Từ đó đưa ra một số giải pháp để phát triển làng nghề truyền thống Vĩnh Phúc trở thành những điểm du lịch hấp dẫn mới đối với du khách.. Kết quả của quá trình thực địa đã mang lại cái nh
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của tôi, có sự hỗ trợ từ giáo viên hướng dẫn là TS Vũ Đình Hòa – Khoa Quy hoạch phát triển – Học viện Chính sách và Phát triển Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi trong phần tài liệu tham khảo Ngoài ra, đề tài còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá cũng như số liệu của các tác giả, cơ quan, tổ chức khác và cũng được thể hiện trong phần tài liệu tham khảo
Hà Nội, ngày 08 tháng 05 năm 2014
Tác giả
Đỗ Thanh Phương
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Với những tình cảm chân thành và sâu sắc nhất, em xin chân thành cám ơn
TS Vũ Đình Hòa - người đã tận tình, đầy trách nhiệm hướng dẫn em thực hiện
đề tài Khóa luận tốt nghiệp của mình
Em xin trân trọng cảm ơn các thầy, cô giáo trong khoa Quy hoạch phát triển – Học viện Chính sách và Phát triển đã giảng dạy, giúp đỡ em hoàn thành
đề tài Khóa luận tốt nghiệp này
Xin cảm ơn sự giúp đỡ, chia sẻ của gia đình, bạn bè để tôi có thể khắc phục được khó khăn, khuyết điểm của mình để có thể hoàn thành tốt đề tài Khóa luận tốt nghiệp
Hà Nội, ngày 8 tháng 5 năm 2014
Tác giả
Đỗ Thanh Phương
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT……… …1
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ, HÌNH VẼ 2
MỞ ĐẦU 3
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DU LỊCH LÀNG NGHỀ 6
1.1 Làng nghề và làng nghề truyền thống 6
1.1.1 Làng nghề 6
1.1.2 Làng nghề truyền thống 7
1.2 Đặc điểm của làng nghề truyền thống 8
1.2.1 Làng nghề truyền thống tồn tại ở nông thôn, gắn bó chặt chẽ với nông nghiệp 8
1.2.2 Công nghệ, kỹ thuật sản xuất mang tính truyền thống 9
1.2.3 Đại bộ phận nguyên liệu của làng nghề truyền thống là tại chỗ 9
1.2.4 Phần đông lao động trong các làng nghề truyền thống là lao động thủ công 9
1.2.5 Sản phẩm của làng nghề truyền thống mang tính đơn chiếc, có tính mỹ thuật cao, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, địa phương, vùng miền 10
1.2.6 Hình thức tổ chức sản xuất trong các làng nghề truyền thống chủ yếu ở quy mô hộ gia đình, một số đã có sự phát triển thành tổ chức hợp tác và doanh nghiệp tư nhân .10
1.3 Du lịch làng nghề truyền thống 11
1.4 Mối quan hệ giữa du lịch và làng nghề truyền thống 12
1.4.1 Vai trò của du lịch trong phát triển làng nghề truyền thống 12
1.4.2 Vai trò của làng nghề truyền thống trong phát triển du lịch 12
Trang 4CHƯƠNG 2 TIỀM NĂNG VÀ THỰC TRẠNG 14
PHÁT TRIỂN DU LỊCH LÀNG NGHỀ TỈNH VĨNH PHÚC 14
2.1 Khái quát chung về tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch tỉnh Vĩnh Phúc 14
2.1.1 Tiềm năng phát triển du lịch tỉnh Vĩnh Phúc 14
2.1.2 Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Vĩnh Phúc 19
2.2 Khái quát về các làng nghề truyền thống tỉnh Vĩnh Phúc 27
2.2.1 Hệ thống các làng nghề truyền thống tỉnh Vĩnh Phúc 27
2.2.2 Những làng nghề truyền thống tiêu biểu tỉnh Vĩnh Phúc 30
2.3 Thực trạng hoạt động du lịch tại các làng nghề trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc 43
2.3.1 Thực trạng khách du lịch 43
2.3.2 Thời gian khách du lịch đến với làng nghề 46
2.3.3 Các sản phẩm du lịch chủ yếu 47
2.3.4 Cơ sở vật chất phục vụ du lịch làng nghề 49
2.4 Đánh giá chung 49
2.4.1 Điểm mạnh 49
2.4.2 Điểm yếu 50
2.4.3 Cơ hội 51
2.4.4 Thách thức 52
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP TỔ CHỨC PHÁT TRIỂN DU LỊCH LÀNG NGHỀ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH VĨNH PHÚC 53
3.1 Định hướng phát triển du lịch làng nghề Vĩnh Phúc 53
3.2 Một số giải pháp nhằm tổ chức phát triển du lịch làng nghề trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc 54
Trang 53.2.1 Bảo tồn và phát triển các làng nghề truyền thống của Vĩnh Phúc 54
3.2.2 Xây dựng sản phẩm du lịch đặc thù tại các làng nghề truyền thống 55
3.2.3 Tăng cường công tác quảng bá xúc tiến, giới thiệu sản phẩm và các làng nghề truyền thống 55
3.2.4 Các công ty du lịch nên xây dựng các tour du lịch chuyên đề về các làng nghề 56
3.2.5 Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong việc bảo tồn phát triển làng nghề truyền thống trong hoạt động du lịch 58
3.2.6 Giải pháp cải tạo môi trường làng nghề 60
3.3 Một số khuyến nghị 60
3.3.1 Tăng cường công tác quản lý, khôi phục làng nghề 60
3.3.2 Đẩy nhanh quá trình đền bù và quy hoạch cụm làng nghề 61
3.3.3 Quan tâm đúng mức, đầu tư hợp lý nhằm phát triển các làng nghề 61
KẾT LUẬN 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO 63 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ, HÌNH VẼ
DANH MỤC BẢNG
1 Bảng 2.1 Khách du lịch quốc tế đến Vĩnh Phúc giai đoạn 2000 - 2010 20
2 Bảng 2.2 Khách du lịch nội địa đến Vĩnh Phúc giai đoạn đến 2010 21
3 Bảng 2.3 Hiện trạng thu nhập từ du lịch tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn đến 2010 23
4 Bảng 2.4 Thực trạng phát triển nguồn nhân lực du lịch của Vĩnh Phúc 24
5 Bảng 2.5 Hiện trạng cơ sở lưu trú của Vĩnh Phúc giai đoạn 2000 - 2010 25
6 Bảng 2.6 Danh sách các làng nghề được công nhận theo quyết định của
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
1 Hình 2.1 Lượng khách du lịch đến Vĩnh Phúc giai đoạn 2000 - 2010 19
2 Hình 2.2 Lượng khách du lịch làng nghề và doanh thu giai đoạn 2000 - 2010 44
DANH MỤC HÌNH VẼ
- Bản đồ hành chính tỉnh Vĩnh Phúc
- Bản đồ du lịch tỉnh Vĩnh Phúc
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong xu thế hội nhập và mở cửa, làng nghề truyền thống đang dần lấy lại
vị trí quan trọng của mình trong đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội của mỗi địa phương Những làng nghề này như một hình ảnh đầy bản sắc, khẳng định nét riêng biệt, độc đáo không thể thay thế Một cách giới thiệu sinh động về đất, nước và con người của mỗi vùng, miền, địa phương Phát triển du lịch làng nghề chính là một hướng đi đúng đắn và phù hợp, được nhiều địa phương ưu tiên trong chính sách quảng bá và phát triển du lịch Những lợi ích to lớn của việc phát triển du lịch làng nghề không chỉ tăng trưởng lợi nhuận kinh tế, giải quyết việc làm cho lao động địa phương mà hơn thế nữa, còn là một cách thức gìn giữ
và bảo tồn những giá trị văn hoá của dân tộc Đó là những lợi ích lâu dài không thể tính được trong ngày một ngày hai
Vĩnh Phúc chưa có những làng nghề đã nổi tiếng như: Gốm Bát Tràng(Gia Lâm, Hà Nội), Làng Tranh Đông Hồ(Thuận Thành, Bắc Ninh), Làng lụa Vạn Phúc (Hà Đông, Hà Nội) thu hút nhiều du khách tìm đến Nhưng nếu được đầu
tư đúng cách, những làng nghề truyền thống như Làng gốm Hương Canh, mây tre đan Triệu Đề, đá Hải Lựu, rắn Vĩnh Sơn… sẽ có khả năng thu hút khách du lịch không kém dophần lớn các làng nghề là nằm trên trục giao thông thuận lợi,
cả đường bộ lẫn đường sông nên thuận tiện để xây dựng các chương trình du lịch kết hợp Tại những làng nghề hiện nay vẫn có những nghệ nhân, cá nhân, gia đình còn tâm huyết với nghề; sản phẩm của làng nghề vẫn còn được nhiều người nhớ đến và có sự khác biệt
Tuy nhiên các làng nghề hiện nay chủ yếu chỉ dừng lại ở việc sản xuất nhỏ
lẻ, tự cung tự cấp, chưa chú ý đến cải tiến mẫu mã, nâng cao chất lượng Chủ nhân các làng nghề thường chỉ sản xuất khi có thời gian nhàn rỗi, phạm vi thu hẹp trong gia đình nên không thu hút được nhiều lao động Tất cả chỉ là những nỗ lực tự phát, chưa hình thành được cách làm chuyên nghiệp Bởi vậy, vấn đề tìm các biện pháp để du lịch làng nghề thực sự phát huy tiềm năng và hiệu quả, đóng góp ngày
Trang 9một lớn và bền vững hơn cho mục tiêu phát triển du lịch cũng như phát triển kinh
tế, xã hội, bảo tồn các giá trị văn hóa… được coi là nhiệm vụ hết sức cấp thiết
Xuất phát từ những lí do trên tác giả đã chọn đề tài “Giải pháp tổ chức phát triển du lịch làng nghề trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc” làm khóa luận tốt nghiệp
2 Mục đích, nhiệm vụ
2.1 Mục đích
Phân tích tiềm năng và thực trạng khai thác và phát triển du lịch làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc Từ đó đưa ra một số giải pháp để phát triển làng nghề truyền thống Vĩnh Phúc trở thành những điểm du lịch hấp dẫn mới đối với du khách
2.2 Nhiệm vụ
- Tổng quan những vấn đề lí luận về du lịch làng nghề
- Đánh giá tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch các làng nghề truyền thống
- Đề xuất một số giải pháp nhằm khai thác hiệu quả của các làng nghề phục vụ du lịch trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc
3 Giới hạn, phạm vi nghiên cứu
3.1 Không gian nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu trong phạm vi không gian các làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc bao gồm các làng: Hương Canh, Triệu Đề, Hải Lựu, Vĩnh Sơn
3.2 Thời gian nghiên cứu
Đề tài sử dụng số liệu của niên giám thống kê giai đoạn 2000 –2012
3.3 Nội dung nghiên cứu
Tập trung phân tích tiềm năng và thực trạng từ đó đưa ra những giải pháp
tổ chức phát triển du lịch làng nghề trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc
Trang 104 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp thu thập và tổng hợp tài liệu
Việc tìm tài liệu, lựa chọn và đưa vào bài viết những tài liệu cần thiết giúp cho bài viết có nhiều thông tin và tính chính xác cao Thực tế các tài liệu, số liệu
về làng nghề được lưu trữ và cập nhật ở nhiều các cơ quan, tổ chức khác nhau, nên việc tổng quan tài liệu thu thập được là một phương pháp không thể thiếu Nguồn
dữ liệu được thu thập từ sở Văn hóa – Thể thao – Du lịch Vĩnh Phúc, sở Kế hoạch
– Đầu tư Vĩnh Phúc, các công trình nghiên cứu liên quan, sách báo, internet…
4.2 Phương pháp điều tra khảo sát thực địa
Quá trình khảo sát thực địa được thực hiện ở làng nghề gốm Hương Canh, làng nghề đá Hải Lửu, làng nghề nuôi rắn Vĩnh Sơn, làng nghề mây tre đan Triệu Đề trong khoảng thời gian từ tháng 3 năm 2014 đến tháng 4 năm 2014 Kết quả của quá trình thực địa đã mang lại cái nhìn rõ nét hơn về hiện trạng phát triển du lịch tại các làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc để đề tài
có tỉnh thực tiễn cao hơn
4.3 Phương pháp biểu đồ, bản đồ
Tác giả đã sử dụng các phần mềm GIS và các tài liệu, số liệu đã xử lí để xây dựng các biểu đồ, bản đồ chuyên phục vụ cho đề tài
5 Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phần nội dung khóa luận bao gồm 3 chương: Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về du lịch làng nghề
Chương 2: Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch làng nghề tỉnh Vĩnh Phúc Chương 3: Một số giải pháp tổ chức phát triển du lịch làng nghề trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc
Trang 11CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DU LỊCH
LÀNG NGHỀ 1.1 Làng nghề và làng nghề truyền thống
1.1.1 Làng nghề
Làng nghề Việt Nam là một thuật ngữ dùng để chỉ các cộng đồng cư dân, chủ yếu chủ yếu ở các vùng ngoại vi thành phố và nông thôn Việt Nam, có chung truyền thống sản xuất các sản phẩm thủ công cùng chủng loại tại Việt Nam Làng nghề thường mang tính tập tục truyền thống đặc sắc, đặc trưng, không chỉ có tính chất kinh tế mà còn bao gồm cả tính văn hóa, đặc điểm du lịch tại Việt Nam
Các làng nghề truyền thống hầu hết tập trung ở vùng châu thổ sông Hồng như Hà Nội, Bắc Ninh, Thái Bình, Nam Định Một số ít rải rác ở các vùng cao và châu thổ miền Trung và miền Nam
Những phát hiện về khảo cổ học, những cứ liệu lịch sử đã chứng minh được các làng nghề Việt Nam đã ra đời từ hàng ngàn năm trước đây Cùng với
sự phát triển của nền văn minh nông nghiệp, nhiều nghề thủ công cũng đã ra đời tại các vùng nông thôn Việt Nam, ban đầu là những công việc phụ tranh thủ làm lúc nông nhàn, để chế tại những vật dụng cần thiết trong sinh hoạt, phát triển lên thành nhu cầu trao đổi hàng hóa và tìm kiếm thu nhập ngoài nghề nông
Do đặc tính nông nghiệp và quan hệ làng xã Việt Nam, các ngành nghề thủ công được lựa chọn và dễ phát triển trong quy mô cá nhân rồi mở rộng thành quy
mô gia đình Dần dần, các nghề thủ công được truyền bá giữa các gia đình thợ thủ công, dần được truyền ra lan rộng ra phát triển trong cả làng, hay nhiều làng gần nhau theo nguyên tắc truyền nghề Và bởi những lợi ích khác nhau do các nghề thủ công đem lại mà trong mỗi làng bắt đầu có sự phân hóa Nghề đem lại lợi ích nhiều thì phát triển mạnh dần, ngược lại những nghề mà hiệu quả thấp hay không phù hợp với làng thì dần dần bị mai một Từ đó bắt đầu hình thành nên những làng nghề chuyên sâu vào một nghề duy nhất nào đó, như làng gốm, làng chiếu, làng lụa, làng chạm gỗ, làng đồ đồng
Trang 12Theo Phạm Côn Sơn “Làng là một đơn vị hành chính cổ xưa mà cũng có nghĩa là nơi quần cư đông người sinh hoạt, có tổ chức, có kỷ cương, tập quán riêng theo nghĩa rộng Làng nghề không những là một làng sống chuyên nghề mà cũng hàm ý là những người cùng nghề sống hợp quần để phát triển cùng ăn, làm việc Cơ sở vững chắc của các làng nghề là sự vừa làm ăn tập thể phát triển kinh
tế, giữ gìn bản sắc dân tộc và cá biệt của địa phương”
Xem xét định nghĩa làng nghề ở góc độ kinh tế, theo Dương Bá Phượng
thì“Làng nghề là làng ở nông thôn có một hoặc một số nghề thủ công tách hẳn
ra khỏi thủ công nghiệp và kinh doanh độc lập, thu nhập từ các nghế đó chiếm tỷ trọng cao trong tổng giá trị của toàn làng”
Làng nghề theo cách phân loại về thời gian gồm có: làng nghề truyền thống và làng nghề mới Khoá luận đi vào tìm hiểu các làng nghề truyền thống nhằm chỉ ra những nét độc đáo trong cách thức tạo ra sản phẩm của làng nghề truyền thống so với làng nghề mới, tạo điểm nhấn cho sản phẩm du lịch phục vụ cho hoạt động du lịch
1.1.2 Làng nghề truyền thống
Làng nghề truyền thống là làng cổ truyền làm nghề thủ công truyền thống, ở đây không nhất thiết dân làng đều sản xuất thủ công Người thợ thủ công nhiều trường hợp đồng thời là người nông dân, nhưng do yêu cầu chuyên môn hoá cao đã tạo ra những người thợ chuyên sản xuất hàng truyền thống ngay tại quê của mình
Tiêu chí công nhận làng nghề truyền thống: Phải đạt 03 (ba) tiêu chí theo quy định tại Khoản 1, mục I, Phần II, Thông tư số 116/2006/TT-BNN ngày 18/12/2006 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cụ thể:
a) Nghề đã xuất hiện tại địa phương từ trên 50 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận
b) Nghề tạo ra những sản phẩm mang bản sắc văn hoá dân tộc
c) Nghề gắn với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi của làng nghề
Trang 13Khi nói tới một làng nghề thủ công truyền thống thì không chỉ chú ý tới từng mặt đơn lẻ mà phải chú trọng tới nhiều mặt trong cả không gian, thời gian nghĩa là quan tâm tới tính hệ thống, toàn diện của làng nghề, trong đó yếu tố quyết định là nghệ nhân, sản phẩm, phương pháp, mỹ thuật và kỹ thuật
Làng nghề thủ công truyền thống là trung tâm sản xuất hàng thủ công, quy
tụ các nghệ nhân và nhiều hộ gia đình chuyên làm nghề mang tính lâu đời, liên kết hỗ trợ trong sản xuất, bán sản phẩm theo kiểu phường hội hoặc là kiểu hệ thống doanh nghiệp vừa và nhỏ, có cùng tổ nghề và các thành viên luôn ý thức tuân thủ những hương ước, chế độ gia tộc cùng phường nghề trong quá trình lịch
sử phát triển đã hình thành nghề ngay trên đơn vị cư trú làng xóm của họ
Làng nghề thủ công truyền thống thường có tuyệt đại bộ phận dân số làm nghề cổ truyền, hoặc một vài dòng họ chuyên làm nghề lâu đời kiểu cha truyền con nối Sản phẩm của họ chẳng những thiết dụng mà hơn nữa còn là hàng cao cấp, tinh xảo, độc đáo, nổi tiếng và dường như không đâu sánh bằng
Do tính chất của nền kinh tế hàng hoá thị trường của quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, làng nghề thực sự là đơn vị kinh tế tiểu thủ công nghiệp Vai trò, tác dụng của làng nghề đối với đời sống kinh tế, xã hội là rất lớn và tích cực
1.2 Đặc điểm của làng nghề truyền thống
1.2.1 Làng nghề truyền thống tồn tại ở nông thôn, gắn bó chặt chẽ với nông nghiệp
Các làng nghề xuất hiện và tồn tại trong từng làng xã ở nông thôn Các nghành nghề thủ công nghiệp tách dần khỏi nông nghiệp Sản xuất nông nghiệp
và sản xuất kinh doanh thủ công nghiệp trong các làng nghề đan xen nhau Người thợ thủ công trước hết và đồng thời là người nông dân Các gia đình nông dân trước hết vừa làm ruộng vùa làm thủ công nghiệp Sự ra đời của các làng nghề đầu tiên là do nhu cầu giải quyết lao động phụ, lao động dư thừa lúc nhàn rỗi giữa các mùa vụ và đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của từng gia đình và của từng làng xã Trong các làng nghề, người nông dân thường tự sản xuất, tự sửa chữa đáp ứng nhu cầu ít ỏi hàng tiêu dùng thường ngày của chính mình
Trang 141.2.2 Công nghệ, kỹ thuật sản xuất mang tính truyền thống
Nghĩa là có bước tiếp nối, truyền tải, kết tinh giá trị từ thế hệ này sang thế
hệ khác Chất lượng sản phẩm của làng nghề không phụ thuộc vào công cụ sản xuất hiện đại, có năng xuất cao, theo dây truyền mà chủ yếu dựa vào kinh nghiêm, bí quyết, tài hoa của người thợ chế tác đồ thủ công
1.2.3 Đại bộ phận nguyên liệu của làng nghề truyền thống là tại chỗ
Hầu hết các làng nghề truyền thống được hình thành xuất phát từ các nguồn nguyên liệu tại chỗ, trên địa bàn địa phương, đặc biệt các nghề truyền thống sản xuất những sản phẩm tiêu dùng như: đan lát mây, tre (mũ, rổ, rá, sọt, cót, ) sản xuất vật liệu xây dựng nguyên liệu thường có tại chỗ, trên địa bàn địa phương
Một số ngành nghề còn dùng cả những phế phẩm, phế thải trong công nghiệp, nông nghiệp và sinh hoạt để làm nguyên liệu sản xuất, nên chúng lại càng có sẵn trên địa bàn
1.2.4 Phần đông lao động trong các làng nghề truyền thống là lao động thủ công
Nhờ vào kỹ thuật khéo léo, tinh sảo của đôi bàn tay, đầu óc tẩm mỹ và đầy tính sáng tạo của người thợ, của các nghệ nhân, phương pháp dạy nghề chủ yếu lao động nhờ vào kỹ thuật khéo léo, tinh sảo Trước kia, do trình độ kỹ thuật và công nghệ chưa phát triển thì hầu hết các công đoạn trong quy trình sản xuất đều
là lao dộng thủ công đơn giản Tuy nhiên, một số loại sản phẩm còn có một số công đoạn quy trình sản xuất vẫn phải duy trì kĩ thuật lao động thủ công tinh sảo Hầu hết các làng nghề truyền thống dù hình thành bằng con đường nào đi nữa thì chúng đều có các nghệ nhân làm cốt lõi và là người hướng dẫn để phát triển làng nghề Vai trò của các nghệ nhân là rất quan trọng đối với các làng nghề, truyền nghề, đem bí quyết nghề nghiệp ở nơi khác về truyền cho làng mình
Trang 151.2.5 Sản phẩm của làng nghề truyền thống mang tính đơn chiếc, có tính mỹ thuật cao, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, địa phương, vùng miền
Mỗi sản phẩm làng nghề gắn với một làng nghề cụ thể, do đó mang đậm nét độc đáo của địa phương Sự khéo léo của đôi bàn tay cùng với óc thẩm mỹ của người nghệ nhân đã tạo ra sản phẩm thủ công độc đáo Vì vậy mỗi một sản phẩm làm ra không chỉ chứa đựng trong đó biết bao công sức, sự tài hoa của người nghệ nhân mà còn mang trong mình nó những nét bản sắc đặc trưng không thể thay thế của địa phương
1.2.6 Hình thức tổ chức sản xuất trong các làng nghề truyền thống chủ yếu ở quy mô hộ gia đình, một số đã có sự phát triển thành tổ chức hợp tác và doanh nghiệp tư nhân
Trong quá khứ cũng như hiện nay, hình thức tổ chức kinh doanh phổ biến trong các làng nghề là hộ gia đình Với hình thức này, hầu như tất cả các thành viên trong hộ đều được huy động vào làm những công việc khác nhau của quá trình sản xuất kinh doanh Người chủ gia đình đồng thời là người thợ cả, mà trong số họ có không ít những nghệ nhân, tùy theo nhu cầu công việc, hộ gia đình có thể thuê mướn thêm người lao động thường xuyên hoặc lao động thời
vụ Tổ chức kinh doanh theo hộ gia đình đảm bảo được sự gắn bó giữa quyền lợi
và trách nhiệm, huy động được mọi lực lượng có khả năng lao động tham gia sản xuất kinh doanh, tận dụng được thời gian và nhu cầu đầu tư thấp (sử dụng ngay nhà ở làm nơi sản xuất) Đây là hình thức tổ chức thích hợp với quy mô nhỏ Tuy nhiên, mô hình này hạn chế rất nhiều đến khả năng phát triển kinh doanh Sản xuất theo mô hình nhỏ khó có thể nhận được các hợp đồng đặt hàng lớn, không mạnh dạn cải tiến sản phẩm, không đủ tầm nhìn để định hướng phát triển hoặc
đề ra những chiến lược kinh doanh cho sản phẩm của mình
Trang 161.3 Du lịch làng nghề truyền thống
Để có thể hiểu được tại sao làng nghề lại là một trong những đối tượng khai thác quan trọng của ngành du lịch, chúng ta cần xác định được giá trị, tiềm năng của làng nghề truyền thống và vai trò của hệ thống giá trị đối với ngành du lịch
- Giá trị văn hóa của các làng nghề: Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, nông thôn vẫn là nơi lưu giữ những giá trị văn hóa của người Việt Đối với khách
du lịch nội địa từ các thành phố lớn và khách du lịch quốc tế thì nông thôn là nơi
lý tưởng để lựa chọn đến tham quan, du lịch và đặc biệt là các làng nghề thủ công truyền thống Các làng nghề còn có các công trình gắn với bề dày lịch sử tạo ra sức hút văn hóa với những du khách có mong muốn tìm hiểu tín ngưỡng, tập tục dân gian
- Sự hỗ trợ của ngành du lịch đối với hoạt động sản xuất, tiêu thụ sản phẩm thủ công và ngược lại các sản phẩm của làng nghề cũng được đánh giá cao với vai trò là đò lưu niệm và mỹ nghệ cho các điểm du lịch Sản phẩm thủ công kết tinh các giá trị tinh thần do đó được bán với mức giá cao hơn Phát triển du lịch làng nghề không những mang lại lợi ích cho ngành du lịch, cho những người làm nghề du lịch mà còn thúc đẩy quá trình sản xuất, tiêu thụ, xuất khẩu tại chỗ cho các sản phẩm thủ công nghệ
- Môi trường nông thôn trong lành với các hình thức giải trí thôn dã Đối với người dân ở các đô thị và các nước phát triển thì không khí là một “mặt hàng xa xỉ” Do đó du lịch làng nghề ở làng quê có môi trường trong lành là một giải pháp hợp lý để giải quyết những căng thẳng, mệt mỏi của cuộc sống thường nhật
- Kỹ thuật, quy trình sản xuất các mặt hàng thủ công mỹ nghệ, các kỹ thuật chế tác này được kết tinh và lưu truyền từ đời này sang đời khác Chính vì vậy với khách du lịch quốc tế việc chứng kiến và tìm hiểu phương thức sản xuất một sản phẩm là một hoạt động bổ ích và hấp dẫn
Như vậy du lịch làng nghề là một trong những loại hình du lịch văn hóa được ưa chuộng của khách du lịch, đặc biệt là du khách phương Tây – nơi mà hoạt động sản xuất phát triển không còn tồn tại các phương thức sản xuất thủ
Trang 17công.Chính vì vậy việc nghiên cứu và xây dựng chương trình du lịch mới là một việc làm đúng đắn đáp ứng được nhu cầu của thị trường
1.4 Mối quan hệ giữa du lịch và làng nghề truyền thống
1.4.1 Vai trò của du lịch trong phát triển làng nghề truyền thống
Du lịch có vai trò quan trọng trong việc phát triển các làng nghề truyền thống
- Tạo công ăn việc làm cho người dân địa phương, tăng thu nhập và cải thiện đời sống của nhân dân
- Tăng doanh thu và doanh số bán sản phẩm thủ công truyền thống trong các làng nghề
- Du lịch phát triển tạo ra các cơ hội đầu tư cho các làng nghề truyền thống
- Tạo cơ hội xuất khẩu tại chỗ các sản phẩm thủ công truyền thống tại các làng nghề qua việc mua sản phẩm của khách du lịch quốc tế khi đến thăm làng nghề truyền thống
- Tạo cơ hội giao lưu văn hoá bản địa và văn hoá của khách du lịch nước ngoài
1.4.2 Vai trò của làng nghề truyền thống trong phát triển du lịch
Giữa làng nghề truyền thống và du lịch có mối quan hệ hữu cơ tác động qua lại lẫn nhau Phát triển du lịch tại làng nghề truyền thống là một giải pháp hữu hiệu để phát triển kinh tế, xã hội làng nghề truyền thống nói chung theo xu hướng tích cực và bền vững Ngược lại, làng nghề truyền thống cũng là những trung tâm thu hút khách và có những tác động mạnh mẽ trở lại đối với du lịch
trong một mục tiêu chung cụ thể
Làng nghề truyền thống là cả một môi trường kinh tế - văn hoá - xã hội và công nghệ truyền thống lâu đời Nó bảo tồn và lưu giữ những tinh hoa nghệ thuật, những kỹ thuật truyền từ đời này sang đời khác đúc kết ở những thế hệ nghệ nhân tài hoa Môi trường văn hoá làng nghề với cây đa, bến nước, sân đình, các hoạt
động lễ hội và phường hội, phong tục tập quán, nếp sống đậm nét dân gian
Trang 18Phong cảnh làng nghề cùng với những giá trị chứa đựng bên trong, làng nghề truyền thống sẽ là điểm du lịch lý tưởng cho khách du lịch, đặc biệt là
khách du lịch quốc tế đến tham quan, tìm hiểu và mua sắm tại làng nghề
Làng nghề truyền thống là nơi sản xuất ra những sản phẩm thủ công mỹ nghệ có giá trị nghệ thuật cao, tiêu biểu độc đáo cho cả địa phương nói riêng, dân tộc nói chung.Vì vậy, khách du lịch đến với các điểm du lịch làng nghề truyền thống còn mong muốn được chiêm ngưỡng, mua sắm các sản phẩm thủ công làm vật kỉ niệm trong chuyến du lịch Thực tế nhu cầu mua sắm của du khách là rất lớn, làng nghề truyền thống sẽ đảm bảo đáp ứng đầy đủ nhu cầu tinh
tế và đa dạng của khách du lịch
Theo Hiệp hội Làng nghề Việt Nam (2012), cả nước hiện có khoảng 3.000 làng nghề, trong đó có 400 làng nghề truyền thống với 53 nhóm nghề, thu hút khoảng 12 triệu lao động phổ thông Thu nhập của người dân làng nghề cao hơn từ 3-5 lần so với sản xuất thuần nông Phát triển du lịch làng nghề chính là một hướng đi đúng đắn và phù hợp, được nhiều quốc gia trên thế giới lựa chọn trong chính sách quảng bá và phát triển du lịch, trong đó có Việt Nam Việc phát triển du lịch làng nghề không chỉ đem lại lợi nhuận kinh tế, giúp người dân nâng cao thu nhập, giải quyết nguồn lao động địa phương mà còn là một cách thức để gìn giữ và bảo tồn những giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc; đồng thời cũng là một
phương thức giới thiệu sinh động về mỗi vùng, miền, địa phương trên đất nước
Từ mối liên hệ giữa làng nghề truyền thống với phát triển du lịch và tầm quan trọng của việc khôi phục, giữ gìn, phát triển làng nghề đối với phát triển
du lịch Vĩnh Phúc nói riêng và cả nước nói chungcho thấy vai trò và tầm quan trọng của du lịch làng nghề truyền thống với việc khôi phục và phát triển làng
nghề truyền thống
Trang 19CHƯƠNG 2 TIỀM NĂNG VÀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH LÀNG NGHỀ TỈNH VĨNH PHÚC
2.1 Khái quát chung về tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch tỉnh Vĩnh Phúc
2.1.1 Tiềm năng phát triển du lịch tỉnh Vĩnh Phúc
2.1.1.1 Thuận lợi
- Về vị trí địa lý: Vĩnh Phúc có vị trí địa lý rất thuận lợi trong giao lưu phát triển kinh tế và dịch vụ: Phía Tây giáp với Phú Thọ, phía Bắc giáp với Thái Nguyên và Tuyên Quang, đặc biệt phía Đông và Nam tiếp giáp với Thủ đô Hà Nội - trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của cả nước Lợi thế này cho phép Vĩnh Phúc tiếp cận với thông tin, với sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ phục vụ phát triển kinh tế trong đó có du lịch
- Về điều kiện tự nhiên:
+ Địa hình: Vĩnh Phúc nằm trong vùng chuyển tiếp giữa vùng gò đồi trung
du với vùng đồng bằng Châu thổ Sông Hồng Bởi vậy, địa hình thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam và chia làm 3 vùng sinh thái: đồng bằng, trung du và vùng núi Sự phân biệt 3 vùng sinh thái rõ rệt là điều kiện thuận lợi cho tỉnh bố trí các loại hình du lịch đa dạng
Vùng núi có dãy núi Tam Đảo là tài nguyên du lịch quý giá của tỉnh và của
cả nước Vùng này có địa hình phức tạp, khó khăn cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng, đặc biệt là giao thông phục vụ phát triển du lịch
Vùng trung du có nhiều hồ lớn như: Đại Lải, Xạ Hương, Vân Trục, Liễn
Sơn, Đầm Vạc là nguồn cung cấp nước cho hoạt động sản xuất, cải tạo môi sinh
và phát triển du lịch
Vùng đồng bằng có đất đai bằng phẳng, thuận tiện cho phát triển cơ sở hạ
tầng, các điểm dân cư đô thị và thích hợp cho sản xuất nông nghiệp cũng như phát triển du lịch
Trang 20+ Khí hậu: Vĩnh Phúc nằm trong khu vực khí hậu gió mùa chí tuyến, có mùa đông lạnh khô Nhiệt độ trung bình hàng năm là 23 - 24oC Do đặc điểm địa hình phía Đông bắc là dãy núi Tam Đảo chạy dài xuống Đông Nam tạo nên một bức tường chắn ảnh hưởng của gió mùa cực đới trong mùa đông lạnh nên về mùa đông Vĩnh Phúc ít nhiều ấm hơn một số tỉnh cùng vĩ độ ở vùng đông bắc và ngược lại về mùa hè lại là hướng mở đón gió nên cũng khá nhiều mưa
+ Tài nguyên sinh vật: Tiềm năng về tài nguyên rừng trong tỉnh không lớn,
do lịch sử hình thành và phát triển lãnh thổ, cùng với sự định cư từ rất sớm của con người, lớp phủ thực vật tự nhiên ở đây đã bị phá huỷ nhiều Thảm thực vật ở đây chủ yếu gặp thực vật rừng chí tuyến chân núi có nhiều loài ưa ẩm và nhiệt,
lên cao hơn nữa là đai rừng á nhiệt đới trên núi
Vĩnh Phúc nổi tiếng với vườn quốc gia Tam Đảo Vườn quốc gia Tam Đảo có diện tích tự nhiên 36.883 ha, trong đó có trên 23.000 ha rừng Quần hệ thực vật rừng phong phú với 490 loài bậc cao, thuộc 334 chi và 130 họ Rừng có nhiều loại cây quí hiếm như: Pơ Mu, Sam Bông, Kim Giao, Lát hoa, Lim xanh,
Đỗ Quyên, Sến mật, Thông tre Hệ động vật rừng cũng rất phong phú với 281 loại động vật khác nhau trong đó có nhiều loài quí hiếm có giá trị kinh tế cao vừa phục vụ cho nghiên cứu khoa học như voọc đen má trắng, cheo cheo, cá lóc Tam Đảo, gà lôi trắng, gà tiền
Ngoài động thực vật rừng ra, Vĩnh Phúc còn trồng nhiều cây ăn quả như vải nhãn, cây lương thực như lúa, hoa màu cũng như có nguồn cá tôm phong phú trên các sông, đặc biệt là loài cá anh vũ rất nổi tiếng
+ Tài nguyên nước: Do tác động của điều kiện địa hình, khí hậu nên hệ thống sông ngòi của vĩnh Phúc có lượng dòng chảy ở mức trung bình (30l/s/ km²) và mật độ lưới sông cũng vào mức trung bình (0,5 - 1 km/ km²)
Trên lãnh thổ của tỉnh có 2 con sông lớn là sông Hồng và sông Lô cùng nhiều con sông nhỏ khác như sông Phó Đáy, sông Cà Lồ và các chi lưu cũng như
hệ thống các kênh đào là nguồn cung cấp nước cho trồng trọt cũng như giao thông đi lại
Trang 21Sông Hồng: hợp với sông Đà, sông Lô ở đoạn Việt Trì sau đó đi vào Vĩnh
Phúc và các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ Sông có lưu lượng trung bình 820m/s, hàm lượng phù sa khá lớn, bồi đắp cho đồng bằng Vĩnh Phúc
Sông Lô: bắt nguồn từ Trung Quốc với tổng chiều dài 470km, chảy qua các
tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang, Phú Thọ và Vĩnh Phúc rồi nhập vào sông Hồng
Sông Phó Đáy: bắt nguồn từ vùng núi Tuyên Quang chảy qua địa phận
Vĩnh Phúc (dài 45km) rồi nhập vào sông Lô
Sông Cà Lồ: chảy trong địa phận tỉnh Vĩnh Phúc, bắt nguồn từ dãy núi
Tam Đảo dài khoảng 22km
Nhìn chung dòng chảy chia ra 2 mùa rõ rệt phù hợp với mùa khí hậu Mùa
lũ kéo dài từ 4 - 5 tháng (thường từ tháng 6 đến hết tháng 10), cực đại vào tháng
7, 8 đạt 15 - 35% lượng nước cả năm
Ngoài hệ thống sông ngòi như đã nói ở trên Vĩnh Phúc còn có một hệ
thống các hồ, đầm, ao phong phú như đầm Đại Lải, Dị Nậu, Vân Trục, Bò Lạc,
Xạ Hương, đầm Vạc, đầm Dưng, Thanh Lanh có thể vừa phục vụ sản xuất nông nghiệp, tưới tiêu nước cũng như có giá trị cho du lịch
- Tài nguyên du lịch nhân văn: Tài nguyên du lịch nhân văn là một nguồn tài nguyên du lịch quan trọng, giữ vai trò chính trong việc thu hút khách du lịch, đặc biệt là khách du lịch quốc tế
+ Các di tích lịch sử văn hoá: Các di tích lịch sử văn hoá là một nguồn tài
nguyên du lịch quan trọng, giữ vai trò chính trong việc thu hút khách du lịch, đặc
biệt là khách du lịch quốc tế
Toàn tỉnh hiện có gần 1000 di tích lịch sử, văn hoá; trong đó đã xếp hạng cấp Quốc gia 228 di tích, nhiều di tích có giá trị như: Tháp Bình Sơn – Lập Thạch được xây dựng từ thế kỷ XIII, đền thờ Trần Nguyên Hãn – Lập Thạch, cụm Đình Hương Canh, Đình Thổ Tang (xem phụ lục Danh mục các di tích lịch
sử - văn hóa Vĩnh Phúc)… Trong số đó có những di tích có giá trị cao đối với phục vụ phát triển du lịch như Tháp Bình Sơn (xã Tam Sơn, huyện Lập Thạch)
là một công trình kiến trúc đặc sắc được xây từ đời nhà Lý, đền thờ Trần Nguyên
Trang 22Hãn (ở Lập Thạch), Đặc biệt là có nhiều di tích gắn với các khu danh thắng có sức thu hút du khách rất lớn như đền thờ Quốc Mẫu Tây Thiên Đây là một di tích gắn với truyền thuyết về một danh tướng của Vua Hùng Ngoài giá trị lịch
sử, Tây Thiên còn là một vùng thắng cảnh với núi rừng, thác nước và suối đá ẩn hiện thơ mộng Hoặc di tích núi Sáng với hang Đề Thám, thác Bay, hồ Vân Trục, tất cả đã tạo nên một quần thể di tích thắng cảnh rất hấp dẫn
+ Các lễ hội truyền thống:Hiện nay các lễ hội truyền thống đang có xu
hướng phục hồi phát triển trở lại Hầu như ở khắp các địa phương trong nước đều có tổ chức các lễ hội văn hoá truyền thống Nhiều lễ hội có ý nghĩa lớn về mặt lịch sử văn hoá, có tác dụng tích cực trong việc giáo dục truyền thống yêu nước và khôi phục phát triển những nét đẹp trong sinh hoạt văn hoá cổ truyền Chính vì vậy lễ hội có sức thu hút rất lớn đối với nhân dân và khách du lịch các
nơi, nhất là khách du lịch quốc tế
+ Các tài nguyên du lịch nhân văn khác: Ngoài những nguồn tài nguyên chính kể trên, Vĩnh Phúc còn có thể khai thác các nguồn tài nguyên nhân văn khác phục vụ du lịch như: sản phẩm thủ công truyền thống, ca múa nhạc dân tộc, các món ăn từ lâm thổ sản phong phú của địa phương mình
Ở Vĩnh Phúc có nhiều nghề thủ công truyền thống độc đáo, đặc sắc như làng rắn Vĩnh Sơn, nghề mộc ở làng Bích Chu (huyện Vĩnh Tường); nghề gốm gia dụng ở làng Hương Canh; nghề rèn ở Lý Nhân, tơ tằm ở Thổ Tang, nghề đá Hải Lựu, mây tre đan Triệu Xá Các làng nghề này đều nằm gần các tuyến điểm du lịch cho nên có thể tổ chức để du khách đến tham quan, đồng thời nghiên cứu một cơ cấu sản phẩm lưu niệm để phục vụ du khách
Vĩnh Phúc vốn là miền đất văn hiến giàu chất dân gian, là xứ xở của những làn điệu dân ca đặc sắc như hát trống quân, hát ví giao duyên, hát Soọng
Cô, hát Sịnh Ca Các trò chơi dân gian của Vĩnh Phúc cũng rất độc đáo, hấp dẫn du khách vào những dịp xuân về như trò tung còn của dân tộc Cao Lan ở Lập Thạch, trò chơi đu, nhất là đu bay ở Văn Trưng, Tứ Trung - Vĩnh Tường, chọi trâu ở Lập Thạch, leo cầu ùm ở Vĩnh Tường, bắt chạch cầu đinh ở Thổ
Trang 23Tang- hát ghẹo Vĩnh Tường, bắt vịt trong ao ở Thượng Trưng, đánh đáo đá ở Bá Văn-Yên Lạc, trò tả cáy, tục đả cầu cướp phết, bơi chải
Về ẩm thực, Vĩnh Phúc có nhiều đặc sản hiếm có như cá anh vũ, xôi trứng kiến, đất đồng Cốc nướng chín… cùng với nhiều món ăn đặc trưng của các dân tộc Sán Dìu, Cao Lan và các món dân dã hấp dẫn như vó cần, cá thính, nem chua, bánh hòn Hội Hợp Đây là các nét đặc trưng hấp dẫn có giá trị cao phục
vụ cho phát triển du lịch Vĩnh Phúc
Tóm lại, tài nguyên du lịch nhân văn Vĩnh Phúc khá phong phú và có giá trị phục vụ du lịch cao Nếu đầu tư xây dựng và tổ chức quản lý khai thác tốt, nguồn tài nguyên trên có thể đáp ứng cho du khách một chương trình tham quan phong phú, hấp dẫn
2.1.1.2 Khó khăn, thách thức
- Vĩnh Phúc có điều kiện tự nhiên nhiệt đới ẩm gió mùa Yếu tố này đã ảnh hưởng sâu sắc đến tính chất mùa du lịch Các yếu tố khí hậu bất thường như dông bão, lũ lụt, gió mùa Đông Bắc cũng ảnh hưởng lớn đến các hoạt động du lịch
Tóm lại, tiềm năng du lịch của Vĩnh Phúc khá đa dạng và phong phú, thuận lợi cho việc tổ chức và phát triển nhiều loại hình du lịch, đặc biệt du lịch sinh thái
và du lịch văn hóa.Mặc dù có những tiềm năng thuận lợi cơ bản như trên, du lịch Vĩnh Phúc vẫn chưa có những bước phát triển xứng với tiềm năng do hệ thống hạ tầng chưa được đầu tư theo kịp nhu cầu của phát triển, nhận thức về du lịch nói chung còn chưa được rõ nét, việc đầu tư cho các sản phẩm du lịch đặc thù chưa thực sự được đầu tư đúng mức Đồng thời để phát huy tối đa thuận lợi về mặt vị trí, tính chất, đặc thù của tài nguyên du lịch, quá trình lập kế hoạch và quản lý phát triển du lịch phải luôn gắn liền với quan điểm và mục tiêu phát triển liên ngành, liên vùng, đồng thời đảm bảo an ninh chính trị quốc gia và trật tự an toàn xã hội
Trang 242.1.2 Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Vĩnh Phúc
2.1.2.1 Hiện trạng khách du lịch
Trong những năm gần đây, nhờ chính sách đổi mới, mở cửa của Đảng và Nhà nước hoạt động kinh doanh du lịch Vĩnh Phúc đã có bước chuyển mình quan trọng Địa bàn hoạt động du lịch được mở rộng; các điểm danh thắng được tôn tạo, nâng cấp; các khu vui chơi giải trí được xây dựng; hệ thống các cơ sử lưu trú du lịch được quan tâm đầu tư phát triển đã tạo nên những chuyển biến
rõ rệt trước hết về số lượng khách du lịch đến Vĩnh Phúc Đặc biệt trong giai đoạn 2000 - 2010, tốc độ tăng trưởng trung bình năm đạt 15,04% - đây thực sự là một tín hiệu đáng mừng đối với du lịch Vĩnh Phúc
Hình 2.1 Lượng khách du lịch đến Vĩnh Phúc giai đoạn 2000 - 2010
7.91 9.41
051015202530354045
Trang 25Trong thời gian qua, số lượng khách du lịch đến Vĩnh Phúc không ngừng tăng lên Số lượt khách đến Vĩnh Phúc hàng năm đều tăng, với mức tăng trưởng năm sau cao hơn năm trước (năm 2001 tăng 16,49%, năm 2004 tăng 18,06%,
2006 tăng 18,92% và năm 2010 tăng 16%) Tuy nhiên, thời gian lưu trú của khách du lịch còn rất ngắn,do dịch vụ và chất lượng dịch vụ còn nghèo nàn, ở mức thấp chưa đáp ứng được yêu cầu của du khách
a Khách quốc tế
- Số lượng khách: Số lượng khách du lịch quốc tế đến Vĩnh Phúc trong
những năm vừa qua (2000 - 2010) tăng trưởng mạnh, trung bình hàng năm tăng 25,56%, nhưng không có đột biến lớn như một số tỉnh khác Như vậy khẳng định rằng, các điểm du lịch ở Vĩnh Phúc vẫn có sức hấp dẫn khách trong thời gian dài
dù trên thị trường ngày nay sự cạnh tranh ngày càng đang trở nên gay gắt hơn
Bảng 2.1 Khách du lịch quốc tế đến Vĩnh Phúc giai đoạn 2000 - 2010
(Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Vĩnh Phúc)
Số liệu thống kê của ngành du lịch những năm qua cho thấy lượng khách quốc tế đến Vĩnh Phúc tăng trưởng đều và ổn định, đáng chú ý là cơ cấu khách quốc tế trong tổng lượng khách du lịch đến Vĩnh Phúc giữ tỷ trọng khá ổn định trong cơ cấu khách toàn tỉnh (từ năm 2002 chiếm 1,74%, đến năm 2007 chiếm 2,2%, năm 2010 dù ngành du lịch chịu ảnh hưởng chung từ khủng hoảng kinh tế khu vực nhưng vẫn duy trì được mức 1,78% tổng lượng khách du lịch) Tuy vậy, lượng khách quốc tế vẫn chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ, trung bình hàng năm đạt 1,62%
Trang 26Nhìn chung, lượng khách du lịch quốc tế đến Vĩnh Phúc đáp ứng được các mục tiêu đề ra Nguyên nhân cơ bản do nhu cầu của thị trường khách quốc tế đến Việt Nam hiện nay thường quan tâm đến du lịch biển, tham quan các di tích lịch
sử, văn hóa, du lịch cộng đồng và du lịch nông thôn , mà đây chính là thế mạnh của Vĩnh Phúc Bên cạnh đó, với cơ chế chính sách thu hút đầu tư linh hoạt nên thời gian qua các dự án đầu tư phát triển hạ tầng và phát triển du lịch đã tạo ra một lợi thế cho Vĩnh Phúc
b Khách nội địa
Khách du lịch nội địa vẫn là nguồn khách chủ yếu của tỉnh, trung bình hàng năm chiếm 98,45% tổng lượng khách đến Ngoài Tam Đảo là nơi tập trung thu hút khách, còn có Đại Lải, Tây Thiên cũng thu hút khách nội địa đến ngày một nhiều hơn vì điều kiện đi lại thuận tiện, gần Hà Nội Khác với khách quốc
tế, khách nội địa liên tục tăng từ 1997 trở lại đây với tốc độ tăng trưởng trung bình đạt 17,32%
Bảng 2.2 Khách du lịch nội địa đến Vĩnh Phúc giai đoạn đến 2010
(Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Vĩnh Phúc)
Nguyên nhân một phần do nhu cầu tham quan nghỉ dưỡng của người dân trong cả nước, đặc biệt là từ Thành phố Hà Nội và các tỉnh lân cận ngày càng cao; bên cạnh đó là việc ngành du lịch Vĩnh Phúc chú trọng phát triển du lịch nghỉ dưỡng cuối tuần, du lịch văn hóa - lễ hội, du lịch về nguồn và đặc biệt là du
Trang 27lịch nông thôn phù hợp với thị hiếu khách du lịch trong nước Điều đó có cũng nghĩa rằng, trong tương lai gần thị trường khách nội địa sẽ đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của du lịch Vĩnh Phúc
Khách du lịch nội địa thường là khách đi theo nhóm do các công ty du lịch, lữ hành tổ chức, hoặc do các tổ chức công đoàn của các cơ quan, xí nghiệp
tổ chức hoặc tự tổ chức theo các nhóm Đa phần là khách từ Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh và các địa phương ở khu vực Bắc Trung Bộ
Nhận xét chung: Vĩnh Phúc là tỉnh có nhiều tiềm năng để phát triển du
lịch Ngoài khách nội địa là lượng khách chủ yếu, thường xuyên của tỉnh, thì cũng cần nhấn mạnh đến vai trò của khách quốc tế Vĩnh Phúc có thể mở mang, phát triển các loại hình du lịch mới như du lịch núi, du lịch sinh thái, du lịch xanh, du lịch nghiên cứu để thu hút khách du lịch, phát triển thành khu du lịch, nghỉ dưỡng quan trọng trên phạm vi cả nước
2.1.2.2 Doanh thu
Theo số liệu thống kê của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Vĩnh Phúc, thu nhập du lịch của tỉnh trong những năm qua đã có sự tăng trưởng đáng kể Nếu như năm 1997 tổng thu nhập của toàn ngành du lịch mới đạt 50,0 tỷ đồng thì đến năm 2000 đã tăng lên gấp 3,51 lần để đạt mức 175,4 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng trung bình giai đoạn 1997 - 2000 là 51,95%/năm Đến năm 2001, thu nhập du lịch đạt 185,5 tỷ đồng, đến năm 2006 toàn ngành du lịch thu được 428,0 tỷ đồng, năm 2010 ước tính toàn ngành thu được 739 tỷ đồng Tốc độ tăng trưởng trung bình về doanh thu du lịch giai đoạn 2001 - 2010 đạt 18,81%/năm Chính do điểm xuất phát của du lịch Vĩnh Phúc thấp, nên trong giai đoạn đầu của sự phát triển tốc độ tăng trưởng ở mức cao, những năm tiếp theo du lịch Vĩnh Phúc vẫn duy trì được mức tăng trên 15%/năm
Trang 28Bảng2.3 Hiện trạng thu nhập từ du lịch của tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn đến 2010
Năm Thu nhập du lịch (Triệu đồng) Cơ cấu doanh thu (%)
Tỷ lệ lao động bình quân trên một phòng khách sạn ở Vĩnh Phúc năm 2001 là 0,68; năm 2005 là 0,55 và đến năm 2010 chỉ còn là 0,46 (mức trung bình của cả nước là 1,4) cho thấy các dịch vụ bổ sung đi kèm còn thiếu
Trang 29Bảng 2.4 Thực trạng phát triển nguồn nhân lực du lịch của Vĩnh Phúc
(Nguồn: Sở Văn hóa, Thể Thao và Du lịch Vĩnh Phúc)
b Chất lượng nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực của tỉnh hiện còn nhiều hạn chế Một bộ phận cán bộ quản
lý Nhà nước về du lịch chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của Ngành Đa số
là những cán bộ này từ ngành quản lý khác chuyển sang nên chuyên môn về du lịch chưa nắm bắt được hoặc nắm bắt chưa sâu, chưa đáp ứng được tính chất yêu cầu công việc
Hàng năm Ngành du lịch Vĩnh Phúc cũng cử các cán bộ quản lý tham gia
khoá học về quản lý nhà nước do Tổng cục Du lịch tổ chức, đã giúp cho cán bộ quản lý của ngành hiểu được về chuyên môn của ngành Một số doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh cũng đã quan tâm đến chất lượng phục vụ của nhân viên, nên đã mời những giảng viên của các trường về đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ nhân viên của mình, tạo những phong cách riêng cho đơn vị
2.1.2.4 Cơ sở vật chất phục vụ du lịch tỉnh Vĩnh Phúc
Cơ sở vật chất kỹ thuật đóng góp một phần quan trọng trong quá trình phục vụ khách du lịch Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch đáp ứng các nhu cầu của khách du lịch về lưu trú, ăn uống, vận chuyển, các điều kiện về vui chơi giải trí
và các dịch vụ khác Nói đến cơ sở vật chất kỹ thuật chúng ta không chỉ đánh giá về mặt số lượng mà còn phải đánh giá mặt chất lượng Chất lượng của cơ sở
Trang 30vật chất kỹ thuật tốt thì mới đáp ứng được đầy đủ các nhu cầu và làm hài lòng khách du lịch
a Cơ sở lưu trú
Ngành du lịch Vĩnh Phúc không ngừng nâng cấp, xây mới khách sạn, nhà nghỉ phục vụ khách du lịch Nhìn chung số lượng khách sạn, nhà nghỉ của các thành phần kinh tế tăng nhanh về số lượng, quy mô và phương thức hoạt động Hiện nay, toàn tỉnh có 156 khách sạn, nhà nghỉ (với 3.000 phòng) có thể đưa vào phục vụ kinh doanh du lịch, trong đó có 19 khách sạn được phân hạng sao
Bảng 2.5 Hiện trạng cơ sở lưu trú của Vĩnh Phúc giai đoạn 2000 - 2010
Hạng mục 2000 2005 2006 2007 2008 2009 2010 Tăng TB Tổng số CSLT 72 108 123 135 137 142 156 14,45%
Tổng số buồng 813 1.618 1.964 2.310 2.500 2.700 3.000 15,47%
(Nguồn: Sở Văn hóa, Thể Thao và Du lịch Vĩnh Phúc)
Công suất sử dụng phòng tại các khu vực nói chung đạt mức 34,08%, riêng khu vực Tam Đảo thì có những đặc thù riêng là du lịch theo mùa vụ cho nên vào chính mùa du lịch thì công xuất phòng đạt mức 70% đến 80% nhưng trái lại không phải mùa du lịch thì công xuất lại xuống chỉ còn 34,88%
b Sự phân bố các cơ sở lưu trú
Các cơ sở lưu trú phân bố không đồng đều, chủ yếu tập trung ở Vĩnh Yên (39,06%) và Tam Đảo (33,59%) tổng số cơ sở lưu trú hiện có trên địa bàn tỉnh; tiếp theo là Phúc Yên (17,97%) và Hương Canh (5,47%)
Năm 2000, toàn tỉnh có duy nhất 1 khách sạn được xếp hạng từ 2 sao với 50 buồng và 39 cơ sở được thẩm định đạt tiêu chuẩn đón khách du lịch, đến cuối năm
2005 số khách sạn được xếp hạng tăng lên 4 cơ sở với 3 khách sạn 2 sao và 1 khách sạn 1 sao Trong giai đoạn 2000 - 2005, nhiều khách sạn trên địa bàn Tỉnh được đầu tư mở rộng quy mô, tăng thêm phòng, các dịch vụ bổ sung như tắm hơi, massage, nhà hàng, karaoke, vũ trường; một số khách sạn còn tổ chức thêm các
Trang 31dịch vụ lữ hành nội địa, vận chuyển như khách sạn Hạ Long 1, Sao Mai, Ngọc Lan, Sông Hồng để cải thiện chất lượng dịch vụ Tính đến 31/12/2010, toàn tỉnh
đã có 19 khách sạn được xếp hạng với 12 khách sạn đạt tiêu chuẩn 02 sao và 07 khách sạn đạt tiêu chuẩn 1 sao
- Các tiện nghi thể thao, vui chơi giải trí: việc phát triển các tiện nghi thể
thao và vui chơi giải trí cũng như các hoạt động tiêu khiển khác ở Vĩnh Phúc hiện còn rất hạn chế, hầu như mới chỉ dừng ở các hoạt động karaoke, massage, bơi lội, phòng tập thể hình và sân tennis Hiện nay Vĩnh Phúc có 11 bể bơi, 10 sân tennis, 5 điểm tắm hơi - massage và 2 phòng tập thể hình, karaoke đều nằm trong các khách sạn Các tiện nghi vui chơi giải trí ngoài khách sạn như câu lạc
bộ ban đêm, các điểm tham quan và các hoạt động tiêu khiển cũng thiếu
- Khu vui chơi giải trí nghỉ dưỡng và sân golf: tại Vĩnh Phúc có 3 tổ hợp
vui chơi giải trí kết hợp với sân golf là Tam Đảo, Đầm Vạc và Đại Lải Khu nghỉ dưỡng và sân golf đầu tiên của Việt Nam ở Tam Đảo được thiết kế xây dựng gồm sân golf 18 lỗ và tổ hợp sân tập và khu nghỉ dành cho các tay golf nghiệp
dư và chuyên nghiệp tham dự các giải đấu quốc tế và khu vực, đã được đầu tư hoàn thiện và đưa vào sử dụng từ 31/10/2005
- Phương tiện vận chuyển:Năm 2000, toàn tỉnh chỉ có 40 xe chuyên vận
chuyển du lịch thì đến 2010 đã có hơn 170 xe các loại từ 6 - 45 chỗ chuyên chở
phục vụ khách du lịch
Trang 322.2 Khái quát về các làng nghề truyền thống tỉnh Vĩnh Phúc
2.2.1 Hệ thống các làng nghề truyền thống tỉnh Vĩnh Phúc
Năm 2005, trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc có 21 làng nghề đăng ký; trong 7 huyện thị của tỉnh, chỉ có 5 huyện (Bình Xuyên, Mê Linh, Vĩnh Tường, Yên Lạc, Lập Thạch) là có làng nghề sản xuất tiểu thủ công nghiệp;3 xã có 2 nghề; chế biến thực phẩm có 3 làng nghề; sản xuất, khai thác vật liệu xây dựng có 2 làng nghề; tái chế phế liệu có 1 làng nghề; thêu thủ công có 10 làng nghề và 5 làng nghề thủ công khác Theo quyết định số 44/2005/QĐ-UBND về tiêu chuẩn
để được công nhận làng nghề (có trên 50% số lao động làm nghề; có trên 30% số
hộ làm nghề và giá trị sản xuất của nghề chiếm hơn 50% tổng giá trị sản xuất của làng) tính đến 2010, trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc đã có 22 làng nghề TTCN đã được công nhận
Bảng 2.6 Danh sách các làng nghề được công nhận theo quyết định của
III Huyện Sông Lô
Trang 338 Thôn Mới Cao Phong Sơ chế mây tre đan
(Nguồn: Sở Công Thương Vĩnh Phúc)
Một số kết quả đã đạt được: Cụm làng nghề rèn Lý Nhân (huyện Vĩnh Tường), diện tích quy hoạch 10,6 ha; vốn đầu tư 13,44 tỷ đồng; đã đưa được 28
hộ sản xuất của làng nghề vào cụm; Cụm làng nghề rắn Vĩnh Sơn (huyện Vĩnh Tường), diện tích 20,6 ha; vốn đầu tư 17,65 tỷ đồng; phục vụ cho 75 hộ nuôi rắn tiêu biểu ở địa phương, giải quyết việc làm cho 300 lao động tại xã; Cụm làng nghề Tề Lỗ (huyện Yên Lạc) tái chế sắt vụn, được xây dựng trên diện tích 22,9
Trang 34ha; tổng vốn đầu tư trên 47 tỷ đồng; đưa được 523 hộ vào cụm, giải quyết tình trạng ô nhiễm tại khu dân cư; Cụm làng nghề mộc Thanh Lãng (Bình Xuyên), diện tích quy hoạch 17,7 ha; vốn đầu tư 34 tỷ đồng; đang chuẩn bị đưa các hộ sản xuất ra nơi làm việc mới
Để khôi phục và phát triển nghề thủ công truyền thống, Trung tâm Khuyến công và Tư vấn phát triển Doanh nghiệp Vĩnh Phúc đã xây dựng nhiều chương trình khôi phục và phát triển làng nghề theo hướng sản xuất thủ công mỹ nghệ và làm hàng xuất khẩu Trung tâm đã mời các nghệ nhân ở làng nghề đan lát Khả Ðào (Hà Nội) và làng nghề đan lát Ngọc Ðồng (Hà Nam) về mở lớp dạy nghề mây tre đan xuất khẩu cho hơn 5.000 học viên thuộc những làng nghề truyền thống đan lát ở xã Triệu Ðề, Ðồng Ích, Văn Quán (Lập Thạch), Trung Kiên (Yên Lạc), Minh Quang (Tam Đảo) Sau một thời gian học nghề, các học viên đã làm nòng cốt cho việc khôi phục những làng nghề đan lát, từ sản xuất hàng tiêu thụ trong nước đã chuyển sang làm hàng mây tre đan xuất khẩu sang các nước Bắc
Âu, Bắc Mỹ, đem lại thu nhập cao Tại Hải Lựu, sau thời gian học nghề từ những nghệ nhân làm đá mỹ nghệ Đà Nẵng, các thanh niên đã có thể tự tay phá
đá tạo hình làm những sản phẩm đá mỹ nghệ có chất lượng cao Ðến nay, làng nghề đá Hải Lựu được khôi phục với hơn 500 lao động Hai công ty TNHH Thanh Sơn, Tiến Thành chuyên sản xuất đá mỹ nghệ phục vụ cho nhu cầu nội địa và xuất khẩu sang các nước Bắc Âu, Bắc Mỹ đem về cho làng đá Hải Lựu hàng trăm tỷ đồng/năm Làng nghề mộc Thanh Lãng, huyện Bình Xuyên cũng tuyển chọn các thợ mộc khéo tay đưa sang học nghề mộc mỹ nghệ ở làng mộc Ðồng Kỵ, tỉnh Bắc Ninh Lớp thợ mộc trẻ ở Thanh Lãng còn phối hợp với các thợ mộc có kinh nghiệm lâu năm phục chế lại các họa tiết hoa văn ở những đình làng bị hư hỏng, chế tác nhiều sản phẩm mộc theo lối cổ, phục vụ cho khách hàng trong và ngoài tỉnh Bình quân mỗi năm làng mộc Thanh Lãng đạt doanh thu hơn 100 tỷ đồng
Cùng với việc mời thầy giỏi về truyền nghề, trung tâm đã tổ chức mở các lớp đào tạo các nghề, thêu, mây tre đan, nghề mộc tại những xã còn trắng về
Trang 35công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp Sau khi được đào tạo, truyền nghề các học viên đã trở thành lực lượng lao động kỹ thuật nòng cốt tại các làng nghề, các doanh nghiệp Trung tâm còn hỗ trợ xây dựng các mô hình sản xuất như phôi thép chất lượng cao tại Công ty TNHH Nguyệt Ánh, sản xuất linh kiện phụ tùng ôtô, xe máy tại Công ty Cosmos, sản xuất phân hữu cơ vi sinh tại Công ty TNHH Quế Lâm phương Bắc, sản xuất đồ nội thất từ tấm cót tại Công ty cổ phần Tre Việt; hỗ trợ đầu tư thiết bị nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm cho một số nghề; phối hợp với các trung tâm dạy nghề và giới thiệu việc làm tổ chức bồi dưỡng kiến thức, đào tạo tin học và ứng dụng thương mại điện tử cho cán bộ quản lý doanh nghiệp và cán bộ khuyến công xã, huyện Với cách làm này, nhiều làng nghề TTCN đã từng bước được khôi phục và phát triển, góp phần cải thiện đời sống nhân dân, tạo việc làm xoá đói giảm nghèo và đổi thay diện mạo nông thôn của tỉnh Vĩnh Phúc
2.2.2 Những làng nghề truyền thống tiêu biểu tỉnh Vĩnh Phúc
Ông tổ nghề gốm cổ truyền của vùng mình vẫn thường nhắc đến hai vị: một là vụ Đỗ Quang, hai là cụ Đào Nồi (còn gọi là ông Nồi hay Nồi Hầu) Trong
“Truyền thuyết Hùng Vương” (Hội VHNT Vĩnh Phú xuất bản năm 1981) có truyện ông Nồi Truyện rằng: ở làng Hương Canh - xã Tam Canh (nay thuộc huyện Bình Xuyên, Vĩnh Phúc) có một gia đình nghèo, chuyên sống bằng nghề nặn nồi niêu Hai ông bà hiếm hoi sinh được một mụn con trai, đặt tên là Nồi Nồi càng lớn, càng thông minh, lại giỏi vẽ, giỏi vật, được An Dương Vương cho làm tướng cai quản quân sĩ Âu Lạc Ông Nồi kết hôn với cô gái mồ côi làng
Trang 36Chiêm Trạch gần kinh đô Cổ Loa, sinh được 2 người con trai, đặt tên là Đống và Vực Ba cha con ông Nồi đã nhiều lần làm cho quân xâm lược Triệu Đà thất điên bát đảo Khi thấy Triệu Đà dùng kế hiểm, cho con trai là Trọng Thuỷ sang cầu hôn với công chúa Mỵ Châu, ba cha con ông vào triều can ngăn, vua Thục không nghe Ông Nồi cùng hai con xin từ chức về Chiêm Trạch làm ruộng, nặn nồi Quân Triệu Đà chiếm được Loa Thành, Triệu Đà sai người dụ ba cha con ông ra làm quan Thấy ông không nghe, Triệu Đà cho quân bao vây Chiêm Trạch Cả nhà ông phá vây, chạy về quê cũ Hương Canh Giặc bao vây Hương Canh, ông quay về Chiêm Trạch, lúc ấy là nửa đêm, dân làng đã đóng chặt cổng Giặc đuổi tới nơi, vợ chồng ông rút dao tự vẫn Đống và Vực chạy đến nơi, thấy cha mẹ đã chết, cũng tự tử theo Dân làng chôn cất họ ở khu gò rìa làng Về sau, mọi người gọi đấy là “Gò Thánh Hoá” Nhân dân hai thôn Ngọc Chi và Vĩnh Thanh (nay thuộc Đông Anh, Hà Nội) đã lập đền thờ và ở Hương Canh nhân dân cũng lập đền thờ cúng ba bố con ông Nồi
Làng Hương Canh vốn có nghề làm vại, làm tiểu sành… từ rất lâu đời, tương truyền, dân gian kể rằng: Ngày xưa có ba ông thợ rất giỏi nghề gốm Họ rất thân thiết với nhau và cũng rất gắn bó với nghề, muốn con cháu đời sau nối nghiệp cha ông, các ông bèn chia nhau đi: Một người về Thanh Hoá, một người
về Bắc Ninh và một người về Hương Canh Cụ tổ ở Hương Canh tên là Đỗ Quang Hành trạng cụ không được lưu truyền nhưng đền thời và tượng vẫn còn (hiện ở giữa xóm Cang) Đền không biết xây từ bao giờ nhưng vào năm Cảnh Hưng (vua Lê Hiển Tông 1740 - 1786) đã được tu bổ khang trang Hàng năm, dân làng tổ chức giỗ tổ vào ngày mồng 6 tháng Giêng, ngày mất của tổ nghề
Như vậy, từ truyền thuyết dân gian, đến ngôi đền thờ tổ nghề và các di chỉ khảo cổ, ta có thể khẳng định nghề gốm Hương Canh đã có từ lâu đời, và ở Hương Canh có đến 2 ông tổ nghề gốm: ông Đào Nồi, hay Nồi Hầu là ông tổ nghề gốm nồi niêu, ông Đỗ Quang là ông tổ nghề gốm chum vại
Trang 37Trải qua bao thăng trầm của các giai đoạn lịch sử, Hương Canh vẫn giữ được nghề chất lượng, kỹ thuật, mỹ thuật vẫn luôn được cải tiến, khách hàng vẫn yêu quý gốm Hương Canh
Khi mới ra đời, làng nghề chủ yếu sản xuất các loại đồ dùng có chức năng bảo quản lương thực thực phẩm của gia đình Sản phảm làm ra chủ yếu là các loại chum, vại đựng thóc, ngô, gạo, rồi tiếp đến người ta đựng nước, đựng tương,
ủ rượu, nồi đất, ấm pha trà, tiểu sành Tất cả đều là những thứ đồ đựng hết sức thô sơ, đơn giản cả về kiểu dáng và văn hoa nên giá thành cũng rất thấp.Dần dần
do nhu cầu xây dựng các công trình nhà ở, người ta chuyển sang làm thêm cả ngói Ngói Hương Canh được nhiều nơi ưa chuộng, ngói có màu đẹp, lợp nhà mát, độ bền tương đối cao Các sản phẩm gốm Hương Canh tạo nên hoàn toàn từ nguyên liệu đất gốm thô sơ, không phụ thuộc nhiều ở chất men tráng như gốm Bát Tràng mà chỉ nhờ vào lượng nhiệt nung trong lò tạo ra Dù các sản phẩm ra
lò không mềm mại, mượt mà như gốm của Bát Tràng, Quảng Tây nhưng lại có cái mộc mạc giản dị rất cá tính Chính sự gân guốc hoang sơ như đồ vật cổ của gốm mỹ nghệ Hương Canh đã tạo nên nét riêng biệt hấp dẫn
Nghệ nhân Nguyễn Nhạn, là một trong những người còn giữ được ngọn lửa của nghề gốm Hương Canh, ông là giám đốc của công ty TNHH Thanh Nhạn, nhưng nhìn ông chân chất, giản dị, dễ gần Chính bàn tay ông đã tạo ra bao nhiêu sản phẩm ông cũng không nhớ nữa
a Tổ chức quản lý
Năm 2003 sở công nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc lập quy hoạch phát triển cụm công nghiệp làng nghề tiểu thủ công nghiệp Vĩnh Phúc giai đoạn 2005 - 2010, được UBND tỉnh phê duyệt tại quyết định số 2943/ QĐ-UB ngày 02/07/2003 Theo quy hoạch đã được phê duyệt thì đến năm 2010 sẽ hình thành 28 cụm tiểu thủ công nghiệp, trong đó có cụm làng nghề gốm Hương Canh
Cụm làng nghề Hương Canh được UBND tỉnh phê duyệt quy hoạch chi tiết tại quyết định số 970/QĐ - UBND ngày 08/05/2005 với diện tích quy hoạch là 11,5ha và tổng vốn đầu tư là 31,5 tỉ đồng chưa thực hiện đầu tư xây dựng hạ tầng