Vì ODA là một nguồn vốn quan trọng trong việc phát triển kinh tế - xã hội mà đặc biệt
là một Tỉnh có nền “kinh tế buồn” như Nam Định Do đó, vai trò quản lý thu hút và
sử dụng nguồn vốn ODA của Sở Kế hoạch và Đầu tư Nam Định cần được chú trọng
và cả nước nói chung trong giai đoạn hiện nay Tuy nhiên, do hạn chế về trình độ và kinh nghiệm quản lý trong khâu chiến lược, quy hoạch thu hút và sử dụng vốn ODA vào các lĩnh vực chưa hợp lý, khả năng đàm phán thuyết phục các nhà tài trợ chưa cao, khả năng khảo sát, xây dựng dự án khả thi và tiền khả thi còn kém nên xảy ra hiện tượng theo dự án thì đem lại hiệu quả cao nhưng khi đầu tư, sử dụng vốn thì rơi vào tình trạng thua lỗ
Do vậy, nếu vốn ODA sử dụng và thu hút ở Tỉnh không hiệu quả thì không những không khai thác được những ưu đãi, những mặt tích cực của vốn ODA phục
vụ cho kế hoạch tăng trưởng, phát triển kinh tế mà còn đẩy Nam Định cũng như cả nước vào tình trạng nợ nần tăng thêm
Thực tế chỉ rõ chỉ khi nào đạt được sự thống nhất trong mối quan hệ giữa các bên liên quan thì mới thu được hiệu quả cao Do đó, cần phải thống nhất ý chí, quan điểm giữa các bên trong quá trình thu hút, giải ngân và sử dụng nguồn vốn ODA thì nguồn vốn này mới được sử dụng hiệu quả và đúng mục tiêu đề ra
Trang 30Chính vì vậy, vấn đề quản lý các dự án ODA được đặt ra mang tính khách quan và cần tổ chức thực hiện tốt nhằm nâng cao hiệu quả thu hút, sử dụng vốn ODA phục vụ quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế của Tỉnh Nếu công tác quản lý các dự án ODA tại Sở Kế hoạch Đầu tư Nam Định được thực hiện tốt thì đây là sẽ là một nguồn ngoại lực quan trọng góp phần vào quá trình tăng trưởng nhanh của nền kinh tế trong Tỉnh đưa nền kinh tế Tỉnh thoát khỏi tình trạng trị trệ hiện nay
2.2 Giới thiệu tổng quan về tình hình kinh tế - xã hội Tỉnh Nam Định
Kinh tế: Nam Định nằm trong vùng trọng điểm sản xuất lương thực, thực
phẩm của đồng bằng Bắc Bộ Đồng thời, có nền sản xuất công nghiệp phát triển tương đối sớm với nhiều ngành nghề truyền thống, là một trong những trung tâm dệt may hàng đầu của cả nước Trong năm 2013, tổng sản phẩm GDP tăng 12%, GDP bình quân/người/năm ước đạt 24,3 triệu đồng, giá trị sản xuất nông nghiệp tăng 2,8%, giá trị sản xuất công nghiệp tăng 21,5%, dịch vụ tăng 11,5%, thu ngân sách đạt 2.255 tỷ đồng Trong khi đó, năm 2012: Tổng sản phẩm GDP tăng 11,7%, GDP bình quân/người/năm ước đạt 20,7 triệu đồng, giá trị sản xuất nông nghiệp tăng 2,5%, giá trị sản xuất công nghiệp tăng 22%, dịch vụ tăng 11%, thu ngân sách đạt 1.900 tỷ đồng Nền kinh tế Tỉnh Nam Định đang từng bước tăng trưởng theo hướng tích cực
Hệ thống giao thông đa dạng và thuận lợi:
Đường bộ: Quốc lộ 21 từ Hoà Bình qua Phủ Lý tới thành phố Nam Định rồi đi cảng Hải Thịnh (đoạn qua Nam Định dài 75 km) Quốc lộ 10 từ Quảng Yên đi Hải Phòng, Thái Bình qua Nam Định rồi đi Ninh Bình (đoạn qua Nam Định dài 34 km) Tỉnh lộ 12 từ thành phố Nam Định đi Ý Yên dài 20 km Tỉnh lộ 57 từ Cát Đằng đi Yên Thọ (Ý Yên) dài 17 km Tỉnh lộ 55 từ Nam Định đi nông trường Rạng Đông dài 51 km Đường 56 liên tỉnh từ Bình Lục (Hà Nam) đi Gôi (Vụ Bản), qua Liễu Đề (Nghĩa Hưng), Yên Định (Hải Hậu) đến Ngô Đồng (Giao Thuỷ) dài 70 km
Đường sắt: Tuyến đường sắt Bắc Nam chạy qua Nam Định dài 42km, với các ga: ga Nam Định là điểm dừng chân của các đoàn tàu tốc hành chạy suốt Bắc Nam,
ga Cầu Họ, ga Đặng Xá, ga Trình Xuyên, ga Gôi, ga Cát Đằng
Trang 31Đường thuỷ: Hệ thống sông Hồng, sông Đáy, sông Ninh Cơ chảy qua địa phận tỉnh với chiều dài 251km cùng với hệ thống cảng sông Nam Định, cảng biển Thịnh Long thuận lợi trong việc phát triển vận tải thuỷ
Văn hóa – xã hội: Nam Định là một Tỉnh đi đầu cả nước về chất lượng giáo
dục, đào tạo, có nền văn hóa hiếu học lâu đời, người dân văn minh, lịch sự Nam Định còn có hệ thống cơ sở y tế tiên tiến đáp ứng tốt nhu cầu của người dân Các vấn đề xã hội tương đối ổn định Tập tục văn hóa phong phú, đa dạng, lâu đời
Nhìn chung trong xu hướng cho vay ưu đãi ngày càng tăng, đầu tư cho không ngày càng giảm thì với những điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội chiếm ưu thế như trên, Nam Định sẽ có nhiều cơ hội hơn trong thu hút nguồn vốn đầu tư phát triển
ODA nếu có những chiến lược, kế hoạch thu hút ODA hợp lí
2.3 Thực trạng thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA ở Tỉnh Nam Định 2.3.1 Đánh giá chung tình hình thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA ở Tỉnh Nam Định trong thời kỳ 1993-2013
Được sự quan tâm của Chính phủ, Bộ KHĐT, các Bộ, ngành Trung ương, Tỉnh Nam Định đã và đang tiếp nhận các dự án đầu tư từ các nhà tài trợ như WB, ADB, JBIC, JICA, Chính phủ Hà Lan, Chính phủ Pháp, Chính phủ Thụy Sĩ, Chính phủ Tây Ban Nha, Chính phủ Lucxembourg Trong đó, WB là nhà tài trợ nguồn vốn ODA cho địa phương lớn nhất, chiếm 50% tổng số vốn địa phương đã tiếp nhận trong 20 năm Các dự án ODA tập trung ở một số lĩnh vực như nâng cấp đô thị, y tế,
hệ thống cấp nước, xử lý rác thải, vệ sinh môi trường, giao thông nông thôn Các dự
án ODA đã được triển khai một cách có hiệu quả, đóng góp một cách thiết thực cho việc khôi phục, cải tạo, nâng cấp hạ tầng, cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội của Tỉnh Nam Định
Dự án ODA đầu tiên Tỉnh Nam Định tiếp nhận là Dự án nâng cấp, cải tạo Nhà máy nước Nam Định do Chính phủ Pháp tài trợ từ năm 1993-1998, vốn không hoàn lại 25,6 triệu Franc, vốn đối ứng 22,4 tỷ VNĐ