Khóa luận tốt nghiệp: 2014 - Học viện chính sách và phát triển Tình hình hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành bán lẻ của Việt Nam giai đoạn 2006- 2013 Mục đích nghiên cứu của khóa luận tốt nghiệp: Tình hình hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành bán lẻ của Việt Nam giai đoạn 2006- 2013 là nhằm làm rõ thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành bán lẻ hiện đại Việt Nam và đề xuất các giải pháp quản lý hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng khóa luận tốt nghiệp này là công trình nghiên cứu của riêng cá nhân tôi, công trình này không sao chép nguyên văn của bất kì tài liệu nào để làm sản phẩm của riêng mình Các thông tin cũng như số liệu đều được trích dẫn và có nguồn gốc rõ ràng Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính xác thực và nội dung của toàn bộ khóa luận này
Sinh viên Trịnh Thị Minh Trâm
Trang 2Tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới TS Phạm Đình Thưởng – Giảng viên trực tiếp hướng dẫn tôi Trong suốt thời gian thực hiện đề tài khóa luận, tôi luôn nhận được sự giúp đỡ, chỉ bảo và hướng dẫn tận tình, trách nhiệm của thầy; đó là động lực to lớn và quan trọng giúp tôi hoàn thành bài khóa luận tốt nghiệp
Và tôi xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới toàn thể bạn bè, gia đình, những người luôn luôn ở bên tôi, động viên, cổ vũ tinh thần cũng như ủng hộ tôi trong suốt thời gian qua Đó là nguồn động lực vô giá, tiếp thêm sức mạnh giúp tôi hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ học tập, nghiên cứu và đặc biệt là hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ HÌNH VẼ vii
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ viii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀ NGÀNH BÁN LẺ HIỆN ĐẠI 6
1.1 Một số vấn đề lí luận về FDI 6
1.1.1 Các khái niệm FDI 6
1.1.2 Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài 8
1.1.2.1 Phân theo hình thức đầu tư: 8
1.1.2.2 Phân theo bản chất đầu tư 10
1.1.2.3 Phân theo tính chất dòng vốn 10
1.1.2.4 Phân theo động cơ của nhà đầu tư 11
1.2 Khái niệm về phân phối bán lẻ hiện đại 11
1.2.1 Khái niệm bán lẻ và bán lẻ hiện đại 11
1.2.2 Các mô hình bán lẻ hiện đại 12
1.3 Vai trò của phân phối bán lẻ hiện đại trong nền kinh tế quốc dân 15
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO NGÀNH BÁN LẺ Ở VIỆT NAM .17
2.1 Khái quát thực trạng phát triển dịch vụ phân phối bán lẻ và bán lẻ hiện đại hàng hoá ở Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế 17
2.2 Tổng quan về FDI vào ngành phân phối bán lẻ hiện đại ở Việt Nam 29
2.2.1 Quy mô FDI vào lĩnh vực phân phối bán lẻ hiện đại 29
2.2.2 Cơ cấu vốn FDI vào lĩnh vực phân phối bán lẻ Việt Nam 33
2.2.2.1 Xét theo đối tác đầu tư 33
2.2.2.2 Xét theo địa bàn đầu tư 34
2.2.2.3 Xét theo hình thức tổ chức 35
2.3 Những tác động của FDI vào lĩnh vực phân phối bán lẻ ở Việt Nam 36
2.3.1 Tác động tích cực 36
2.3.1.1 Đóng góp doanh thu vào lĩnh vực bán 36
2.3.1.2 Gia tăng tốc độ tăng trưởng của lĩnh vực phân phối bán lẻ 37
Trang 42.3.1.3 Việt Nam tiếp cận được những phương thức quản lý và trình độ tổ chức kinh doanh hiện
đại 39
2.3.1.4 Thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước phải nâng cao năng lực cạnh tranh 40
2.3.1.5 Phục vụ người tiêu dùng tốt hơn 41
2.3.1.6 Hỗ trợ nông dân và các doanh nghiệp sản xuất hàng hóa 44
2.3.1.7 Tác động việc làm 45
2.3.2 Tác động tiêu cực 45
2.3.2.1 Biến đổi trong tình trạng việc làm 45
2.3.2.2 Biến đổi trong tình trạng thu nhập xã hội 46
2.3.2.3 Các doanh nghiệp FDI tạo ra sự lũng đoạn thị trường 46
CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO NGÀNH BÁN LẺ HIỆN ĐẠI Ở VIỆT NAM 48
3.1.Các cam kết quốc tế về mở cửa thị trường dịch vụ phân phối bán lẻ của Việt Nam 48
3.2.Cơ hội và thách thức đối với sự phát triển các loại hình bán lẻ hiện đại ở Việt Nam 49
3.2.1.Cơ hội 49
3.2.2.Thách thức 52
3.3.Quan điểm, mục tiêu, định hướng phát triển các loại hình t ổ chức bán lẻ hi ện đại ở Việt Nam 54
3.3.1 Quan điểm phát triển 54
3.3.2 Định hướng phát triển 55
3.4 Giải pháp 57
3.4.1 Về phía Nhà Nước 57
3.4.2 Về phía doanh nghiệp 60
Trang 5DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TÊN
VIẾT
TẮT
ACFTA ASEAN - China Free Trade
Area
Khu vực thương mại tự do ASEAN - Trung Quốc AFTA ASEAN Free Trade Area Khu vực mậu dịch tự do ASEAN ASEAN Association of South East
Nations
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam
Á ASEM Asia-Europe Meeting Diễn đàn hợp tác Á-Âu
BT Build – Transfer Xây dựng – Chuyển giao
BTA Bilateral Trade Agreement Hiệp định thương mại song
phương Việt Nam – Hoa Kỳ BTO Build – Transfer – Operate Xây dựng – Chuyển giao – Điều
hành CPC Central Product Classification Danh mục sản phẩm trung tâm tạm
thời của Liên Hợp Quốc
EFV Enterprise Foreign Venture Doanh nghiệp liên doanh
ENT Economic Needs Test Kiểm tra nhu cầu kinh tế
FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài
FII Foreign Indirect Investment Đầu tư gián tiếp nước ngoài
Trang 6FTA Free Trade Agreement Hiệp định thương mại tự do
GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội
GRDI Global Retail Development
Index
Chỉ số xếp hạng thị trường bán lẻ toàn cầu
IMF International Monetary Fund Quỹ tiền tệ quốc tế
M&A Mergers & Acquisitions Mua bán và sáp nhập
OECD Organization for Economic
Cooperation and Development
Tổ chức hợp tác và phát triển kinh
tế R&D Research & Development Nghiên cứu và Triển khai
TNCs Transational Corporations Các công ty xuyên quốc gia
TPP Trans-Pacific Strategic
Economic Partnership Agreement
Hiệp định hợp tác Kinh tế chiến lược Xuyên Thái Bình Dương
UNCTAD United Nation Conference on
Trade and Development
Hội nghị của Liên Hợp Quốc về thương mại và phát triển
WFOE Wholly Foreign-Owned
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ HÌNH VẼ
Bảng 2.2 Tỷ trọng của thương mại so với GDP giai đoạn 2003 –
Bảng 2.8 Số lượng cửa hàng của các doanh nghiệp nước ngoài
tính đến năm 2013
33
Bảng 2.9 Doanh thu bán lẻ tính theo giá thực tế phân theo thành
phần kinh tế giai đoạn 2006 - 2012
36
Trang 8DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.3 Doanh thu bán lẻ tính theo giá thực tế phân
theo thành phần kinh tế giai đoạn 2006 - 2012
37
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, bán lẻ vẫn luôn là hoạt động không thể thiếu trong đời sống sinh hoạt hàng ngày cũng như trong đời sống kinh tế -xã hội của một quốc gia Lĩnh vực phân phối đóng vai trò là trung gian, là sự kết nối giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng Dịch vụ phân phối nói chung và dịch vụ phân phối bán lẻ nói riêng, trong đó có phân phối bán lẻ hiện đại là một trong những thước đo
cơ bản phản ánh trình độ phát triển của nền kinh tế Sự phát triển của dịch vụ phân phối bán lẻ hiện đại không chỉ gắn với việc cung cấp các sản phẩm ngày càng phong phú ngày càng đáp ứng nhu cầu đa dạng của người tiêu dùng mà còn cung cấp cho người tiêu dùng một loạt các dịch vụ bổ sung giúp cho người tiêu dùng lựa chọn chính xác hơn Đối với Việt Nam, trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, dịch vụ phân phối bán lẻ hiện đại đóng vai trò ngày càng quan trọng trong phát triển nền kinh tế thị trường
Các doanh nghiệp nước ngoài tham gia vào thị trường bán lẻ Việt Nam có những ưu thế vượt trội về phương thức kinh doanh, vốn, trình độ quản lý, công nghệ tạo nên sự cạnh tranh rất lớn đối với các doanh nghiệp bán lẻ trong nước Mặt khác, các loại hình bán lẻ ở Việt Nam đa phần vẫn hoạt động độc lập chưa có sự liên kết chặt chẽ với nhau nên vẫn còn nhiều điểm bất cập
Vì vậy cần phải có những tổng kết đánh giá cụ thể về thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài trong lĩnh vực phân phối bán lẻ hiện đại để đưa ra được những kiến nghị chính sách phù hợp đảm bảo sử dụng hiệu quả nguồn vốn FDI vào lĩnh vực bán lẻ, thực hiện đúng cam kết theo WTO; đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp bán lẻ trong nước đủ sức cạnh tranh tham gia thị trường; bảo vệ quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng
Trang 10Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Tình hình
hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành bán lẻ của Việt Nam giai đoạn 2006- 2013” làm khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Kinh tế đối ngoại thuộc khoa
Kinh tế quốc tế
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Về tình hình nghiên cứu FDI, trên thế giới và ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu Đó là các công trình nghiên cứu về thực trạng FDI, tác động của FDI, các giải pháp liên quan đến FDI trong phạm vi một khu vực, một quốc gia hoặc một ngành, một lĩnh vực cụ thể Các công trình nghiên cứu này đều làm rõ các vấn đề cơ bản về FDI như khái niệm, đặc điểm, hình thức, vai trò, tác động và các nhân tố ảnh hưởng tới dòng vốn FDI
Trên thế giới việc nghiên cứu về lý thuyết bán lẻ và thị trường là một việc rất phổ biến Tuy nhiên những nghiên cứu về bán lẻ ở Việt Nam còn rất hạn chế Công
ty cung cấp dịch vụ tư vấn và nghiên cứu thị trường toàn cầu (RNCOS) đã đưa ra hai công trình nghiên cứu về thị trường bán lẻ Việt Nam là “Vietnam Retail Analysis 2008-2012” và “Vietnam Retail Market Forecast to 2014” xuất bản tháng 6/2011
Nghiên cứu về lĩnh vực bán lẻ ở Việt Nam vẫn là một đề tài còn khá mới mẻ
và đề tài này chỉ thực sự được quan tâm nghiên cứu kể từ khi Việt Nam gia nhập WTO
Cho tới nay, ở Việt Nam đã có thêm nhiều công trình nghiên cứu về lĩnh vực bán lẻ, cụ thể:
Vụ Thị trường trong nước-Bộ Công Thương: “Các loại hình kinh doanh văn minh hiện đại, định hướng quản lý nhà nước đối với siêu thị tại Việt Nam”; đề tài khoa học cấp Bộ (2001) Đề tài nghiên cứu về triển khai xây dựng, phát triển các loại hình bán lẻ hiện đại tại Việt Nam, trong đó tập trung vào loại hình siêu thị và đại siêu thị
Trang 11Viện Nghiên cứu Thương mại - Bộ Công Thương: “Phát triển hệ thống phân phối hàng hóa ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế; đề tài khoa học cấp Bộ (2002) Đề tài đi sâu vào các cơ sởkhoa học và sự phát triển các mối liên kết dọc và liên kết ngang trong việc phát triển hệ thống phân phối hàng hóa tại nước ta Viện Nghiên cứu Thương mại - Bộ Công Thương: “Đánh giá thực trạng và định hướng tổ chức các kênh phân phối một số mặt hàng chủ yếu ở nước ta”; đề tài khoa học cấp Bộ (2006) Đề tài đề cập đến việc tổ chức các kênh phân phối các mặt hàng thiết yếu ở Việt Nam
Viện Nghiên cứu Thương mại - Bộ Công Thương: “Nghiên cứu dịch vụ bán buôn bán lẻ của một số nước và khả năng vận dụng vào Việt Nam”; đề tài khoa học cấp Bộ (2007) Đề tài đề cập đến các dịch vụ bán buôn, bán lẻ tại một số nước, trong đó tập trung nghiên cứu về điều kiện, xu thế phát triển và chính sách quản lý của hai loại hình phân phối này, từ đó đưa ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Bộ Công Thương: “Phát triển thị trường trong nước đến năm 2010 và định hướng đến 2020”, Đề án trình Chính phủ (2007) Đề án đã được Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định phê duyệt tại Quyết định số 27/2007/QĐ-TTg ngày 15/2/2007 Đềán đã xây dựng các quan điểm, mục tiêu, định hướng phát triển và giải pháp phát triển thương mại trong nước
Phạm Hữu Thìn: “Giải pháp phát triển các loại hình tổ chức bán lẻ văn minh hiện đại ở Việt Nam”, Luận án tiến sĩ kinh tế 2008 Luận án của tác giả đã tập trung nghiên cứu về công tác quản lý nhà nước về các loại hình bán lẻ hiện đại (siêu thị, đại siêu thị, trung tâm thương mại ) ở Việt Nam
Viện Nghiên cứu Thương mại - Bộ Công Thương: “Hoàn thiện môi trường kinh doanh nhằm phát triển dịch vụ bán buôn, bán lẻ của việt Nam”; đề tài khoa học cấp Bộ, năm 2009 Đề tài nghiên cứu về các điều kiện thuận lợi và hạn chếthông qua các tiêu chí đánh giá về môi trường kinh doanh tại Việt Nam để phát
Trang 12triển dịch vụ bán buôn, bán lẻ, từ đó đưa ra một số giải pháp kiến nghị nhằm hoàn thiện môi trường kinh doanh ở Việt Nam
- Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài tập trung nghiên cứu đối tượng là FDI và lĩnh vực phân phối bán lẻ hiện đại trên các góc độ: Tình hình FDI vào ngành bán lẻ giai đoạn 2006-2013; Định hướng và giải pháp thu hút và sử dụng hiệu quả FDI trong ngành bán lẻ
- Phạm vi nghiên cứu của khóa luận:
+ Về không gian: Phạm vi nghiên cứu là hệ thống phân phối bán lẻ hiện đại ở Việt Nam, đặc biệt là khu vực có vốn đầu tư nước ngoài
+ Về thời gian: Để đảm bảo cập nhật thông tin về tình hình FDI vào lĩnh vực bán lẻ, khóa luận thu thập và sử dụng các dữ liệu trong khoảng thời gian gần đây nhất, từ năm 2006 đến năm 2013
4 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp
nước ngoài vào ngành bán lẻ hiện đại Việt Nam và đề xuất các giải pháp quản lý hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài Đề tài làm rõ một số mục đích cụ thể sau:
- Khái quát hóa những lý luận về đầu tư trực tiếp nước ngoài, những kiến thức chung về ngành bán lẻ hiện đại
- Tổng kết thực trạng về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành bán lẻ 2006-2013
- Đánh giá cơ hội và thách thức đối với các loại hình bán lẻ hiện đại ở Việt Nam
- Định hướng về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành bán lẻ hiện đại
Trang 13- Đề xuất các giải pháp quản lý đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành bán lẻ hiện đại
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp, thu thập số liệu
- Phương pháp chuyên gia
- Phương pháp so sánh, đối chiếu với kinh nghiệm quốc tế
Chương 1: Lí luận chung về đầu tư trực tiếp nước ngoài và lĩnh vực bán
Trang 14CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
VÀ NGÀNH BÁN LẺ HIỆN ĐẠI 1.1 Một số vấn đề lí luận về FDI
1.1.1 Các khái niệm FDI
Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ngày càng phát triển rộng rãi và phổ biến trên thế giới Có nhiều định nghĩa khác nhau về FDI được các tổ chức quốc tế đưa ra nhưng đều phản ánh được bản chất của hoạt động này
Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế (International Monetary Fund - IMF), FDI được hiểu là: “Một hình thức đầu tư được thực hiện bởi nhà đầu tư (doanh nghiệp, cá nhân) ở nền kinh tế này vào nền kinh tế khác mang tính dài hạn nhằm thu về những lợi ích lâu dài cho nhà đầu tư” Mục đích của nhà đầu tư trực tiếp là giành quyền quản lý thực sự và thu lợi nhuận từ doanh nghiệp
Tổ chức thương mại thế giới (World trade Oganization – WTO) đã đưa ra định nghĩa như sau: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài diễn ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở nước khác (nước tiếp nhận đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó” FDI phân biệt với các công cụ tài chính khác dựa vào quyền quản lý tài sản Tài sản mà các nhà đầu tư quản lý là các cơ sở kinh doanh, các doanh nghiệp ở nước ngoài được gọi là “công ty con” hay “chi nhánh công ty”
Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (Organization for Economic Cooperation and Development - OECD) định nghĩa: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài
có nghĩa là hoạt động đầu tư quốc tế của một thực thể có danh tiếng (nhà đầu tư trực tiếp) trong một nền kinh tế nhằm mục đích tạo ra lợi ích lâu dài dưới hình thức công ty Lợi ích lâu dài ở đây có nghĩa bao gồm mối quan hệ lâu dài giữa nhà đầu
tư và công ty, nhà đầu tư có ảnh hưởng lớn tới việc quản lý công ty được đầu tư trực tiếp nước ngoài”
Trang 15Hội nghị của Liên hiệp quốc về thương mại và phát triển (United Nation Conference on Trade and Development - UNCTAD),xét dưới góc độ sở hữu cho rằng:“Luồng vốn FDI bao gồm vốn được cung cấp (trực tiếp hoặc thông qua các công ty liên quan khác) bởi nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài cho các doanh nghiệp FDI, hoặc vốn mà nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài nhận được từ doanh nghiệp FDI” Theo đó FDI gồm có ba bộ phận: vốn cổ phần, thu nhập tái đầu tư và các khoản vay trong nội bộ công ty
Theo quan điểm của Luật Đầu tư 2005 của Việt Nam đã đưa ra: “Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư Đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư theo quy định của luật này”
Từ những khái niệm trên, có thể khái quát hóa về FDI như sau: FDI là hình thức đầu tư dài hạn của nhà đầu tư vào một nền kinh tế khác bằng việc đưa vốn, tài sản, công nghệ, năng lực quản lý và khả năng kinh doanh vào nền kinh tế đó nhằm tận dụng lợi thế sẵn có của nước nhận đầu tư về nguồn nguyên liệu, nhân công, thị trường để thu được lợi nhuận cao nhất và quyền quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh này sẽ thuộc cá nhân hay công ty nước ngoài đó
Khái niệm của các tổ chức trên, có sự thống nhất cơ bản với nhau về mối quan
hệ, vai trò, lợi ích của nhà đầu tư và thời gian trong hoạt động FDI Định nghĩa về FDI được quốc tế chấp nhận rộng rãi nhất hiện nay do IMF/UNCTAD đưa ra là dựa trên khái niệm về cán cân thanh toán: “Một nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài (công ty mẹ) ở một quốc gia thực hiện một dự án đầu tư tại một quốc gia khác bằng cách thiết lập một công ty có vốn FDI (công ty con) tại quốc gia đó” Đặc điểm quan trọng nhất của FDI giúp phân biệt với FII là người có vốn đầu tư trực tiếp tham gia vào việc tổ chức, quản lý, điều hành dự án đầu tư, chịu trách nhiệm về kết quả, rủi ro trong kinh doanh và thu lợi nhuận Tùy theo pháp luật của từng nước
Trang 16tiếp nhận đầu tư mà tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài trong vốn pháp định của dự án FDI được quy định ở một mức tối thiểu cụ thể
1.1.2 Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài
FDI hiện nay được thực hiện thông qua những hình thức chủ yếu là: Hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC), doanh nghiệp liên doanh (EFV), doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài (WFOE), hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (BOT), xây dựng - chuyển giao - kinh doanh (BTO) và xây dựng - chuyển giao (BT)…
1.1.2.1 Phân theo hình thức đầu tư:
Hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC): Đây là một văn bản được ký
kết giữa một chủ đầu tư nước ngoài và một chủ đầu tư trong nước (nước nhận đầu tư) để tiến hành một hay nhiều hoạt động sản xuất kinh doanh ở nước chủ nhà mà không ra đời một tư cách pháp nhân mới nào, việc thực hiện phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên theo tỷ lệ góp vốn hoặc theo thỏa thuận.Hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài này có đặc điểm:
- Cả hai bên cùng hợp tác kinh doanh trên cơ sở văn bản hợp đồng đã ký kết giữa các bên về sự phân định trách nhiệm, quyền lợi và nghĩa vụ
- Không thành lập một pháp nhân mới,tức là không thành lập thêm bất kỳ một công ty nào mới
- Thời hạn của hợp đồng hợp tác kinh doanh do hai bên thoả thuận, phù hợp với tính chất hoạt động kinh doanh vàyêu cầu của hợp đồng
- Vấn đề vốn kinh doanh không nhất thuyết phải được đề cập trong văn bản hợp đồng hợp tác kinh doanh
Hình thức công ty hay xí nghiệp liên doanh(EFV): Hình thức liên doanh được
thành lập giữa một bên là một thành viên của nước nhận đầu tư và một bên là các chủ đầu tư ở nước khác tham gia trên cơ sở đóng góp của các bên về vốn, quản lý
Trang 17lao động và cùng chịu trách nhiệm về lợi nhuận, rủi ro, nghiên cứu và phát triển (R&D) Một xí nghiệp liên doanh có thể gồm hai hoặc nhiều bên tham gia liên doanh Đặc điểm của hình thức liên doanh này là:
- Một công ty hay một xí nghiệp mới được thành lập, có tư cách pháp nhân độc lập, thường là một công ty trách nhiệm hữu hạn
- Thời gian hoạt động, cơ cấu tổ chức quản lý của công ty, xí nghiệp liên doanh được quy định tùy thuộc vào luật pháp cụ thể của mỗi nước
- Các bên tham gia liên doanh phải có trách nhiệm góp vốn liên doanh, đồng thời phân chia lợi nhuận và rủi ra theo tỉ lệ góp vốn
Hình thức công ty hay xí nghiệp 100%vốn từ nước ngoài (WFOE): Các công
ty hay xí nghiệp được thành lập theo hình thức này hoàn toàn thuộc quyền sở hữu của tổ chức, cá nhân nước ngoài và do bên nước ngoài tự thành lập, tự quản lý và hoàn toàn chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh Đặc điểm của các công ty này là:
- Được thành lập dưới dạng công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc cổ phần, có tư cách pháp nhân độc lập
- Hoạt động theo sự điều hành quản lý của chủ đầu tư nước ngoài những vẫn tuân theo Luật pháp nước nhận đầu tư
Đầu tư theo hợp đồng BOT (xây dựng - kinh doanh - chuyển giao): Hình thức
đầu tư theo văn bản được kí kết giữa một bên là cơ quan có thẩm quyền của nước nhận đầu tư với nhà đầu tư nước ngoài để đầu tư xây dựng công trình kết cấu hạ tầng và kinh doanh trong một khoảng thời gian nhất định để thu hồi vốn và có lợi nhuận hợp lý, sau đó sẽ chuyển giao không bồi hoàn toàn bộ công trình cho nước nhận đầu tư
Đầu tư theo hợp đồng xây dựng - chuyển giao - kinh doanh (BTO) và hợp đồng xây dựng - chuyển giao (BT):Hình thành tương tự như hợp đồng BOT Đối
với hợp đồng BTO, sau khi hoàn thành công trình, nhà đầu tư nước ngoài chuyển
Trang 18giao lại cho nước nhận đầu tư và được chính phủ nước chủ nhà trao cho quyền kinh doanh công trình khác trong thời gian đủ để hoàn lại toàn bộ số vốn đã đầu tư và với lợi nhuận thỏa đáng Đối với hợp đồng BT, sau khi xây dựng xong công trình, nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao lại cho nước chủ nhà và được Chính phủ nước chủ nhà thanh toán bằng tiền hoặc bằng tài sản nào đó tương xứng với vốn đầu tư
đã bỏ ra và một tỉ lệ lợi nhuận hợp lí
1.1.2.2 Phân theo bản chất đầu tư
Đầu tư phương tiện hoạt động:Hình thức FDI trong đó công ty mẹ đầu tư mua
sắm và thiết lập các phương tiện kinh doanh mới ở nước nhận đầu tư Hình thức này làm tăng khối lượng đầu tư vào
Mua lại và sáp nhập (M&A):Hình thức FDI thường được thực hiện giữa các
TNCs lớn, trong đó hai hay nhiều doanh nghiệp có vốn FDI đang hoạt động sáp nhập vào nhau hoặc một doanh nghiệp này (có thể đang hoạt động ở nước nhận đầu
tư hay ở nước ngoài) mua lại một doanh nghiệp có vốn FDI ở nước nhận đầu tư Hoạt động M&A tạo cho các công ty cơ hội mở rộng nhanh chóng hoạt động ra thị trường nước ngoài do tăng được khả năng cạnh tranh toàn cầu của các tập đoàn, quốc tế hóa sản phẩm, khai thác lợi thế của thị trường mới,…
1.1.2.3 Phân theo tính chất dòng vốn
Vốn chứng khoán: Nhà đầu tư nước ngoài có thể mua cổ phần do một công ty
trong nước phát hành ở một mức đủ lớn để có quyền tham gia vào các quyết định quản lý của công ty
Vốn tái đầu tư:Doanh nghiệp có vốn FDI có thể dùng lợi nhuận thu được từ
hoạt động kinh doanh trong quá khứ để đầu tư thêm
Vốn vay nội bộ hay giao dịch nợ nội bộ: Giữa các chi nhánh hay công ty con
trong cùng một công ty đa quốc gia có thể cho nhau vay để đầu tư hay mua cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp của nhau
Trang 191.1.2.4 Phân theo động cơ của nhà đầu tư
Vốn tìm kiếm tài nguyên: Đây là các dòng vốn nhằm tận dụng và khai thác
những thế mạnh về tài nguyên thiên nhiên của nước tiếp nhận đầu tư như khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên, khai thác nguồn lao động giá rẻ, dồi dào Nguồn vốn loại này còn nhằm mục đích khai thác các tài sản sẵn có thương hiệu ở nước tiếp nhận (như các điểm du lịch và các sản phẩm truyền thống nổi tiếng) Ngoài ra, hình thức vốn này còn nhằm tranh giành các nguồn tài nguyên chiến lược để khỏi lọt vào tay đối thủ cạnh tranh
Vốn tìm kiếm hiệu quả: Đây là nguồn vốn nhằm tận dụng giá thành đầu vào
kinh doanh thấp ở nước tiếp nhận như giá nguyên liệu, giá nhân công rẻ, giá các yếu tố sản xuất như điện nước, chi phí thông tin liên lạc, giao thông vận tải, mặt bằng sản xuất kinh doanh thấp, thuế suất ưu đãi, v.v
Vốn tìm kiếm thị trường: Đây là hình thức đầu tư nhằm mở rộng thị trường
hoặc giữ thị trường khỏi bị đối thủ cạnh tranh giành mất Ngoài ra, hình thức đầu tư này còn nhằm tận dụng các hiệp định hợp tác kinh tế giữa nước tiếp nhận với các nước và khu vực khác, lấy nước tiếp nhận làm bàn đạp để thâm nhập vào các thị trường khu vực và toàn cầu
1.2 Khái niệm về phân phối bán lẻ hiện đại
1.2.1 Khái niệm bán lẻ và bán lẻ hiện đại
Bán lẻ được hiểu là bán cho người tiêu dùng cuối cùng, kết thúc quá trình bán
lẻ, giá trị và giá trị sử dụng của hàng hóa sẽ được thực hiện Bán lẻ được coi là sự kết thúc của hàng hóa trong lưu thông Chính vì thế, chỉ tiêu tổng mức bán lẻ hàng hóa của mỗi quốc gia được sử dụng như một trong những chỉ tiêu phản ánh sự phát triển của sản xuất hàng hóa và mức sống của dân cư
Theo danh mục phân loại ngành dịch vụ của vòng đám phán Uruguay của tổ chức thương mại thế giới (WTO) và danh mục sản phẩm trung tâm tạm thời của Liên hợp quốc (CPC) định nghĩa: “Dịch vụ bán lẻ là hoạt động bán các hàng
Trang 20hóacho người tiêu dùng hoặc các hộ tiêu dùng từ một địa điểm cố định (cửa hàng, kiốt) hay một địa điểm khác (bán trực tiếp) và các dịch vụ phụ liên quan”
Theo Nghị định số 23/2007/NĐ - CP “Quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam”
Từ các định nghĩa trên ta có thể khái quát bán lẻ là hoạt động kinh doanh bằng cách mua với số lượng lớn từ nhà sản xuất, nhà nhập khẩu, hoặc nhà bán sỉ rồi chia nhỏ và bán cho người tiêu dùng nhằm phục vụ nhu cầu cá nhân hay gia đình
Có hai phương thức bán hàng là bán hàng truyền thống và bán hàng hiện đại Trong đó, bán hàng hiện đại được xem là phương thức bán hàng tiến bộ, thể hiện thông qua việc tăng cường hơn tính chủ động của khách hàng trong tiếp cận hàng hóa, có hệ thống bán hàng đồng bộ, vận dụng công nghệ quản lý bán hàng hiện đại (công nghệ mã vạch, mã số, công nghệ thanh toán…) Còn bán hàng truyền thống
là hoạt động bán lẻ diễn ra trên các chợ, các cửa hàng bán lẻ với trang thiết bị và cơ
sở vật chất đơn giản, chủ yếu phục vụ nhu cầu thiết yếu của dân cư, không cần đến tình chuyên nghiệp cao trong dịch vụ khách hàng và là hình thức bán hàng phổ biến
ở các nước kém phát triển
Như vậy, bán lẻ hiện đại được hiểu là hoạt động bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng bằng các phương pháp bán hàng hiện đại nhằm cung ứng hàng hóa một cách đồng bộ, thuận tiện, đảm bảo chất lượng với dịch vụ khách hàng mang tính chuyên nghiệp
1.2.2 Các mô hình bán lẻ hiện đại
Xã hội càng phát triển thì các mô hình bán lẻ càng trở nên phong phú và đa dạng nhằm đáp ứng nhu cầu và phù hợp với lối sống hiện đại của người dân Hiện nay, có các mô hình bán lẻ hiện đại chủ yếu như sau:
Trang 21Sơ đồ1.1- Hệ thống bán lẻ
- Siêu thị, đại siêu thị:
Theo Quy chế siêu thị, trung tâm thương mại của Bộ Công thương : “Siêu thị
là loại hình cửa hàng hiện đại; kinh doanh tổng hợp hoặc chuyên doanh; có cơ cấu chủng loại hàng hóa phong phú, đa dạng, bảo đảm chất lượng; đáp ứng các tiêu chuẩn về diện tích kinh doanh, trang bị kỹ thuật và trình độ quản lý, tổ chức kinh doanh; có các phương thức phục vụ văn minh, thuận tiện nhằm thỏa mãn nhu cầu mua sắm hàng hóa của khách hàng”
- Trung tâm thương mại:
Theo Quy chế siêu thị, trung tâm thương mại của Bộ Công thương: “Trung tâm thương mại làloại hình tổ chức kinh doanh thương mại hiện đại, đa chức năng, bao gồm tổ hợp các loại hình cửa hàng, cơ sở hoạt động dịch vụ; hội trường, phòng
Hệ thống bán lẻ
Bán lẻ hiện đại
Siêu thị, Đại siêu thị
Trung tâm thương mại
Cửa hàng chuyên doanh
Cửa hàng tiện ích
Bán hàng qua mạng InternetBán lẻ truyền
thống
Trang 22họp, văn phòng cho thuê được bố trí tập trung, liên hoàn trong một hoặc một số công trình kiến trúc liền kề; đáp ứng các tiêu chuẩn về diện tích kinh doanh, trang
bị kỹ thuật và trình độ quản lý, tổ chức kinh doanh; có các phương thức phục vụ văn minh, thuận tiện đáp ứng nhu cần phát triển hoạt động kinh doanh của thương nhân và thoả mãn nhu cầu về hàng hoá, dịch vụ của khách hàng”
- Cửa hàng chuyên doanh:
Cửa hàng chuyên doanh là các cửa hàng bán lẻ chỉ chuyên bán một loại mặt hàng duy nhất (cửa hàng quần áo, cửa hàng điện thoại, cửa hàng sơn ) hay kinh doanh một nhóm các mặt hàng nhằm đáp ứng một nhu cầu nhất định (cửa hàng bán
đồ cho thú cưng, cửa hàng bán đồ trang trí ) Các cửa hàng này thường tập trung ở các khu phố buôn bán sầm uất và có đối tượng khách hàng đa dạng
- Cửa hàng tiện ích:
Cửa hàng tiện ích có thể hiểu là cửa hàng bán lẻ cung cấp sự thuận tiện cho khách hàng về hàng hóa thiết yếu, giúp người tiêu dùng tiết kiệm thời gian và khoảng cách đi lại Cửa hàng tiện ích phục vụ nhanh và chu đáo hơn các loại hình bán lẻ hiện đại khác do có quy mô vừa và nhỏ Các cửa hàng này thường phân bố rải rác và tập trung vào nhóm đối tượng khách hàng ở các khu dân cư nhỏ như các khu chung cư
- Bán hàng qua mạng Internet:
Bán hàngqua mạng Internet mới trở nên phổ biến ở nước ta trong thời gian gần đây Đây là loại hình bán lẻ hiện đại cung cấp hàng hóa vô cùng tiện lợi và nhanh chóng, người mua và người bán không cần phải gặp nhau trực tiếp và việc buôn bán diễn ra trên các phương tiện thông tin liên lạc hiện đại được kết nối Internet Tuy nhiên đây vẫn là hình thức bán hàng tiềm ẩn nhiều rủi ro cho người mua
Trang 23Như vậy, các mô hình bán lẻ bao gồm nhiều loại khác nhau như: Siêu thị, đại siêu thị, trung tâm thương mại, cửa hàng chuyên doanh, cửa hàng chiết giá, cửa hàng tiện ích, bán hàng qua mạng, bán hàng qua điện thoại
1.3 Vai trò của phân phối bán lẻ hiện đại trong nền kinh tế quốc dân
Với vị trí là cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng, giữa sản xuất và sản xuất, phân phối nói chung và phân phối bán lẻ hiện đại nói riêng có vai trò chủ yếu sau:
- Cung cấp hàng hóa và dịch vụ có chất lượng cao đến tay người tiêu dùng cuối cùng: Bán lẻ hiện đại thỏa mãn ở mức cao nhu cầu của khách hàng, đặc biệt là
khách hàng có thu nhập từ trung bình trở lên, góp phần cải thiện điều kiện sống của
họ và tạo nên bộ mặt mới của thị trường hàng hóa tiêu dùng
- Thu thập thông tin thị trường, phản ánh trở lại nhà sản xuất:Từ đó kích
thích sản xuất phát triển theo hướng ngày càng tạo ra những sản phẩm tốt hơn, chất lượng cao hơn và mẫu mã phong phú hơn theo yêu cầu và thị hiếu ngày càng cao của khách hàng Từ đó góp phần kích cầu tiêu dùng, phát đi những tín hiệu phản hồi của khách hàng để sản xuất đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của khách hàng, đòi hỏi sản xuất phải đưa các tiến bộ khoa học kỹ thuật cũng như công nghệ mới vào sản xuất sản phẩm
- Đóng góp cho sự tăng trưởng kinh tế của đất nước: Bán lẻ hiện đại đã thu
hút lượng khách hàng chủ yếu có thu nhập từ trung bình trở lên Do vậy, phát triển các loại hình bán lẻ này đã mang lại nhiều lợi ích kinh tế lớn hơn nhiều so với các loại hình kinh doanh truyền thống Bản thân sự tăng trưởng của các doanh nghiệp này đã góp phần cho sự tăng trưởng GDP của quốc gia
- Tạo lập và nâng cao sức cạnh tranh của các loại hình bán lẻ: Sự phát triển
của bán lẻ hiện đại góp phần thay đổi thói quen, tập quán và hành vi tiêu dùng của
Trang 24dân cư, góp phần thay đổi kênh bán lẻ truyền thống: Hình thức này phát triển đã giúp khách hàng tiếp cận tốt hơn với lối sống công nghiệp, văn minh và hiện đại; góp phần tích cực cho sự thay đổi kênh bán lẻ truyền thống Dưới áp lực cạnh tranh với loại hình bán lẻ, hệ thống chợ và các loại hình bán lẻ truyền thống đã và đang đổi mới về cơ sở vật chất, phong cách phục vụ…đem lại những lợi ích mới cho người tiêu dùng
Trang 25CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC
NGOÀIVÀO NGÀNH BÁN LẺ Ở VIỆT NAM
2.1 Khái quát thực trạng phát triển dịch vụ phân phối bán lẻ và bán lẻ hiện đại hàng hoá ở Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế
Trong quá trình hội nhập quốc tế, mở cửa thị trường dịch vụ phân phối, sự phát triển của lĩnh vực dịch vụ phân phối bán lẻ ở Việt Nam có những đặc điểm và
xu hướng chủ yếu sau:
Thứ nhất, ngành bán lẻ đạt được tốc độ tăng trưởng nhanh với quy mô ngày càng được mở rộng Tuy nhiên tốc độ tăng trưởng nhanh nhưng chưa ổn định
Bảng 2.1 Tổng mức bán lẻ hàng hóa giai đoạn2002-2012
Năm
Tổngmức bánlẻ (Tỷđồng)
Tốcđộtă ng(%)
Chỉsốgiá tiêudùng (%)
Tăngtrưởn gbánlẻthực tế(%)
Tổngmứcbánlẻ đãloạitrừyếutố tănggiá(tỷđồng
Trang 27chóng Năm 2012 tổng mức bán lẻ theo giá thực tế đạt 1.880.693,4 tỷ đồng, gấp 4,06 lần so với năm 2006 Nếu loại trừ yếu tố tăng giá thì tổng mức bán lẻ năm
2012 đạt 664.213 tỷ đồng; gấp 2,16 lần so với năm 2006
Hệ thống phân phối bán lẻ hiện đại ở Việt Nam vẫn đang phát triển và mở rộng Sức hấp dẫn của thị trường bán lẻ Việt Nam trong những năm gần đây đã giảm bớt nhiều so với năm 2008, nhưng vẫn tiếp tục thu hút các nhà bán lẻ nước ngoài mở rộng đầu tư vào lĩnh vực này Điển hình là hai tập đoàn bán lẻ có vốn đầu
tư lớn nhất vào Việt Nam là Metro Cash & Carry và Casino (thương hiệu Big C)đã liên tục mở rộng thêm các cơ sở bán lẻ của mình tại Việt Nam Trong đó, năm
2013, tập đoàn Metro Cash & Carry đã mở thêm 2 cơ sở, nâng tổng mức số trung tâm phân phối của Metro tại Việt Nam là 19 trung tâm; tập đoàn Casino đã xây dựng thêm 4 trung tâm thương mại, hiện tập đoàn này đã có 26 trung tâm trên toàn quốc Hệ thống trung tâm mua sắm kết hợp giải trí Lotte Mart cũng mở thêm 2 trung tâm thương mại vào năm 2013 và 1 trung tâm thương mại tại Hà Nội vào tháng 3/2014 Công ty TNHH FamilyMart Việt Nam là công ty liên doanh giữa tập đoàn Phú Thái (Việt Nam) với tập đoàn Itochu (Nhật Bản) đang mở rộng thêm chuỗi cửa hàng của mình Ngoài ra, có nhiều các tập đoàn bán lẻ lớn của nước ngoài đã quyết định đầu tư vào Việt Nam như Aeon (Nhật Bản), E-Mart (Hàn Quốc), Dairy Farm (Hồng Kông),
Thứ hai, đóng góp của thương mại bán lẻ vào GDP có xu hướng tăng, trình
độ và chất lượng dịch vụ phân phối bán lẻ được nâng lên rõ rệt sau khi Việt nam gia nhập WTO
Trước khi gia nhập WTO, tốc đố tăng trưởng của ngành thương mại nói riêng luôn thấp hơn tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế (tốc độ tăng trưởng GDP)
Kể từ sau khi gia nhập WTO, ngành bán lẻ ở Việt Nam đã có những bước phát triển rõ rệt cả về quy mô và trình độ Bên cạnh đó, tốc độ tăng trưởng của ngành
Trang 28thương mại nội địa luôn cao hơn tốc độ tăng trưởng của cả nền kinh tế, tỷ trọng đóng góp của thương mại trong nước vào GDP có xu hướng tăng lên và ngày càng cao cho thấy vai trò của thương mại ngày càng có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế nước ta
Bảng 2.2 Tỷ trọng của thương mại so với GDP giai đoạn 2003-2012
(tính theo giá so sánh 1994)
Năm
GDP (Tỷ đồng)
Thương mại (Tỷ đồng)
Tỷ trọng thương mại/GDP (%)
Tốc độ tăng trưởng GDP (%)
Tốc độ tăng trưởng thương mại (%)
Nguồn: Niên giám thống kê 2010, 2012- Tổng cục Thống kê
Qua bảng số liệu thống kê trên cho thấy đóng góp của thương mại vào GDP luôn ở mức ổn định và có sự gia tăng nhẹ 16-17% Tốc độ tăng trưởng của thương mại luôn ở mức cao hơn ở mức tăng trưởng GDP và thường cao hơn gấp hai lần tốc
độ tăng trưởng GDP (Bảng 2.1) Điều này cho thấy ngành thương mại, đặc biệt là bán lẻ đã đóng góp tích cực vào tốc độ tăng trưởng GDP của cả nước Tuy nhiên thời gian gần đây tốc độ tăng trưởng bán lẻ có xu hướng giảm xuống so với giai đoạn đầu gia nhập WTO
Thứ ba, hệ thống phân phối bán lẻ có xu hướng chuyển dịch sang các loại hình bán lẻ hiện đại
Trang 29Hiện nay, ngành bán lẻ có xu hướng chuyển dịch từ loại hình bán lẻ truyền thống sang các loại hình bán lẻ hiện đại Đây là xu thế tất yếu trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Một trong những nguyên nhân dẫn đến xu thế trên là chất lượng dịch vụ của loại hình bán lẻ hiện đại ngày càng tốt hơn và đáp ứng được nhu cầu đa dạng của người tiêu dùng
Bảng 2.3: Đặc điểm chất lượng dịch vụ của siêu thị và chợ truyền thống
- Không gian rộng rãi, sạch sẽ
- Giá niêm yết và tương đối cao
- Chất lượng hàng hóa đảm bảo
- Vệ sinh không đảm bảo, gây ô nhiễm môi trường
- Phân bố rải rác khắp nơi với quy mô
đa dạng
- Kinh doanh thiếu bài bản
- Mua bán theo thỏa thuận, giá rẻ hơn
- Chất lượng hàng hóa khó kiểm định
(Nguồn: Người viết tự tổng hợp)
Từ bảng 2.3 cho thấy với những chất lượng dịch vụ như trên bán lẻ hiện đại sẽ nhanh chóng thay thế bán lẻ truyền thống trong thời gian tới Bán lẻ hiện đại tạo sự hài lòng đối với khách hàng, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng Loại hình bán lẻ hiện đại còn mang lại nhiều tiện ích cho người tiêu dùng như dịch
vụ bán hàng qua mạng Internet, có nhiều chương trình khuyến mại Dịch vụ bán hàng qua mạng Internet giúp tiết kiệm thời gian cho khách hàng, họ không phải đến tận nơi để mua hàng mà có thể đặt hàng và được giao hàng tận nơi Ngoài ra, các kênh bán lẻ hiện đại thực hiện nhiều phương thức tiếp cận khách hàng như quảng cáo trên truyền hình, quảng cáo qua mạng Các hình thức quảng cáo này giúp khách hàng nắm được thông tin về sản phẩm, từ đó đưa ra quyết định tiêu dùng hợp
lý nhất Trong khi đó, các loại hình bán lẻ truyền thống ngày càng trở nên bất tiện
Trang 30do có quy mô nhỏ lẻ, thiếu chuyên nghiệp và ngày càng không phù hợp với lối sống hiện đại
Như vậy, trong tương lai hình thức phân phối bán lẻ hiện đại sẽ thay thế hình thức bán lẻ truyền thống và trở thành hình thức phân phối chủ yếu trong đời sống Theo số liệu của Tổng cục Thống kê tính đến 31/12/2012, cả nước có 8547 chợ và
659 siêu thị và 115 trung tâm thương mại Cơ cấu bán lẻ đã chuyển dần qua hệ thống phân phối hiện đại,hệ thống phân phối bán lẻ truyền thống có xu hướng giảm dần Tuy nhiên mô hình bán lẻ hiện đại ở Việt Nam mới chiếm hơn 20%, trong đó tại 2 thành phố lớn là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh chiếm khoảng 16% và 36% Nếu so với các nước khác trong khu vực như Indonesia (43%), Thái Lan (46%), Malaysia (53%), Trung Quốc (64%) thì tỷ trọng của bán lẻ qua hệ thống phân phối hiện đại của Việt Nam vẫn còn ở mức thấp
Thứ tư, hệ thống phân phối bán lẻ hàng hóa phân bốkhông đồng đều giữa các vùng trong cả nước
Trang 31Bảng 2.4 Mạng lưới cơ sở kinh doanh phân phối bán lẻ hàng hóa Việt Nam tính
đến 31/12/2012
Cơ sở kinh doanh
Trung tâm thương mại
Nguồn: Niên giám thống kê 2012- Tổng cục Thống kê
Nhìn trên bảng 2.4, các chợ truyền thống có sự phân bố tương đối đồng đều giữa các vùng trong cả nước Tuy nhiên với các loại hình bán lẻ hiện đại như siêu thị, trung tâm thương mại thì có sự phân bố không đồng đều giữa các vùng.Các siêu thị, đại siêu thị và các trung tâm thương mại chủ yếu tập trung ở các vùng kinh
tế phát triển có nhiều đô thị lớn như vùng Đồng bằng Sông Hồng và Đông Nam Bộ, các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh,…
Năm 2014, Bộ Công thương chính thức phê duyệt Quy hoạch phát triển cho mạng lưới siêu thị, trung tâm thương mại Theo đó, dự tính đến năm 2020, cả nước
sẽ có khoảng 1200-1300 siêu thị và 180 trung tâm thương mại Dự báo đến năm
Trang 322020, tỷ trọng bán lẻ qua hệ thống phân phối bán lẻ hiện đại sẽ chiếm 45% tổng mức bán lẻ hàng hóa của cả nước
Thứ năm, đối tượng tham gia kinh doanh bán lẻ hiện đại ngày càng đa dạng, tăng nhanh về số lượng
Với sự phát triển của thị trường bán lẻ nói chung cũng như sự phát triển nhanh chóng của ngành bán lẻ hiện đại, số lượng chủ thể tham gia vào kinh doanh dịch vụ phân phối bán lẻ đã tăng lên một cách đáng kể và ngày càng đa dạng về thành phần
Có ba nhóm đối tượng chính tham gia vào ngành này:
- Các công ty phân phối trong nước: Bao gồm các doanh nghiệp Nhà nước và
doanh nghiệp ngoài khu vực Nhà nước Đây là nhóm đối tượng có sự phát triển rõ nét nhất trong ba nhóm đối tượng tham gia vào ngành bán lẻ hiện đại, với sự xuất hiện của hàng loạt các doanh nghiệp lớn trong ngành này như Nguyễn Kim, Thế giới di động, Intimex, Hapro, Fivimart, Saigon Co-opmart,… Các công ty phân phối bản lẻ trong nước đang ngày càng hướng tới trình độ dịch vụ mang tính chuyên nghiệp cao và có mạng lưới hệ thống phân phối trải dài các tỉnh thành trên
cả nước
- Các tập đoàn phân phối nước ngoài hoạt động tại Việt Nam:Sau khi Việt
Nam gia nhập WTO và mở cửa thị trường dịch vụ phân phối và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng đã tạo ra một thị trường đầy sức hút đối với các tập đoàn phân phối nước ngoài Các tập đoàn này đã bắt đầu tiếp cận và xâm nhập vào thị trường bán lẻ hiện đại nước ta Thị trường Việt Nam đã có sự tham gia của nhiều tập đoàn phân phối bán lẻ nước ngoài như Big C của Pháp, Metro Cash & Carry của Đức, Parkson của Malaysia, Lotte của Hàn Quốc… Sự có mặt của các tập đoàn này đã làm cho thị trường kinh doanh hàng hóa và dịch vụ nội địa trở nên cạnh tranh, đa dạng và tăng thêm nhiều lựa chọn cho người tiêu dùng
Trang 33Sau khi Việt Nam gia nhập WTO, thực hiện nhiều chính sách mới mở cửa thị trường, ban hành Luật doanh nghiệp 2005, số lượng doanh nghiệp hoạt động trong ngành bán lẻ tăng nhanh qua từng năm Điều này được thể hiện qua số liệu thống
kê hàng năm của Tổng cục Thống kê
Biểu đồ 2.1 Số lượng doanh nghiệp hoạt động kinh doanh bán lẻtrong giai
đoạn 2006-2011
Nguồn: Niên giám thống kê năm 2012 - Tổng cục Thống kê
Số lượng doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực phân phối bán lẻ tăng đáng
kể qua các năm Từ 18.444 doanh nghiệp năm 2005, nhanh chóng tăng lên 37.635 doanh nghiệp tính đến 31/12/2011 Như vậy số lượng doanh nghiệp đã tăng gấp đôi
kể từ khi Việt Nam gia nhập WTO Các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực bán
lẻ không chỉ tăng nhanh về số lượng mà còn tăng về quy mô kinh doanh
số lượng doanh nghiệp
số lượng doanh nghiệp
Trang 34Bảng 2.5 Quy mô của các doanh nghiệp bán lẻ giai đoạn 2000-2011
Năm
Chỉ tiêu Vốn kinh doanh bình
quân hàng năm (Tỷ đồng/DN)
Số lao động bình quân
hàng năm (Lao động/DN)
Doanh thu thuần bán
lẻ bình quân (Tỷ đồng/DN)
Nguồn: Niên giám thống kê năm 2012 - Tổng cục Thống kê
Do số lượng doanh nghiệp bán lẻ tương đối nhiều, quy mô kinh doanh đa dạng, nhiều thành phần nên vốn kinh doanh bình quân hàng năm của các doanh nghiệp thường nhỏ và tăng chậm Số lao động bình quân của một doanh nghiệp bán
lẻ tương đối ít, chỉ khoảng 10 lao động trên một doanh nghiệp với doanh thu thuần khoảng 10 tỷ đồng/doanh nghiệp/năm Năm 2011, có sự tăng đáng kể về doanh thu thuần bán lẻ (16,4 tỷ đồng/doanh nghiệp/năm) do áp dụng các mô hình bán lẻ tiên tiến và sự tăng cường đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài
- Các hộ kinh doanh cá thể, buôn bán nhỏ trong nước: Đây là nhóm thành
phần đối tượng rất đặc trưng và đông đảo trong thị trường bán lẻ của các nước đang phát triển như Việt Nam Đặc điểm của nhóm đối tượng này là hoạt động kinh doanh mang tính tự phát, nhỏ lẻ và chưa qua đào tạo về kiến thức cũng như kỹ năng
Trang 35kinh doanh nên đây là những đối tượng rất dễ bị tổn thương khi nền kinh tế nước nhà hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới
Thứ sáu, hệ thống phân phối bán lẻ hiện đại có xu hướng liên kết lại với nhau
để tăng cường khả năng hoạt động và tính cạnh tranh Các hình thức liên kết:
- Mô hình liên kết hợp đồng: Một nhà bán buôn kí hợp đồng cung cấp hàng
hóa với nhiều nhà bán lẻ độc lập cùng một lúc nhằm hình thành các chuỗi của hàng bán lẻ được tiêu chuẩn hóa về chất lượng cũng như cách trưng bày sản phẩm, phối hợp hoạt động mua bán và quản lý hàng tồn kho…Mô hình này mang lại hiệu quả kinh tế theo qui mô và có thể giảm giá bán hàng hóa để cạnh tranh với các công ty bán lẻ qui mô lớn
- Mô hình tổ chức hợp tác bán lẻ: Các nhà bán lẻ độc lập tập hợp lại với nhau
thành một tổ chức, hợp tác thực hiện chức năng bán buôn Các thành viên hợp tác với nhau để lập ra kế hoạch phối hợp bán hàng, định giá bán và tổ chức các chương trình quảng cáo, khuyến mại…để tập trung sức mua của người tiêu dùng và giúp nâng cao khả năng cạnh tranh của mình trong thị trường bán lẻ hiện đại
- Các mô hình hiện đại:Các mô hình này liên kết với nhau theo hợp đồng
nhượng quyền thương mại hay liên kết dọc tập đoàn Hệ thống liên kết tập đoàn bán lẻ độc lập là việc mở rộng liên kết của một doanh nghiệp bán lẻ theo chiều dọc
từ dưới lên trên và triển khai ứng dụng hệ thống quản lý bằng công nghệ thông tin hiện đại Một mô hình hiện đại đang mang lại hiệu quả cao và đang được nhân rộng
là mô hình liên kết giữa nhà phân phối bán lẻ với nhà sản xuất thông qua hợp đồng tiêu thụ sản phẩm như các thức hoạt động kinh doanh của tập đoàn Metro Cash & Carry
Thứ bảy, xu hướng cạnh tranh giữa doanh nghiệp nội địa và doanh nghiệp nước ngoài trong ngành phân phối bán lẻ ngày càng gia tăng
Trang 36Sau khi Việt Nam gia nhập WTO, mở cửa thị trường theo các cam kết quốc tế, hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế quốc tế thì cạnh tranh giữa các doanh nghiệp nội địa và các doanh nghiệp nước ngoài trong ngành bán lẻ ngày càng gay gắt Các tập đoàn nước ngoài khi tham gia vào thị trường Việt Nam liên tục tìm kiếm và mở rộng thị phần tạo nên sức ép cạnh tranh lớn đối với các doanh nghiệp trong nước Sức ép cạnh tranh này đòi hỏi các doanh nghiệp trong nước phải đổi mới phương thức kinh doanh, hiện đại hóa công nghệ để theo kịp và giữ được thị phần của mình trong ngành bán lẻ đối với các doanh nghiệp nước ngoài Sự cạnh tranh giữa các tập đoàn nước ngoài với các doanh nghiệp trong nước ngày càng tăng lên do thị trường bán lẻ ngày càng mở cửa, các rào cản về thương mại dần được gỡ bỏ
Theo lộ trình cam kết WTO, năm 2015, Việt Nam sẽ mở cửa hoàn toàn thị trường bán lẻ Việc này sẽ tạo nên sự cạnh tranh khốc liệt cho các doanh nghiệp bán lẻ nội địa, đồng thời cũng là cơ hội cho các doanh nghiệp bán lẻ trong và ngoài nước mở rộng thị trường và quy mô kinh doanh Đối với các doanh nghiệp bán lẻ nội địa cũng đã có những nỗ lực mở rộng hệ thống phân phối, nâng cao năng lực cạnh tranh của mình Năm 2013, Saigon Co-op mart mở rộng hệ thống phân phối với 70 siêu thị trên toàn quốc và cho ra mắt mô hình kinh doanh đại siêu thị
Các doanh nghiệp nước ngoài không ngừng nâng cao sức cạnh tranh của mình Lotte Mart mở siêu thị đầu tiên tại Hà Nội với vốn đầu tư trên 25 triệu USD (2013) Tập đoàn Aeon mở trung tâm mua sắm tại thành phố Hồ Chí Minh và đang
dự kiến mở thêm trung tâm tại Bình Dương và Hà Nội Các tập đoàn bán lẻ Các tập đoàn đã có thời gian hoạt động tại thị trường Việt Nam trong thời gian dài cũng không ngừng mở rộng hệ thống như Metro Cash & Carry, Big C
Các doanh nghiệp bán lẻ không chỉ cạnh tranh về quy mô, vốn, hệ thống quản trị mà còn cạnh tranh cả về marketing Điểm mạnh của các doanh nghiệp trong nước là hiểu rõ tâm lý tiêu dùng, thói quen tiêu dùng của người dân Việt Nam Do
Trang 37đó có thể thỏa mãn nhu cầu với giá cả hợp lý cho người tiêu dùng Việt Nam Trong khi đó thế mạnh của các doanh nghiệp bán lẻ nước ngoài là công nghệ và trình độ quản lý hiện đại, mô hình bán lẻ hiện đại với quy mô lớn do có tiềm lực về vốn; có thể đưa đến thị trường Việt Nam một số mặt hàng mang tính đột phá, thay đổi thói quen của người tiêu dùng
2.2 Tổng quan về FDI vào ngành phân phối bán lẻ hiện đại ở Việt Nam
2.2.1 Quy mô FDI vào lĩnh vực phân phối bán lẻ hiện đại
Để chuẩn bị cho việc gia nhập vào WTO, Nhà nước đã có sự chủ động trong việc điều chỉnh chính sách hội nhập và mở cửa thị trường dịch vụ phân phối bán lẻ thông qua việc cho phép một số tập đoàn phân phối nước ngoài được thành lập các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài trong lĩnh vực bán lẻ và có thể mở thêm cơ sở bán lẻ thứ hai tại các tỉnh/thành phố khác tại Việt Nam Kể từ khi gia nhập WTO, Việt Nam đã từng bước thực hiện đúng theo các cam kết về việc mở cửa thị trường
Do đó, vốn FDI đăng ký vào ngành bán buôn và bán lẻ tại Việt Nam đã tăng một cách đáng kể bắt đầu từ năm 2006
Trang 38Bảng 2.6: FDI vào ngành bán lẻ giai đoạn 2002-2011
Đơn vị tính: triệu USD
Năm
Dịch vụ bán buôn, bán lẻ
Dịch vụ vận tải và kho bãi
Toàn bộ lĩnh vực dịch vụ
Tỷ trọng dịch vụ bán buôn, bán lẻ/toàn lĩnh vực dịch
Nguồn: Niên giám thống kê 2012 - Tổng cục Thống kê
Tính đến 31/12/2011, cả nước có 690 dự án FDI đầu tư vào dịch vụ bán buôn, bán lẻ và sửa chữa nhỏ với tổng vốn đăng ký đạt 2119,1 triệu USD; chiếm 5,1% số
dự án đầu tư vào Việt Nam và 1,06% tổng vốn FDI đăng kí vào Việt Nam
Các dự án của các nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực phân phối bán lẻ tại Việt Nam ngày càng tăng Theo số liệu của Cục Đầu tư nước ngoài, tổng vốn FDI vào ngành bán buôn, bán lẻ và sửa chữa của Việt Nam vào khoảng 3,5 tỷ USD (tính đến cuối năm 2013) Các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào ngành bán lẻ chủ yếu đến từ các nước Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Pháp và Mỹ
Trong năm 2014, các tập đoàn nước ngoài liên tục mở rộng quy mô bán lẻ tại thị trường Việt Nam:
- Tập đoàn Lotte (Hàn Quốc) đã công bố đầu tư một trung tâm thương mại tại thành phố Vũng Tàu với tổng vốn đầu tư 34 triệu USD Dự kiến sẽ đi vào hoạt
Trang 39động vào năm 2015 Ngoài ra tập đoàn Lotte còn xây dựng mục tiêu là sẽ khai trương 60 trung tâm tại Việt Nam từ nay tới hết năm 2020
- Tập đoàn Aeon (Nhật Bản) khai trương trung tâm thương mại đầu tiên vào tháng 1/2014 tại thành phố Hồ Chí Minh với tổng vốn đầu tư hơn 100 triệu USD; đồng thời công bố chiến lược đầu tư thêm 20 trung tâm thương mại từ nay tới năm
2020
- Tập đoàn McDonald’s(Mỹ) đã khai trương cửa hàng đầu tiên tại thành phố
Hồ Chí Minh vào tháng 2/2014 Tập đoàn này có kế hoạch mở ít nhất 100 cửa hàng tại Việt Nam trong vào 10 năm tới
Bảng2.7: Quy mô vốn FDI đăng kí vào lĩnh vực bán lẻ 2005-2012
Năm Vốn FDI vào lĩnh vực bán lẻ (Tỷ đồng) FDIđăng ký vào Việt Nam(%) Tỷ trọng FDI bán lẻ/ tổng vốn
Nguồn:Niên giám thống kê 2013 – Tổng cục Thống kê
Từ sau khi Việt Nam gia nhập WTO về mở cửa thị trường, vốn FDI vào lĩnh vực bán lẻ liên tục tăng qua các năm từ 22.283 tỷ đồng năm 2006 lên 67.642 tỷ đồng năm 2012 (tăng gấp 3 lần) Tuy nhiên tỷ trọng FDI vào lĩnh vực bán lẻ trong tổng vốn FDI vào Việt Nam có xu hướng giảm xuống và tăng trở lại trong những