Không chỉ huy động được nguồn vốn lớn từ bên ngoài mà qua thu hút FDI giúp tiếp nhận công nghệ, kinh nghiệm quản lý tiên tiến, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng năng lực sản xuất
Trang 1VÀO CÁC KHU CÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM
Giáo viên hướng dẫn : TS Trần Quang Thắng Sinh viên thực hiện : Hà Thị Hạnh Loan
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp này là công trình nghiên cứu của riêng
em, được hoàn thành dựa trên sự giúp đỡ của giáo viên hướng dẫn và đơn vị thực tập Các số liệu sử dụng để phục vụ cho các nhận xét, đánh giá đều chân thực Em không sao chép từ tài liệu nào khác Nếu vi phạm, em xin chịu hoàn toàn trách nhiệm trước hội đồng kỷ luật của Học viện
Sinh viên
Hà Thị Hạnh Loan
Trang 3MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 LÝ LUậN CHUNG Về FDI VÀ THU HÚT FDI VÀO KHU CÔNG NGHIệP 4
1.1 Tổng quan về FDI 4
1.1.1 Khái niệm FDI 4
1.1.2 Đặc điểm của FDI 5
1.1.3 Các hình thức của FDI 6
1.1.4 Tác động của FDI đối với nước tiếp nhận 8
1.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến thu hút FDI 11
1.2 Khu công nghiệp và sự cần thiết phải thu hút FDI vào Khu công nghiệp 14
1.2.1 Lý luận chung về Khu công nghiệp (KCN) 14
1.2.2 Sự cần thiết phải thu hút FDI vào KCN 16
1.2.3 Kinh nghiệm thu hút FDI của một số nước trong khu vực và bài học cho Việt Nam 18
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THU HÚT FDI VÀO CÁC KHU CÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM TỪ NĂM 1995 ĐẾN NĂM 2013 22
2.1 Quá trình hình thành và phát triển của các KCN ở Việt Nam 22
2.1.1 Bối cảnh ra đời KCN ở Việt Nam 22
2.1.2 Tổng quan về các KCN ở các vùng kinh tế trọng điểm 22
2.2 Phân tích thực trạng chất lượng thu hút FDI vào các KCN ở Việt Nam 27
2.2.1 Nội dung hoạt động thu hút FDI vào các KCN của Việt Nam 27
2.2.2 Tình hình thu hút FDI vào các KCN Việt Nam thời gian qua 48
2.3 Đánh giá tình hình thu hút FDI vào các KCN ở Việt Nam 53
2.3.1 Những thành tựu đạt được 53
2.3.2 Những tồn tại trong thu hút FDI vào KCN Việt Nam 56
2.3.2.1 Hiệu quả tổng thể nguồn vốn FDI thu hút vào KCN chưa cao 56
2.3.2.2 Mục tiêu thu hút công nghệ (công nghệ cao và công nghệ nguồn), CGCN chưa đạt được 58
2.3.2.3 Những vấn đề bất cập về môi trường, xã hội trong KCN 59
2.3.3 Nguyên nhân của những tồn tại 61
2.3.3.1 Định hướng thu hút FDI vào các KCN còn chưa chú trọng nhiều vào chất lượng của dự án FDI 61
Trang 42.3.3.2 Hệ thống luật pháp chính sách và thủ tục đầu tư chưa đồng bộ, thiếu
nhất quán và hay thay đổi 61
2.3.3.3 Hệ thống kết cấu hạ tầng, nguồn nhân lực và sự phát triển của doanh nghiệp Việt Nam chưa đáp ứng yêu cầu thực tế 61
2.3.3.4 Công tác thẩm định công nghệ chưa được quan tâm đúng mức 62
2.3.3.5 Công tác quy hoạch, phân cấp quản lý FDI và quản lý nhà nước về XTĐT còn nhiều hạn chế 63
2.3.3.6 Một số nguyên nhân khác 64
CHƯƠNG 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THU HÚT FDI VÀO CÁC KCN Ở VIỆT NAM 65
3.1 Định hướng phát triển các KCN ở Việt Nam và thu hút FDI vào các KCN ở Việt Nam đến năm 2020 65
3.1.1 Định hướng phát triển các KCN ở Việt Nam đến năm 2020 65
3.1.1.1 Mục tiêu phát triển các KCN ở Việt Nam giai đoan 2016 – 2020 65
3.1.1.2 Quan điểm phát triển KCN Việt Nam 66
3.1.1.3 Định hướng phát triển KCN Việt Nam 67
3.1.2 Định hướng thu hút FDI vào các KCN Việt Nam trong thời gian tới 67
3.3 Một số giải pháp nâng cao chất lượng thu hút vốn FDI vào các KCN ở Việt Nam 69
3.3.1 Giải pháp về phía Chính phủ 69
3.3.1.1 Xây dựng chiến lược phát triển KCN, chiến lược FDI tổng thể quốc gia và xây dựng quy hoạch thu hút và sử dụng FDI 69
3.3.1.2 Nâng cao chất lượng công tác quy hoạch KCN 70
3.3.1.3 Hoàn thiện hệ thống luật pháp, chính sách về thu hút FDI vào KCN 72 3.3.1.4 Điều chỉnh một số nguyên tắc quản lý và phân cấp đầu tư 75
3.3.1.5 Xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng KCN 77
3.3.1.6 Đẩy mạnh hoạt động xúc tiến đầu tư 78
3.3.1.7 Hoàn thiện các quy định về khoa học công nghệ 80
3.3.1.8 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 81
3.3.1.9 Một số giải pháp khác 82
3.3.2 Giải pháp đối với địa phương có KCN 83
3.3.3 Giải pháp về phía các doanh nghiệp Việt Nam 84
KẾT LUẬN 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
Trang 5DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Hợp đồng hợp tác kinh
doanh
chuyển giao
– kinh doanh
Trang 615 KCNC Khu công nghệ cao
Trade and Development
Hội nghị Liên hợp quốc
về Thương mại và Phát
triển
Industrial Park
Khu công nghiệp Việt Nam – Singapore
giới
Trang 86 Bảng 2.6 Tình hình xây dựng và phát triển KCN giai
3
Biểu đồ 2.2 Cơ cấu vốn đầu tƣ FDI theo ngành trong các KCN
Việt Nam (lũy kế các dự án còn hiệu lực đến tháng 12 năm
2013)
49
Trang 9LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một tất yếu khách quan trong xu thế toàn cầu hóa, khu vực hóa hiện nay Trong những năm gần đây dòng vốn FDI có
xu hướng chuyển dịch từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển, đặc biệt
là các nước Châu Á Bên cạnh những tác động tích cực mà FDI mang lại cho nước tiếp nhận cũng còn tồn tại một số tác động tiêu cực Điều này đặt ra yêu cầu cho các nước thu hút FDI phải phát huy những tác động tích cực và hạn chế những tác động tiêu cực một cách có hiệu quả nhất
Việt Nam cũng không nằm ngoài tất yếu khách quan đó Sau 27 năm kể từ khi Việt Nam lần đầu tiên ban hành Luật Đầu tư nước ngoài, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã thể hiện vai trò tích cực trong sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước Với mục tiêu hàng đầu của các Khu công nghiệp, Khu chế xuất, Khu kinh tế là thu hút vốn đầu tư, đặc biệt là vốn FDI Việc thu hút FDI vào các Khu công nghiệp Việt Nam là một trong những nhiệm vụ quan trọng để phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phấn đấu đến năm 2020 đưa Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại
Hơn 20 năm xây dựng và phát triển các Khu công nghiệp, Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng Không chỉ huy động được nguồn vốn lớn từ bên ngoài mà qua thu hút FDI giúp tiếp nhận công nghệ, kinh nghiệm quản lý tiên tiến, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng năng lực sản xuất, khai thác thị trường quốc tế, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao… từng bước cải tạo lực lượng sản xuất, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Tuy nhiên, thu hút FDI vào các Khu công nghiệp thời gian qua chưa đạt được một số mục tiêu như
kỳ vọng Tỷ lệ các dự án công nghệ cao còn thấp, giá trị gia tăng được tạo ra còn chưa cao, các dự án có quy mô thu hút được phần lớn có quy mô nhỏ,… Hoạt động xúc tiến đầu tư tuy đã được quan tâm nhưng chưa thực sự có hiệu quả, cơ chế chính sách vẫn còn nhiều khó khăn, vướng mắc Yêu cầu đặt ra trong những năm tiếp theo
là phải nâng cao hơn nữa chất lượng thu hút nguồn vốn FDI vào các Khu công
nghiệp Do đó, đề tài “Nâng cao chất lượng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài vào các Khu công nghiệp ở Việt Nam” được chọn để nghiên cứu
Trang 102 Đối tượng, mục đích và phạm vi nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: Qua việc phân tích thực trạng thu hút FDI từ năm
1995 – mốc thời điểm đánh dấu những kết quả bước đầu trong hoạt động thu hút FDI vào các Khu công nghiệp cho đến năm 2013, đề tài đánh giá những thành tựu đạt được đồng thời chỉ ra những tồn tại và nguyên nhân của những tồn tại trong thu hút FDI vào các Khu công nghiệp ở Việt Nam Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng và khuyến nghị một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thu hút vốn FDI vào các Khu công nghiệp ở Việt Nam
Đối tượng nghiên cứu: hoạt động thu hút FDI vào các KCN ở Việt Nam Phạm vi nghiên cứu: các dự án FDI vào các KCN ở Việt Nam trên địa bàn
cả nước trong khoảng thời gian từ năm 1995 đến năm 2013
3 Phương pháp nghiên cứu
Thu thập thông tin, số liệu: thu thập các thông tin, số liệu đã được công bố
chính thức trên các văn bản của Chính phủ, các Bộ, ngành, địa phương, cũng như thông tin, số liệu trên các Tạp chí, trang web
Phương pháp thống kê: từ việc thu thập thông tin, số liệu, qua việc xử lý,
mô tả các dữ liệu để tính toán được các con số đặc trưng đo lường Qua những thống kê mô tả đó, có thể đưa ra những thống kê suy diễn qua việc ước lượng, dự đoán qua những thông tin thu được từ mẫu thống kê
Phương pháp tổng hợp: tổng hợp từ những thông tin, số liệu đã được thu
thập để thấy được con số tuyệt đối
Phương pháp phân tích: từ những số liệu đã được tổng hợp, phương pháp
phân tích được sử dụng để thấy được sự đóng góp của từng yếu tố riêng rẽ đến kết quả thu được
Phương pháp so sánh: so sánh giữa các năm, giai đoạn; giữa các khu vực
địa lý; giữa các lĩnh vực trong nền kinh tế…
Phương pháp chuyên gia: ngoài các phương pháp trên luận văn còn sử dụng
ý kiến chuyên gia
4 Kết cấu của khóa luận tốt nghiệp
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo, nội dung của khóa luận tốt nghiệp được kết cấu thành ba chương:
Trang 11Chương 1 Lý luận chung về FDI và thu hút FDI vào Khu công nghiệp
Chương 2 Thực trạng thu hút FDI vào Khu công nghiệp ở Việt Nam từ năm
1995 đến năm 2013
Chương 3 Định hướng và một số giải pháp nâng cao chất lượng thu hút FDI
vào Khu công nghiệp ở Việt Nam
Trang 12CHƯƠNG 1 LÝ LUậN CHUNG Về FDI VÀ THU HÚT FDI VÀO KHU
CÔNG NGHIệP 1.1 Tổng quan về FDI
1.1.1 Khái niệm FDI
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một đề tài có không ít các học giả, các
tổ chức nghiên cứu, do đó cũng có những định nghĩa khác nhau về FDI
Tổ chức thương mại thế giới (WTO) đưa ra khái niệm: FDI xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó Phương diện quản lý là thứ
để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác
Theo Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) thì FDI được hiểu là nguồn vốn được đầu tư trực tiếp nhằm đạt được những lợi ích mang tính dài hạn trong một đơn vị kinh doanh hoạt động trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác nền kinh tế nước chủ đầu
tư Mục đích của chủ đầu tư là giành quyền quản lý và chi phối doanh nghiệp đó
Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD) cũng đưa
ra một định nghĩa về FDI Theo đó, FDI là hoạt động đầu tư có mối quan hệ dài hạn, phản ánh lợi ích và sự kiểm soát lâu dài của nhà đầu tư nước ngoài (NĐTNN) hoặc công ty mẹ đối với doanh nghiệp của mình ở một nền văn hóa khác
Hai khái niệm mà IMF và UNCTAD chỉ ra rằng hoạt động FDI gắn liền với mục đích lợi nhuận và quyền kiểm soát của NĐTNN
Luật Đầu tư số 59/2005/QH11 do Quốc hội ban hành ngày 29/11/2005 và có hiệu lực thi hành vào ngày 01/07/2006 quy định “Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu
tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư” và “Đầu tư nước ngoài là NĐTNN đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành kinh doanh theo Luật Đầu tư” Trong đó, NĐTNN là tổ chức kinh
tế, cá nhân đầu tư vào Việt Nam
Từ các góc độ nhìn nhận khác nhau , các nhà kinh tế đã đưa ra rất nhiều định nghĩa về FDI, nhưng định nghĩa khái quát nhất về FDI có thể hiểu như sau:
“Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại một quốc gia là việc nhà đầu tư ở một
nước khác đưa vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào vào quốc gia đó để có được quyền sở hữu và quản lý hoặc quyền kiểm soát một thực thể kinh tế tại quốc gia đó, với mục tiêu tối đa hoá lợi ích của mình”
Trang 131.1.2 Đặc điểm của FDI
FDI là loại hình đầu tư quốc tế, hoạt động FDI được thực hiện thông qua các
dự án gọi là dự án FDI Hiểu một cách khái quát nhất, dự án FDI là những dự án đầu tư do các tổ chức kinh tế và cá nhân ở nước ngoài tự mình hoặc cùng với các tổ chức kinh tế hoặc cá nhân ở nước tiếp nhận đầu tư và các nước khác bỏ vốn đầu tư, trực tiếp quản lý điều hành để thu lợi trong kinh doanh Một nước vừa có thể là nước tiếp nhận FDI cũng vừa có thể là nước đi đầu tư vốn FDI vào nước khác
FDI trước hết cũng là một loại hình đầu tư, do đó, nó cũng có những đặc trưng cơ bản của đầu tư nói chung: quyết định đầu tư thường và trước hết là quyết định tài chính; có tính chất lâu dài (tính chiến lược); có sự cân nhắc giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài; luôn luôn có chi phí và kết quả; mang nặng tính rủi ro
Ngoài những đặc điểm chung của đầu tư, FDI còn có những đặc trưng mang tính đặc thù Đó là:
- Về mặt quản lý, các NĐTNN phải đóng một số vốn tối thiểu vào vốn pháp định, tùy theo quy định của luật đầu tư mỗi nước Vốn pháp định trong dự án FDI là vốn tự có của chủ đầu tư được quy định tại Luật Đầu tư Sau khi góp vốn hợp lệ, nhà đầu tư có quyền tham gia vào việc quản lý và điều hành dự án đầu tư Tuy nhiên, việc hoạt động của doanh nghiệp có vốn góp nước ngoài cho dù bất kỳ hình thức nào thì cũng đều phải tuân thủ quy định của nước sở tại
- Về mặt chuyên môn, hoạt động FDI không chỉ gắn liền với việc di chuyển vốn mà còn gắn với việc chuyển giao công nghệ (CGCN), chuyển giao kiến thức và kinh nghiệp quản lý, tạo ra thị trường mới cho cả phía đầu tư và phía nhận đầu tư Các ngành đòi hỏi trình độ khoa học – công nghệ cao, lưu chuyển vốn nhanh và đem lại lợi nhuận cao thường được các NĐTNN ưu tiên đầu tư
- Về mặt hoạt động, hoạt động FDI được thực hiện thông qua việc xây dựng doanh nghiệp mới, mua lại toàn bộ hay từng phần doanh nghiệp đang hoạt động hoặc mua cổ phiếu để thôn tính hoặc sáp nhập các doanh nghiệp với nhau Ngoài ra, hiện nay hoạt động FDI gắn liền với hoạt động kinh doanh quốc tế của các công ty xuyên quốc gia (TNCs)
- Về lĩnh vực đầu tư, hoạt động FDI vì mục đích lợi nhuận tìm kiếm được ở nước tiếp nhận đầu tư nên vốn đầu tư được tập trung vào các khi vực sản xuất kinh doanh đem lại lợi nhuận cao cho chủ đầu tư, thỏa mãn mục đích tối đa hóa lợi
Trang 14nhuận của doanh nghiệp FDI
- Về tính khả thi của dự án FDI, dự án FDI là do các chủ đầu tư quyết định đầu
tư và tự chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh của mình nên hình thức này thường mang lại tính khả thi và hiệu quả kinh tế cao Tỷ lệ góp vốn đầu tư sẽ quyết định việc phân chia quyền lợi và nghĩa vụ giữa các chủ đầu tư theo quy định của luật đầu tư nước ngoài của từng nước
- Về tính chất, các dự án có vốn FDI là dự án mang tính lâu dài do việc thu lại
số vốn ban đầu của một dự án FDI không dễ dàng như hình thức đầu tư gián tiếp FDI thường gắn với quá trình hội nhập quốc tế và quá trình tự do hóa tài khoản vốn giữa các nước trong khu vực và trên thế giới, nước tiếp nhận đầu tư có chính sách
về FDI trong đó thể hiện quan điểm mở cửa và hội nhập quốc tế đầu tư
1.1.3 Các hình thức của FDI
Để thực hiện hoạt động FDI, các nhà đầu tư có thể xây dựng một cơ sở sản xuất mới hoàn toàn hay mua lại cơ sở sản xuất đang hoạt động ở nước sở tại Trong thực tế, FDI được thực hiện theo nhiều hình thức khác nhau, trong đó những hình thức được áp dụng một cách phổ biến bao gồm:
Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
Doanh nghiệp liên doanh
Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC)
Thông qua các hợp đồng xây dựng – chuyển giao – kinh doanh (BTO), xây dựng – kinh doanh – chuyển giao (BOT), xây dựng – chuyển giao (BT)
Tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của từng quốc gia mà các hình thức đầu tư trên được sử dụng ở những mức độ khác nhau Mỗi hình thức có đặc điểm, ưu điểm
và nhược điểm riêng:
Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài: là doanh nghiệp do chủ đầu tư nước
ngoài bỏ 100% vốn tại nước sở tại, và có quyền điều hành toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp theo quy định, pháp luật của nước sở tại
- Ưu điểm là nước sở tại không phải bỏ vốn và thực hiện công tác quản lý trực tiếp mà vẫn thu được lợi nhuận từ các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và giải quyết được lao động
- Nhược điểm của loại hình doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là nếu trình
Trang 15độ quản lý của nước sở tại yếu sẽ bị nhiều hạn chế trong việc kiểm tra, kiểm soát đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp FDI
Doanh nghiệp liên doanh: là doanh nghiệp được thành lập tại nước sở tại,
trên cơ sở hoạt động liên doanh ký kết giữa hai bên hoặc nhiều bên để tiến hành đầu
tư kinh doanh tại nước sở tại đó Mỗi bên liên doanh chịu trách nhiệm trong phạm
vi phần vốn cam kết góp vào vốn pháp định của doanh nghiệp, kết quả kinh doanh (lỗ, lãi) được chia theo tỷ lệ góp vốn Đây là hình thức khá phổ biến trong các hình thức FDI
- Ưu điểm là cho phép tranh thủ vốn, khai thác được lợi thế của nước sở tại về lao động, tài nguyên Nước tiếp nhận đầu tư có điều kiện tiếp thu các công nghệ hiện đại tiên tiến, nâng cao được chất lượng sản phẩm và hạ giá thành, góp phần thúc đẩy phát triển phát triển kinh tế đất nước, hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới Có điều kiện học hỏi kinh nghiệm quản lý tiên tiến của nước ngoài, nâng cao trình độ chuyên môn, trình độ quản lý kinh tế, kỹ thuật cho đội ngũ cán bộ của nước sở tại
- Tuy nhiên, do các bên có sự khác nhau về văn hoá, ngôn ngữ, chế độ chính trị, hệ thống pháp luật và bộ máy quản lý nên dễ xảy ra các mâu thuẫn trong điều hành sản xuất kinh doanh, tranh chấp quyền lợi Trong nhiều trường hợp, nước sở tại thường bị thua thiệt do trình độ tham gia liên doanh, năng lực quản lý yếu và tỷ
lệ góp vốn thấp
Hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC): là hình thức đầu tư được ký giữa các
nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm mà không thành lập pháp nhân Nhà đầu tư được ký kết hợp đồng BCC để hợp tác sản xuất phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm và các hình thức hợp tác kinh doanh khác Đối tượng, nội dung hợp tác, thời hạn kinh doanh, quyền nghĩa vụ và trách nhiệm của mỗi bên, quan hệ hợp tác giữa các bên và các tổ chức quản lý do các bên thỏa thuận và ghi trọng hợp đồng
Hợp đồng BOT: là hình thức đầu tư được ký giữa cơ quan Nhà nước có
thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng trong một thời hạn nhất định, hết thời hạn, nhà đầu tư chuyển giao không bồi hoàn công trình đó cho nước sở tại
Hợp đồng BTO: là hình thức đầu tư được ký giữa cơ quan Nhà nước có
Trang 16thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng kết cấu hạ tầng, sau khi xây dựng xong nhà đầu tư chuyển giao công trình đó cho nước sở tại, nước sở tại dành cho nhà đầu tư quyền kinh doanh công trình đó trong một thời hạn nhất định để thu hồi vốn và lợi nhuận
Hợp đồng BT: là hình thức đầu tư được ký giữa cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền và nhà đầu tư để xây dựng kết cấu hạ tầng, sau khi xây dựng xong, Chính phủ tạo điều kiện cho nhà đầu tư thực hiện dự án khác để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận hoặc thanh toán cho nhà đầu tư theo thỏa thuận trong hợp đồng BT
Bên cạnh đó, để tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà ĐTNN Chính phủ nước
sở tại còn lập ra các khu vực ưu đãi đầu tư trong lãnh thổ nước mình như: Khu công nghiệp (KCN), Khu chế xuất (KCX), Khu công nghệ cao (KCNC), Khu kinh tế (KKT), đặc khu kinh tế Dựa vào mục đích của nhà đầu tư cũng như tình hình phát triển kinh tế, các ưu đãi đầu tư mà nhà đầu tư lựa chọn hình thức đầu tư phù hợp
1.1.4 Tác động của FDI đối với nước tiếp nhận
1.1.4.1 Tác động tích cực
Một là, thực hiện tốt việc tiếp nhận FDI đem lại cho nước tiếp nhận nguồn
vốn lớn cho sự phát triển kinh tế, giải quyết vấn đề xã hội, môi trường… Nguồn vốn cho phát triển kinh tế của một quốc gia được huy động từ hai nguồn chủ yếu là vốn đầu tư trong nước và vốn đầu tư nước ngoài (ĐTNN) Đối với các nước đang phát triển, khi quy mô nguồn vốn trong nước còn hạn chế trong khi nhu cầu vốn lại lớn thì vốn ĐTNN có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Trong các nguồn vốn ĐTNN, FDI là dòng vốn đầu tư trực tiếp vào hoạt động sản xuất kinh doanh và nó không gây nên gánh nặng nợ nần Thêm vào đó, FDI còn có khả năng tăng nguồn vốn trong nước vào các dự án đầu tư Chính vì vậy, FDI được xem là nguồn vốn có vai trò tạo nên cú hích cho sự phát triển kinh tế của một quốc gia
Hai là, FDI thường đi kèm với công nghệ, kỹ thuật hiện đại, chuyển giao các
bí quyết công nghệ (bí quyết kỹ thuật) tiên tiến Nhờ chuyển giao, lan tỏa công nghệ
và năng suất lao động ở nước tiếp nhận và hiệu quả sử dụng các nguồn lực này ngày càng tăng Cụ thể, thông qua FDI các công ty xuyên quốc gia và các công ty đa quốc gia (TNCs và MNCs) với nguồn vốn lớn, công nghệ cao, trình độ quản lý tiên tiến đã chuyển giao các công nghệ và các tài sản vô hình cho các doanh nghiệp nước tiếp nhận có quan hệ kinh doanh Bằng con đường này, các doanh nghiệp
Trang 17trong nước tiếp nhận có điều kiện tiếp cận và sử dụng máy móc thiết bị hiện đại để tăng năng suất lao động Bên cạnh đó, việc CGCN đã tạo ra môi trường cạnh tranh buộc các doanh nghiệp trong nước cũng phải nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm, dịch vụ của mình
Ba là, đối với các doanh nghiệp, kỹ năng quản lý, điều hành, quản trị doanh
nghiệp… đều có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp, đặc biệt trong môi trường toàn cầu hóa, hội nhập và cạnh tranh quốc tế gay gắt Các kỹ năng trên là tài sản vô hình hết sức quan trọng mà các công ty quốc tế chuyển giao cho nước tiếp nhận Thông qua FDI, các nước tiếp nhận đầu tư có điều kiện thuận lợi trong việc tiếp nhận các kỹ năng, phương pháp quản lý, cách thức điều hành tiên tiến của các TNCs và MNCs
Bốn là, thực hiện FDI tại nước tiếp nhận đầu tư, các TNCs và MNCs sử dụng
lao động địa phương Như vậy, FDI tác động đến cả số lượng và chất lượng lao động của nước tiếp nhận đầu tư Trình độ, năng lực và kỹ năng của người lao động
có tác động không nhỏ đến tốc độ tăng trưởng của một quốc gia Thông qua các hình thức đào tạo, người lao động có cơ hội và điều kiện thuận lợi để nâng cao trình
độ, kỹ năng và tri thức của họ Ngay cả khi họ không còn làm việc trong công ty này, họ có thể làm việc hiệu quả ở nơi khác với vốn kiến thức, kỹ năng đã được đào tạo và tích lũy
Năm là, lợi ích thu được của các nước tiếp nhận đầu tư từ các hoạt động
nghiên cứu, triển khai và phát triển, thậm chí còn lớn hơn rất nhiều so với việc di chuyển vốn Vì vậy, nhiều quốc gia tiếp nhận đầu tư thực hiện khuyến khích các công ty nước ngoài thành lập chi nhánh nghiên cứu và phát triển (R&D) ở nước họ
Sáu là, hoạt động FDI vào các nước đang phát triển sẽ giúp các doanh nghiệp
nước tiếp nhận từng bước tham gia vào chuỗi sản xuất toàn cầu Thông qua các mạng lưới sản xuất, hệ thống phân phối mang tính khu vực và toàn cầu của các NĐTNN mà các doanh nghiệp trong nước liên doanh, hợp tác, các doanh nghiệp có
đủ khả năng có thể xâm nhập vào mạng lưới này Đây là cách nhanh nhất và có hiệu quả nhất giúp các doanh nghiệp nước tiếp nhận đến với thị trường nước ngoài và thực hiện kinh doanh quốc tế
Bảy là, FDI được thực hiện một cách có hiệu quả hướng vào việc thay đổi cơ
cấu ngành kinh tế, khu vực kinh tế, tạo điều kiện từng bước khai thác có hiệu quả
Trang 18nguồn tài nguyên đất nước Hoạt động FDI nhắm vào mục tiêu lợi nhuận, khai thác các lĩnh vực mà chủ đầu tư mong muốn cũng như nước tiếp nhận có lợi thế, chính
vì thế góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế một cách tích cực Hoạt động FDI cũng thúc đẩy nền kinh tế hội nhập vào sự phân công lao động quốc tế và hợp tác quốc tế
Ngoài ra, FDI còn thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đẩy mạnh xuất khẩu, tạo công ăn việc làm, cải thiện đời sống người lao động trong và ngoài doanh nghiệp có vốn FDI, cải thiện cán cân thanh toán quốc tế,…
1.1.4.2 Tác động tiêu cực
Bên cạnh những tác động tích cực mà FDI đóng góp cho sự phát triển kinh tế – xã hội của nước tiếp nhận, FDI cũng có những tác động tiêu cực nhất định
Một là, dòng vốn FDI vào các nước đang phát triển có thể làm giảm tỷ lệ tiết
kiệm và đầu tư nội địa Tác động này xuất phát từ quyền lực thị trường của các công
ty nước ngoài và khả năng của các công ty này trong việc thực hiện quyền lực đó nhằm thu lợi nhuận cao và chuyển ra nước ngoài Bằng nhiều biện pháp, chính sách cạnh tranh khác nhau, các TNCs và MNCs có thể làm phá sản các doanh nghiệp trong nước nhằm chiếm lĩnh thị trường
Hai là, khai thác và sử dụng quá mức các nguồn tài nguyên thiên nhiên Vì
chạy theo lợi nhuận nên các NĐTNN thường khai thác triệt để và tìm mọi biện pháp
sử dụng các nguồn tài nguyên khoáng sản, đất đai… ở nước tiếp nhận Điều này làm cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên vốn hữu hạn và gây ô nhiễm môi trường sinh thái
Ba là, làm mất cân đối ngành, vùng kinh tế Một trong những động lực thúc
đẩy các nhà đầu tư mở rộng hoạt động ra nước ngoài là gia tăng các mục tiêu đặt ra, trong đó có lợi nhuận Vì vậy, khi thực hiện hoạt động FDI, các nhà đầu tư thường quan tâm nhiều hơn đến các ngành, lĩnh vực có lợi nhuận cao, các vùng, khu vực có điều kiện thuận lợi nhất để giúp nhà đầu tư tối đa hóa lợi nhuận Trong khi đó, các chính phủ thường quan tâm đến các mục tiêu đảm bảo sự phát triển cân đối cơ cấu kinh tế, phát triển mạnh các vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn nhằm giảm khoảng cách phát triển với các vùng khác Chính sự không đồng thuận và không thống nhất giữa mục tiêu của chủ đầu tư và nước tiếp nhận đã làm giảm việc sử dụng có hiệu quả nguồn vốn FDI đối với việc thực hiện các mục tiêu mà nước tiếp nhận đã đề ra
Trang 19Bốn là, CGCN lạc hậu và gây ô nhiễm môi trường Qua hoạt động CGCN,
các công ty nước ngoài có thể trợ giúp và thúc đẩy sự phát triển kinh tế của nước tiếp nhận đầu tư, nhưng cũng có thể làm cho nước đó phụ thuộc vào dòng công nghệ nước ngoài Bên cạnh đó, công nghệ được chuyển giao cho các nước đang phát triển thường là những công nghệ không phù hợp, đã lạc hậu và thuộc ngành gây ô nhiễm môi trường chứ không phải là công nghệ nguồn, công nghệ tiên tiến, hiện đại Đây là những công nghệ có khả năng biến nước tiếp nhận trở thành “bãi rác” công nghệ
1.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến thu hút FDI
Hoạt động thu hút FDI chịu sự tác động đồng thời của nhiều nhân tố Có nhiều cách phân loại nhân tố tác động đến thu hút FDI, như là: phân loại theo phạm
vi lãnh thổ quốc gia (nhân tố bên trong và nhân tố bên ngoài), phân loại theo chủ thể gây ra nhân tố (nhân tố chủ quan và nhân tố khách quan), phân loại theo các mối quan hệ (nhân tố chính trị, cung cầu, môi trường đầu tư, quy mô và tính chất thị trường…)
1.1.5.1 Các nhân tố thuộc môi trường quốc tế
Sự phát triển của xu hướng toàn cầu khóa, khu vực hóa thúc đẩy mạnh quá trình tự do hóa thương mại và đầu tư Quá trình hội nhập của các nền kinh tế làm cho các nước dỡ bỏ sự kiểm soát chặt chẽ đối với hàng hóa, dịch vụ, nhân công, luồng vốn lưu chuyển trên thị trường của mình Các nền kinh tế riêng biệt đang dần hướng đến nền kinh tế khu vực, thế giới với hình thức là một chỉnh thể thống nhất
Do đó, nguồn vốn được vận động theo đúng quy luật của nó, chảy vào những nơi có khả năng sinh lợi cao
Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật và công nghệ thông tin đã thúc đẩy quá trình đổi mới cơ cấu kinh tế của các nước theo hướng hiện đại, qua đó tạo nên sự dịch chuyển vốn giữa các quốc gia
Đối với một quốc gia phát triển, bản thân thị trường cũng như các yếu tố sản xuất kinh doanh, khả năng sinh lời không còn hấp dẫn nhà đầu tư, tạo nên lực đẩy đối với luồng vốn FDI Trong khi đó, với tiềm năng của thị trường lớn, các yêu cầu, quy định để kinh doanh còn khá lỏng lẻo và sự cạnh tranh thấp, khả năng sinh lời cao đã giúp các nước đang phát triển có sức thu hút mạnh mẽ đối với vốn FDI
Trang 20vốn FDI Không những các quốc gia đang phát triển cần bổ sung nguồn vốn phát triển đất nước bằng cách thu hút FDI mà bản thân các quốc gia phát triển cũng không ngừng thu hút nguồn vốn này Do vậy, quốc gia nào có môi trường đầu tư hấp dẫn và có khả năng sử dụng vốn đầu tư có hiệu quả, tối đa hóa lợi nhuận cho nhà đầu tư sẽ có lợi thế hơn trong cuộc cạnh tranh này
1.1.5.2 Các nhân tố thuộc môi trường quốc gia
Nhân tố sự ổn định chính trị và an ninh quốc gia
Sự ổn định chính trị và an ninh quốc gia là nhân tố đầu tiên mà các nhà đầu
tư xem xét trước khi quyết định đầu tư hay không đầu tư vào một quốc gia nào đó Không nhà đầu tư nào muốn đầu tư vào một quốc gia có bất ổn về chính trị hay sự mất an toàn trong an ninh quốc gia Tính mạng, tài sản của nhà đầu tư có thể gặp rủi
ro vì những cuộc chiến tranh, đảo chính, xung đột,…
Nhân tố môi trường đầu tư quốc gia
Môi trường đầu tư là những vấn đề có liên quan trực tiếp đến hoạt động đầu
tư Vai trò của nó là duy trì cho các hoạt động đầu tư phát triển lành mạnh và có hiệu quả Môi trường đầu tư chính là yếu tố hấp dẫn hay cản trở việc thu hút FDI
Các bộ phận cấu thành của môi trường đầu tư có tác động rất lớn đến quyết định của NĐTNN Chẳng hạn, các quy định pháp lý liên quan đến chuyển lợi nhuận, thuế, quyền sở hữu, các chính sách ưu đãi đầu tư… làm cho nhà đầu tư cân nhắc, xem xét khi có ý định đầu tư Cơ sở hạ tầng kỹ thuật như nhà xưởng, bến cảng, sân bay, đường xá, thông tin liên lạc và các điều kiện khác cần thiết cho hoạt động sản xuất, vận chuyển đáp ứng được ở mức độ như thế nào? Vị trí địa lý thuận tiện hay khó khăn, tài nguyên thiên nhiên cần thiết là nhiều hay ít, có dễ khai thác không? Đó là một vài trong số những câu hỏi mà nhà đầu tư quan tâm Do vậy, tạo lập một môi trường đầu tư hấp dẫn là một nhân tố có tính quyết định đến kết quả thu hút FDI của một quốc gia Sau đây là các nhân tố tạo nên môi trường đầu tư của một quốc gia, thể hiện ở hình 1.1:
Trang 21Hình 1.1 Các nhân tố tạo nên môi trường đầu tư
(Nguồn: Tập bài giảng Kinh tế quốc tế (2012), Khoa Kinh tế đối ngoại, Học viện Chính sách và
Trang 22 Quy mô và tính chất của thị trường tiềm năng
Một vấn đề mà các NĐTNN cũng rất quan tâm đó là quy mô của thị trường tiềm năng và tính chất của thị trường tiềm năng ấy Các quốc gia có dân số đông là những quốc gia được các nhà đầu tư quan tâm, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển Không chỉ tại vì các quốc gia này có nguồn nhân công giá rẻ, mà còn vì các NĐTNN nhắm đến thị trường rất tiềm năng tại những quốc gia này Quy mô thị trường không những phụ thuộc vào dân số mà còn phụ thuộc vào sức mua của dân chúng Chính vì thế, nâng cao sức mua của dân chúng cũng là một cách để các nước đang phát triển thu hút FDI
Tóm lại, có nhiều nhân tố tác động đồng thời đến hoạt động thu hút FDI
Điều này đặt ra yêu cầu cho các nước tiếp nhận đầu tư phải biết cách phát huy lợi thế và tạo ra những điều kiện hấp dẫn để thu hút dòng vốn FDI
1.2 Khu công nghiệp và sự cần thiết phải thu hút FDI vào Khu công nghiệp
1.2.1 Lý luận chung về Khu công nghiệp (KCN)
1.2.1.1 Khái niệm KCN
Có nhiều quan điểm khác nhau về thế nào là KCN Có quan điểm cho rằng KCN là khu vực lãnh thổ rộng có nền tảng là sản xuất công nghiệp đan xen với nhiều hoạt động dịch vụ, kể cả dịch vụ sản xuất công nghiệp, sinh hoạt, vui chơi giải trí, khu thương mại, văn phòng nhà ở… Về thực chất mô hình này là khu hành chính – kinh tế đặc biệt như KCN Batam (Indonesia), công viên công nghiệp ở Đài Loan, Thái Lan và một số nước Tây Âu
Quan điểm khác lại cho rằng KCN là khu vực lãnh thổ có giới hạn nhất định,
ở đó tập trung các doanh nghiệp công nghiệp và dịch vụ sản xuất công nghiệp, không có dân cư sinh sống Mô hình này được xây dựng ở một số nước như Malaysia, Thái Lan
Theo quy chế KCN, KCX, KCNC ban hành kèm theo quyết định số 36/CP ngày 24/4/1997, KCN là khu tập trung các doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất hàng công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống; do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập Trong KCN có thể có doanh nghiệp chế xuất Như vậy, KCN
ở Việt Nam được hiểu giống với quan điểm thứ hai về KCN
Cần phân biệt KCN với KCX và cụm công nghiệp KCX cũng là một loại
Trang 23hình KCN nhưng nó chỉ gồm các doanh nghiệp sản xuất và dịch vụ sản xuất hàng xuất khẩu Cụm công nghiệp được hiểu là khu vực lãnh thổ do địa phương quản lý thu hút các nhà sản xuất công nghiệp vào hoạt động; cụm công nghiệp do địa phương quy hoạch, còn KCN do Chính phủ phê duyệt, cấp giấy phép hoạt động
1.2.1.2 Đặc điểm của KCN
- Về thành lập: việc thành lập của KCN không phải tự phát mà theo quyết
định của Thủ tướng Chính phủ theo quy hoạch tổng thể, khung điều lệ mẫu đã được phê duyệt và chịu sự kiểm tra, giám sát của cơ quan chức năng có thẩm quyền
- Về không gian: KCN là khu vực có ranh giới địa lý xác định, phân biệt với
các lãnh thổ khác và không có dân cư sinh sống Toàn bộ hạ tầng kỹ thuật KCN nhằm phục vụ cho hoạt động sản xuất công nghiệp và kinh doanh dịch vụ của KCN, không phục vụ cho mục đích dân cư, kể cả người Việt Nam và người nước ngoài làm việc trong KCN
- Về chức năng hoạt động: KCN là khu vực chuyên sản xuất hàng công
nghiệp và dịch vụ phục vụ cho sản xuất hàng công nghiệp, không có hoạt động sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp và các loại hình dịch vụ phục vụ cho các loại hình sản xuất này
- Về cơ cấu KCN: KCN được phân bố tập trung với hạt nhân là các doanh
nghiệp sản xuất công nghiệp (hàng tiêu dùng, công nghiệp chế biến, chế tạo, tư liệu sản xuất) và hệ thống doanh nghiệp hỗ trợ và doanh nghiệp dịch vụ cho sản xuất công nghiệp
- Về cơ sở hạ tầng: các doanh nghiệp trong KCN sử dụng chung hạ tầng kỹ
thuật và xã hội theo một cơ chế quản lý thống nhất của Ban quản lý KCN Trong KCN có doanh nghiệp phát triển hạ tầng kỹ thuật, có trách nhiệm bảo đảm hạ tầng
kỹ thuật và xã hội của cả KCN trong suốt thời gian tồn tại của KCN
- Về nguồn lực sử dụng: chủ yếu là lao động trong nước, ngoài ra còn có các
lao động nước ngoài
1.2.1.3 Phân loại KCN
Có nhiều tiêu chí để phân loại KCN, cụ thể:
Phân theo quy mô: có 2 loại:
- KCN tập trung: có quy mô từ 50 héc – ta (ha) trở lên
Trang 24 Phân theo chủ đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng: có 3 loại:
- KCN do doanh nghiệp 100% vốn ĐTNN làm chủ đầu tư
- KCN do liên doanh giữa doanh nghiệp có vốn ĐTNN và các doanh nghiệp trong nước
- KCN do doanh nghiệp trong nước làm chủ đầu tư
Phân theo mục đích phát triển KCN: có 3 loại
- KCN nhằm thu hút ĐTNN
- KCN nhằm di dời các cơ sở công nghiệp trong thành phố, đô thị lớn
- KCN gắn với ưu thế của địa phương
Phân theo đặc điểm ngành công nghiệp: có 4 loại:
- KCN tập trung các ngành công nghiệp nặng và công nghiệp chế tạo
- KCN tập trung các ngành công nghiệp nhẹ và sản xuất hàng tiêu dùng
- KCN tập trung các ngành công nghiệp dịch vụ
- KCN gắn với nông nghiệp, nông thôn
1.2.2 Sự cần thiết phải thu hút FDI vào KCN
Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước, việc hình thành và phát triển KCN là cần thiết và được Nhà nước khuyến khích Từ năm
1994 các KCN được xây dựng để cung ứng cơ sở hạ tầng thuận lợi, tạo điều kiện dễ dàng cho đầu tư nước ngoài và đặc biệt khuyến khích các doanh nghiệp nhỏ và vừa gia nhập các khu vực công nghiệp Việc hình thành và phát triển KCN là đòi hỏi tất yếu khách quan bởi các vai trò quan trọng của nó như:
Khai thác kết cấu hạ tầng một cách hiệu quả: lợi ích của việc sản xuất tập
trung tại các KCN so với phát triển công nghiệp tản mạn là đảm bảo tiết kiệm về kết cấu hạ tầng, quản lý hành chính, quản lý môi trường, cung cấp các dịch vụ thuận
lợi
Tạo điều kiện thuận lợi thu hút vốn và công nghệ nước ngoài: các KCN
thường được hưởng nhiều ưu đãi như ưu đãi thuế nhập khẩu vật tư, thiết bị, nguyên liệu; thuế thu nhập, thuế sở hữu tài sản; vay vốn với mức lãi suất ưu đãi, … Mặt khác, các KCN thường được áp dụng một hệ thống luật pháp nhất định nhằm đáp ứng yêu cầu của các NĐTNN nên rất hấp dẫn các nhà đầu tư Với những ưu đãi và thuận lợi trên nên doanh nghiệp nước ngoài có thể an tâm đưa vốn đầu tư lớn vào
các KCN để hoạt động
Trang 25 Chuyển giao công nghệ: được thực thiện thông qua việc đào tạo công nhân
nước tiếp nhận đầu tư sử dụng máy móc và công nghệ sản xuất, công nhân được đào tạo ý thức kỷ luật lao động, tác phong công nghiệp, các cán bộ quản lý có được
kỹ năng cần thiết trong việc quản lý và kiểm tra chất lượng
Tạo việc làm, góp phần xóa đói giảm nghèo: việc thành lập KCN góp phần
tích cực trong việc giải quyết việc làm cho lao động tại đại phương Ngoài một lực lượng lao động lớn sẽ vào KCN để trực tiếp sản xuất thì nó còn tạo ra việc làm cho hàng vạn lao động gián tiếp trong các ngành dịch vụ, xây dựng cơ bản phục vụ cho quá trình phát triển KCN Mặt khác, với việc hình thành và phát triển KCN thì cũng hình thành và phát triển các vùng cung cấp nguyên liệu cho KCN Thay cho việc sản xuất lương thực thì nhân dân quanh KCN có thể trồng các loại nông sản cung cấp nguyên liệu cho KCN từ đó giúp nâng cao giá trị nông sản góp phần xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống người dân
Tạo mô hình kinh tế năng động: KCN là sợi dây nối liền kinh tế thế giới
với Việt Nam, nó là nơi đào tạo cán bộ kỹ thuật năng động, công nhân lành nghề và cán bộ quản lý có trình độ cáo đủ sức vươn ra thị trường thế giới Nó góp phần hình thành các KKT trọng điểm cho cả nước, đảm bảo được yêu cầu về quy hoạch vùng lãnh thổ, nâng cao năng lực cạnh tranh và khả năng xuất khẩu của nền kinh tế
Phát triển cơ sở hạ tầng: để thu hút được các nhà đầu tư vào các KCN bên
cạnh những chính sách ưu đãi còn cần có sơ sở hạ tầng tốt để đáp ứng nhu cầu sản xuất Do vậy, cần phát triển đồng bộ cơ sở hạ tầng trong KCN và ngoài KCN Việc phát triển các KCN luôn gắn liền với việc phát triển cơ sở hạ tầng nên tại những địa phương có các KCN phát triển thường có cơ sở hạ tầng tốt
KCN có vai trò quan trọng trong quá trình CNH, HĐH của đất nước Để phát triển KCN nhanh chóng và có hiệu quả cần thu hút nguồn vốn FDI vì những lý do sau:
Nhờ các dự án FDI đầu tư vào KCN, các KCN trở thành nơi tiếp nhận và ứng dụng có hiệu quả các thành tựu khoa học – công nghệ tiên tiến trên thế giới, tiếp thu kinh nghiệm quản lý tiên tiến vào quá trình phát triển kinh tế đất nước Một trong những mục tiêu quan trọng của việc hình thành các KCN là bên cạnh thu hút các nhà đầu tư trong nước, còn thu hút nhiều NĐTNN tham gia hoạt động kinh doanh
Trang 26Các NĐTNN phần lớn là các TNCs, MNCs có tiềm lực mạnh không chỉ về vốn mà còn cả những thế mạnh về công nghệ và kinh nghiệm quản trị hiện đại
Thu hút FDI vào các KCN đóng vai trò quan trọng trong việc đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH đất nước Hiện nay, lao động ở Việt Nam chủ yếu là lao động trong lĩnh vực nông nghiệp, nhu cầu về nhân lực cho các dự án FDI trong các KCN sẽ tạo điều kiện cho lao động địa phương có cơ hội được tiếp thu kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp trong những điều kiện tốt, nâng cao trình độ quản lý, được rèn luyện tác phong làm việc công nghiệp, theo những chuẩn mực của nền công nghiệp hiện đại
Thu hút FDI vào KCN giúp quốc gia đào tạo được một đội ngũ doanh nghiệp FDI trong KCN có khả năng tạo thêm năng lực sản xuất mới trong nhiều ngành kinh
tế then chốt Giá trị gia tăng và tổng giá trị sản phẩm công nghiệp của các doanh nghiệp FDI có tốc độ tăng trưởng cao, đóng vai trò quan trọng trong việc đẩy mạnh sản xuất công nghiệp, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, góp phần nâng cao tốc
độ tăng trưởng kinh tế đất nước Các dự án công nghiệp có tỷ lệ xuất khẩu và kim ngạch xuất khẩu của đất nước
Thực tiễn 20 năm hình thành và phát triển các KCN Việt Nam cho thấy rằng sức lan toả của khu vực FDI trong các KCN là rất lớn, thể hiện qua các nội dung sau: có tác động đổi mới, CGCN, nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp Việt Nam, phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ ở Việt Nam… KCN không phải là biểu tượng của sự phân biệt đối xử giữa các doanh nghiệp trong và ngoài KCN, ngược lại KCN là một bước khởi đầu để tiến tới một mặt bằng kinh doanh bình đẳng trên phạm vi cả nước Như vậy, thu hút FDI vào các KCN có vai trò không nhỏ với các doanh nghiệp còn non trẻ của Việt Nam và trong thời điểm hiện nay, vai trò này càng trở nên cấp thiết vì các doanh nghiệp Việt Nam đang đứng trước thách thức rất lớn của xu thế toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế
1.2.3 Kinh nghiệm thu hút FDI của một số nước trong khu vực và bài học cho Việt Nam
1.2.3.1 Kinh nghiệm thu hút FDI của một số nước
Qua nghiên cứu sự phát triển của một số nước trong khu vực, có thể thấy rằng mọi quốc gia đều coi trọng và đánh giá cao vốn FDI, coi nó là một yếu tố quan trọng để đẩy mạnh xuất khẩu và thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế
Trang 27 Trung Quốc
Từ năm 1979, Trung Quốc bắt đầu thực hiện thu hút FDI Chính sách cơ bản
để thu hút FDI của Trung Quốc là chính sách thuế Trung Quốc đã ban hành nhiều loại thuế riêng cho hình thức đầu tư hợp tác kinh doanh, liên doanh 100% vốn nước ngoài và cho 14 thành phố ven biển, tại 14 thành phố ven biển các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài được giảm thuế lợi tức 15% so với khu vực khác Các liên doanh đầu tư từ 10 năm trở lên được miễn thuế lợi tức 2 năm kể từ khi có lãi và giảm 50% cho 3 năm tiếp theo Nếu liên doanh đầu tư vào vùng khó khăn sẽ được giảm tiếp từ 15 – 30% trong vòng 10 năm Nếu liên doanh áp dụng công nghệ tiên tiến được giảm 50% thuế so với doanh nghiệp cùng loại nhưng không có công nghệ
Về thủ tục hành chính, Trung Quốc phân cấp mạnh cho các địa phương về thẩm định dự án và cấp giấy phép đầu tư tạo điều kiện thủ tục thông thoáng Các khu như Thẩm Quyến, Chu Hải, Hạ Môn và Hải Nam có chế độ thuế đặc biệt cho các hoạt động Các đặc khu và Đại biểu nhân dân tỉnh Quảng Đông, Phúc Kiến, Hải Nam được phép có quy định riêng về tất cả các vấn đề kinh tế của các đặc khu để trình Chính phủ Trung Quốc phê duyệt
Các đặc khu được tự quyết định mức đầu tư cao nhất vào các công trình sản xuất là 30 triệu USD Các đặc khu khác nhau có các ưu đãi khác nhau trong việc trả tiền sử dụng đất, thời hạn thuê đất… Vì vậy trong thời gian ngắn nền kinh tế Trung Quốc đã phát triển năng động
Nhờ các chính sách thu hút FDI một cách có hiệu quả, Trung Quốc đã vươn lên đứng đầu trong khu vực và đứng thứ 2 thế giới (sau Mỹ) về khối lượng FDI thu hút
Singapore có một số kế hoạch định hướng để lái các luồng đầu tư theo hướng phục vụ công cuộc phát triển công nghiệp
Trang 28 Tạo môi trường kinh tế xã hội tài chính ổn định để tạo tâm lý cho các nhà đầu
tư yên tâm làm ăn kinh doanh
Hạ tầng cơ sở phát triển tốt như bến cảng, đường sá, kho ngoại quan
Nhờ có vị trí địa lý thuận lợi, với việc xây dựng hệ thống cảng biển, kho ngoại quan hiện đại, chính sách thông thoáng Singapore đã trở thành trung tâm vận chuyển thương mại của khu vực và thế giới Với sự ổn định của tình hình chính trị –
xã hội, sự thuận lợi và hiện đại của cơ sở hạ tầng, Singapore đã thu hút được nhiều
dự án nước ngoài Đến nay, Singapore trở thành một quốc gia phát triển, có thu nhập bình quân đầu người cao: 23.000 – 28.000 USD
Chính phủ đảm bảo cho các nhà đầu tư không bị trưng thu sở hữu của họ và được đền bù trong trường hợp quốc hữu hoá
Tạo quyền tự chủ về sản xuất kinh doanh cho các xí nghiệp có vốn FDI cũng như các quy định thuận lợi về di chuyển vốn và lợi nhuận
Xoá bỏ thủ tục phiền hà, giảm thiểu hàng rào bảo hộ mậu dịch và khơi thông mạnh nguồn đầu tư bán hàng hoá
Có chính sách thuế khuyến khích để nhà đầu tư thu lợi nhuận hợp lý, đồng thời khuyến khích các nhà đầu tư xây dựng dự án ở những vùng cần phát triển, đẩy mạnh hàng xuất khẩu, sử dụng nguyên liệu địa phương, ứng dụng công nghệ tiên tiến, bảo vệ môi trường…
1.2.3.2 Bài học rút ra cho Việt Nam
Từ thực tiễn hơn 25 năm hoạt động ĐTNN tại Việt Nam cũng như kinh nghiệm của một số nước trong khu vực có thể rút ra một số bài học sau:
Một là, cần thống nhất nhận thức và có cách nhìn nhạy bén về kinh tế, chính
trị; nắm bắt thời cơ, thuận lợi; thấy rõ được những khó khăn, thách thức từ bên trong cũng như bên ngoài để kịp thời đề ra được chủ trương, đường lối đúng đắn, tập trung lực lượng, giải quyết dứt điểm các vấn đề nảy sinh Chủ trương, đường lối
Trang 29khi đã đề ra phải được quán triệt thông suốt, đầy đủ từ trung ương đến địa phương
và phải được cụ thể hóa kịp thời, tạo ra sự thống nhất và quyết tâm cao trong việc tổ chức thực hiện để đảm bảo thành công
Hai là, các chủ trương, phương hướng lớn phải được nhanh chóng thể chế hóa
thành pháp luật, cơ chế, chính sách một cách đồng bộ, tạo đủ hành lang pháp lý cho việc thực hiện Pháp luật và văn bản liên quan về ĐTNN phải minh bạch, rõ ràng và phù hợp với thông lệ quốc tế có chú ý tới điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của nước ta
Cơ chế, chính sách phải đồng bộ thể hiện tính khuyến khích và cạnh tranh cao so với các nước trong khu vực, có tính tới quy luật cạnh tranh và xu hướng tự do hóa trong thu hút đầu tư phù hợp với tiến trình hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, đồng thời tạo điều kiện, khuyến khích sự chủ động, sáng tạo của người thực hiện
Ba là, công tác chỉ đạo, điều hành phải thông suốt, thống nhất, có nền nếp, kỷ
cương trong bộ máy công quyền, tạo niềm tin và độ tin cậy đối với nhà đầu tư, đặc biệt đối với người đứng đầu Phải luôn luôn hướng về nhà đầu tư và doanh nghiệp
để nhanh chóng tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, tạo thuận lợi cho hoạt động đầu tư Mọi thủ tục hành chính phục vụ cho hoạt động đầu tư phải đơn giản, gọn nhẹ, không làm tăng chi phí, không gây phiều hà, sách nhiễu cho nhà đầu tư
Bốn là, công tác cán bộ cần luôn được xem trọng để có kế hoạch đào tạo, bồi
dưỡng thường xuyên, liên tục nhằm xây dựng tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ làm công tác kinh tế đối ngoại Các cán bộ này không những tinh thông nghiệp vụ, am hiểu về kinh tế đối ngoại, mà còn trong sạch về phẩm chất, đạo đức, vì đây là cầu nối giữa nhà đầu tư với nước chủ nhà, là nguyên nhân của mọi nguyên nhân thành công hay thất bại
Năm là, tùy điều kiện và hoàn cảnh cụ thể, các cơ quan quản lý đầu tư các cấp
chủ động vận dụng, tổ chức triển khai, giám sát và đánh giá việc thực hiện các nghị quyết, chủ trương, chính sách, pháp luật nhà nước về đầu tư sao cho hiệu quả, đảm bảo hài hòa mối quan hệ giữa nhà đầu tư, nhà quản lý, giữa lợi ích của nhà nước với lợi ích của nhà đầu tư trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội bền vững trên địa bàn và trên cả nước
Trang 30CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THU HÚT FDI VÀO CÁC KHU CÔNG
NGHIỆP Ở VIỆT NAM TỪ NĂM 1995 ĐẾN NĂM 2013
2.1 Quá trình hình thành và phát triển của các KCN ở Việt Nam
2.1.1 Bối cảnh ra đời KCN ở Việt Nam
Trong những năm đầu sau khi hòa bình lặp lại ở Miền Bắc, một số KCN, cụm công nghiệp như KCN gang thép Thái Nguyên, KCN hóa chất Việt Trì… được thành lập Ở Miền Nam, dưới chế độ cũ cũng đã có một số KCN được thành lập Tuy nhiên, ý tưởng thành lập KCN theo phương thức hiện đại, phù hợp với thông lệ quốc tế chỉ xuất hiện sau khi Luật ĐTNN được thông qua vào năm 1987
Bước vào thập kỷ 90 của thế kỷ 20, tình hình thế giới có nhiều diễn biến phức tạp khiến nền kinh tế của Việt Nam gặp nhiều khó khăn Sự sụp đổ của Liên
Xô và các nước Đông Âu cũ làm nguồn viện trợ chủ yếu cho Việt Nam chấm dứt Thêm vào đó, Mỹ tiếp tục bao vây, cấm vận càng làm cản trở thêm sự phát triển hợp tác của Việt Nam với các nước khác và các tổ chức tài chính quốc tế Trước tình hình này, thực hiện chính sách đối ngoại mở rộng, đa dạng hóa, đa phương hóa, Việt Nam đã từng bước vượt qua những thách thức, phá vỡ thế bao vây, cấm vận,
mở rộng hợp tác với bên ngoài Một trong những lĩnh vực kinh tế đối ngoại được
mở ra chính là thu hút FDI
KCN theo mô hình mới ra đời cùng với chính sách đổi mới, mở cửa do Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986 khởi xướng Tại Hội nghị đại biểu giữa nhiệm kỳ khóa VII, tháng 1 năm 1994 có nêu: “Quy hoạch các vùng, trước hết là các địa bàn trọng điểm, các khu chế xuất, khu kinh tế đặc biệt, khu công nghiệp tập trung” Thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng về CNH, HĐH khơi thông và phát huy nội lực, ngày 28/12/1994, Chính phủ ban hành Nghị định 192/CP kèm theo Quy chế KCN Từ mốc này, KCN phát triển nhanh về số lượng và chất lượng
2.1.2 Tổng quan về các KCN ở các vùng kinh tế trọng điểm
Tính đến tháng 12/2013, cả nước đã có 288 KCN được thành lập với tổng diện tích đất tự nhiên hơn 80.000 ha, trong đó diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê đạt hơn 48.000 ha, chiếm khoảng 60% tổng diện tích đất tự nhiên Các KCN được thành lập trên 58 tỉnh, thành phố trên cả nước; được phân bố trên cơ sở phát huy lợi thế địa kinh tế, tiềm năng của các vùng kinh tế trọng điểm, đồng thời phân
bố ở mức độ hợp lý một số KCN ở các vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn
Trang 31hơn nhằm tạo điều kiện cho ngành công nghiệp địa phương từng bước phát triển
Bảng 2.1 Các KCN tiêu biểu Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ (tính đến hết
năm 2013)
STT Tên KCN
Năm thành lập
Diện tích (ha)
Tỷ lệ lấp đầy (%)
Tổng số
dự án đầu tư
Tổng vốn đăng ký đầu
tư (triệu USD)
từ các quốc gia có trình độ công nghệ cao như Nhật Bản, Mỹ, Hàn Quốc Trong tốp
500 doanh nghiệp hàng đầu thế giới có 10 tập đoàn đầu tư vào Hải Phòng Nhiều dây chuyền, thiết bị tiên tiến được các tập đoàn và các công ty lớn đưa vào hoạt
Trang 32động như Toyota, Bridgestone, Nipro Pharma, GE, Robotech…
Đóng góp hai trong năm dự án của Tổng công ty Khu đô thị và công nghiệp Việt Nam – Singapore (VSIP Group), KCN Việt Nam – Singapore (VSIP) tại Bắc Ninh và Hải Phòng đang có những đóng góp bước đầu cho sự phát triển kinh tế Cả hai KCN này được kỳ vọng sẽ là điểm thu hút ĐTNN hấp dẫn Đặc biệt, sức hút của VSIP Hải Phòng không chỉ nằm ở quy mô dự án mà dự án chính là một nhân tố quan trọng làm thay đổi bộ mặt nông thôn, là cơ sở quan trọng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH – HĐH
2.1.2.2 Các KCN ở Vùng kinh tế trọng điểm Trung Bộ
Vùng kinh tế trọng điểm Trung Bộ có 5 tỉnh, thành phố là Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Thừa Thiên – Huế và Bình Định Đây là vùng tuy còn yếu về cơ
sở hạ tầng và nhân lực so với những vùng khác nhưng lại có lợi thế lớn về cảng biển trung chuyển lớn, cảng biển tổng hợp Cũng vì lý do này mà Vùng kinh tế trọng điểm Trung Bộ phát triển mạnh hơn các KKT ven biển Về các KCN, Đà Nẵng là thành phố có các KCN phát triển nhất Hiện nay một số KCN thu hút đầu tư khá tốt như KCN Nhơn Hội, KCN Phú Tài (Bình Định)… được kỳ vọng là cùng với những KCN đã hoạt động sẽ tạo nên sự phát triển cho kinh tế – xã hội của vùng
Bảng 2.2 Các KCN tiêu biểu Vùng kinh tế trọng điểm Trung Bộ (tính đến hết
năm 2013)
STT Tên KCN
Năm thành lập
Diện tích (ha)
Tỷ lệ lấp đầy (%)
Tổng số
dự án đầu tư
Tổng vốn đầu tư đăng ký (triệu USD)
Hiện nay, tổng số KCN đang hoạt động của Vùng kinh tế trọng điểm Trung
Bộ là 30 KCN, trong đó 8 KCN ở Quảng Nam , 7 KCN ở Bình Định, Đà Nẵng và Quảng Ngãi mỗi địa phương có 6 KCN và Thừa Thiên – Huế có 3 KCN So với cả nước thì khu vực này có số lượng các KCN là không nhiều và quy mô của các KCN
Trang 33cũng không lớn Ở vùng kinh tế trọng điểm Trung Bộ cũng đã đón nhận dự án VSIP đầu tiên nằm ở tỉnh Quảng Ngãi, chính thức khởi công vào tháng 9 năm 2013 Kỳ vọng của VSIP Quảng Ngãi sẽ làm thay đổi bộ mặt của Vùng kinh tế trọng điểm Trung Bộ
2.1.2.3 Các KCN ở Vùng kinh tế trọng điểm Nam Bộ
Vùng kinh tế trọng điểm Nam Bộ bao gồm 8 tỉnh, thành phố thuộc cả miền Đông và miền Tây Nam Bộ: TP Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh, Long An và Tiền Giang Chiếm gần 17% dân số, hơn 8% diện tích, sản xuất hơn 42% GDP, gần 40% kim ngạch xuất khẩu cả nước, đóng góp gần 60% ngân sách quốc gia Vùng kinh tế trọng điểm Nam Bộ là vùng kinh tế trọng điểm lớn nhất, là trung tâm công nghiệp, thương mại, tài chính hàng đầu cả nước, nơi tập trung số lượng các KCN lớn và thu hút nhiều dự án ĐTNN lớn nhất của cả nước Tại đây có KCNC, 2 KCX Tân Thuận và Linh Trung, Công viên phần mềm Quang Trung và hàng chục KCN thu hút khác như : Biên Hòa, Nhơn Trạch, Loteco, Amata (Đồng Nai), Sóng Thần, Việt Nam – Singapore,Việt Hương, Nam Tân Uyên, Mỹ Phước, Đồng An (Bình Dương), Tân Tạo, Vĩnh Lộc, Tân Bình (TP.Hồ Chí Minh)
Thành phố Hồ Chí Minh là thành phố phát triển KCN lớn nhất cả nước với KCN Tân Thuận và KCN Linh Trung Thành công của KCN Tân Thuận là tiền đề cho sự mở rộng mô hình KCN, KCX hiện đại trên cả nước sau này Các KCN ở Thành phố Hồ Chí Minh bắt đầu ra đời vào năm 1996 và tập trung mạnh nhất vào năm 1997: Tân Bình, Tân Tạo, Vĩnh Lộc, Bình Chiểu, Tân Thới Hiệp, Lê Minh Xuân… Những KCN này hầu như tỷ lệ lấp đầy diện tích đã đạt 100%
Đồng Nai, Bình Dương, Long An là những tỉnh phát triển KCN sau thành phố Hồ Chí Minh, nhưng việc xây dựng và phát triển các KCN tại hai tỉnh này có những bước phát triển vượt bậc Bình Dương có 30 KCN được thành lập với tổng diện tích quy hoạch hơn 9.053 ha, đã có 26/30 KCN đi vào hoạt động chính thức KCN lớn nhất là KCN VSIP II-A với diện tích 1.008 ha, nhỏ nhất là KCN Bình Đường với diện tích 16,5 ha KCN VSIP đầu tiên được thành lập tại tỉnh Bình Dương từ năm 1996, kể từ sự thành công của VSIP I mà các VSIP II, III, IV, V tiếp tục được thực hiện Bình Dương liên tục nằm trong tốp những tỉnh thu hút vốn FDI
Trang 34lớn nhất cả nước Bà Rịa – Vũng Tàu trong thời gian những năm gần đây, tuy phát triển KCN muộn hơn nhưng cũng đã dần trở thành một trong những địa phương thu hút được nhiều vốn FDI vào các KCN
Bảng 2.3 Các KCN tiêu biểu của vùng kinh tế trọng điểm Nam Bộ (đến hết
năm 2013)
thành lập
Diện tích (ha)
Tỷ lệ lấp đầy (%)
Tổng số
dự án đầu tư
Tổng vốn đầu tư đăng ký (triệu USD)
2009 Toàn vùng hiện có 65 KCN được quy hoạch với diện tích 26.511ha, trong đó
có 52 khu đang hoạt động với diện tích 16.594 ha, thu hút 574 dự án đầu tư (có 140
dự án ĐTNN) với tổng vốn đầu tư 2,795 tỷ USD
Thành phố Cần Thơ so với các tỉnh khác trong vùng được xem là có tốc độ phát triển kinh tế khá cao, có tiềm năng, thế mạnh công nghiệp, thương mại – dịch
vụ, khoa học, công nghệ….Trên địa bàn Thành phố Cần Thơ có một số KCN hoạt động có hiệu quả như: KCN Trà Nóc I đã lấp đầy 100% diện tích 135 ha, thu hút được 134 dự án với tổng vốn đăng ký là 355 triệu USD; KCN Trà Nóc II cũng đã
Trang 35lấp đầy 98% diện tích trên tổng diện tích 155 ha, thu hút 62 dự án với tổng vốn đăng
ký 577,34 triệu USD So với những vùng kinh tế trọng điểm khác thì quy mô của các KCN là nhỏ nhất, tuy nhiên, với những lợi thế có được vùng cũng đang từng bước phát triển các KCN theo hướng phù hợp với định hướng của Chính phủ và lợi thế của mình
Một số địa phương khác cũng đã dựa vào điều kiện về kinh tế – xã hội, giao thông, kết hợp với nắm bắt các cơ hội mà các nhà đầu tư dành cho mình để xây dựng và thu hút đầu tư có hiệu quả Điển hình là Thái Nguyên, sự có mặt của nhà đầu tư Hàn Quốc với dự án nhà máy sản xuất điện thoại Sam Sung tại KCN Yên Bình vào tháng 03/2013 đã đưa Thái Nguyên trở thành địa phương thu hút FDI nhiều nhất năm 2013 Ở một số địa bàn có điều kiện khó khăn cũng đã có những KCN bước đầu thành lập và hoạt động, ví dụ KCN Hòn La và Tây Bắc Đồng Hới (Quảng Bình), KCN Sao Mai (Kon Tum), KCN An Nghiệp (Sóc Trăng)…
2.2 Phân tích thực trạng chất lượng thu hút FDI vào các KCN ở Việt Nam
2.2.1 Nội dung hoạt động thu hút FDI vào các KCN ở Việt Nam
2.2.1.1 Xác định mục tiêu thu hút FDI vào KCN
Trong giai đoạn đầu thu hút FDI vào các KCN, mục tiêu thu hút FDI vào các KCN là: vận động thu hút đầu tư nhằm lấp đầy các KCN đã thành lập Chính vì vậy, hoạt động thu hút FDI vào các KCN Việt Nam còn chạy theo số lượng, chưa quan tâm đến chất lượng của dự án thu hút Các địa phương chưa xây dựng được các KCN chuyên ngành phù hợp với nguồn lực của địa phương mình, còn xảy ra tình trạng ganh đua, cạnh tranh trong thu hút FDI giữa các địa phương gây lãng phí, thất thoát nguồn lực của đất nước Đồng thời, do mục tiêu thu hút thiếu định hướng cụ thể từ Trung ương nên hoạt động thu hút FDI vào các KCN ở các địa phương diễn
ra tình trạng tự phát, ảnh hưởng lớn đến kết quả thu hút
Trên tinh thần của Nghị quyết 103/NQ-CP ngày 29/08/2013 của Chính phủ
về định hướng nâng cao hiệu quả thu hút, sử dụng và quản lý vốn FDI, Bộ Kế hoạch
và Đầu tư đã xác định mục tiêu thu hút FDI vào các KCN, cũng như định hướng cho các KCN phát triển trong tương lai hướng tới mục tiêu đến năm 2020 Việt Nam
cơ bản trở thành nước công nghiệp là:
Trang 36 Tập trung ưu tiên thu hút các ngành nghề, lĩnh vực có hàm lượng công nghệ tiên tiến, thâm dụng vốn, thân thiện với môi trường, các ngành nghề xác định là mũi nhọn phát triển và có lợi thế của Việt Nam
Tăng cường tính liên kết ngành trong phát triển KCN để hình thành nên các KCN liên kết ngành nhằm tăng lợi thế cạnh tranh của KCN và nâng cao hiệu quả hoạt động của các KCN, dần hình thành các ngành công nghiệp phụ trợ, đóng góp vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương theo hướng nâng cao tỷ trọng giá trị gia tăng ngành công nghiệp trong tổng giá trị gia tăng của địa phương
2.2.1.2 Xây dựng và hoàn thiện môi trường đầu tư trong KCN
Chiến lược, quy hoạch phát triển các KCN
Về xây dựng chiến lược phát triển KCN
Đến nay, Việt Nam chưa xây dựng được chiến lược phát triển KCN, đây là một hạn chế rất lớn, cần được khắc phục trong thời gian tiếp theo
Về xây dựng quy hoạch phát triển KCN
Theo quyết định 1107QĐ-TTg ngày 21/08/2006 về việc phê duyệt quy hoạch phát triển các KCN đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020, Quy hoạch phát triển các KCN Việt Nam đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020 có những nội dung chủ yếu sau:
Về mục tiêu tổng quát: hình thành hệ thống các KCN chủ đạo có vai trò dẫn dắt sự phát triển công nghiệp quốc gia, đồng thời hình thành các KCN có quy mô hợp lý để tạo điều kiện phát triển công nghiệp, nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại những địa phương có tỷ trọng công nghiệp trong GDP thấp
Về mục tiêu cụ thể đến 2010:
Phấn đấu đến năm 2010 về cơ bản lấp đầy các KCN đã được thành lập; thành lập mới một cách có chọn lọc các KCN với diện tích tăng lên khoảng 15.000 ha – 20.000 ha, nâng tổng diện tích các KCN đến năm 2010 lên khoảng 45.000ha – 50.000ha
Đầu tư đồng bộ, hoàn thiện các công trình kết cấu hạ tầng KCN hiện có, đặc biệt là các công trình xử lý nước thải và đảm bảo diện tích cây xanh trong các KCN theo quy hoạch xây dựng được phê duyệt nhằm bảo vệ môi trường và phát triển bền vững
Trang 37Cũng theo quyết định này, việc hình thành các KCN trên các địa bàn lãnh thổ phải đáp ứng các điều kiện và tiêu chí sau:
- Phù hợp với quy hoạch, kế hoạch và tình hình phát triển kinh tế – xã hội; quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất của từng địa phương
- Có các điều kiện thuận lợi hoặc có khả năng xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội, triển khai đồng bộ và kết hợp chặt chẽ giữa quy hoạch phát triển KCN, KCX với quy hoạch phát triển đô thị, phân bố dân cư, nhà ở
và các công trình xã hội phục vụ công nhân trong KCN, KCX
- Có quỹ đất dự trữ để phát triển và có điều kiện liên kết thành cụm các KCN; riêng đối với các địa phương thuần túy đất nông nghiệp, khi phát triển các KCN để thực hiện mục tiêu chuyển đổi cơ cấu kinh tế cần tiến hành phân kỳ đầu tư chặt chẽ nhằm đảm bảo sử dụng đất có hiệu quả
- Có khả năng thu hút vốn đầu tư của các nhà đầu tư trong nước và NĐTNN
- Có khả năng cung cấp và đáp ứng nhu cầu về lao động
- Đảm bảo các yêu cầu về an ninh, quốc phòng
- Đối với các địa phương đã phát triển KCN, việc thành lập mới các KCN chỉ được thực hiện khi tổng diện tích đất công nghiệp của các KCN hiện tại có đã được cho thuê ít nhất là 60%
- Việc mở rộng các KCN hiện có chỉ được thực hiện khi tổng diện tích đất công nghiệp của KCN đó đã được cho thuê ít nhất là 60% và đã xây dựng xong công trình xử lý nước thải tập trung
- Đối với KCN có quy mô diện tích trên 500 ha và có nhiều chủ đầu tư tham gia đầu tư xây dựng – kinh doanh kết cấu hạ tầng, phải tiến hành lập quy hoạch chung xây dựng KCN theo hướng dẫn của Bộ Xây dựng trước khi lập quy hoạch chi tiết KCN để đảm bảo tính thống nhất và tính đồng bộ của hệ thống hạ tầng kỹ thuật KCN
- Trong KCN, KCX không có khu dân cư Trong KCN có thể có KCX, doanh nghiệp chế xuất
Một số chỉ tiêu dự kiến về số các KCN được thành lập mới tính đến 2015 cũng như các KCN dự kiến sẽ mở rộng được thể hiện ở bảng 2.4 và bảng 2.5 dưới đây:
Bảng 2.4 Dự kiến các KCN được thành lập mới tính đến năm 2015
Trang 38Số lƣợng Diện tích dự kiến (ha)
Trang 39từ 200 ha – 470 ha Một số địa phương khác như Quảng Ngãi, Thừa Thiên – Huế, Thanh Hóa ở khu vực Trung Bộ cũng dự kiến mở rộng KCN của mình nhằm tạo nên bước phát triển mới cho khu vực này Đáng nói là ở Trung du và miền núi phía Bắc và Tây Nguyên hầu như không có KCN nào dự kiến được mở rộng, nguyên nhân là do các KCN ở hai khu vực này còn chưa thu hút được nhiều nhà đầu tư, tỷ
lệ lấp đầy KCN cũng chưa cao nên không mở rộng thêm KCN nào cho đến năm
2015
Tính đến tháng 12 năm 2013, cả nước đã có tổng số 288 KCN được thành lập, 190 KCN đã đi vào hoạt động với tổng diện tích đất tự nhiên 54.093 ha và 98 KCN đang trong giai đoạn đền bù giải phóng mặt bằng và xây dựng cơ bản (diện tích 26.716 ha)
Bảng 2.6 Tình hình xây dựng và phát triển KCN từ năm 2010 đến năm 2013
Trang 40Số KCN đang trong giai
số 07/CT-TTg ngày 12/03/2012 về tuân thủ chặt chẽ các điều kiện mở rộng, thành lập mới KCN, KKT; đồng thời, từ năm 2012 cũng thực hiện rà soát quy hoạch KCN, KKT một cách chặt chẽ hơn
Bảng 2.7 Tình hình thành lập mới, mở rộng và giải thể các KCN Việt Nam từ
và đƣa ra khỏi quy hoạch phát
triển KCN Việt Nam
Xây dựng hạ tầng kỹ thuật trong hàng rào
Cơ sở hạ tầng kỹ thuật của KCN là một trong những yếu tố cơ bản để nhà