LỜI CẢM ƠN Được sự cho phép của khoa Quy hoạch phát triển, Học viện Chính sách và Phát triển, cùng với sự đồng ý của giáo viên hướng dẫn Th.s Nguyễn Bích Phương tôi đã thực hiện đề tài:
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của tôi, có sự hỗ trợ từ giáo viên hướng dẫn là Th.s Nguyễn Bích Phương Các nội dung nghiên cứu và kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa được công bố trong bất kì công trình nghiên cứu nào trước đây Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi trong phần tài liệu tham khảo Ngoài ra, luận văn còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá cũng như số liệu của các tác giả, cơ quan tổ chức khác, và cũng được thể hiện trong phần tài liệu tham khảo
Nếu phát hiện có sự gian lận nào tôi xin chịu trách nhiệm trước Hội đồng, cũng như kết quả khóa luận của mình
Sinh viên
Lê Thị Khánh Hòa
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Được sự cho phép của khoa Quy hoạch phát triển, Học viện Chính sách và Phát triển, cùng với sự đồng ý của giáo viên hướng dẫn Th.s Nguyễn Bích Phương tôi đã thực hiện đề tài: “Thực trạng phát triển các hình thức tổ chức lãnh thổ nông nghiệp tỉnh Bắc Giang”
Để hoàn thành khóa luận này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi trân trọng gửi lời cảm ơn sâu sắc đến:
- Ban Giám đốc, các giảng viên của Học viện Chính sách và Phát triển đã tạo điều kiện cho chúng tôi được học tập trong một môi trường tốt
- Ths Nguyễn Bích Phương_Giảng viên khoa Quy hoạch phát triển, được sự hướng dẫn nhiệt tình của cô đã giúp tôi định hướng lựa chọn đề tài nghiên cứu và
hỗ trợ rất nhiều để giúp tôi hoàn thành khóa luận này
Mặc dù đã có nhiều sự cố gắng để thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnh nhất Song do mới làm quen với công tác nghiên cứu, tiếp cận thực tế cũng như hạn chế
về kinh nghiệm nên không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định mà bản thân chưa thấy được Tôi rất mong được sự góp ý của quý Thấy cô để khóa luận của tôi được hoàn chỉnh hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 21 tháng 5 năm 2014
Sinh viên
Lê Thị Khánh Hòa
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu của đề tài 1
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài 2
4 Phạm vi và giới hạn 3
5 Các quan điểm và phương pháp nghiên cứu 3
6 Cấu trúc đề tài 5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TỔ CHỨC LÃNH THỔ NÔNG NGHIỆP 6
1.1 Quan niệm tổ chức lãnh thổ nông nghiệp 6
1.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới tổ chức lãnh thổ nông nghiệp 8
1.3 Các hình thức tổ chức lãnh thổ nông nghiệp 11
1.4 Thực tế các hình thức tổ chức lãnh thổ nông nghiệp 16
CHƯƠNG II: CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TCLTNN THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÁC HÌNH THỨC TỔ CHỨC LÃNH THỔ NÔNG NGHIỆP TỈNH BẮC GIANG 22
2.1 Tổng quan về tỉnh Bắc Giang 22
2.1.1 Vị trí địa lý 22
2.1.2 Đặc điểm tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên 22
2.1.3 Đặc điểm dân cư- xã hội 22
2.1.4 Thực trạng phát triển kinh tế 24
2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến TCLTNN tỉnh Bắc Giang 28
2.2.1 Vị trí địa lý 28
2.2.2 Đặc điểm tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên 28
2.2.2.1 Địa hình 28
2.2.2.2 Khí hậu 30
2.2.2.3 Tài nguyên nước 31
2.2.2.4 Tài nguyên đất 32
2.2.2.5.Tài nguyên rừng 35
Trang 42.2.3 Các nhân tố kinh tế - xã hội 37
2.2.3.1.Dân cư, lao động 37
2.2.3.2.Cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật 40
2.2.3.3.Khoa học, công nghệ 43
2.2.3.4 Vốn đầu tư 45
2.2.3.5 Đường lối, chính sách 46
2.2.4 Đánh giá chung theo mô hình SWOT 48
2.3 Các hình thức tổ chức lãnh thổ nông nghiệp tỉnh Bắc Giang 50
2.3.1 Hộ gia đình 50
2.3.2 Trang trại 54
2.3.4 Doanh nghiệp nông nghiệp 63
2.3.5.Tiểu vùng nông nghiệp 65
CHƯƠNG III: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CHO TỔ CHỨC LÃNH THỔ NÔNG NGHIỆP TỈNH BẮC GIANG 71
3.1 Mục tiêu phát triển 71
3.2 Định hướng phát triển 72
3.2.1 Định hướng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh đến năm 2020 72
3.2.2 Định hướng phát triển nông nghiệp 73
3.1.3 Định hướng tổ chức lãnh thổ nông nghiệp 77
3.3 Các giải pháp phát triển TCLTNN 79
3.3.1 Quy hoạch và quản lí đất đai 79
3.3.3 Phát triển những dịch vụ phục vụ nông nghiệp 80
3.3.4 Giải pháp phát triển nguồn nhân lực 80
3.3.5 Giải pháp thị trường 80
KẾT LUẬN 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO 83
Trang 5DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
TCLTNN: Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp
UBND: Ủy ban nhân dân
CN-XD: Công nghiêp- xây dựng
CNH, HĐH: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
TDMNPB: Trung du miền núi phía bắc
BTB&DHMT: Bắc trung bộ và duyên hải miền trung ĐNB: Đông Nam Bộ
ĐBSCL: Đồng bằng sông Cửu Long
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 1: Số lượng hộ nông lâm thủy sản giai đoạn 2006-2011 17
Bảng 2 : Thống kê tiêu chí định lượng để xác định trang trại 19
Bảng 3: Diễn biến sử dụng đất nông nghiệp tỉnh BG giai đoạn 2006-2013 33
Bảng 4 : Sử dụng đất của các đơn vị nông, lâm, thủy sản phân theo các hình thức tổ chức lãnh thổ nông nghiệp năm 2012 34
Bảng 5: Cơ cấu lao động theo trình độ chuyên môn ở khu vực nông thôn của tỉnh Bắc Giang 39
Bảng 6 : Số lao động trong các đơn vị nông, lâm, thủy sản phân theo các hình thức tổ chức lãnh thổ nông nghiệp năm 2011 39
Bảng 7: Một số máy móc, thiết bị phục vụ hoạt động sản xuất nông nghiệp phân theo hình thức tổ chức lãnh thổ nông nghiệp 43
Bảng 8 : Số hộ nông nghiệp chia theo loại hình sản xuất nông nghiệp của tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2006-2011 52
Bảng 9: Diện tích đất sử dụng cho kinh tế hộ gia đình 53
Bảng 10 :Tình hình hoạt động kinh tế hộ gia đình tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2006 – 2009 53
Bảng 11: Số lượng trang trại phân theo các huyện của tỉnh Bắc Giang 56
giai đoạn 2006 - 2012 56
Bảng 12: Số lao động làm việc trong HTX của tỉnh giai đoạn 2006-2011 62
Bảng 13: Diện tích đất của HTX tỉnh Bắc Giang năm 2011 62
Bảng 14: Diện tích đất sử dụng cho doanh nghiệp phân theo ngành của tỉnh năm 2011 65
Bảng 15: So sánh tỉ trọng sản xuất nông nghiệp giữa hai tiểu vùng nông nghiệp năm 2009 69
Trang 7DANH MỤC BIỂU
Biểu đồ 1: Cơ cấu hộ NLTS nông thôn cả nước giai đoạn 2006-2011 17
Biểu đồ 2: Cơ cấu hộ NLTS nông thôn phân theo vùng giai đoạn 2006-2011 18
Biểu đồ 3: Số trang trại cả nước giai đoạn 2000-2011 20
Biểu đồ 4: Diễn biến GTSX ngành nông nghiệp 25
giai đoạn 2006-2013 (Giá SS 2010) 25
Biểu đồ 5: Gía trị sản xuất nông nghiệp tính theo giá hiện hành phân theo địa phương năm 2012 26
Biểu đồ 6: Giá trị sản xuất của ngành nông nghiệp giai đoạn 2005-2012 26
Biểu đồ 7: Phân vùng của tỉnh Bắc Giang 29
Biểu đồ 8: Diện tích sử dụng đất trên địa bàn tỉnh Bắc Giang 32
Biểu đồ 9: Cơ cấu các loại đất chính trên địa bàn tỉnh Bắc Giang 35
Biểu đồ 10: Diện tích 3 loại rừng Bắc Giang năm 2013 36
Biểu đồ 11: Diễn biến đất lâm nghiệp Bắc Giang giai đoạn 2006-2013 36
Biểu đồ 12: Chuyển dịch lao động Bắc Giang giai đoạn 2006-1013 38
Biểu đồ 13: Vốn đầu tư công cho nông nghiệp, nông thôn, nông dân trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2006-2011 45
Biểu đồ 14: Số hộ gia đình chia theo ngành của tỉnh Bắc Giang 2006-2011 51
Biểu đồ 15 : Cơ cấu số hộ nông nghiệp chia theo địa phương của tỉnh năm 2011 51
Biểu đồ 16: Số lượng trang trại tỉnh Băc Giang giai đoạn 2006 – 2009 55
Biểu đồ 17: Số lượng trang trại phân theo địa phương năm 2012 55
Biểu đồ 19: Số đơn vị trang trại phân theo loại hình sản xuất và ngành giai đoạn 2006-2011 của tỉnh Bắc Giang 57
Biểu đồ 18 : Số lượng lao động làm việc trong trang trại phân theo địa phương của tỉnh Bắc Giang năm 2010 58
Biểu đồ 20: Trình độ chuyên môn của chủ trang trại tỉnh Bắc Giang 58
năm 2009 58
Biểu đồ 21: Số lượng HTX phân theo hình thức sản xuất tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2006-2011 60
Biểu đồ 22: Số lượng HTX phân theo địa phương của tỉnh năm 2011 61
Biểu đồ 23: Số doanh nghiệp phân theo ngành của tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2006-2011 63
Trang 8Biểu đồ 24: Cơ cấu lao động làm việc trong doanh nghiệp phân theo ngành của tỉnh
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Để tạo nên sự phát triển kinh tế - xã hội của bất kì một quốc gia nào thì việc
tổ chức lãnh thổ nền kinh tế - xã hội nói chung là một trong những biện pháp quan trọng hàng đầu Việt Nam là một quốc gia có nền nông nghiệp phát triển lâu đời, hoạt động nông sản xuất nông nghiệp đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với sự phát triển kinh tế- xã hội nước ta Vì vậy, chìa khóa để chuyển từ nền nông nghiệp truyền thống, lạc hậu sang nền nông nghiệp hàng hóa hiện đại chính là tổ chức lãnh thổ nông nghiệp Do vậy, nghiên cứu TCLTNN của một tỉnh có ý nghĩa thực tiễn to lớn không chỉ đối với sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh đó mà còn có ý nghĩa trên phạm vi cả nước
Bắc Giang là một tỉnh thuộc vùng trung du và miền núi phía Bắc, thuộc bộ phận Đông Bắc Đây là một tỉnh có nhiều tiềm năng trong việc phát triển nông nghiệp, để tạo đà cho sự phát triển kinh tế chung của tỉnh Tuy nhiên, hiện nay tỉnh vẫn chưa khai thác hết thế mạnh của mình, vì vậy đây vẫn được xem là tỉnh nghèo của nước ta Để khai thác có hiệu quả các nguồn lực phát triển nông nghiệp của tỉnh thì rất cần có những nghiên cứu về tổ chức lãnh thổ nông nghiệp tỉnh Bắc Giang vì tổ chức lãnh thổ nông nghiệp là phương pháp tốt nhất để khai thác được triệt để, toàn diện các nguồn lực về tự nhiên, kinh tế - xã hội đồng thời đẩy mạnh việc chuyên môn hóa sản phẩm và tăng nhanh năng suất lao động xã hội
Trong khi đó việc TCLTNN tỉnh Bắc Giang hiện vẫn còn nhiều vấn đề bất cập, vì thế việc nghiên cứu TCLTNN nhằm mục đích phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh thông qua một số giải pháp cụ thể Chính từ tính cấp thiết và thực tiễn của vấn
đề trên mà em đã chọn “Tổ chức lãnh thổ nông nghiệi tỉnh Bắc Giang” làm đề tài
cho khóa luận của mình
2 Lịch sử nghiên cứu của đề tài
2.1 Trên thế giới:
Các hình thức tổ chức lãnh thổ nông nghiệp đã và đang thu hút được khá nhiều
sự quan tâm của các nhà khoa học, nhà địa lý học và nông nghiệp học trên toàn thế giới Các tài liệu, nghiên cứu liên quan đến từng khía cạnh của nội dung đề tài
tương đối phong phú Lý thuyết “vành đai giữa trung tâm và ngoại vi” của nhà khoa học V.Thunen đã đề cập về phát triển chuyên môn hóa nông nghiệp Cuốn“Tổ
chức các xí nghiệp nông nghiệp xã hội chủ nghĩa” của tác giả S G Culotsnhop
xuất bản năm 1976 đã trình bày những vấn đề về tổ chức sản xuất trong các nông
trang tập thể và nông trường quốc doanh Cuốn “Kinh tế xí nghiệp nông nghiệp xã
Trang 10hội chủ nghĩa” của tác giả Gerhard Jannermann, Karl, Diether Gussek do Hồ Sĩ
Phấn dịch đề cập tới thực trạng phát triển của hình thức tổ chức xí nghiệp nông nghiệp trong xã hội chủ nghĩa
2.2 Trong nước:
Trong khoa học Địa lí ở Việt Nam, về phương diện lý luận có rất ít tài liệu nghiên cứu sâu về tổ chức lãnh thổ nông nghiệp Liên quan đến vấn đề này chỉ có một vài nghiên cứu của tác giả Minh Chi đã công bố vào những năm 60 Cũng trong thời gian này, ở khoa Địa lý trường đại học Sư Phạm Hà Nội, nhà giáo Nguyễn Văn Quang đã đưa vào giảng dạy giáo trình “ Phân vùng nông nghiệp” trong đó đề cập tới các nguyên tắc, phương pháp và nội dung cụ thể tập trung vào hướng dẫn lập quy hoạch nông nghiệp Ngoài ra, các công trình nghiên cứu về tổ chức về tổ chức lãnh thổ nông nghiệp không thực sự nhiều nhưng có thể kể tên các công trình
nghiên cứu như:“Một số biện pháp kinh tế quản lý chủ yếu để tăng cường củng cố
HTX vùng đồng bằng miền Bắc XHCN”(Nguyễn Lâm Toán, Tô Dũng Tiến,
1976) trên cơ sở xác định thực trạng của các HTX ở miền Bắc, các tác giả đã đề
xuất một số giải pháp khả thi để phát triển HTX trong thời gian này “Khảo sát mô
hình kinh tế hộ nông dân ngoại thành Hà Nội”(Đề tài cấp thành phố, 1988 Chủ trì:
Trần Đình Đằng Tham gia chính: Tô Dũng Tiến, Phạm Vân Đình), đề cập đến thực
trạng phát triển kinh tế hộ gia đình của người dân ngoại thành Hà Nội “ Kinh tế
trang trại ở nông thôn Nam Bộ”, đề tài đang tiến hành tại trường Ðại học Kinh tế
TP Hồ Chí Minh Chủ nhiệm Nguyễn Thị Song An, trên cơ sở tìm hiểu về thực trạng phát triển mô hình trang trại của người dân Nam Bộ, tác giả đã đưa ra những định hướng, giải pháp thiết thực cho mô hình này
Xuất phát từ những vấn đề trên, tôi mạnh dạn nghiên cứu vấn đề tổ chức lãnh thổ nông nghiệp tỉnh Bắc Giang
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
3.2 Nhiệm vụ
Để thực hiện các mục tiêu trên, đề tài tập trung giải quyết một số nhiệm vụ chủ yếu:
- Tổng quan có chọn lọc cơ sở lí luận và thực tiễn về TCLTNN áp dụng vào tỉnh Bắc Giang
- Phân tích, đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến TCLTNN của tỉnh Bắc Giang
- Phân tích, đánh giá hiện trạng TCLTNN của tỉnh
Trang 11- Về phương diện thời gian: tập trong nghiên cứu giai đoạn từ 2005 đến nay
5 Các quan điểm và phương pháp nghiên cứu
5.1 Quan điểm nghiên cứu
5.1.1 Quan điểm tổng hợp
Trong một lãnh thổ, các yếu tố tự nhiên, kinh tế, xã hội có một mối quan hệ mật thiết với nhau tạo nên một thể tổng hợp thống nhất và hoàn chỉnh TCLTNN là một bộ phận quan trọng tổ chức lãnh thổ kinh tế - xã hội, nó gắn bó chặt chẽ với hoạt động sản xuất của con người, môi trường tự nhiên và môi trường kinh tế - xã hội Mặt khác, nội dung nghiên cứu của TCLTNN rất đa dạng và phức tạp, liên quan đến nhiều vấn đề, nhiều khía cạnh có quy mô và bản chất khác nhau, nhưng lại
có quan hệ chặt chẽ với nhau Vì vậy, TCLTNN của tỉnh Bắc Giang được nghiên cứu trong mối quan hệ chặt chẽ với các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, hoàn cảnh lịch sử và các chính sách phát triển kinh tế - xã hội của cả nước Đồng thời phải thấy rằng, sự phát triển TCLTNN tỉnh Bắc Giang không nằm ngoài quy luật về tính hệ thống và cân bằng động Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp tỉnh Bắc Giang phát triển phải tạo được một hệ thống, đồng bộ, toàn diện, mang lại hiệu quả cao nhất về các mặt kinh tế, xã hội và môi trường
5.1.2 Quan điểm lãnh thổ
Mọi sự vật, hiện tượng đều tồn tại trong một không gian nhất định Chính vì vậy, đối tượng nghiên cứu phải được gắn với không gian xung quanh nó đang tồn tại Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp tỉnh Băc Giang phải được đặt trong tổ chức lãnh thổ kinh tế - xã hội của vùng TDMNPB nói riêng và trong phạm vi của cả nước Nghiên cứu TCLTNN của tỉnh Bắc giang cần tìm ra những nét độc đáo, đặc trưng riêng biệt nhằm phát huy tối đa lợi thế so sánh của vùng
5.1.3 Quan điểm lịch sử, viễn cảnh
Mọi sự vật, hiện tượng đều không ngừng vân động và biến đổi theo thời gian
và không gian Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp tỉnh Bắc Giang không nằm ngoài quy luật đó Vì vậy, cần xem xét sự phát triển TCLTNN tỉnh Bắc Giang trong từng giai đoạn cụ thể và đặt trong mối quan hệ với những thay đổi về thể chế, chính sách phát
Trang 12triển kinh tế - xã hội trong từng thời kì nhất định Để từ đó có thể đánh giá được những khả năng, triển vọng của TCLTNN tỉnh Bắc Giang hiện tại và đề ra những giải pháp và phương hướng phát triển trong tương lai
5.1.4 Quan điểm phát triển bền vững
Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên là nguồn lực quan trọng có tác động trực tiếp đến sự phát triển của các ngành kinh tế Mặt khác, hoạt động phát triển kinh tế đã tác động và làm thay đổi môi trường tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên Hoạt động nông nghiệp chịu ảnh hưởng nhiều của các nhân tố tự nhiên, đồng thời trong quá trình sản xuất cũng tác động mạnh đến môi trường tự nhiên Vì vậy, cần có giải pháp hiệu quả để khai thác hợp lí tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường sinh thái
TCLTNN tỉnh Bắc Giang phải thỏa mãn các yêu cầu về khả năng tài nguyên
và nhu cầu thị trường, đảm bảo lợi ích của cộng đồng và đạt được hiệu quả kinh tế -
xã hội cao Vì vậy, khi tiến hành TCLTNN phải xem xét đến các nguyên tắc phân
bố sản xuất, đặc điểm và điều kiện phân bố của từng ngành, từng lĩnh vực Mặt khác, TCLTNN nhất thiết phải tính đến nhu cầu thị trường, đó là sự thỏa mãn yếu tố khả năng và đáp ứng nhu cầu nhằm đem lại lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường của tổng thể Thước đo của TCLT kinh tế là lợi ích hiệu quả kinh tế - xã hội cao và đối với TCLTNN cũng vậy
5.2 Các phương pháp nghiên cứu
5.2.1 Phương pháp thu thập và xử lí tài liệu
Trên cơ sở phân tích, xử lí các số liệu cần thiết có liên quan đến nội dung nghiên cứu thu được từ các nguồn khác nhau Việc phân tích, đánh giá, tổng hợp các thông tin thu được từ các nguồn khác nhau Việc phân tích, đánh giá, tổng hợp các thông tin thu được nhằm đưa ra các kết quả chính thức theo mục tiêu và nhiệm
vụ nghiên cứu đề tài
Đề tài đã vận dụng phương pháp này khá nhiều trong phần nội dung chính: phân tích nhân tố ảnh hưởng và thực trạng phát triển các hình thức TCLTNN tỉnh Bắc Giang Trên cơ sở thu thập được những số liệu đáng tin cậy, xử lý các số liệu cần thiết có liên quan đến nội dung nghiên cứu Từ đó, đưa ra các đánh giá, phân tích chính xác, sát với thực tế hơn
5.2.2 Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp
Trong quá trình thu thập và xử lí tài liệu thì rất cần thiết phải sử dụng phương pháp phân tích, so sánh và tổng hợp Nhờ có phương pháp này mà ta có thể tìm thấy bản chất các sự sự vật, hiện tượng được phản ánh Đây là phương pháp có
Trang 13tính khoa học cao, áp dụng thiết thực vào qúa trình nghiên cứu địa lí học, vì trong địa lí học, các yếu tố tự nhiên và kinh tế - xã hội của một địa phương cụ thể nếu không áp dụng phương pháp này thì sẽ không tìm thấy sự khác biệt với các địa phương khác, bởi thế sẽ khó xác định là địa phương đó phát triển hay lạc hậu
5.2.3 Phương pháp thống kê
Các số liệu thống kê về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội nói chung, kinh tế nông nghiệp nói riêng của tỉnh là những thông tin dữ liệu đầu vào cho việc nghiên cứu đề tài Nguồn dữ liệu được thu thập bao gồm: thống kê qua các tài liệu báo cáo
và so sánh lưu trữ tại các cơ quan hữu quan, thống kê qua các số liệu khảo sát ngoài thực địa, thống kê qua đo đạc và tính toán trên bản đồ, thống kê qua các bảng tra với hệ thống dữ liệu đã định,… Thực tế cho thấy rằng đây là phương pháp không thể thiếu được, số liệu thu thập theo phương pháp này có tính đồng bộ cao và giảm bớt thời gian đi thực địa
5.2.4 Phương pháp bản đồ, biểu đồ
Bản đồ là mô hình thu nhỏ của các đối tượng địa lớ trờn thực địa, giúp cho việc thể hiện kết quả nghiên cứu cũng như sự phân bố các đối tượng địa lí một cách khoa học và trực quan nhất Ngoài ra, phương pháp bản đồ còn là phương pháp duy nhất thể hiện sự phân bố không gian của các phương án quy hoạch và tổ chức lãnh thổ kinh tế - xã hội Trong đề tài này, bằng những kiến thức đã học về bản đồ và ứng dụng công nghệ GIS, tác giả đã tiến hành biên tập bản đồ như bản đồ hành chính tỉnh, bản đồ phân bố cây trồng vật nuôi của tỉnh Bắc Giang Cùng với các bản
đồ, các biểu đồ được sử dụng để phản ánh quy mô, quá trình thay đổi của các hiện tượng địa lí kinh tế - xã hội theo thời gian hoặc theo không gian Biểu đồ làm cụ thể hóa các sự vật, hiện tượng, giúp cho việc thể hiện các kết quả nghiên cứu trở nên
trực quan và sinh động
6 Cấu trúc đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phần nội dung gồm 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về TCLTNN tỉnh Bắc Giang
Chương 2: Các nhân tố ảnh hưởng đến TCLTNN tỉnh Bắc Giang và thực trạng phát triển các hình thức tổ chức lãnh thổ nông nghiệp tỉnh Bắc Giang
-Chương 3: Định hướng và giải pháp cho TCLTNN tỉnh Bắc Giang đến năm
2015, tầm nhìn 2020
Trang 14CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TỔ CHỨC LÃNH THỔ
NÔNG NGHIỆP 1.1 Quan niệm tổ chức lãnh thổ nông nghiệp
để đạt hiệu quả cao về kinh tế, xã hội, môi trường
Theo quan điểm của các trường phái địa lý Phương Tây, tổ chức lãnh thổ được coi là sự lựa chọn của nghệ thuật sử dụng lãnh thổ một cách đúng đắn nhằm tìm kiếm một tỷ lệ, quan hệ hợp lý về phát triển kinh tế - xã hội giữa các ngành hoặc giữa các vùng trong cùng một quốc gia có xét đến mối liên hệ giữa các quốc gia để tạo ra các giá trị mới
Ở Việt Nam, trong tập bài giảng môn Tổ chức lãnh thổ kinh tế trong chương
2 của PGS.TS Nguyễn Minh Tuệ cho rằng :“Tổ chức lãnh thổ là sự sắp xếp các đối
tượng địa lý trên lãnh thổ nhất định theo yêu cầu phát triển kinh tế xã hội do chủ thể của phát triển vùng tổ chức Các hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế- xã hội theo các vùng lớn hoặc theo các vùng đặc biệt mà các lãnh thổ có đối tượng trọng điểm đầu tư.Tổ chức theo khu vực đặc biệt bao gồm các hình thức chủ yếu : vùng kinh tế trọng điểm, hành lang kinh tế, khu kinh tế phát triển, khu công nghiệp, đặc khu kinh
tế, tam giác tăng trưởng kinh tế”
Mặc dù, được định nghĩa khác nhau, nhưng về cơ bản, các tác giả đều cho thấy nội dung chung nhất của TCLTNN như sau:
- Về bản chất: sự sắp xếp, bố trí hợp các đối tượng trên lãnh thổ nhất định
- Về mục đích: nhằm sử dụng hợp lý các nguồn lực để đạt hiệu quả cao về kinh tế, xã hội, môi trường
1.1.2 Quan niệm về tổ chức lãnh thổ nông nghiệp
Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp là một trong những hình thức tổ chức sản xuất
xã hội theo lãnh thổ, với tư cách là việc tổ chức ngành sản xuất vật chất, ngành kinh
tế then chốt đang được quan tâm nhằm góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế của nền sản xuất xã hội Vấn đề này đã được các nhà khoa học quan tâm chú ý, có nhiều công trình nghiên cứu ra đời, trong đó phải kể đến sự cống hiến to lớn của các
Trang 15chuyên gia địa lý Xô Viết như giáo sư tiến sỹ K.I.I Varov, V.G.Kriustkov, A.N.Rakinikov…với các công trình về tổ chức lãnh thổ
Qua các công trình của K.I.I.Varov, V.G.Kriustkov và một số tác giả khác có
thể quan niệm về vấn đề này như sau:“Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp được hiểu là
hệ thống liên kết không gian của các ngành, các xí nghiệp nông nghiệp và các lãnh thổ dựa trên cơ sở các quy định kỹ thuật mới nhất, chuyên môn hóa, tập trung hóa, liên hợp hóa và hợp tác hóa sản xuất cho phép sử dụng có hiệu quả nhất sự khác nhau theo lãnh thổ về các điều kiện tự nhiên, kinh tế, nguồn lao động và đảm bảo năng suất cao nhất”
1.1.3 Đặc điểm tiêu biểu của tổ chức lãnh thổ nông nghiệp
- Phân công lao động theo lãnh thổ cùng với sự kết hợp giữa tự nhiên, kinh
tế, nguồn lao động là cơ sở để hình thành mối quan hệ qua lại theo không gian
- Khía cạnh ngành và khía cạnh lãnh thổ quyện chặt với nhau trong việc tổ chức lãnh thổ nông nghiệp bởi vì trong tổ chức nông nghiệp ngành và lãnh thổ có mối quan hệ mật thiết với nhau
- Cần phải đi từ ngành đến các kết hợp sản xuất lãnh thổ, vì nếu thiếu những tri thức về đặc trưng của ngành thì không thể hiểu đúng đắn sự kết hợp không gian của chúng ở bất cứ hình thức nào
- Các đặc điểm không gian của sản xuất phần nhiều bắt nguồn từ tính chất của việc khai thác và sử dụng các điều kiện sản xuất hiện có
- Hiệu quả kinh tế là tiêu chuẩn hàng đầu trong TLTNN Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp không phải là bất biến Trong điều kiện hiện nay, TCLTNN gắn liền với khoa học công nghệ và quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
1.1.4 Vai trò của tổ chức lãnh thổ nông nghiệp
- TCLTNN tạo ra tiền đề cần thiết nhằm sử dụng hợp lí các nguồn lực tự
nhiên và kinh tế- xã hội của các nước cũng như từng vùng, từng địa phương
- TCLTNN tạo ra những điều kiện đẩy mạnh và chuyên môn hóa sản xuất nông nghiệp Khi chuyên môn hóa phát triển đến một mức độ nhất định tất yếu sẽ dẫn đến quá trình hợp tác hóa, liên hợp hóa trong phạm vi vùng, quốc gia, quốc tế
- Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp là một bộ phận của tổ chức lãnh thổ nền sản xuất xã hội nên nó thường thực hiện những nhiệm vụ: Sử dụng hợp lý và hiệu quả các nguồn lực của lãnh thổ Giải quyết các vấn đề xã hội có liên quan nhất là vấn đề việc làm cho người lao động Giảm thiểu sự chênh lệch về trình độ phát triển các địa phương trong vùng và giữa các vùng trong phạm vi cả nước Bảo vệ và tôn tạo tài nguyên, môi trường đảm bảo sự phát triển bền vững
Trang 161.2.2 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên
Nông nghiệp có những đặc điểm đặc thù khác hẳn với các ngành sản xuất khác ngành sản xuất phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên Các nhân tố có ảnh hưởng lớn đến ngành nông nghiệp là đất đai, khí hậu và nguồn nước Đất đai, khí hậu, nguồn nước với tư cách là tài nguyên nông nghiệp sẽ quyết định khả năng nuôi trồng các loại cây con cụ thể trong từng lãnh thổ Nó sẽ là
cơ sở cho việc hình thành trang trại và vùng chuyên canh hợp lý
1.2.2.1 Địa hình:
Địa hình là nhân tố ảnh hưởng nhất định đến TCLTNN Mỗi một vùng, lãnh thổ quốc gia điều có những đặc điểm địa hình khác nhau, tạo nên những nét văn hóa riêng biệt Từ những đặc điểm ấy nó sẽ ảnh hưởng đến việc quy hoạch, tổ chức các hình thức hay loại hình TCLTNN riêng, tùy vào độ rộng hẹp, cao, thấp của địa hình
mà có thể bố trí các hình thức TCLTNN phù hợp để mang lại hiệu quả kinh tế cao Nếu địa hình bằng phẳng, diện tích đồng bằng rộng lớn sẽ là cơ sở thuận lợi để hình thành các vùng chuyên canh, hay trang trại có quy mô lớn Còn nếu diện tích đồi núi chiếm tỉ lệ cao, sự chia cắt mạnh mẽ thì tùy thuộc vào các điều kiện khác để hình thành trang trại quy mô nhỏ, hộ gia đình, hợp tác xã và từ đó có thể hình thành nên các tiểu vùng nông nghiệp
1.2.2.2 Đất đai
Như chúng ta đã biết, đất đai là tư liệu sản xuất quan trọng nhất trong nông nghiệp, là nơi diễn ra các hoạt động sản xuất nông nghiệp, là nguồn lực không thể thay thế được Tuy nhiên, vấn đề đặt ra đối với TCLTNN là nguồn lực cần được sử dụng như thế nào để mang lại hiệu quả kinh tế cao Trên một lãnh thổ cụ thể đất đai kết hợp với đặc điểm khí hậu sẽ quy định sự có mặt của các loại cây trồng, vật nuôi
Đó sẽ là cơ sở để hình thành các vùng chuyên canh, góp phần tạo ra những sản phẩm chuyên môn hóa sản phẩm đặc trưng của vùng, lãnh thổ đó Như vậy, đất đai
là nhân tố có ảnh hưởng mạnh mẽ đến các hình thức tổ chức lãnh thổ
Trang 171.2.2.3 Khí hậu:
Khí hậu cùng với yếu tố nhiệt độ, lượng mưa, ánh sáng, độ ẩm, gió, bão, lũ lụt…có ảnh hưởng rất lớn đến việc xác định cơ cấu cây trồng, thời vụ, khả năng xen canh tăng vụ, từ đó ảnh hưởng tới việc hình thành các hình thức TCLTNN Mỗi loại cây trồng, vật nuôi thích ứng với các điều kiện thời tiết, khí hậu khác nhau Nếu biết cách trồng hợp lí thì sẽ tạo ra sự phát triển, ít rủi do, ngược lại có những thiệt hại đáng kể và điều đó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sự hoạt động bình thường hay khó khăn của các loại hình TCLTNN
1.2.2.4 Nguồn nước:
Trong quá trình sản xuất nông nghiệp, nguồn nước có vai trò quan trọng hàng đầu (đặc biệt là nước ngọt), do vậy cha ông ta thường có câu “nhất nước nhì phân” Nước là yếu tố ảnh hưởng lớn đến năng suất nông nghiệp Tuy nhiên, việc thiếu hay thừa nước cũng đều ảnh hưởng đến sự hoạt động của các ngành nông nghiệp, từ đó ảnh hưởng đến việc TCLTNN Một lãnh thổ chỉ có thể tổ chức nông nghiệp hiệu quả khi nó hội tụ đầy đủ các điều kiện thuận lợi, đặc biệt là nguồn nước Ngược lại nó sẽ kìm hãm sự phát triển nông nghiệp của một lãnh thổ đó khi nguồn nước gặp khó khăn Tùy thuộc vào đặc tính của từng loại cây trồng cần nhiều hay ít nước để ta có thể phân vùng, tạo thành các vùng chuyên canh, trang trại quy mô lớn nhỏ một cách phù hợp để có thể tận dụng hết được lợi thế về nguồn nước đem lại
1.2.2.5 Sinh vật:
Đối tượng sản xuất của nông nghiệp nói chung, của TCLTNN nói riêng là các cây trồng, vật nuôi Với bất kể một hình thức tổ chức lãnh thổ nào, từ nhỏ đến lớn như kinh tế hồ, trang trại, nông, lâm trường…đều phải có hệ thống cây cối, con Do vậy, tập đoàn cây trồng vật nuôi góp phần làm phong phú, đa dạng hóa các loại hình TCLTNN của một vùng lãnh thổ nhất định
Tuy nhiên trên một lãnh thổ cụ thể cùng với các điều kiện của nó sẽ góp phần quy định vào việc trồng cây gì, nuôi con gì để mang lại hiệu quả kinh tế cao, ngược lại nếu sự tác động đó là không phù hợp thì việc phát triển, quy hoạch sẽ gặp nhiều khó khăn từ đó lãnh thổ sẽ gặp phải những trở ngại trong việc tổ chức ngành nông nghiệp Đây là yếu tố phải chú ý khi tiến hành tổ chức lãnh thổ
1.2.3 Nhân tố kinh tế- xã hội
1.2.3.1 Dân cư và nguồn lao động:
Dưới khía cạnh của TCLTNN mà nói, dân cư và nguồn lao động là nhân tố ảnh hưởng rất lớn Dân cư nguồn lao động thường được nhìn nhận dưới góc độ là sản xuất và tiêu dùng
Trang 18Về mặt sản xuất: đây là lực lượng sản xuất chủ yếu trong nông nghiệp xét cả
về mặt chất lượng lẫn số lượng Nơi nào có nguồn lao động dồi dào thì sẽ thận lợi cho phân bố, phát triển các loại cây trồng cần nhiều công chăn súc Cũn với những loại cây trồng, vật nuôi cần ớt cụng chăm sóc thường phân bố ở những nơi thưa dân Nguồn lao động đông, có chất lượng tức là có trình độ khoa học kĩ thuật sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sự ra đời và phát triển của các hình thức TCLTNN Ngược lại nó
sẽ hạn chế sự phát triển đó
Về mặt tiêu dùng: dân cư và nguồn lao động ngoài vai trò là người sản xuất thì đồng thời cũng là người tiêu thụ các sản phẩm nông nghiệp, vì thế thị trường tiêu thụ gắn với số dân có thể coi là một nguồn lực quan trọng Tập quán tiêu dùng của dân cư có thể thay đổi, từ đó sẽ dẫn đến sự mở rộng hay thu hẹp không gian của tổ chức lãnh thổ nông nghiệp
1.2.3.2 Cơ sở hạ tầng, vật chất phục vụ nông nghiệp:
Hệ thống cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kĩ thuật có vai trò nhất định đối với việc TCLTNN Nó là tiền đề thuận lợi hay cản trở sự phát triển nông nghiệp nói chung hay TCLTNN nói riêng
Hệ thồng cơ sở hạ tầng (gồm giao thông vận tải, thông tin liên lạc, cung cấp điện nước) và cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ hoạt động sản xuất nông nghiệp (công trình thủy lợi, trạm giống, các cơ sở bảo vệ thực vật…) có vai trò ngày càng quan trọng trong TCLTNN Sự tập trung cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kĩ thuật trên một lãnh thổ và góp phần làm cho bộ mặt TCLTNN có nhiều đổi mới
1.2.3.3 Khoa học công nghệ:
Tiến bộ khoa học trong nông nghiệp phải kể đến những khía cạnh như cơ giới hóa, hóa học hóa, thủy lợi hóa, điện khí hóa, cuộc cách mạng xanh, công nghệ sinh học…tất cả những tiến bộ khoa học kĩ thuật đó sẽ làm nâng cao năng suất, sản lượng cây trồng, vật nuôi, từ đó tác động trực tiếp đến TCLTNN
Muốn TCLTNN tốt, mang lại hiệu quả cao thì rất cần thiết phải áp dụng sự tiến bộ của hệ thống khoa học hiện đại, nếu không trong sự phát triển sẽ bị tụt hậu, khả năng tiếp cận thị trường sẽ ngày càng yếu kém
1.2.3.4 Thị trường:
Thị trường ở đây phải xét đến cả thị trường trong nước và quốc tế Thị trường có tác động rất lớn đến quá trình sản xuất, hướng chuyên môn hóa và chi phối trực tiếp đến TCLTNN Sự phát triển của bất kì một quốc gia nào cũng đều nhằm thỏa mãn nhu cầu trong nước với thị trường thế giới Do vậy, thị trường là nhân tố có tác động rất lớn đến TCLTNN
Trang 191.2.3.6 Vốn đầu tư
Trong khi tiến hành TCLTNN, nguồn vốn là yếu tố không thể thiếu được Nguồn vốn góp phần thúc đẩy sản xuất, tăng năng suất, tăng chất lượng của sản phẩm nông nghiệp, làm cho khả năng tiết kiệm thị trường sẽ có thuận lợi hơn Tuy nhiên nếu thiếu vốn thì quá trình sản xuất sẽ gặp nhiều trở ngại, từ đó việc TCLTNN sẽ gặp nhiều khó khăn
1.2.3.5.Đường lối chính sách:
Các chính sách kinh tế có ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông nghiệp, chính sách là công cụ đắc lực để nhà nước can thiệp vào sản xuất, khuyến khích hoặc hạn chế sản xuất nông nghiệp
1.3 Các hình thức tổ chức lãnh thổ nông nghiệp
Các hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp rất đa dạng, tùy theo tình hình
cụ thể của mỗi quốc gia Trong quá trình nông nghiệp ngày càng trở thành ngành sản xuất hàng hóa, đi sâu vào thâm canh, chuyên môn hóa nông nghiệp kết hợp với công nghiệp, thì các hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp vốn có cũng có những thay đổi sâu sắc Một số hình thức tổ chức lãnh thổ nông nghiệp tiêu biểu như Hộ gia đình, Hợp tác xã, Trang trại, doanh nghiệp nông nghiệp, khu nông nghiệp công nghệ cao, vùng chuyên canh, vành đai nông nghiệp ngoại thành, vùng nông nghiệp sinh thái
1.3.1 Hộ gia đình
Khái niệm: Hộ là một đơn vị kinh tế- xã hội tự chủ cùng một lúc thực hiện
nhiều chức năng mà ở các đơn vị kinh tế khác không thể có được Hộ là một tế bào của xã hội với sự thống nhất của các thành viên có cùng huyết thống, mà mỗi thành viên đều có nghĩa vụ và trách nhiệm làm tăng thu nhập, đảm bảo sự tồn tại
Đặc điểm cơ bản của hộ gia đình
- Về mục đích sản xuất: chủ yếu nhằm thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng của gia đình, ít có quan hệ với thị trường
- Về quy mô đất đai: nhỏ bé, thể hiện tính chất tiểu nông (bình quân diện tích đất canh tác 2-3 ha/1 hộ) Ở Ấn Độ bình quân diện tích đất canh tác <2ha/hộ, Philippin < 3ha/hộ, Việt Nam từ 0,5ha/hộ (miền Bắc), 0,6-1 ha/hộ ở đồng bằng sông Cửu Long Ở nước ta, hộ gia đình không có quyền sở hữu ruộng đất mà chỉ có quyền sử dụng
- Về vốn: đại bộ phận ít vốn, quy mô thu thập nhỏ, khả năng tích lũy thấp làm hạn chế khả năng đầu tư tái sản xuất Vật tư được mua phục vụ cho sản xuất từ tiền bán nông phẩm
Trang 20- Về kỹ thuật canh tác, công cụ sản xuất: lạc hậu, thô sơ, tính truyền thống
- Về lao động: chủ yếu sử dụng lạo động gia đình, tự cung tự cấp thỏa mãn nhu cầu trong gia đình
-Về mức độ phát triển có thể trải qua các hình thức sau:
+ Nhóm kinh tế hộ sinh tồn: là dạng rất thấp của kinh tế hộ Sản xuất một vài nông sản chủ yếu để duy trì sự sống của gia đình, ít vốn, công cụ sản xuất thô sơ, phụ thuộc nhiều vào tự nhiên, năng suất lao động thấp Hiện nay, nhóm này còn tồn tại ở một số ít dân tộc ít người thuộc các vùng xa xôi hẻo lánh
+Nhóm kinh tế hộ tự cung, tự cấp: với nền nông nghiệp sản xuất nhỏ, lạc hậu, phân tán Sản xuất chủ yếu để cung cấp lương thực, thực phẩm và một số nông sản cần thiết khác đáp ứng yêu cầu tiêu dùng cho gia đình
+Nhóm hộ sản xuất hàng hóa nhỏ: trong quá trình sản xuất, một bộ phận nông dân làm ăn khá giả, ngoài phần tiêu dùng cho gia đình, còn dư ra một ít sản phẩm, hộ đã đưa ra thị trường Khi cung đã vượt cầu, họ đem những sản phẩm thừa trao đổi trên thị trường và trở thành những hộ sản xuất hàng hóa nhỏ
+Hộ sản xuất hàng hóa lớn: động lực phát triển của nhóm hộ này là tối ưu hóa lợi nhuận, hướng sản xuất tới trao đổi sản phẩm trên thị trường Phần lớn các trang trại gia đình đều trưởng thành từ những hộ sản xuất hàng hóa lớn
Vai trò của hộ gia đình
- Hộ gia đình trong nông nghiệp được gọi là hộ nông dân, phát triển với những hình thức và mức độ khác nhau, có vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản Hộ nông-lâm-thủy sản là đơn vị sản xuất quan trọng nhất trong lĩnh vực nông-lâm-thủy sản trên các phương diện sử dụng đất, lao động, hàng hóa sản xuất…
- Giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập
- Là cơ sở của kinh tế tập thể, thúc đẩy nông thôn quá độ lên nông thôn sản xuất hàng hóa- tiền đề CNH, HĐH nông thôn
- Phù hợp với thực trạng nước nhà, phát huy được khả năng của nền kinh tế
1.3.2.Trang trại
Khái niệm: Trang trại là hình thức TCLT và tổ chức sản xuất cơ bản của
nông-lâm-thủy sản trong quá trình công nghiệp hóa nông nghiệp, có mục đích chủ yếu là sản xuất hàng hóa, tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hay sử dụng của chủ thể độc lập, quy mô ruộng đất tương đối lớn, cách thức tổ chức quản lí tiến bộ và trình độ kĩ thuật cao, hoạt động tự chủ và gắn với thị trường
Trang 21Phân loại trang trại: có hai loại trang trại
-Trang trại gia đình : là loại trang trại phổ biến nhất ở tất cả các quốc gia, là những cơ sở lấy hộ gia đình làm đơn vị sản xuất kinh doanh, sử dụng lao động trong gia đình là chủ yếu và có thể thuê thêm lao động bên ngoài nhưng không nhiều và chủ yếu là sản xuất nông sản hàng hóa Trang trại gia đình được phân loại dựa vào hình thức tổ chức, quản lý, cơ cấu sản xuất, quy mô sản xuất, tư liệu sản xuất…
-Trang trại tư bản chủ nghĩa : là những cơ sở, doanh nghiệp nông nghiệp sản xuất nông sản hàng hóa theo phương thức sản xuất TBCN hoàn toàn sử dụng lao động làm thuê
Đặc điểm của trang trại
-Kinh tế trang trại là loại hình sản xuất nông nghiệp được hình thành và phát triển trong thời kỳ công nghiệp hóa, để sản xuất nông sản phục vụ công nghiệp hóa, thay thế cho kinh tế tiểu nông sản xuất tự túc.Mục đích của kinh tế trang trại là sản xuất nông sản hàng hóa theo nhu cầu thị trường, quy mô sản xuất tương đối lớn
- Quy luật phát triển kinh tế trang trại ở các nước trên thế giới là thời gian bắt đầu công nghiệp hóa số lượng trang trại tăng, quy mô nhỏ, đến kỳ công nghiệp hóa phát triển ở mức độ cao thì số lượng trang trại giảm đi và quy mô trang trại tăng lên
- Kinh tế trang trại lấy sản xuất nông sản hàng hóa là chính xuất phát từ yêu cầu thị trường mà lựa chọn loại nông sản hàng hóa để sản xuất Nhìn chung tỷ suất nông sản hàng hóa ở các trang trại thường chiếm từ 60-100%
-Các trang trại nông nghiệp có quy mô khác nhau giữa các nước cũng như trong từng nước và tồn tại lâu dài cả 3 loại trang trại mặc dù có sự biến động hàng năm Thông thường các trang trại quy mô lớn sản xuất nhiều nông sản hàng hóa, giá thành hạ, lợi nhuận nhiều Còn các trang trại nhỏ, sản xuất ít nông sản hàng hóa, chí phí sản xuất cao, lợi nhuận thấp Ví dụ: Quy mô của một trang trại Châu Á là gần 1ha, Tây Âu là 20-30ha, Mỹ là 150-180ha
-Tư liệu sản xuất: Trong kinh tế trang trại có trường hợp quyền sở hữu và quyền sử dụng tư liệu sản xuất thống nhất với nhau, có trường hợp quyền sở hữu tách khỏi quyền sử dụng tư liệu sản xuất
- Về lao động: phần lớn các trang trại có quy mô từ 1-2 ha đến hàng trăm ha ruộng đất, trong đó các chủ trang trại đều là lao động chính (vừa quản lý vừa trực tiếp sản xuất), chỉ thuê lao động thường xuyên hay thời vụ khi cần thiết
- Trang trại gia đình không sản xuất kinh doanh đơn độc mà thường kết hợp với các hợp tác xã dịch vụ kinh tế- kỹ thuật và các doanh nghiệp nông nghiệp quốc doanh để tạo điều kiện thuận lợi cho đầu vào và đầu ra trong sản xuất kinh doanh
Trang 221.3.3.Hợp tác xã
Khái niệm: HTX là tổ chức tự chủ do những người lao động có nhu cầu, lợi
ích chung tự nguyện cùng góp vốn, sức lao động lập ra theo quy định của pháp luật
để phát huy sức mạnh của tập thể và của từng xã viên, nhằm giúp đỡ nhau thực hiện
có hiệu quả hơn sản xuất kinh doanh và cải thiện đời sống, góp phần phát triển
KT-XH đất nước
Đặc điểm cơ bản :
-Một là, HTX là tổ chức liên kết kinh tế tự nguyện của những nông hộ, nông trại có chung yêu cầu về những dịch vụ cho sản xuất, kinh doanh với đời sống của mình mà bản thân từng nông hộ không làm được hoặc làm nhưng kém hiệu quả
-Hai là, cơ sở thành lập của HTX là dựa vào việc cùng góp vốn của các thành viên và mỗi xã viên và mỗi xã viên đều có quyền bình đằng theo nguyên tắc mỗi người một phiếu bầu không phân biệt lượng vốn góp ít hay nhiều
-Ba là, mục đích kinh doanh của HTX là nhằm trước hết dịch vụ cho xã viên, đáp ứng đủ và kịp thời số lượng, chất lượng của dịch vụ, đồng thời cũng tuân theo nguyên tắc bảo toàn và tái sản xuất mở rộng vốn bằng cách thực hiện mức giá và lãi suất nội bộ thấp hơn giá trị thị trường
-Bốn là, HTX thành lập và hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, dân chủ và cùng có lợi
-Năm là, HTX là một tổ chức liên kết kinh tế chỉ liên kết những xã viên thực
sự có nhu cầu, có mong muốn không lệ thuộc vào nơi ở và cũng chỉ liên kết ở những dịch vụ cần thiết và đủ khả năng quan lý kinh doanh
-Sáu là, nông hộ trang trại xã viên vừa là đơn vị kinh tế tự chủ trong HTX, vừa là đơn vị kinh tế cơ sở hoạt động kinh doanh và hoạch toán độc lập Do vậy, quan hệ giữa HTX và xã viên vừa là quan hệ liên kế, giúp đỡ nội bộ vừa là quan hệ giữa hai đơn vị kinh doanh có tư cách pháp nhân độc lập
-Bảy là, từ những đặc trưng trên có thể rút ra đặc trưng bản chất của HTX là
tổ chức kinh tế liên kết cơ sở của các nông hộ và nông trại, mang tính chất vừa tương tự giúp đỡ, vừa kinh doanh
1.3.4.Doanh nghiệp nông nghiệp
Khái niệm: DNNN là một hình thức tổ chức kinh tế cơ sở, tức là một đơn vị
hoạt động kinh doanh và phân phối của nền sản xuất xã hội, dựa trên cơ sở hợp tác
và phân công lao động xã hội, gồm một số người lao động, được đầu tư vốn, trang
bị tư liệu sản xuất để tiến hành hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực phù hợp với yêu cầu của thị trường, được Nhà nước quản lý và bảo vệ theo luật định
Trang 23Đặc điểm của doanh nghiệp nông nghiệp: tuy là một đơn vị tiến hành hoạt
động sản xuất, kinh doanh trên thị trường nhằm mục đích thu lợi nhuận, nhưng DNNN có những điểm khác biệt so với DN công nghiệp và DN dịch vụ Cụ thể là:
-Ruộng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu của DNNN: Nếu các DN thuộc các ngành công nghiệp và dịch vụ muốn tiến hành sản xuất chỉ cần một diện tích đất không nhiều để có mặt bằng hoạt động, thì DNNN phải cần một diện tích tương đối lớn để sản xuất, nguồn đất được đưa vào sản xuất chủ yếu là đất mặt, nước mặt…
-Điều kiện tự nhiên với ý nghĩa là nguồn lực “đầu vào” là yếu tố tạo sức cạnh tranh của DNNN trên thị trường Đồng thời, nó cũng làm cho cơ cấu sản xuất các hàng nông sản là rất khác nhau giữa các vùng sinh thái và các địa phương
-Đặc điểm của quá trình sản xuất trong nông nghiệp: Sản xuất nông nghiệp chịu phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên và thời gian để có sản phẩm nông nghiệp thường phải kéo dài, đặc điểm này chi phối quá trình sản xuất kinh doanh của DNNN
-Đặc điểm thị trường của doanh nghiệp nông nghiệp: Sản xuất thường phải gắn với thị trường, vì thị trường vừa là điều kiện vừa là môi trường của sản xuất kinh doanh Thị trường của DNNN không chỉ là những thị trường “đầu vào”, mà còn có cả thị trường “đầu ra” Đầu vào của thị trường này, ngoài nguồn lực, DNNN còn phải cần đến thị trường các yếu tố sản xuất khác như vốn, công nghệ và đặc biệt
là thuê đất phù hợp với đối tượng sản xuất của mình Đầu ra của DNNN là những nông sản
Vai trò của doanh nghiệp nông nghiệp trong phát triển KT-XH
-Thứ nhất, đây là hình thức tổ chức sản xuất mang tính chất chuyên môn hóa trong nông nghiệp Một DN chỉ có thể sản xuất một hoặc một số loại cây, con nhất định thích ứng với điều kiện tự nhiên nơi tổ chức sản xuất để cung ứng sản phẩm ra thị trường Do chuyên môn hóa sản xuất nên DNNN tạo điều kiện để tập trung các nguồn lực vào sản xuất một loại sản phẩm có hiệu quả hơn so với sản xuất nhỏ lẻ
-Thứ hai, do chuyên môn hóa sản xuất với quy mô tương đối lớn, nên DNNN
có điều kiện tiếp cận và áp dụng công nghệ sản xuất mới, các giống cây, con mới
Nó không chỉ cho năng suất cao mà còn thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng phát huy lợi thế của vùng
-Thứ ba, DNNN đóng vai trò là động lực phát triển kinh tế hàng hóa nông nghiệp DNNN là những đơn vị chuyên môn hóa và cung ứng hàng hóa theo nhu cầu thị trường Do chuyên môn hóa sản xuất và có năng suất lao động cao hơn so với kinh tế hộ, hoạt động của DNNN sẽ đưa lại hiệu quả kinh tế cao hơn Nhờ đó,
Trang 24Như vậy, sự phát triển của DNNN đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội ở nông thôn Nhận thức vai trò này, Nghị quyết Đại hội X của Đảng nhấn mạnh: “Phát triển mạnh các loại hình doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp vừa
và nhỏ; phát triển bền vững các làng nghề” Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 5 tháng 8 năm 2008 Hôị nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương khóa X của Đảng về nông nghiệp, nông dân, nông thôn
1.4 Thực tế các hình thức tổ chức lãnh thổ nông nghiệp
1.4.1 Một số mô hình tổ chức lãnh thổ nông nghiệp trên Thế giới
Một số trang trại trên Thế giới: Kinh tế trang trại đóng góp quan trọng trong
nền kinh tế của các quốc gia Ở Pháp, với 98000 trang trại đã sản xuất khối lượng nông sản gấp đôi so với nhu cầu trong nước Ở Hà Lan, với 1500 trang trại chuyên trồng hoa hăng năm sản xuất 7 tỷ bông hoa và 600 triệu chậu hoa, trong đó có 70% dành cho xuất khẩu Ở Nhật Bản, với 4 triệu lao động ở trang trại (3,7% dân số) đảm bảo lương thực thực phẩm cho 125 triệu người Ở Malaysia, các trang trại sản xuất 4 triệu tấn cọ dầu (75% sản lượng quốc gia)
Mô hình kinh tế trang trại ở Hoa Kỳ_mô hình công nghiệp hóa, hiện đại hóa : Các trang trại ở Mỹ đi vào sản xuất chuyên môn hóa 20 chuyên ngành phân bố
trên 10 vùng sản xuất khác nhau như vành đai ngô, vành đai sữa…nhằm tạo ra ưu thế cạnh tranh về chất lượng nông sản và giá thành Các trang trại không hoạt động đơn độc mà nằm trong hệ thống kinh tế liên ngành mang tên AGRIBUSINESS AGRIBUSINESS bao gồm các ngành công nghiệp sản xuất vật tư thiết bị kỹ thuật nông nghiệp, mạng lưới các trang trại nông nghiệp và các ngành chế biến nông sản, dịch vụ lưu thông tiêu thụ nông sản trong nước và xuất khẩu
Băng chuyền sản xuất- lãnh thổ ở Hoa Kỳ: hệ thống băng chuyền địa lý có 2
khâu về sản xuất thịt (sinh sản, nuôi dưỡng, chăm sóc gia súc non) hình thành tự phát dưới sự ảnh hưởng khác biệt lãnh thỗ về điêù kiện tự nhiên, kinh tế đặc điểm lịch sử của việc di dân vào thế kỷ XIX Những nơi sản xuất thịt bò(70% sản lượng)
là các bang phía Tây sông Mixixipi, còn những nơi tiêu thụ (70% số thịt tiêu thụ) là các bang phía Đông Mixixipi Dòng gia súc lấy thịt luôn từ bang phía Tây chuyển
về các bang phía Đông
Trang 25Bảng 1: Số lƣợng hộ nông lâm thủy sản giai đoạn 2006-2011
(Nguồn: Niêm giám thống kê Nông nghiệp năm 2011)
Tại thời điểm 1/7/2011, cả nước có 10,37 triệu hộ NLTS, trong đó hộ NLTS
ở nông thôn chiếm 92,0% so với tổng số hộ nông thôn thì hộ NLTS chiếm 62,2%
So với năm 2006, biến động về hộ NLTS chung cả nước cũng như riêng hộ NLTS ở nông thôn không nhiều, giảm 94,2 nghìn hộ NLTS chung và 248,1 nghìn hộ NLTS
93.0%
6.5% 0.5%
Trang 26Nhìn vào biểu đồ ta có thể thấy, hộ nông nghiệp chiếm đại đa số, so với năm
2006 thì năm 2011 có giảm nhưng chậm Hộ thủy sản chiếm tỉ trọng thấp, có tăng nhưng không đáng kể (trong 5 năm tăng 0,3%) Hộ lâm nghiệp có rất ít và cũng tăng không nhiều (từ 0,3% lên 0,5%)
Biểu đồ 2: Cơ cấu hộ NLTS nông thôn phân theo vùng giai đoạn 2006-2011
Đơn vị: %
(Nguồn: Niêm giám thống kê Nông nghiệp năm 2011)
Nhìn vào biểu đồ ta có thể thấy, trong 3 vùng có tỉ trọng hộ NLTS lớn nhất (ĐBSH, BTB & DHMT, ĐBSCL), trong giai đoạn 20006-2011 chỉ có 1 vùng ĐBSH tỉ trọng giảm nhẹ (-2,6%), vùng BTB &DHMT giữ nguyên, còn vùng ĐBSCL tăng nhẹ (+0,3%) Vùng TDMNPB có tỉ trọng thuộc nhóm giữa, nhưng trọng giai đoạn 2006-2011 tăng (+1,3%) Vùng Tây Nguyên và ĐNB có tỉ trọng thấp nhất
1.4.2.2 Trang trại
Ở Việt Nam, trang trại mới phát triển ở đầu thập kỉ 90 của thế kỉ XX, song
đã tạo ra những chuyển biến mới trong nông nghiệp, nông thôn, tạo điều kiện để nông nghiệp nước ta chuyển nhanh sang sản xuất hàng hóa
1/ Tiêu chí định lượng để xác định là kinh tế trang trại:
Chính phủ đã có nghị quyết 03/2000/NQ-CP ngày 02/02/2000 về kinh tế trang trại và Thông tư số 27/2011/TT-BNNPTNT về quy định tiêu chí và thủ tục cấp giấy chứng nhận trang trại Thi hành Nghị quyết của Chính phủ, Liên Bộ Nông nghiệp và PTNT và Tổng cục Thống kê về quy định hướng dẫn tiêu chí kinh tế trang trại như sau:
Trang 27Bảng 2 : Thống kê tiêu chí định lƣợng để xác định trang trại
BNNPTNT Giá trị Tỉnh phía Bắc
27/2011/TT-và Duyên hải miền trung
Tỉnh phía Nam và Tây Nguyên
Gía trị sản lượng hàng hóa đạt gần
700 triệu đồng/năm
- 3,1 ha đối với vùng Đông Nam Bộ và Đồng bằng Sông Cửu Long;
- 2,1 ha đối với các tỉnh còn lại
Cây lâu năm
>3ha
Cây lâu năm >5ha
Trang trại lâm nghiệp>10ha
Trang trại lâm nghiệp >10ha
Trang
trại chăn
nuôi
-Chăn nuôi đại gia súc: trâu, bò…
+Chăn nuôi sinh sản, lấy sữa có thường xuyên
>10 con
+Chăn nuôi lấy thịt có thường xuyên > 50 con
-Chăn nuôi gia súc: lợn, dê,
+Chăn nuôi sinh sản có thường xuyên đối với
> 20 con, đối với dê, cừu>100 con
Chăn nuôi lợn thịt có thường xuyên >100 con (không kể lợn sữa), dê thịt >200 con
-Chăn nuôi gia cầm: gà, vịt, ngan, ngỗng, có thường xuyên>2.000 con
Trang
trại nuôi
trổng
thủy sản
Diện tích nước mặt để nuôi trồng thủy sản
>2ha (riêng đối với nuôi tôm thịt theo kiểu công nghiệp >1ha)
2/ Quy mô
Trang trại phát triển nhanh trong thời gian gần đây Giai đoạn 2000-2010 số lượng trang trại tăng gấp 2,5 lần Theo Thông tư số 27/2011/TT-Bộ NN&PTNT ngày 13/4/2011 quy định tiêu chí mới về trang trại đã làm cho số lượng trang trại
Trang 28năm 2011 giảm mạnh, từ 146 nghìn trang trại xuống còn 20065 trang trại ( giảm 7,3 lần)
Biểu đồ 3: Số trang trại cả nước giai đoạn 2000-2011
(Nguồn: Niêm giám thống kê Nông nghiệp năm 2011)
Những vùng tập trung nhiều trang trại là ĐBSCL (chiếm 47,9% cả nước), tiếp theo đó là ĐBSH (chiếm 14,6% cả nước), ĐNB chiếm 10,9% cả nước Đây là các vùng có nhiều quỹ đất hay diện tích mặt nước để mở rộng quy mô sản xuất trồng trọt, chăn nuôi và NTTS Riêng có vùng ĐBSCL các trang trại chủ yếu là trồng lúa nước
Trang trại sử dụng quỹ đất tương đối lớn 154,9 nghìn ha diện tích đất và nước mặt NLST(chiếm 2,4% đất sản xuất nông nghiệp và NLTS cả nước Tạo công
ăn việc làm cho gần 95 nghìn lao động (chiếm 0,5% lao động đang làm việc trong NLTS) Trang trại tạo ra 39,1 nghìn tỉ đồng (chiếm 5,5% giá trị sản xuất NLTS cả nước Thu nhập bình quân 1 ha đất trồng trọt, giá trị sản phẩm thu được của 1 trang trại là 103,5 triệu đồng, gấp 1,9 lần so với giá trị sản phẩm/ 1 ha đất trồng chung của
cả nước Mức thu nhập cao nhất của 1 trang trại/1 ha đất trồng trọt ở vùng ĐBSH là 318,5 triệu đồng; TDMNPB là 185 triệu đồng; Tây Nguyên là 124 triệu đồng…
1.4.2.3 Hợp tác xã
Ở Việt Nam, vào năm 1958 các HTX nông nông nghiệp kiểu tập thể được thành lập, hoạt động dựa trên cơ sở sở hữu tập thể về tư liệu sản xuất (ruộng đất, trâu bò, các nông cụ chính) và sản xuất theo kiểu tập trung, bao cấp Kết quả lao động của người nông dân được trả theo công điểm Sau năm 1986, đặc biệt là từ tháng 2 – 1997, nước ta tiến hành chuyển đổi các HTX và xây dựng các HTX nông nghiệp kiểu mới, giao khoán đất 10 – 15 năm, các HTX giao quyền sử dụng đất, quyền tự chủ sản xuất cho xã viên Hoạt động của HTX chỉ tập trung cho các khâu
mà từng hộ không làm được hoặc làm mà không hiệu quả, hay thực hiện các hoạt động dịch vụ, chế biến và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, hướng dẫn sản xuất, chuyển giao kĩ thuật và hỗ trợ cho kinh tế hộ phát triển
Trang 29Hiện nay cả nước có 5.138 (2009) HTX nông nghiệp, 28 HTX lâm nghiệp và
176 HTX thủy sản đang hoạt động dưới nhiều hình thức và quy mô khác nhau Các HTX đã thu hút gần 2 triệu lao động, hơn 6 triệu hộ xã viên, trong đó có HTX dịch
vụ làm đất, dịch vụ thủy sản nông nghiệp, dịch vụ giống…
1.4.2.4 Doanh nghiệp nông nghiệp
DNNN ở Việt Nam là một tổ chức kinh tế cơ sở, tức là một đơn vị hoạt động kinh doanh và phân phối của nền sản xuất xã hội, dựa trên cơ sở hợp tác và phân công lao động xã hội, gồm một số người lao động, được đầu tư vốn, trang bị tư liệu sản xuất để tiến hành hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực phù hợp với yêu cầu của thị trường, được Nhà nước quản lý và bảo vệ theo luật định
Hiện nay, cả nước hiện có trên 33.000 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, trong đó trên 93% là các doanh nghiệp nhỏ và vừa; mức đầu tư của doanh nghiệp cho đổi công nghệ chiếm tỷ lệ nhỏ trên tổng doanh thu; hơn 80% máy móc, thiết bị, công nghệ sản xuất ở nước ta thuộc loại trung bình và lạc hậu
1.4.2.5 Vùng chuyên canh
-Ở Việt Nam hiện nay, trong phạm vi cả nước có:
+ 2 vùng chuyên canh lương thực- thực phẩm (Đồng bằng Sông Hồng & Đồng bằng sông Cửu Long)
+3 vùng chuyên canh cây công nghiệp ( Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, Trung du miền núi phía Bắc)
Cà phê: Tây Nguyên ( Đắc Lắc, Lâm Đồng): 491,5 nghìn ha, chiếm 89,6% diện tích
Trang 30Tổng diện tích: 3823,3 km2
Tọa độ địa lý:
+ Từ 210 07’ đến 21037’ vĩ độ bắc
+ Từ 105053’ đến 107002’ kinh độ đông
- Phía Nam giáp các tỉnh Bắc Ninh, Hải Dương
- Phía Bắc giáp tỉnh Lạng Sơn
- Phía Đông giáp với tỉnh Quảng Ninh
- Phía Tây giáp với tỉnh Thái Nguyên và Thủ đô Hà Nội
Toàn tỉnh có 9 huyện và 1 thành phố (thành phố Bắc Giang), gồm: Hiệp Hòa, Yên Thế, Tân Yên, Việt Yên, Lạng Giang, Yên Dũng, Lục Nam, Lục Ngạn, Sơn Động; trong đó có 6 huyện miền núi và 1 huyện vùng cao với 229 xã, phường, thị trấn
2.1.2 Đặc điểm tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên
Địa hình: đặc điểm địa hình đa dạng cả đồng bằng, trung du và miền núi xen
kẽ, với đặc trưng có nhiều gò đồi xen lẫn đồng bằng độ cao trung bình 100-150m độ dốc từ 10-150
Khí hậu: Bắc Giang nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa vùng Đông bắc Việt Nam, một năm có bốn mùa rõ rệt: mùa đông lạnh, mùa hè nóng ẩm, mùa xuân và mùa thu khí hậu ôn hòa Nhiệt độ trung bình năm khoảng 23-240C Độ ẩm không khí trung bình 83%
Thủy văn: Bắc Giang có hệ thống sông, hồ khá dày, trong tỉnh có 3 sông lớn chảy qua là sông Thương, sông Cầu và sông Lục Nam
2.1.3 Đặc điểm dân cư- xã hội
2.1.3.1.Dân số, lao động
Trang 31Dân số: Năm 2012 dân số trung bình của tỉnh là 1.588.523 người, xếp thứ 1 trong vùng (chiếm 13,9%) và xếp thứ 16 cả nước Mật độ dân số rất cao (khoảng
413 người/km2
), gấp khoảng 1,5 lần mức bình quân chung cả nước
Lao động: Dân số trong độ tuổi lao động tăng gần 1%/năm thời kỳ
2006-2012, năm 2006 là 1.002.360 người (chiếm 65%), đến năm 2010 là 1.108.000 (chiếm 70%) và tới năm 2012 là 1.033.560 người (chiếm 65%) so với tổng dân số Thách thức là lao động nông nghiệp nhiều, năng suất lao động thấp và kỹ năng tay nghề chưa cao, tiếp thu KHCN sẽ gặp nhiều hạn chế và người lao động chưa có tác phong làm việc công nghiệp
2.1.3.2.Cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội
Hệ thống đô thị: Đến nay, toàn tỉnh đã có 17 đô thị, trong đó 01 thành phố loại 3 là thành phố Bắc Giang; 02 đô thị loại 4 là thị trấn Thắng, Chũ và 14 đô thị loại 5 là thị trấn Bích Động, Nếnh, Vôi, Kép, Neo, Tân Dân, Đồi Ngô, Lục Nam, Cao Thượng, Nhã Nam, Cầu Gồ, Bố Hạ, An Châu
Giao thông:Hệ thống đường giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh thời gian qua được quan tâm đầu tư cải tạo, nâng cấp với tổng chiều dài đường bộ là 9.866,75 km; trong đó quốc lộ 251,8 km; đường tỉnh 411,8 km; 8.921,49 đường giao thông nông thôn (đường huyện, đường xã, đường thôn) và khoảng 281,7 km đường đô thị Đường sắt liên vận Hà Nội - Lạng Sơn, đoạn chạy qua Bắc Giang dài trên 50 km cũng được nâng cấp cả nền đường, ray, thiết bị thông tin; Tuyến Quảng Ninh - Kép
- Thái Nguyên với khổ rộng 1,4 m, dài trên 30 km, cũng được nâng cấp, góp phần kết nối tỉnh với các vùng du lịch, kinh tế quan trọng
Thủy lợi: Tổng chiều dài khoảng 354 km; trong đó 222 km do Trung ương quản lý, đảm bảo cho các phương tiện thuỷ có trọng tải từ 40 tấn đến 500 tấn qua lại được; 130 km do địa phương quản lý, chủ yếu cho các phương tiện thuỷ loại nhỏ hoạt động, góp phần quan trọng kết nối với thành phố Hải Phòng, Quảng Ninh…
Giáo dục: Đến nay toàn tỉnh có 836 cơ sở giáo dục và đào tạo với gần 370.000 học sinh các ngành học, bậc học, tăng 46 cơ sở giáo dục và đào tạo so với năm 2006; hàng năm tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THPT đạt 97% và trên 10.000 học sinh sinh đỗ vào các trường đại học, cao đẳng, nằm trong tốp 20 tỉnh, thành phố đứng đầu toàn quốc Tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia tăng từ 26,5% năm 2006 lên 68,9% năm 2012; tỷ lệ phòng học kiên cố khối phổ thông tăng từ 69,2% năm 2007 lên 83,2% năm 2012 (khối trung học đạt trên 90%); 100% giáo viên khối TH, THCS, THPT có trình độ đào tạo đạt chuẩn và trên chuẩn (tỷ lệ giáo viên khối THPT có trình độ thạc sĩ năm 2012 đạt 13,3%)
Trang 32Y tế: Cơ sở vật chất bệnh viện được nâng cấp (từ phòng đến trang thiết bị) tại
7 bệnh viên đa khoa, chuyên cấp tỉnh (sản-nhi), 9 bệnh viên đa khoa huyện, 3 phòng khám đa khoa khu vực, 10 trung tâm y tế dự phòng, 100% xã có trạm y tế và đến năm 2012 số xã đạt chuẩn mới quốc gia y tế là 50,9%
Văn hóa: Trong thời gian vừa qua, đạt được nhiều tiến bộ nhờ xây dựng gia đình văn hóa, làng văn hóa có kết quả và giữ gìn, phát huy thuần phong, mỹ tục đẹp của các dân tộc anh em cùng sinh sống toàn tỉnh có 2.237 di tích (gồm các đền, chùa, miếu, các di tích văn hóa lịch sử), trong đó có 474 di tích đã được xếp hạng Tính đến năm 2012, có 42 di tích cấp quốc gia đã được trùng tu, tôn tạo Đặc biệt, Mộc bản Vĩnh Nghiêm đã được UNESCO công nhận là Di sản Tư liệu thế giới thuộc Chương trình Ký ức thế giới khu vực châu Á - Thái Bình Dương và di tích Hoàng Hoa Thám được công nhân là di tích lịch sử cấp quốc gia gồm cả lễ hội Yên Thế, khẳng định giá trị văn hóa, lịch sử cao đẹp
Thể dục, thể thao: tỉnh Bắc Giang, môn cầu lông và môn vật dân tộc, đá cầu, cầu mây đã có vận động viên đạt hành tích cao, cấp quốc gia (40 giải cao, 112 huy chương các loại năm 2012), khu vực do kết cấu hạ tầng được cải thiện, phòng trào, truyền thống tốt và đội ngũ huấn luyện viên đẳng cấp
2.1.4 Thực trạng phát triển kinh tế
2.1.4.1.Tăng trưởng kinh tế
Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng bộ, UBND Tỉnh cùng với những lợi thế và tiềm năng tự nhiên, nguồn lực con người, nền kinh tế của Tỉnh đã có những bước phát triển khá mạnh Trong đó giai đoạn 2006-2010 tăng trưởng đạt 9,1%; giai đoạn 2011-2012 tăng trưởng GDP đạt 10,1%/năm Như vậy, tăng trưởng GDP đạt được tăng liên tục trong cả giai đoạn 2006 - 2012, đặc biệt trong 02 năm (2011, 2012) đạt được mức tăng khá trong bối cảnh khủng hoảng kinh
tế thế giới là thành tựu đáng mừng
Bên cạnh những kết quả đạt được, tăng trưởng kinh tế của tỉnh Bắc Giang vẫn còn một số hạn chế sau: Tăng trưởng kinh tế chủ yếu dựa trên sự gia tăng vốn đầu tư và gia công lắp ráp của lao động; chất lượng tăng trưởng của khu vực công nghiệp - xây dựng đã có khởi sắc song khu vực dịch vụ chưa có nhiều tiến bộ Là tỉnh đông dân (gần 1,6 triệu người) song GDP của tỉnh và GDP/người vẫn thấp hơn mức bình quân cả nước; dân số, lao động sống ở khu vực nông thôn chiếm tới 90%
2.1.4.2.Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Giai đoạn 2006 - 2012, cơ cấu kinh tế đã có sự chuyển dịch theo hướng tích cực, nhất là CN và XD, góp phần quan trọng phát triển KT-XH Năm 2005 trong
Trang 33Giá trị sản xuất năm 2005 là 8.449,8 tỷ đồng, năm 2010 đạt 13.428,3 tỷ đồng, năm 2013 đạt 15.496 tỷ đồng, giá trị sản xuất tăng ổn định qua các giai đoạn, cho dù trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế 2010-2013 thì giá trị sản xuất nông nghiệp vẫn tăng 2067.7 tỷ đồng Đóng góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh
tế, ổn định xã hội, nâng cao đời sống ở nông thôn
Biểu đồ 4: Diễn biến GTSX ngành nông nghiệp
giai đoạn 2006-2013 (Giá SS 2010)
ĐVT: tỷ đồng
( Nguồn: Cục Thống kê Bắc Giang)
Giá trị sản xuất nông nghiệp của huyện Lục Ngạn cao nhất chiếm 15,15% tổng giá trị sản xuất toàn tỉnh Thành phố Bắc Giang đóng góp vào giá trị sản xuất nông nghiệp thấp nhất Nguyên nhân có sự chênh lệch là vì đặc thù của ngành nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào tự nhiên Mà điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên của huyện Lục Ngạn phù hợp cho sự phát triển nông nghiệp, tập trung nhiều cây trồng vật nuôi Đặc biệt, huyện Lục Ngạn là vùng chuyên canh vải thiều, sản phẩm
có thương hiệu của tỉnh và được xuất khẩu
Trang 34Biểu đồ 5: Gía trị sản xuất nông nghiệp tính theo giá hiện hành phân theo địa
phương năm 2012
Đơn vị: triệu đồng
(Nguồn: Cục thống kê tỉnh Bắc Giang)
2/Đối với nông nghiệp: Chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp có bước tiến
bộ, tỷ trọng chăn nuôi từ 34,5% năm 2005 tăng lên 44,9% năm 2010 và đến năm
2013 chiếm 52,5%; tỷ trọng ngành trồng trọt giảm còn 43,2%, dịch vụ tăng lên 4,3% vào năm 2013
Sản xuất lương thực, thực phẩm tiến bộ nổi bật, đảm bảo cung cấp đầy đủ nhu yếu phẩm từ lương thực, thực phẩm cho nhu cầu tiêu dùng của nhân dân trong tỉnh và xuất khẩu đạt giá trị khoảng 42,8 triệu USD năm 2013
Biểu đồ 6: Giá trị sản xuất của ngành nông nghiệp giai đoạn 2005-2012
Giang
Huyện Lục Ngạn
Huyện Lục Nam
Huyện Sơn Động
Huyện Yên Thế
Huyện Hiệp Hoà
Huyện Lạng Giang
Huyên Tân Yên
Huyện Việt Yên
Huyện Yên Dũng
533,468
Trồng trọt Chăn nuôi Dịch vụ và các hoạt động khác
Trang 35Sản phẩm chủ lực khối ngành NN tăng cả về số lượng lẫn chất lượng và đặc
biệt có sản phẩm (gà đồi Yên Thế, vải thiều Lục Ngạn) là thành tựu đáng trân trọng
thời gian vừa qua Hình thành một số vùng chuyên canh với sản phẩm chủ lực có thương hiệu như vải thiều Lục Ngạn (18.595 ha), gà đồi Yên Thế (trên 4,4 triệu con); vùng sản xuất rau, chế biến tập trung (Yên Dũng, Lạng Giang, Lục Nam )
Năng suất lao động ngành nông nghiệp đạt 9,3 triệu đồng năm 2010 và tăng lên 13,5 triệu đồng năm 2012, năm 2013 ước đạt 15,1 triệu đồng, là mức cao của vùng núi trung du Bắc bộ Năng suất lúa nâng lên, đạt 53,2 tạ/ha (2010) và năm
2013 là 54 tạ/ha
3/ Đối với lâm nghiệp: Đến năm 2013, diện tích rừng của tỉnh là 163.139 ha,
là thế mạnh với đầy đủ 3 loại rừng và độ che phủ của rừng đạt 36,4% nhờ trồng rừng mới và phục hồi rừng tự nhiên tốt
Diện tích rừng kinh tế tăng lên đáng kể, trong khi rừng phòng hộ đầu nguồn sông Thương, sông Lục Nam, các hồ lớn như hồ Cấm Sơn, hồ Khuôn Thần và các khu rừng đặc dụng, nhất là Tây Yên Tử được quản lý tốt Khối lượng lâm sản được khai thác tương đối ổn định, đặc biệt là gỗ từ rừng trồng và đặc sản rừng từ rừng tự nhiên lâm sản và triển khai chính sách phí môi trường rừng sẽ góp phần nâng cao giá trị hàng hóa lâm sản Nhờ vậy, rừng và nghề rừng góp phần quan trọng vào phát triển KT-XH và đặc biệt là bảo vệ môi trường sinh thái, đa dạng sinh học, làm giảm thay đổi thời tiết bất lợi và giảm nghèo ở vùng núi
4/ Đối với thủy sản: Trong 7 năm từ 2005 đến 2013, diện tích nuôi trồng thủy sản tăng từ 9.100 ha lên 12.010 ha, gấp hơn 1,3 lần, nâng sản lượng từ 12.300 tấn lên 29.000 tấn trong cùng giai đoạn Giá trị sản xuất trên đơn vị diện tích tăng 1,8 lần, đạt 47 triệu đồng/ha và giải quyết việc làm cho số lượng lao động lớn nhất thời gian vừa qua Một số sản phẩm thủy sản của Bắc Giang đã được thị trường tỉnh
và vùng thủ đô chấp nhận
b, Công nghiệp-Xây dựng: Giá trị sản xuất lĩnh vực công nghiệp – xây dựng
đạt trên 39,4 nghìn tỷ đồng) Chuyển dịch cơ cấu 2 khu vực ngành (CN&XD) và các phân ngành cụ thể cũng theo hướng tích cực, tạo ra tiến bộ quan trọng, giải quyết gần 55 nghìn việc làm và giúp lao động nông nghiệp chuyển sang khu vực này mạnh nhất, lên 17.800 người, đưa tỷ lệ lao động làm việc trong ngành CN-XD
từ 10,5% năm 2005 lên 19,5% năm 2012
c, Dịch vụ:Tăng trưởng thời kỳ 2006-2010 là 9,9%/năm và giai đoạn
2011-2012 là 9,1%/năm, là mức tăng thấp so trung bình cả nước Năng suất lao động ngành đạt mức 57,7 triệu đồng, là mức năng suất cao nhất các ngành Lực lượng lao
Trang 36động các ngành dịch vụ của tỉnh hiện tại chiếm 18% Giá trị ngành dịch vụ đến năm
2010 đạt 10.758 tỷ đồng, tới năm 2012 là 13.273 tỷ đồng tăng 2.515 tỷ đồng Giá trị thương mại năm 2010 đạt 7.490 tỷ đồng đến năm 2012 lên 11.558 tỷ đồng
2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến TCLTNN tỉnh Bắc Giang
2.2.1 Vị trí địa lý
Tỉnh Bắc Giang nằm ở tọa độ địa lý từ 21007’ đến 21037’ vĩ độ bắc; từ
105053’ đến 107002’ kinh độ đông Tỉnh Bắc Giang giáp với các tỉnh như sau:
- Phía Đông giáp tỉnh Lạng Sơn, tỉnh Quảng Ninh
- Phía Tây giáp tỉnh Thái Nguyên
- Phía Nam giáp Bắc Ninh, tỉnh Hải Dương, tỉnh Quảng Ninh
- Phía Bắc tỉnh Thái Nguyên, tỉnh Lạng Sơn
Đặc biệt, phía Tây Nam giáp huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội
Như vậy, Bắc Giang giáp các tỉnh/thủ đô khu vực rất quan trọng và phát triển , nên sẽ đặt ra nhiều cơ hội cũng như thách thức cho tỉnh Nằm ở khu vực chuyển tiếp từ vùng Trung du và Miền núi phía Bắc đến vùng đồng bằng sông Hồng, thuộc vùng Hà Nội và trên hành lang kinh tế Lạng Sơn-Hà Nội-Hải Phòng-Quảng Ninh Bắc Giang lại rất gần trung tâm đô thị, công nghiệp, dịch vụ lớn như Thủ đô Hà Nội (50 km), tỉnh Thái Nguyên, khu dịch vụ quốc gia với các trường đại học, viện nghiên cứu, bệnh viện lớn và tiếp giáp khu vực sản xuất hàng điện tử, cơ khí, tiểu thủ công nghiệp lớn vùng Hà Nội Vì vậy, Bắc Giang sẽ trở thành vùng nguyên liệu trọng điểm, hỗ trợ đắc lực cho sự phát triển của các tỉnh/thành phố lớn như Hà Nội, Thái Nguyên, Bắc Ninh…
Trong sản xuất nông nghiệp, vị trí địa lý sẽ quy định khí hậu, thổ nhưỡng,…nên sẽ hình thành các hoạt động nông nghiệp nhất định để phù hợp Bắc Giang thuộc trung du và miền núi phía Bắc, không giáp biển nên không phát triển ngành đánh bắt thủy hải sản, nông nghiệp tương đố phát triển với môt số hình thức như hộ gia đình, trang trại, hợp tác xã, doanh nghiệp nông nghiệp Chưa hình thành được các vùng chuyên canh do Bắc Giang nằm ở vùng trung du và miền núi nên điều kiện địa hình không cho phép
2.2.2 Đặc điểm tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên
2.2.2.1 Địa hình
Tỉnh Bắc Giang có diện tích là 384.945,1 ha, được phân ra 3 vùng là: Vùng miền núi và núi cao; vùng trung du và núi vừa; vùng đồng bằng
Trang 37Biểu đồ 7: Phân vùng của tỉnh Bắc Giang
(Nguồn: QH tổng thể tỉnh Bắc Giang đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030)
Diện tích miền núi và núi cao là 198246,73 ha chiếm tỷ lệ cao nhất nên thuận lợi phát triển lâm nghiệp, và khó hình thành các vùng chuyên canh với diện tích lớn Vùng đồng bằng có diện tích 83533,087 ha chỉ chiếm 21,7% nhưng đất đai tương đối phì nhiêu, thuận lợi cho phát triển nông nghiệp Do miền núi và núi cao chiếm diện tích lớn, đồng bằng lại chiếm diện tích ít sẽ gây khó khăn cho việc hình thành các trang trại quy mô lớn, cũng như vùng chuyên canh
- Vùng miền núi và núi cao: Vùng núi phân bố chủ yếu ở các huyện Sơn
Động, Lục Ngạn và một phần các huyện Lục Nam, Yên Thế, Tân Yên, Yên Dũng, Lạng Giang… Đây là vùng núi vừa và núi cao, địa hình chia cắt mạnh, tiếp giáp với đỉnh Yên Tử (Quảng Ninh) và vùng núi tỉnh Lạng Sơn Độ cao trung bình ở vùng địa hình này 300 - 400 m, độ dốc phần lớn trên 25o, thuận lợi phát triển lâm nghiệp Đây là cơ sở để hình thành các trang trại lâm nghiệp
- Vùng trung du và núi thấp: Vùng này phân bố ở nhiều huyện, trong đó tập
trung ở huyện Hiệp Hoà, Việt Yên, Yên Thế, Lục Nam và một phần ở huyện Tân Yên, Yên Dũng, Lạng Giang Đây là vùng có địa hình lượn sóng, đồi bát úp, có độ chia cắt trung bình Độ cao bình quân so với mặt biển từ 80 - 120 m, độ dốc từ 8 o -
15o, thuận lợi cho sản xuất nông lâm nghiệp và trồng trọt một số sản phẩm khoai, sắn, ngô, lạc, chăn nuôi (trâu, bò, gà…) Với điều kiện địa hình này có thể hình thành các trang trại trồng trọt, chăn nuôi quy mô nhỏ và trung bình
- Vùng đồng bằng: Vùng đồng bằng được phân bố ở thành phố Bắc Giang,
Việt Yên, Yên Dũng và một phần của Lạng Giang, địa hình tương đối bằng phẳng, trừ một vài nơi trũng ở Yên Dũng Độ cao bình quân so với mặt nước biển từ 15 -
25 m, đất đai tương đối phì nhiêu thuận lợi phát triển nông nghiệp, trồng trọt như lúa, lạc, hoa màu,…, chăn nuôi (lợn, trâu, bò, gà )
Trang 38Như vậy, tỉnh có địa hình đa dạng (đồng bằng, trung du và miền núi) thuận lợi để phát triển nông nghiệp với nhiều cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế Dù ở bất cứ địa hình nào thì kinh tế hộ gia đình đều phù hợp để phát triển, tuy nhiên cần hướng tới những hình thức tổ chức cao hơn như trang trại, vùng chuyên canh, doanh nghiệp để khai thác tối đa hiệu quả của điều kiện tự nhiên đem lại
2.2.2.2 Khí hậu
Đặc điểm chung: Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, mưa theo mùa lại khá điều hòa và mang đặc điểm chung của vùng Đông Bắc với 4 mùa rõ rệt Mùa đông khô, lạnh từ tháng 11 năm trước tới tháng 1 năm sau; mùa hè nóng, mưa nhiều
từ tháng 5 tới tháng 7; mùa xuân ấm, ẩm từ tháng 2 đến tháng 4; mùa thu khí hậu ôn hòa từ tháng 7 đến tháng 10 Điều này, ảnh hưởng đến khả năng xen canh tăng vụ
và hiệu quả sản xuất nông nghiệp của tỉnh Do có 4 mùa khá rõ rệt nên cả năm có 2
vụ trồng lúa là vụ Đông xuân kéo dài từ tháng 1 đến tháng 5, vụ Hè thu kéo dài từ khoảng giữa tháng 6 đến tháng 10 và có một vụ xen canh từ tháng 11 năm nay đến tháng 1 năm sau thường trồng đậu tương, ngô, khoai, rau hoa màu…
Nhiệt độ: Biên độ nhiệt độ trung bình năm ít thay đổi, với nhiệt độ trung bình năm khoảng 230-240 C, tháng 1 có nhiệt độ trung bình khoảng 160C, tháng nóng nhất là tháng 7 có nhiệt độ trung bình trên 300C Ở nhiệt độ này, thích hợp trồng các loại cây như lúa, ngô, khoai lang,lạc, đậu tương, sắn…và thích hợp với phần lớn các vật nuôi gia súc, gia cầm như trâu, bò, lợn, gà, vịt…
Tuy nhiên, có sự chênh lệch nhiệt độ giữa tiểu vùng núi (rét đậm, sương muối ảnh hưởng đến chăn nuôi, trồng trọt hàng năm), tiểu vùng trung du và tiểu vùng đồng bằng
Lượng mưa: Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1.533mm, mưa nhiều trong thời gian từ tháng 4 đến tháng 9 Lượng bốc hơi bình quân hàng năm khoảng 1000mm, 4 tháng có lượng bốc hơi lớn hơn lượng mưa là từ tháng 12 năm trước đến tháng 3 năm sau, đây cũng là thời kỳ xảy ra hạn hán ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất nông nghiệp Đặc biệt một số vùng có lượng mưa thấp hơn các vùng khác trong tỉnh, thậm trí còn là nơi thấp trong cả nước như Lục Ngạn (700 mm/năm), Lục Nam, tạo điều kiện thuận lợi phát triển vải thiều và một số loại cây trồng khác
Chế độ gió: Chịu ảnh hưởng của gió Đông Nam về mùa hè, gió mùa Đông Bắc về mùa đông Hàng năm ít chịu ảnh hưởng của bão do nằm sâu trong đất liền, lại được chắn bởi các dãy núi thuộc 3 huyện Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam, nhưng đôi khi xảy ra hiện tượng lốc cục bộ và mưa đá vào mùa hè Vì vậy, ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động nông nghiệp
Trang 39Giờ nắng và độ ẩm: Nhìn chung chế độ chiếu sáng tương đối thuận lợi cho phát triển sản xuất, kinh doanh với số giờ năng trung bình trong năm đạt từ 1.590 đến 1.812 giờ Độ ẩm trung bình trên 80%, trong đó các tháng mùa đông có độ ẩm không khí từ 74% - 80%, các tháng mùa hạ lên tới 85%
Từ phân tích trên cho thấy Bắc Giang nhận được thuận lợi nhiều hơn thách thức từ đặc trưng, tạo cho Bắc Giang một hệ sinh thái tương đối đa dạng Điều kiện khí hậu là nhân tố quan trọng quy định sự phân bố cây trồng vật nuôi phù hợp, từ đó hình thành nên các vùng chuyên canh, các trang trại quy mô lớn nhỏ tủy thuộc vào các điều kiện khác
2.2.2.3 Tài nguyên nước
Nguồn nước mặt: Nguồn nước mặt ở tỉnh Bắc Giang do 3 con sông lớn chảy qua là sông Cầu, sông Thương, sông Lục Nam cùng một số hồ lớn như Cấm Sơn,
hồ Khuôn Thần, một số hồ chứa nước khác với tổng lưu lượng khoảng 7,56 tỷ
m3/năm cung cấp nước tưới chủ yếu cho hoạt động sản xuất nông nghiệp Cụ thể:
- Sông Cầu: Chiều dài 290 km, đoạn chảy qua địa phận Bắc Giang là 101 km Sông
Cầu có hai chi lưu lớn nằm ở hữu ngạn là sông Công và sông Cà Lồ Lưu lượng nước sông Cầu hàng năm là 4,2 tỷ m3
- Sông Lục Nam: Chiều dài 175 km, đoạn chảy qua địa phận tỉnh là 150 km, gồm
các chi lưu chính là sông Cẩm Đàn, sông Thanh Luận, sông Rán, sông Bò Lưu lượng nước hàng năm 1,86 tỷ m3
- Sông Thương: Chiều dài 87 km, có chi lưu chính là sông Hoá, sông Sỏi và sông Trung Lưu lượng nước sông Thương hàng năm là 1,46 tỷ m3
- Hồ chứa lớn: Hiện nay Bắc Giang có khoảng 70 hồ chứa lớn với tổng diện tích
gần 5.000 ha, trong đó có các hồ lớn như: hồ Cấm Sơn, hồ Khuôn Thần, hồ Suối Nứa, hồ Cầu Rễ, hồ Đá Ong, hồ Suối Cấy
- Chế độ thủy văn chung: Theo số liệu điều tra cho thấy tổng lượng dòng chảy qua
tỉnh khoảng 7,5 triệu m3/năm, mực nước sông trung bình tại trạm Cầu Sơn là 2,18m, mực nước trung bình mùa lũ 4,3m Lưu lượng kiệt nhỏ nhất Qmin = 1m3/s, lưu lượng lũ lớn nhất Qmax = 1.4003
/s Mực nước lũ lớn nhất tại trạm Bắc Giang từ 6,2-6,8m, thường xuất hiện vào tháng 8 và tháng 9
Nguồn nước ngầm: Nước ngầm ở Bắc Giang có nhiều nơi nhưng phụ thuộc
vào địa hình ở từng khu vực mà có độ nông sâu khác nhau với trữ lượng dự báo trên
900 nghìn m3/ngày đêm, trong đó trữ lượng tĩnh gần 300 nghìn m3/ngày đêm
Như vậy, Bắc Giang có nguồn tài nguyên nước phong phú tạo điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế xã hội nói chung cũng như đẩy mạnh hoạt động sản
Trang 40xuất nông nghiệp nói riêng Đáp ứng đủ nhu cầu tưới tiêu cho cây trồng và tắm rửa cho gia súc Việc cung cấp đủ nước cho cây trồng sẽ cho năng suất cao, chất lượng tốt, vì vậy với mạng lưới sông ngòi như trên đã đóng vai trò quan trọng cho hiệu quả, năng suất cây trồng vật nuôi trên địa bàn tỉnh Đồng thời, với điều kiện nguồn nước như trên thì cũng góp phần thúc đẩy sự phát triển ngành nuôi trồng thủy sản trong đó tập trung ở 3 huyện Tân Yên, Hiệp Hòa, Lục Nam
2.2.2.4 Tài nguyên đất
- Đánh giá chung: Bắc Giang có diện tích 384.945,1 ha chiếm 4,01% diện tích trong vùng và 1,16% diện tích đất cả nước Diện tích đất nông, lâm nghiệp có 275.797 ha, diện tích đất phi nông nghiệp là 93.402,77 ha, còn lại là đất chưa sử dụng
Biểu đồ 8: Diện tích sử dụng đất trên địa bàn tỉnh Bắc Giang
Đơn vị: ha
(Nguồn: Tổng cục thống kê tỉnh Bắc Giang)
Nhìn vào biểu đồ, ta thấy đất sử dụng cho nông nghiệp vẫn chiếm phần lớn chiếm tới 71,6% tổng diện tích chứng tỏ nông nghiệp vẫn là ngành kinh tế trọng điểm đối với tỉnh Bắc Giang, giữ một vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế Bình quân đất sản xuất nông nghiệp/người tỉnh là 0,08 ha, cả nước đạt 0,11 ha, còn vùng Trung du và Miền núi phía Bắc vào khoảng 0,13 ha Hệ số sử dụng đất tăng lên, đạt khoảng 1,9 lần Tuy nhiên, bình quân sản xuất nông nghiệp/ người của tỉnh vẫn còn thấp hơn vùng Trung du và miền núi 0,05 ha và cả nước 0,03 ha Cho thấy, hiệu quả sử dụng đất chưa hiệu quả
Diện tích đất lâm nghiệp chiếm tỉ trọng cao nhất do Bắc Giang là một tỉnh miền núi Diện tích đất lâm nghiệp có rừng, đất nuôi trồng thủy sản đều có xu hướng tăng còn đất sản xuất nông nghiệp lại có xu hướng giảm Diện tích đất nông nghiệp tăng 18292,42 ha do đất sản xuất nông nghiệp tăng 5414,99ha, đất lâm nghiệp có rừng tăng 11145,61ha, đất nuôi trồng thủy sản tăng 1679,54ha, đất nông nghiệp khác tăng 52,28ha Diện tích đất lâm nghiệp có xu hướng tăng cao nhất cho