Tuy nhiên, đi cùng với sự phát triển của các DNVVN như vậy cũng đặt ra nhiều câu hỏi đối với những người đứng đầu DN như: Nguồn tài nguyên thiên nhiên có hạn nên khó có thể phục vụ cho q
Trang 1Khóa luận tốt nghiệp
Đề tài: Phân tích hiện trạng và đề xuất giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn TX Hồng Lĩnh
Giáo viên hướng dẫn: ThS Bùi Hoàng Mai
Sinh viên thực hiện: Đào Văn Hiếu
Khóa: I
Ngành: Kinh tế
Chuyên ngành: Kế hoạch phát triển
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trước khi đi vào nội dung của khóa luận tốt nghiệp, tôi muốn gửi lời cảm
ơn tới những người và những đơn vị đã giúp đỡ tôi hoàn thành bài khóa luận tốt nghiệp này
Lời đầu tiên, Tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn tới giảng viên Thạc sĩ Bùi Hoàng Mai khoa Kế hoạch phát triển, Học viện Chính sách và Phát triển đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình hoàn thành bài khóa luận này
Tôi xin chân thành cảm ơn Ủy ban nhân dân Thị xã Hồng Lĩnh, phòng Công thương, Chi cục thống kê và phòng Lao động thương binh và xã hội thị xã Hồng lĩnh đã tạo điều kiên cũng như cung cấp tài liệu để tôi hoàn thành bài khóa luận tốt nghiệp này
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới Ban giám đốc Học viện Chính sách và Phát triển, Khoa Kế hoạch phát triển đã cung cấp cho tôi kiến thức trong bốn năm học tập tại học viện để tôi lấy đó làm lý thuyết và tiền đề cho việc hoàn thành bài khóa luận tốt nghiệp này
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè và người thân, những người đã luôn bên cạnh động viên và tạo mọi điều kiện tốt nhất về mặt thời gian cũng như vật chất để tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bài khóa luận này được viết dựa trên kiến thức được học
ở nhà trường cũng như hiểu biết của bản thân của tôi Số liệu được sử dụng trong khóa luận là số liệu được cung cấp từ Hiệp hội các doanh nghiệp vừa và nhỏ,phòng Công thương, Chi cục thồng kê và phòng Lao động Thương binh và
Xã hội thuộc Ủy ban nhân dân thị xã Hồng Lĩnh
Người cam đoan
Ký tên
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC HÌNH VẼ viiii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC 3
1.1 Các khái niệm 3
1.1.1.Khái niệm về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực 3
1.1.1.1.Khái niệm nhân lực và nguồn nhân lực 3
1.1.1.2.Khái niệm phát triển nguồn nhân lực 6
1.1.1.3 Vai trò của nguồn nhân lực đối với hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp và đối với tăng trưởng kinh tế 8
1.1.1.4.Các yếu tố tác dộng đến ngưồn nhân lực trong doanh nghiệp 9
1.1.1.5 Vai trò của nguồn nhân lực đối với phát triển doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp vừa và nhỏ nói riêng 14
1.1.2.Chất lượng nguồn nhân lực và phân loại nguồn nhân nhân lực 15
1.1.2.1.Chất lượng nguồn nhân lực 15
1.1.2.2.Phân loại nguồn nhân lực 15
1.2.Doanh nghiệp và doanh nghiệp vừa và nhỏ 17
1.2.1.Khái niệm doanh nghiệp 17
1.2.2.Khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ 20
1.2.3 Vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế quốc dân 21
Trang 51.3.Tóm tắt chương một 22
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ VÀ NGUỒN CUNG NHÂN LỰC TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ HỒNG LĨNH 24
2.1.Thực trạng nguồn nhân lực ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở TX Hồng Lĩnh 24
2.1.1Khái quát về thị xã Hồng Lĩnh 24
2.1.1.1.Thị xã Hồng Lĩnh ra đời 24
2.1.1.2.Đặc điểm về điều kiện tự nhiên 25
2.1.1.3.Đặc điểm dân số 28
2.2.Phân tích thực trạng nguồn nhân lực doanh nghiệp vừa và nhỏ ở TX Hồng Lĩnh 34
2.2.1.Nguồn nhân lực ở đội ngũ quản lý 35
2.2.1.1.Xét về trình độ học vấn 35
2.2.1.2.Xét về năng lực chuyên môn, nghiệp vụ quản lý và năng lực lãnh đạo 40
2.2.2.Chất lượng nguồn nhân lực của đội ngũ lao động 43
2.3.Thực trạng nguồn nhân lực ở Thị xã Hồng Lĩnh 45
2.3.1.Nguồn cung bên ngoài 45
2.3.1.1.Nhân lực nước ngoài 45
2.3.1.2.Nhân lực ngoài địa bàn thị xã 46
2.3.2.Nguồn nhân lực nội bộ 46
2.3.2.1.Dân số trên địa bàn thị xã chia theo nhóm tuổi 47
2.3.2.2.Lực lượng lao động thất nghiệp 50
2.4.Tóm tắt nội dung chương 54
CHƯƠNG 3:MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ HỒNG LĨNH TRONG THỜI GIAN TỚI 55
3.1.Cơ sở xây dựng các giải pháp 55
3.2.Đề xuất giải pháp 55
3.2.1.Về phía doanh nghiệp vừa và nhỏ ở TX Hồng Lĩnh 55
Trang 63.2.1.1.Phát triển nhân lực ở đội ngũ quản lý 55
3.2.1.2.Phát triển nguồn nhân lực ở đội ngũ lao động 57
KẾT LUẬN 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO 65
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Dân số Thị xã Hồng Lĩnh đầu năm 2012 và 2013
Bảng 2.2 Nguồn nhân lực TX Hồng Lĩnh theo lĩnh vực hoạt động năm 2013 Bảng 2.3: Cơ cấu doanh nghiệp vừa và nhỏ ở TX Hồng Lĩnh theo lĩnh vực hoạt động, năm 2013
Bảng 2.4 Trình độ của đội ngũ quản lý ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở TX Hồng Lĩnh năm 2013
Bảng 2.5 Trình độ của đội ngũ quản lý ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn TX Hồng Lĩnh phân theo lĩnh vực hoạt động năm 2013
Bảng 2.6 Chất lƣợng nguồn nhân lực ở độ ngũ lao động của các doanh nghiệp vừa và nhở ở TX Hồng Lĩnh năm 2013
Bảng 2.7 Dân số trên địa bàn Thị xã Hồng Lĩnh từ 15 tuổi trở lên chia theo nhóm tuổi năm 2013
Bảng 2.8 Lực lƣợng lao động thất nghiệp trên địa bàn Thị xã Hồng Lĩnh chia theo địa giới hành chính năm 2013
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết nghiên cứu đề tài
Trải qua hơn 20 năm hình thành và phát triển, TX Hồng Lĩnh nay đã trở thành một trung tâm kinh tế - xã hội phía bắc của tỉnh Hà Tĩnh, với cơ sở hạ tầng không ngừng được xây dựng và củng cố, văn hóa xã hội không ngừng phát triển theo hướng tích cực, nền kinh tế chuyển dịch nhanh theo hướng công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp, thương mại và dịch vụ với tốc độ tăng trưởng cao, đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện về mặt vật chất và tinh thần, nền chính trị
TX Hồng Lĩnh với 197 DN
Tuy nhiên, đi cùng với sự phát triển của các DNVVN như vậy cũng đặt ra nhiều câu hỏi đối với những người đứng đầu DN như: Nguồn tài nguyên thiên nhiên có hạn nên khó có thể phục vụ cho quá trình sản xuất được lâu dài, vấn đề
về đầu ra của sản phẩm, vấn đề về quy mô, vấn đề về nguồn nhân lực của DN… Đặc biệt, nguồn nhân lực đang là vấn đề nhức nhối đối với những nhà quản lý vì
nó ảnh hưởng đến quá trình sản xuất, chất lượng sản phẩm và chi phí sản xuất
Vì vậy đề tài “Lập kế hoạch phát triển nguồn nhân lực ở các doanh nghiệp vừa
và nhỏ ở TX Hồng Lĩnh” sẽ cố gắng giải quyết vấn đề về NNL ở các DNVVN
Trang 11các DNVVN ở TX Hồng Lĩnh sau đó đưa ra các giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực cho các DN
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
- Phân tích và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp vừa
- Về không gian và thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu về chất lượng NNL của các DNVVN trên địa bàn TX Hồng Lĩnh dựa trên số liệu về nguồn nhân lực của các doanh nghiệp vừa và nhỏ năm 2013
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp phân tích thống kê, phân tích mô tả nhằm làm rõ thực trạng NNL của các DNVVN trên địa bàn TX Hồng Lĩnh
5 Bố cục của đề tài gồm 3 chương
Chương 1: Lý luận về phát triển nguồn nhân lực
Chương 2: Thực trạng nguồn nhân lực ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở thị xã Hồng Lĩnh và nguồn cung nhân lực ở thị xã Hồng Lĩnh hiện nay
Chương 3: Một số giải pháp nhằm phát triển nguôn nhân lực ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn TX Hồng Lĩnh trong thời gian tới
Trang 12CHƯƠNG I
LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
1.1 Các khái niệm
1.1.1 Khái niệm về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực
1.1.1.1 Khái niệm nhân lực và nguồn nhân lực
Thuật ngữ NNL xuất hiện vào thập niên 80 của thế kỷ XX khi có sự thay đổi căn bản về phương thức quản lý, sử dụng con người trong kinh tế lao động Nếu như trước đây phương thức quản trị nhân viên với các đặc trưng coi nhân viên là lực lượng thừa hành, phụ thuộc, cần khai thác tối đa sức lao động của họ với chi phí tối thiểu thì từ những năm 80 đến nay với phương thức quản lý NNL mới đã dẫn đến sự thay thế tư duy và phương thức quản lý cũ Phương thức này có tính chất mềm dẻo hơn, linh hoạt hơn, tạo điều kiện tốt hơn để người lao động có thể phát huy ở mức cao nhất các khả năng tiềm tàng, vốn có của họ thông qua tích lũy tự nhiên trong quá trình lao động phát triển Có thể nói sự xuất hiện của thuật ngữ "nguồn nhân lực" là một trong những biểu hiện cụ thể cho sự thắng thế của phương thức quản lý mới đối với phương thức quản lý cũ trong việc sử dụng nguồn lực con người
Tuy nhiên khái niệm NNL vẫn được hiểu theo nhiều cách khác nhau:
Theo báo cáo của Liên hợp quốc đánh giá về những tác động của toàn cầu
hoá đối với NNL đã đưa ra định nghĩa: nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, kiến
thức và năng lực thực có thực tế cùng với những năng lực tồn tại dưới dạng tiềm năng của con người Quan niệm về NNL theo hướng tiếp cận này có phần thiên
về chất lượng của NNL Trong quan niệm này, điểm được đánh giá cao là coi các tiềm năng của con người cũng là năng lực khả năng để từ đó có những cơ chế thích hợp trong quản lý, sử dụng
Trang 13Theo Nicholas Henry (Quản trị công và Chính sách công, tái bản lần thứ 10,
2007- Public Administration and Public affairs, 10th edition 2007) "nguồn nhân lực là nguồn lực con người của những tổ chức (với quy mô, loại hình, chức năng khác nhau) có khả năng và tiềm năng tham gia vào quá trình phát triển của tổ chức cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, khu vực, thế giới" Cách
hiểu này về NNL xuất phát từ quan niệm coi nguồn nhân lực là nguồn lực với các yếu tố vật chất, tinh thần tạo nên năng lực, sức mạnh phục vụ cho sự phát triển nói chung của các tổ chức
Ở nước ta, khái niệm NNL được sử dụng rộng rãi từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới Một số nhà khoa học tham gia chương trình khoa học - công nghệ cấp nhà nước mang mã số KX-07 do GS.TSKH Phạm Minh Hạc làm chủ nhiệm,
cho rằng nguồn nhân lực được hiểu là số dân và chất lượng con người, bao gồm
cả thể chất và tinh thần, sức khoẻ và trí tuệ, năng lực và phẩm chất Với cách
tiếp cận này, NNL được hiểu là sự tổng hòa số lượng và chất lượng NNL
Ngoài ra, theo Nguyễn Tấn Thịnh (Quản lý nhân lực trong doanh nghiệp,
2005) nhân lực được hiểu là toàn bộ các khả năng về thể lực và trí lực của con người được vận dụng ra trong quá trình lao động sản xuất Nó cũng được xem là sức lao động của con người - một nguồn lực quý giá nhất trong các yếu tố của sản xuất của các doanh nghiệp
Như vậy, tuy có những định nghĩa khác nhau tùy theo giác độ tiếp cận nghiên cứu nhưng điểm chung mà ta có thể dễ dàng nhận thấy qua các định nghĩa
trên là khi nói về NNL tức là nói về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực Trong
đó:
Số lượng nguồn nhân lực được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu quy mô và
tốc độ phát triển nguồn nhân lực
Chất lượng nhân lực là yếu tố tổng hợp của nhiều yếu tố bộ phận như trí
Trang 14lực, thể lực và nhân cách thẩm mỹ của người lao động
- Trí lực là năng lực của trí tuệ, là sức hiểu biết, trình độ hiểu biết, trình độ
chuyên môn, kỹ năng lao động, là mặt tiềm tàng của con người như tài năng, năng khiếu không chỉ do thiên bẩm mà còn phụ thuộc vào quá trình rèn luyện, phấn đấu, tu dưỡng của mỗi cá nhân
- Thể lực của con người bao gồm không chỉ sức khỏe cơ bắp, mà còn là sự dẻo
dai của hoạt động thần kinh, là sức mạnh của ý chí, là khả năng vận động của trí lực Thể lực là điều kiện tiên quyết để duy trì và phát triển trí tuệ, là phương tiện tất yếu để chuyển tải tri thức vào hoạt động thực tiễn để biến tri thức thành sức mạnh vật chất Do đó, sức mạnh trí tuệ chỉ có thể phát huy được lợi thế khi thể lực con người được phát triển Nói cách khác, trí tuệ là tài sản quý giá nhất trong mọi tài sản, nhưng chính sức khỏe là một tiền đề cần thiết để làm ra tài sản đó
- Nhân cách thẩm mỹ, quan điểm sống Những yếu tố này biểu hiện một loạt các
giá trị về người lao động như: đạo đức, tác phong, sự năng động, tính kỷ luật và tinh thần trách nhiệm trong công việc, khả năng hợp tác làm việc theo nhóm
Trong đó, đạo đức đóng vai trò quan trọng vì nó đem lại cho con người khả năng thực hiện tốt hơn các chức năng xã hội và nâng cao năng lực sáng tạo của họ trong hoạt động thực tiễn
Tóm lại, xét về tổng thể, NNL là tiềm năng lao động của con người trên các mặt số lượng, cơ cấu (ngành nghề và trình độ đào tạo, cơ cấu theo vùng miền, cơ cấu theo ngành kinh tế) và chất lượng, bao gồm phẩm chất và năng lực (trí lực, tâm lực, thể lực, kỹ năng nghề nghiệp) đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội trong phạm vi quốc gia, vùng lãnh thổ, địa phương hay ngành, và năng lực cạnh tranh trong phạm vi quốc gia và thị trường lao động quốc tế
Như vậy, khi nói đến NNL là nói đến sự kết hợp hài hòa giữa ba yếu tố trí
Trang 15lao động đến sự phát triển toàn diện
1.1.1.2 Khái niệm phát triển nguồn nhân lực
Cũng giống như khái niệm NNL, khái niệm phát triển NNL cũng được hiểu theo nhiều quan điểm khác nhau:
Theo ILO (International Labour Organization-Tổ chức Lao động quốc tế)
"phát triển nguồn nhân lực bao hàm không chỉ là sự chiếm lĩnh trình độ lành
nghề hoặc ngay cả vấn đề đào tạo nói chung mà còn là phát triển năng lực và sử dụng năng lực đó của con người để tiến tới có được việc làm hiệu quả, cũng như thỏa mãn nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân" Quan điểm này xem xét phát
triển NNL ở một phạm vi rộng Nó không chỉ ở phương diện trình độ lành nghề
mà là phát triển năng lực theo nghĩa đầy đủ cho người lao động Sự lành nghề theo họ là quá trình hoàn thiện nhằm bổ sung, nâng cao kiến thức trong quá trình sống và làm việc nhằm đáp ứng những kỳ vọng của con người
Theo McLean & McLean (2000), "Phát triển nguồn nhân lực là bất cứ quá
trình hay hoạt động nào nhằm phát triển những kiến thức làm việc cơ bản, sự tinh thông, năng suất, và sự hài lòng mà cần cho một đội, nhóm, cá nhân hoặc nhằm mang lại lợi ích cho một tổ chức, cộng đồng, quốc gia hay tóm lại là cần cho toàn nhân loại"
Theo Swanson and Holton III, (2001) "Phát triển nguồn nhân lực là một
quá trình phát triển và thúc đẩy sự tinh thông của con ng ười qua việc phát triển
tổ chức, đào tạo, và phát triển nhân sự nhằm cải thiện năng suất"
Theo GS.TSKH Nguyễn Minh Đường, "Phát triển nguồn nhân lực được
hiểu là gia tăng giá trị cho con người trên các mặt trí tuệ, kỹ năng lao động, thể lực, đạo đức, tâm hồn để họ có thể tham gia vào lực lượng lao động, làm giàu cho đất nước, góp phần cải tạo xã hội, cũng như phát huy truyền thống của dân tộc và góp phần tô điểm thêm bức tranh muôn màu của nhân loại Do
Trang 16vậy, phát triển nguồn nhân lực phải được tiến hành trên cả ba mặt: phát triển nhân cách, phát triển sinh thể, đồng thời tạo ra môi trường xã hội thuận lợi cho nguồn nhân lực phát triển"
Tóm lại, cho dù nhiều cách tiếp cận thì chung nhất phát triển NNL với nghĩa
là quá trình nâng cao năng lực xã hội và tính năng động xã hội của con người về mọi mặt (thể lực, trí lực và nhân cách thẩm mỹ, quan điểm sống) đồng thời phân
bố, sử dụng và phát huy có hiệu quả nhất năng lực đó để phát triển doanh nghiệp,
tổ chức, đất nước Đó là quá trình phát triển nguồn lực con người dưới dạng tiềm năng thành "vốn con người, vốn nhân lực"
Xét dưới góc độ kinh tế, quá trình này được mô tả như sự tích lũy vốn con
người và sự đầu tư vốn đó một cách hiệu quả vào sự phát triển của nền kinh tế
Xét dưới góc độ chính trị- xã hội, là quá trình tạo dựng một LLLĐ trung thành,
chấp hành nghiêm chỉnh các đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, đảm bảo
về số lượng và chất lượng đồng thời lực lượng này được sử dụng có hiệu quả nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội của Quốc gia, vùng lãnh thổ trong từng thời kỳ
Xét dưới góc độ cá nhân, phát triển NNL là nâng cao tri thức, sức khoẻ, kỹ
năng thực hành để tăng năng suất lao động dẫn đến tăng thu nhập và cải thiện chất lượng cuộc sống
Vì vậy, một cách tổng quát có thể hiểu, phát triển nguồn nhân lực là quá
trình tạo ra sự biến đổi về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực với việc nâng cao hiệu quả sử dụng chúng nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của vùng, của ngành hay của một doanh nghiệp
Nói một các khác, phát triển nguồn nhân lực là tổng thể các hình thức, phương
pháp, chính sách và biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao sức lao động xã hội nhằm đáp ứng đòi hỏi về nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội
Trang 17trong từng giai đoạn phát triển
1.1.1.3 Vai trò của nguồn nhân lực đối với hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
và đối với tăng trưởng kinh tế
Bắt đầu từ những năm 90 thế kỷ XX, triết lý kinh doanh đã có một sự thay đổi lớn từ quan niệm coi công nghệ là trung tâm chuyển sang coi con người là trung tâm, ưu tiên con người ở khía cạnh tri thức, trình độ chuyên môn và động
cơ lao động Các nguồn lực truyền thống của sản xuất và tăng trưởng như đất đai, tiền vốn, chính sách tài khóa và tiền tệ đang giảm dần tầm quan trọng trong khi vốn con người, tức là khả năng sáng tạo, phân phối và khai thác thông tin, kiến thức khoa học và công nghệ trở thành nhân tố so sánh lớn nhất quyết định sức mạnh cạnh tranh của mỗi quốc gia, mỗi doanh nghiệp trong thị trường toàn cầu Nếu xem xét vai trò NNL trong phạm vi hẹp là doanh nghiệp, theo GS.TS
Đỗ Văn Phức, nguồn nhân lực của doanh nghiệp là "đầu vào độc lập Đầu vào quyết định chất lượng, chi phí, thời hạn của các đầu vào khác; quyết định chất lượng, chi phí, thời hạn của các sản phẩm trung gian, sản phẩm bộ phận và sản phẩm đầu ra của doanh nghiệp" Điều này hoàn toàn được khẳng định bởi vì tất cả các hoạt động của doanh nghiệp do con người thực hiện và quay lại phục vụ cho con người
Các lý thuyết về tăng trưởng kinh tế gần đây cũng đã chỉ ra rằng động lực quan trọng nhất của sự tăng trưởng kinh tế bền vững chính là yếu tố con người, NNL Tuy nhiên các lý thuyết này cũng nhấn mạnh rằng: con người, NNL phải được đầu tư phát triển, tạo lập kỹ năng, kiến thức, tay nghề, kinh nghiệm, năng lực sáng tạo để trở thành "nguồn vốn - vốn con người, vốn nhân lực" Và như vậy người ta đã nhấn mạnh tầm quan trọng của phát triển NNL Đó chính là sự đầu tư cho con người thông qua các hoạt động giáo dục, đào tạo, dạy nghề, chăm sóc sức khoẻ, tạo việc làm, an sinh xã hội, nhằm phát triển thể lực, tri thức,
Trang 18khả năng nhận thức và tiếp thu kiến thức, tay nghề; tính năng động và sức sáng tạo của con người; cùng với việc phát huy bản sắc nền văn hoá, truyền thống lịch sử dân tộc để hun đúc thành bản lĩnh, ý chí của con người trong lao động
Đó chính là nguồn nội lực, là yếu tố nội sinh, nếu được phát huy và sử dụng có hiệu quả sẽ là động lực, nguồn sức mạnh để phục vụ cho chính con người, doanh nghiệp và xã hội
1.1.1.4 Các yếu tố tác dộng đến ngưồn nhân lực trong doanh nghiệp
- Nhóm yếu tố bên ngoài doanh nghiệp
Các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến quản lý NNL hay còn gọi là môi trường bên ngoài bao gồm các yếu tố như: Bối cảnh kinh tế, dân số và lực lượng lao động xã hội, luật lệ của nhà nước, văn hóa – xã hội, khoa học kỹ thuật, đối thủ cạnh tranh, khách hàng
+ Bối cảnh kinh tế
Chu kì kinh tế và chu kì kinh doanh ảnh hưởng rất lớn đến quản lý NNL Trong giai đoạn kinh tế phát triển, các doanh nghiệp có nhu cầu mở rộng sản xuất do vậy cần phát triển lao động mới, tăng cường công tác đào tạo, huấn luyện và bồi dưỡng cán bộ công nhân viên Hơn nữa việc mở rộng sản xuất này đòi hỏi doanh nghiệp phải tuyển thêm người có năng lực, trình độ buộc doanh nghiệp phải tăng lương, tăng phúc lợi, cải thiên điều kiện làm việc để thu hút nhân tài
Ngược lại, khi kinh tê suy thoái, bất ổn và có chiều hướng đi xuống đòi hỏi doanh nghiệp một mặt phải duy LLLĐ có tay nghề, mặt khác cần phải giảm chi phí lao động Doanh nghiệp phải cho nhân viên nghỉ tạm hoặc nghỉ hẳn, giảm phúc lợi Ở Việt Nam từ khi áp dụng chính sách mở cửa, nhu cầu phát triển nhiều, các Công ty xí nghiệp mới có chiều hướng gia tăng, để thu hút nhân lực,
Trang 19các Công ty đã đưa ra nhiều biện pháp như tăng lương, tăng phúc lợi… rõ ràng bối cảnh kinh tế có ảnh hưởng đến quản lý NNL của mỗi doanh nghiệp
+ Dân số và lực lượng lao động trong xã hội
Lực lượng lao động xã hội bao gồm những người có khả năng lao động, đang có hoặc chưa có việc làm Cơ cấu lao động được thể hiện qua tuổi tác, giới tính, trình độ dân trí, sự hiểu biết của các tầng lớp dân cư, trình độ học vấn và chuyên môn tay nghề cũng như các nguồn lao động bổ sung… số lượng và cơ cấu lao động xã hội ảnh hưởng trực tiếp đến số lượng, chất lượng và cơ cấu NNL trong doanh nghiệp
Nước ta đang trong quá trình chuyển đổi sang nền KTTT có sự điều tiết của nhà nước Nền kinh tế mới chỉ thoát khỏi lạc hậu chứ chưa phát triển mạnh
mẽ để trở thành một quốc gia công nghiệp Trong khi đó dân số phát triển rất nhanh, LLLĐ hàng năm cần việc làm ngày càng gia tăng Xét về mặt lượng, đây cũng là nguồn cung lao động dồi dào cho các doanh nghiệp quan tâm
+ Môi trường pháp lý
Môi trường pháp lý bao gồm các văn bản pháp luật có liên quan về vấn đề lao động, sử dụng lao động Đây là khung pháp lý cho các doanh nghiệp giải quyết tốt mối quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động, là tiền đề cho doanh nghiệp xây dựng tiêu chuẩn pháp lý khi hình thành, củng cố và phát triển NNL
+ Văn hóa – xã hội
Các truyền thống tập quán, thói quen, lễ nghi, các quy phạm tư tưởng và đạo đức… tạo nên lối sống văn hóa và môi trường hoạt động xã hội nói chung và người lao động trong doanh nghiệp nói riêng Trong một nền văn hóa xã hội có qua nhiều đẳng cấp, nấc thang giá trị xã hội không theo kịp đà phát triển của thời
Trang 20đại sẽ kìm hãm, không cung cấp nhân tài cho tổ chức Chính cung cách văn hóa
xã hội tạo ra bầu không khí văn hóa của DN
Sự thay đổi các giá trị văn hóa của một nước sẽ tạo ra các thử thách cho công tác quản lý NNL Nếu quản lý NNL tốt sẽ quyết định sự thành công của doanh nghiệp và ngược lại
+ Môi trường khoa học kỹ thuật
Sự tiến bộ của KHKT là yếu tố khách quan ảnh hưởng mạnh mẽ đến NNL, cho phép các doanh nghiệp lựa chọn chính sách sử dụng ít hay nhiều lao động, từ
đó ảnh hưởng đến quy mô, chất lượng và cơ cấu NLL
Chúng ta đang sống trong thời đại CNH – HĐH với sự bùng nổ của KHKT Để đủ sức cạnh tranh trên thị trường, các doanh nghiệp Việt Nam phải cải tiến KHKT, cải tiến thiết bị Sự thay đổi này ảnh hưởng mạnh mẽ đến NNL của tổ chức Các doanh nghiệp cần phải đào tạo, bồi dưỡng nhân viên của mình theo kịp với đà phát triển nhanh của KHKT hiện đại
KHKT thay đổi, một số công việc, kỹ năng không còn cần thiết nữa Do
đó doanh nghiệp một mặt phải đào tạo lại LLLĐ hiện tại của mình, tuyển mộ thêm nhưng người mới có năng lực, mặt khác cũng phải tinh giảm biên chế, sắp xếp lại lực lượng lao động dư thừa
Trang 21+ Khách hàng
Khách hàng là mục tiêu của mọi doanh nghiệp Các cấp quản lý phải đảm bảo rằng nhân viên của mình sản xuất ra mặt hàng phù hợp với nhu cầu và thị hiếu của khách hàng, đảm bảo chất lượng hàng hóa, dịch vụ Tiêu thu được sản phẩm, đảm bảo doanh số, lợi nhuận là yếu tố tối quan trọng đối với sự sống còn của một doanh nghiệp Vì vậy, nhà quản lý phải làm cho nhân viên của mình hiểu được rằng không có khách hàng thì không còn doanh nghiệp và họ không còn cơ hội làm việc
Để cho công nhân viên ý thức được điều đó, nhiệm vụ của các cấp quản lý nói riêng và của cả toàn thể doanh nghiệp nói chung là phải biết quản lý NNL một cách hiệu quả nhất
Nói tóm lại, các yếu tố bên ngoài kể trên có tác động rất lớn đến NNL của doanh nghiệp Sau khi nghiên cứu, xem xét các yếu tố bên ngoài các doanh nghiệp đề ra mục tiêu phát triển nguồn nhân lực cho mình từ đó làm cơ sở cho việc đề ra chiến lực sản xuất cho doanh nghiệp
- Nhóm yếu tố bên trong doanh nghiệp
Đó là các yếu tố bên trong nội bộ doanh nghiệp Các yếu tố bên trong chủ yếu gồm: Sứ mạng và mục tiêu của doanh nghiệp, chính sách và chiến lược của doanh nghiệp, bầu không khí làm việc của doanh nghiệp
+ Sứ mạng của doanh nghiệp
Mỗi doanh nghiệp đều có sứ mạng và mục tiêu riêng của mình Sứ mạng hay mục tiêu riêng của doanh nghiệp là các yêu tố bên trong ảnh hưởng đến các
bộ phận chuyên môn như sản xuất, kinh doanh, tài chính, marketing và quản lý NNL Trong thực tế, mỗi bộ phận phòng ban đều có mục tiêu riêng và nó được
đề ra dựa trên cơ sở sứ mạng và mục tiêu của doanh nghiệp
Trang 22Với những doanh nghiệp mà hoạt động sản xuất kinh doanh của họ mang nhiều rủi ro nhưng lợi nhuận cao thì sẽ cần thu hút được nhân lực có trình độ chuyên môn cao Vì vậy doanh nghiệp cần một môi trường làm việc tốt để nuôi dưỡng và thúc đẩy nhân viên phát huy sang kiến Doanh nghiệp phải đặt trọng tâm vào việc đào tạo huấn luyện nhân viên có kỹ năng, có khả năng tiếp cận KHKT ngày càng phát triển đồng thời phải có những chính sách lương, phúc lợi thích hợp để duy trì và thúc đẩy các nhân viên phát huy sáng kiến cao nhất để cống hiến cho công ty
Ngược lại với những doanh nghiệp có chiến lược sản xuất kinh doanh ít rủi ro hơn thì nhu cầu thu hút NNL có năng lực sáng tạo và chuyên môn cao thấp hơn Khi đó mọi quyết định được đưa ra hầu hết bởi cấp quản lý, công nhân viên không hoặc ít khi được khẳng định mình bởi những sáng kiến mới
+ Chính sách và chiến lược của doanh nghiệp
Các chính sách của doanh nghiệp thường tập trung vào việc giải quyết các vấn đề liên quan đến NNL… Các chính sách này có ảnh hưởng lớn đến hoạt động xử lý công việc của các cấp quản lý Ngày nay, khi bước sang hoạt động trong nên KTTT có sự điều tiết của nhà nước, hầu hết các doanh nghiệp đều có chính sách mở cửa cho phép cấp dưới phản ánh trực tiếp các vấn đề rắc rối lên các cấp cao hơn nếu không được cấp quản lý trực tiếp giải quyết thỏa đáng Điều này khiến các cấp quản lý buộc phải làm tốt các công việc của mình Như vậy, chính sách là kim chỉ nam hướng dẫn và có ảnh hưởng lớn đến công tác quản lý NNL
Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp là nhân tố quyết định đến thành công hay thất bại trong hoạt động SXKD của doanh nghiệp Việc thực hiện tốt các chiến lược kinh doanh chứng tỏ rằng công tác quản lý NNL được thực hiện một cách có hiệu quả Hơn nữa, căn cứ vào chiến lược kinh doanh đề ra mà các
Trang 23cấp quản lý xác định được nhu cầu cần phải đào tạo, bồi dưỡng kiến thức chuyên môn nghiệp vụ cho các bộ phận nhân lực để áp dụng yêu cầu công việc
+ Bầu không khí văn hóa của doanh nghiệp
Bầu không khí văn hóa của doanh nghiệp là một hệ thống các giá trị, các niềm tin và các thói quen được chia sẻ trong phạm vi một tổ chức, tác động vào cấu trúc chính quy đào tạo ra các chuẩn mực hành vi
Ở một doanh nghiệp mà bầu không khí văn hóa cởi mở, mối quan hệ giữa các cấp gần gũi, gắn bó, tin tưởng lẫn nhau sẽ tạo điều kiện tốt cho công tác phát triển NNL và ngược lại nội bộ tổ chức có sự chia cắt, mối quan hệ các cấp thiếu tính gắn bó và không có sự tin tưởng lẫn nhau thì sẽ kìm hãm việc phát triển nguồn nhân lực và tính sáng tạo, đột phá của công nhân viên
1.1.1.5 Vai trò của nguồn nhân lực đối với phát triển doanh nghiệp nói chung
và doanh nghiệp vừa và nhỏ nói riêng
Trong hệ thống nguồn lực cấu thành hệ thống kinh doanh của doanh nghiệp thì NNL là nguồn lực chủ yếu và đặc biệt
Xét về bản chất thì các quá trình kinh doanh và các quá trình quản trị đều
là quá trình lao động đó là quá trình người lao động sử dụng công cụ lao động tác động vào đối tượng lao động theo một số công nghẹ nào đó nhằm tạo ra sản phẩm có hướng đích Trong năm yếu tố cấu thành quá trình lao động chỉ có yếu
tố “người lao động” là chủ thể - làm chủ các yếu tố còn lại và làm chủ quá trình Các yếu tố khác là khách thể và bị động Chính kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, thái độ của người lao động là nhân tố quyết định năng suất, chất lượng và hiệu quả sử dụng các yếu tố khác của doanh nghiệp Cũng chính NNL là nhân tố quyết định trước tiến độ, chất lượng và hiệu quả của mọi quá trình kinh doanh và mọi quá trình quản trị của doanh nghiệp Nói một cách khác NNL là nhân tố chủ yếu quyết định năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
Trang 24NNL là nguồn lực đặc biệt Trong khi năng lực sản xuất của phần đa các nguồn lực khác bị giới hạn, thì năng lực sản xuất của NNL có khả năng khai thác
và phát huy tới vô hạn nếu được sử dụng hợp lý và được cung cấp đầy đủ điều kiện để làm việc Bởi lẽ, ngoài yếu tố thể chất và trí tuệ, bên trong con người còn
có yếu tố tinh thần và tâm lý Trí tuệ, tinh thần, tâm lý tạo nên năng lực tiềm tàng của con người
Đã có một thời nguồn lực tài chính được coi là lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất của doanh nghiệp, nhưng ngày nay khả năng huy động vốn với số lượng lớn trong dài hạn ngày càng thuận lợi và đơn giản hơn; đã có một thời kỹ thuật và công nghệ là vũ khí lợi hại trong cạnh tranh thì ngày nay trong xu thế toàn cầu hóa đối thủ cạnh tranh cũng dễ dàng tiếp cận KHKT, công nghệ mới cho dù có thể họ là những kẻ đến sau Trong thời đại kinh tế tri thức, cạnh tranh giữa các doanh nghiệp thể hiện ở sản phẩm, công nghệ, phương thức quản lý và tiếp thị Doanh nghiệp nào thu hút và giữ chân được nhân sự có trình độ cao, nắm được tri thức và biết sáng tạo thì doanh nghiệp đó chiếm thế chủ động trong cạnh tranh Chính vì vậy, các doanh nghiệp ở các nước đang phát triển quan niệm tiền lương, phúc lợi và chi phí dành cho đào tạo NNL là ba khoản lục đầu
tư chiến lược
1.1.2 Chất lượng nguồn nhân lực và phân loại nguồn nhân nhân lực
1.1.2.1 Chất lượng nguồn nhân lực
Chất lượng nhân lực là tổng hợp của nhiều yếu tố như: trí tuệ, trình độ chuyên môn, sự hiểu biết, đạo đức, kỹ năng, sức khoẻ, thẩm mỹ.v.v… của người lao động Trong các yếu tố trên thì trí tuệ và thể lực là hai yếu tố quan trọng
trong việc xem xét đánh giá chất lượng nguồn nhân lực
1.1.2.2 Phân loại nguồn nhân lực
+ Nguồn nhân lực có sẵn trong dân cư
Trang 25Bao gồm toàn bộ những người nằm trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, không kể đến trạng thái có làm việc hay không làm việc Theo liên hợp quốc, khái niệm này gọi là dân cư hoạt động, có nghĩa là những người có khả năng làm việc trong dân cư tính theo độ tuổi lao động quy định
Độ tuổi lao động là giới hạn về những điểu kiện cụ thể, tâm sinh lý xã hội, mà con người tham gia vào qua trình lao động Giới hạn độ tuổi lao động được quy định tuy thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội của từng nước và trong từng thời kỳ Giới hạn độ tuổi lao động ở nước ta hiện nay:
Theo Luật lao động mới số 10/2012/QH13 bắt đầu có hiệu lực kể từ ngày 01/05/2013 thì giới hạn về độ tuổi lao động được quy định như sau:
- Giới hạn dưới: Quy định số tuổi thanh niên bước vào độ tuổi lao động là 15 tuổi
- Giới hạn trên: quy đinh số tuổi về hưu, nam là 60 tuổi và nữ là 55 tuổi
Nguồn nhân lực có sẵn trong dân cư chiếm tỷ lệ tương đổi lớn trong dân số, thường từ 50% trở lên, tùy theo đặc điểm dân số và nhân lực từng nước
+ NNL tham gia vào hoạt động kinh tế: Đây là số người có công ăn việc làm, đang hoạt động trong các lĩnh vực sản xuất và kinh doanh của cải vật chất của xã hội
+ NNL hoạt động trong các cơ quan công quyền của nhà nước
+ NNL hoạt động trong hệ thống an ninh quốc phòng
Như vậy giữa NNL có sẵn trong dân số và NNL tham gia vào hoạt động kinh tế có sự khác nhau Sự khác nhau này là do một bộ phận trong độ tuổi lao động có khả năng lao động, nhưng vì nhiều nguyên nhân khác nhau, chưa tham gia vào hoạt động kinh tế (Thất nghiệp, có việc làm nhưng không muốn làm việc…)
Trang 26+ Nguồn nhân lực dự trữ
Các NNL dự trữ trong nền kinh tế bao gồm những người trong độ tuổi lao động, nhưng vì các lý do khác nhau, họ chưa có công việc làm ngoài xã hội Số người này đóng vai trò của một nguồn dự trữ về nhân lực, gồm có:
- Những người làm công việc nội trợ trong gia đình
- Những người tốt nghiệp ở các trường phổ thông và các trường chuyên nghiệp được coi là NNL dự trữ và có chất lượng
- Những người thất nghiệp không tự nguyện do những biến đổi của các trạng thái kinh tế
NNL đã đến tuổi lao động, tôt nghiệp trung học phổ thông, không có nhu cầu học tiếp và muốn tìm việc làm
NNL đã đến tuổi lao động, chưa học hết trung học phổ thông, không học tiếp
và muốn tìm việc làm
NNL ở độ tuổi lao động đã tốt nghiệp ở các trường chuyên nghiệp (trung cấp, cao đẳng, đại học) thuộc các chuyên môn khác nhau tìm việc làm
- Những người đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự
- Những người trong độ tuổi lao động đang thất nghiệp (có nghề hoặc không có nghề) muốn tìm việc làm, cũng là NNL dự trữ, sẵn sàng tham gia vào hoạt động kinh tế
1.2 Doanh nghiệp và doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.2.1 Khái niệm doanh nghiệp
Hiện nay trên phương diện lý thuyết có khá nhiều định nghĩa thế nào là một doanh nghiệp, mỗi định nghĩa đều mang trong nó một nội dung nhất định với một giá trị nhất định Điều ấy cũng là đương nhiên, vì rằng mỗi tác giả đứng trên nhiều quan điểm khác nhau khi tiếp cận doanh nghiệp để phát biểu Chẳng hạn:
Trang 27- Xét theo quan điểm luật pháp
Theo luật doanh nghiệp 2005 thì doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh
- Xét theo quan điểm phát triển
Doanh nghiệp là một cộng đồng người sản xuất ra những của cải Nó sinh ra, phát triển, có những thất bại, có những thành công, có lúc vượt qua những thời
kỳ nguy kịch và ngược lại có lúc phải ngừng sản xuất, đôi khi tiêu vong do gặp phải những khó khăn không vượt qua được " (trích từ sách " kinh tế doanh nghiệp của D.Larua.A Caillat - Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội 1992 )
- Xét theo quan điểm hệ thống
Doanh nghiệp được các tác giả nói trên xem rằng "doanh nghiệp bao gồm một tập hợp các bộ phận được tổ chức, có tác động qua lại và theo đuổi cùng một mục tiêu Các bộ phận tập hợp trong doanh nghiệp bao gồm 4 phân hệ sau: sản xuất, thương mại, tổ chức, nhân sự
Ngoài ra có thể liệt kê hàng loạt những định nghĩa khác nữa khi xem xét doanh nghiệp dưới những góc nhìn khác nhau Song giữa các định nghĩa về doanh nghiệp đều có những điểm chung nhất, nếu tổng hợp chúng lại với một tầm nhìn bao quát trên phương diện tổ chức quản lý là xuyên suốt từ khâu hình thành tổ chức, phát triển đến các mối quan hệ với môi trường, các chức năng và nội dung hoạt động của doanh nghiệp cho thấy đã là một doanh nghiệp nhất thiết phải được cấu thành bởi những yếu tố sau đây:
Trang 28+ Yếu tố tổ chức: một tập hợp các bộ phận chuyên môn hóa nhằm thực hiện các
chức năng quản lý như các bộ phận sản xuất, bộ phận thương mại, bộ phận hành chính
+ Yếu tố sản xuất: các nguồn lực lao động, vốn, vật tư, thông tin
+ Yếu tố trao đổi: những dịch vụ thương mại - mua các yếu tố đầu vào, bán sản
phẩm sao cho có lợi ở đầu ra
+ Yếu tố phân phối: thanh toán cho các yếu tố sản xuất, làm nghĩa vụ nhà nước,
trích lập quỹ và tính cho hoạt động tương lai của doanh nghiệp bằng khoản lợi nhuận thu được
- Định nghĩa doanh nghiệp
Từ cách nhìn nhận như trên có thể phát biểu về định nghĩa doanh nghiệp như sau: Doanh nghiệp là đơn vị kinh tế có tư cách pháp nhân, quy tụ các phương tiện tài chính, vật chất và con người nhằm thực hiện các hoạt động sản xuất, cung ứng, tiêu thụ sản phẩm hoặc dịch vụ, trên cơ sở tối đa hóa lợi ích của người tiêu dùng, thông qua đó tối đa hóa lợi ích của chủ sở hữu, đồng thời kết hợp một cách hợp lý các mục tiêu xã hội
+ Doanh nghiệp là một đơn vị tổ chức kinh doanh có tư cách pháp nhân:
Tư cách pháp nhân của một doanh nghiệp là điều kiện cơ bản quyết định
sự tồn tại của doanh nghiệp trong nền kinh tế quốc dân, nó do Nhà nước khẳng định và xác định Việc khẳng định tư cách pháp nhân của doanh nghiệp với tư cách là một thực thể kinh tế, một mặt nó được nhà nước bảo hộ với các hoạt động sản xuất kinh doanh, mặt khác nó phải có trách nhiệm đối với người tiêu dùng, nghĩa vụ đóng góp với nhà nước, trách nhiệm đối với xã hội Đòi hỏi
Trang 29doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm về nghĩa vụ tài chính trong việc thanh toán những khoản công nợ khi phá sản hay giải thể
+ Doanh nghiệp là một tổ chức sống trong một thể sống (nền kinh tế quốc dân) gắn liền với địa phương nơi nó tồn tại
+ Doanh nghiệp là một tổ chức sống vì lẽ nó có quá trình hình thành từ một ý chí
và bản lĩnh của người sáng lập (tư nhân, tập thể hay Nhà nước); quá trình phát triển thậm chí có khi tiêu vong, phá sản hoặc bị một doanh nghiệp khác thôn tính Vì vậy cuộc sống của doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào chất lượng quản
lý của những người tạo ra nó
+ Doanh nghiệp ra đời và tồn tại luôn luôn gắn liền với một vị trí của một địa phương nhất định, sự phát triển cũng như suy giảm của nó ảnh hưởng đến địa phương đó
1.2.2 Khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ
Theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP của Chính phủ: về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa thì doanh nghiệp nhỏ và vừa được định nghĩa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau:
Trang 30Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa
Số lao động
Tổng nguồn vốn
Số lao động
Tổng nguồn vốn
Số lao động
I Nông, lâm
nghiệp và thủy sản
10 người trở xuống
20 tỷ đồng trở xuống
từ trên 10 người đến 200 người
từ trên 20
tỷ đồng đến 100 tỷ đồng
từ trên 200 người đến
300 người
II Công nghiệp và
xây dựng
10 người trở xuống
20 tỷ đồng trở xuống
từ trên 10 người đến 200 người
từ trên 20
tỷ đồng đến 100 tỷ đồng
từ trên 200 người đến
300 người
III Thương mại và
dịch vụ
10 người trở xuống
10 tỷ đồng trở xuống
từ trên 10 người đến 50 người
từ trên 10
tỷ đồng đến 50 tỷ đồng
từ trên 50 người đến
100 người
1.2.3 Vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế quốc dân
Ở mỗi nền kinh tế quốc gia hay lãnh thổ, các doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể giữ những vai trò với mức độ khác nhau, song nhìn chung có một số vai trò tương đồng như sau:
Trang 31- Đóng góp vào tăng trưởng kinh tế và giải quyết việc làm: các doanh nghiệp nhỏ và vừa thường chiếm tỷ trọng lớn, thậm chí áp đảo trong tổng số doanh nghiệp (Ở Việt Nam chỉ xét các doanh nghiệp có đăng ký thì tỷ lệ này là trên 95%) Vì thế, đóng góp của họ vào tổng sản lượng và tạo việc làm là rất đáng
kể
- Giữ vai trò ổn định nền kinh tế: ở phần lớn các nền kinh tế, các doanh nghiệp nhỏ và vừa là những nhà thầu phụ cho các doanh nghiệp lớn Sự điều chỉnh hợp đồng thầu phụ tại các thời điểm cho phép nền kinh tế có được sự ổn định
Vì thế, doanh nghiệp nhỏ và vừa được ví là thanh giảm sốc cho nền kinh tế
- Làm cho nền kinh tế năng động: vì doanh nghiệp nhỏ và vừa có quy mô nhỏ, nên dễ điều chỉnh (xét về mặt lý thuyết) hoạt động
- Tạo nên ngành công nghiệp và dịch vụ phụ trợ quan trọng: doanh nghiệp nhỏ
và vừa thường chuyên môn hóa vào sản xuất một vài chi tiết được dùng để lắp ráp thành một sản phẩm hoàn chỉnh
- Là trụ cột của kinh tế địa phương: nếu như doanh nghiệp lớn thường đặt cơ sở
ở những trung tâm kinh tế của đất nước, thì doanh nghiệp nhỏ và vừa lại có mặt ở khắp các địa phương và là người đóng góp quan trọng vào thu ngân sách, vào sản lượng và tạo công ăn việc làm ở địa phương
Trang 32Các khái niệm, định nghĩa sẽ là cơ sở lý luận để chương hai đề tài đi sâu phân tích về hiện trạng NNL của các DNVVN trên địa bàn TX Hồng Lĩnh cũng như nguồn cung nhân lực trên địa bàn thị xã Hồng Lĩnh
Trang 33CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VỪA
VÀ NHỎ VÀ NGUỒN CUNG NHÂN LỰC TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ
Ngày 02/3/1992 Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ra Quyết định số
67/HĐBT thành lập TX Hồng Lĩnh thuộc tỉnh Hà Tĩnh, tại Điều 1 ghi rõ: "Nay
thành lập thị xã Hồng Lĩnh thuộc tỉnh Hà Tĩnh trên cơ sở: thị trấn Hồng Lĩnh;
xã Đức Thuận, xã Trung Lương; 29,02 ha diện tích tự nhiên với 389 nhân khẩu của xã Đức Thịnh thuộc huyện Đức Thọ; các xã Đậu Liêu và Thuận Lộc thuộc huyện Can Lộc
Sau khi phân vạch và điều chỉnh địa giới: Thị xã Hồng Lĩnh có 5.809,11 ha diện tích tự nhiên và 29.666 nhân khẩu
Địa giới thị xã Hồng Lĩnh: phía đông giáp huyện Nghi Xuân; phía tây giáp huyện Can Lộc và huyện Đức Thọ; phía nam giáp huyện Can Lộc; phía bắc giáp huyện Nghi Xuân và tỉnh Nghệ An"
Tiếp đó, ngày 11/3/1992, Bộ trưởng, Trưởng Ban Tổ chức- Cán bộ của Chính phủ ra Quyết định số 112-TCCP thành lập phường Bắc Hồng và phường Nam Hồng thuộc TX Hồng Lĩnh trên cơ sở điều chỉnh một số xã nội thị Sau khi phân vạch điều chỉnh địa giới hành chính Thị xã Hồng Lĩnh có 6 đơn vị hành chính phường, xã gồm: phường Bắc Hồng, Nam Hồng và các xã Đậu Liêu, Đức Thuận, Trung Lương, Thuận Lộc Ngày 19/01/2009 Thủ tướng Chính phủ ban hành
Trang 34Nghị định số 03-NĐ/CP về việc thành lập 3 phường mới trên cơ sở 3 xã Đậu Liêu, Đức Thuận, Trung Lương
Sau 20 năm xây dựng và phát triển, Đảng bộ và nhân dân Hồng Lĩnh đã phát huy truyền thống đoàn kết, sáng tạo, vượt qua mọi khó khăn, thách thức, xây dựng Thị xã ngày càng phát triển toàn diện Từ những ngày đầu với bao khó khăn, vất vả, đến nay Thị xã trở thành trung tâm kinh tế- văn hóa xã hội phía Bắc của tỉnh Hà Tĩnh Cơ sở hạ tầng không ngừng được củng cố và xây dựng, cảnh quan đô thị ngày một khang trang, kinh tế tiếp tục chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng thương mại, du lịch, dịch vụ với tốc độ tăng trưởng cao (14,13% năm), văn hóa- xã hội có bước phát triển mới, đời sống của nhân dân không ngừng được cải thiện về vật chất cũng như tinh thần, chính trị ổn định, quốc phòng- an ninh vững chắc
2.1.1.2 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên
- Vị trí địa lý: TX Hồng Lĩnh ở toạ độ 105,45 kinh độ đông - 18,32 vĩ độ bắc
nằm dưới chân dãy núi Hồng Lĩnh, cạnh sông Lam, là điểm nối 3 huyện Can Lộc, Nghi Xuân và Đức Thọ, nơi tiếp giáp giữa hai con đường huyết mạch của quốc gia là đường quốc lộ 1A nối liền Bắc - Nam và đường 8A với nước bạn Lào, để từ đây thông thương với các nước Đông Nam Á Tổng diện tích
tự nhiên của thị xã là 5.809,11 ha Hồng Lĩnh là trung tâm kinh tế, văn hoá -
xã hội phía Bắc tỉnh Hà Tĩnh
- Đặc điểm địa hình: Là Thị xã miền núi, có độ dốc từ Đông sang Tây, bao
gồm 3 dạng chính: Địa hình núi cao, địa hình thung lũng hẹp và một phần đồng bằng
+ Phần đồng bằng: nằm ở phí Tây dãy Hồng Lĩnh trải dài từ Bắc đến Nam với diện tích 2.447,45 ha chiếm 42,1% Đây là sản phẩm phù sa của sông La Độ cao trung bình 2m so với mặt nước biển, độ dốc nghiêng dần từ Đông sang Tây
Trang 35+ Phần đồi núi: Là một phần của dãy núi Hồng Lĩnh có đỉnh cao nhất 370m so với mặt nước biển Có 2 khối riêng biệt, dãy phía Đông giáp huyện Nghi Xuân
và Can Lộc, dãy phía Tây giáp huyện Nghi Xuân Độ dốc phần lớn trên 20o
Được cấu tạo bởi khối đá macma axit (granit) với diện tích 2188,84ha chiếm 37,8% Nhìn chung đây là dạng địa hình xón mòn mạnh nên phần lớn diện tích
có tầng mỏng ít phù hợp với cây trồng nông nghiệp, chủ yếu là phát triển rừng
+ Phần địa hình thung lũng hẹp: Chạy dọc theo quốc lộ 8B (đường 18 cũ) thuộc
phường Đậu Liêu, với diện tích 76,62ha chiếm 1,38%, có cao độ trung bình từ 12- 15m
- Khí hậu: TX Hồng Lĩnh thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, thời tiết mùa
đông lạnh do ảnh hưởng gió mùa Đông Bắc; mùa hè khô, nắng nóng do ảnh hưởng gió mùa Tây Nam
+ Mùa nóng: Thường bắt đầu từ tháng tư đến tháng 10, mùa này thường có gió
Tây Nam nhất là vào khoảng tháng 5 cho đến tháng 8 (còn gọi là gió Phơn hay gió Lào) gây oi bức, nóng nức, thời gian nóng trong ngày thường kéo dài từ 6h sáng cho đến 22h đêm, nhất là ở những ngày nhiệt độ cao cộng với sự tỏa nhiệt
về đêm của dãy núi Hồng Lĩnh nên ở vùng này nhiệt độ thường cao hơn so với các vùng phụ cần từ 1 đến 2oC Vào những ngày có gió Tây Nam nền nhiệt trung bình lên tới 37 – 390C, có những năm còn cao hơn Đây cũng là thời gian có mưa, bão nhất là từ tháng 8 đến tháng 10 TX Hồng Lĩnh nói chung đã được che chắn bởi một tấm lá chắn khổng lồ là dãy núi Hồng Lĩnh nên sức tàn phá của bão được hạn chế
+ Mùa lạnh: Bắt đầu từ khoảng tháng 11 đến tháng 3 năm sau, từ tháng 11 lượng
mưa tăng dần vì thế mà kéo theo nhiệt độ cũng giảm dần Vào khoảng tháng 12 đến đầu tháng giêng năm sau những đợt gió mùa Đông Bắc mạnh và thường xuyên cộng với mưa phùn tạo nên cái lạnh tê tái, có khi kéo dài hàng tháng với
Trang 36nhiệt độ xuống dưới 150
C Tuy nhiên, trong những năm gần đây thời tiết có những biến đổi bất thường gây khó khăn cho việc sản xuất của nhân dân
+ Nhiệt độ:
Tháng có nhiệt độ trung bình cao nhất là tháng 6: 31.1o
C Tháng có nhiệt độ trung bình thấp nhất là tháng 12: 19.4o
C Tháng có nhiệt độ thấp tuyệt đối là tháng 2: 11oC
Tháng có nhiệt độ cao tuyệt đối là tháng 7: 39.8o
+ Độ ẩm: Độ ẩm trung bình năm: 86%; độ ẩm trung bình tháng cao nhất: 90%;
độ ẩm trung bình tháng thấp nhất: 72% Lượng bốc hơi lớn nhất tập trung từ tháng 5 đến tháng 8 đây là những tháng ảnh hưởng của gió Lào Lượng bốc hơi nhỏ nhất từ tháng 1 đến tháng 3 vì thời gian này có gió mùa Đông Bắc đem hơi nước từ biển Đông gây ra mưa phùn Các yếu tố này đều bất lợi đối với cây trồng, trong các biện pháp canh tác thì người nông dân dùng biện pháp điều chỉnh thời vụ là hiệu quả nhất
- Đặc điểm thủy văn: TX Hồng Lĩnh chịu ảnh hưởng của chế độ thuỷ văn
Sông La, Sông Lam (thuộc hệ thống sông Cả) Sông La là nguồn cung cấp phù sa cho diện tích đất ngoài đê La Giang thuộc phường Trung Lương Phía tây bắc có kênh nhà Lê, kênh 19/5 nhập với sông Minh, nối với sông La với chiều dài hàng chục km, chủ yếu phục vụ nước tưới và tiêu nước của toàn Thị
Trang 37xã và vận tải đường sông bằng phương tiện thuyền bè qua lại qua cống Trung Lương đổ về sông Nghèn
Ngoài ra, TX Hồng Lĩnh còn có các dòng suối bắt nguồn từ núi Hồng Lĩnh chảy xuống các phường Trung Lương, Bắc Hồng, Đậu Liêu Đây là nguồn cung cấp nước tưới và phục vụ sinh hoạt Như vậy Hồng Lĩnh có hệ thống thủy lợi tương đối hoàn thiện, có đủ khả năng cung cấp nước cho trồng lúa, hệ thống kênh mương được bê tông hóa để sử dụng hiệu quả nguồn nước
- Tài nguyên thiên nhiên: Hồng Lĩnh có diện tích đất phù sa khá lớn để phục
vụ sản xuất nông nghiệp với 1798,4ha chiếm 30,76% diện tích tự nhiên Nguồn nước sạch đủ cung cấp cho sinh hoạt, tưới tiêu nông nghiệp toàn thị xã
và các vùng lân cận với 3 hồ lớn nằm trên núi Hồng Lĩnh là Hồ Thiên Tượng (Bắc Hồng) có diện tích mặt hồ hơn 100.000 m2 với dung tích 1 triệu
m3 nước; hồ Đá Bạc (Đậu Liêu) chứa 3 triệu m3 nước; hồ Khe Dọc (Trung Lương) với dung tích 800.000 m3 nước Với tổng dung tích ba hồ lên đến gần 5.000.000 m3 nước thì đến nay đã có 2 nhà máy nước sạch được xây dựng phục vụ cho hơn 90% dân số của Thị xã Có diện tích rừng phong phú, đặc biệt là diện tích rừng thông chiếm 50%, nay đã đến thời gian khai thác
Lợi thế của dãy núi Hồng Lĩnh với nguồn tài nguyên là Đá Granit nằm trên diện tích khoảng 400ha, đá xanh, cung cấp vật liệu xây dựng, hàng năm các doanh nghiệp khai thác và chế biến hành nghìn mét khối đá phục vụ nhu cầu xây dựng cho nhân dân Hồng Lĩnh và các vùng phụ cận
2.1.1.3 Đặc điểm dân số
Tính đến ngày đầu năm 2013, dân số của thị xã Hồng Lĩnh là 37.547 nhân khẩu, trong đó: