Khóa luận tốt nghiệp: 2014 Tình hình xuất khẩu than tại Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Than – Vinacomin giai đoạn 2009 - 2013: Thực trạng và giải pháp nhằm bổ sung thêm kiến thức về lý luận hoạt động xuất khẩu, tình hình xuất khẩu và giải pháp nâng cao hoạt động xuất khẩu than tại Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Than – Vinacomin.
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tên đề tài “Tình hình xuất khẩu Than tại Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Than – Vinacomin giai đoạn 2009 - 2013: Thực trạng và giải pháp”
Tên sinh viên: Trần Thị Én
Lớp: KTĐN1B – Khoa Kinh tế đối ngoại – Học viện chính sách và phát triển Giáo viên hướng dẫn: Th.S Bùi Quý Thuấn
Lời cam kết: “Tôi xin cam đoan, luận văn tốt nghiệp này do chính tôi nghiên cứu soạn thảo Tôi không sao chép bất cứ bài viết nào đã được công bố mà không trích dẫn nguồn gốc Các thông tin, số liệu có độ tin cậy cao, tôi đã tham khảo từ các nguồn tin cậy Nếu có bất kỳ một vi phạm nào tôi xin hoàn toàn chịu trách
nhiệm”
Trang 210 TKV: Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam
11 TVSI: Công ty chứng khoán Tân Việt
Trang 3DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Hình 1.1: Sơ đồ quy trình xuất khẩu 17
Hình 1.2: SƠ ĐỒ TỔ CHỨC CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN XNK THAN – VINACOMIN 26
Hình 1.3: Biểu đồ tình hình xuất khẩu lao động từ năm 2005 - 2011 30
Hình 1.4 Quy trình thực hiện hợp đồng xuất khẩu than tại Coalimex 37
Hình 1.5: Cơ cấu xuất khẩu than tại Coalimex năm 2012 48
Biểu đồ 1.1: Kim ngạch xuất khẩu Than cả nước giai đoạn 2009-2013 21
Bảng 1.1: Số liệu xuất khẩu than giai đoạn 2007 – 2013 28
Bảng 1.2: Số liệu nhập khẩu than giai đoạn 2007-2013 29
Biểu đồ 1.2: Kim ngạch xuất khẩu than tại Coalimex giai đoạn 2008-2013 43
Biểu đồ 1.3: Sản lượng than xuất khẩu của Coalimex giai đoạn 2008 - 2013 44
Biểu đồ 1.4: Cơ cấu kim ngạch xuất khẩu Than của Coalimex sang các thị trường năm 2009 45
Bảng 1.4: Sản lượng xuất khẩu than Coalimex của các thị trường năm 2011 46
Bảng 1.5: Số liệu xuất khẩu than của Coalimex giai đoạn 2009-2013 47
Bảng 1.6 Giá than xuất khẩu trung bình giai đoạn 2008-2013 của Coalimex 50
Bảng 1.7: Tình hình trữ lượng một số mỏ than lộ thiên 52
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ii
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU iii
LỜI NÓI ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Đối tượng mà mục đích nghiên cứu 2
3 Phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Kết cấu luận văn 2
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU 3
1.1 Khái niệm 3
1.2 Vai trò của hoạt động xuất khẩu 4
1.2.1 Đối với nền kinh tế toàn cầu 4
1.2.2 Đối với nền kinh tế mỗi quốc gia 6
1.2.3 Đối với các doanh nghiệp 9
1.3 Các hình thức xuất khẩu chủ yếu 10
1.3.1 Xuất khẩu trực tiếp 10
1.3.2 Xuất khẩu ủy thác 11
1.3.3 Buôn bán đối lưu (Counter – trade) 12
1.3.4 Xuất khẩu hàng hoá theo nghị định thư 14
1.3.5 Xuất khẩu tại chỗ 14
1.3.6.Gia công quốc tế 14
1.3.7.Tạm nhập tái xuất 16
1.4 Quy trình xuất khẩu 17
1.4.1 Chuẩn bị hàng hóa xuất khẩu 17
1.4.2 Kiểm tra hàng hóa xuất khẩu 17
1.4.4 Mua bảo hiểm cho hàng hóa 18
1.4.5 Làm thủ tục hải quan 18
1.4.6 Làm thủ tục thanh toán 18
1.4.7 Khiếu nại và giải quyết khiếu nại 18
CHƯƠNG II: TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU THAN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN XUẤT NHẬP KHẨU THAN – VINACOMIN 19
2.1 Sơ lược về Ngành Than 19
2.2 Tổng quan về công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Than – Vinacomin 22
2.2.1 Quá trình hình thành và phát triển 22
Trang 52.2.2 Chức năng và nhiệm vụ 24
2.2.3 Cơ cấu tổ chức 25
2.2.4 Lĩnh vực hoạt động của Công ty 27
2.2.5 Định hướng phát triển 31
2.2.6 Đánh giá hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty trong những năm gần đây 33
2.2.7 Đánh giá môi trường hoạt động của Công ty 35
2.3 Tình hình xuất khẩu than tại công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Than – Vinacomin 37
2.3.1 Quy trình xuất khẩu than tại Coalimex 37
2.3.2 Quy cách phẩm chất than xuất khẩu 39
2.3.3 Các thị trường xuất khẩu than chính của Coalimex 39
2.3.4 Tình hình xuất khẩu than tại Coalimex giai đoạn 2008 – 2013 42
2.4 Đánh giá hoạt động xuất khẩu than của Coalimex 49
2.4.1 Thành công đạt được 49
2.4.2 Hạn chế và nguyên nhân 50
CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU THAN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XUẤT NHẬP KHẨU THAN – VINACOMIN 54
3.1 Định hướng phát triển của Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản trong thời gian tới 54
3.2 Định hướng xuất khẩu than của Công ty Coalimex trong thời gian tới 55
3.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả xuất khẩu tại công ty Coalimex 56
3.3.2 Một số kiến nghị về chính sách vĩ mô của Nhà nước nhằm tạo điều kiện thúc đẩy xuất khẩu mặt hàng than 58
3.4 Một số giải pháp khác 60
3.4.1 Đa dạng hóa sản phẩm gắn với bảo vệ môi trường 60
3.4.2 Đổi mới công nghệ khai thác than hầm lò - Xu hướng tất yếu của ngành than 61
3.4.3 Bảo đảm an toàn cho người lao động 61
3.4.4 Giải pháp về tài chính 61
KẾT LUẬN 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO 63
PHỤ LỤC
Trang 6LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Như chúng ta đã biết, xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng phát triển một cách nhanh chóng và mạnh mẽ Các nền kinh tế, các quốc gia, các tập đoàn ngày càng có mối liên hệ gắn bó và phụ thuộc với nhau chặt chẽ hơn Trong bối cảnh hội nhập này, thương mại quốc tế đóng vai trò là mũi nhọn của một quốc gia, là một lĩnh vực cực kỳ năng động để thúc đẩy nền kinh tế trong nước hội nhập với nền kinh tế thế giới Xuất nhập khẩu dường như trở thành một xu thế tất yếu đóng góp vào sự phát triển của một quốc gia Việt Nam cũng không nằm ngoài
xu thế đó Việt Nam đang trên con đường hội nhập với nền kinh tế thế giới, chính sách mở cửa cùng với cơ chế thị trường định hướng XHCN đã làm cho nền kinh tế Việt Nam trở nên năng động, linh hoạt và hiệu quả hơn Với việc gia nhập WTO đó
là một cơ hội cũng như thách thức đối với các doanh nghiệp trong nước khi tham gia vào nền kinh tế thế giới Một trong những mục tiêu quan trọng là mở rộng kinh doanh đối ngoại với nhiều nước trên thế giới do vậy việc thúc đẩy hoạt động thương mại quốc tế là một điều hết sức cần thiết Xuất khẩu góp phần quan trọng đóng góp vào sự tăng trưởng của đất nước
Việt Nam có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, nhiều loại khoáng sản trong đó than là môt nguồn tài nguyên đem lại nhiều lợi ích cho đất nước, có thể nói đây là một loại “vàng đen” hết sức quý giá, nó ảnh hưởng đến các ngành công nghiệp khác Hơn thế nữa, với sự phát triển của các ngành công nghiệp trên thế giới thì nhu cầu sử dụng than làm nguồn nhiên liệu ngày càng không thể thiếu Xuất khẩu than ở nước ta cũng đã đang và ngày càng có địa vị trên trườn quốc tế Công
ty Cổ phân Xuất nhập khẩu Than – Vinacomin được thành lập năm 1982, là một thành viên của Tập đoàn Than – Khoáng sản Việt Nam cũng đã và đang góp phần không nhỏ vào sự tăng trưởng của nền kinh tế đất nước Lĩnh vực hoạt động của công ty xuất khẩu than, nhập khẩu thiết bị vật tư, xuất khẩu lao động, đầu tư và hợp tác quốc tế, kinh doanh địa ốc và văn phòng Trong đó xuất khẩu than là lĩnh vực hoạt động chính xuyên suốt kể từ khi công ty thành lập cho tới nay
Trong quá trình thực tập tại Công ty, nhận thấy tầm quan trọng của hoạt động
xuất khẩu than nên tôi đã chọn đề tài “Tình hình xuất khẩu than tại công ty Cổ
Trang 7phần Xuất nhập khẩu Than – Vinacomin giai đoạn 2009 - 2013: Thực trạng và giải pháp” làm đề tài khóa luận này
2 Đối tượng mà mục đích nghiên cứu
Đối tượng: Hoạt động xuất khẩu Than tại công ty Cổ phần XNK Than –
Vinacomin
Mục đích:
- Nghiên cứu tình hình, biến động của hoạt động xuất khẩu Than tại Coalimex;
- Chỉ ra những kết quả đạt được và hạn chế trong công tác xuất khẩu than;
- Đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao, thúc đẩy hoạt động xuất khẩu than tại công ty
3 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu hoạt động xuất khẩu than của công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Than – Vinacomin từ năm 2008 đến năm 2013
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài này, tôi có sử dụng những phương pháp nghiên cứu như:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu,
- Phương pháp thống kê,
- Phương pháp phân tích và tổng hợp số liệu
5 Kết cấu luận văn
Ngoài lời mở đầu và kết luận, kết cấu luận văn gồm 3 chương:
Chương I: Lý luận về hoạt động xuất khẩu
Chương II: Tình hình xuất khẩu Than tại công ty Cổ phần Xuất nhập
khẩu Than – Vinacomin
Chương III: Một số giải pháp nâng cao hoạt động xuất khẩu than
Em xin trân thành cảm ơn tới Th.S Bùi Quý Thuấn, các anh chị cán bộ trong Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Than – Vinacomin, đã tận tình hướng dẫn và chỉ bảo trong quá trình hoàn thành luận văn này Trong thời gian hoàn thành luận văn
do trình độ, kiến thức, kinh nghiệm thực tiễn còn nhiều hạn chế nên không tránh khỏi sai sót, em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp để phục vụ cho công tác sau này
Trang 8CHƯƠNG I: LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU
1.1 Khái niệm
Trong xu thế hội nhập của nền kinh tế toàn cầu thì hoạt động xuất khẩu là hoạt động rất cần thiết Thông qua hoạt động xuất khẩu các quốc gia tham gia vào hoạt động này phụ thuộc vào nhau nhiều hơn Dựa trên cơ sở về lợi thế so sánh giữa các quốc gia từ đó mà tính chuyên môn hoá cao hơn, làm giảm chi phí sản xuất và các chi phí khác từ đó làm giảm giá thành Mục đích của các quốc gia khi tham gia xuất khẩu là thu được một lượng ngoại tệ lớn để có thể nhập khẩu các trang thiết bị máy móc, kĩ thuật công nghệ hiện đại… tạo ra công ăn việc làm, tăng thu nhập và nâng cao mức sống của nhân dân, từ đó tạo điều kiện thúc đẩy kinh tế phát triển và rút ngắn được khoảng cách chênh lệch quá lớn giữa các nước Trong nền kinh tế thị trường các quốc gia không thể tự mình đáp ứng được tất cả các nhu cầu mà nếu có đáp ứng thì chi phí quá cao, vì vậy bắt buộc các quốc gia phải tham gia vào hoạt động xuất khẩu, để xuất khẩu những gì mà mình có lợi thế hơn các quốc gia khác để nhập những gì mà trong nước không sản xuất được hoặc có sản xuất được thì chi phí quá cao Do đó các nước khi tham gia vào hoạt động xuất nhập khẩu rất có lợi, tiết kiệm được nhiều chi phí, tạo được nhiều việc làm, giảm được các tệ nạn xã hội, tạo điều kiện chuyển dịch cơ cấu ngành nghề, thúc đẩy sản xuất phát triển, góp phần vào xây dựng công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước
Hoạt động xuất khẩu là hoạt động cơ bản của hoạt động ngoại thương Trong bối cảnh hội nhập như hiện nay thì xuất khẩu là hoạt động không thể thiếu đối với mỗi quốc gia khi muốn mở rộng quan hệ hợp tác với các nước trên thế giới đồng thời thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế trong nước ra với thế giới Nó đã xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử phát triển của xã hội, tuy nhiên ban đầu nó chỉ là hoạt động trao đổi hàng hóa đơn thuần đến bây giờ thì hoạt động xuất khẩu đã và đang ngày càng phát triển với nhiều hình thức
Như vậy, hoạt động xuất khẩu là việc bán hàng hóa, dịch vụ sang một quốc gia khác trên cơ sở dùng tiền tệ làm phương tiện thanh toán hay nói cách khác là việc hàng hóa được đưa từ quốc gia này sang quốc gia khác Tiền tệ ở đây có thể là ngoại tệ đối với một quốc gia hoặc cả hai quốc gia, được thỏa thuận giữa hai quốc gia trước khi trao đổi hàng hóa, dịch vụ
Trang 9Cơ sở của hoạt động xuất khẩu là việc mua bán và trao đổi ( bao gồm cả hàng hoá vô hình và hữu hình ) trong nước Cho tới khi sản xuất phát triển và việc trao đổi hàng hoá giữa các quốc gia đều có lợi, hoạt động này mở rộng phạm vi ra ngoài biên giới của các quốc gia
Hoạt động xuất khẩu diễn ra trên mọi lĩnh vực Nó có thể diễn ra trong thời gian rất ngắn song cũng có thể kéo dài hàng năm, có thể đước diễn ra trên phạm vi một quốc gia hay nhiều quốc gia khác nhau
1.2 Vai trò của hoạt động xuất khẩu
1.2.1 Đối với nền kinh tế toàn cầu
Như chúng ta đã biết xuất khẩu hàng hoá xuất hiện từ rất sớm Nó không phải
là hành vi buôn bán riêng lẻ, đơn phương mà ta có cả một hệ thống các quan hệ buôn bán trong tổ chức thương mại toàn cầu Với mục tiêu là tiêu thụ sản phẩm của một doanh nghiệp nói riêng cả quốc gia nói chung
Hoạt động xuất khẩu là một nội dung chính của hoạt động ngoại thương và là hoạt động đầu tiên của thương mại quốc tế Xuất khẩu có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế của từng quốc gia cũng như trên toàn thế giới Xuất khẩu hàng hoá nằm trong lĩnh vực lưu thông hàng hoá Đây là cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng của nước này với nước khác Có thể nói sự phát triển của của xuất khẩu sẽ là một trong những động lực chính để thúc đẩy sản xuất
Trước hết, xuất khẩu bắt nguồn từ sự đa dạng về điều kiện tự nhiện của sản xuất giữa các nước, nên chuyên môn hoá một số mặt hàng có lợi thế và nhập khẩu các mặt hàng khác từ nước ngoài mà sản xuất trong nước kém lợi thế hơn thì chắc chắn sẽ đem lại lợi nhuận lớn hơn Điều này được thể hiện bằng một số lý thuyết sau
Lý thuyết về lợi thế tuyệt đối
Theo quan điểm về lợi thế tuyệt đối của nhà kinh tế học Adam Smith, mỗi
quốc gia chỉ sản xuất các loại hàng hoá, mà việc sản xuất này sử dụng tốt nhất, hiệu quả nhất các tài nguyên sẵn có của quốc gia đó Đây là một trong những giải thích đơn giản về lợi ích của thương mại quốc tế nói chung và xuất khẩu nói riêng Nhưng trên thực tế việc tiến hành trao đổi phải dựa trên nguyên tắc đôi bên cùng có
Trang 10lợi Nếu trong trường hợp một quốc gia có lợi và một quốc gia khác bị thiệt thì họ
sẽ từ chối tham gia vào hợp đồng trao đổi này
Tuy nhiên, lợi thế tuyết đối của Adam Smith cũng giải thích được một phần nào đó của việc đem lại lợi ích của xuất khẩu giữa các nước đang phát triển Với sự phát triển mạmh mẽ của nền kinh tế toàn cầu mấy thập kỷ vừa qua cho thấy hoạt động xuất khẩu chủ yếu diễn ra giữa các quốc gia đang phát triển với nhau, điều này không thể giải thích bằng lý thuyết lợi thế tuyệt đối Trong những cố gắng để giải thích các cơ sở của thương mại quốc tế nói chung và xuất khẩu nói riêng, lợi thế tuyệt đối chỉ còn là một trong những trường hợp của lợi thế so sánh
Lý thuyết lợi thế so sánh
Theo như quan điểm của lợi thế so sánh của nhà kinh tế học người Anh David Ricardo, ông cho rằng nếu một quốc gia có hiệu quả thấp hơn so với hiệu quả của quốc gia khác trong việc sản xuất tất cả các loại sản phẩm thì quốc gia đó vẫn có thể tham gia vào hoạt động xuất khẩu để tạo ra lợi ích Khi tham gia vào hoạt đông xuất khẩu quốc gia đó sẽ tham gia vào việc sản xuất và xuất khẩu các loại hàng hoá
mà việc sản xuất ra chúng ít bất lợi nhất( đó là những hàng hoá có lợi thế tương đối)
và nhập khẩu những hàng hoá mà việc sản xuất ra chúng có những bất lợi hơn (đó là những hàng hoá không có lợi thế tương đối)
Học thuyết HECSHER- OHLIN
Như chúng ta đã biết lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo chỉ đề cập đến mô hình đơn giản chỉ có hai nước và việc sản xuất hàng hoá chỉ với một nguồn đầu vào là lao động Vì thế mà lý thuyết của David Ricardo chưa giải thích một cách rõ ràng về nguồn gốc cũng như là lơị ích của các hoạt động xuất khẩu trong nền kinh tế hiện đại Để đi tiếp con đường của các nhà khoa học đi trước hai nhà kinh tế học người Thuỵ Điển đã bổ sung mô hình mới trong đó ông đã đề cập tới hai yếu tố đầu vào là vốn và lao động Học thuyết Hecsher- Ohlin phát biểu: Một nước
sẽ xuất khẩu loại hàng hoá mà việc sản xuất ra chúng sử dụng nhiều yếu tố rẻ và tương đối sẵn của nước đó và nhập khẩu những hàng hoá mà việc sản xuất ra chúng cần nhiều yếu tố và tương đối khan hiếm ở quốc gia đó Hay nói một cách khác một quốc gia tương đối giàu lao động sẽ sản xuất hàng hoá sử dụng nhiều lao động và nhập khẩu những hàng hoá sử dụng nhiều vốn
Trang 11Về bản chất học thuyết Hecher- Ohlin căn cứ về sự khác biệt về tình phong phú và giá cả tương đối của các yếu tố sản xuất, là nguyên nhân dẫn đến sự khác biệt về giá cả tương đối của hàng hoá giữa các quốc gia trước khi có các hoạt động xuất khẩu để chỉ rõ lợi ích của các hoạt động xuất khẩu sự khác biệt về giá cả tương đối của các yếu tố sản xuất và giá cả tương đối của các hàng hoá sau đó sẽ được chuyển thành sự khác biệt về giá cả tuyệt đối của hàng hoá Sự khác biệt về gíá cả tuyệt đối của hàng hoá là nguồn lợi của hoạt động xuất khẩu
Nói một cách khác, một quốc gia dù ở trong tình huống bất lợi vẫn có thể tìm
ra điểm có lợi để khai thác Bằng việc khai thác các lợi thế này các quốc gia tập trung vào việc sản xuất và xuất khẩu những mặt hàng có lợi thế tương đối và nhập khẩu những mặt hàng không có lợi thế tương đối Sự chuyên môn hoá trong sản xuất này làm cho mỗi quốc gia khai thác được lợi thế của mình một cách tốt nhất, giúp tiết kiệm được những nguồn lực như vốn, lao động, tài nguyên thiên nhiên…trong quá trình sản xuất hàng hoá Chính vì vậy trên quy mô toàn thế giới thì tổng sản phẩm cũng sẽ tăng
1.2.2 Đối với nền kinh tế mỗi quốc gia
Xuất khẩu là một trong những nhân tố tạo đà, thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của mỗi quốc gia
Theo như hầu hết các lý thuyết về tăng trưởng và phát triển kinh tế đều khẳng định và chỉ rõ để tăng trưởng và phát triển kinh tế mỗi quốc gia cần có bốn điều kiện là nguồn nhân lực, tài nguyên, vốn, kỹ thuật công nghệ Nhưng hầu hết các quốc gia đang phát triển (như Việt Nam ) đều thiếu vốn, kỹ thuật công nghệ Do vậy câu hỏi đặt ra làm thế nào để có vốn và công nghệ
Xuất khẩu tạo nguồn vốn cho nhập khẩu, phục vụ công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước
Đối với mọi quốc gia đang phát triển thì bước đi thích hợp nhất là phải công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước để khắc phục tình trạng nghèo làn lạc hậu chậm phát triển Tuy nhiên quá trình công nghiệp hoá phải có một lượng vốn lớn để nhập khẩu công nghệ thiết bị tiên tiến
Trang 12Thực tế cho thấy, để có nguồn vốn nhập khẩu một nước có thể sử dụng nguồn vốn huy động chính như sau:
+ Đầu tư nước ngoài, vay nợ các nguồn viện trợ
+ Thu từ các hoạt động du lịch dịch vụ thu ngoại tệ trong nước
+ Thu từ hoạt động xuất khẩu
Tầm quan trọng của vốn đầu tư nước ngoài thì không ai có thể phủ nhận được, song việc huy động chúng không phải dễ dàng Sử dụng nguồn vốn này, các nước đi vay phải chịu thiệt thòi, phải chịu một số điều kiện bất lợi và sẽ phải trả sau này Bởi vì vậy xuất khẩu là một hoạt động tạo một nguồn vốn rất quan trọng nhất Xuất khẩu tạo tiền đề cho nhập khẩu, nó quyết định đến qui mô tốc độ tăng trưởng của hoạt động nhập khẩu Ở một số nước một trong những nguyên nhân chủ yếu của tình trạng kém phát triển là do thiếu tiềm năng về vốn do đó họ cho nguồn vốn
ở bên ngoài là chủ yếu, song mọi cơ hội đầu tư vay nợ và viện trợ của nước ngoài chỉ thuận lợi khi chủ đầu tư và người cho vay thấy được khả năng sản xuất và xuất khẩu –nguồn vốn duy nhất để trả nợ thành hiện thực
Xuất khẩu thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế thúc đẩy sản xuất phát
triển
Dưới tác động của xuất khẩu, cơ cấu sản xuất và tiêu dùng của thế giới đã và đang thay đổi mạnh mẽ xuất khẩu làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các quốc gia
từ nông nghiệp chuyển sang công nghiệp và dịch vụ
Có hai cách nhìn nhận về tác động của xuất khẩu đối với sản xuất và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Thứ nhất, chỉ xuất khẩu những sản phẩm thừa so với nhu cầu tiêu dùng nội địa Trong trường hợp nền kinh tế còn lạc hậu và chậm phát triển sản xuất về cơ bản chưa đủ tiêu dùng, nếu chỉ thụ động chờ ở sự dư thừa ra của sản xuất thì xuất khẩu chỉ bó hẹp trong phạm vi nhỏ và tăng trưởng chậm, do đó các ngành sản xuất không
có cơ hội phát triển
Trang 13Thứ hai, coi thị trường thế giới để tổ chức sản xuất và xuất khẩu Quan điểm này tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế thúc đẩy xuất khẩu Nó thể hiện:
+ Xuất khẩu tạo tiền đề cho các ngành cùng có cơ hội phát triển Điều này có thể thông qua ví dụ như khi phát triển ngành dệt may xuất khẩu, các ngành khác như bông, kéo sợi, nhuộm, tẩy…sẽ có điều kiện phát triển
+ Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng thị trường sản phẩm, góp phần ổn định sản xuất, tạo lợi thế nhờ quy mô
+ Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vào cho sản xuất,
mở rộng thị trường tiêu dùng của một quốc gia Nó cho phép một quốc gia có thể tiêu dùng tất cả các mặt hàng với số lượng lớn hơn nhiều lần giới hạn khả năng sản xuất của quốc gia đó thậm chí cả những mặt hàng mà họ không có khả năng sản xuất được
+ Xuất khẩu góp phần thúc đẩy chuyên môn hoá, tăng cường hiệu quả sản xuất của từng quốc gia Nó cho phép chuyên môn hoá sản xuất phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu Trong nền kinh tế hiện đại mang tính toàn cầu hoá như ngày nay, mỗi loại sản phẩm người ta nghiên cứu thử nghiệm ở nước thứ nhất, chế tạo ở nước thứ hai, lắp ráp ở nước thứ ba, tiêu thụ ở nước thứ tư và thanh toán thực hiện ở nước thứ năm Như vậy, hàng hoá sản xuất ra ở mỗi quốc gia và tiêu thụ ở một quốc gia cho thấy sự tác động ngược trở lại của chuyên môn hoá tới xuất khẩu Với đặc điểm quan trọng là tiền tệ sử dụng làm phương tiện thanh toán, xuất khẩu góp phần làm tăng dự trữ ngoại tệ một quốc gia Đặc biệt với các nước đang phát triển đồng tiền không có khả năng chuyển đổi thì ngoại tệ có được nhờ xuất khẩu đóng vai trò quan trọng trong việc điều hoà về cung cấp ngoại tệ, ổn định sản xuất, qua đó góp phần vào tăng trưởng và phát triển kinh tế
Xuất khẩu có tác động tích cực tới việc giải quyết công ăn việc làm, cải
thiện đời sống nhân dân
Đối với công ăn việc làm, xuất khẩu thu hút hàng triệu lao động thông qua việc sản xuất hàng xuất khẩu Mặt khác, xuất khẩu tạo ra ngoại tệ để nhập khẩu hàng tiêu dùng đáp ứng yêu cầu ngay càng đa dạng và phong phú của nhân dân
Trang 14 Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy sự phát triển các mối quan
hệ kinh tế đối ngoại
Xuất khẩu và các mối quan hệ kinh tế đối ngoại, ngoại giao có tác động qua lại, phụ thuộc lẫn nhau Hoạt động xuất khẩu là cơ sở tiền đề vững chắc để xây dựng các mối quan hệ kinh tế đối ngoại sau này, từ đó kéo theo các mối quan hệ khác phát triển như du lịch quốc tế, bảo hiểm quốc tế, tín dụng quốc tế… ngược lại
sự phát triển của các ngành này lại tác động trở lại hoạt động xuất khẩu làm cơ sở
hạ tầng cho hoạt động xuất khẩu phát triển
Có thể nói xuất khẩu nói riêng và hoạt động thương mại quốc tế nói chung sẽ dẫn tới những sự thay đổi trong sinh hoạt tiêu dùng hàng hoá của nền kinh tế bằng hai cách
+ Cho phép khối lượng hàng tiêu dùng nhiều hơn với số hàng hoá được sản xuất ra
+ Kéo theo sự thay đổi có lợi cho phù hợp với các đặc điểm của sản xuất Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng quốc gia mà các tác động của xuất khẩu đối với các quốc gia khác nhau là khác nhau
1.2.3 Đối với các doanh nghiệp
Cùng với sự bùng nổ của nền kinh tế toàn cầu thì xu hướng vươn ra thị trường quốc tế là một xu hướng chung của tất cả các quốc gia và các doanh nghiệp Xuất khẩu là một trong những con đường quen thuộc để các doanh nghiệp thực hiện kế hoạch bành trướng, phát triển, mở rộng thị trường của mình
Xuất khẩu tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra Nhờ có xuất khẩu mà tên tuổi của doanh nghiệp không chỉ được các khách hàng trong nước biết đến mà còn có mặt ở thị trường nước ngoài
Xuất khẩu tạo nguồn ngoại tệ cho các doanh nghiệp, tăng dự trữ qua đó nâng cao khả năng nhập khẩu, thay thế, bổ sung, nâng cấp máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu… phục vụ cho quá trình phát triển
Trang 15 Xuất khẩu phát huy cao độ tính năng động sáng tạo của cán bộ XNK cũng như các đơn vị tham gia như: tích cực tìm tòi và phát triển các mặt trong khả năng xuất khẩu các thị trường mà doanh nghiệp có khả năng thâm nhập
Xuất khẩu buộc các doanh nghiệp phải luôn luôn đổi mới và hoàn thiện công tác quản trị kinh doanh Đồng thời giúp các doanh nghiệp kéo dài tuổi thọ của chu kỳ sống của một sản phẩm
Xuất khẩu tất yếu dẫn đến cạnh tranh, theo dõi lần nhau giữa các đơn vị tham gia xuất khẩu trong và ngoài nước Đây là một trong những nguyên nhân buộc các doanh nghiệp tham gia xuất khẩu phải nâng cao chất lượng hàng hoá xuất khẩu, các doanh nghiệp phải chú ý hơn nữa trong việc hạ giá thành của sản phẩm, từ đó tiết kiệm các yếu tố đầu vào, hay nói cách khác tiết kiệm các nguồn lực
Sản xuất hàng xuất khẩu giúp doanh nghiệp thu hút được nhiều lao động, tăng thêm thu nhập ổn định cho đời sống cán bộ của công nhân viên và tăng thêm lợi nhuận
Doanh nghiệp tiến hành hoạt động xuất khẩu có cơ hội mở rộng quan hệ buôn bán kinh doanh với nhiều đối tác nước ngoài dùa trên cơ sở đôi bên cùng có lợi
1.3 Các hình thức xuất khẩu chủ yếu
Trên thị trường thế giới, các nhà buôn giao dịch với nhau theo những cách
thức nhất định Ứng với mỗi phương thức xuất khẩu có đặc điểm riêng, kỹ thuật tiến
hành riêng Tuy nhiên trong thực tế xuất khẩu thường sử dụng một trong những phương thức chủ yếu sau:
1.3.1 Xuất khẩu trực tiếp
Xuất khẩu trực tiếp là việc xuất khẩu các loại hàng hoá và dịch vụ do chính doanh nghiệp sản xuất ra hoặc thu mua từ các đơn vị sản xuất trong nước tới khách hàng nước ngoài thông qua các tổ chức của mình
Trong trường hợp doanh nghiệp tham gia xuất khẩu là doanh nghiệp thương mại không tự sản xuất ra sản phẩm thì việc xuất khẩu bao gồm hai công đoạn: + Thu mua tạo nguồn hàng xuất khẩu với các đơn vị, địa phương trong nước + Đàm phán ký kết với doanh nghiệp nước ngoài, giao hàng và thanh toán tiền hàng với đơn vị bạn
Trang 16Phương thức này có một số ưu điểm là: thông qua đàm phán thảo luận trực tiếp dễ dàng đi đến thống nhất và ít xảy ra những hiểu lầm đáng tiếc do đó:
+ Giảm được chi phí trung gian do đó làm tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp + Có nhiều điều kiện phát huy tính độc lập của doanh nghiệp
+ Chủ động trong việc tiêu thụ hàng hoá sản phẩm của mình
Tuy nhiên bên cạnh những mặt tích cực thì phương thức này còn bộc lộ một số những nhược điểm như:
+ Dễ xảy ra rủi ro
+ Nếu như không có cán bộ XNK có đủ trình độ và kinh nghiệm khi tham gia
ký kết hợp đồng ở một thị trường mới hay mắc phải sai lầm gây bất lợi cho mình + Khối lượng hàng hoá khi tham giao giao dịch thường phải lớn thì mới có thể
bù đắp được chi phí trong việc giao dịch
Như khi tham gia xuất khẩu trực tiếp phải chuẩn bị tốt một số công việc Nghiên cứu tìm hiểu kỹ về bạn hàng, loại hàng hoá định mua bán, các điều kiện giao dịch đưa ra trao đổi, cần phải xác định rõ mục tiêu và yêu cầu của công việc Lựa chọn người có đủ năng lực tham gia giao dịch, cân nhắc khối lượng hàng hoá, dịch vụ cần thiết để công việc giao dịch có hiệu quả
1.3.2 Xuất khẩu ủy thác
Đây là hình thức kinh doanh trong đó đơn vị XNK đóng vai trò là người trung gian thay cho đơn vị sản xuất tiến hành ký kết hợp đồng xuất khẩu, tiến hành làm các thủ tục cần thiết để xuất khẩu do đó nhà sản xuất và qua đó được hưởng một số tiền nhất định gọi là phí uỷ thác
Hình thức này bao gồm các bước sau:
+ Ký kết hợp đồng xuất khẩu uỷ thác với đơn vị trong nước
+ Ký hợp đồng xuất khẩu, giao hàng và thanh toán tiền hàng bên nước ngoài + Nhận phí uy thác xuất khẩu từ đơn vị trong nước
Ưu điểm của phương thức này:
Những người nhận uỷ thác hiểu rõ tình hình thị trường pháp luật và tập quán địa phương, do đó họ có khả năng đẩy mạnh việc buôn bán và thanh tránh bớt uỷ thác cho người uỷ thác
Trang 17Đối với người nhận uỷ thác là không cần bỏ vốn vào kinh doanh tạo ra công
ăn việc làm cho nhân viên đồng thời cũng thu được một khoản tiền đáng kể
Tuy nhiên, việc sử dụng trung gian bên cạnh mặt tích cực như đã nói ở trên còn có những han chế đáng kể như :
- Công ty kinh doanh XNK mất đi sự liên kết trực tiếp với thị trường thường phải đáp ứng những yêu sách của người trung gian
- Lợi nhuận bị chia sẻ
1.3.3 Buôn bán đối lưu (Counter – trade)
a Khái niệm:
Buôn bán đối lưu là một trong những phương thức giao dịch xuất khẩu trong xuất khẩu kết hợp chặc chẽ với nhập khẩu, người bán hàng đồng thời là người mua, lượng trao đổi với nhau có giá trị tương đương Trong phương thức xuất khẩu này mục tiêu là thu về một lượng hàng hoá có giá trị tương đương Vì đặc điểm này mà phương thức này còn có tên gọi khác như xuất nhập khẩu liên kết, hay hàng đổi hàng
- Cân bằng về tổng giá trị hàng giao cho nhau:
- Cân bằng về điều kiện giao hàng: nếu xuất khẩu CIF phải nhập khẩu CIF
c Các loại hình buôn bán đối lưu
Buôn bán đối lưu ra đời từ lâu trong lịch sử quan hệ hàng hoá tiền tệ, trong đó sớm nhất là hàng đổi hàng và trao đổi bù trừ
Nghiệp vụ hàng đổi hàng (barter): ở hai bên trao đổi trực tiếp với nhau những hàng hoá có giá trị tương đương, việc giao hàng diễn ra hầu như đồng thời Tuy
Trang 18nhiên trong hoạt động đổi hàng hiện đại người ta có thể sử dụng tiền để thành toán một phần tiền hàng hơn nữa có thể thu hút 3-4 bên tham gia
Nghiệp vụ bù trừ (Compensation) hai bên trao đổi hàng hoá với nhau trên cơ
sở ghi trị giá hàng giao, đến cuối kỳ hạn hạn, hai bên mới đối chiếu sổ sách, đối chiếu với giá trị giao và giá trị nhận Số dư thì số tiền đó được giữ lại để chi trả theo yêu cầu của bên chủ nợ
Nghiệp vụ mua đối lưu (Counter – Purchase) một bên tiến hành của công nghiệp chế biến, bán thành phẩm nguyên vật liệu Nghiệp vụ này thường được kéo dài từ 1 đến 5 năm còn trị giá hàng giao để thanh toán thường không đạt 100% trị giá hàng mua về
Nghiệp vụ chuyển giao nghĩa vụ (Swich) bên nhận hàng chuyển khoản nợ về tiền hàng cho một bên thứ ba
Giao dịch bồi hoàn (offset) người ta đổi hàng hoá hoặc dịch vụ lấy những dịch
vụ và ưu huệ (như ưu huệ đầu tư hoặc giúp đỡ bán sản phẩm) giao dịch này thường xảy ra trong lĩnh vực buôn bán những kỹ thuật quân sự đắt tiền trong việc giao những chi tiết và những cụm chi tiết trong khuôn khổ hợp tác công nghiệp
Trong việc chuyển giao công nghệ người ta thường tiến hành nghiệp vụ mua lại (buying back) trong đó một bên cung cấp thiết bị toàn bộ hoặc sáng chế bí quyết
kỹ thuật (know-how) cho bên khác, đồng thời cam kết mua lại những sản phẩm cho thiết bị hoặc sáng chế bí quyết kỹ thuật đó tạo ra
d.Biện pháp thực hiện
-Dùng thư tín dụng thương mại đối ứng (Reciprocal L/C): đây là loại L/C mà trong nội dung của nó có điều khoản quy định (L/C này chỉ có hiệu lực khi người hưởng mở một L/C khác có kim ngạch tương đương) Như vậy hai bên vừa phải mở L/C vừa phải giao hàng
- Dùng người thứ 3 khống chế chứng từ sở hữu hàng hoá, người thứ 3 chỉ giao chứng từ đó cho người nhận hàng khi người này đổi lại một chứng từ sở hữu hàng hoá có giá trị tương đương
- Dùng một tài khoản đặc biệt ở ngân hàng để theo dõi việc giao hàng của hai bên, đến cuối một thời kỳ nhất định (như sau sáu tháng, sau một năm…) nếu còn có
Trang 19số dư thì bên nợ hoặc phải giao nốt hàng hoặc chuyển số dư sang kỳ giao hàng tiếp, hoặc thanh toán bằng ngoại tệ
- Phạt về việc nếu một bên không giao hàng hoặc chậm giao hàng phải nộp phạt bằng ngoại tệ mạnh, mức phạt do hai bên thoả thuận quy định trong hợp đồng
1.3.4 Xuất khẩu hàng hoá theo nghị định thư
Đây là hình thức xuất khẩu hàng hoá (thường là để gán nợ) được ký kết theo nghị định thư giữa hai Chính phủ
Đây là một trong những hình thức xuất khẩu mà doanh nghiệp tiết kiệm được các khoản chi phí trong việc nghiên cứu thị trường: tìm kiến bạn hàng, mặt khách không có sự rủi ro trong thanh toán
Trên thực tế hình thức xuất khẩu này chiếm tỷ trong rất nhỏ Thông thường trong các nước XHCN trước đây và trong một số các quốc gia có quan hệ mật thiết
và chỉ trong một số doanh nghiệp nhà nước
1.3.5 Xuất khẩu tại chỗ
Đây là hình thức kinh doanh mới nhưng đang phát triển rộng rãi, do những ưu việt của nó đem lại
Đặc điểm của loại hình xuất khẩu này là hàng hoá không cần vượt qua biên giới quốc gia mà khách hàng vẫn mua được Do vậy nhà xuất khẩu không cần phải thâm nhập thị trường nước ngoài mà khách hàng tự tìm đến nhà xuất khẩu
Mặt khác doanh nghiệp cũng không cần phải tiến hành các thủ tục như thủ tục hải quan, mua bảo hiểm hàng hoá …do đó giảm được chi phí khá lớn
Trong điều kiện nền kinh tế như hiện nay xu hướng di cư tạm thời ngày càng trở nên phổ biến mà tiêu biểu là số dân đi du lịch nước ngoài tăng nên nhanh chóng Các doanh nghiệp có nhận thức đây là một cơ hội tốt để bắt tay với các tổ chức du lịch để tiến hành các hoạt động cung cấp dịch vụ hàng hoá để thu ngoại tệ Ngoài ra doanh nghiệp còn có thể tận dụng cơ hội này để khuếch trương sản phẩm của mình thông qua những du khách
Mặt khác với sự ra đời của hàng loạt khu chế xuất ở các nước thì đây cũng là một hình thức xuất khẩu có hiệu quả được các nước chú trọng hơn nữa Việc thanh toán này cũng nhanh chóng và thuận tiện
1.3.6.Gia công quốc tế
Trang 20Đây là một phương thức kinh doanh trong đó một bên gọi là bên nhận gia công nguyên vật liệu hoặc bán thành phẩm của một bên khác (gọi là bên đặt gia công) để chế biến ra thành phẩm giao cho bên đặt gia công và nhận thù lao (gọi là phí gia công)
Đây là một trong những hình thức xuất khẩu đang có bước phát triển mạnh mẽ
và được nhiều quốc gia chú trọng
Các hình thức gia công quốc tế:
Xét về quyền sở hữu nguyên liệu, gia công quốc tế có thể tiến hành dưới hình thức sau đây:
Bên đặt gia công giao nguyên liệu hoặc bán thành phẩm cho bên nhận gia công và sau thời gian sản xuất, chế tạo, sẽ thu hồi sản phẩm và trả phí gia công
Bên đặt gia công bán đứt nguyên liệu cho bên nhận gia công và sau thời gian sản xuất, chế tạo sẽ mua thành phẩm Trong trường hợp này quyền sở hữu nguyên liệu chuyển từ bên đặt gia công sang bên nhận gia công
Ngoài ra người ta còn có thể áp dụng hình thức kết hợp trong đó bên đặt gia công chỉ giao những nguyên vật liệu chính còn bên nhận gia công cung cấp những nguyên vật liệu phụ
Xét về giá cả gia công người ta có thể chia việc gia công thành hai hình thức: + Hợp đồng thực chi, thực thanh (cost phis contract) trong đó bên nhận gia công thanh toán với bên đặt gia công toàn bộ những chi phí thực tế của mình cộng với tiền thù lao gia công
+ Hợp đồng khoán trong đó ta xác định một giá trị định mức (target price) cho mỗi sản phẩm, bao gồm chi phí định mức và thù lao định mức Dù chi phí của
Trang 21bên nhận gia công là bao nhiêu đi chăng nữa, hai bên vẫn thanh toán theo định mức
đó
Mối quan hệ giữa bên nhận gia công và bên đặt gia công được xác định bằng hợp đồng gia công Hợp đồng gia công thường được quy định một số điều khoản như thành phẩm, nguyên liệu, giá cả, thanh toán, giao nhận…
1.3.7.Tạm nhập tái xuất
Đây là một hình thức xuất khẩu trở ra nước ngoài những hàng hoá trước đây
đã nhập khẩu, chưa qua chế biến ở nước tái xuất qua hợp đồng tái xuất bao gồm nhập khẩu và xuất khẩu với mục đích thu về số ngoại tệ lớn hơn số ngoại tệ đã bỏ ra ban đầu
Hợp đồng này luôn thu hút ba nước xuất khẩu, nước tái xuất, và nước nhập khẩu Vì vậy người ta gọi giao dịch tái xuất là giao dịch ba bên hay giao dịch tam giác ( Triangirlar transaction)
Các loại hình tái xuất:
Tái xuất có thể thực hiện bằng một trong hai hình thức sau:
Tái xuất theo đúng nghĩa của nó, trong đó hàng hoá đi từ nước xuất khẩu đến nước tái xuất, rồi lại được xuất khẩu từ nước tái xuất sang nước nhập khẩu Ngược chiều với sự vận động của hàng hoá là sự vận động của đồng tiền đồng tiền được xuất phát từ nước nhập khẩu sang nước tái xuất và nhanh chóng được chuyển sang
nước xuất khẩu
Ưu điểm của hình thức xuất khẩu này là doanh nghiệp có thể thu được lợi nhuận cao mà không phải tổ chức sản xuất, đầu tư vào nhà xưởng máy móc, thiết
bị, khả năng thu hồi vốn cũng nhanh hơn
Kinh doanh tái xuất đòi hỏi sự nhạy bén tình hình thị trường và giá cả, sự chính xác và chặt chẽ trong các hoạt động mua bán Do vậy khi doanh nghiệp tiến hành xuất khẩu theo phương thức này thì cần phải có đội ngũ cán bộ có chuyên môn cao
Trang 221.4 Quy trình xuất khẩu
Hình 1.1: Sơ đồ quy trình xuất khẩu
1.4.1 Chuẩn bị hàng hóa xuất khẩu
Chuẩn bị hàng hóa xuất khẩu là chuẩn bị theo đúng tên hàng, số lượng, phù hợp với chất lượng, bao bì, ký mã hiệu và có thể giao hàng đúng thời gian quy định trong hợp đồng xuất khẩu
1.4.2 Kiểm tra hàng hóa xuất khẩu
Kiểm tra hàng hóa xuất khẩu là kiểm tra mức độ phù hợp của hàng hóa xuất khẩu so với yêu cầu đặt ra trong hợp đồng Sự phù hợp ở đây là sự phù hợp về chất lượng, bao bì, số lượng…Kiểm tra hàng hóa xuất khẩu có tác dụng thực hiện trách nhiệm của người xuất khẩu trong việc thực hiện hợp đồng Từ đó đảm bảo được uy tín cho nhà xuất khẩu cũng như mối quan hệ buôn bán
1.4.3 Thuê phương tiện vận tải
Việc thuê phương tiện vân tải phải dựa vào các căn cứ sau:
Căn cứ vào điều kiện cơ sở giao thông trong hợp đồng là hình thức FOB hay CIF Nếu điều kiện là FOB thì người nhập khẩu phải thuê phương tiện vận tải, nếu là CIF thì người xuất khẩu phải thuê phương tiện vận tải
Căn cứ vào khối lượng hàng hóa và đặc điểm của hàng hóa
Căn cứ vào điều kiện vận tải: đó là hàng rời hay hàng trong container…
Ngoài ra còn căn cứ vào các điều kiện như: quy định trọng tải tối đa, mức bốc dỡ…
Chuẩn bị
hàng hóa XK
Kiểm tra hàng hóa
XK
Thuê phương tiện vận tải
Làm thủ tục hải quan
Giao hàng cho phương tiện vận tải
Làm thủ tục thanh toán
Khiếu nại và
giải quyết khiếu
nại(nếu có)
Mua bảo hiểm cho hàng hóa
Trang 231.4.4 Mua bảo hiểm cho hàng hóa
Bảo hiểm là một sự cam kết của người bảo hiểm bồi thường cho người được bảo hiểm về những mất mát, hư hỏng, thiệt hại của đối tượng bảo hiểm do những rủi ro đã thỏa thuận gây ra, với điều kiện người được mua bảo hiểm đã mua cho đối tượng đó một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm
Bảo hiểm mua cho hàng hóa phụ thuộc vào cơ sở giao hàng có trong hợp đồng
mà người vận chuyển có quyền xem xét để mua bảo hiểm cho hàng hóa, căn cứ vào loại hàng hóa, điều kiện vận chuyển
Thanh toán bằng phương thức tín dụng chứng từ (L/C)
Thanh toán bằng phương pháp nhờ thu
Thanh toán bằng phương thức chuyển tiền
1.4.7 Khiếu nại và giải quyết khiếu nại
Trong quá trình thực hiện hợp đồng xuất khẩu xảy ra nhiều mâu thuẫn phát sinh thì khiếu nại là phương pháp giải quyết các mâu thuẫn này nhằm đưa ra các giải pháp mang tính pháp lý Các trường hợp khiếu nại:
Người mua khiếu nại người bán hoặc người bán khiếu nại người mua
Người bán và người mua khiếu nại người chuyên chở và bảo hiểm
Trang 24CHƯƠNG II: TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU THAN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN
XUẤT NHẬP KHẨU THAN – VINACOMIN 2.1 Sơ lược về Ngành Than
a Sơ lược ngành Than trên thế giới
Trong cơ cấu sử dụng năng lượng, than được coi là nguồn năng lượng truyền thống và cơ bản Than được sử dụng rộng rãi trong sản xuất và đời sống Trước đây, than được dùng làm nhiên liệu trong các máy hơi nước, đầu máy xe lửa, sau đó than được dùng làm nhiên liệu trong các nhà máy nhiệt điện, than được cốc hóa làm nhiên liệu cho ngành luyện kim Gần đây, nhờ sự phát triển của công nghiệp hóa học, than được sử dụng như là nguồn nguyên liệu để sản xuất ra nhiều loại dược phẩm, chất dẻo, sợi nhân tạo…
Trữ lượng than trên toàn thế giới cao hơn gấp nhiều lần trữ lượng dầu mỏ và khí đốt Than tập trung chủ yếu ở Bắc bán cầu, trong đó đến 4/5 thuộc về Trung Quốc, Hoa Kỳ, Nga, Ucraina, Đức, Ấn Độ, Úc, Ba Lan
Công nghiệp khai thác than xuất hiện tương đối sớm và được phát triển từ nửa sau thế kỷ XIX Sản lượng khai thác được rất khác nhau giữa các thời kỳ, giữa các khu vực và các quốc gia, nhưng nhìn chung có xu hướng tăng lên về số lượng Các khu vực và quốc gia khai thác nhiều than đều thuộc về các khu vực và quốc gia có trữ lượng than lớn trên thế giới Sản lượng than tập trung chủ yếu ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương, Bắc Mỹ, Nga và một số nước Đông Âu Các nước sản xuất than hàng đầu là Trung Quốc, Hoa Kỳ, Ấn Độ, Úc chiếm tới 2/3 sản lượng than của thế giới
Công nghiệp khai thác than ra đời trước tiên ở Anh vào đầu thế kỷ XIX Sau
đó người ta tìm thấy nhiều than ở Hoa Kỳ, Ấn Độ, Canada Vì thế các quốc gia này lần lượt dẫn đầu về sản lượng than khai thác được của thế giới
Thị trường than quốc tế mới chỉ chiếm trên 10% sản lượng than khai thác Nhờ thuận lợi về giao thông đường biển mà việc buôn bán than ngày càng phát triển Các nước công nghiêp phát triển như Nhật Bản, Hàn Quốc, Hà Lan, Pháp, Anh…có nhu cầu rất lớn về than và cũng như là các nước nhập khẩu than chủ yếu
Trang 25Cạnh tranh trên thị trường than thế giới hiện nay càng ngày càng trở nên gay gắt và quyết liệt Ngoài các nước như Úc, Mỹ, Nga, Trung Quốc, Ba Lan…còn nhiều nước xuất khẩu than mới trỗi dậy và đang có xu thế phát triển nhanh như Indonesia, Colombia, Việt Nam….Do đó, thị trường thế giới đang đặt ra yêu cầu cao hơn về chất lượng, chủng loại than Các nhà xuất khẩu than phải đảm bảo cho lượng than cung cấp luôn ổn định, tuân thủ đúng hợp đồng ký kết về mặt số lượng, chất lượng, thời gian, địa điểm giao hàng….thì mới chiếm được thị phần than trên thế giới một cách bền vững
Nhu cầu than Antraxit trên thế giới là rất lớn và ngày càng tăng điều này tạo điều kiện thuận lợi cho Việt Nam vì sản lượng than chủ yếu ở nước ta là Antraxit Ngày nay thế giới lại đang rất quan tâm đến vấn đề môi trường, ở nhiều nước chính phủ không cho phép xây dựng nhà máy nhiệt điện nguyên tử, không có điều kiện xây dựng nhà máy thủy điện vì vậy người ta có xu hướng quay lại phát triển nhiệt điện, trong đó có nhiệt điện chạy bằng than
b Tổng quan ngành Than Việt Nam
Than là một trong những nguồn tài nguyên khoáng sản quý giá của quốc gia Than có một vai trò hết sức quan trọng trong việc khai thác, sử dụng và tiến hành xuất khẩu Hàng năm, hoạt động xuất khẩu than của Việt Nam đã thu về một nguồn lợi lớn cho quốc gia, là một trong những nhóm ngành có tỷ trọng đóng góp GDP lớn nhất của đất nước Ngành Than được xem là ngành công nghiệp hạ tầng của các ngành công nghiệp khác khi mà cung cấp đầu vào cho các ngành về hóa chất, điện…Sự phát triển của ngành Than ở Việt Nam gắn liền với sự phát triển của các ngành nghề khác trong tổng thể nền kinh tế Ở Việt Nam, than có nhiều loại, trữ lượng lớn, tập trung chủ yếu ở Quảng Ninh (90% trữ lượng than cả nước) Trữ lượng than của nước ta ước chừng hơn 6,6 tỷ tấn, trong đó trữ lượng có khả năng khai thác là 3,6 tỷ tấn (đứng đầu Đông Nam Á)
Ngành Than Việt Nam đã có lịch sử khai thác hơn 100 năm, với hơn 75 năm truyền thống vẻ vang Hiện nay, Tập đoàn Than – Khoáng sản Việt Nam (TKV) được đánh giá là một trong những tập đoàn kinh tế mạnh của đất nước, có nhiệm vụ đáp ứng nguồn than, đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia Đặc thù ngành Than bị phụ thuộc vào Tập đoàn Than – Khoáng sản Việt Nam, TKV nắm giữ 51% cổ phần
Trang 26ở hầu hết các công ty than nên các hoạt động xuất khẩu hay bán cho một số khách hàng, giá cả cũng như khối lượng đều bị phụ thuộc vào đơn vị chủ quản
Với hàng nghìn điểm mỏ được phát hiện và khai thác, tiềm năng than Việt Nam được đánh giá là tương đối đa dạng Triển vọng của ngành Than còn nhiều tiềm năng trong dài hạn, với trữ lượng than phong phú Tuy nhiên, hiện nay hiệu quả đầu tư của ngành đang suy giảm tương đối so với các lĩnh vực khác, do đầu tư mới chú trọng đến việc mở rộng mà chưa chú trọng đầu tư về chiều sâu
Ngành Than phải thực hiện một nhiệm vụ quan trọng là bảo đảm nhu cầu thiết yếu cho tiêu dùng và sản xuất trong nước Ngành Than cung cấp nhiên liệu cho các ngành khác: năng lượng, phân bón, giấy, xi măng…là những ngành sử dụng nhiều than nhất trong sản xuất, do đó nhu cầu về than trên thị trường hiện đang rất lớn Tuy nhiên, ngành Than hiện nay chỉ mới đáp ứng được một phần nhu cầu trong nước Hàng năm nước ta vẫn phải nhập khẩu với khối lượng lớn Than từ các thị trường khác Mặt khác, do Than Việt Nam có giá thương đối cao và không phù hợp cho các ngành cần đến nó nên chúng ta thường xuất khẩu Than không có nhu cầu sử dụng và nhập về các loại Than phù hợp hơn
Hàng năm, than xuất khẩu đem lại cho đất nước một nguồn thu lớn
Biểu đồ 1.1: Kim ngạch xuất khẩu Than cả nước giai đoạn 2009-2013
Nguồn: Tổng Cục Hải quan
Trang 27Lượng than xuất khẩu của Việt Nam trong năm 2011 là 17,2 triệu tấn, giảm 13,4%; trị giá đạt 1,63 tỷ USD, tăng 1,3% so với năm 2010 Lượng xuất khẩu than
đá của Việt Nam sang hầu hết các thị trường đều giảm so với năm trước Trung Quốc tiếp tục là đối tác lớn nhập khẩu than đá của Việt Nam với 13,4 triệu tấn, giảm 8,2% và chiếm tới 78,3% tổng lượng xuất khẩu mặt hàng này của cả nước; tiếp theo là thị trường Hàn Quốc: 1,52 triệu tấn, giảm 13,5% và Nhật Bản: 1,37 triệu tấn, giảm 19,8%…
Năm 2012, lượng xuất khẩu than đá của cả nước là 15,2 triệu tấn, giảm 11,4% với trị giá là 1,24 tỷ USD, giảm 24,1% so với cùng kỳ năm 2011 Trong năm 2012, lượng xuất khẩu than đá của Việt Nam sang các thị trường chính đều giảm so với cùng kỳ năm trước Trung Quốc tiếp tục là đối tác lớn nhất nhập khẩu than đá của Việt Nam với 12,1 triệu tấn, giảm 9,9% và chiếm tới 80% tổng lượng xuất khẩu mặt hàng này của cả nước, tiếp theo là thị trường Hàn Quốc: 1,07 triệu tấn giảm29,9%
và Nhật Bản: 1,05 triệu tấn, giảm 23,5% so với năm 2011…
Năm 2013, tổng lượng than xuất khẩu của cả nước là hơn 12,8 triệu tấn,giảm 15,7%; trị giá xuất khẩu là gần 916 triệu USD, giảm 26,1% so với năm 2012 Trung Quốc tiếp tục là đối tác lớn nhập khẩu than đá của Việt Nam trong năm
2013 với 9,86 triệu tấn, giảm 18,6% và chiếm gần 77% tổng lượng xuất khẩu mặt hàng này của cả nước Tiếp theo là thị trường Nhật Bản: gần 1,25 triệu tấn, tăng 18,9% và Hàn Quốc: 1,07 triệu tấn, bằng với năm trước…
2.2 Tổng quan về công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Than – Vinacomin
2.2.1 Quá trình hình thành và phát triển
Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Than – Vinacomin, tên giao dịch là COALIMEX, tên tiếng Anh là Vinacomin – Coal Import Export Joint Stock Company, là đơn vị thành viên thuộc Tổng công ty Than Việt Nam ( nay là Tập đoàn Than – Khoáng sản Việt Nam) Trụ sở hiện tại ở số 47 phố Quang Trung, phường Trần Hưng Đạo, quân Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội
Số vốn điều lệ của công ty là 48.275.600.000 đồng
Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0103006588 do Sở Kế hoạch và Đầu
tư thành phố Hà Nội cấp lần đầu ngày 25/01/2005, đăng ký thay đổi lần thứ 11 ngày 30/05/2011
Trang 28Công ty đã trải qua hơn 30 năm hoạt động, lịch sử đó được chia làm 3 thời
kỳ, mỗi thời kỳ đánh dấu từng bước xây dựng, phát triển và đổi mới không ngừng của công ty, phù hợp với sự thay đổi của đất nước và phát triển ngành công nghiệp Than – Khoáng sản Công ty được thành lập từ ngày 01/01/1982 trên cơ sở chuyển Công ty Vật tư trực thuộc Bộ Điện Than thành lập Công ty Xuất nhập khẩu than và Cung ứng vật tư (Coalimex) (trực thuộc Bộ Mỏ và Than, sau đó trực thuộc Bộ Năng lượng, nay là Bộ Công Thương) Trong từng giai đoạn, công ty được đổi tên
và vẫn giữ thương hiệu COALIMEX
a Thời kỳ từ năm 1982 đến năm 1994
Ngày 01/01/1982, công ty chính thức được thành lập với tên gọi là Công ty Xuất nhập khẩu Than và Cung ứng vật tư – Coalimex Trụ sở tại, số 54 phố Hai Bà Trưng, Hoàn Kiếm, Hà Nội sau đó chuyển về 47 Quang Trung, Hà Nội, trực thuộc
Bộ Mỏ và Than nay là Bộ Công Thương Công ty được tổ chức theo mô hình Doanh nghiệp Nhà nước
Nhiệm vụ kinh doanh chính là:
- Xuất khẩu than;
- Nhập khẩu, cung ứng vật tư – thiết bị, gia công đặt hàng trong nước;
- Cung ứng hóa chất mỏ (vật liệu nổ công nghiệp)
b Thời kỳ từ năm 1994 đến năm 2004
Công ty được tổ chức theo mô hình Doanh nghiệp Nhà nước, Công ty là đơn
vị thành viên thuộc Tổng Công ty Than Việt Nam nay là Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam
Năm 1995, sau khi thành lập Tổng công ty, Coalimex trở thành công ty con của Tổng công ty Than Việt Nam và đổi tên thành Công ty Xuất nhập khẩu và Hợp tác quốc tế - Coalimex
Nhiệm vụ chính: Thời kỳ này ngành nghề chính của công ty vẫn được duy trì, tuy nhiên theo cơ cấu tổ chức mới, công ty giảm nhiệm vụ gia công đặt hàng trong nước và cung ứng vật liệu nổ công nghiệp, nhưng được bổ sung nhiệm vụ xuất khẩu lao động
Trang 29c Thời kỳ từ năm 2005 đến nay
Đây là thời kỳ Công ty chuyển đổi hình thức sở hữu vốn, từ mô hình Doanh nghiệp Nhà nước chuyển sang hoạt động theo mô hình Công ty cổ phần Nhà nước ( Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam) giữ cổ phần chi phối
Năm 2005, Công ty được cổ phần hóa, Nhà nước giữ cổ phần chi phối
Ngoài nhiệm vụ kinh doanh như thời kỳ trước, công ty mở rộng thêm kinh doanh xây dựng văn phòng cho thuê, xuất khẩu một số sản phẩm khoáng sản khác ngoài than như cát, clanke, nông sản và từ năm 2010, công ty nhập khẩu than phục
vụ ngành điện và sản xuất xi măng
Trong thời kỳ này, công ty có 2 lần đổi tên phù hợp với cơ chế phát triển của Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam:
- Năm 2007, Công ty đổi tên thành Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Than – TKV ( viết tắt là V-Coalimex)
- Từ tháng 10/2010 đến nay, tên của công ty là Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Than – Vinacomin; tên giao dịch và tên viết tắt Công ty được đổi lại thành Coalimex
Tính đến thời điểm năm 2013, số lao động bình quân là 212 người Hàng năm, người lao động trong Công ty được Công ty tổ chức cho đi bồi dưỡng nâng cao trình độ nghiệp vụ, ngoại ngữ đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của công việc Được công ty tổ chức khám sức khỏe định kỳ; cấp phát thuốc phòng bệnh; điều dưỡng tập trung, tại chỗ; tổ chức đi nghỉ mát Công ty luôn đảm bảo, tạo điều kiện để người lao động được tham gia, xây dựng và giám sát việc thực hiện các quy chế, quy định nội bộ như quy chế thực hiện dân chủ, quy chế quản lý tiền lương, quy chế Thi đua - Khen thưởng Thực hiện đầy đủ đúng quy định của Nhà nước, Tập đoàn, Công ty trong việc thực hiện các chế độ chính sách khác cho người lao động như chế độ nghỉ hưu, bảo hiểm, trợ cấp
2.2.2 Chức năng và nhiệm vụ
Chức năng chính của công ty được xác định rõ ràng ngay từ ngày đầu thành lập là xuất khẩu than, nhập khẩu vật tư, thiết bị cho ngành Than và cung ứng vật liệu nổ công nghiệp Để thích ứng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, bên
Trang 30cạnh việc duy trì và phát huy các thế mạnh, công ty còn chú trọng đẩy mạnh kinh doanh đa ngành
- Quản lý khai thác, chế biến và tiêu thụ than trong nước
- Xuất khẩu than và các sản phẩm chế biến từ than ra nhiều thị trường khác nhau trên thế giới
- Nhập khẩu trực tiếp và ủy thác vật tư, máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, nguyên vật liệu, hóa chất… cho các đơn vị trong và ngoài ngành than
- Nghiên cứu tình hình thị trường giá cả quốc tế, nắm vững yêu cầu khả năng của thị trường nước ngoài đối với những mặt hàng do Công ty được phép kinh doanh xuất nhập khẩu để phối hợp tác động cùng với các cơ sở sản xuất trong việc đàm phán ký kết các hợp đồng nhập khẩu và xuất khẩu sao cho có hiệu quả nhất
- Trực tiếp giao dịch, đàm phán, ký kết và thực hiện các hợp đồng mua bán, kinh doanh cung ứng với các tổ chức kinh doanh trong và ngoài nước theo đúng các chế độ Nhà nước và phân cấp quy định của Bộ
- Hợp tác lao động quốc tế: Tìm kiếm việc làm và đưa người Việt Nam đi lao động và đào tạo ở nước ngoài
Bên cạnh đó công ty luôn chú trọng đầu tư chiều sâu về cơ sở vật chất, về khoa học công nghệ, bồi dưỡng nguồn nhân lực chính vì thế công ty đã tạo ra một đội ngũ nhân viên năng động, nhạy bén, tâm huyết với nghề, giàu kinh nghiệm, đủ khả năng hội nhập kinh tế quốc tế để đưa Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu Than Việt Nam ngày càng phát triển
Trang 31Hình 1.2: SƠ ĐỒ TỔ CHỨC CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN XNK THAN –
VINACOMIN
Đại hội đồng cổ đông
Gồm tất cả các cổ đông có quyền biểu quyết, là cơ quan quyền lực cao nhất của công ty, quyết định những vấn đề đƣợc pháp luật và điều lệ công ty quy định Đặc biệt các cổ đông sẽ thông qua các báo cáo tài chính hàng năm của công ty và ngân sách tài chính cho năm tiếp theo Đại hội đồng cổ đông sẽ bầu ra Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát của công ty
BAN KIỂM SOÁT
KHỐI KINH DOANH KHỐI QUẢN LÝ- PHỤC VỤ
Phòng
XNK1
Phòng XNK2
Phòng XNK Than
Phòng XNK3
Phòng XNK4
Phòng XNK5
Phòng TCLĐ
Phòng KT-
TC
Phòng Đầu tƣ
CÁC CHI NHÁNH
Chi nhánh tại
TP HCM
Chi nhánh tại Quảng Ninh
Chi nhánh tại
Hà Nội
Trang 32Đại hội đồng cổ đông HĐQT có trách nhiệm giám sát Tổng giám đốc điều hành và những người quản lý khác Quyền và nghĩa vụ của HĐQT do luật pháp và điều lệ của công ty quy định, các quy chế nội bộ của công ty và Nghị quyết ĐHĐCĐ quy định
Ban kiểm soát
Là cơ quan trực thuộc ĐHĐCĐ, do ĐHĐCĐ bầu ra, Ban kiểm soát có nhiệm
vụ kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp trong hoạt động điều hành hoạt động kinh doanh, báo cáo tài chính của Công ty Ban kiểm soát hoạt động độc lập với HĐQT và TGĐ
Giám đốc công ty
Giám đốc là người điều hành hoạt động hằng ngày của công ty và chịu trách nhiệm trước HĐQT về việc thực hiện các quyền và nhiệm vụ được giao Các phó Tổng giám đốc là người giúp việc cho giám đốc và chịu trách nhiệm trước giám đốc về phần việc được phân công, chủ động giải quyết những công việc đó được giám đốc ủy quyền và phân công theo đúng chế độ chính sách của Nhà nước và Điều lệ của Công ty
2.2.4 Lĩnh vực hoạt động của Công ty
Hiện nay, hoạt động của công ty Coalimex tập trung vào 5 lĩnh vực chính:
a Xuất nhập khẩu than – nhiệm vụ quan trọng hàng đầu
Thời kỳ đầu mới thành lập, mặc dù việc xuất khẩu than gặp nhiều khó khăn vì chưa thật sự gắn bó giữa sản xuất và xuất khẩu chính vì vậy chưa kích thích được xuất khẩu Nhưng từ năm 1995 đến nay thì công ty đã phấn đấu và liên tục đổi mới
và đã giữ vững được uy tín của mình trên thương trường than quốc tế
Loại than được công ty xuất khẩu là than Anthracite và một số loại khoáng sản khác Than xuất khẩu ở dạng cám hoặc than cục
Từ khi công ty được thành lập xuất khẩu than luôn là lĩnh vực kinh doanh chủ chốt của công ty Số lượng than xuất khẩu hàng năm từ khi công ty được thành lập đến nay, bình quần năm khoảng 5 triệu tấn Cùng với sự phát triển mạnh mẽ về sản xuất và xuất khẩu than của Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam (Vinacomin), việc kinh doanh xuất khẩu than của Công ty COALIMEX cũng đạt được những kết quả hết sức đáng kể
Trang 33Ngoài việc cung cấp than cho các khách hàng truyền thống như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Tây Âu, Đông Âu, bộ phận xuất khẩu than của công ty rất tích cực tìm kiếm các khách hàng mới để mở rộng thị trường than xuất khẩu của Việt Nam tới tất cả các châu lục trên thế giới Ngoài mục tiêu tăng nhanh số lượng than xuất khẩu, công ty cũng rất quan tâm xuất khẩu các loại than tốt có giá trị cao cũng như các loại than xấu trong nước không thể sử dụng được
Bảng1.1: Số liệu xuất khẩu than giai đoạn 2007 – 2013 Tên
(Nguồn: Báo cáo tổng kết)
Bên cạnh xuất khẩu, công ty cũng chú trọng lĩnh vực khá mới là nhập khẩu than Chủ trương của công ty là xuất khẩu những chủng loại than mà trong nước ít
có nhu cầu sử dụng hay sử dụng chưa hiệu quả, từ đó sử dụng lượng ngoại tệ thu được để nhập khẩu những loại than khác với giá cạnh tranh hơn, sử dụng trong nước có thể tiết kiệm hơn và hiệu suất cao hơn Năm 2011, lần đầu tiên công ty thực hiện thành công lô hàng than nhập khẩu từ Indonesia vào thị trường miền Nam
với sản lượng 23.738,49 tấn than trị giá 1.864.440,69 USD
b Nhập khẩu và kinh doanh vật tư thiết bị, nguyên nhiên vật liệu
Công tác nhập khẩu và cung ứng vật tư thiết bị được coi là “công tác hậu cần” của ngành Than Xác định đây là một trong những nhiệm vụ trọng yếu của Công ty, ngay từ ngày mới thành lập Công ty đã chú trọng xây dựng và từng bước phát triển lĩnh vực kinh doanh này trở thành một nghề chính với thương hiệu Coalimex mà nhiều bạn hàng trong và ngoài nước biết đến
Hoạt động nhập khẩu đã phát huy vai trò quan trọng trong sản xuất kinh doanh của Công ty, với kim ngạch nhập khẩu có bước chuyển mạnh mẽ lên tới 80 đến 100 triệu USD mỗi năm, phục vụ đắc lực và kịp thời cho sản xuất khoáng sản cũng như các ngành kinh tế quốc dân khác, đóng góp nhiều chục tỷ đồng tiền thuế
Trang 34cho Ngân sách Nhà nước Năm 2011, trong bối cảnh nền kinh tế vẫn chưa thoát ra hẳn cuộc khủng hoảng nhưng do có sự chuẩn bị tốt, nắm bắt thị tường kịp thời nên kim ngạch nhập khẩu đã đạt con số kỷ lục trên 130 triệu USD
Bảng 1.2: Số liệu nhập khẩu than giai đoạn 2007-2013 Tên
ngạch
NK
Triệu
USD 35,008 62,245 91,395 71,434 132,2 85,596 77,656
(Nguồn: Báo cáo tổng kết)
Bạn hàng của công ty đều là những doanh nghiệp uy tín đến từ khắp các nước như Trung Quốc, Nhật Bản, Mỹ, Canada, Ba Lan, Thụy Điển…
Ngoài ra công ty còn nhận gia công đặt hàng trong nước đối với một số mặt hàng phục vụ sản xuất cũng như liên doanh với các nhà sản xuất Ba Lan, Nga, Tiệp Khắc cùng một số đơn vị cơ khí trong ngành nhàm nội địa hóa thành công một số thiết bị quan trong như: Máy đào lò AM-50z, Máy xúc EKG-5, giàn chống tự hành VINAALTA…
c Xuất khẩu lao động
Công tác xuất khẩu lao động của Công ty được hình thành từ tháng 10 năm
1992 Được sự giúp đỡ của Bộ Năng Lượng, Uỷ Ban Kế hoạch Nhà nước, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, đến tháng 3 năm 1993 Công ty đã chính thức được cấp giấy phép “Tổ chức thực hiện đưa người lao động Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài” và trở thành đơn vị thứ 15 được Bộ Lao động Thương binh và
Xã hội cho phép đưa lao động Việt Nam đi lao động và học tập ở nước ngoài
Trang 35Hình 1.3: Biểu đồ tình hình xuất khẩu lao động từ năm 2005 - 2011
(Nguồn: Coalimex)
Thị trường xuất khẩu lao động chính của công ty là Hàn Quốc, Nhật Bản, Dubai, Đài Loan, Malaysia Công ty đang cố gắng tìm kiếm thêm thị trường, tiếp cận thêm nhiều đối tác để đưa công nhân và các chuyên gia nghề Mỏ Việt Nam đến làm việc tại các hầm mỏ của các nước
d Kinh doanh Địa ốc và Văn phòng
Giai đoạn trước khi cổ phần hóa từ 1982 – 2004, công ty chủ yếu tập trung xây dựng, cải tạo các công trình phục vụ nhu cầu nội bộ doanh nghiệp như kho bãi, cầu cảng, căn hộ cho cán bộ nhân viên, trụ sở làm việc…
Giai đoạn sau khi cổ phần từ 2005 đến nay, với định hướng phát triển kinh doanh
đa ngành nghề, lĩnh vực bất động sản đã được đặc biệt quan tâm Hiện công ty đang
sở hữu và đưa vào sử dụng, cho thuê 2 tòa nhà Coalimex Building tại 29-31 Đinh
Bộ Lĩnh, quận Bình Thạch, TP.Hồ Chí Minh và Coalimex Building 33 Tràng Thi, quận Hoàn Kiếm – Hà Nội
Đầu tư xây dựng công trình toà nhà văn phòng tại số 33 Tràng Thi, Hoàn Kiếm, Hà Nội: tính đến ngày 31/12/2013 đã hoàn thành toàn bộ khối lượng xây dựng công trình, đang tổ chức nghiệm thu và cho thuê văn phòng
112
805
1258 1374
482 440 4000
200 400 600 800 1000
Trang 36e Đầu tư và hợp tác quốc tế
Công ty Coalimex chủ động tham gia vào các hoạt động hợp tác quốc tế qua các hoạt động sau:
Tham gia vào các nhóm làm việc về hợp tác Kinh tế- Thương mại, Khoa học
- Kỹ thuật của giữa ngành than Việt Nam và các nước khác
Hợp tác với các viện nghiên cứu và công ty tư vấn của Vinacomin để ứng dụng, chuyển giao những công nghệ cao cho việc khai thác hầm lò và mỏ lộ thiên Kiểm soát khí ga nổ, bụi và các hoạt động liên quan khác
Hỗ trợ công tác đầu tư nước ngoài FDI trong việc giới thiệu và sử dụng các thiết bị mới và công nghệ cao ở các mỏ than - khoáng sản Việt Nam thông qua các cuộc hội thảo, kiến nghị cải tiến các thiết bị mới phù hợp với điều kiện khai thác mỏ ở Việt Nam
Hợp tác với các đối tác nước ngoài để thực hiện những dự án hiện đại trong một số lĩnh vực trong Công nghiệp khai thác than - khoáng sản Việt Nam
Tổ chức các chuyến đi thăm quan, thực tập tại nước ngoài cho các nhà quản
lý và nhân viên kỹ thuật của các mỏ than - khoáng sản để học hỏi về quản lý
và sử dụng thiết bị mới Tham gia các triển lãm quốc tế và hội chợ thương mại để quảng cáo và học hỏi kinh nghiệm