Sự phát triển không cân đối giữa kinh tế và môi trường trong tỉnh, sự thờ ơ của các doanh nghiệp, chính quyền địa phương đối với công tác môi trường, công tác giáo dục và bảo vệ các tài
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với sự phát triển nhanh chóng về kinh tế thì các nước đang phát
triển ngày nay đang phải đối mặt với tình trạng ô nhiễm môi trường diễn ra khá trầm trọng Thực tế cho thấy là nhiều nước đang phát triển đã thực sự bị dồn vào thế buộc phải chống lại nạn ô nhiễm môi trường Các nhà máy đang hoạt động sạch hơn so với một thập kỷ trước đây và tổng phát thải đang bắt đầu giảm kể cả ở những vùng mà công nghiệp đang bắt đầu tăng trưởng rất nhanh Đã bắt đầu có các hoạt động làm sạch môi trường do các nước đang phát triển cho rằng lợi ích của việc kiểm soát ô nhiễm môi trường lớn hơn rất nhiều so với các chi phí Sự nhận thức này đã thúc đẩy nhiều nước thông qua các chiến lược đổi mới lôi kéo sự tham gia của cộng đồng, các nhà đầu tư và các nhà cải cách chính sách kinh tế chống lại nạn ô nhiễm môi trường Trên thế giới cũng khám phá ra rằng không có chỗ cho họ ẩn nấp nữa và cũng chứng tỏ rằng họ có thể giảm ô nhiễm môi trường một cách nhanh chóng mà vẫn đảm bảo sản xuất có lãi nếu những người quản lý môi trường đưa ra những khích lệ đích đáng Ô nhiễm môi trường vẫn tiếp tục là một cái giá quá đắt đối với các nước đang phát triển nhưng không có lí do gì để tiếp tục coi sự suy giảm về môi trường như là cái giá phải trả cho sự phát triển Phát triển bền vững hơn lúc nào hết đã khẳng định trở thành sự lựa chọn chiến lược hết sức đúng đắn
Thái Bình là một tỉnh thuộc khu vực Đồng bằng sông Hồng, chịu ảnh hưởng của vùng tam giác tăng trưởng kinh tế Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh Đặc biệt, Thái Bình còn là vựa lúa lớn nhất miền Bắc, cũng như nhiều tỉnh khác trong nước, cùng với sự phát triển của kinh tế thì môi trường tỉnh Thái Bình đang phải đối mặt với những vẫn đề khó khăn Sự phát triển không cân đối giữa kinh tế và môi trường trong tỉnh, sự thờ ơ của các doanh nghiệp, chính quyền địa phương đối với công tác môi trường, công tác giáo dục và bảo vệ các tài nguyên chưa thực sự được chú trọng Đề tài “Giải pháp quản lý môi trường tỉnh Thái Bình theo hướng phát triển bền vững” đưa ra một cái nhìn tổng quát về thực trạng quản lý môi trường ở tỉnh Thái Bình, phân tích những thành tựu và hạn chế của công tác quản lý về môi trường Từ đó đề ra giải pháp để nâng cao hiệu quả công tác quản lý môi trường tỉnh Thái Bình theo hướng phát triển bền vững
Trang 22 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá hiện trạng môi trường và hiện trạng quản lý môi trường tỉnh
Thái Bình và đưa ra các giải pháp để nâng cao hiệu quả công tác quản lý môi
trường tỉnh Thái Bình theo hướng phát triển bền vững
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng quan tài liệu để làm rõ vấn đề quản lý môi trường và phát triển bền vững về môi trường
- Đánh giá hiện trạng môi trường và hiện trạng quản lý môi trường ở tỉnh Thái Bình
- Đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý môi trường theo hướng phát triển bền vững
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là vấn đề quản lý môi trường tại Thái Bình
3.2 Phạm vi ngiên cứu
Nghiên cứu hiện trạng môi trường và hiện trạng quản lý môi trường tỉnh Thái Bình
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu
Thu thập số liệu, tài liệu là một phương pháp quan trọng trong nghiên cứu khoa học Mục đích của thu thập số liệu (từ các tài liệu nghiên cứu khoa học có trước, từ quan sát và thực hiện thí nghiệm) để làm cơ sở lý luận khoa học hay tìm ra vấn đề cần nghiên cứu
Để thực hiện đề tài khóa luận, người viết đã thu thập số liệu, tài liệu từ nhiều nguồn: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thái Bình, Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Thái Bình đến năm 2020, niên giám thống
kê tỉnh Thái Bình năm 2012, các giáo trình về môi trường, các công trình nghiên cứu khoa học về môi trường
4.2 Phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp
Các tài liệu thống kê được khai thác từ nhiều nguồn khác nhau: tài liệu lưu trữ quốc gia và Trung ương, tài liệu của các cơ quan cấp tỉnh, của lĩnh vực
Trang 3quản lý môi trường, các tài liệu khác có liên quan
Các tài liệu thống kê luôn được bổ sung, cập nhật và được chọn lọc, tổng hợp và phân tích liên hợp các yếu tố trong mối tương quan, ảnh hưởng lẫn nhau làm cơ sở cho mục đích nghiên cứu của khóa luận
4.3 Phương pháp so sánh
Phương pháp này được sử dụng để đánh giá tác động Tổng hợp các số liệu thu thập được, so với tiêu chuẩn môi trường Việt Nam (TCVN), rút ra những kết luận về ảnh hưởng của các hoạt động sản xuất đến môi trường, đồng thời đề xuất các biện pháp giảm thiểu tác động ô nhiễm môi trường Việc so sánh các thông số môi trường nền với các TCVN cho phép đối sánh môi trường ở các khu vực khác nhau với một cái nhìn chuẩn hóa từ đó thấy được khu vực nào đã vượt tiêu chuẩn cho phép và cần phải được quan tâm Điều này là rất quan trọng trong việc đề ra các giải pháp cho từng khu vực và từng vấn đề môi trường cụ thể
4.4 Phương pháp chuyên gia
Do năng lực và trình độ của sinh viên thực hiện đề tài còn hạn chế nên
“tham khảo ý kiến chuyên gia” là phương pháp cần thiết nhằm định hướng và đưa ra những lời nhận xét đúng đắn cho sinh viên, giúp sinh viên nhận định được vấn đề chính xác hơn
4.5 Phương pháp bản đồ, biểu đồ
Phương pháp này được sử dụng từ khâu đầu tiên cho đến khâu cuối của quá trình tìm hiểu, nghiên cứu khóa luận Các mối liên hệ về thời gian, không gian, số lượng, chất lượng của các đối tượng quản lý môi trường được thể hiện trong khóa luận thật khó có thể diễn tả một cách ngắn gọn bằng lời nếu không có sự hỗ trợ của các bản đồ, biểu đồ
5 Kết cấu khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, bài khóa luận chia thành ba nội dung chính:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 2: Hiện trạng quản lý môi trường tại tỉnh Thái Bình
Chương 3: Giải pháp quản lý môi trường tỉnh Thái Bình theo hướng phát triển bền vững.
Trang 4CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Lý luận chung về quản lý môi trường
1.1.1 Khái niệm
"Quản lý môi trường là tổng hợp các biện pháp, luật pháp, chính sách kinh tế, kỹ thuật, xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất lượng môi trường sống
và phát triển bền vững kinh tế xã hội quốc gia".[21]
Theo tác giả Lưu Đức Hải và Nguyễn Ngọc Sinh: ”Quản lý môi trường
là một hoạt động trong lĩnh vực quản lý xã hội, có tác động điều chỉnh các hoạt động của con người dựa trên sự tiếp cận có hệ thống và các kỹ năng điều phối thông tin đối với các vấn đề môi trường có liên quan đến con người xuất phát từ quan điểm định hướng, hướng tới phát triển bền vững và sử dụng hợp
1.1.2 Mục tiêu, đối tượng và nguyên tắc của công tác quản lý môi trường
Mục tiêu cơ bản của công tác quản lý môi trường là phát triển bền vững, giữ cho được sự cân bằng giữa phát triển kinh tế xã hội và BVMT Nói cách khác, phát triển kinh tế xã hội tạo ra tiềm lực kinh tế để BVMT, còn BVMT tạo ra các tiềm năng tự nhiên và xã hội mới cho công cuộc phát triển kinh tế
xã hội trong tương lai
Tùy thuộc vào điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, hệ thống pháp lý, mục tiêu phát triển ưu tiên của từng quốc gia, mục tiêu quản lý môi trường có thể thay đổi theo thời gian và có những ưu tiên riêng đối với mỗi quốc gia
Theo Chỉ thị 36 CT/TW của Bộ Chính trị, Ban chấp hành trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, một số mục tiêu cụ thể của công tác quản lý môi trường Việt Nam hiện nay là:
- Khắc phục và phòng chống suy thoái, ô nhiễm môi trường phát sinh trong hoạt động sống của con người
Trang 5- Tăng cường công tác quản lý nhà nước về môi trường từ Trung ương đến địa phương, công tác nghiên cứu, đào tạo cán bộ về môi trường
- Hoàn chỉnh hệ thống văn bản luật pháp bảo vệ môi trường, ban hành các chính sách về phát triển kinh tế xã hội phải gắn với bảo vệ môi trường, nghiêm chỉnh thi hành luật bảo vệ môi trường
- Phát triển bền vững kinh tế và xã hội quốc gia theo chín nguyên tắc của một xã hội bền vững do hội nghị Rio-92 đề xuất
- Phát triển bền vững kinh tế, bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên, không tạo ra ô nhiễm và suy thoái chất luợng môi trường sống, nâng cao sự văn minh và công bằng xã hội
- Xây dựng các công cụ có hiệu lực quản lý môi trường quốc gia và các vùng lãnh thổ Các công cụ trên phải thích hợp cho từng ngành, từng địa phương và cộng đồng dân cư
- Theo phạm vi quả ý có thể chia ra các loại:
+ Quả ý môi trường khu vực
+ Quả ý môi trường theo ngành kinh tế
+ Quản ý tài nguyên
- Theo tính chất của công tác quả ý môi trường có thể phân loại:
+ Quả ý chất lượng môi trường: ban hành và kiểm tra các tiêu chuẩn, quy chuẩn về chất lượng không khí, chất lượng nước, môi trường đất, khí thải, chất thải rắn và chất thải nguy hại
+ Quả ý kỹ thuật môi trường: quả ý hệ thống quan trắc, giám định, đánh giá chất lượng các thành phần môi trường, các trạm phân tích và các phòng thí nghiệm phân tích chất lượng môi trường, thẩm định chất lượng của máy và thiết bị, lưu trữ và cung cấp các dịch vụ thông tin dữ liệu môi trường
+ Quả ý kế hoạch môi trường: quả ý việc xây dựng và thực thi các
kế hoạch bảo vệ môi trường, hình thành và quả ý quỹ môi trường ở Trung ương, các ngành, các cấp địa phương
+ Trong quá trình thực hiện, các nội dung quả ý trên sẽ tạo thành một
hệ thống đan xen với nhau phục vụ công tác bảo vệ môi trường
Trang 6c) Các nguyên tắc chủ yếu của công tác quản lý môi trường
Tiêu chí chung của công tác quản lý môi trường là đảm bảo quyền được sống trong môi trường trong lành, phục vụ sự phát triển bền vững của đất nước, góp phần gìn giữ môi trường chung của loài người trên Trái đất Các nguyên tắc chủ yếu của công tác quản lý môi trường bao gồm:
- Hướng công tác quản lý môi trường tới mục tiêu phát triển bền vững kinh tế xã hội đất nước, giữ cân bằng giữa phát triển và bảo vệ môi trường
- Kết hợp các mục tiêu quốc tế - quốc gia - vùng lãnh thổ và cộng đồng dân cư trong việc quản lý môi trường
- Quản lý môi trường cần được thực hiện bằng nhiều biện pháp và công
1.1.3 Các nội dung, chức năng của quản lý Nhà nước về môi trường
- Ban hành và tổ chức việc thực hiện các văn bản pháp quy về bảo vệ môi trường, ban hành hệ thống tiêu chuẩn môi trường
- Xây dựng, chỉ đạo thực hiện chiến lược, chính sách bảo vệ môi trường,
kế hoạch phòng chống, khắc phục suy thoái môi trường, ô nhiễm môi trường,
Trang 7- Cấp và thu hồi giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn môi trường
- Đào tạo cán bộ về khoa học và quản lý môi trường
- Thiết lập quan hệ quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
Trong Luật bảo vệ môi trường 2005, nội dung quả ý Nhà nước về môi trường thể hiện cụ thể trong từng vấn đề môi trường: chính sách môi trường, tiêu chuẩn môi trường, đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường, đánh giá môi trường chiến lược, bảo tồn và sử dụng tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường trong hoạt động sản xuất kinh doanh, bảo vệ môi trường đô thị và khu dân cư, bảo vệ môi trường biển, bảo vệ môi trường nước sông, quả ý chất thải, phòng ngừa và ứng phó sự cố môi trường, khắc phục
ô nhiễm và phục hồi môi trường, thuế và phí môi trườ ý quỹ môi trường,
xử ý vi phạm và giải quyết khiếu nại về môi trường, bồi thường thiệt hại về môi trường Trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường của Chính phủ, Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân các cấp, cơ quan chuyên môn, cán bộ phụ trách về bảo vệ môi trường được quy định tại Điều 121, 122 và 123
1.1.4 Tổ chức công tác quản lý môi trường
Theo nhiệm vụ và quyền hạn của mình, Chính phủ thống nhất quản lý về bảo vệ môi trường trong cả nước Bộ Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ theo chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường thực hiện bảo vệ môi trường trong ngành và các cơ sở trực thuộc quản
lý trực tiếp Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện chức năng quản lý về môi trường tại địa phương Sở Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhiệm trước Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong việc bảo vệ môi trường ở địa phương
Hệ thống cơ quan quản lý môi trường từ Trung ương đến các địa phương bao gồm:
- Bộ Tài nguyên và Môi trường
- Tổng cục Môi trường
- Cơ quan quản lý môi trường của các Bộ
- Các Sở Tài nguyên và Môi trường các tỉnh
Trang 8- Các Chi cục Bảo vệ Môi trường các tỉnh, thành phố
- Các Phòng Tài nguyên và Môi trường của các quận, huyện, thị xã
1.2 Lý luận về phát triển bền vững
1.2.1 Khái niệm phát triển bền vững
Theo Brundtland: “Phát triển bền vững là sự phát triển thoả mãn những nhu cầu của hiện tại và không phương hại tới khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai” Đó là quá trình phát triển kinh tế dựa vào nguồn tài nguyên được tái tạo tôn trọng những quá trình sinh thái cơ bản, sự đa dạng sinh học và những hệ thống trợ giúp tự nhiên đối với cuộc sống của con người, động vật và thực vật
Qua các bản tuyên bố quan trọng, khái niệm này tiếp tục mở rộng thêm
và nội hàm của nó không chỉ dừng lại ở yếu tố môi trường tài nguyên thiên nhiên mà yếu tố môi trường xã hội được đặt ra với ý nghĩa quan trọng Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về phát triển bền vững tổ chức ở Johannesbug (Cộng hòa Nam Phi) năm 2002 đã xác định: phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hòa giữa ba mặt của sự phát triển, gồm: tăng trưởng kinh tế, cải thiện các vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường Tiêu chí để đánh giá sự phát triển bền vững là sự tăng trưởng kinh tế ổn định, thực hiện tốt tiến bộ và công bằng xã hội, khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và nâng cao chất lượng môi trường sống Hiện nay, nội hàm phát triển bền vững tiếp tục được mở rộng, thêm nhân tố thứ tư
là bền vững về mặt thể chế
1.2.2 Nguyên tắc phát triển bền vững
Chương trình Môi trường của Liên hợp quốc trong tác phẩm “hãy cứu lấy Trái Đất – chiến lược cho một cuộc sống bền vững”, 1991 đã nêu ra chín nguyên tắc PTBV Tuy nhiên, các nguyên tắc này thực sự khó áp dụng trong thực tế của một thế giới đầy các biến động về chính trị, kinh tế, văn hóa Thực
tế đòi hỏi cần thiết lập một hệ thống nguyên tắc khác có tính khả thi và sát thực hơn LucHens (1995) đã lựa chọn trong số các nguyên tắc của Tuyên bố Rio về Môi trường và phát triển để xây dựng một hệ thống bảy nguyên tắc mới của PTBV môi trường Những nguyên tắc đó là:
Trang 9a) Nguyên tắc về sự ủy thác của nhân dân
Nguyên tắc này yêu cầu chính quyền phải hành động để ngăn ngừa các thiệt hại môi trường xảy ra ở bất cứ đâu, bất kể đã có hoặc chưa có các điều luật quy định về cách ứng xử các thiệt hại đó Nguyên tắc này cho rằng, công chúng có quyền đòi hỏi chính quyền với tư cách là tổ chức đại diện cho họ phải có hành động ứng xử kịp thời các sự cố môi trường
b) Nguyên tắc phòng ngừa
Ở những nơi có thể xảy ra sự cố môi trường nghiêm trọng và không đảo ngược được, thì không thể lấy lý do là chưa có những hiểu biết chắc chắn mà trì hoãn những biện pháp ngăn ngừa sự suy thoái môi trường Về mặt chính trị, nguyên tắc này rất khó được áp dụng, và trên thực tế nhiều nước đã cố tình quên Việc chọn lựa phương án phòng ngừa nhiều khi bị gán tội là chống lại các thành tựu phát triển kinh tế đã hiện hình trước mắt và luôn luôn được tụng xưng, ca ngợi theo cách hiểu của tăng trưởng kinh tế
c) Nguyên tắc bình đẳng giữa các thế hệ
Đây là nguyên tắc cốt lõi của PTBV môi trường, yêu cầu rõ rành rành, việc thỏa mãn nhu cầu của thế hệ hiện nay không được làm phương hại đến các thế hệ tương lai thỏa mãn nhu cầu của họ Nguyên tắc này phụ thuộc vào việc áp dụng tổng hợp và có hiệu quả các nguyên tắc khác của PTBV
d) Nguyên tắc bình đẳng trong nội bộ thế hệ
Con người trong cùng thế hệ hiện nay có quyền được hưởng lợi một cách bình đẳng trong khai thác các nguồn tài nguyên, bình đẳng chung hưởng một môi trường trong lành và sạch sẽ Nguyên tắc này được áp dụng để xử lý mối quan hệ giữa các nhóm người trong cùng một quốc gia và giữa các quốc gia Nguyên tắc này ngày càng được sử dụng nhiều hơn trong đối thoại quốc tế Tuy nhiên, trong phạm vi một quốc gia nó cực kỳ nhạy cảm đối với các nguồn lực kinh tế - xã hội và văn hóa
e) Nguyên tắc phân quyền và ủy quyền
Các quyết định cần phải được soạn thảo bởi chính các cộng đồng bị tác động hoặc bởi các tổ chức thay mặt họ và gần gũi nhất với họ Các quyết định cần ở mức quốc gia hơn là mức quốc tế, mức địa phương hơn là mức quốc gia Đây là nguyên tắc cơ bản nhằm kiểm soát sự ủy quyền của các hệ thống quy hoạch ở tầm quốc tế, nhằm cổ vũ quyền lợi của các địa phương về sở hữu tài
Trang 10nguyên, về nghĩa vụ đối với môi trường và về các giải pháp riêng của họ, áp lực ngày càng lớn đòi hỏi sự ủy quyền ngày càng tăng Tuy nhiên, cần phải hiểu cho đúng rằng địa phương chỉ là một bộ phận của các hệ thống rộng lớn hơn chứ không được thực thi chức năng một cách cô lập Thường thì các vấn
đề môi trường có thể phát sinh ngoài tầm kiểm soát địa phương, ví dụ như sự
ô nhiễm “ngược dòng” của nước láng giềng hay cộng đồng lân cận Trong trường hợp đó, nguyên tắc ủy quyền cần được xếp xuống thấp hơn các nguyên tắc khác
f) Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền
Người gây ô nhiễm phải chịu mọi chi phí ngăn ngừa và kiểm soát ô nhiễm, phải nội bộ hóa tất cả các chi phí môi trường nảy sinh từ các hoạt động của họ, sao cho các chi phí này được thực hiện đầy đủ trong giá cả của hàng hóa và dịch vụ mà họ cung cấp Tuy nhiên, sẽ không tránh khỏi trường hợp là, nếu áp dụng nguyên tắc này quá nghiêm khắc thì sẽ có xí nghiệp công nghiệp
bị đóng cửa Cộng đồng có thể cân nhắc, vì trong nghiều trường hợp, các phúc lợi có được do có công ăn việc làm nhiều khi còn lớn hơn các chi phí cho vấn đề sức khỏe và môi trường bị ô nhiễm Do đó, cơ chế áp dụng nguyên tắc này cần linh hoạt và trong nhiều trường hợp phải tạo điều kiện về thời gian để các doanh nghiệp thích ứng dần dần với các tiêu chuẩn môi trường
g) Nguyên tắc người sử dụng phải trả tiền
Khi sử dụng hàng hóa hay dịch vụ, người sử dụng phải trang trải đủ giá tài nguyên cũng như các chi phí môi trường liên quan tới việc chiết tách, chế biến và sử dụng tài nguyên
1.2.3 Nội dung phát triển bền vững về môi trường
Theo tác giả Tạ Thị Thanh Huyền và Nguyễn Thị Thúy Vân: “Bền vững
về tài nguyên và môi trường là khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên, phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý và kiểm soát có hiệu quả ô nhiễm môi trường, bảo vệ tốt môi trường sống, bảo vệ được các vườn quốc gia, các khu bảo tồn thiên nhiên, khu dự trữ sinh quyển
và bảo tồn sự đa dạng sinh học, khắc phục suy thoái và cải thiện chất lượng môi trường”
Vấn đề bền vững về môi trường đang ngày càng trở thành vấn đề lưu tâm song song với sự đi lên của nền kinh tế Thu nhập bình quân đầu người đang ngày càng tăng lên không ngừng cùng với việc môi trường cũng ngày
Trang 11càng đứng trước những thách thức lớn hơn Có thể khẳng định rằng tăng trưởng kinh tế là điều kiện cần cho phát triển, chứ không đồng nghĩa với phát triển, nhất là PTBV
Môi trường tự nhiên và sản xuất xã hội quan hệ khăng khít, chặt chẽ tác động lẫn nhau trong thế cân đối thống nhất: môi trường tự nhiên cung cấp nguyên liệu và không gian cho sản xuất xã hội Sự giàu nghèo của mỗi nước phụ thuộc khá nhiều vào nguồn tài nguyên, rất nhiều quốc gia chỉ trên cơ sở khai thác tài nguyên để xuất khẩu đổi lấy ngoại tệ, thiết bị công nghệ hiện đại Môi trường và nhất là bền vững môi trường có vai trò quyết định đối với sự PTBV về KT – XH ở mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ, địa phương vì:
Thứ nhất, môi trường không chỉ cung cấp “đầu vào” mà còn chứa đựng đầu ra cho các quá trình sản xuất và đời sống
Hoạt động sản xuất bắt đầu từ việc sử dụng nguyên, nhiên liệu, vật tư, thiết bị máy móc, đất đai, cơ sở vật chất kỹ thuật, sức lao động của con người
để tạo ra sản phẩm hàng hóa Các hoạt động sống cũng vậy, con người cũng cần không khí để thở, nước để uống, cần có chỗ vui chơi giải trí, phương tiện
đi lại…Những cái đó không gì khác là yếu tố môi trường Như vậy, chính các yếu tố môi trường là “đầu vào của quá trình sản xuất và các hoạt động sống của con người Hay nói cách khác môi trường là “đầu vào” của quá trình sản xuất và đời sống
Ngược lại môi trường tự nhiên cũng là nơi chứa đựng, đồng hóa đầu ra các chất thải của các quá trình hoạt động sản xuất và đời sống Quá trình sản xuất thải ra môi trường rất nhiều chất thải (bụi, khí thải, nước thải, chất thải rắn) Trong các chất thải này có thể có rất nhiều loại độc hại làm ô nhiễm, suy thoái hoặc gây ra các sự cố về môi trường Quá trình sinh hoạt, tiêu dùng của
xã hội loài người cũng thải ra môi trường rất nhiều chất thải Những chất thải này nếu không được xử lý tốt sẽ gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Như vậy muốn môi trường bền vững thì phải làm thế nào để hạn chế nhiều nhất các chất thải, đặc biệt là chất thải gây ô nhiễm môi trường
Thứ hai, môi trường sống liên quan đến tính ổn định và bền vững đến phát triển KT – XH
Phát triển KT – XH là quá trình nâng cao điều kiện sống về vật chất và tinh thần của con người qua việc sản xuất ra của cải vật chất, cải tiến quan hệ
xã hội, nâng cao chất lượng văn hóa Phát triển là xu thế chung của cá nhân
Trang 12cũng như của cả loài người trong quá trình sống Giữa môi trường và sự phát triển có mối quan hệ chặt chẽ, môi trường là địa bàn của sự phát triển, còn phát triển là nguyên nhân tạo nên các biến đổi của môi trường
Trong hệ thống KT – XH, hàng hóa được di chuyển từ sản xuất đến lưu thông, phân phối và tiêu dùng cùng với dòng luân chuyển của nguyên liệu, năng lượng, sản phẩm, chất thải Các thành phần đó luôn tương tác với các thành phần tự nhiên và xã hội của hệ thống môi trường đang tồn tại trong địa bàn đó Tác động của con người đến môi trường thể hiện ở khía cạnh có lợi là cải tạo môi trường tự nhiên hoặc tạo ra kinh phí cần thiết cho quá trình cải tạo
đó, nhưng cũng có thể gây ra ô nhiễm môi trường tự nhiên
Mặt khác, môi trường tự nhiên đồng thời cũng tác động đến sự phát triển
KT – XH thông qua việc làm suy thoái nguồn tài nguyên – đối tượng của sự phát triển KT – XH hoặc gây ra các thảm họa, thiên tai đối với các hoạt động
KT – XH trong khu vực Ở các quốc gia có trình độ phát triển kinh tế khác nhau có các xu hướng gây ô nhiễm môi trường khác nhau
Ô nhiễm do dư thừa: 20% dân số Thế giới ở các nước giàu hiện sử dụng 80% tài nguyên và năng lượng của loài người Sản xuất công nghiệp phát triển mạnh, hoạt động của quá nhiều phương tiện giao thông vận tải đã tạo ra một lượng lớn chất thải độc hại vào môi trường Hiện nay việc có được mua bán hay không quyền phát thải khí thải giữa các nước đang là vấn đề tranh luận chưa ngã ngũ trong các Hội nghị thượng đỉnh về môi trường, các nước giàu vẫn chưa thực sự chia sẻ tài lực với các nước nghèo để giải quyết những vấn đề có liên quan đến môi trường
Ô nhiễm do nghèo đói: mặc dù chiếm tới 80% dân số thế giới, song chỉ
sử dụng 20% tài nguyên và năng lượng của thế giới, nhưng những người nghèo khổ ở các nước nghèo chỉ có con đường duy nhất là khai thác tài nguyên thiên nhiên: rừng, khoáng sản, đất đai,…mà đa số các loại tài nguyên này không có khả năng hồi phục Nghèo đói là thách thức lớn nhất đối với công tác PTBV môi trường hiện nay Do vậy, để giải quyết vấn đề môi trường, trước hết các nước nghèo đói phải triệt để giải quyết nghèo đói
Để phát triển, dù là giàu có hay nghèo đói đều tạo ra khả năng gây ô nhiễm môi trường, vấn đề ở đây là phải giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa phát triển và BVMT Để PTBV không được khai thác quá mức dẫn tới hủy hoại tài nguyên, môi trường, thực hiện các giải pháp sản xuất sạch, phát triển
Trang 13sản xuất đi đôi với các giải pháp xử lý môi trường, bảo tồn các nguồn gen, bảo tồn đa dạng sinh học, không ngừng nâng cao nhận thức của nhân dân về bảo vệ môi trường
Như đã nói trên, PTBV môi trường chính là để giúp cho sự phát triển kinh tế cũng như xã hội được bền vững KT – XH phát triển giúp chúng ta có
đủ điều kiện để đảm bảo an ninh quốc phòng, giữ vững độc lập chủ quyền của dân tộc Điều đó lại tạo điều kiện ổn định chính trị xã hội để KT – XH phát triển PTBV môi trường không chỉ có ý nghĩa hiện tại, mà quan trọng hơn, cao cả hơn nó có ý nghĩa trong tương lai Nếu một sự phát triển mang lại những lợi ích kinh tế trước mắt mà khai thác cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, hủy hoại tài nguyên môi trường, làm cho các thế hệ sau không còn điều kiện
để phát triển mọi mặt thì sự phát triển đó không được gọi là bền vững Thế hệ hôm nay không quan tâm tới, không làm tốt công tác BVMT làm cho môi trường bị hủy hoại thì các thế hệ tương lai chắc chắn sẽ phải gánh chịu những hậu quả do môi trường mang lại
1.2.4 Bộ chỉ tiêu giám sát, đánh giá PTBV môi trường địa phương
Theo Quyết định số 2157/QĐ-TTg ngày 11 tháng 11 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Bộ chỉ tiêu giám sát, đánh giá phát triển bền vững địa phương giai đoạn 2013 – 2020 Trong đó:
Trang 14Các chỉ tiêu chung (9 chỉ tiêu)
STT Tên chỉ tiêu Đơn
vị tính
Kỳ công
bố
Lộ trình
Cơ quan chịu trách nhiệm thu
2 Tỷ lệ diện tích đất
được bảo vệ, duy trì
đa dạng sinh học % Năm 2014
Sở Tài nguyên và Môi trường
- Phối hợp: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Sở Y tế
7 Số vụ thiên tai và
mức độ thiệt hại
Vụ, triệu đồng Năm 2014
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Trang 151.3 Kinh nghiệm quản lý môi trường theo hướng phát triển bền vững
1.3.1 Kinh nghiệm quản lý về môi trường của Nhật Bản và Singapore
a) Kinh nghiệm Nhật Bản
Các nhà nghiên cứu của Viện nghiên cứu Đông Á, Đại học Kinh tế và Luật Osaka cho rằng, Nhật Bản là một quốc gia có nhiều thành công trong quản lý ô nhiễm môi trường, kinh nghiệm của họ được đánh giá cao ở các nước Đông Á Thực tế cho thấy, những giải pháp mà người Nhật Bản thực thi
để bảo vệ môi trường đã mang lại rất nhiều thành công Mặc dù có sự khác nhau về lịch sử, văn hóa, kinh tế, chính trị song những kinh nghiệm của họ trong quản lý môi trường đáng để cho nhiều quốc gia, địa phương nghiên cứu
- Gia tăng vai trò của Chính phủ trong hoạt động quản lý ô nhiễm môi
trường theo hướng phát triển bền vững
Theo Chính phủ Nhật Bản, ngoài vai trò là một cơ quan hành chính Trung ương, Chính phủ Nhật Bản còn có vai trò như một doanh nghiệp tham gia hoạt động kinh tế và như một thực thể tiêu dùng Để thực hiện vai trò này, ngay từ năm 1995 Chính phủ Nhật Bản đã xây dựng kế hoạch “Hành động xanh” Kế hoạch này được coi là nhiệm vụ cụ thể mang tính thường niên đối với Chính phủ Nhật Bản
Trang 16Thiết nghĩ kế hoạch “Hành động xanh” mà Chính phủ Nhật Bản sử dụng, nhiều nước có thể vận dụng, trong đó có tỉnh Thái Bình Không có lý do gì khi tỉnh Thái Bình lại không vận dụng bởi đây là kinh nghiệm có thể được thực hiện thông qua mệnh lệnh của chính quyền địa phương mà không mất kinh phí để thực thi
- Khuyến khích sự nỗ lực của các chính quyền địa phương trong việc
chống ô nhiễm môi trường
Người Nhật Bản quan niệm rằng, bảo vệ môi trường khu vực là nền tảng tạo ra sự phát triển bền vững, ở đó chính quyền địa phương đóng vai trò hết sức quan trọng Bởi vậy, chính quyền các địa phương ở nước này đã có rất nhiều nỗ lực trong công tác bảo vệ môi trường Sự nỗ lực đó được thể hiện trên hai phương diện chủ yếu, thứ nhất là sự tích cực và chủ động trong công tác bảo vệ môi trường ở địa phương, đặc biệt là các hoạt động xây dựng cơ sở
hạ tầng, huy động vốn, thúc đẩy các hoạt động bảo vệ môi trường ở các khu
đô thị và doanh nghiệp trong phạm vi quản lý hành chính địa phương dựa trên các đặc điểm riêng biệt của địa phương mình Và thứ hai là phối hợp chặt chẽ với chính quyền trung ương nhằm thực thi có hiệu quả các biện pháp chống ô nhiễm môi trường và thúc đẩy hợp tác quốc tế để giải quyết các vấn đề môi trường cụ thể của từng địa phương
Người ta còn nhớ cách đây khoảng một thập niên, với sự hỗ trợ của chính quyền trung ương, chính quyền địa phương ở một số khu vực ở Nhật Bản đã xúc tiến chương trình môi trường với tên gọi “Kế hoạch quản lý môi trường khu vực nhằm ngăn ngừa ô nhiễm và bảo vệ môi trường tự nhiên” Kế hoạch này được sự hỗ trợ kỹ thuật từ bộ môi trường Nhật Bản và sự đóng góp tài chính của nhân dân và doanh nghiệp từ các địa phương và tạo thành phong trào rộng lớn trên phạm vi toàn quốc Nhờ đó, môi trường ở các đô thị lớn và một số địa phương ở Nhật Bản đã được cải thiện rất nhiều Phong trào này cho đến nay vẫn được duy trì
- Những vấn đề pháp lý về quản lý môi trường gắn với phát triển kinh tế
tại Singapore
Singapore được mệnh danh là “thành phố cây xanh”, “thành phố sạch nhất thế giới” Có được điều đó là do Chính phủ Singapore đã coi nhiệm vụ BVMT sinh thái là một nhiệm vụ chiến lược trong chính sách phát triển KT - XH
Trang 17Chính phủ Singapore đã tiến hành nhiều biện pháp kiểm soát và bảo vệ, trong
đó có biện pháp pháp lý
Biện pháp xử lý hình sự: Pháp luật môi trường Singapore lấy chế tài hình
sự là công cụ cơ bản để thực thi Các hình thức xử lí xử phạt gồm: phạt tù, phạt tiền, tạm giữ và tịch thu, bồi thường thiệt hại, phạt cải tạo lao động bắt buộc (đối với những vi phạm nhỏ và chỉ áp dụng những bị cáo từ 16 tuổi trở
lên và đủ sức khỏe tiêu chuẩn y tế)
Biện pháp xử lý hành chính: Tuy pháp luật Singapore xem chế tài hình
sự là quan trọng nhất trong việc BVMT nhưng không vì thế mà xem nhẹ các chế tài hành chính và dân sự, bởi nếu chỉ riêng chế tài hình sự thì không thể BVMT một cách hiệu quả Một số chế tài hành chính thường được sử dụng là
kế hoạch sử dụng đất, giấy phép và các mệnh lệnh thông báo
Biện pháp xử lý dân sự: Bên cạnh các chế tài về hình sự và hành chính,
các đạo luật Singapore cũng quy định nhiều hình thức chế tài dân sự Cụ thể như: yêu cầu cá nhân gây ô nhiễm phải nộp phạt, bồi thường thiệt hại, chi phí
và các khoản phí tổn mà cơ quan có thẩm quyền phải chịu để làm sạch môi trường Theo điều 97 của Luật BVMT Singapore, Chính phủ có thể thu giữ lại
từ người sở hữu hoặc quản lý tài sản các phí tổn và chi phí đã được sử dụng trong quá trình thực hiện theo quy định của pháp luật Trong vòng 14 ngày theo quy định, nếu chi phí này chưa được thanh toán thì vụ việc sẽ được đưa
ra tòa
- Công tác và biện pháp quản lý môi trường theo hướng phát triển bền
vững gắn liền phát triển kinh tế trong thời gian gần đây
+ Môi trường tự nhiên
Chính phủ Singapore cấm tàu thuyền gây ô nhiễm cập cảng Ngoài ra Singapore còn thi hành sắc lệnh mới về chống ô nhiễm môi trường đối với tàu thuyền vào neo đậu tại hải cảng vốn được coi là nhộn nhịp nhất thế giới này Trong thời gian gần đây, Chính phủ còn thể hiện việc quan tâm quản lý môi trường tự nhiên trong việc hợp tác quốc tế cùng với Indonexia, Malaysia, Thái lan và Brunei giải quyết nạn khói mù ở Indonexia, đất nước láng giềng của Singapore
Để từng bước giảm sự lệ thuộc vào nguồn nước từ bên ngoài, Chính phủ Singapore đã đề ra nhiều giải pháp, trong đó quan trọng nhất là khuyến khích
Trang 18người dân sử dụng nước thải tái sinh Trong một buổi tiếp xúc giới trẻ được truyền hình trực tiếp nhân ngày Quốc khánh lần thứ 37 của Singapore, Phó Thủ tướng Lý Hiến Long đã tiếp đãi các đại biểu thanh niên bằng những chai nước hiệu “Newater” – Một thứ nước thải tái sinh được lấy từ hệ thống cống rãnh trong thành phố
+ Môi trường xã hội
Singapore sở dĩ được cộng đồng thế giới đánh giá cao về môi trường, vệ sinh là do công tác giáo dục ý thức BVMT được diễn ra bền bỉ, có hiệu quả đến tận từng người dân Kết quả môi trường trên đất nước này hoàn toàn đạt tiêu chuẩn của tổ chức Y tế thế giới (WHO) đưa ra, Singapore còn nổi tiếng thế giới là một nước quản lý công cộng rất nghiêm Singapore lấy phương thức giáo dục làm biện pháp hàng đầu để nâng cao ý thức BVMT
+ Môi trường nhân tạo
Singapore là một quốc gia không có được cơ sở vật chất, tài nguyên thiên nhiên dồi dào thì môi trường nhân tạo chính là những điểm gây dựng nên Singapore ngày nay Riêng ngành công nghiệp không khói này và những dịch vụ phụ trợ đã chiếm 65% cơ cấu kinh tế của đất nước Do đó, cũng không sai khi nói rằng du lịch là một ngành kinh tế mũi nhọn, thúc đẩy đà tăng trưởng kinh tế Singapore Và những điểm nhấn lớn trong môi trường nhân tạo Singapore không đâu khác là những điểm du lịch chính yếu của quốc đảo này: vườn chim Jurong, vườn Safari, đảo Sentosa, tháp chọc trời Skytower (cao 110m)
1.3.2 Kinh nghiệm quản lý về môi trường ở thành phố Đà Nẵng
Nhiều người đã ví Đà Nẵng là “thành phố đáng sống nhất Việt Nam” Xét trong phạm vi trong cả nước, Đà Nẵng là một trong số rất ít thành phố đạt danh hiệu thành phố bền vững về môi trường Để có được thành tựu này là nhờ sự nỗ lực rất lớn từ chính quyền địa phương trong công tác quản lý bảo
vệ môi trường
a) Về thể chế chính sách
Công tác quản lý môi trường được triển khai toàn diện trên nhiều mặt như: ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, quy định bảo vệ môi trường trên địa bàn thành phố, quy định về đảm bảo trật tự an toàn và vệ sinh môi trường trong quá trình xây dựng các công trình
Trang 19b) Các chương trình đề án giảm thiểu suy thoái môi trường
Đà Nẵng đã thực hiện các chương trình quản lý và kiểm tra thường xuyên chất lượng môi trường biển, quản lý ô nhiễm công nghiệp, xử lý triệt
để các ơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng trên địa bàn thành phố Thành phố đã tổ chức nhiều phong trào huy động cộng đồng tham gia bảo vệ môi trường biển như "Ngày chủ nhật xanh, sạch, đẹp", chương trình thí điểm
về phân loại rác thải tại nguồn, phân cấp quản lý hồ đầm trên thành phố
c) Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
Dự án thoát nước và vệ sinh môi trường đã xây dựng hệ thống thu gom rác, bãi rác hợp vệ sinh, hệ thống thoát nước khu vực nội thành và 4 trạm xử
lý nước thải sinh hoạt trước khi thải ra biển Dự án môi trường Việt Nam - Canada đã giúp Đà Nẵng nâng cao năng lực quản lý môi trường trong công nghiệp, hỗ trợ trang thiết bị kỹ thuật quan trắc môi trường
Thành phố đã lắp đặt 30 thùng rác tại 5 bãi biển để người dân và khách
du lịch bỏ rác vào thùng Công ty Môi trường Đô thị đã đưa vào sử dụng một máy sàn cát hiện đại để làm sạch bãi biển Bên cạnh đó, thành phố đã cho xây dựng nhiều công trình vệ sinh công cộng ở các bãi biển và hơn 70 hộ kinh doanh ăn uống trên các bãi tắm cam kết về kinh doanh văn minh, lịch sự trên biển Mỗi ngày có 10 đội viên thanh niên xung kích và nhân viên quản lý túc trực ở các bãi tắm để đảm bảo trật tự Ban quan lý kết hợp với chính quyền địa phương kiên quyết dẹp nạn buôn bán hàng rong và gần 50 nhân viên của công ty Môi trường Đô thị túc trực từ sáng đến chiều tối để thu gom rác thải
lý môi trường Và đây cũng là bài học kinh nghiệm bổ ích mà tỉnh Thái Bình
có thể vận dụng Chính quyền các địa phương ở tỉnh Thái Bình cần chủ động hơn nữa trong công tác này
Bài học kinh nghiệm quản lý môi trường theo hướng phát triển bền vững của các quốc gia và ở Đà Nẵng có thể rút ra một số kinh nghiệm về quản lý môi trường tỉnh Thái Bình theo hướng phát triển bền vững như sau:
Trang 20Thứ nhất: Chính quyền tỉnh Thái Bình cần phải thực hiện tốt các văn bản pháp lý về môi trường, phải có sự phối hợp chặt chẽ, thống nhất trong bộ máy quản lý môi trường địa phương
Thứ hai: Thay đổi cách thức nhìn nhận trong quản lý đối với bảo vệ tài nguyên và môi trường so với trước đây giữa cách nhìn nhận quản lý truyền thống với cách nhìn nhận quản lý mới đối với hệ sinh thái thể hiện qua bảng
Quan điểm cứng nhắc, ổn định, cao
trào cộng đồng
Quan điểm không cứng nhắc, linh hoạt
Giảm thiểu, đặc tính xác định Nhìn nhận tổng quát
Dự đoán và kiểm soát Không chắc chắn và linh hoạt
Các giải pháp được phát triển bởi các
cơ quan quản lý tài nguyên và môi
trường đưa ra
Các giải pháp được phát triển thông qua thảo luận giữa các bên tham gia
Sự đối đầu phân cực các vấn đề đơn lẻ Xây dựng sự đồng thuận, các vấn đề
đa phương và đối tác cùng hợp tác
Thứ ba: Trong bối cảnh của thể chế kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ tài nguyên và môi trường cần có sự kết hợp hài hòa giữa các giải pháp quản lý gồm các giải pháp về điều hành và kiểm soát với các giải pháp kinh tế Nên tảng của các giải pháp này là thay đổi nhận thức của con người, chú trọng tới đạo đức, khơi dậy cái “tâm” của con người đối với thiên nhiên Ngoài ra cần phải lượng giá được tài sản của thiên nhiên để có sự
so sánh giữa các phương án lựa chọn phục vụ cho thiết kế chính sách và lựa chọn trong bảo vệ tài nguyên và môi trường
Trên cơ sở nhận thức kinh nghiệm Quốc tế và Thành phố Đà nẵng về quản lý môi trường theo hướng phát triển bền vững, với cách nhìn nhận trước đây từ thế kỉ XIX đến cách nhìn nhận mới hiện nay, Thế giới cũng qua những thăng trầm trong BVMT, từ đó rút ra những kinh nghiệm quý giá cho tỉnh Thái Bình Với vấn đề môi trường của tỉnh Thái Bình, nếu biết khắc phục những tồn tại mà các nước đi trước và Đà Nẵng đã gặp phải, phát huy những
Trang 21kinh nghiệm họ đã thành công, Thái Bình sẽ đạt được không chỉ có sự tăng trưởng về kinh tế cao mà còn bảo vệ được tài nguyên và môi trường phù hợp với xu thế mới của thế kỉ XXI là phát triển bền vững
Trang 22CHƯƠNG 2: HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG
TỈNH THÁI BÌNH 2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội tỉnh Thái Bình
bao quanh, được thông nguồn với gần 70 km con sông lớn nhỏ
Nền địa hình tỉnh Thái Bình là đồng bằng được hình thành cách đây không lâu, đường bờ biển hiện nay chỉ mới được bồi đắp trong vòng 100-200 năm trở lại đây nên có địa hình tương đối bằng phẳng với độ dốc nhỏ hơn 1%, cao trình biến thiên phổ biến từ 1-2m so với mực nước biển, thấp dần từ tây bắc xuống đông nam Tỉnh Thái Bình nằm trong đồng bằng Bắc bộ, có đặc điểm chung của đồng bằng châu thổ, đồng thời có những nét riêng Nhìn chung đất Thái Bình được bồi đắp từ phù sa của các dòng sông lớn: sông Hồng, sông Trà Lý, sông Hóa Trong đó vai trò bồi đắp phù sa của hệ thống sông Hồng là chủ yếu
c)
Khí hậu Thái Bình mang tính chất cơ bản là nhiệt đới ẩm gió mùa, có nhiệt độ trung bình 23º-24ºC, tổng nhiệt độ hoạt động trong năm đạt 8400-8500ºC, số giờ nắng từ 1600-1800h, tổng lượng mưa trong năm 1700-2200mm, độ ẩm không khí từ 80-90%
d) Tài nguyên thiên nhiên
- Tài nguyên đất
Đất đai Thái Bình phì nhiêu màu mỡ do được bồi tụ bởi hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình Hệ thống công trình thuỷ lợi tưới tiêu thuận lợi, góp
Trang 23phần làm nên cánh đồng 14 – 15 tấn/ha và đang thực hiện chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp để xây dựng cánh đồng 50 triệu đồng/ha trở lên
Tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh là 154.584 ha, trong đó: diện tích cây hàng năm có 92.075 ha, diện tích ao hồ đã đưa vào sử dụng là 6.176 ha Hầu hết đất đai đã được cải tạo hàng năm có thể cấy trồng được 3 – 4 vụ, diện tích có khả năng canh tác vào vụ đông khoảng 400.000 ha Ngoài diện tích cấy lúa, đất đai Thái Bình rất thích hợp cho các loại cây thực phẩm (khoai tây, dưa chuột, hành, tỏi, lạc, đậu tương, ớt xuất khẩu…), cây công nghiệp ngắn ngày (đay, dâu, cói…), cây ăn quả nhiệt đới (cam, táo, ổi bo, vải thiều, nhãn, chuối,…), trồng hoa, cây cảnh,…
- Tài nguyên khoáng sản
Thái Bình có mỏ khí đốt Tiền Hải đã được khai thác từ năm 1986, sản lượng khai thác bình quân mỗi năm đạt hàng chục mét khối khí thiên nhiên phục vụ cho sản xuất đồ sứ, thuỷ tinh, gạch ốp lát, xi măng trắng…thuộc khu công nghiệp Tiền Hải Năm 2003, Tổng công ty dầu khí Việt Nam tiến hành
nổ địa chấn 3D lô 103/107 vịnh Bắc Bộ để chuẩn bị cho việc khai thác khí ngoài khơi vịnh Bắc Bộ đưa vào phục vụ phát triển công nghiệp của tỉnh (trữ lượng ước tính ban đầu khoảng 7 tỷ m3) Mỏ nước khoáng Tiền Hải ở độ sâu
450 m có trữ lượng tĩnh khoảng 12 triệu m3, được khai thác từ năm 1992, sản lượng khai thác đạt 9,5 triệu lít/năm với các nhãn hiệu nổi tiếng như nước khoáng Vital, nước khoáng Tiền Hải
Gần đây, vùng đất xã Duyên Hải huyện Hưng Hà đã thăm dò và phát hiện mỏ nước nóng 57oC ở độ sâu 178 m Các mỏ nước này đang được đầu tư khai thác phục vụ phát triển du lịch và chữa bệnh cho nhân dân Trong lòng đất Thái Bình còn có than nâu thuộc bể than nâu vùng đồng bằng sông Hồng, được đánh giá có trữ lượng lớn (hơn 30 tỷ tấn) nhưng phân bổ ở độ sâu 600 – 1.000 m, hiện chưa đủ điều kiện để khai thác
Trang 242.1.2 Tình hình phát triển kinh tế tỉnh Thái Bình
Năm 2013, theo thống kê của Sở Công thương tình hình kinh tế có bước tăng trưởng khá, cao hơn năm 2012 và cao hơn bình quân chung của cả nước Tổng sản phẩm GDP ước đạt 37.188 tỷ đồng, tăng 8,8% so với năm 2012 Tổng giá trị sản xuất ước tăng 9,74%, GDP đầu người ước đạt 26,1 triệu đồng Tổng chi ngân sách địa phương năm 2013 ước đạt 151,6% dự toán và tăng 7,1% so với năm 2012 Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tăng khá, vượt kế hoạch đề ra
Sản xuất nông nghiệp đạt kết quả trên cả ba lĩnh vực Sản xuất nông, lâm, thủy sản vẫn duy trì ổn định và có bước tăng trưởng Các cấp, các ngành tập trung khắc phục hậu quả nặng nề của cơn bão số 8 năm 2012, khôi phục được 6.000 ha cây vụ đông bị thiệt hại, thực hiện công tác phòng trừ sâu bệnh, chăm sóc bảo vệ lúa mùa Năm 2013, năng suất lúa cả năm ước đạt 130,88 tạ/ha, tăng 0,55% so với năm 2012 Chương trình xây dựng và phát triển cánh đồng mẫu đạt kết quả tích cực Tình hình chăn nuôi tiếp tục phát triển theo hướng gia trại, trang trại Toàn tỉnh đã có 62 trang trại quy mô lớn, năm 2013 tăng 9 trang trại so với năm 2012 Sản xuất thủy sản đạt kết quả khá Khai thác thủy sản năm 2013 ước đạt 54.100 tấn, tăng 9,2% so với năm 2012 Công tác quản lý đê điều và phòng chống lụt bão được tăng cường Toàn tỉnh đã trồng được gần 1,4 triệu cây phân tán nội đồng và trên 90 ha rừng ngập mặn Sản xuất công nghiệp có xu hướng phục hồi, tăng trưởng cao hơn năm trước Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2013 tăng 11,87% so với năm 2012 UBND tỉnh đã triển khai thực hiện tốt các cơ chế, chính sách tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm, hạn chế hàng tồn kho Các dự
án trọng điểm, cấp bách được tập trung chỉ đạo đặc biệt là dự án nâng cấp hơn 30km đê biển xung yếu, trực diện với biển mặc dù có nhiều có khăn về vốn và thời tiết xong đã hoàn thành công trình đảm bảo chất lượng và đúng tiến độ đề
ra, góp phần khép kín các tuyến đê xung yếu, trực diện với biển
Hoạt động tín dụng ngân hàng chuyển biến tích cực Tổng nguồn vốn huy động năm 2013 ước đạt 33.570 tỷ đồng, tăng 12,4%, tỷ lệ nợ xấu chiếm 1,6% tổng dư nợ, giảm 0,2% so với năm 2012
Về thu hút đầu tư và phát triển doanh nghiệp, toàn tỉnh hiện có 50 dự án FDI với tổng vốn đầu tư 353 triệu USD, chiếm 56,5% kim ngạch xuất khẩu của tỉnh Hoạt động của các doanh nghiệp trong năm 2013 tuy gặp nhiều khó
Trang 25khăn hơn các năm trước, song hiện nay toàn tỉnh có 3.774 doanh nghiệp, 394 chi nhánh, văn phòng đại diện với tổng số vốn đăng ký là 23.962 tỷ đồng
2.1.3 Điều kiện xã hội tỉnh Thái Bình
Ngành Giáo dục - Đào tạo và khoa học công nghệ được giữ vững và phát triển Trong năm học 2012 - 2013, Thái Bình là một trong 5 tỉnh, thành phố đầu tiên trong cả nước được công nhận đạt phổ cập mầm non cho trẻ 5 tuổi, học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông đạt tỷ lệ cao, số học sinh đỗ đại học, cao đẳng xếp thứ 2 toàn quốc Công tác nghiên cứu khoa học và công nghệ đạt kết quả tích cực Công tác quản lý tiêu chuẩn - đo lường - chất lượng, sở hữu trí tuệ và an toàn bức xạ hạt nhân, thẩm định, giám định công nghệ và thông tin khoa học - công nghệ được tăng cường, đáp ứng yêu cầu đề ra
Công tác y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân, kế hoạch hóa gia đình được triển khai tích cực Ngành Y tế đã tổ chức khám chữa bệnh và tổ chức điều trị Methadone cho người nghiện ma túy Theo Sở Y tế Thái Bình năm 2013, đã
có 269 xã, phường, thị trấn của 8 huyện, thành phố triển khai với 205.000 thẻ bảo hiểm y tế, đạt 16% tổng số thẻ bảo hiểm y tế trên toàn tỉnh Điều trị Methadone cho 139 người nghiện ma túy tại Trung tâm y tế địa phương Thành phố Tỷ lệ tiêm chủng được duy trì đạt 99,99%, tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng giảm còn 15,2%, tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS trong cộng đồng được kiềm chế dưới 0,3% dân số, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 0,82%, mức giảm
tỷ lệ sinh đạt 0,4‰
Các chính sách an sinh xã hội được thực hiện đầy đủ, kịp thời, đảm bảo
ổn định đời sống người dân, nhất là hộ nghèo, các đối tượng chính sách xã hội, gia đình có công với cách mạng Các địa phương trong tỉnh đã hoàn thành xây dựng mới, tu sửa 949 nhà ở cho người có công, tổ chức xây mới và tu sửa 470
mộ liệt sĩ, 12 nhà bia, đài tưởng niệm liệt sĩ Đã hoàn thành hồ sơ đề nghị Thủ tưởng phong tặng 272 bà mẹ Việt Nam anh hùng và truy tặng 2.457 bà
mẹ trong tỉnh
Công tác cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư thường xuyên được quan tâm chỉ đạo và đã đạt được những kết quả tích cực, được người dân, doanh nghiệp đồng tình ủng hộ, đánh giá cao Thực hiện cơ chế một cửa liên thông trong hoạt động đầu tư, từ đầu tháng 9, bộ phận một cửa liên thông của tỉnh đưa vào hoạt động đã tạo thuận lợi cho doanh nghiệp và người dân Công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại tố cáo được duy trì nề nếp Số
Trang 26lượt người đến khiếu nại, tố cáo giảm 21,6%, đơn thư khiếu nại, tố cáo giảm 11,3% Trong năm, toàn ngành Thanh tra đã triển khai 178 cuộc thanh tra, kiểm tra tại 884 lượt đơn vị, phát hiện số tiền sai phạm trên 16,3 tỷ đồng Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong cơ quan nhà nước được đẩy mạnh, tiếp tục triển khai phần mềm Mạng văn phòng điện tử liên thông đến các cơ quan nhà nước trên địa bàn tỉnh và hệ thống thư điện tử của tỉnh đến cấp xã
Công tác đảm bảo trật tự an toàn giao thông, phòng ngừa, ngăn chặn, xử
lý các vi phạm về quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ và pháo được chỉ đạo thực hiện quyết liệt, đạt kết quả tích cực, được Chính phủ khen thưởng Tình hình trật tự an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh được đảm bảo, tội phạm được khống chế, một số loại tội phạm giảm Công tác phòng, chống cháy nổ giảm đáng kể so với năm trước, không xảy ra các vụ cháy lớn, nghiêm trọng trên địa bàn tỉnh
2.2 Hiện trạng môi trường tỉnh Thái Bình
2.2.1 Hiện trạng môi trường không khí
Thái Bình là một tỉnh trọng điểm trồng lúa của Đồng bằng sông Hồng Hoạt động đốt rơm rạ trên đồng ruộng diễn ra rất phổ biến trên địa bàn tỉnh trong thời gian gần đây, gây ra nhiều hậu quả cho môi trường
Khi đốt rơm rạ các chất hữu cơ trong rơm rạ và trong đất sẽ biến thành chất vô cơ nên tro than của rơm rạ cũng chỉ cung cấp được một lượng dinh dưỡng rất nhỏ cho đồng ruộng Việc nung đốt ở nhiệt độ cao sẽ làm cho một lượng nước lớn trong đất bị bốc hơi Một thửa ruộng nếu bị nung đốt nhiều lần sẽ làm cho đất biến chất và trở nên chai cứng
Một tác hại khác của đốt rơm rạ là gây ô nhiễm môi trường Bởi lẽ khi đốt rơm rạ, không chỉ có khí CO2 (dioxid cacbon) thải vào không khí, mà các khí độc khác như CH4 (metan), khí CO (cacbon monoxid) và một ít khí SO2 (dioxid sunfur) cũng thải vào Hơn nữa, thành phần chủ yếu của rơm rạ là chất xenlulozơ, hemixenlulozơ và các chất hữu cơ kết dính khi đốt cháy sẽ tạo ra các loại khí độc, con người hít vào sẽ gây ảnh hưởng đến sức khỏe, nhất
là sẽ dễ mắc các chứng bệnh về đường hô hấp, gây co thắt phế quản và không loại trừ nguy cơ gây ung thư phổi
Đốt bỏ rơm rạ còn là một sự lãng phí Theo Viện Nghiên cứu lúa Quốc tế trong 1 tấn rơm chứa 5-8kg đạm, 1,2kg lân, 20kg kali, 40kg silic và 400kg carbon
Trang 27Do vậy, đốt bỏ rơm rạ cũng có nghĩa là đã bỏ đi một lượng phân bón, chất dinh dưỡng cần thiết cho cây lúa
Cuối cùng, việc đốt đồng còn tiêu diệt các loại côn trùng có ích, đây là một trong những nguyên nhân làm mất cân bằng sinh thái ruộng lúa - một trong những nguyên nhân gây bộc phát sâu bệnh trên đồng ruộng, buộc bà con nông dân phải sử dụng một lượng lớn thuốc bảo vệ thực vật để phòng trừ, khiến chi phí sản xuất lúa cao
Bảng 2.1: Lượng khí thải từ việc đốt rơm rạ trên địa bàn tỉnh Thái Bình
Thụy
Kiến Xương Hưng Đông Quỳnh Phụ
Tiền Hải
Hưng
Hà
Vũ Thư Thái Tp
Bình
Toàn Tỉnh
Nguồn: Trung tâm quan trắc và Mô hình hóa môi trường năm 2012
CO2 phát thải lớn nhất 738.8 nghìn tấn/năm chiếm 89,6% tổng lượng phát thải khí, tiếp đến là khí CO phát thải 58,4 nghìn tấn/năm chiếm 7,08% tổng lượng phát hải khí Phần còn lại (3,35%) là các khí PM25, PM10, SO2,
NOx, NH3, CH4, NMVOC, EC, OC Kết quả tính toán lượng khí phát thải do đốt rơm rạ năm 2012 cho thấy mức đóng góp lớn nhất tập trung ở các huyện Thái Thụy, Quỳnh Phụ Sau đó là Đông Hưng, Kiến Xương, còn thành phố Thái Bình là khu vực phát thải khí thấp nhất Nguyên nhân là do Thái Thụy
và Quỳnh Phụ là những khu vực có diện tích và sản lượng lúa lớn nhất
Trang 28Ngoài ra các khu vực tập trung sản xuất công nghiệp như như KCN Gia
Lễ, KCN Thái Thọ, KCN Vũ Thư… cũng là những vị trí có hàm lượng bụi cao vượt mức cho phép
Hàm lượng các khí độc hại như: SO2, NO2 cũng nằm trong giới hạn tiêu chuẩn cho phép theo tiêu chuẩn Việt Nam về chất lượng không khí xung quanh TCVN 3937- 2005
Tiếng ồn tại phần lớn các điểm đo đặc biệt tại một số nút giao thông quan trọng như ngã tư Thanh Nê, KCN Gia Lễ,… đều vượt tiêu chuẩn nhất là trong những giờ cao điểm đối tại các đường giao thông
Theo nguồn sức khỏe đời sống Việt Nam, từ lâu, tại xã An Bài, huyện
Quỳnh Phụ (Thái Bình), tình trạng một số lò vôi thủ công hoạt động trái phép vẫn diễn ra khá phổ biến Hàng ngày, tại khu vực này có tới hàng chục ống khói của các lò vôi như những “vòi rồng” nhả khói đen mù mịt lên trời Việc không đảm bảo các điều kiện trong khi hoạt động sản xuất đã khiến môi trường nơi đây từ nhiều năm qua bị ô nhiễm nghiêm trọng
Tại khu vực gần với lò vôi là các nhà dân sinh sống nhưng luôn trong cảnh “cửa đóng then cài” suốt ngày nhưng cũng không tránh khỏi bụi bẩn và tiếng ồn Thực tế đã có nhiều người mắc các bệnh về đường hô hấp như viêm phổi, viêm mũi dị ứng, ho mãn tính… Đề nghị chính quyền sở tại cần sớm có những biện pháp chấn chỉnh để tình trạng trên không còn tiếp diễn
2.2.2 Hiện trạng môi trường nước
a) Hiện trạng môi trường nước mặt lục địa
- Các hoạt động gây ô nhiễm nguồn nước mặt
+Xả nước thải từ sản xuất nông nghiệp
Ngoài nhiệm vụ cung cấp nước, hệ thống sông ngòi còn đóng một vai trò rất quan trọng là trục tiêu thoát nước chính trên địa bàn tỉnh
Tỉnh Thái Bình có hai hệ thống công trình thủy lợi phục vụ tưới tiêu nước cho sản xuất nông nghiệp là hệ thống thủy nông Bắc Thái Bình và hệ thống thủy nông Nam Thái Bình Nước thải từ sản xuất nông nghiệp gồm nước thải từ các ruộng trồng lúa có các hoá chất của phân bón, các loại thuốc bảo vệ thực vật, nước thải từ chăn nuôi…đều tiêu ra hệ thống sông trục nội đồng và gây ô nhiễm nguồn nước mặt của hệ thống thuỷ lợi sau đó được tiêu
ra biển và hạ lưu sông Trà Lý, sông Hồng và sông Hoá
Trang 29Theo thống kê Sở Tài nguyên và Môi trường Thái Bình về hóa chất sử dụng trong nông nghiệp, hàng năm trung bình toàn tỉnh sử dụng gần 550.000 tấn phân bón hữn cơ, 210.000 tấn phân bón vô cơ và trên 620 tấn hoá chất thuốc bảo vệ thực vật các loại Các loại phân bón và hoá chất BVTV một phần ngấm vào đất còn lại hoà tan trong nước ruộng tiêu thoát vào các kênh, sông trục tiêu của 2 hệ thống thuỷ lợi bắc và nam tỉnh, gây ô nhiễm nguồn nước mặt theo xu hướng ngày một tăng
+ Xả nước thải sinh hoạt của các khu dân cư
Bốn con sông lớn: sông Hồng đi qua 29 xã thuộc các huyện Hưng Hà,
Vũ Thư, Kiến Xương và Tiền Hải, sông Trà Lý đi qua 41 xã thuộc các huyện Hưng Hà, Vũ Thư, Đông Hưng, TP TháI Bình, Kiến Xương, Tiền Hải và Thái Thuỵ, sông Luộc đi qua 15 xã thuộc các huyện Hưng Hà, Quỳnh Phụ, sông Hoá đi qua 19 xã thuộc các huyện Quỳnh Phụ, Thái Thuỵ Các sông lớn trên không trực tiếp tiếp nhận nước thải sinh hoạt mà chỉ đóng vai trò là nguồn cung cấp nước cho hệ thống tiêu thoát nước thải của các sông nội địa
Các con sông trực tiếp nhận nước thải sinh hoạt trên địa bàn tỉnh bao gồm: sông Pari, sông Vĩnh Trà, sông Bồ Xuyên, sông Bạch, sông 3/2, sông Kiến Giang, sông Long Hầu, sông Diêm Hộ, sông Sa Lung và sông Tiên Hưng Nước thải sinh hoạt lớn và tập trung nhiều nhất là thành phố Thái Bình ước tính khoảng 8.350 m3/ngày đêm, tức là 3.047.750 m3/năm Còn lại lượng thải sinh hoạt từ các cụm dân cư các xã, thị trấn vào hệ thống sông không nhiều do phần lớn các khu dân cư chưa có hệ thống tiếp nhận nước thải tập chung, nước thải chủ yếu được thu vào cống, rãnh đơn lẻ sau đó được xả vào
hệ thống kênh mương nội đồng, ao hồ trong khu dân cư Về mùa khô, phần lớn lượng nước nước thải ngấm xuống đất, mùa mưa, nước thải hoà cùng nước mưa chảy vào hệ kênh mương nông nghiệp và được tiêu ra hệ thống sông bằng động lực hoặc tiêu tự chảy
+ Xả nước thải từ sản xuất của các làng nghề
Theo Sở Công Thương tỉnh Thái Bình tính đến năm 2013, trên địa bàn tỉnh đã có 242 làng nghề và 8 xã nghề được UBND tỉnh cấp bằng công nhận với 13 nhóm làng nghề chính như: ươm tơ, dệt vải, đồ da, chế biến lương thực, thực phẩm, mây tre đan, thủ công mỹ nghệ, thêu ren, cơ khí, tái chế phế liệu, dệt chiếu và sản xuất vật liệu xây dựng Hiện số làng nghề đang được khôi phục, phát triển, mở rộng với các quy mô và cấp độ khác nhau nhưng công
Trang 30nghệ sản xuất ít được thay đổi, chủ yếu vẫn dùng các công nghệ lạc hậu, sử dụng nhiều nhiên liệu đầu vào, sản phẩm phế thải còn nhiều Bên cạnh đó là quy trình sản xuất không khép kín, hệ thống xử lý chất thải không được đầu
tư, hệ thống tổ chức và quy chế quản lý môi trường các làng nghề chưa hoàn chỉnh cũng là những nguyên nhân quan trọng làm cho tình trạng ô nhiễm môi trường của các làng nghề tăng, kéo theo hàng loạt những vấn đề về ô nhiễm không khí, nước mặt, nước ngầm…Sự ô nhiễm này sẽ lan rộng khi nguồn nước thải đổ vào các dòng sông gây ô nhiễm dòng chảy mặt, ở mức độ nhẹ thì chỉ gây ô nhiễm ngay vị trí xả thải, mức độ nặng sẽ là một đoạn sông, thậm chỉ là cả sông Do vậy, vấn đề xả thải của các làng nghề vào các con sông cần được xem xét một cách nghiêm túc
Theo Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thái Bình về một số làng nghề điển hình về ô nhiễm môi trường trên địa bàn tỉnh là :
+ Làng nghề diệt, nhuộm xã Thái Phương với hơn 20 doang nghiệp dệt nhuộm, nước thải trong sản xuất không được xử lý làm ô nhiễm môi trường nước sinh hoạt nghiêm trọng
+ Làng nghề mây tre đan xã Thượng Hiền (Kiến Xương), xã Thái Xuyên (Thái Thụy) sử dụng lưu huỳnh trong sấy nguyên liệu gây ô nhiễm không khí,
sử dụng hóa chất tẩy trắng, tẩy mốc gây ô nhiễm nguồn nước
+ Làng nghề tơ mũi xã Nam Cao (huyện Kiến Xương) mỗi năm sử dụng gần 300 tấn nguyên liệu và hơn 20 tấn hóa chất các loại như axit, xi li cát, xà phòng, thuốc tẩy Tất cả các loại hóa chất nói trên sau khi sử dụng đều chảy ra vườn, ao hồ, cống rãnh, mương máng trên địa bàn xã
+ Làng nghề trạm bạc xã Lê Lợi, Hồng Thái, Trà Giang (huyện Kiến Xương) công đoạn tẩy, rửa, làm bóng, tạo muối bạc, hóa bạc và mạ bạc gây ô nhiễm môi trường nước nghiêm trọng
Hầu hết nước thải của các làng nghề không được xử lý Trong số đó có làng nghề thải trực tiếp nước thải xuống hệ thống sông, có làng nghề thải về các kênh mương dẫn nước thuỷ lợi, được sử dụng cho nông nghiệp, về mùa mưa tiêu ra ngoài các sông chính nhờ hệ thống cống tiêu, trạm bơm tiêu + Xả nước thải từ sản xuất của các khu, cụm công nghiệp
Theo quy hoạch phát triển các khu công nghiệp của tỉnh đến năm 2020 toàn tỉnh có 18 KCN với tổng diện tích 4.633 ha, 7 KCN đã được Chính phủ
Trang 31chấp thuận là KCN Phúc Khánh, Nguyễn Đức Cảnh, Tiền Hải, Gia Lễ, Cầu Nghìn, Sông Trà và An Hoà trên diện tích 1.683 ha Vào thời điểm hiện tại, hầu hết các KCN, CCN chưa có hệ thống xử lý nước thải tập trung , hàng năm phát sinh một lượng rất lớn nước thải
Bảng 2.2: Khối lượng nước thải sản xuất các KCN, CCN điển hình
(Nguồn: Sở Tài nguyên và Môi trường Thái Bình)
Sự phát triển của công nghiệp kéo theo mặt trái của nó là vấn đề ô nhiễm môi trường Vấn đề khí thải, nước thải của các nhà máy đang là vấn đề nổi cộm trên địa bàn tỉnh Đa số các khu công nghiệp trong quá trình trình hồ sơ phê duyệt đều có báo cáo đánh giá tác động môi trường và hệ thống xử lý môi trường đạt tiêu chuẩn cho phép nhưng khi hoạt động thì hệ thống xử lý môi trường không được xây dựng, hoặc nếu có thì công nghệ xử lý không đạt yêu cầu Nước thải của các khu công nghiệp hầu hết được xả ra hệ thống sông xương cá rồi mới tiêu ra các sông nội địa như Kiến Giang, Sa Lung, Tiên Hưng, Diêm Hộ Do vậy việc xác định chính xác lượng nước thải ra các dòng sông là rất khó, thậm chí xác định lượng nước thải tại chỗ của các khu công nghiệp cũng rất khó khăn
Như vậy một trong những nguồn gây ô nhiễm chính nước mặt của tỉnh là
từ nước xả thải sản xuất của các KCN, CCN và làng nghề Việc đầu tư xử lý nước thải công nghiệp sẽ là yêu cầu cấp bách tại thời điểm hiện tại
+ Tình hình xâm nhập mặn
Mặn là hiện tượng xâm nhập của nước biển vào các cửa sông, về mùa khô dưới tác động của triều biển, cộng thêm gió khiến nước biển tạo thành dòng chảy từ biển vào sâu cửa sông trên nền của nguồn nước thượng lưu đổ về
Trang 32trong thời kỳ kiệt Độ mặn vượt mức tiêu chuẩn cho phép làm ảnh hưởng đến nguồn nước dùng sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp và công nghiệp
- Diễn biến ô nhiễm nguồn nước mặt lục địa
Diễn biến ô nhiễm hay diễn biến chất lượng nguồn nước mặt lục địa của tỉnh Thái Bình nằm ở hạ lưu sông Hồng phụ thuộc các yếu tố: trữ lượng dòng chảy của sông Hồng, trong các mùa, mức độ xả nước thải của các tỉnh vùng thượng lưu, cũng như mức độ xả nước thải gây ô nhiễm tại địa bàn của tỉnh
- Diễn biến chất lượng nước trên các sông lớn (sông Hồng, sông Trà Lý, sông Luộc, sông Hóa)
Hình 2.1: Hàm lƣợng BOD 5 trên các sông thuộc tỉnh Thái Bình
Trên cơ sở các tài liệu thu thập kết quả phân tích chất lượng nguồn nước mặt của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh năm 2012 cho phép định lượng đánh giá khái quát diễn biến chất lượng nước mặt lục địa cụ thể như sau: + Chất lượng nước mặt ở các con sông lớn trên địa bàn tỉnh đã có dấu hiệu của sự ô nhiễm, tại một số điểm đã vượt nhiều lần so với QCVN 08:2008/BTNMT (cột A1)
+ Bên cạnh tác động từ hoạt động sinh hoạt của nhân dân, từ sản xuất công nghiệp, nông nghiệp trên địa bàn tỉnh, các con sông lớn còn bị tác động bởi hiện tượng xâm nhập mặn: trung bình với độ mặn 1‰ và 4‰ thì sông
Sông Hồng, Cống Tân
Đệ
Sông Hồng, xã Hòa Bình, Vũ Thư
Sông Hóa, xã Thụy Quỳnh, Thái Thụy
mg/l
Trang 33Hồng vào sâu 10 km và 2 km, sông Trà Lý vào sâu 8 km và 3 km Chiều dài xâm nhập mặn 1‰ xa nhất trên sông Trà Lý là 20 km và trên sông Hồng là 14 km
- Diễn biến chất lượng nước trên hệ thống sông nội đồng
Diễn biến chất lượng nước trong hệ thống sông nội đồng không chỉ phụ thuộc vào nguồn gây ô nhiễm trong địa bàn tỉnh mà còn phụ thuộc rất lớn vào việc điều hành lấy nước từ các sông lớn và tiêu nước ra biển cũng như hạ lưu các sông lớn của hai hệ thống công trình thuỷ lợi ở từng thời đoạn trong năm Qua kết quả phân tích mẫu nước trên các sông trục chính nội đồng: sông Kiến Giang ở hệ thống thuỷ nông Nam Thái Bình và Sông Tiên Hưng - Sa Lung ở hệ thống thủy nông Bắc Thái Bình, cho thấy đã có dấu hiệu của sự ô nhiễm trên các sông nội đồng Mức độ ô nhiễm của hệ thống sông nội đồng rất cao và có dấu hiệu tăng nhanh qua các năm, trong đó đặc biệt là sông Kiên Giang- nơi tiếp nhận trực tiếp nước thải sinh hoạt công nghiệp, nông nghiệp của khu vực phía nam tỉnh Thái Bình
Các chỉ tiêu đặc trưng cho ô nhiễm nước thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp (như BOD, NH+4, COD, Fe, Coliform ) trong nước sông ở giai đoạn hệ thống trữ nước phục vụ cấp nước cho sản xuất nông nghiệp tăng rất cao, gây ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt, xu thế ngày càng nghiêm trọng hơn
- Diễn biến chất lượng nước trong hệ thống ao hồ
Số liệu Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thái Bình năm 2012 tại một
số làng nghề điển hình trên địa bàn tỉnh cho thấy:
Ô nhiễm coliform trong mùa mưa ở hầu hết các ao cao hơn mùa khô nhiều lần Diễn biến chất lượng nước các ao, hồ tại những nơi không có hệ thống cấp nước từ công trình thuỷ lợi, ao tự, các ao sử dụng cho mục đích chăn nuôi thủy cầm, thả cá…có dấu hiệu ô nhiễm NH4
+
, NO2 -
, Cl-, coliform Các ao hồ tiếp nhận xả thải tại các làng nghề đang bị ô nhiễm nặng bởi vi sinh vật, các chất hữu cơ (COD, BOD5)
Hệ thống các ao, hồ tại sử dụng cho mục đích chăn nuôi thủy cầm, thả cá…có dấu hiệu ô nhiễm NH4+, NO2-, Cl-, coliform, còn lại hầu hết các chỉ tiêu đều đạt tiêu chuẩn QCVN 08: 2008/BTNMT Các ao hồ tiếp nhận xả thải tại các làng nghề đang bị ô nhiễm nặng bởi vi sinh vật, các chất hữu cơ
Trang 34b) Hiện trạng môi trường nước dưới đất
Chất lượng nguồn nước ngầm trên địa bàn tỉnh đã có dấu hiệu bị ô nhiễm Vào thời điểm hiện tại hầu hết các chỉ tiêu đều nằm dưới tiêu chuẩn, tuy nhiên qua các kết quả quan trắc hàng năm cho thấy nồng độ các chất ô nhiễm đang có xu thế tăng lên qua các năm Đặc biệt là tình trạng ô nhiễm kim loại Fe, As, Asen trong nguồn nước ngầm của tỉnh có diễn biến khá phức tạp Thái Bình tuy được đánh giá là có nồng độ nhiễm asen trung bình nhưng
sự phát triển các KCN tăng cao và do nằm sát các nguồn ô nhiễm asen nặng như Hà Nội, Nam Định nên nguồn nước ngầm bị nhiễm asen đang có xu hướng tăng mạnh qua các năm Đáng chú ý là tỉ lệ mẫu nhiễm Arsenic vượt chỉ tiêu cho phép (0.05mg/l) toàn tỉnh chiếm 12,53% tổng số mẫu thí nghiệm, trong đó có 3 huyện tỷ lệ nhiễm cao hơn bình quân chung, cao nhất là huyện
Vũ Thư (29,59%), Hưng Hà (21,59%) và Tiền Hải (14,74%) Một số xã ven sông lớn có tỉ lệ mẫu nhiễm Arsenic vượt quy định rất cao từ 2-10 lần tỉ lệ cho phép như xã Bách Thuận, huyện Vũ Thư có 94/100 mẫu, xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư có 80/100 mẫu
c) Hiện trạng môi trường nước biển ven bờ
Ô nhiễm môi trường từ khu công nghiệp tập trung do các hoạt động sản xuất của các cơ sở sản xuất trong và ngoài khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh gây ra, chất thải không qua xử lý thải trực tiếp ra lưu vực sông và đổ ra biển
Bảng 2.3: Tổng thải lượng một số chất gây ô nhiễm đổ ra biển của
một số hệ thống sông và cả nước
Hệ thống sông Thông số, đơn vị: tấn/năm
Thái Bình 1101 154 3352 120 17 164 10466 9888 Hồng 2817 730 2015 448 11 118 24602 14860
Trang 35Hình 2.2: Tổng thải lượng một số chất gây ô nhiễm đổ ra biển của
một số hệ thống sông và cả nước
Theo biểu đồ Thái Bình thải lượng chất gây ô nhiễm đổ ra biển chỉ sau hai hệ thống sông lớn của cả nước là sông Hồng và sông Mê Kông Hàm lượng ô nhiễm chủ yếu của sông Thái Bình so với cả nước là NO3 (chiếm 41,43%) và PO4 (chiếm 39,14%)
Theo số liệu thống kê của ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trung bình một năm, hoạt động sản xuất nông nghiệp của tỉnh sử dụng từ 250-
300 tấn thuốc bảo vệ thực vật và hàng trăm ngàn tấn phân bón hoá học các loại, đây là nguồn ô nhiễm phát sinh từ sản xuất nông nghiệp thải ra các sông nội đồng cùng với chất thải công nghiệp và sinh hoạt tập trung thải ra các cửa sông ven biển, đã thể hiện hàm lượng kim loại nặng và dư lượng hoá chất bảo
vệ thực vật tại các vùng cửa sông ven biển luôn cao hơn các vùng biển khác Khu công nghiệp (KCN) Tiền Hải rộng gần 250 ha bước đầu thu hút 36
dự án đầu tư Hiện, đang có 27 doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh, chủ yếu trong lĩnh vực sứ vệ sinh, thủy tinh pha lê và gạch ốp lát Nhưng cho đến nay, KCN vẫn chưa có nhà máy xử lý nước thải tập trung Bãi chứa và xử
lý chất thải rắn hoạt động từ cuối năm 2010 nhưng mới chỉ có 2 doanh nghiệp tham gia đổ chất thải rắn, gần như toàn bộ chất thải từ các cơ sở sản xuất đều
xả thẳng ra môi trường, gây ô nhiễm nặng nề Nếu ai từng có lần xuống tới bãi biển Đồng Châu hay đến với Cồn Vành một địa danh mới nổi của Thái Bình hẳn sẽ có ấn tượng khó quên bởi những bãi chất thải và vật liệu được đổ một cách hiên ngang hai bên vệ đường Ngày nắng thì khói bụi bay mù từ
Trang 36những ống khói sản xuất gốm, ngày mưa những bãi đất sét ven đường lênh láng nước thải vì những hành vi xâm hại đến môi trường một cách cực đoan Việc nuôi trồng thuỷ sản theo hình thức thâm canh và bán thâm canh tại các địa phương ven biển trong những năm qua có những ảnh hưởng như sau: suy giảm diện tích rừng ngập mặn do chặt phá để nuôi trồng thuỷ sản, nuôi trồng thuỷ sản thả giống với mật độ dày đặc, sử dụng nhiều thức ăn, phân bón, thuốc trị bệnh đã làm tăng chất thải và không được xử lý dẫn đến ô nhiễm môi trường nguồn nước cho nuôi trồng, lây lan dịch bệnh, hậu quả là thất bại trong việc nuôi trồng thuỷ sản và ảnh hưởng tới môi trường sinh thái, đa dạng sinh học, điển hình như Công ty TNHH Việt Mỹ, Công ty thương mại tổng hợp Hà Nội, mô hình nuôi tôm công nghiệp xã Nam Cường
Bảng 2.4: Tổng hợp kiểm soát, quan trắc, giám sát
chất lượng môi trường
bình 2 lần đo
2008/BTNMT
13 Dư lượng TBVTV Phot
(Nguồn : Sở tài nguyên và Môi trường Thái Bình, 2012) Ghi chú: Mẫu nước ven biển gần cửa sông Trà lý
Trang 372.2.3 Hiện trạng môi trường đất
Hiện trạng ô nhiễm môi trường đất do các hoạt động công nghiệp tại Thái Bình chưa đến mức báo động do Thái Bình là một tỉnh nông nghiệp, về công nghiệp trong những năm qua đã có những phát triển đáng kể tuy nhiên chủ yếu là công nghiệp nhẹ như may mặc, bia rượu nước giải khát Kết quả phân tích các chỉ tiêu kim loại nặng trong đất tại bảng 1 và bảng 2 cho thấy thành phần kim loại các kim loại nặng như Cu, Pb, Zn, Cr, As đều nằm dưới QCVN 03:2008/BTNMT
Bảng 2.5: Kết quả phân tích các kim loại nặng trong đất và trầm tích
phân tích
03÷2008 /BTBM
T
Cửa Trà
lý
Cửa Lân
Cửa Diêm Điền
Trầm tích sông Bạch
(Nguồn: Báo cáo hiện trạng môi trường tỉnh Thái Bình năm 2012)
Ô nhiễm môi trường đất của Thái Bình diễn ra như sau:
Thoái hóa, bạc màu đất: Quỹ đất và chất lượng đất ngày càng bị giảm sút,
hiện tượng thoái hóa, bạc màu đất canh tác khá phổ biến ở các vùng núi cao do
sử dụng không hợp lý, chặt phá rừng đầu nguồn gây sói mòn và rửa trôi mạnh, độc canh một số loại cây trồng và sử dụng các phương tiện cơ giới, tốc độ đô thị hóa ngày càng phát triển
Tình hình sử dụng phân bón trong nông nghiệp: Mức độ bón phân liên
quan rất chặt chẽ đến loại hình phát triển cây trồng ở từng tỉnh, huyện và nhìn chung sử dụng không đồng đều Mật độ bón phân/ha/năm ở địa phương cao