1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và giải pháp chính sách phát triển nguồn nhân lực ngành Kế hoạch và đầu tư

71 485 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 1,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khóa luận tốt nghiệp: Thực trạng và giải pháp chính sách phát triển nguồn nhân lực ngành Kế hoạch và đầu tư nhằm xem xét, đánh giá thực trạng nguồn nhân lực ngành Kế hoạch và đầu tư từ đó đề xuất các giải pháp chính sách phù hợp nhằm phát triển nguồn nhân lực của ngành Kế hoạch và đầu tư đáp ứng được yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay.

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên cho tôi xin gửi lời cảm ơn đến khoa Chính sách công, Học viện Chính sách và Phát triển và Ban đào tạo của Học viện Hành chính Quốc gia đã tạo điều kiện cho tôi được tham gia chương trình thực tập Đây là cơ hội tốt để cho tôi

có thể thực hành các kỹ năng, kiến thức đã được học tại Học viện Chính sách và Phát triển

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới toàn bộ các cán bộ, công nhân viên của Ban đào tạo Học viện hành chính Quốc gia, đặc biệt là Trưởng Ban Đào tạo ThS Bùi Huy Tùng, người đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt qúa trình thực tập

đã không quản ngại khó khăn, bớt chút thời gian và đã nhiệt tình chỉ bảo và cho tôi nhiều kinh nghiệm quý báu trong suốt thời gian thực tập tại Học viện Hành chính Quốc Gia

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới thầy giáo - giảng viên hướng dẫn ThS Nguyễn Nam Hải trong thời gian qua đã dành thời gian, nhiệt tình chỉ dạy, giúp đỡ

và động viên tinh thần để tôi có thể hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới toàn thể gia đình, người thân, bạn bè, những người đã luôn bên cạnh cổ vũ tinh thần và ủng hộ tôi trong suốt thời gian qua

Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày 04 tháng 05 năm 2014

Sinh viên thực hiện

Cao Nhật Minh

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng đây là khóa luận tốt nghiệp của tôi, được sự hỗ trợ từ Trưởng Ban Đào tạo ThS Bùi Huy Tùng và giảng viên hướng dẫn ThS Nguyễn Nam Hải Các nội dung trong báo cáo và các kết quả trong khóa luận này là hoàn toàn trung thực Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho phân tích, nhận xét được tôi thu thập từ những nguồn tài liệu khác nhau được ghi trong phần tài liệu tham khảo Ngoài ra, báo cáo còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá cũng như số liệu của các tác giả, cơ quan tổ chức, học liệu mở internet đều được thể hiện trong phần tài liệu tham khảo

Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin chịu trách nhiệm trước Khoa Chính sách công

Hà Nội, ngày 04 tháng 05 năm 2014

Cao Nhật Minh

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

LỜI CAM ĐOAN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC HÌNH VÀ CÁC BẢNG BIỂU vi

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của khóa luận 1

2 Mục đích nghiên cứu của khóa luận 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Đóng góp của khóa luận 3

6 Kết cấu của khóa luận 4

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC NGÀNH KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ 5

1.1 Khái nệm cơ bản về chính sách phát triển nguồn nhân lực 5

1.1.1 Khái niệm nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực 5

a Khái niệm nguồn nhân lực 5

b Khái niệm phát triển nguồn nhân lực 8

c Vai trò của phát triển nguồn nhân lực 9

1.1.2 Khái niệm chính sách, chính sách phát triển nguồn nhân lực 10

1.2 Chính sách phát triển nguồn nhân lực trong Ngành Kế hoạch và Đầu tư 11

1.3 Những nhân tố tác động đến chính sách phát triển nguồn nhân lực Ngành Kế hoạch và Đầu tư 12

1.3.1 Nhân tố bên ngoài 12

1.3.2 Nhân tố trong nước 15

1.4 Nội dung chủ yếu của chính sách phát triển nguồn nhân lực trong Ngành Kế hoạch và Đầu tư 18

1.5 Kinh nghiệm của một số quốc gia trong việc phát triển nguồn nhân lực 20

1.5.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc 20

1.5.2 Kinh nghiệm của Hàn Quốc 20

1.5.3 Kinh nghiệm của Nhật Bản 21

1.5.4 Kinh nghiệm Singapore 22

Trang 4

1.6 Bài học cho Việt Nam trong việc phát triển nguồn nhân lực 22

Chương 2: THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG NGÀNH KẾ HOẠCH – ĐẦU TƯ 25

2.1 Lịch sử hình thành và phát triển 25

2.1.1 Thời kỳ 1945-1954 và sự ra đời Ủy ban Nghiên cứu kế hoạch kiến thiết – tiền thân của Ngành Kế hoạch và Đầu tư 25

2.1.2 Thời kỳ 1955-1960 và sự hình thành Ủy ban Kế hoạch Quốc gia 26

2.1.3 Thời kỳ 1961-1965 và sự ra đời của Ủy ban Kế hoạch Nhà nước 27

2.1.4 Thời kỳ 1965-1975 với việc chuyển nền kinh tế sang thời chiến 28

2.1.5 Thời kỳ 1975-1986 với việc hình thành kế hoạch khôi phục và phát triển kinh tế-xã hội trong cả nước sau chiến tranh 30

2.1.6 Thời kỳ đổi mới kinh tế-xã hội và việc thành lập Bộ Kế hoạch và Đầu tư 31

2.2 Đặc điểm cơ bản của Ngành Kế hoạch và Đầu tư 37

2.3 Tổ chức Ngành Kế hoạch và Đầu tư 38

2.4 Thực trạng phát triển nguồn nhân lực Ngành Kế hoạch và Đầu tư 40

2.4.1 Quy mô nguồn nhân lực Ngành Kế hoạch và Đầu tư 40

2.4.2 Cơ cấu nguồn nhân lực Ngành Kế hoạch và Đầu tư 40

a Cơ cấu theo độ tuổi giới tính 40

b Cơ cấu theo vị trí công tác và trình độ đào tạo 41

c Cơ cấu theo ngạch công chức, viên chức 42

2.4.3 Chất lượng nguồn nhân lực Ngành Kế hoạch và Đầu tư 42

a Về Trình độ học vấn 42

b Về trình độ chuyên môn – kĩ thuật và kĩ năng làm việc 43

c Về những yếu tố kĩ năng khác 43

2.5 Các chính sách phát triển nguồn nhân lực Ngành Kế hoạch và Đầu tư 44

2.6 Thực trạng chính sách phát triển nguồn nhân lực Ngành Kế hoạch và Đầu tư 44

2.6.1 Về chính sách đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực 44

2.6.2 Chính sách tiền lương của Ngành Kế hoạch và Đầu tư 48

2.7 Đánh giá thực trạng chính sách phát triển nguồn nhân lực Ngành Kế hoạch và Đầu tư49 2.7.1 Những ưu điểm 49

2.7.2 Những nhược điểm và tồn tại 50

2.7.3 Nguyên nhân của những hạn chế 50

Trang 5

a Chế độ tiền lương theo ngạch bậc 50

b Chưa được bổ sung kịp thời nguồn nhân lực có chuyên môn sâu 51

c Chất lượng của công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực chưa cao 51

Chương 3: MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC NGÀNH KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ ĐẾN NĂM 202052 3.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước đối với phát triển nguồn nhân lực Ngành Kế hoạch và Đầu tư 52

3.1.1 Quan điểm 52

3.1.2 Mục tiêu phát triển chính sách nguồn nhân lực 54

a Mục tiêu tổng quát 54

b Mục tiêu cụ thể 55

3.2 Các biện pháp, sách quản lý nhà nước nhằm phát triển chính sách nguồn nhân lực Ngành Kế hoạch và Đầu tư ở nước ra trong giai đoạn hiện nay 55

3.2.1 Cần xây dựng hệ thống tiêu chuẩn chức danh cụ thể đối với nguồn nhân lực Ngành Kế hoạch và Đầu tư 55

3.2.2 Cần hoàn thiện cơ chế, chính sách tuyển dụng, sử dụng và quản lý nguồn nhân lực Ngành Kế hoạch và Đầu tư 56

3.2.3 Tăng cường quản lý chất lượng và hiệu quả của công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực 57

3.2.4 Đẩy mạnh công tác tổ chức cán bộ trong việc quản lý nguồn nhân lực Ngành Kế hoạch và Đầu tư 60

3.3 Một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện chính sách phát triển nguồn nhân lực Ngành Kế hoạch và Đầu tư 61

3.3.1 Đối với nhà nước 61

3.3.2 Đối với Ngành Kế hoạch và Đầu tư 61

KẾT LUẬN 63

TÀI LIỆU THAM KHẢO 64

Trang 6

DANH MỤC HÌNH VÀ CÁC BẢNG BIỂU

Sơ đồ 1.1: Mối quan hệ giữa quy mô dân số từ đủ 15 tuổi trở lên với lực lƣợng lao động

và nguồn lao động ở Việt Nam 6

Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức của Ngành Kế hoạch và Đầu tƣ 39 Bảng 2.1 Cơ cấu nguồn nhân lực Ngành Kế hoạch và Đầu tƣ theo giới tính, độ tuổi 40 Bảng 2.2 Cơ cấu nguồn nhân lực Ngành Kế hoạch và Đầu tƣ theo vị trí công tác và trình

độ đào tạo 41 Bảng 2.3 Cơ cấu nguồn nhân lực Ngành Kế hoạch và Đầu tƣ theo ngạch công chức, viên chức 42 Bảng 2.4 Kết quả đào tạo, bồi dƣỡng cán bộ, công chức giai đoạn 2001-2010 47 Bảng 2.5 Số lƣợng cán bộ công chức qua đào tạo, bồi dƣỡng giai đoan 2001-2010 47

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của khóa luận

Ngày nay, xu hướng phát triển kinh tế lấy tri thức làm động lực trở nên quan trọng hơn bao giờ hết Con người với khả năng nắm giữ kiến thức đã trở thành mũi nhọn tạo ra sức cạnh tranh cho các công ty, các tập đoàn lớn, các cộng đồng và các quốc gia Vì vậy, các quốc gia triên thế giới đều rất coi trọng phát triển nguồn nhân lực, tăng cường “tài sản hoá” nguồn nhân lực

Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng trong những năm qua đã thu được nhiều thành tựu lớn, từng bước đưa đất nước thoát khỏi tình trạng khủng hoảng, đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và ổn định, đời sống của nhân dân cũng ừng bước được cải thiện, bộ mặt của xã hội đã có những thay đổi đáng kể Một trong những tiền đề để tạo ra sự thành công

đó là Đảng ta đã đánh giá đúng vị trí vai trò của việc phát triển nguồn nhân lực phục

vụ sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, từng bước xây dựng phát triển kinh tế tri thức đáp ứng nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực

Trong bối cảnh nguồn nhân lực con người càng ngày càng trở trở thành động lực chủ yếu của sự phát triển nhanh và bền vững, cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ cả chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của Đảng ta đã chỉ rõ: con người là nguồn lực quan trọng nhất, là nguồn lực của mọi nguồn lực, quyết định

sự hưng thịnh của đất nước Tại Đại hội lần thứ VIII, Đảng ta khẳng định sự cần thiết phải thực hiện hiệu quả chiến lược phát triển con người Tiếp tục thực hiện đường lối đúng đắn đó, Đại hội lần thứ X của Đảng khẳng định một trong những nhiệm vụ chủ yếu của chiến lực phát triển kinh tế-xã hội đến năm 2010 là “Phát triển mạnh khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và phát triển kinh

tế tri thức Quan điểm này được nhấn mạnh thêm một lần nữa trong “Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020”: “Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao” là một trong ba khâu đột phá nhằm đưa Việt Nam đến năm 2020 cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại

Trang 8

Ngành Kế hoạch và Đầu tư là ngành tổng hợp, ngày càng có vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội Trong những năm vừa qua, Ngành Kế hoạch và Đầu tư đã được Đảng và Nhà nước quan tâm, chú trọng đầu tư phát triển từng bước nâng cao vai trò, chức năng của ngành, phục vụ có hiệu quả sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước Đặc biệt trong thời gian qua, cùng với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, toàn cầu hóa, cùng với đó là một loạt các cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới, khu vực, Ngành Kế hoạch và Đầu tư đã thể hiện rõ vai trò của mình là ngành quan trọng trong việc tham mưu, tổng hợp cho Chính phủ các chính sách, cơ chế hoạt động, phát triển kinh tế-xã hội của quốc gia

Mặt khác, trong thế giới hiện đại, sự bùng nổ về phát triển khoa học, công nghệ đòi hỏi năng lực của con người ngày càng cao Nhân tố con người trở nên vô cùng quan trọng, là yếu tố quan trọng quyết định đến sự thành bại của tổ chức, đến hiệu quả của mọi sự đầu tư phát triển kinh tế-xã hội Đặc biệt, trong môi trường cạnh tranh của nền kinh tế thị trường, sự phát triển của khoa học công nghệ, sự cạn kiệt tài nguyên và biến đổi khí hậu toàn cầu thì yếu tố con người lại càng được khẳng định và coi trọng hơn, nó quyết định đến sự tồn tại của loài người, quyết định đến năng suất, chất lượng và hiệu quả của mọi hoạt động

Tuy nhiên, nguồn nhân lực của Ngành Kế hoạch và Đầu tư hiện vẫn còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế về cả số lượng, chất lượng và cơ cấu nguồn nhân lực, nhất là khi thế hệ cán bộ đầu ngành đã dần nghỉ hưu chế độ đã và đang tạo ra sự thiếu hụt lớn về đội ngũ nhân sự có trình

độ cao của Ngành Mặt khác, những người đang công tác lại đang có xu hướng chuyển sang các ngành, nghề khác có thu nhập cao hơn và môi trường làm việc ít áp lực hơn Chính điều này đã làm ảnh hưởng lớn đến việc bố trí, sắp xếp lực lượng lao động để thực hiện nhiệm vụ của các đơn vị trong Ngành

Xuất phát từ những lý do trên, nâng cao chính sách phát triển nguồn nhân lực Ngành Kế hoạch và Đầu tư hiện nay cũng như trong giai đoạn tiếp theo là hết sức cần thiết

Nhằm đưa ra giải pháp, làm rõ cũng như hoàn thiện chính sách phát triển

nguồn trong Ngành Kế hoạch và Đầu tư, tôi chọn: “Thực trạng và giải pháp chính sách phát triển nguồn nhân ngành Kế hoạch và Đầu tư” làm khóa luận tốt nghiệp

cử nhân ngành Chính Sách Công

Trang 9

2 Mục đích nghiên cứu của khóa luận

Xem xét, đánh giá thực trạng nguồn nhân lực Ngành Kế hoạch và Đầu tư từ đó

đề xuất các giải pháp chính sách phù hợp nhằm phát triển nguồn nhân lực của Ngành Kế hoạch và Đầu tư đáp ứng được yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Chính sách nguồn nhân lực đối với nguồn nhân lực của Ngành Kế hoạch và Đầu tư

- Phạm vi nghiên cứu: Chính sách tiền lương, chính sách tuyển dụng vào sử dụng công chức viên chức, chính sách đào tạo và bồi dưỡng cán bộ,… trong Ngành

Kế hoạch và Đầu tư

+ Về không gian: Nguồn nhân lực của Ngành Kế hoạch và Đầu tư trên lãnh thổ Việt Nam

+ Về thời gian: 2000-2012

4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thống kê: được sử dụng để sắp xếp, phân loại và xử lý tổng hợp

số liệu thu thập, từ đó xây dựng hệ thống bảng biểu để phân tích

- Phương pháp so sánh: được sử dụng trong quá trình phân tích nguồn nhân lực; cơ cấu nguồn nhân lực của Ngành để từ đó rút ra đánh giá mức độ chuyển biến

- Phương pháp đánh giá: dựa trên số liệu thu thập để đưa ra những nhận xét khách quan, khoa học từ thực tế

5 Đóng góp của khóa luận

- Khóa luận hệ thống hóa các kiến thức cơ bản về chính sách phát triển nguồn nhân lực

- Khóa luận đã nêu ra được khái quát về thực trạng chính sách phát triển nguồn nhân lực trong ngành Kế hoạch và Đầu tư và có một số các kiến nghị

Trang 10

Từ đó, các nhà quản lý trong ngành Kế hoạch và Đầu tƣ có thể làm tài liệu, đồng thời đây cũng có thể làm tài liệu tham khảo và học tập cho các sinh viên chuyên nghành Chính Sách Công

6 Kết cấu của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, kết cấu khóa luận

Trang 11

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NGUỒN

NHÂN LỰC NGÀNH KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ 1.1 Khái nệm cơ bản về chính sách phát triển nguồn nhân lực

1.1.1 Khái niệm nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực

a Khái niệm nguồn nhân lực

Theo giáo trình kinh tế lao động, Nguồn nhân lực là nguồn lực về con người được nghiên cứu dưới nhiều khía cạnh Theo nghĩa hẹp nó bao gồm các nhóm dân

cư trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, như vậy nguồn nhân lực tương đương với nguồn lao động Theo nghĩa rộng nguồn nhân lực gồm những người từ

đủ 15 tuổi trở lên, nó là tổng hợp những cá nhân, những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động

Theo thuật ngữ trong lĩnh vực lao động của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội “nguồn nhân lực là tiềm năng về lao động trong một thời kỳ xác định của một quốc gia, suy rộng ra có thể được xác đinh trên một địa phương, một ngành hay một vùng Đây là nguồn nhân lực quan trọng nhất để phát triển kinh tế xã hội.”

Ở nhiều nơi còn hiểu rằng nguồn nhân lực đồng nhất với lực lượng lao động Theo ILO (Tổ chức Lao động Quốc tế), lực lượng lao động là một bộ phận dân số trong độ tuổi quy định, thực tế có tham gia lao động và những người không có việc làm đang tích cực tìm kiếm việc làm

Khái niệm nguồn lao động rộng hơn khái niệm lực lượng lao động Nó không chỉ bao gồm cả lực lượng lao động mà còn bao gồm cả bộ phận dân số từ đủ 15 tuổi trở lên có khả năng lao động, nhưng chưa tham gia gia hoạt động kinh tế như: đang

đi học, nội trợ gia đình, không có nhu cầu làm việc hoặc trong tình trạng khác (nghỉ hưởng chế độ nhưng vẫn có khả năng lao động)

Như vậy, ở một không gian và thời gian xác định, khái niệm nguồn nhân lực đồng nghĩa với nguồn lao động

Trang 12

Sơ đồ 1.1: Mối quan hệ giữa quy mô dân số từ đủ 15 tuổi trở lên với lực lượng lao động và nguồn lao động ở Việt Nam

Nguồn nhân lực được xem xét dưới 2 góc độ là số lượng và chất lượng:

+ Số lượng nguồn nhân lực: đo lường thông qua chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng Các chỉ tiêu này có liên quan mật thiết với quy mô và tốc độ tăng dân số Quy

mô và tốc độ tăng dân số càng lớn thì quy mô và tốc độ tăng nguồn nhân lực càng lớn và ngược lại Tuy nhiên sự tác động đó phải sau một khoảng thời gian nhất định mới có biểu hiện rõ (vì con người phải phát triển đến một mức độ nhất định mới trở thành người có sức lao động, có khả năng lao động)

+ Chất lượng nguồn nhân lực: là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực, thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của nguồn nhân lực Chất lượng nguồn nhân lực là chỉ tiêu phản ánh trình độ phát triển kinh tế và đời sống người dân trong một xã hội nhất định Chất lượng nguồn nhân lực thể hiện thông qua một hệ thống các chỉ tiêu, trong đó có các chỉ tiêu chủ yếu sau:

Dân số từ đủ 15 tuổi trở lên

Có khả năng lao động Không có khả năng lao động

Nội trợ cho gia đình mình

Không

có nhu cầu làm việc

Tình trạng khác

Lực lượng

lao động

Nguồn lao động Thất

nghiệp

Trang 13

Chỉ tiêu biểu hiện trạng thái sức khỏe của nguồn nhân lực: Sức khỏe là trạng thái thoải mái về thể chất cũng như tinh thần của con người, và được biểu hiện thông qua nhiều chuẩn mức đo lường về chiều cao, cân nặng, các giác quan nội khoa, ngoại khoa… Bên cạnh việc đánh giá trạng thái sức khỏe của người lao động, người ta còn nêu ra các chỉ tiêu đánh giá của một quốc gia như tỷ lệ sinh, chết, tăng

tự nhiên…

Chỉ tiêu biểu hiện trình độ văn hóa của Nguồn nhân lực: Trình độ văn hóa của nguồn nhân lực là trạng thái hiểu biết của người lao động đối với những kiến thức phổ thông về tự nhiên và xã hội Trong chừng mực nhất định, trình độ văn hóa dân

cư biểu hiện mặt bằng dân trí của một quốc gia Trình độ văn hóa của nguồn nhân lực được lượng hóa qua các quan hệ tỷ lệ

- Số lượng và tỷ lệ biết chữ

- Số lượng và tỷ lệ người qua các cấp học như tiểu học (cấp I), phổ thông cơ

sở (cấp II), trung học phổ thông (cấp III), cao đẳng, đại học, trên đại học…

Trình độ văn hóa của nguồn nhân lực là chỉ tiêu hết sức quan trọng phản ánh chất lượng nguồn nhân lực và có tác động mạnh mẽ tới quá trình phát triển kinh tế

xã hội Trình độ văn hóa cao tạo khả năng tiếp thu và vận dụng một cách nhanh chóng những tiến bộ khoa học kĩ thuật vào thực tiễn

Chỉ tiêu biểu hiện trình độ chuyên môn kĩ thuật nguồn nhân lực: Trình độ chuyên môn kĩ thuật là trạng thái hiểu biết, khả năng thực hành về một chuyên môn nghề nghiệp nào đó được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu:

- Số lượng lao động được đào tạo và chưa qua đào tạo;

- Cơ cấu lao động được đào tạo:

+ Cấp đào tạo (sơ cấp, trung cấp, cao cấp)

+ Công nhân kĩ thuật và cán bộ chuyên môn;

+ Trình độ đào tạo (cơ cấu bậc thợ, cơ cấu ngành nghề…)

Chỉ tiêu trình độ chuyên môn kĩ thuật của nguồn nhân lực là chỉ tiêu quan trọng nhất phản ánh chất lượng nguồn nhân lực, thông qua chỉ tiêu quan trọng này cho thấy năng lực sản xuất của con người trong ngành, trong một quốc gia, một vùng lãnh thổ, khả năng sử dụng khoa học hiện đại vào sản xuất

Chỉ số phát triển con người (HDI – Human development index) chỉ số này được tính theo ba chỉ tiêu chủ yếu:

Trang 14

- Tuổi thọ bình quân;

- Thu nhập bình quân GDP/người

- Trình độ học vấn (tỷ lệ biết chữ và số năm đi học trung bình dân cư)

Chỉ tiêu HDI là chỉ tiêu đánh giá sự phát triển con người về kinh tế có tính đến chất lượng cuộc sống và công bằng, tiến bộ xã hội

Ngoài những chỉ tiêu trên, người ta còn xem xét năng lực phẩm chất nguồn nhân lực thông qua các chỉ tiêu: truyền thống lịch sử, nền văn hóa, văn minh, phong tục tập quán của dân tộc… Chỉ tiêu này nhấn mạnh đến ý chí, năng lực tinh thần của người lao động

b Khái niệm phát triển nguồn nhân lực

Trình độ lành nghề của nguồn nhân lực thể hiện mặt chất lượng của sức lao động Nó biểu hiện sự hiểu biết lý thuyết về kĩ thuật của sản xuất và kĩ năng lao động để hoàn thành những công việc trình độ phức tạp nhất định, thuộc một nghề nghiệp, một chuyên môn nào đó Trình độ lành nghề có liên quan chặt chẽ với lao động phức tạp Lao động có trình độ lành nghề là lao động có chất lượng cao hơn,

đó là lao động phức tạp Trong cùng một đơn vị thời gian, lao động lành nghề thường tạo ra một giá trị lớn hơn so với lao động giản đơn Trình độ lành nghề biểu hiện ở tiêu chuẩn cấp bậc kĩ thuật (đối với công nhân) và tiêu chuẩn nghiệp vụ viên chức, tức là các tiêu chuẩn nghiệp vụ viên chức, tức là tiêu chuẩn về trình độ học vấn, chính trị, tổ chức, quản lý… để đảm nhận các chức vụ được giao (đối với cán

bộ chuyên môn) Để đạt tới trình độ nào đó, trước hết phải đào tạo nghề cho nguồn nhân lực, tức là giáo dục kĩ thuật sản xuất cho người lao động để họ nắm vững một nghề, một chuyên môn, bao gồm cả người đã có nghề, có chuyên môn rồi hay học

để làm nghề, chuyên môn khác Cùng với đào tạo, để nâng cao năng suất lao động cần phải quan tâm nâng cao trình độ lành nghề cho nguồn nhân lực tức là giáo dục, bồi dưỡng cho họ hiểu biết thêm những kiến thức, kinh nghiệm sản xuất và nâng cao thêm khả năng làm được trong giới hạn nghề, chuyên môn họ đang đảm nhận Phát triển nguồn nhân lực (theo nghĩa rộng) là tổng thể các hoạt động học tập

có tổ chức được tiến hành trong khoảng thời gian nhất định để nhằm tạo ra sự thay đổi hành vi nghề nghiệp của người lao động

Trước hết, phát triển nguồn nhân lực chính là toàn bộ những hoạt động học tập được tổ chức bởi doanh nghiệp, do doanh nghiệp cung cấp cho người lao động Các

Trang 15

hoạt động đó có thể được cung cấp trong vài giờ, vài ngày hoặc thậm chí tới vài năm, tùy vào mục tiêu học tập, và nhằm tạo ra sự thay đổi hành vi nghề nghiệp cho người lao động theo hướng đi lên, tức là nhằm nâng cao khả năng và trình độ nghề nghiệp của họ Như vậy, xét về nội dung, phát triển nguồn nhân lực bao gồm ba loại hoạt động là: giáo dục, đào tạo và phát triển

- Giáo dục: được hiểu là các hoạt động học tập để chuẩn bị cho con người bước vào một nghề nghiệp hoặc chuyển sang một nghề mới, thích hợp hơn trong tương lai

- Đào tạo (hay còn được gọi là đào tạo kĩ năng): được hiểu là các hoạt động học tập nhằm giúp cho người lao động có thể thực hiện có hiệu quả hơn chức năng, nhiệm vụ của mình Đó chính là quá trình học tập làm cho người lao động nắm vững hơn về công việc của mình, là những hoạt động học tập để nâng cao trình độ,

kĩ năng của người lao động để thực hiện nhiệm vụ lao động có hiệu quả hơn

- Phát triển: là các hoạt động học tập vươn ra khỏi phạm vi công việc trước mắt của người lao động, nhằm mở ra cho họ những công việc mới dựa trên cơ sở những định hướng tương lai của tổ chức

c Vai trò của phát triển nguồn nhân lực

Vai trò của phát triển nguồn nhân lực: có nhiều lý do để nói rằng phát triển là quan trọng và cần được quan tâm đúng mức Trong đó lý do chính là:

- Để đáp ứng yêu cầu công việc của tổ chức hay nói cách khác là để đáp ứng nhu cầu tồn tại và phát triển tổ chức

- Để đáp ứng nhu cầu học tập, phát triển của cá nhân

Phát triển là những giải pháp có tính chiến lược tạo ra lợi thế cạnh tranh của tổ chức

Phát triển là điều kiện quyết định để một tổ chức có thể tồn tại và đi lên trong cạnh tranh Phát triển nguồn nhân lực giúp:

- Nâng cao năng suất lao động, hiệu quả thực hiện công việc

- Nâng cao chất lượng thực hiện công việc

- Giảm bớt sự giám sát vì cá nhân được đào tạo là người có khả năng tự giám sát

- Nâng cao tính ổn định và năng động của tổ chức

- Duy trì và nâng cao chất lượng của nguồn nhân lực

- Tạo điều kiện cho áp dụng tiến bộ kĩ thuật và quản lý

Trang 16

Đối với cá nhân, vai trò của đào tạo và phát triển nguồn nhân lực thể hiện ở chỗ:

- Tạo ra sự gắn bó giữa cá nhân với tổ chức

- Tạo ra tính chuyên nghiệp của cá nhân

- Tạo ra sự thích ứng giữa cá nhân và công việc hiện tại cũng như tương lai

- Đáp ứng nhu cầu và nguyện vọng phát triển của cá nhân

- Tạo cho cá nhân có cách nhìn, cách tư duy mới trong công việc của họ là cơ

sở để phát huy tính sáng tạo của cá nhân trong công việc

1.1.2 Khái niệm chính sách, chính sách phát triển nguồn nhân lực

Cho đến nay trên thế giới, cuộc tranh luận về định nghĩa chính sách vẫn là một chủ đề sôi động và khó đạt được sự nhất trí rộng rãi Qua những cuộc thảo luận trên các diễn đàn nghiên cứu chính sách, chúng ta có một số cách tiếp cận sau về chính sách công

Tiếp cận chính trị học: Trong cuốn sách Khoa học chính trị, Michael G.Roskin định nghĩa “ Chính trị học là khoa học về đấu tranh và cạnh tranh quyền lực chính tri” Trong cuộc đấu tranh đó, công cụ chính sách đóng một vai trò quyết định tới sự thành bại của đường lối chính trị Từ đó, chúng ta có thể hiểu: “Chính sách là tập hợp biện pháp mà một chủ thể quyền lực đưa ra để định hướng xã hội thực hiện mục tiêu chính trị của chủ thể quyền lực”

Tiếp cận xã hội học: “Chính sách là tập hợp biện pháp do chủ thể quản lý đưa

ra, nhằm tạo lợi thế cho môt (hoặc một số) nhóm xã hội, giảm lợi thế của một (hoặc một số) nhóm xã hội khác, để thúc đẩy việc thực hiện một (hoặc một số) mục tiêu

xã hội mà chủ thể quyền lực đang hướng tới”

Tiếp cận nhân học và nhân học xã hội: “Chính sách là phương tiện tác động đến hàng loạt sinh hoạt văn hóa và xã hội của con người, từ đây dẫn đến những phản ứng của xã hội đối với chính sách, và hơn nữa, là những kiến tạo xã hội mới

do chính sách dẫn đến”

Tiếp cận tâm lý học: “Chính sách là tập hợp biện pháp đối xử ưu đãi đối với một nhóm xã hội, nhằm kích thích động cơ hoạt động của nhóm này hướng theo việc thực hiện một (hoặc một số) mục tiêu của chủ thể quyền lực”

Trang 17

Tiếp cận lý thuyết trò chơi: “Chính sách, với tư cách là một đòn ứng phó của chủ tể quản lý trước tình huống mới của cuộc chơi, phải đảm bảo cho mình luôn thắng trong cuộc chơi, nhưng giữ được quan hệ lâu bền với đối tác”

Tiếp cận khoa học pháp lý: “Chính sách là tập hợp biện pháp được thể chế hóa (về mặt pháp lý) để phân biêt đối xử giữa các nhóm xã hội, điều chỉnh động cơ hoạt động của các nhóm hướng theo mục tiêu phát triển xã hội”

Với các cách tiếp cận trên đây, có thể đi đến khái niệm tổng quát về chính sách như sau: Chính sách là những hành động ứng xử của chủ thể với các hiện tượng tồn tại trong quá trình vận động phát triển nhằm đạt được mục tiêu nhất định

Từ khái niệm về phát triển nguồn nhân lực và khái niệm chính sách, ta có thể phát biểu về khái niệm chính sách phát triển nguồn nhân lực: “Chính sách phát triển nguồn nhân lực là toàn bộ các hành động, do nhà nước đề ra nhằm nâng cao năng lực của cá nhân (hoặc một nhóm người) đang hoạt động trong khu vực nhà nước về mọi mặt: Thể lực, Trí lực, Tâm lực; đồng thời phân bổ, sử dụng khai thác phát huy hiệu quả nhất nguồn lực để phát triển kinh tế xã hội”

1.2 Chính sách phát triển nguồn nhân lực trong Ngành Kế hoạch và Đầu tư

Chính sách phát triển nguồn nhân lực trong Ngành Kế hoạch và Đầu tư là các hành động của nhà nước cũng như của Ngành Kế hoạch và Đầu tư đưa ra nhằm nâng cao năng lực, chất lượng làm việc của đội ngũ công chức, viên chức đang hoạt động trong ngành về thể lực, trí lực, tâm lực; phát huy hiệu quả nguồn lực phục vụ

cho phát triển kinh tế-xã hội phù hợp với bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế

Đặc điểm nguồn nhân lực Ngành Kế hoạch và Đầu tư:

- Cơ cấu tổ chức: Nguồn nhân lực Ngành Kế hoạch và Đầu tư ở nước ta hiện nay được tổ chức ở cả ba cấp: Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện Hiện nay, trên phạm vi cả nước, Ngành Kế hoạch và Đầu tư đã trở thành hệ thống từ Trung ương đến địa phương, với số lượng cán bộ lên đến hàng ngàn người Đối tượng cán bộ làm công tác kế hoạch và đầu tư gồm các cán bộ đang làm việc tại: Cơ quan Bộ Kế hoạch và Đầu tư, các vụ Kế hoạch ở cácc Bộ, Ngành, Sở kế hoạch và Đầu tư, các sở chuyên môn của 63 tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương và Phòng Tài chính-

Kế hoạch ở 697 quận, huyện, thị xã thành phố thuộc tỉnh trong cả nước và các cán

bộ nghiên cứu, giảng dạy về lĩnh vực kế hoạch và đầu tư trong các cơ sở đào tạo trực thuộc Bộ

Trang 18

- Về chuyên môn: Nhân lực trong Ngành Kế hoạch và Đầu tư chiếm tỉ trọng lớn là nhóm ngành kinh tế Với chức năng là cơ quan tham mưu, tổng hợp về chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của cả nước; quy hoạch phát triển, cơ chế, chính sách quản lý kinh tế chung và một số lĩnh vực cụ thể, nguồn nhân lực của Ngành Kế hoạch và Đầu tư gồm có các nhóm ngành tham gia như: Kinh tế, kĩ thuật

xã hội,… để phục vụ cho việc thực hiện các nhiệm vụ, công việc của Ngành Nhưng, với chức năng chính là tham mưu về kinh tế-xã hội của đất nước; đầu tư trong nước, đầu tư nước ngoài vào Việt Nam và đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài

Do đó, trong cơ cấu về chuyên môn nghề nghiệp của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong Ngành Kế hoạch và Đầu tư, chiếm tỉ trọng lớn là nhóm ngành kinh

tế với các chuyên ngành như kinh tế đô thị, kinh tế phát triển, kinh tế đầu tư,…

- Nguồn nhân lực của Ngành Kế hoạch và Đầu tư liên kết chặt chẽ với các chuyên gia trong tất cả các lĩnh vực kinh tế-xã hội Việc hoạch định chính sách phát triển kinh tế-xã hội của quốc gia liên quan đến nhiều lĩnh vực như công nghiệp, nông nghiệp, thương mại, dịch vụ,… Do đó, để đưa ra được những chính sách đúng đắn, phù hợp với sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, nguồn nhân lực Ngành

Kế hoạch và Đầu tư đã có sự liên kết, phối hợp giữa các chuyên gia của từng ngành

cụ thể, đó là các cán bộ, công chức, viên chức làm việc trong các Vụ Kế hoạch của các Bộ, Ngành khác Số cán bộ trong các Vụ kế hoạch của các Bộ, Ngành khác là các chuyên gia đầu ngành trong các lĩnh vực đó sẽ cung cấp những cơ sở thực tế quan trọng của từng ngành cụ thể, từ đó, việc hoạch định chính sách chung cho kinh tế-xã hội của nhà nước mà Ngành Kế hoạch và Đầu tư là đơn vị trực tiếp thực hiện

sẽ phù hợp đúng đắn hơn

1.3 Những nhân tố tác động đến chính sách phát triển nguồn nhân lực Ngành

Kế hoạch và Đầu tư

1.3.1 Nhân tố bên ngoài

a Xu hướng toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực

Một trong những tác động chủ yếu của toàn cầu hóa là xu hướng phát triển nguồn nhân lực Nó xuất phát không chỉ từ những thay đổi về công nghệ và sự giảm xuống liên tục các chi phí truyền thông và vận chuyển, mà còn từ sự tương tác giữa các quốc gia phát triển và vai trò tăng lên của các nước đang phát triển vào sự gia

Trang 19

tăng nền kinh tế toàn cầu Toàn cầu hóa đã làm cho các nền kinh tế phát triển nhanh chóng hơn và trở thành một thị trường toàn cầu, tương tác và phụ thuộc lẫn nhau

Đi liền với toàn cầu hóa là sự cạnh tranh khốc liệt trên phạm vi toàn cầu, trên

cả hai cấp độ là giữa các quốc gia và giữa các doanh nghiệp, đơn vị Sự gia tăng mức độ cạnh tranh làm cho nền kinh tế thay đổi nhanh chóng và khó có thể dự báo trước được Khả năng cạnh tranh được quyết định bởi năng lực tạo ra giá trị tăng thêm của các sản phẩm, dịch vụ và các quá trình hoạt động của mỗi quốc gia và của từng doanh nghiệp Đóng góp chủ yếu vào điều này phụ thuộc vào kiến thức và kỹ năng của lực lượng lao động Trên thực tế, sự nghiệp giáo dục và đào tạo và các kỹ năng của lực lượng lao động sẽ là vũ khí cạnh tranh quan trọng trong thế kỷ XXI Các doanh nghiệp, đơn vị cạnh tranh với nhau dựa vào sự khác biệt của mình về chất lượng của các quá trình quản trị nguồn nhân lực và đi liền với điều đó là các sản phẩm và dịch vụ mà các doanh nghiệp tạo ra Trong bối cảnh toàn cầu hóa thì lợi thế cạnh tranh của từng sản phẩm và dịch vụ, cũng như những khác biệt mang lại lợi ích đối với người tiêu dùng chỉ là tương đối và dễ bị giảm sút hoặc đánh mất

do các sản phẩm cạnh tranh xuất hiện trong bối cảnh Như vậy, mỗi doanh nghiệp muốn đứng vững trên thị trường là phải chủ động tạo ra các thay đổi hữu hiệu, đi trước và điều này phụ thuộc rất nhiều vào nhân viên mà nó đang sở hữu

Toàn cầu hóa đã tác động đến việc phát triển nguồn nhân lực theo nhiều cách khác nhau So với trước đây, ngày nay, các doanh nghiệp cần phải bổ sung nhiều hơn các kỹ năng cho đội ngũ nhân viên của mình để thích ứng với các cơ hội và thách thức do toàn cầu hóa và sự thay đổi công nghệ tạo ra Thái độ, kiến thức và các kỹ năng của lực lượng lao động trong từng doanh nghiệp sẽ quyết định chất lượng đến các sản phẩm, dịch vụ

Xu thế toàn cầu hóa đang lan rộng và diễn ra mạnh mẽ, tác động đến sự phát triển của mỗi quốc gia Các công ty xuyên quốc gia đóng vai trò then chốt trong sự phát triển kinh tế toàn cầu, hình thành nên sự phân công lao động mới Sự liên kết, liên doanh, hợp tác giữa các nước trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, trong thay đổi công nghệ, kỹ thuật và mở rộng mạng lưới kinh doanh ngày càng được mở rộng Các tổ chức quốc tế có uy tín như: Tổ chức thương mại thế giới (WTO), Ngân hàng thế giới (WB), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF)… ngày càng tác động lớn tới các

Trang 20

nước, đặc biệt là các nước đang phát triển thông qua các hoạt động cạnh tranh thương mại, đầu tư, cho vay vốn…

b Cuộc cách mạng khoa học, công nghệ

Bước vào những năm đầu của thế kỷ XXI, đặc trưng nổi bật của bối cảnh kinh

tế thế giới là cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại mà trọng tâm là cách mạng trong lĩnh vực công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới Đặc biệt, sự thâm nhập nhanh của tri thức và công nghệ cao, kỹ thuật hiện đại thúc đẩy sự phát triển của nhiều ngành công nghiệp mới Cùng với nó, những ngành dịch vụ như tài chính, ngân hàng, tư vấn, thương mại điện tử… phát triển vượt trội làm cho khu vực dịch vụ tăng rất nhanh, hình thành nên các ngành kinh tế chủ lực

và mũi nhọn mới làm thay đổi cơ cấu kinh tế truyền thống

Theo báo cáo cạnh tranh toàn cầu của Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF), chỉ số cạnh tranh tăng trưởng (GCI) của nền kinh tế nước ta từ vị trí thứ 60/101 năm 2003

đã lùi xuống vị trí thứ 79/104 năm 2004 và 81/117 năm 2005, thấp hơn vị trí của nhiều nước (thứ 77 của Philippines, thứ 74 của Indonesia, thứ 49 của Trung Quốc, thứ 36 của Thái Lan, thứ 24 của Malaysia, thứ 6 của Singapore) Một trong những nguyên nhân quan trọng làm cho chỉ số cạnh tranh của nước ta thấp, vị trí xếp hạng liên tục bị giảm sút là do chỉ số ứng dụng công nghệ thấp, đứng thứ 92/117

Để rút ngắn khoảng cách về khoa học công nghệ so với các nước trong khu vực, năm 2003, Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ Việt Nam đến năm 2010 với mục tiêu đưa tổng đầu tư toàn xã hội cho Khoa học và công nghệ đạt 1% GDP vào năm 2005 và 1,5% GDP vào năm 2010 Đồng thời, phấn đấu đạt tỉ lệ 50/50 giữa kinh phí đầu tư cho Khoa học và công nghệ từ nguồn kinh phí ngân sách nhà nước và nguồn ngoài ngân sách nhà nước trên cơ sở áp dụng biện phát hữu hiệu đa dạng hóa nguồn vốn đầu tư cho hoạt động khoa học và công nghệ

c Việt Nam nằm trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương là khu vực kinh tế năng động Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, môi trường đầu tư được cải thiện, xuất khẩu tăng nhanh hơn sơ với các khu vực khác trên thế giới

Khu vực Châu Á – Thái Bình Dương đã chứng kiến những làn sóng đầu tư của các công ty Nhật Bản, Mỹ, Châu Âu Đầu tư này cũng được góp sức bởi bốn con rồng kinh tế ở Châu Á là Hồng Kông, Hàn Quốc, Đài Loan và Singapore Không những thế, các nền kinh tế có quy mô nhỏ hơn cũng đã bắt đầu đẩy mạnh đầu tư

Trang 21

nước ngoài Những dự án đầu tư này di chuyển một phần hoặc toàn bộ các hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm tận dụng lợi thế tương đối của các nước và khuynh hướng đầu tư xuyên quốc gia đã tạo ra sự đan kết kinh tế giữa các quốc gia như “sự phân công lao động trên toàn cầu” Việt Nam là nước nằm trong khu vực này, có nhiều cơ hội hợp tác phát triển, thu hút các nguồn tài chính và mở rộng thị trường

d Việt Nam đã tạo dựng được các mối quan hệ với các tổ chức quốc tế, các cường quốc kinh tế

Thời gian qua, Việt Nam đã tạo đưuọc mối quan hệ kinh tế với các nước công nghiệp như Nhật Bản, Đức, Anh, Pháp và các nước EU với các nước trong khu vực Châu Á như: Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan, ASEAN đã ký Hiệp định thương mại với Mỹ và gia nhập Tổ chức thương mại thế giới WTO Từ các mối quan hệ đó, Việt Nam cần cải thiện môi trường đầu tư nhằm thu hút các dòng vốn, tài chính, tín dụng như WB, IMF, FDI, ODA, NGO… để đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế

1.3.2 Nhân tố trong nước

a Lực lượng lao động khối ngành kinh tế trong nước dồi dào

Hiện nay, việc đào tạo trình độ đại học về các ngành kinh tế ở nước ta được thực hiện ở khá nhiều trường đại học và học viện như trường Đại học Kinh tế quốc dân; trường Đại học Kinh tế thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội; Học viện Tài chính; Học viện Ngân hàng…

Số lượng tuyển sinh mới hàng năm hệ đại học chính quy hiện nay khoảng 30.000 – 31.000 sinh viên/năm và số sinh viên tốt nghiệp trình độ đại học hệ chính quy trung bình hàng năm khoảng 29.000 – 30.000 người/năm

Ngoài các trường đại học, học viện nêu trên nước ta còn có 21 trường đại học

có đào tạo ngành kinh tế chuyên sâu như: Kinh tế nông nghiệp, kinh tế vận tải, kinh

tế xây dựng, kinh tế thủy lợi… là nguồn cung cấp lao động dự trữ dồi dào cho việc

bổ sung nguồn nhân lực cho Ngành Kế hoạch và Đầu tư

Tuy nhiên, ở nước ta hiện nay, có một số lượng nhân lực lớn chưa qua đào tạo Sức ép lớn về đào tạo nghề nghiệp và giải quyết việc làm cho lao động khu vực nông nghiệp và nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Hàng năm có 800 – 900 nghìn thanh niên nông thôn bước vào tuổi lao động, khó có được việc làm trong nông nghiệp do lao động khu vực nông

Trang 22

nghiệp còn dư thừa, thiếu việc làm và tiếp tục dôi dư vì diện tích đất nông nghiệp tiếp tục giảm và mở rộng, đẩy mạnh các quá trình cơ giới hóa, điện khí hóa, hóa học hóa sản xuất nông nghiệp

b Tốc độ tăng trưởng kinh tế của đất nước có xu hướng tăng nhanh, thu nhập của người dân tăng tạo điều kiện cho việc huy động các nguồn lực phục vụ cho phát triển nhân lực

Tốc độ tăng GDP của Việt Nam năm 2008 là 5,6% Năm 2009 là 5,28%, năm

2010 là 6,78%, năm 2011 là 5,89%, năm 2012 là 5,2%, năm 2013 là 5,3% Với những mục tiêu tổng quát phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam thời kỳ đến năm 2020 như: Tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt khoảng trên 8%/năm; đến năm 2020, phấn đấu Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại với GDP bình quân đầu người khoảng trên hơn 2.900 USD Với những thành tựu kinh tế như vậy sẽ tạo điều kiện cho việc huy động các nguồn lực kinh tế, tài chính để phục vụ cho việc phát triển nhân lực như đầu tư vào giáo dục, cơ sở vật chất…

c Trên phạm vi cả nước đang trong giai đoạn phát triển nhanh, mạnh các khu công nghệ cao, các khu kinh tế và nhiều khu công nghiệp

Trong thời kỳ đến năm 2020, trên phạm vi cả nước sẽ xây dựng và phát triển nhanh các khu công nghệ cao, các khu kinh tế và nhiều khu công nghiệp, cùng với đẩy mạnh tốc độ phát triển các ngành công nghiệp cơ bản (công nghiệp điện, bao gồm cả điện nguyên tử, cơ khí chế tạo, công nghệ tự động hóa, vật liệu mới, hóa chất, dầu khí, luyện kim, công nghệ thông tin…), các ngành dịch vụ cơ bản với chất lượng cao để cạnh tranh thắng lợi với các công ty du lịch nước ngoài (vận tải và thông tin liên lạc; tài chính, ngân hàng, tín dụng; du lịch, thương mại; giáo dục đào tạo; y tế; khoa học công nghệ…), đồng thời sẽ tiếp thu và ứng dụng những quy trình công nghệ, máy móc thiết bị hiện đại với hàm lượng khoa học, công nghệ cao, nhiều lĩnh vực ở mức trung bình tiên tiến và hiện đại của thế giới đòi hỏi nhanh chóng phải có được đội ngũ nhân lực có tri thức và kỹ năng cao Việt Nam cần đổi mới toàn diện, sâu sắc đường lối, chính sách phát triển nhân lực để nhanh chóng có được đội ngũ nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện khoa học, công nghệ phát triển với tốc độ vũ bão

d Công cuộc cải cách hành chính đang được thực hiện ngày càng sâu, rộng

Trang 23

Chính sách phát triển nguồn nhân lực là quá trình bao gồm đánh giá, hoạch định và sử dụng một cách có hiệu quả tổng thể các hình thức, phương pháp, chính sách và biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng lao động xã hội (trí tuệ, thể chất, phẩm chất tâm lý – xã hội) nhằm đáp ứng đòi hỏi về nguồn nhân lực cho

sự phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn phát triển Nhà nước có vai trò rất lớn trong việc chuẩn bị, cung cấp nguồn nhân lực phù hợp với trình độ kinh tế và trình độ công nghệ trong quá trình phát triển

Trong những năm gần đây, để xây dựng nhà nước pháp quyền, Nhà nước Việt Nam đã thực hiền nhiều hoạt động: Hoàn thiện, sửa đổi Luật và các văn bản dưới Luật; đổi mới bộ máy nhà nước từ việc tổ chức đến hoạt động thực tế của các cơ quan quyền lực nhà nước; cơ quan hành chính, cơ quan tư pháp; chuyển từ nền kinh

tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm giải phóng mọi năng lực sản xuất xã hội, phát huy tính năng động sáng tạo, dân chủ của người dân trong lĩnh vực kinh tế Hiện nay, cải cách hành chính ở Việt Nam được thực hiện với bốn nội dung: Cải cách thể chế hành chính; cải cách

bộ máy hành chính; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức; cải cách tài chính công Vai trò quan trọng của Nhà nước đối với nguồn nhân lực được biểu hiện thông qua các nội dung và công cụ, cơ chế tác động đến nguồn nhân lực nhằm tạo ra số lượng, chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội đất nước trong từng thời kỳ Vai trò quản lý nhà nước về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực bao gồm giải pháp hỗ trợ về dự báo nhu cầu nhân lực, chính sách đào tạo, đầu tư tài chính và các giải pháp quản lý chất lượng nguồn nhân lực như quy định của pháp luật; quy hoạch hệ thống giáo dục – đào tạo, tiêu chuẩn hóa chất lượng đào tạo, đồng thời tăng cường trách nhiệm của doanh nghiệp góp phần cùng với nhà nước và xã hội trong quá trình đào tạo, sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực, đảm bảo

sử dụng hợp lý giá trị sức lao động

Nhìn nhận như vậy, quốc sách về phát triển nguồn nhân lực, về phát huy và sử dụng con người và người tài đòi hỏi phải gắn liền với việc đẩy mạnh đổi mới trên nhiều phương diện; về lâu dài là phải đổi mới toàn diện cả về thể chế và xã hội Phát triển nguồn nhân lực ngày nay không thể chỉ đơn thuần một chiều hiểu theo nghĩa phát triển lực lượng lao động như lâu nay thường làm: mở thêm các trường, các cơ sở đào tạo nghề, cải tiến nội dung dạy, đổi mới chính sách lao động,

Trang 24

tiền lương, cải tiến công tác đoàn, phổ biến kỹ thuật nông nghiệp cho nông dân… Phát triển nguồn nhân lực về thực chất là ngày càng làm tốt hơn việc giải phóng con người, nâng cao tầm vóc con người về thể lực, trí lực và nhân cách Đòi hỏi này đặt

ra hai yêu cầu cùng một lúc: Phải tập trung trí tuệ và nguồn lực cho phát triển nguồn nhân lực, mặt khác phải đồng thời, thường xuyên cải thiện và đổi mới môi trường kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, giữ gìn môi trường tự nhiên của quốc gia

Phát triển nguồn nhân lực đòi hỏi phải đồng thời đổi mới triệt để toàn xã hội hướng thiện, theo những giá trị chân chính Ví dụ, để có một môi trường xã hội công bằng, kỷ cương, đạo đức; pháp luật được coi làm chuẩn mực; xã hội trở thành

xã hội học tập Vấn đề lớn nhất đặt ra cho nước ra không phải là cái nghèo mà là ý chí phấn đấu với tất cả trí tuệ và nguồn nhân lực có trong tay Điều này bao gồm cả

ý chí xây dựng một thể chế chính trị và đời sống kinh tế - xã hội, văn hóa hướng vào phát huy những giá trị chân chính của con người, trước hết là tự do và nghị lực sáng tạo của nó; kế thừa những thành tựu của văn minh nhân loại

1.4 Nội dung chủ yếu của chính sách phát triển nguồn nhân lực trong Ngành

Kế hoạch và Đầu tư

Từ những đặc điểm của nguồn nhân lực Ngành Kế hoạch và Đầu tư, nhà nước

đã ban hành các chính sách phát triển nguồn nhân lực cho Ngành Chính sách phát triển nguồn nhân lực Ngành Kế hoạch và Đầu tư chia ra làm các chính sách như chính sách tuyển dụng, sử dụng nguồn nhân lực; chích sách đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực Ngành Kế hoạch và Đầu tư

- Chính sách tuyển dụng và sử dụng nguồn nhân lực: Tuyển dụng nguồn nhân

lực được coi là cánh cửa đầu vào của nguồn nhân lực Nói cách khác, chất lượng ban đầu nguồn nhân lực phụ thuộc rất nhiều vào công tác thực thi chính sách tuyển dụng Để thực hiện tốt chính sách này cần phải đảm bảo các nguyên tắc: Xuất phát

từ yêu cầu công việc mà tuyển dụng người phù hợp; đảm bảo tiêu chuẩn theo chức danh cần tuyển; đảm bảo công khai, bình đẳng và công minh trong tuyển dụng Bắt buộc phải căn cứ vào chính sách của tổ chức để xây dựng một quy chế chọn nghiêm túc, khoa học

Chính sách sử dụng nguồn nhân lực là một trong những nội dung trọng tâm của chính sách phát triển nguồn nhân lực, bởi lẽ việc xây dựng, kế hoạch hóa và tuyển chọn nguồn nhân lực đối với cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp mới chỉ là cơ sở

Trang 25

cần thiết tạo khả năng hoàn thành các mục tiêu nhiệm vụ của cơ quan tổ chức Còn việc sử dung nguồn nhân lực hiệu quả nhất lại là yếu tố quyết định đến chất lượng hiệu quả hoạt động của tổ chức

Sử dụng nguồn nhân lực là công việc phức tạp, tinh tế nhất về nguồn nhân lực,

vì nó luôn động chạm đến những vấn đề lợi ích vật chất, tinh thần của người lao động trong tổ chức, ảnh hưởng đến tâm tư, tình cảm, nguyện vọng, đời sống của người lao động Chính vì thế, việc sử dụng nguồn nhân lực cần có những chính sách, nguyên tắc và quy trình nhất định, đảm bảo tính khách quan, hiệu quả của hoạt động này

Sử dụng nguồn nhân lực bao gồm các nội dung: sắp xếp, bố trí nguồn nhân lực đúng người, đúng việc để họ phát huy cao nhất khả năng, năng lực của mình cho cơ quan, tổ chức; sử dụng nguồn nhân lực cũng chính là sử dụng các chính sách quy hoạch, bổ nhiệm cán bộ một cách khách quan, khoa học, minh bạch, tạo điều kiện

để tổ chức phát triển ổn định, bền vững

Việc sử dụng nguồn nhân lực cũng phải luôn chú ý đến chính sách khen thưởng để kịp thời động viên, khuyến khích nguồn nhân lực công tác hiệu quả nhưng đồng thời công tác kỉ luật cũng cần được thực hiện nghiêm minh để răn đe, ngăn chặn đối với những cá nhân vi phạm

- Chính sách đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực: Chính sách đào tạo bồi

dưỡng nguồn nhân lực nhằm mục đích giáo dục, bồi dưỡng tri thức cũng như kĩ năng chuyên môn, nâng cao năng suất lao động của cá nhân hoạt động trong tổ chức Việc đào tạo, bồi dưỡng nhân lực được thực hiện bởi nhiều hình thức khác nhau như đào tạo từ xa, tại chức, tập trung, dài hạn, ngắn hạn,… Nhưng dù đào tạo dưới hình thức nào thì vấn đề chất lượng đào tạo cũng cần được đặt lên hàng đầu

- Chính sách tiền lương: Hiện nay, ở nước ta, đang áp dụng chế độ tiền lương

theo ngạch bậc, chính sách tiền lương tối thiểu Lương tối thiểulà một mức lương thấp nhất theo quy định củaLuật Lao độngdoQuốc hội ban hành Đó là số tiền trả chongười lao độnglàm công việc giản đơn nhất trong xã hội với điều kiện làm việc

và cường độ lao động bình thường, lao động chưa qua đào tạo nghề Số tiền đó đủ

để người lao động tái sản xuất giản đơn sức lao động, đóng bảo hiểm tuổi già và nuôi con Mức lương tối thiểu này được dùng làm cơ sở để tính các mức lương trong hệ thống thang lương, bảng lương, mức phụ cấp lương và thực hiện một số

Trang 26

chế độ khác theo quy định của pháp luật Từ ngày 1 tháng 7 năm 2013, mức lương tối thiểu là 1.150.000 đồng/tháng

1.5 Kinh nghiệm của một số quốc gia trong việc phát triển nguồn nhân lực 1.5.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc

Giáo dục là phương tiện cơ bản để phát triển nguồn nhân lực, sự phát triển mạnh mẽ của giáo dục mang tính quyết định trong việc cải thiện chất lượng công dân Với quan điểm đó, trong thời gian qua, Trung Quốc đã kiên trì với các chiến lược “Khoa học và giáo dục tiếp sức Trung Quốc” và “Giáo dục kiến lập Trung Quốc”; tăng cường giáo dục cơ bản, tập trung vào trau dồi khả năng tư duy của sinh viên và hướng họ tới sự trí thức hóa Hiện nay, Chính phủ Trung Quốc đang triển khai thực hiện 16 dự án khoa học kĩ thuật quan trọng Tại Hội nghị quốc gia lần thứ

16 của Đảng Cộng sản Trung Quốc chỉ ra: “Học tập suốt đời là một xu hướng không thể tránh được của phát triển xã hoi hiện nay và giáo dục một lần ở nhà trường không thể đáp ứng nhu cầu về cập nhập thông tin của chúng ta” Trung Quốc

sẽ “trở thành một xã hội theo phương thức học tập dân sự và học tập suốt đời” Mặt khác, Trung Quốc đặc biệt chú trọng phát triển nguồn nhân lực có trình

độ cao Gần đây, Trung Quốc đã công bố Cương Yếu quy hoạch nhân tài Đây là Cương Yếu quy hoạch về phát triển nhân tào tầm trung và dài hạn của Trung Quốc được công bố lần đầu Cương Yếu này không chỉ đánh giá rõ thực trạng về đội ngũ nhân tài Trung Quốc hiện nay, mà còn xác định mục tiêu chiến lược “thế mạnh cạnh tranh nhân tài quốc gia, phấn đấu vươn lên hàng ngũ nước mạnh về nhân tài thế thới” trước năm 2020

Trên cơ sở không ngừng tăng cường tuyển chọn và đào tạo nhân tài trong nước, Cương yếu còn nêu rõ, Trung Quốc sẽ triển khai thực hiện chính sách phát triển nhân tài thông thoáng hơn, cố gằng thu hút nhân tài nước ngoài về nước hoặc đến Trung Quốc khởi nghiệp và lập nghiệp, xây dựng và hoàn thiện chính sách và biện pháp Đặc biệt về các mặt: xuất nhập cảnh, cư trú lâu dài, thu thuế, bảo hiểm, nhà ở,…

1.5.2 Kinh nghiệm của Hàn Quốc

Tại Hàn Quốc, chính sách giáo dục được xây dựng phù hợp với đòi hỏi của nền kinh tế Đây là nội dung quan trọng trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực quốc gia này Năm 1950, Chính phủ Hàn Quốc chủ trương xóa mù chữ toàn dân

Trang 27

Những năm sau đó, hệ thống giáo dục dần được đẩy mạnh như: Phát triển giáo dục hướng nghiệp trong các trường trung học (năm 1960); các trường dạy nghề kĩ thuật (năm 1970); đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu và giáo dục trên lĩnh vực khoa học cơ bản về công nghệ, nâng cao chất lượng giáo dục và học suốt đời Năm 1992, Hàn Quốc thực hiện cải cách giáo dục với mục tiêu tái cấu trúc hệ thống giáo dục hiện

có thành một hệ thống giáo dục mới, bảo đảm cho người dân học hỏi suốt đời Tháng 12/2001, Chính phủ Hàn Quốc công bố chiến lược quốc gia lần thứ nhất về phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2001-2005 Tiếp đó, Chiến lược quốc gia lần thứ 2 về phát triển nguồn nhân lực thời kỳ 2006-2010 được xây dựng và thực hiện hiệu quả

Bộ Chiến lược và tài chính Hàn Quốc là cơ quan có chức năng tương đương với Bộ Kế hoạch và Đầu tư của Việt Nam Trong Chiến lược quốc gia về phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2001-2005 và giữa thời kỳ 2006-2010, đối với việc phát triển nguồn nguồn nhân lực của Bộ Chiên lược và tài chính Hàn Quốc nói riêng, chiến lược đã đề cập tới sự tăng cường hợp tác giữa các doanh nghiệp, trường đại học và các cơ sở nghiên cứu; nâng cao trình độ sử dụng và quản lý nguồn nhân lực, nâng cao tính chuyên nghiệp của nguồn nhân lực trong khu vực công; xây dựng hệ thống đánh giá quản lý kiến thức, kĩ năng và công việc; xây dựng kết cấu hạ tầng thông tin cho phát triển nguồn nhân lực” xây dựng và phát triển thị trường tri thức,…

1.5.3 Kinh nghiệm của Nhật Bản

Nhật Bản là một trong những nước đi đầu trong việc phát triển nguồn nhân lực Xuất phát từ việc xác định rằng, nước Nhật nghèo tài nguyên thiên nhiên, để phát triển, chỉ có thể trông chờ vào chính mỗi người dân Nhật Bản, Chính phủ nước này đã đặc biệt chú trọng tới giáo dục-đào tạo, thực sự coi đây là quốc sách hàng đầu Theo đó, chương trình giáo dục đối với cấp tiểu học và trung học cơ sở là bắt buộc; tất cả các học sinh từ 6 đến 15 tuổi được đi học miễn phí Kết quả là tỉ lệ thi

đỗ vào các trường đại học, cao đẳng ngày càng tăng Nhật Bản trở thành một trong những cường quốc giáo dục của thế giới

Về sử dụng và quản lý nhân lực, Nhật Bản thực hiện chế độ lương và tăng thưởng theo thâm niên Nếu như ở nhiều nước phương Tây, chế độ này chủ yếu dựa

Trang 28

vào năng lực và thành tích cá nhân, thì ở Nhật, hầu như không có trường hợp ít tuổi nghề lại có chức vụ và tiền lương cao hơn người làm lâu năm

1.5.4 Kinh nghiệm Singapore

Singapore được coi là hình mẫu về phát triển nguồn nhân lực Thực tế đã chứng minh, quốc gia nhỏ bé này đã rất thành công trong việc xây dựng một đất nước có trình độ dân trí cao và hệ thống giáo dục phát triển hàng đầu Châu Á

Hệ thống giáo dục của Singapore rất linh hoạt và luôn hướng đến khả năng, sở thích cũng như năng khiếu của từng học sinh nhằm phát huy cao nhất tiềm năng của

họ Bên cạnh việc đáp ứng các tiến bộ của khoa học công nghệ mới vào giảng dạy, chương trình đào tạo của Singapore luôn chú trọng vào giáo dục nhân cách, truyền thống, văn hóa dân tộc

Chủ trương thu hút sinh viên quốc tế đến học tập, Chính phủ Singapore đã miễn xét thị thực cho du học sinh quốc tế, không đòi hỏi phải chứng minh tài chính, chi phí học tập vừa phải, môi trường học tập hiện đại, các ngành nghề đào tạo đa dạng,… Nhà nước Singapore đầu tư rất ít vào trường công lập để có chất lượng mẫu mực mà có chính sách tín dụng thích hợp để thu hút đào tạo nhân tài Đối với khối ngoài công lập, chính phủ tạo điều kiện để phát triển việc liên thông, liên kết nước ngoài, mời gọi các đại học quốc tế đặt chi nhánh,…

Singapore được đánh giá là quốc gia có chính sách thu hút nhân tài nước ngoài bài bản nhất thế giới Ngay từ khi lên cầm quyền, cựu Thủ tướng Lý Quang Diệu đã xác định rõ nhân tài là yếu tố quyết định khả năng cạnh tranh và phát triển của nền kinh tế Vì vậy, trong những năm qua, thu hút nhân tài, đặc biệt là nhân tài nước ngoài đã trở thành chiến lược ưu tiên hàng đầu của Singapore

1.6 Bài học cho Việt Nam trong việc phát triển nguồn nhân lực

Các nước đều có sự quan tâm đặc biệt tới việc phát triển nguồn nhân lực và thấy rõ vai trò quan trọng của vấn đề này trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội Mỗi quốc gia trong quá trình phát triển đều xác định chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và chiến lược phát triển nguồn nhân lực cho từng giai đoạn nhất định Chẳng hạn, mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam đến năm 2020 là đưa đất nước cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại Vì vậy, phát triển nguồn nhân lực phải gắn với quá

Trang 29

trình công nghiệp hóa, phải tạo ra lực lượng lao động thúc đẩy mạnh mẽ quá trình này

Thứ nhất, thực hiện mô hình giáo dục đại học đại chúng để gia tăng nguồn

nhân lực chất lượng cao Để gia tăng nhanh chóng số lượng nguồn nhân lực có chất lượng đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, phải thực hiện mô hình giáo dục đại học cho số đông Trong mô hình này có sự kết hợp giữa đào tạo chuyên sâu mang tính nghiên cứu với đào tạo đại trà mang tính cộng đồng Mô hình giáo dục này được thực hiện thông qua việc thành lập mới các trường đại học trong nước và quốc tế, đẩy mạnh việc liên kết đào tạo giữa các trường đại học trong nước và các trường nước ngoài, đặc biệt là với các nước có nền giáo dục tiên tiến Có quy định pháp lý rõ ràng về hệ thống đại học công và đại học tư, trong đó quan niệm rõ ràng

về đại học tư vị lợi và đại học tư vô vị lợi

Thứ hai, Nhà nước cần chú trọng đầu tư để phát triển giáo dục đại học quốc

gia, phải thực sự coi giáo dục đại học là quốc sách hàng đầu Việc đầu tư lớn phải kết hợp với việc quản lý hiệu quả nguồn đầu tư, tránh thất thoát, lãng phí Trong quá trình đầu tư, không nên dàn trải, cào bằng Cần đầu tư có trọng điểm để có những đại học thực sự trở thành những đại học tiêu biểu Tận dụng và phát huy khả năng tài chính của các cá nhân, tổ chức nhằm đầu tư cho nền giáo dục quốc gia Xây dựng đội ngũ giảng viên đại học có đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng Đội ngũ giảng viên đại học cần được đào tạo trong nước, gửi đi đào tạo ở nước có nền giáo dục tiên tiến Ngoài việc đào tạo, cần thu hút những giáo sư, những chuyên gia, những nhà hoạt động thực tiễn tài năng là Việt kiều hoặc người ngoại quốc tham gia vào đội ngũ cán bộ giảng dạy bậc đại học ở Việt Nam

Thứ ba, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực phù hợp với nhu cầu thị trường

lao động theo ngành nghề Trong thực tế phát triển đất nước hiện nay, đào tạo nguồn nhân lực cần phải đi theo nhu cầu thực tế của xã hội Các trường đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp tập trung đào tạo nguồn nhân lực đủ khả năng tiếp cận công nghệ tiên tiến như báo cáo chính trị đại hội VIII đã chỉ ra Nhân lực được đào tạo có chất lượng, cơ cấu hợp lý là nhân tố quan trọng để thực hiện chuyển dịch

cơ cấu nền kinh tế có tỉ trọng nông nghiệp khá cao như nước ta sang nền kinh tế có

tỉ trọng đóng góp chủ yếu từ công nghiệp và dịch vụ Chương trình đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cần gắn bó chặt chẽ với các chương trình phát triển khoa học –

Trang 30

công nghệ mũi nhọn nhằm khắc phục sự bất hợp lý về cơ cấu đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn kỹ thuật, sự mất cân đối nghiêm trọng trong phân phối cán bộ giữa khu vực sản xuất vật chất và phi vật chất, giữa thành thị và nông thôn, giữa khu vực quốc doanh và khu vực tư nhân

Thứ tư, quan tâm tạo điều kiện tốt cho nguồn nhân lực trẻ tài năng Thế hệ trẻ

là tương lai của mỗi quốc gia Vì vậy, quốc gia nào biết quan tâm, tạo điều kiện để lực lượng nhân lực trẻ phát huy tối đa khả năng thì họ sẽ góp phần to lớn vào quá trình phát triển vững vàng của quốc gia trong tương lai Lao động chất lượng cao phải được trả giá cao, tương xứng để thúc đẩy khả năng sáng tạo của họ Cần áp dụng thước đo của thị trường để trả công xứng đáng cho những tài năng ở cả khu vực công và khu vực tư Đặc biệt, vấn đề thu nhập trong khu vực công cần được điều chỉnh một cách mềm dẻo, linh hoạt để thích ứng với những biến động của thị trường lao động Chỉ có như thế mới giữ được những người tài năng làm việc lâu dài trong khu vực công

Trang 31

Chương 2: THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG NGÀNH KẾ HOẠCH – ĐẦU TƯ

Bộ, đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Sau đó nửa tháng, vào ngày 14/01/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh

đã ký sắc lệnh số 4/SL cử thêm 10 thành viên vào Ủy ban nghiên cứu Kế hoạch kiến thiết Ủy ban nghiên cứu Kế hoạch kiến thiết có nhiệm vụ nghiên cứu một kế hoạc thiết thực để kiến thiết quốc gia về các ngành kinh tế, tài chính, hành chính, xã hội, văn hoá và thảo ra những đề án kiến thiết đưa lên Chính phủ Theo sắc lệnh số 78/SL thì Ủy ban nghiên cứu Kế hoạch kiến thiết có các tiểu ban chuyên môn và một số cán bộ làm việc trong các tiểu ban này

Ngày 14/5/1950, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký sắc lệnh số 68/SL thành lập Ban Kinh tế Chính phủ thay cho Hội nghị Liên Bộ Kinh tế thành lập theo Quyết nghị của Hội đồng Chính phủ tháng 3 năm 1949

Ban Kinh tế Chính phủ có nhiệm vụ nghiên cứu khởi thảo để đệ trình Chính phủ những đề án về chính sách, chương trình, kế hoạch kinh tế hoặc những vấn đề quan trọng về kinh tế

Thành phần của Ban Kinh tế Chính phủ theo sắc lệnh số 68/SL, bao gồm: Thủ tướng Chính phủ hay Phó Thủ tướng là Chủ tịch; các Bộ trưởng và Thứ trưởng của các bộ Kinh tế, Canh nông, Giao thông công chính, Lao động, Tài chính; Bộ trưởng hoặc Thứ trưởng Bộ Quốc phòng; 01 đại diện Mặt trận; 01 đại diện Tổng Liên đoàn Lao động; 01 đại diện Hội Nông dân Cứu quốc

Ngay sau khi thành lập, Ban Kinh tế Chính phủ đã bắt tay vào nghiên cứu, soạt thảo trình Chính phủ các Chính sách, các chương trình, kế hoạch kinh tế-xã hội… Và những vấn đề quan trọng khác nhằm động viện sức người, sức của cho công cuộc kháng chiến lần thứ nhất thắng lợi

Trang 32

2.1.2 Thời kỳ 1955-1960 và sự hình thành Ủy ban Kế hoạch Quốc gia

Để đáp ứng yêu cầu phát triển trong thời kỳ mới, ngày 8/10/1955, Hội đồng Chính phủ đã họp và ra Nghị quyết thành lập Ủy ban Kế hoạch Quốc gia và xác định: “Ủy ban Kế hoạch Quốc gia là một cơ quan của Chính phủ, để kế hoạch hóa công cuộc kiến thiết kinh tế và văn hóa, tổ chức và chỉ đạo công tác thống kê, kế toán trong cả nước”

Trong thông tư số 603/TTg ngày 14/10/1958 do Thủ tướng Chính phủ Phạm Văn Đồng ký gửi Ủy ban Kế hoạch Quốc gia, các Bộ, các khu và tỉnh đã ghi rõ:

“Trong chế độ Dân chủ Nhân dân của chúng ta ở miền Bắc, việc khôi phục và phát triển kinh tế và văn hóa dần dần được kế hoạch hóa Ủy ban Kế hoạch Quốc gia sẽ thực hiện từng bước công việc kế hoạch hóa, đảm bảo việc củng cố miền Bắc Như vậy, việc thành lập Ủy ban Kế hoạch Quốc gia là một thắng lợi, đánh dấu một bước tiến mới trong toàn bộ công tác của chúng ta” Kể từ đó, hệ thống cơ quan kế hoạch

từ Trung ương đến địa phương được hình thành, bao gồm Ủy ban Kế hoạch Quốc gia; các bộ phận kế hoạch của các Bộ ở Trung ương; và Ban Kế hoạch của các khu, tỉnh huyện

Khi mới thành lập, đội ngũ cán bộ của Ủy ban Kế hoạch Quốc gia có 136 người, trong đó lãnh đạo Ủy ban có 5 người, lãnh đạo cấp Vụ và tương đương có 2 người và cán bộ viên chức có 129 người Trong số cán bộ viên chức có 10 người trình độ đại học và cao đẳng Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Quốc gia từ tháng 10 năm 1955 đến tháng 4 năm 1958 là đồng chí Phạm Văn Đồng – Nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Từ tháng 4 năm 1958 đến tháng 12 năm 1958, đồng chí Nguyễn Văn Trân – Nguyên Bí thư Trung ương Đảng, là Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Quốc gia

Những năm đầu khôi phục kinh tế ở miền Bắc, Ủy ban Kế hoạch Quốc gia cùng với các cơ quan kế hoạch của các Bộ, Ban, Ngành Trung ương và tỉnh, thành phố đã bắt tay ngay vào việc nghiên cứu xây dựng kế hoạc khôi phục và phát triển kinh tế trong 6 năm (1955-1960) sau chiến chính với hai giai đoạn: Giai đoạn 1, mục tiêu chủ yếu là khôi phục kinh tế, văn hóa, xã hội được triển khai thực hiện trong 3 năm đầu tiên; Giai đoạn 2, là giai đoạn phát triển kinh tế, cải thiện đời sống dân cư được triển khai thực hiện trong 3 năm cuối

Trang 33

Công cuộc kiến quốc ngày càng được mở rộng và phát triển, các cơ sở kinh

tế-xã hội dần dần được khôi phục; sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp gia tăng, phong trào hợp tavs hóa nông nghiệp, khai hoang, phục hóa và sản xuất nông nghiệp được đẩy mạnh, cơ sở vật chất ký thuật của nền kinh tế bước đầu đã được xây dựng; đời sống vật chất văn hóa của nhân dân đã được cải thiện…

Những thành tựu trong thời kỳ này là tiền đề để tiếp tục xây dựng các kế hoạch phát triển cap hơn trong những năm tiếp đó

2.1.3 Thời kỳ 1961-1965 và sự ra đời của Ủy ban Kế hoạch Nhà nước

Ngày 26/7/1960, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa công bố sắc lệnh

số 18-LCT về luật tổ chức Hội đồng Chính phủ đã được Quốc hội khóa II, kỳ họp thứ nhất thông qua ngày 14/7/1960 Theo điều 3 của Luật tổ chức hội đồng chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thì Ủy ban Kế hoạch Nhà nước là một trong

24 cơ quan Bộ và ngang Bộ

Sau đó, ngày 9/10/1961, Hội đồng Chỉnh phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ra Nghị đinh số 158-CP quy định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Ủy ban Kế hoạch Nhà nước

Nghị định này xác đinh rõ: “Ủy ban Kế hoạch Nhà nước là cơ qua của Hội đồng Chính phủ có trách nghiệm xây dựng kế hoạch hàng năm và kế hoạch dài hạn phát triển kinh tế quốc dân và văn hóa theo đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, làm cho các mặt của nến kinh tế, văn hóa, xã hội phát triển theo đúng quy luật của chủ nghĩa xã hội và nâng cao không ngừng đời sống vật chất và văn hóa của quốc dân Ủy ban còn có trách nghiệm quản lý công tác xây dựng cơ bản của Nhà nước, bảo đảm công tác xây dựng cơ bản theo đúng đường lối, chính sách, kế hoạch của Nhà nước nhằm rút ngắn thời gian xây dựng, bảo đảm chất lượng công trình tốt

và hạ giá thành”

Cơ cấu tổ chức trong Ủy ban Kế hoạch Nhà nước trong thời kỳ này có 15 đơn

vị trực thuộc; ngoài ra còn có Tổng cục Quản lý Xây dựng cơ bản,gồm 4 Vụ nghiệp vụ: Vụ Chuyên nghiệp I; Vụ Chuyên nghiệp II; Vụ Định mức và Quản lý máy thi công; Vụ Tổng hợp

Đội ngũ cán bộ trong Ủy ban Kế hoạch Nhà nước thời kỳ này có 297 người; trong đó: Lãnh đạo Ủy ban có 9 người, Lãnh đạo cấp Vụ và tương đương có 35 người, cán bộ, viên chức có 253 người Trong số cán bộ, viên chức có 10 người có

Trang 34

trình độ đại học và cao đẳngvà 2 cán bộ có trình đọ lý luận chính trị cao cấp Từ tháng 12 năm 1958 đến tháng 10 năm 1968, dồng chí Nguyễn Duy Trinh – Nguyên

Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chỉ phủ là Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước

Việc ra đời Ủy ban Kế hoạch Nhà nước ở Trung ương và các Ủy ban Kế hoạch Nhà nước ở các tỉnh, thành phố trực thuộc miền Bắc xã hội chủ nghĩa đã tạo

ra những điều kiện thuận lợi trong quá trình nghiên cứu xây dựng và tổng hợp kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội trong các ngành, các lĩnh vực và các địa phương trên toàn miền Bắc

Với tinh thần vừa làm vừa học, vừa nâng cao trình độ… các cán bộ của Ủy ban Kế hoạch Nhà nước đã phối hợp cùng với các cơ quan nghiên cứu kế hoạch trong các Bộ ngành, tỉnh, thành phố ở miền Bắc tổ chức triển khai công việc nghiên cứu, thực hiện tốt vai trò tham mưu cho Đảng và Nhà nước trong việc xây dựng “Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm lần thứ nhất” ở miền Bắc xã hội chủ nghĩa (1961-1965)

Đây là kế hoạc 5 năm đầu tiên xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, thực hiện nhiệm vụ công nghiệp hóa trên một nửa đất nước, hình thành một bước cơ sở vật chất, kĩ thuật cảu nền kinh tế mới và quan hệ sản xuất mới

2.1.4 Thời kỳ 1965-1975 với việc chuyển nền kinh tế sang thời chiến

Từ năm 1965, Đảng và Chính phủ đã chủ trương chuyển nền kinh tế sang thời chiến Kế hoạch thời chiến đã được chỉ đạo xây dựng và thực hiện từ năm 1965 đến giữa năm 1975

Ủy ban Kế hoạch Nhà nước cùng với các Bộ, ngành, địa phương đã tập trung nghiên cứu và xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội thời chiển ở miền Bắc Hình thức kế hoạch hóa chủ yếu trong thời kỳ này là kế hoạch ngắn hạn, kế hoạch năm, kế hoạch quý và vào lúc cao điểm của chiến tranh phá hoại, đã áp dụng hình thức “kế hoạch tháng” để đáp ứng nhanh nhạy trong chỉ đạo điều hành và trong tổ chức thực hiện

Đến năm 1965, số cán bộ, viên chức của Ủy ban Kế hoạch Nhà nước có khoảng 400 ngườ; trong đó: lãnh đạo Ủy ban có 11 người, cán bộ, viên chức có 369 người Trong số cán bộ, viên chức có 102 người có trình độ đại học và cao đẳng và

12 cán bộ có trình độ lý luận chính trị cao cấp Đồng chí Nguyễn Côn – Nguyên Bí

Trang 35

thư Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phut làm chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước từ tháng 10 năm 1965 đến thang 6 năm 1973 Đồng chí Nguyễn Lam – Nguyên Bí thư Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng là chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước từ tháng 6 năm 1973 đến tháng 3 năm 1974

Cơ cấu tổ chức bộ ngành Kế hoạch ở Trung ương và địa phương cũng đã có những thay đổi phù hợp

Ngày 25/3/1974, Hội đồng Chính phủ ra Nghị định số 49-CP phê chuẩn Điều

lệ về tổ chức và hoạt động của Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, trong đó ghi rõ: “Ủy ban Kế hoạch Nhà nước là cơ quan của Hội đồng Chính phủ chịu trách nhiệm trước toàn bộ công tác kế hoạch hóa nền kinh tế quốc dân; chuản bị cho cơ quan lãnh đạo của Đảng và Nhà nước ra quyết định một cách có căn cứ khoa học về các vấn đề cơ bản của việc phát triển kinh tế có kế hoạch, cân đối với nhịp độ nhanh và hiệu quả cao; nghiên cứu làm dự đoán kinh tế; tổng hợp, cân đối và xây dựng các dự án kế hoạch dài hạn, kế hoạch 5 năm và kế hoạch hàng năm, nhằm xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật của chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống nhân dân và tăng cương củng

cố quốc phòng; nghiên cứu và hướng dẫn phương pháp và chế độ kế hoạch hóa, theo doi kiểm tra, phân tích tình hình thức hiện kế hoạch và kiến nghị các biện pháp thúc đẩy việc hoàn thành diện kế hoạc Nhà nước…”

Theo đó, Hội đồng Kế hoạch Nhà nước đã được thành lập bap gồm các thành viên của Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, Thủ trưởng một số Bộ, Tổng cục, Ủy ban Nhà nước, Chủ tịch một số tỉnh, thành phố và Thủ trưởng một số đơn vị cơ sở quan trong Chủy nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước làm Chủ tịch của Hội đồng này Thực hiện chức năng, nhiệm vụ trên, ngay trong những năm chiến tranh ác liệt, Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, dưới sự chỉ đạo của Trung ương Đảng và Chính phủ, đã tập trung nghiên cứu, chuẩn bị cho kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của cả nước sau chiến tranh với tinh thần: “Thắng giặc Mỹ ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay”

Việc xây dựng và thực hiện các kế hoạch kinh tế thời chiến trong thời kỳ này

đã góp làm nên chiến thắng của quân và dân ta trong chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở miền Bắc và giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước

Ngày đăng: 02/03/2015, 01:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ (2012), “Dự thảo quy hoạch phát triển nhân lực Ngành Kế hoạch và Đầu tƣ giai đoạn 2011-2020” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự thảo quy hoạch phát triển nhân lực Ngành Kế hoạch và Đầu tƣ giai đoạn 2011-2020
Tác giả: Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ
Năm: 2012
1. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2005), 60 năm những chặng đường phát triển, Nxb Thống kê, Hà Nội Khác
3. Đại học Kinh tế Quốc dân (2004), Giáo trình Quản trị nguồn nhân lực, Nxb Lao động- xã hội, Hà Nội Khác
4. Học viện Chính sách và Phát triển (2012), Giáo trình Chính sách công Khác
5. Học viện Chính sách và Phát triển (2013), Bài giảng môn Chính sách Nguồn nhân lực Khác
6. Học viện Hành chính Quốc gia (2005), Giáo trình Quản lý tổ chức nguồn nhân lực xã hội, Nxb Giáo dục, Hà Nội Khác
7. Nghị định số 115/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 về chế độ công chức dự bị Khác
8. Nghị định số 116/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 vềviệc tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước Khác
9. Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày 5/3/2010 về đào tạo, bồi dƣỡng công chức Khác
10. Nghị định số 204/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lƣợng vũ trang Khác
11. Quyết định số 579/QĐ-TTg ngày 19/4/2011 về phê duyệt chiến lƣợc phát triển nhân lực Việt Nam thời kỳ 2011-2020 Khác
12. Quyết định số 74/2001/QĐ-TTg ngày 7/5/2001 về việc phê duyện kế hoạch đào tạo, bồi dƣỡng cán bộ công chức giai đoạn 2001-2005 Khác
14. ThS. Cảnh Chí hoàng, ThS. Trần Vĩnh hoàng (2013), Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực ở một số nước và bài học kinh nghiệm cho Việt nam, tạp chí Phát triển & Hội nhập Số 12 - Tháng 09-10/2013 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.1: Mối quan hệ giữa quy mô dân số từ đủ 15 tuổi trở lên  với lực lƣợng lao động và nguồn lao động ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp chính sách phát triển nguồn nhân lực ngành Kế hoạch và đầu tư
Sơ đồ 1.1 Mối quan hệ giữa quy mô dân số từ đủ 15 tuổi trở lên với lực lƣợng lao động và nguồn lao động ở Việt Nam (Trang 12)
Sơ đồ 2.1. Cơ cấu tổ chức của Ngành Kế hoạch và Đầu tƣ - Thực trạng và giải pháp chính sách phát triển nguồn nhân lực ngành Kế hoạch và đầu tư
Sơ đồ 2.1. Cơ cấu tổ chức của Ngành Kế hoạch và Đầu tƣ (Trang 45)
Bảng 2.2. Cơ cấu nguồn nhân lực Ngành Kế hoạch và Đầu tƣ theo - Thực trạng và giải pháp chính sách phát triển nguồn nhân lực ngành Kế hoạch và đầu tư
Bảng 2.2. Cơ cấu nguồn nhân lực Ngành Kế hoạch và Đầu tƣ theo (Trang 47)
Bảng 2.4. Kết quả đào tạo, bồi dƣỡng cán bộ, công chức giai đoạn - Thực trạng và giải pháp chính sách phát triển nguồn nhân lực ngành Kế hoạch và đầu tư
Bảng 2.4. Kết quả đào tạo, bồi dƣỡng cán bộ, công chức giai đoạn (Trang 53)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w