Để đạt được mục tiêu NTM, các xã đã hoạt động rất hăng hái và hàng năm thường có Báo cáo đánh giá tình hình triển khai thực hiện đề án NTM qua các năm và có định hướng cho năm tiếp theo;
Trang 1i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của tôi, có sự hỗ trợ
từ giáo viên hướng dẫn là PGS.TS.Nguyễn Văn Phúc Các nội dung nghiên cứu
và kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất
cứ công trình nghiên cứu nào trước đây Những số liệu trong đề tài phục vụ cho việc nhận xét, phân tích, đánh giá đã được chính tác giả thu nhập từ các nguồn khác nhau có ghi trong phần tài liệu tham khảo Ngoài ra, đề tài còn sử dụng một
số nhận xét, đánh giá cũng như số liệu của các tác giả, cơ quan tổ chức khác, và cũng được thể hiện trong phần tài liệu tham khảo
Nếu phát hiện có bất kì sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng, cũng như kết quả luận văn của mình
Hà Nội, ngày 19 tháng 5 năm 2014 Tác giả
Dương Thu Hương
Trang 2ii
LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS.Nguyễn Văn Phúc đã tận tình hướng dẫn và góp ý cho tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp này
Nhân đây, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến Quý thầy cô, những người đã tận tình truyền đạt kiến thức cho tôi trong suốt khóa học vừa qua
Những lời cảm ơn sau cùng tôi xin cảm ơn anh Trần Nhật Lam, Phó Chánh Văn phòng điều phối Trung ương Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới, đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập thông tin cũng như các số liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu, đã tạo điều kiện tốt nhất
để tôi hoàn thành được luận văn tốt nghiệp này
Hà Nội, ngày 19 tháng 5 năm 2014 Tác giả
Dương Thu Hương
Trang 3iii
MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: BẢN CHẤT, YÊU CẦU ĐỐI VỚI CÁC ĐỀ ÁN PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI 3
1.1.Bản chất của các đề án phát triển kinh tế - xã hội và vai trò của chúng 3
1.1.1 Bản chất của các đề án phát triển kinh tế - xã hội 3
1.1.2 Vai trò, vị trí của các đề án phát triển KTXH trong hệ thống các quy hoạch, kế hoạch phát triển KTXH 3
1.2 Những yêu cầu đối với các đề án phát triển kinh tế - xã hội 4
1.3 Phương pháp và trình tự lập đề án 5
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN ĐỀ ÁN XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở XÃ ĐÔNG SƠN, HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 7
2.1 Giới thiệu chung về đề án xây dựng nông thôn mới 7
2.1.1 Bản chất và nội dung của xây dựng NTM 7
2.1.2 Cơ sở của việc xây dựng đề án NTM 8
2.1.3 Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới 10
2.1.4 Đánh giá chung về tình hình triển khai thực hiện đề án xây dựng NTM ở Việt Nam trong thời gian qua 13
2.2 Thực trạng thực hiện đề án xây dựng NTM xã Đông Sơn, huyện Thủy Nguyên giai đoạn 2012 – 2015, định hướng đến năm 2020 18
2.2.1 Đánh giá hiện trạng và kết quả thực hiện đề án xây dựng NTM ở xã Đông Sơn, huyện Thủy Nguyên (Hải Phòng) 18
2.2.2 Đánh giá các chương trình, dự án đang thực hiện trên địa bàn xã 30
2.2.3 Đánh giá chung 32
2.3 Đánh giá việc thực hiện xây dựng đề án NTM ở xã Đông Sơn, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng 32
Trang 4iv
2.3.1 Đánh giá tính gắn kết giữa đề án xây dựng NTM xã Đông Sơn so với
QH tổng thể KTXH huyện Thủy Nguyên 32
2.3.2 Những vấn đề rút ra từ thực tiễn cần phải giải quyết 47
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH THỰC HIỆN ĐỀ ÁN XÂY DỰNG NTM Ở XÃ ĐÔNG SƠN, HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 50
3.1 Kiến nghị những giải pháp thực tiễn để hoàn thiện công tác xây dựng đề án NTM của xã Đông Sơn gắn với QH tổng thể phát triển KTXH của huyện Thủy Nguyên 50
3.1.1 Về phát triển hạ tầng KTXH 50
3.1.2 Về phát triển kinh tế và tổ chức sản xuất 52
3.1.3 Về văn hóa – xã hội, môi trường 52
3.2 Đề xuất một số giải pháp chung cho xây dựng NTM 53
3.2.1 Thay đổi tư duy tiêu chí 53
3.2.2 Tăng cường công tác truyền thông 54
3.2.3 Huy động nguồn lực từ cấp thôn, bản 55
3.2.4 Củng cố bộ máy tổ chức thực hiện từ Trung ương đến địa phương 56 3.2.5 Áp dụng hình thức khen thưởng 57
3.2.6 Một số vấn đề trọng tâm cần xem xét 57
KẾT LUẬN 61
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 63
Trang 5Quy hoạch Trung học cơ sở Văn hóa thể thao và du lịch Vật liệu xây dựng
Trang 6vi
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Hiện trạng đường giao thông 20
Bảng 3.2: Hiện trạng hệ thống công trình thủy lợi 21
Bảng 3.3: Hiện trạng và nhu cầu xây dựng trường học 23
Bảng 3.4: Hiện trạng cơ sở vật chất văn hóa 24
Bảng 3.5 : Dân số và cơ cấu lao động 26
Trang 71
MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Với Nghị quyết 26/ NQ- TW của Hội nghị BCH Trung ương lần thứ 7 (khóa X) của Đảng Cộng sản Việt Nam, lần đầu tiên Việt Nam có một văn kiện khẳng định phát triển nông nghiệp, và xây dựng nông thôn mới có vị trí chiến lược trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước Hoạt động xây dựng NTM trong thời gian vừa qua đã gặt hái được rất nhiều kết quả tích cực, nhưng cũng gặp phải không ít khó khăn Để đạt được mục tiêu NTM, các xã đã hoạt động rất hăng hái và hàng năm thường có Báo cáo đánh giá tình hình triển khai thực hiện
đề án NTM qua các năm và có định hướng cho năm tiếp theo; nhưng trong các Báo cáo đó xã lại ít quan tâm tới các chỉ tiêu đề ra trong QH của huyện xem có phù hợp hay không hoặc giữa những tiêu chí đạt được với chỉ tiêu trong QH của huyện có tính gắn kết với nhau hay không Vì vậy, có một nghiên cứu đánh giá tình hình triển khai xây dựng đề án NTM cấp xã để nhận dạng rõ thực trạng, kết quả, những ưu – nhược điểm và nguyên nhân của chúng để tìm cách đẩy nhanh quá trình thực hiện đề án trong những năm tới là cần thiết
Đối tượng và mục đích nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là đề án xây dựng NTM của xã Đông Sơn, huyện Thủy Nguyên (Hải Phòng) và tình hình thực hiện đề án trong những năm qua Ngoài ra, để làm rõ bối cảnh ra đời và thực hiện đề án, một số vấn đề
có liên quan trực tiếp cũng được xem xét ở mức độ khái quát
Mục đích nghiên cứu: Khóa luận nghiên cứu, đánh giá thực trạng và đề xuất bổ sung các giải pháp thực tiễn để hoàn thiện công tác xây dựng và thực hiện đề án NTM cấp xã trong mối quan hệ với QH tổng thể phát triển KTXH của huyện
[
Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi không gian: Phạm vi nghiên cứu của khóa luận được giới hạn ở địa bàn xã Đông Sơn, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng; đây là
Trang 8- Phạm vi nội dung: Khóa luận tiến hành rà soát nội dung của đề án và đánh giá chúng với 19 tiêu chí của Bộ tiêu chí Quốc gia về xây dựng NTM được triển khai trên địa bàn xã Đông Sơn, và QH tổng thể phát triển KTXH của huyện Thủy Nguyên Tuy nhiên, do thiếu thông tin nên 02 tiêu chí là “Hệ thống tổ chức chính trị xã hội vững mạnh” và “an ninh, trật tự
xã hội được giữ vững” sẽ không được đề cập trong phần (2.3) của khóa luận này
Phương pháp tiếp cận: Khóa luận được hoàn thành chủ yếu trên cơ sở thu thập
các thông tin thứ cấp, bao gồm các tập tài liệu, báo cáo đã có tại địa phương; các kết quả khảo sát đã được thực hiện; các tài liệu, báo cáo, văn bản chính sách liên quan; các báo cáo đã công bố thuộc chương trình MTQG xây dựng NTM Ngoài
ra, một số cán bộ có liên quan tới quá trình xây dựng và thực hiện đề án cũng được phỏng vấn để có thêm thông tin sơ cấp nhằm thẩm định lại những kết luận, nhận xét được rút ra từ việc nghiên cứu thông tin thứ cấp
Kết cấu của khóa luận
Đề cập tới những nội dung theo các mục đích nghiên cứu nêu trên, khóa luận này được chia thành ba chương:
Chương 1: Bản chất, yêu cầu đối với các đề án phát triển kinh tế - xã hội;
Chương 2: Thực trạng thực hiện đề án xây dựng NTM ở xã Đông Sơn, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng;
Chương 3: Giải pháp đẩy mạnh thực hiện đề án xây dựng NTM ở xã Đông Sơn, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng
Trang 93
CHƯƠNG 1: BẢN CHẤT, YÊU CẦU ĐỐI VỚI CÁC ĐỀ ÁN
PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI 1.1.Bản chất của các đề án phát triển kinh tế - xã hội và vai trò của chúng
1.1.1 Bản chất của các đề án phát triển kinh tế - xã hội
Đề án phát triển kinh tế - xã hội là một loạt các định hướng hành động được đưa ra và sắp xếp nhằm đạt được một kết quả cụ thể trong phạm vi nguồn lực cho phép của các đối tượng và có định hướng trong một khoảng thời gian cụ thể
Đề án có những đặc trưng cơ bản là:
- Có một hay một hệ thống các mục tiêu cụ thể, rõ ràng;
- Đối tượng được lập đề án sẽ được đánh giá chi tiết về tình hình phát triển trong thời gian vừa qua, để có thể định hướng được các hành động cần quan tâm trong giai đoạn tiếp theo;
- Đề án có thể có một hay một chuỗi các hoạt động được đưa ra để đạt được các mục tiêu ban đầu;
- Các đối tượng được đề án đề cập tới cần có được những phương án phát triển theo định hướng chung của đề án dựa trên nguồn lực sẵn có;
- Không bị ràng buộc về thời gian, các đề án thường mang tính định hướng dài hạn và chỉ khuyến khích các đối tượng tích cực tham gia, sớm hoàn thành mục tiêu của đề án;
- Tổ chức đề án là một bộ máy tạm thời của riêng đề án đó, sau khi kết thúc
kế hoạch dài hạn, kế hoạch ngắn hạn, các đề án, các dự án mục tiêu phát triển tổng thể kinh tế xã hội của đất nước, từng bước được cụ thể hóa; càng đi sâu đến
Trang 104
cấp cơ sở thì càng phải có các định hướng cụ thể, định hướng càng rõ ràng thì cán bộ cấp cơ sở càng dễ dàng trong khâu thực hiện và quản lý Có thể nói, các
đề án phát triển kinh tế - xã hội là một mắt xích vô cùng quan trọng, không thể thiếu trong mọi lĩnh vực phát triển kinh tế - xã hội; nó có vị trí như cầu nối giữa những định hướng phát triển từ cấp Trung ương đến địa phương, những mục tiêu chung, dài hạn; những vấn đề đang cần được quan tâm của Quốc gia sẽ được dần cụ thể hóa đến từng địa phương thông qua các đề án
Được xây dựng trong từng bối cảnh kinh tế - xã hội cụ thể, với những mục tiêu phát triển rõ ràng, tùy theo từng lĩnh vực mà mỗi đề án có một cơ sở pháp lý riêng và có tổ chức thực hiện chi tiết; từ đó mà từng địa phương các ban, ngành có thể dễ dàng thực hiện được những mục tiêu đề ra cho phát triển kinh tế
- xã hội; nhiều đề án nhỏ được đưa ra sẽ giúp từng bước cụ thể hóa các chiến lược phát triển lớn của Quốc gia đến từng tỉnh, thành phố; góp phần tạo nên sự phát triển kinh tế - xã hội xuyên suốt từ cấp Trung ương đến địa phương
1.2 Những yêu cầu đối với các đề án phát triển kinh tế - xã hội
Các đề án phát triển kinh tế - xã hội phải đáp ứng được những yêu cầu sau:
- Phải phù hợp chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Quốc gia, có tính định hướng cụ thể, rõ ràng;
- Đề án giúp định hướng phát triển nhiều lĩnh vực KTXH khác nhau vì vậy trong mỗi đề án phải nêu ra được tính cấp thiết phải xây dựng đề án đó; đề
án có thể định hướng phát triển một lĩnh vực mới, cũng có thể góp phần giải quyết một khía cạnh kinh tế - xã hội nào đó còn có nhiều thiếu sót, vướng mắc trong việc thực hiện hay quản lý trong các đề án trước đây;
- Tính nhất quán trong việc xây dựng đề án với định hướng phát triển đất nước sẽ được thể hiện dựa trên cơ sở pháp lý là các văn bản pháp luật, nghị định, thông tư có liên quan đến vấn đề mà đề án đang hướng tới; mỗi đề án phải nêu ra một cơ sở pháp lý rõ ràng, và tùy theo từng loại đề
án mà phải có một cơ sở thực tiễn phù hợp;
- Mỗi đề án phải có mỗi quan điểm, mục tiêu phát triển phù hợp với từng đối tượng và phạm vi nghiên cứu; mục tiêu của đề án cũng cần có các mục tiêu chung, mục tiêu cụ thể để các đơn vị dễ dàng định hướng thực hiện;
Trang 115
- Khi xây dựng đề án phát triển kinh tế - xã hội, phải xác định rõ bối cảnh tác động đến đối tượng, để có thể so sánh được sự khác biệt trong khoảng thời gian trước và sau khi có đề án;
- Trước khi xây dựng nên các nội dung cần thực hiện trong đề án phải tiến hành đánh giá thực trạng hiện có trên địa bàn xây dựng đề án, để thấy được xuất phát điểm của đối tượng như thế nào, từ đó xây dựng nên các nội dung phù hợp cần phải triển khai;
- Trong mỗi đề án phát triển KTXH thì phần tổ chức thực hiện cũng vô cùng quan trọng, nó giúp mỗi đơn vị hay cá nhân định hình được trách nhiệm của mình trong việc tham gia vào đề án góp phần phát triển đất nước Trong mỗi phần tổ chức thực hiện đề án cần có các nội dung cơ bản như: các giải pháp thực hiện đề án, phân công trách nhiệm thực hiện đề
án, tiến độ thực hiện và có thể có cả kinh phí thực hiện mô hình
- Để nhấn mạnh được tầm quan trọng của đề án với cộng đồng, thì cuối mỗi bản đề án cần đánh giá hoặc dự kiến được hiệu quả của đề án như: ý nghĩa thực tiễn của đề án, đối tượng được hưởng lợi từ đề án và những tồn tại, khó khăn khi thực hiện đề án
1.3 Phương pháp và trình tự lập đề án
Để có thể xây dựng một đề án, người ta thường thực hiện các bước công việc
cụ thể theo trình tự sau đây:
- Xác định rõ những mục tiêu, mục đích của đề án và chiến lược, đường lối chung để thực hiện đề án trong toàn bộ đề án;
- Cụ thể hoá các mục tiêu cần đạt thành những nhóm công việc- nhiệm vụ có liên quan với nhau, sao cho chúng có tính khép kín và độc lập nhất định, có được kết quả cụ thể có thể kiểm tra được;
- Xác định trình tự, thứ tự thực hiện các nhóm công việc, nhiệm vụ (mối quan
hệ giữa chúng về mặt thời gian) và mối quan hệ giữa chúng về mặt kinh tế-
kỹ thuật (quan hệ lô gíc nội tại giữa chúng trong đề án);
Trang 12- Kiểm tra, đánh giá chung đối với đề án
Trang 137
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN ĐỀ ÁN XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở XÃ ĐÔNG SƠN, HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ
HẢI PHÒNG 2.1 Giới thiệu chung về đề án xây dựng nông thôn mới
2.1.1 Bản chất và nội dung của xây dựng NTM
Xây dựng nông thôn mới là cuộc cách mạng và cuộc vận động lớn để cộng đồng dân cư ở nông thôn đồng lòng xây dựng thôn, xã, gia đình của mình khang trang, sạch đẹp; phát triển sản xuất toàn diện (nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ); có nếp sống văn hoá, môi trường và an ninh nông thôn được đảm bảo; thu nhập, đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng cao Xây dựng nông thôn mới là sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng, toàn dân, của cả hệ thống chính trị Nông thôn mới không chỉ là vấn đề kinh tế - xã hội, mà là vấn đề kinh
tế - chính trị tổng hợp Xây dựng nông thôn mới giúp cho nông dân có niềm tin, trở nên tích cực, chăm chỉ, đoàn kết giúp đỡ nhau xây dựng nông thôn phát triển giàu đẹp, dân chủ, văn minh
Việc xây dựng nông thôn mới được thực hiện theo 7 bước sau:
- Bước 1: Thành lập hệ thống quản lý, thực hiện
- Bước 2: Tổ chức thông tin, tuyên truyền về thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới (được thực hiện trong suốt quá trình triển khai thực hiện)
- Bước 3: Khảo sát đánh giá thực trạng nông thôn theo 19 tiêu chí của Bộ tiêu chí Quốc gia nông thôn mới
- Bước 4: Xây dựng quy hoạch nông thôn mới của xã
- Bước 5: Lập, phê duyệt đề án xây dựng nông thôn mới của xã
- Bước 6: Tổ chức thực hiện đề án
- Bước 7: Giám sát, đánh giá và báo cáo tình hình thực hiện chương trình
Trang 148
2.1.2 Cơ sở của việc xây dựng đề án NTM
Phát triển nông thôn dựa vào nguồn lực cộng đồng là phát hiện và phát huy các nguồn lực, những thế mạnh trong cộng đồng và chuyển giao quyền tự chủ cho cộng đồng nhằm động viên người dân tạo ra những thay đổi tích cực và
có ý nghĩa cho chính họ Một trong những nguyên lý phát triển là phát huy nội lực và nâng cao khả năng tự quản của cộng đồng Sự viện trợ của Nhà nước hay các tổ chức khác từ bên ngoài cộng đồng sẽ không phát huy hiệu quả nếu như người dân không suy nghĩ và tìm cách tự giúp chính mình
Sự phát triển không chỉ dừng lại ở việc xây dựng cuộc sống tốt đẹp hơn ở cấp độ hộ gia đình hoặc từng cá nhân đơn lẻ mà hướng đến cuộc sống chung của
cả cộng đồng Sự thịnh vượng ở đây không chỉ bó hẹp ở ý nghĩa vật chất, nó còn bao hàm cả ý nghĩa tinh thần và mang tính bền vững Khuyến khích người dân
tự hợp tác và giúp đỡ nhau là điểm mấu chốt để phát triển nông thôn Hợp tác phải dựa trên mong muốn phát triển chung cả cộng đồng, sự phát triển đó có được là nhờ nỗ lực của tập thể Trong giai đoạn hiện nay, kinh tế nước ta đang trong thời kì chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, người dân nông thôn đang gặp phải nhiều khó khăn, bất lợi:
- Thương nghiệp không công bằng, nông dân bị các doanh nghiệp tư thương bóc lột;
- Thu nhập của nông dân thấp hơn thu nhập của dân thành thị;
- Không đủ điều kiện để giảm nghèo;
- Nạn hàng giả làm cho nông dân bị thiệt thòi nhiều;
- Giá đất nông nghiệp đắt hơn đất phi nông nghiệp;
- Nông dân là bộ phận công dân ít được hưởng phúc lợi xã hội nhất;
- Chịu nguy hại của môi trường bị ô nhiễm;
- Quyền lợi của nông dân chưa được bảo vệ
Chính vì vậy, các cơ quan chính quyền địa phương có vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ phát triển nông thôn Liên hệ chặt chẽ giữa người dân nông thôn và các cơ quan quản lý sẽ thúc đẩy sự ảnh hưởng và tính thực tiễn của các sáng kiến phát triển Chính quyền địa phương phải chịu trách nhiệm trước tiên
Trang 159
và cao nhất trước người dân, điều này sẽ được thực hiện thông qua một xã hội dân sự mạnh và năng động Chính quyền địa phương hiệu quả là rất quan trọng trong việc huy động nguồn lực và khuyến khích đầu tư cho khu vực nông thôn Phân cấp tài chính, bao gồm cả các chính sách tài chính hiệu quả là một phần không thể thiếu trong quá trình tăng cường cho các cơ quan chính quyền địa phương Cung cấp tài chính cho phát triển nông thôn sẽ dựa vào khu vực tư nhân
và các hợp tác xã Tại khu vực này, đầu tư trực tiếp nước ngoài sẽ đóng một vai trò quan trọng không chỉ tăng nguồn tài chính mà còn giới thiệu công nghệ và kinh nghiệm quản lý mới
Với sự hỗ trợ của Nhà nước về vốn, xây dựng mô hình phát triển NTM không những hướng đến việc thay đổi bộ mặt của nông thôn mà còn đặt mục tiêu làm thay đổi tư duy, cách suy nghĩ thụ động, ỷ lại và phát huy tính sáng tạo, tinh thần trách nhiệm, tinh thần tương thân, tương trợ, tính cộng đồng, trong nhân dân, tiến tới thay đổi được nhận thức của người dân và tạo ra nhận thức mới về vai trò quan trọng của chính họ trong tiến trình phát triển nói chung và phát triển nông thôn nói riêng Như vậy, xây dựng mô hình NTM không đơn thuần là một kế hoạch hành động mà còn có ý nghĩa như là một cuộc cải tổ về ý thức trong nhân dân Mục tiêu của phát triển nông thôn không chỉ dừng lại ở việc thay đổi “bộ mặt” nông thôn, mà quan trọng hơn là thay đổi mức sống và lối sống của cư dân nông thôn, biết phát huy những thế mạnh của người dân cũng như huy động được nội lực trong cộng đồng, nhưng đồng thời cũng giữ gìn được bản sắc văn hóa
Phát triển nông thôn là tiến trình thay đổi có chủ đích, bằng sức mạnh nội tại và theo chiều hướng tích cực
Trước hết, phát triển nông thôn là một tiến trình có chủ đích Điều này có nghĩa là quá trình phát triển phải xuất phát từ ý nguyện và mong muốn của toàn
bộ nhân dân trong cộng đồng Những cộng đồng nghèo, thụ động, ỷ lại rất cần
sự tư vấn và hỗ trợ của các ban, ngành chức năng (chính quyền, đoàn thể) để phá
vỡ “sức ỳ” bên trong cộng đồng và khơi dậy ước muốn, nhu cầu tự phát triển Hay nói cách khác là cơ quan tư vấn và các cơ quan của địa phương cần có
Trang 16Phát triển là tiến trình thay đổi theo chiều hướng tích cực và có chủ đích Cộng đồng cần phải xây dựng các mục tiêu để phấn đấu trong từng giai đoạn Tầm nhìn của đa số cộng đồng hạn hẹp, mang tính cục bộ địa phương và ngắn hạn nên họ rất cần cơ quan tư vấn và các cơ quan chức năng cung cấp thông tin, kiến thức và giúp họ nâng cao kĩ năng tổng hợp, kĩ năng phân tích, kĩ năng tư duy để họ có thể xây dựng mục tiêu phù hợp với nguồn lực hiện tại và phù hợp với mục tiêu chung của xã, của huyện, của tỉnh và của quốc gia Sau đó, mục tiêu cần được cụ thể hóa thành những chỉ tiêu phấn đấu trong từng giai đoạn
2.1.3 Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới
Tiêu chí 1: Quy hoạch và thực hiện quy hoạch
- Quy hoạch sử dụng đất và hạ tầng thiết yếu cho phát triển sản xuất nông nghiệp, hàng hóa, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ;
- Quy hoạch phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội - môi trường theo chuẩn mới;
- Quy hoạch phát triển các khu dân cư mới và chỉnh trang các khu dân cư hiện
có theo hướng văn minh, bảo tồn được bản sắc văn hóa tốt đẹp
Tiêu chí 2: Giao thông
- Tỷ lệ km đường trục xã, liên xã được nhựa hóa hoặc bê tông hóa đạt chuẩn theo cấp kỹ thuật của Bộ GTVT;
Trang 1711
- Tỷ lệ km đường trục thôn, xóm được cứng hóa đạt chuẩn theo cấp kỹ thuật của Bộ GTVT;
- Tỷ lệ km đường ngõ, xóm sạch và không lầy lội vào mùa mưa;
- Tỷ lệ km đường trục chính nội đồng được cứng hóa, xe cơ giới đi lại thuận tiện
Tiêu chí 3: Thủy lợi
- Hệ thống thủy lợi cơ bản đáp ứng yêu cầu sản xuất và dân sinh;
- Tỷ lệ km kênh mương do xã quản lý được kiên cố hóa
Tiêu chí 4: Điện
- Hệ thống điện đảm bảo yêu cầu kỹ thuật của ngành điện;
- Tỷ lệ hộ sử dụng điện thường xuyên, an toàn từ các nguồn
Tiêu chí 5: Trường học
Tỷ lệ trường học các cấp: mầm non, mẫu giáo, tiểu học, THCS có cơ sở vật chất đạt chuẩn quốc gia
Tiêu chí 6: Cơ sở vật chất văn hóa a
- Nhà văn hóa và khu thể thao xã đạt chuẩn của Bộ VH-TT-DL;
- Tỷ lệ thôn có nhà văn hóa và khu thể thao thôn đạt quy định của Bộ
VH-TT-DL
Tiêu chí 7: Chợ nông thôn
Chợ đạt chuẩn của Bộ Xây dựng
Tiêu chí 8: Bưu điện
- Có điểm phục vụ bưu chính viễn thông;
Trang 1812
Tiêu chí 12: Cơ cấu lao động
Tỷ lệ lao động trong độ tuổi làm việc trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp Tiêu chí 13: Hình thức tổ chức sản xuất
Có tổ hợp tác hoặc hợp tác xã hoạt động có hiệu quả
Tiêu chí 14: Giáo dục
- Phổ biến giáo dục trung học;
- Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THCS được tiếp tục học trung học (phổ thông, bổ túc, học nghề);
- Tỷ lệ lao động qua đào tạo
Tiêu chí 15: Y tế
- Tỷ lệ người dân tham gia các hình thức bảo hiểm y tế;
- Y tế xã đạt chuẩn quốc gia
Tiêu chí 16: Văn hóa
Xã có từ 70% số thôn, bản trở lên đạt tiêu chuẩn làng văn hóa theo quy định của Bộ VH-TT-DL
Tiêu chí 17: Môi trường
- Tỷ lệ hộ được sử dụng nước sạch hợp vệ sinh theo quy chuẩn Quốc gia;
- Các cơ sở SX-KD đạt tiêu chuẩn về môi trường;
- Không có các hoạt động gây suy giảm môi trường và có các hoạt động phát triển môi trường xanh, sạch, đẹp;
- Nghĩa trang được xây dựng theo quy hoạch;
- Chất thải, nước thải được thu gom và xử lý theo quy định
Tiêu chí 18: Hệ thống tổ chức chính trị xã hội vững mạnh
- Cán bộ xã đạt chuẩn;
- Có đủ các tổ chức trong hệ thống chính trị cơ sở theo quy định;
- Đảng bộ, chính quyền xã đạt tiêu chuẩn "trong sạch, vững mạnh";
- Các tổ chức đoàn thể chính trị của xã đều đạt danh hiệu tiên tiến trở lên
Tiêu chí 19: An ninh, trật tự xã hội được giữ vững
An ninh, trật tự xã hội được giữ vững
Trang 1913
2.1.4 Đánh giá chung về tình hình triển khai thực hiện đề án xây dựng NTM
ở Việt Nam trong thời gian qua
2.1.4.1 Những kết quả tích cực
Qua hơn ba năm triển khai các hoạt động xây dựng NTM trên phạm vi
toàn quốc, với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, “nông thôn mới” đã trở thành một thuật ngữ quen thuộc khi nói về phát triển nông thôn ở
Việt Nam hiện nay Với hàng loạt các chính sách hỗ trợ xây dựng NTM được ban hành và triển khai, mặc dù còn nhiều vấn đề vướng mắc trong tổ chức thực hiện, song đã có những tác động tích cực, đem lại nhiều chuyển biến rõ nét ở khu vực nông thôn:
Thứ nhất, thay đổi quan trọng nhất là nâng cao nhận thức và vai trò làm chủ của người dân Cộng đồng dân cư đã nhận thức rõ tinh thần xây dựng NTM dựa vào nguồn lực cộng đồng, sẵn sàng góp công, góp của để cùng nhau xây dựng NTM Người dân được phát huy vai trò làm chủ, tham gia vào bàn bạc, lựa chọn kế hoạch phát triển và giám sát việc thực hiện kế hoạch đó So với trước đây, người dân thường có tâm lý thụ động, coi các chương trình phát triển dựa vào cộng đồng như các dự án đầu tư, thì hiện nay người dân nông thôn đã nhận thấy sự cần thiết phải tự chủ, chủ động, cạnh tranh, nắm bắt cơ hội, liên kết, hợp tác để cùng nhau phát triển KTXH của địa phương và của chính gia đình mình
Thứ hai, năng lực cán bộ cơ sở được tăng cường Chương trình thí điểm của Ban bí thư đã giúp cho 11 xã điểm được hưởng lợi từ nhiều nguồn lực đầu
tư Không chỉ có vậy, nhờ công tác thí điểm, những kinh nghiệm trong công tác
tổ chức, quản lý, chỉ đạo và thực hiện được đúc kết, làm bài học cho các địa phương khác trên cả nước học hỏi Năng lực cán bộ xây dựng NTM nhờ đó được nâng cao, cộng với hơn 700 lớp tập huấn cho hơn 50 nghìn lượt cán bộ cấp huyện, xã (Báo cáo sơ kết 3 năm của Văn phòng điều phối NTM Trung ương),
đã giải quyết những khó khăn, hạn chế mà cán bộ các xã điểm gặp phải Nhiều địa phương, cán bộ xã có sự năng động, sáng tạo, có cách làm hay trong xây dựng NTM
Trang 2014
Thứ ba, điều kiện hạ tầng KTXH được cải thiện rõ rệt Những chính sách
hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng từ nguồn ngân sách đầu tư phát triển thuộc chương trình NTM và các chương trình lồng ghép đã giúp thay đổi đáng kể bộ mặt nông thôn Mặc dù nguồn lực đầu tư còn hạn chế, song hầu hết các địa phương đều lựa chọn các công trình cần thiết và phù hợp với nguồn vốn được hỗ trợ và khả năng huy động nguồn lực từ cộng đồng Theo báo cáo của Văn phòng điều phối NTM Trung ương, năm 2012, mỗi xã đều có ít nhất một công trình hạ tầng mới, nhiều xã có 4 – 5 công trình, nổi bật là một số nội dung như kiên cố hóa kênh mương, đường giao thông nông thôn, xây dựng nhà văn hóa
Thứ tư, các hoạt động phát triển kinh tế nông thôn được tổ chức có hiệu quả hơn Các mô hình kinh tế hợp tác được củng cố, mô hình liên kết “bốn nhà” được thúc đẩy, công tác dồn điền đồi thửa và xây dựng cánh đồng mẫu lớn được triển khai trên diện rộng, nhiều làng nghề truyền thống được khôi phục và phát triển, nhiều sản phẩm nông nghiệp có thương hiệu và chỗ đứng trên thị trường, kinh tế nông thôn chuyển dịch theo hướng gia tăng tỷ trọng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ Trong vòng ba năm, các địa phương trên cả nước đã
hỗ trợ trên 1.600 tỷ đồng để thực hiện hơn 7 nghìn mô hình sản xuất
Thứ năm, các hoạt động văn hóa – xã hội, bảo vệ môi trường được duy trì, tình hình an ninh, trật tự xã hội được đảm bảo, hệ thống chính trị ở nông thôn được củng cố
2.1.4.2 Những vấn đề tồn tại trong việc thực hiện chương trình xây dựng NTM
ở Việt Nam
a - Tiêu chí NTM
Tiêu chí xây dựng NTM là vấn đề được các địa phương bàn đến nhiều nhất trong quá trình triển khai các nội dung xây dựng NTM Ban chỉ đạo Trung ương xác định rõ bộ tiêu chí NTM làm căn cứ đề các địa phương đặt ra các mục tiêu phấn đấu cụ thể, là thước đo để xác định tiến độ của chương trình, là công
cụ để các xã đánh giá hiện trạng, lập quy hoạch và đề án NTM Các tiêu chí có thể được điều chỉnh theo tình hình thực tế Về phía các địa phương, “tư duy tiêu chí” luôn luôn được đặt ra trong mọi hoạt động xây dựng NTM Có những xã dù
Trang 2115
điều kiện giao thông đáp ứng cơ bản nhu cầu đi lại, sản xuất, song so với tiêu chí lại chưa đạt, nên tiếp tục dồn nguồn vốn được hỗ trợ để làm đường nhằm đạt tiêu chí giao thông Trong khi đó, các nhu cầu khác cần thiết hơn, chẳng hạn như sửa sang phòng học, trạm y tế, lại không được đầu tư vì có đầu tư cũng chưa đáp ứng được yêu cầu của tiêu chí NTM Chính vì cách xây dựng NTM theo kiểu phấn đấu đạt được số lượng tiêu chí NTM mà thiếu quan tâm đến các nội dung cần ưu tiên, dẫn đến nhiều bất cập trong công tác triển khai ở các địa phương, nổi lên là vấn đề chạy đua thành tích (ví dụ: thành lập HTX, tổ hợp tác gọi là cho nó có chứ không hoạt động), huy động nguồn lực (ví dụ: bắt buộc người dân đóng góp số tiền lớn để làm đường), chuyển dịch cơ cấu (ví dụ: đào tạo nghề phi nông nghiệp không gắn với thực tiến địa phương)
Tháng 02/2013, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định sửa đổi 05 tiêu chí NTM Tuy nhiên, đến tận tháng 10/2013 mới có Thông tư hướng dẫn thực hiện Việc này đã làm chậm chễ việc xây dựng và phê duyệt đề án NTM vì các xã chưa được phê duyệt không biết áp dụng tiêu chí cũ hay mới để xây dựng
đề án
b - Công tác quy hoạch, xây dựng đề án NTM
Mặc dù báo cáo của Văn phòng điều phối NTM Trung ương cho biết cả nước đã có 83,5% số xã hoàn thành quy hoạch chung, nhưng vấn đề thường được bàn đến là chất lượng quy hoạch Để thực hiện yêu cầu của Thông tư liên tịch số 13 về các nội dung cần có trong bản quy hoạch xây dựng NTM, các xã nhất thiết phải thuê đơn vị tư vấn mới có thể làm được Tuy nhiên, số lượng đơn
vị tư vấn không đủ, năng lực các đơn vị tư vấn không đáp ứng, do đó chất lượng quy hoạch còn yếu
Tương tự, xây dựng đề án NTM phải chăng cũng là hình thức Có hai vấn
đề cần phân tích ở đây Một là, đề án được xây dựng dựa trên kết quả khảo sát, đánh giá hiện trạng xã theo 19 tiêu chí NTM Các kế hoạch đưa ra trong đề án,
dù là xã thuận lợi hay xã khó khăn, đều liệt kê các hoạt động và nguồn vốn cần
có để giải quyết các hiện trạng thiếu hụt nhằm đạt được mọi tiêu chí NTM Cách làm này giống với cách tiếp cận phát triển nông thôn dựa theo nhu cầu Trong
Trang 2216
điều kiện nhu cầu lớn còn nguồn lực từ bên ngoài hạn chế thì bản đề án NTM chỉ còn tác dụng là tạo nên một bộ khung các hoạt động cần quan tâm thực hiện trong tương lai Hai là, bối cảnh xây dựng NTM diễn ra trong điều kiện kinh tế suy thoái, ngân sách nhà nước hỗ trợ thấp hơn nhiều so với đòi hỏi mà bản đề án các xã đã xây dựng Vốn ít, các nội dung của đề án NTM không triển khai được, người dân đã phấn khởi tham gia ý kiến cho đề án, nay chưa thấy động tĩnh gì, lòng tin có phần suy giảm
c - Công tác ban hành và triển khai các chính sách
Các chính sách hỗ trợ xây dựng NTM thì có nhiều, tuy nhiên việc ban hành các văn bản hướng dẫn của các cơ quan Trung ương lại khá chậm chễ Ví
dụ như hướng dẫn tiêu chí NTM sửa đổi, Thông tư liên tịch số 13
Công tác triển khai chính sách cũng có nhiều vướng mắc Với các chính sách trực tiếp cho chương trình thì do nguồn vốn khó khăn nên nhiều hoạt động chưa được triển khai theo kế hoạch Với các chính sách gián tiếp thì gặp vấn đề như: nội dung chưa phù hợp (ví dụ: mức độ ưu đãi theo Nghị định 61 chưa tạo động lực cho doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn), có sự chồng chéo giữa các đơn vị triển khai (ví dụ: chồng chéo giữa Sở LĐTBXH với Sở NN&PTNT trong thực hiện đề án 1956 về đào tạo nghề cho lao động nông thôn), thiếu cơ chế thực hiện (ví dụ: Nghị định 41 thiếu cơ chế đảm bảo cho các ngân hàng khi cho vay tín chấp)
d - Ngân sách đầu tư
Theo báo cáo, trong ba năm 2011 – 2013, ngân sách trung ương đã hỗ trợ cho 59 tỉnh, thành cả nước gần 5 nghìn tỷ đồng Tính bình quân, mỗi tỉnh được cấp hơn 80 tỷ đồng trong ba năm để xây dựng NTM Trong khi đó, khai toán kinh phí một đề án NTM cấp xã ở mức thấp cũng đòi hỏi lên đến 150 tỷ đồng, thì thấy mức 80 tỷ đồng cấp cho một tỉnh trong ba năm chỉ là số tiền quá nhỏ so với nhu cầu Dù rằng còn các nguồn lực khác từ ngân sách địa phương, chương trình lồng ghép, doanh nghiệp, tín dụng và cộng đồng nhưng thực tế cho thấy những năm vừa qua xây dựng NTM chủ yếu dựa vào ngân sách nhà nước là
Trang 2317
chính Một báo cáo của Bộ NN&PTNT cho biết giai đoạn 2011 – 2015, nguồn lực có thể bố trí cho xây dựng NTM khoảng 12.000 tỷ đồng, chỉ đáp ứng được khoảng 11% nhu cầu xây dựng NTM Giả sử số vốn này chỉ tập trung cho 20%
số xã đặt mục tiêu hoàn thành chỉ tiêu NTM đến năm 2015 tại các tỉnh (thực tế nhiều địa phương chỉ ưu tiên vốn ngân sách trung ương cho xã điểm), thì mỗi xã được đầu tư khoảng 7 tỷ đồng
e - Công tác triển khai của địa phương
Cho đến tháng 12/2013, hệ thống bộ máy tổ chức chỉ đạo, điều hành ở các địa phương đều cơ bản hoàn thành Tuy nhiên, công tác triển khai, phối hợp còn tồn tại nhiều hạn chế, “vẫn còn tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào nguồn vốn hỗ trợ từ ngân sách trung ương, nóng vội trong chỉ đạo và tổ chức thực hiện” – theo đánh giá của Phó thủ tướng Vũ Văn Ninh Công tác đào tạo, nâng cao năng lực cho cán bộ huyện, xã, mặc dù đã được thực hiện nhưng chất lượng còn thấp Cán bộ chỉ biết các bước, các quy trình thực hiện và được tổ chức các buổi thăm quan
mô hình Trong khi đó, các kĩ năng thực hiện lại ít được tập huấn Hơn nữa, các cán bộ chủ yếu là kiêm nghiệm nên năng lực và thời gian tham gia xây dựng NTM có nhiều hạn chế Một vấn đề khác cũng cần xem xét là công tác lựa chọn
xã điểm đến năm 2015 Nhiều địa phương còn gặp nhiều khó khăn song vẫn đặt chỉ tiêu 20% số xã theo mục tiêu của Quyết định 800 Nhiều xã có xuất phát điểm rất thấp, chỉ đạt 1- 2 tiêu chí, nhưng cũng được lựa chọn làm xã điểm Ngoài ra, trong quá trình triển khai còn một loạt các vấn đề tồn tại như: sự tham gia của phía ngân hàng, doanh nghiệp, các cơ quan truyền thông cũng chưa thực
sự tích cực; sự phối hợp giữa các cơ quan địa phương chưa linh hoạt; các chương trình, dự án trên địa bàn chưa lồng ghép với xây dựng NTM; cách thức lựa chọn hoạt động ưu tiên ở các xã chưa phù hợp với nguồn lực sẵn có
g - Sự tham gia của cộng đồng
Một nguyên tắc trong xây dựng NTM là dựa vào nguồn lực cộng đồng
Để khơi dậy nguồn lực đó cần phải có những chính sách thúc đẩy sự tham gia Những đóng góp của cộng đồng trong thời gian qua (góp sức lao động, góp tiền, hiến đất, tham gia cuộc họp ) chẳng qua là để thực hiện một nội dung trước mắt
Trang 2418
nào đó Cách thức huy động như vậy thiếu sự bền vững, bởi những đóng góp của cộng đồng chủ yếu mang tính vật chất Nhiều cán bộ xã, thôn cho biết khả năng huy động từ nhân dân đã cạn kiệt, nhân dân đã phải đóng góp quá nhiều, muốn tiếp tục triển khai hoạt động nào đó thì chỉ có trông chờ vào sự hỗ trợ từ bên ngoài mà thôi
Nhìn chung, sơ kết ba năm triển khai xây dựng NTM đã cho thấy nhiều chuyển biến tích cực ở khu vực nông thôn, đồng thời cũng bộc lộ hàng loạt vấn
đề tồn tại Cuối năm 2012, cả nước mới có 0,4% số xã đạt 19 tiêu chí NTM, 3,2% số xã đạt từ 14 – 18 tiêu chí NTM (Báo cáo sơ kết 3 năm của Văn phòng điều phối NTM Trung ương) Trong bối cảnh kinh tế khó khăn, nguồn lực đầu tư
có hạn, năng lực và chất lượng cán bộ cơ sở còn hạn chế, thiếu cơ chế khuyến khích sự tham gia của cộng đồng, ngân hàng, doanh nghiệp câu hỏi được đặt
ra là liệu đến năm 2015 có thể đạt được mục tiêu xây dựng NTM hay không Tạm thời bỏ qua vấn đề tiêu chí và mục tiêu 20% số xã, vấn đề cần tập trung quan tâm hiện nay là củng cố và xây dựng các chính sách phù hợp, có tính bền vững, đảm bảo phát triển hài hòa giữa các vùng miền, đa dạng hóa ngành nghề nông thôn, thúc đẩy phát triển một nền nông nghiệp hiện đại, phát huy vai trò làm chủ của cộng đồng, nâng cao chất lượng đời sống vật chất và tinh thần cho người dân nông thôn
2.2 Thực trạng thực hiện đề án xây dựng NTM xã Đông Sơn, huyện Thủy Nguyên giai đoạn 2012 – 2015, định hướng đến năm 2020
2.2.1 Đánh giá hiện trạng và kết quả thực hiện đề án xây dựng NTM ở xã Đông Sơn, huyện Thủy Nguyên (Hải Phòng)
2.2.1.1 Quy hoạch
Tiêu chí số 1 – Quy hoạch và thực hiện theo quy hoạch
Trong quy hoạch và thực hiện quy hoạch của địa phương đã xác định cụ thể
kế hoạch sử dụng đất cho khu dân cư, phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại dịch vụ phù hợp với phát triển kinh tế xã hội của địa phương Tuy nhiên trong quá trình xây dựng và phát triển tổng thể về kinh tế -
Trang 2519
xã hội công tác quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu cần phải điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp, chính vì thế việc sử dụng đất một cách có hiệu quả, tiết kiệm tránh lãng phí đất là đòi hỏi cấp thiết Thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới và xuất phát từ vị trí, vai trò quan trọng của công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất Ủy ban nhân dân xã đã hợp đồng thuê đơn vị tư vấn Viện Quy hoạch và Thiết kế nông thôn -
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn lập quy hoạch tổng thể về: Quy hoạch
sử dụng đất và hạ tầng thiết yếu cho phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ Quy hoạch phát triển hạ tầng kinh tế
- xã hội - môi trường theo chuẩn mới Quy hoạch phát triển các khu dân cư mới và chỉnh trang các khu dân cư hiện có theo hướng văn minh, bảo tồn được bản sắc văn hoá tốt đẹp
So với tiêu chí: Cơ bản đạt tiêu chí
2.2.1.2 Hạ tầng kinh tế - xã hội
a - Tiêu chí số 2 - Giao thông
- Đường quốc lộ, tỉnh lộ:
+ Đường quốc lộ 10 đi qua với chiều dài 1,8km;
+ Đường liên tỉnh Hải Phòng - Hải Dương, đang triển khai thực hiện
Trang 2620
Từ đường QL10 qua thôn 5, thôn 4 đến ngã ba bia tưởng niệm xã, dài 512m, rộng 4,5m (mặt đường rộng 3m, lề đường 2 bên 2*0,75m), đường nhựa;
Đường từ Nhà văn hoá thôn 2, qua đường trục xã và khu Bảy Mẫu, đến khu đường Thự, dài 2,201km, rộng 4m (mặt đường rộng 2,5m, lề đường 2 bên 2*0,75m), Đường bê tông
+ Đường trục thôn và ngõ xóm: Tổng chiều dài 13,515km, cứng hoá
9,464km, đạt 70%, còn 4,051km là đường đất
+ Đường giao thông trục chính nội đồng: dài 8,241km Trong đó cứng hóa và
bê tông hóa 3,714/8,241km đạt 45% còn lại 4,527km là đường đất
Bảng 3.1: Hiện trạng đường giao thông
TT Loại đường
Hiện trạng năm 2011 Nhu cầu (km)
Tổng số
Đã được B.tông hóa, nhựa hóa
Tổng
số
Xây dựng mới
Nâng cấp
Tổng số 30,289 20,915 9,374 900 8,474
Chưa đạt so với yêu cầu của tiêu chí
b - Tiêu chí số 3 - Thủy lợi
Hệ thống kênh mương trên địa bàn xã có tổng chiều dài 21,772km Trong đó:
- Kênh cấp nguồn do Công ty TNHH MTV khai thác công trình thủy lợi huyện quản lý là: 1.150 km
- Kênh mương do xã quản lý là 20,622km, đã cứng hóa được 8,540km đạt 40,4% còn lại 12,082km là mương đất Cụ thể là:
+ Thôn 1 có chiều dài 2,753km Đã cứng hóa 516m, còn 2,237km chưa được cứng hóa
+ Thôn 2 có chiều dài 383m Đã cứng hóa đạt 100%
Trang 27- Trạm bơm Toàn xã có 4 trạm bơm, gồm:
+ Trạm bơm Trường Đảng, tại thôn 1, công suất 540m3/h;
+ Trạm bơm Cây Đề, tại thôn 3, công suất 1.200m3/h;
+ Trạm bơm Đồng Mễ, tại thôn 6, công suất 540m3/h;
+ Trạm bơm Trúc Sơn, tại thôn 7, công suất 1.140m3/h
Bảng 3.2: Hiện trạng hệ thống công trình thủy lợi
TT Hạng mục
Hiện trạng năm 2011 Nhu cầu
Tổng số
Đã kiên cố hóa hoặc đang hoạt động tốt
Tổng số Làm
mới
Nâng cấp
Trang 28Số giáo viên đạt chuẩn theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo đạt 100%
Chưa đạt so với yêu cầu của tiêu chí
- Trường Tiểu học
Tổng diện tích trường học là 5.803m2, trường được xây dựng gồm 2 dãy nhà 2 tầng (15 phòng học và 10 phòng chức năng), diện tích sân chơi trên 2.500m2, trường được trang bị tương đối đầy đủ cơ sở vật chất, các trang thiết bị dạy học, phục vụ tốt công tác dạy và học, đã đạt chuẩn quốc gia Tổng số có 21 giáo viên, trong đó: Số giáo viên đạt chuẩn theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo đạt 100%
Đạt so với yêu cầu của tiêu chí
- Trường Trung học cơ sở
Trường Trung học cơ sở, diện tích khuôn viên 4.407m2
; diện tích sân chơi, bãi tập: 2.000m2, trường được trang bị tương đối đầy đủ cơ sở vật chất, các trang thiết bị dạy học, phục vụ tốt công tác dạy và học, trường đã đạt chuẩn quốc gia Hiện tại, do nhu cầu và số học sinh tăng hàng năm, số phòng học ở khu nhà cấp
4 đã xuống cấp và một số trang thiết bị không đảm bảo nhu cầu học tập, cần đầu
tư xây dựng và mua sắm thiết bị dạy và học Tổng số giáo viên là 19 người, trong đó: Số giáo viên đạt chuẩn theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo đạt 100%
Chưa đạt so với yêu cầu của tiêu chí
Trang 292011
Nhu cầu Tổng
số
Trong đó Làm
mới
Nâng cấp
Trang 3024
e - Tiêu chí số 6 - Cơ sở vật chất văn hóa
- Trung tâm thể dục thể thao: có diện tích 14.300 m² tại thôn 3 gần trung tâm xã;
- Nhà văn hóa xã: Hiện tại, xã sinh hoạt văn hóa tại hội trường tầng 2 thuộc khối nhà hai tầng của UBND xã, được trang thiết bị âm li loa đài và các trang thiết bị cần thiết để phục vụ các hoạt động văn hóa xã
- Nhà văn hóa thôn: hiện tại tất cả các thôn đều có nhà văn hóa diện tích đất trung bình từ 275 m2 - 843m2, trong đó, diện tích đất để xây dựng của mỗi nhà văn hóa từ 60m2
- 80m2 và sân tập thể thao từ 200m2 - 300m2/sân Các nhà văn hóa cơ bản đáp ứng được nhu cầu sinh hoạt văn hóa của nhân dân
Bảng 3.4: Hiện trạng cơ sở vật chất văn hóa
Hiện trạng năm
2011
Nhu cầu Tổng
số
Trong đó Làm
mới
Nâng cấp
III Phổ cập giáo dục phổ thông % 100
Trang 3125
Đạt so với yêu cầu của tiêu chí
g - Tiêu chí số 7 - Chợ nông thôn
Chợ xã Đông Sơn nằm ở vị trí tại thôn 4, diện tích chợ 600m² bao gồm có các dãy quán bán hàng, kiốt, diện tích kinh doanh ngoài trời, diện tích đường đi Đảm bảo
và đáp ứng được nhu cầu trao đổi nông sản, sản phẩm hàng hóa của nhân dân Ngoài
ra, trên địa bàn xã còn có các cửa hàng dịch vụ của các hộ gia đình chuyên dịch vụ các ngành hàng thiết yếu trong đời sống hàng ngày tại địa phương
Đạt so với yêu cầu của tiêu chí
h - Tiêu chí số 8 - Bưu điện
Điểm bưu điện văn hóa xã phục vụ công tác dịch vụ bưu chính, truy cập internet Vị trí nằm cạnh UBND xã, diện tích 153m2(tiêu chuẩn nông thôn mới
> 150m 2 ) có 01 cán bộ phụ trách Trên địa bàn xã hiện có trên 600 máy cố định
và 150 hộ sử dụng dịch vụ Internet
Đạt so với yêu cầu của tiêu chí
k - Tiêu chí số 9 - Nhà ở dân cư nông thôn
- Nhà ở được xây dựng, cải tạo và nâng cấp khang trang, số nhà cấp 4 giảm dần, các hộ gần ven đường quốc lộ, đường trục chính xây dựng nhiều nhà từ 2 - 4 tầng, các công trình vệ sinh được xây dựng tự hoại và bán tự hoại đảm bảo vệ sinh môi trường;
- Xã không có nhà tạm, nhà dột nát, một số hộ chính sách, hộ nghèo có nhà xuống cấp thường xuyên được quan tâm tu sửa nâng cấp;
-Tỉ lệ hộ có nhà ở đạt tiêu chuẩn theo tiêu chuẩn Bộ xây dựng 1.598/1.756 hộ đạt trên 90% mẫu nhà xây dựng phù hợp với phong tục, tập quán sinh hoạt của nhân dân
Đạt so với yêu cầu của tiêu chí
Trang 3226
Chưa đạt so với yêu cầu của tiêu chí
b - Tiêu chí số 11 – Hộ nghèo
Số hộ nghèo toàn xã là 56/1.666 hộ chiếm gần 3,36%
Chưa đạt so với yêu cầu của tiêu chí
c - Tiêu chí số 12 - Cơ cấu lao động
Tổng số lao động trong độ tuổi 3.313 người Trong đó: Lao động nông nghiệp, thuỷ sản là 762 người = 23%; công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng là 1.723 người = 52%; dịch vụ là 828 người = 25%
Bảng 3.5 : Dân số và cơ cấu lao động
2 Dân số phân theo dân tộc
6 LĐ làm việc trong các ngành kinh tế 3.313 100
6.2 Công nghiệp - TTCN - XD Người 1.723 52
Đạt so với yêu cầu của tiêu chí
Trang 3327
d - Tiêu chí số 13- Hình thức tổ chức sản xuất
Tổng số 08 doanh nghiệp và công ty TNHH Số lao động làm việc trong các doanh nghiệp từ 5 đến 25 lao động Mức thu nhập bình quân 2,2-2,5triệu đồng/người/tháng Doanh thu bình quân 01 đơn vị sản xuất kinh doanh từ 1.800
- 1.900 triệu đồng trở lên
Hợp tác xã hoạt động sản xuất, kinh doanh theo Luật Hợp tác xã, cung cấp giống, vật tư phân bón, thuốc BVTV, các loại hình dịch vụ khác cho nông dân và thường xuyên tổ chức tập huấn, áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến trong đồng ruộng cho năng suất cao
Đạt so với yêu cầu của tiêu chí
2.2.1.4 Văn hóa – xã hội, môi trường
a - Tiêu chí số 14 - Giáo dục
- Đạt và duy trì được chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục Mầm non, Tiểu học, Trung học cơ sở, 100% trẻ đến độ tuổi được đi học Số trẻ 6 tuổi huy động học lớp 1 đạt 100% Tỷ lệ tốt nghiệp THCS hàng năm đạt 99,8%;
- Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THCS được tiếp tục học Trung học (phổ thông,
bổ túc, học nghề) đạt 100%;
- Tỉ lệ lao động qua đào tạo đạt 55%
Đạt so với yêu cầu của tiêu chí
Trang 3428
98%, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên hàng năm là 0,7% Công tác vệ sinh phòng bệnh, phòng dịch, các chương trình y tế quốc gia, dân số, gia đình và trẻ em thực hiện có hiệu quả
Đạt so với yêu cầu của tiêu chí
c - Tiêu chí số 16 - Văn hoá
Xã có 9 thôn được phân bố ở 2 làng, cả 2 làng đều đạt danh hiệu làng văn hóa Chính quyền địa phương quan tâm chỉ đạo làm tốt các hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử của địa phương Đặc điểm về văn hóa không gian làng quê truyền thống vẫn được duy trì, các không gian ở của thôn xóm đặc trưng cho vùng ĐBSH
Tỷ lệ bình xét gia đình văn hóa hàng năm đạt trên 85% Đồng thời chính quyền làm tốt các hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử của địa phương
Đạt so với yêu cầu của tiêu chí
d - Tiêu chí số 17 - Môi trường
Tổng số hộ sử dụng nước sạch và hợp vệ sinh đạt = 100% Địa phương quan tâm đầu tư xây dựng 2 hệ cấp nước tập trung, mỗi hệ cấp nước có quy mô 200m3/ngày/đêm do 02 hộ làm dịch vụ cung cấp nước sạch đáp ứng cho 95% hộ dân, số hộ còn lại sử dụng bể nước mưa; số hộ sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh trên toàn xã đạt trên 90%;
Số doanh nghiệp và công ty TNHH đang hoạt động kinh doanh trên địa bàn chưa đảm bảo về tiêu chuẩn môi trường;
Xã có 2 nghĩa trang, được bố trí ở 2 làng văn hoá và xa khu dân cư, được quy hoạch sử dụng và xây dựng theo quy định của huyện và thành phố, có người quản lý bảo vệ, bảo đảm cảnh quan và vệ sinh môi trường;
Rác thải công nghiệp, sinh hoạt và nước thải chưa được thu gom và sử lý theo quy định
Chưa đạt theo yêu cầu của tiêu chí