1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

giải pháp phát triển du lịch bền vững tại thị xã sầm sơn

71 988 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 1,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thứ hai, coi phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm của giai đoạn phát triển sắp tới, bảo đảm an ninh lương thực, năng lượng để phát triển bền vững, bảo đảm vệ sinh và an toàn thực ph

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Những thông tin, số liệu, kết quả được sử dụng trong khóa luận tốt nghiệp này là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng Tôi xin chịu mọi trách nhiệm về các thông tin đã đưa ra trong khóa luận

Hà Nội, ngày 20 tháng 5 năm 2014

Sinh viên thực hiện

Nguyễn Thị Hà

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới Thạc

sĩ Trần Thị Ninh, giảng viên khoa Quy hoạch phát triển, Học viện Chính sách

và Phát triển đã tận tình hướng dẫn và động viên tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện khóa luận

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Tiến sĩ Vũ Đình Hòa, phó trưởng phòng Công tác chính trị sinh viên, Học viện Chính sách và Phát triển đã giúp

đỡ và có những góp ý chân thành cho khóa luận tốt nghiệp của tôi

Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các thầy, cô giáo trong khoa Quy hoạch phát triển đã truyền đạt kiến thức trong suốt 4 năm học tập tại Học viện cũng như tạo điều kiện tốt nhất để tôi có thể hoàn thành khóa luận này

Trong quá trình làm khóa luận khóa luận tốt nghiệp, mặc dù có nhiều

cố gắng nhưng do trình độ và thời gian còn hạn chế nên khóa luận không thể tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, tôi mong nhận được sự góp ý, bổ sung của thầy, cô giáo để khóa luận được hoàn thiện hơn

Hà Nội, ngày 20 tháng 5 năm 2014

Sinh viên thực hiện

Nguyễn Thị Hà

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Kết cấu khóa luận 3

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG 4

1.1 Phát triển bền vững 4

1.1.1 Quan niệm 4

1.1.2 Các nguyên tắc đảm bảo cho phát triển bền vững 5

1.2 Phát triển du lịch bền vững 7

1.2.1 Khái niệm 7

1.2.2 Vai trò của phát triển du lịch bền vững đối với kinh tế - xã hội 8

1.2.3 Các nhân tố tác động đến phát triển du lịch bền vững 9

1.2.4 Các nguyên tắc phát triển du lịch bền vững 11

1.2.5 Chỉ tiêu đánh giá phát triển du lịch bền vững 16

1.3 Kinh nghiệm phát triển du lịch bền vững 18

1.3.1 Kinh nghiệm quốc tế 18

1.3.2 Kinh nghiệm trong nước 22

1.3.3 Bài học rút ra cho phát triển du lịch bền vững thị xã Sầm Sơn 23

CHƯƠNG 2: TIỀM NĂNG VÀ HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN 24

DU LỊCH TẠI THỊ XÃ SẦM SƠN 24

2.1 Tiềm năng phát triển du lịch tại thị xã Sầm Sơn 24

2.1.1 Vị trí địa lí 24

2.1.2 Tài nguyên du lịch tự nhiên 25

2.1.3 Tài nguyên du lịch nhân văn 31

2.1.4 Kết cấu hạ tầng 36

2.1.5 Cơ chế, chính sách phát triển du lịch 38

2.2 Hiện trạng phát triển du lịch tại thị xã Sầm Sơn 38

2.2.1 Hiện trạng khách du lịch 38

2.2.2 Doanh thu từ du lịch 39

2.2.3 Lao động phục vụ du lịch 40

2.2.4 Cơ sở vật chất – kĩ thuật phục vụ cho ngành du lịch 42

2.2.5 Hiện trạng đầu tư phát triển du lịch 43

Trang 4

2.2.6 Đánh giá chung về phát triển du lịch bền vững tại thị xã Sầm Sơn 44

CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG THỊ XÃ SẦM SƠN, TỈNH THANH HÓA 49

3.1 Quan điểm phát triển 49

3.2 Mục tiêu phát triển 49

3.3 Định hướng phát triển 50

3.3.1 Định hướng phát triển cơ sở hạ tầng kĩ thuật phục vụ du lịch biển 50

3.3.2 Định hướng đầu tư phát triển 50

3.3.3 Định hướng bảo vệ tài nguyên và môi trường du lịch biển 51

3.3.4 Định hướng về tổ chức hoạt động du lịch biển 52

3.4 Các giải pháp phát triển du lịch bền vững biển Sầm Sơn tỉnh Thanh Hóa 52

3.4.1 Giải pháp về quy hoạch phát triển 52

3.4.2 Giải pháp về đầu tư phát triển 54

3.4.3 Giải pháp về phát triển nguồn nhân lực 55

3.4.4 Giải pháp về phát triển bền vững môi trường du lịch 55

3.4.5 Giải pháp về hợp tác phát triển 57

3.4.6 Giải pháp về quản lý phát triển 57

3.4.7 Giải pháp về tôn tạo di tích lịch sử văn hóa, phát triển các danh thắng tại thị xã Sầm Sơn 58

3.4.8 Tăng cường nâng cao tính trách nhiệm của cộng đồng 59

3.4.9 Tăng cường công tác quảng bá, xúc tiến du lịch 59

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 61

1 KẾT LUẬN 61

2 KHUYẾN NGHỊ 62

TÀI LIỆU THAM KHẢO 64

Trang 5

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

ODA Official Development Assistance

Trang 6

DANH MỤC HÌNH ẢNH

3 Hình 2.3: Hòn Trống Mái (Thị xã Sầm Sơn, Thanh Hóa) 32

4 Hình 2.4: Lễ hội bánh chưng – bánh dày thị xã Sầm Sơn 33

5 Hình 2.5: Lễ hội khai mạc 100 năm du lịch Sầm Sơn 34

6 Hình 2.6: Sơ đồ các trục đường giao thông khu vực nội thị thị xã

Sầm Sơn

37

9 Hình 2.9: Nước thải trực tiếp ra bãi biển 46

Biểu đồ 2.1: Doanh thu từ hoạt động du lịch của thị xã Sầm

5

Biểu đồ 2.2: Tổng lượng khách du lịch đến Sầm Sơn giai

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Sự phát triển nhanh và mạnh của ngành công nghiệp không khói trong những năm vừa qua đã, đang mang lại nguồn thu quan trọng cho các nền kinh

tế Với tiềm năng hết sức to lớn của mình, du lịch được xem là một trong những ngành kinh tế lớn của thế giới Đầu tư vào du lịch là mở ra sự phát triển mới, nhà nước quản lí về du lịch và chỉ đạo các chiến lược kinh doanh đi đôi với việc hợp tác về du lịch Tuy nhiên, cũng như nhiều ngành kinh tế khác, bên cạnh sự phát triển nhanh của ngành công nghiệp này, chúng đang ta phải đối mặt với tình trạng ô nhiễm môi trường tại các khu du lịch, các tệ nạn

xã hội liên quan đến du lịch gia tăng Sự phát triển của ngành du lịch ngày càng nhận được nhiều sự quan tâm hơn và đã được đặt trong bối cảnh của sự phát triển hướng tới tính bền vững

Thị xã Sầm Sơn là địa bàn ven biển, nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Thanh Hóa, vùng được thiên nhiên ban tặng nhiều tài nguyên, danh lam, thắng cảnh đẹp, quyến rũ Sầm Sơn còn là vùng đất có truyền thống lịch sử, giàu bản sắc văn hóa, mang đậm chất dân tộc Việt Đã từ lâu, du lịch được coi là ngành mang lại nguồn thu nhập chính cho nhân dân trong vùng Hàng năm, Sầm Sơn đón hơn triệu lượt khách đến tham quan, đem lại nguồn doanh thu hàng trăm tỷ đồng Thế nhưng thực tế những năm qua, du lịch Sầm Sơn được đề cập đến nhiều trên báo chí và các mạng xã hội không còn vì vẻ đẹp nên thơ của nó mà vì tính không chuyên nghiệp của một khu

du lịch nổi tiếng Tình trạng ô nhiễm môi trường, chặt chém, phát triển cơ

sở hạ tầng không theo quy hoạch… đang làm cho Sầm Sơn dần xấu hơn trong mắt khách du lịch Sự phát triển nóng về du lịch Sầm Sơn đang đứng trước những thách thức không bền vững nếu không được kiểm soát với mục tiêu bền vững

Với mong muốn được nghiên cứu, tìm hiểu một cách có khoa học và hệ thống về phát triển bền vững, đánh giá thực trạng hoạt động du lịch biển Sầm

Trang 8

Sơn để từ đó đưa ra một số phương hướng và giải pháp khắc phục những tồn tại, đẩy mạnh phát triển du lịch biển Sầm Sơn, đưa du lịch biển thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của một đô thị loại III tôi đã chọn đề tài khóa luận: “Giải pháp phát triển du lịch bền vững tại thị xã Sầm Sơn”

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục tiêu

Trên cơ sở nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về du lịch bền vững, phân tích tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch bền vững tại thị xã Sầm Sơn từ đó đề xuất một số giải pháp phát triển bền vững hoạt động du lịch tại đây

2.2 Nhiệm vụ

- Tổng quan cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển bền vững

- Đánh giá tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch tại thị xã Sầm Sơn

- Đề xuất các định hướng, giải pháp cho phát triển du lịch tại thị xã

Sầm Sơn

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Tiềm năng, thực trạng phát triển du lịch bền vững tại thị xã Sầm Sơn

4 Phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu

Do thời gian ngắn hạn và không có kinh phí, vì vậy đây là phương pháp được sử dụng nhiều trong quá trình tìm hiểu và nghiên cứu làm khóa

Trang 9

luận nhằm kế thừa các kết quả của các nghiên cứu đi trước Thông tin và số liệu được thu thập từ nhiều nguồn công khai như: giáo trình, số liệu thống kê của UBND thị xã Sầm Sơn, Sở, Tổng cục Thống kê… Bên cạnh đó là những

thông tin trên báo chí, internet, kênh truyền hình…

4.2 Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa

Trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu, để đảm bảo tính khách quan và xác thực của thông tin cũng như thực tế tình hình về hiện trạng phát triển và môi trường du lịch thị xã Sầm Sơn, tôi đã tiến hành thu thập các ý kiến, điều tra tại thị xã trong khoảng thời gian từ tháng 2 năm 2014 đến tháng 4 năm

2014 Đồng thời qua đó thẩm định một số nghi vấn còn vướng mắc trong quá trình thu thập, xử lý tài liệu

4.3 Phương pháp tham khảo ý kiến chuyên gia

Do năng lực và trình độ của sinh viên thực hiện đề tài còn hạn chế nên

“tham khảo ý kiến chuyên gia” là phương pháp cần thiết nhằm định hướng và đưa ra những lời nhận xét đúng đắn cho sinh viên, giúp sinh viên nhận định được vấn đề và dần hoàn thiện hơn nữa đề tài của mình

5 Kết cấu khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dung chính của khóa luận gồm 3 chương:

- Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về phát triển du lịch bền vững

- Chương 2: Tiềm năng và hiện trạng phát triển du lịch tại thị xã Sầm Sơn

- Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển du lịch bền vững thị xã Sầm Sơn

Trang 10

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN

DU LỊCH BỀN VỮNG 1.1 Phát triển bền vững

1.1.1 Quan niệm

Khái niệm “phát triển bền vững” lần đầu tiên xuất hiện vào năm 1987 trong báo cáo Brundtland của Ủy ban Môi trường và Phát triển thế giới (WCED) Phát triển bền vững là: “Sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai ” Cho đến nay, chưa có một định nghĩa nào thống nhất và hoàn chỉnh Một số khái niệm khoa học môi trường về phát triển bền vững:

- Tại hội nghị thượng đỉnh về phát triển bền vững (năm 2002) tổ chức tại Johannesburg Cộng hòa Nam Phi đã xác định: “Phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lí, hài hòa giữa 3 mặt của sự phát triển bao gồm: tăng trưởng kinh tế, cải thiện các vấn đề xã hội và môi trường”

- Theo tác giả Tatyna P.Soubbotina (không chỉ là tăng trưởng): “Phát triển bền vững cũng có thể được gọi bằng một cách khác là phát triển bình đẳng và cân đối, có nghĩa là để duy trì sự phát triển mãi mãi, cần cân bằng giữa lợi ích của các nhóm người trong cùng một thế hệ và giữa các thế hệ, thực hiện điều này trên cả 3 lĩnh vực quan trọng có mối liên hệ qua lại với nhau về kinh tế, xã hội và môi trường”

Tuy có nhiều cách hiểu khác nhau, nhưng hầu hết đều công nhận phát triển bền vững là sự phát triển hài hòa giữa các mục tiêu tăng trường kinh tế với các mục tiêu xã hội và bảo vệ môi trường Phát triển bền vững còn bao hàm cả khía cạnh phát triển trong sự quản lý tốt các xung đột môi trường

Tiêu chí đánh giá sự phát triển bền vững là sự tăng trưởng kinh tế ổn định; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; khai thác hợp lí, sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và nâng cao được chất lượng môi trường sống

Trang 11

1.1.2 Các nguyên tắc đảm bảo cho phát triển bền vững

Để đảm bảo cho sự phát triển bền vững nói chung, ở Việt Nam nói riêng, trong quá trình phát triển cần tuân thủ một số nguyên tắc cơ bản Các nguyên tắc

cụ thể được đưa ra tại quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 153/2004/QĐ – TTg ngày 17 tháng 8 năm 2004 về việc ban hành định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam):

“Thứ nhất, con người là trung tâm của phát triển bền vững Đáp ứng

ngày càng đầy đủ hơn nhu cầu vật chất và tinh thần của mọi tầng lớp nhân dân, xây dựng đất nước giàu mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh

là nguyên tắc quán triệt nhất quán trong mọi giai đoạn phát triển

Thứ hai, coi phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm của giai đoạn

phát triển sắp tới, bảo đảm an ninh lương thực, năng lượng để phát triển bền vững, bảo đảm vệ sinh và an toàn thực phẩm cho nhân dân; kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa với phát triển xã hội; khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên thiên nhiên trong giới hạn cho phép về mặt sinh thái và bảo vệ môi trường lâu bền Từng bước thực hiện nguyên tắc

“mọi mặt: kinh tế, xã hội và môi trường đều cùng có lợi”

Thứ ba, bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường phải được coi là

một yếu tố không thể tách rời của quá trình phát triển Tích cực và chủ động phòng ngừa, ngăn chặn những tác động xấu đối với môi trường do hoạt động của con người gây ra Cần áp dụng rộng rãi nguyên tắc “người gây thiệt hại đối với tài nguyên và môi trường thì phải bồi hoàn” Xây dựng

hệ thống pháp luật đồng bộ và có hiệu lực về công tác bảo vệ môi trường; chủ động gắn kết và có chế tài bắt buộc lồng ghép yêu cầu bảo vệ môi trường trong việc lập quy hoạch, kế hoạch, chương trình và dự án phát triển kinh tế - xã hội, coi yêu cầu về bảo vệ môi trường là một tiêu chí quan trọng trong đánh giá phát triển bền vững

Thứ tư, quá trình phát triển phải bảo đảm đáp ứng một cách công

bằng nhu cầu của thế hệ hiện tại và không gây trở ngại tới cuộc sống của

Trang 12

các thế hệ tương lai Tạo lập điều kiện để mọi người và mọi cộng đồng trong xã hội có cơ hội bình đẳng để phát triển, được tiếp cận tới những nguồn lực chung và được phân phối công bằng những lợi ích công cộng, tạo ra những nền tảng vật chất, tri thức và văn hoá tốt đẹp cho những thế hệ mai sau, sử dụng tiết kiệm những tài nguyên không thể tái tạo lại được, gìn giữ và cải thiện môi trường sống, phát triển hệ thống sản xuất sạch và thân thiện với môi trường; xây dựng lối sống lành mạnh, hài hoà, gần gũi và yêu quý thiên nhiên

Thứ năm, khoa học và công nghệ là nền tảng và động lực cho công

nghiệp hóa, hiện đại hóa, thúc đẩy phát triển nhanh, mạnh và bền vững đất nước Công nghệ hiện đại, sạch và thân thiện với môi trường cần được ưu tiên sử dụng rộng rãi trong các ngành sản xuất, trước mắt cần được đẩy mạnh sử dụng ở những ngành và lĩnh vực sản xuất có tác dụng lan truyền mạnh, có khả năng thúc đẩy sự phát triển của nhiều ngành và lĩnh vực sản xuất khác

Thứ sáu, phát triển bền vững là sự nghiệp của toàn Đảng, các cấp

chính quyền, các bộ, ngành và địa phương; của các cơ quan, doanh nghiệp, đoàn thể xã hội, các cộng đồng dân cư và mọi người dân Phải huy động tối

đa sự tham gia của mọi người có liên quan trong việc lựa chọn các quyết định về phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường ở địa phương và trên quy mô cả nước Bảo đảm cho nhân dân có khả năng tiếp cận thông tin

và nâng cao vai trò của các tầng lớp nhân dân, đặc biệt của phụ nữ, thanh niên, đồng bào các dân tộc ít người trong việc đóng góp vào quá trình ra quyết định về các dự án đầu tư phát triển lớn, lâu dài của đất nước

Thứ bảy, gắn chặt việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với chủ

động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển bền vững đất nước Phát triển các quan hệ song phương và đa phương, thực hiện các cam kết quốc tế và khu vực; tiếp thu có chọn lọc những tiến bộ khoa học công nghệ, tăng cường hợp tác quốc tế để phát triển bền vững Chú trọng phát huy lợi thế, nâng cao chất

Trang 13

lượng, hiệu quả, năng lực cạnh tranh Chủ động phòng ngừa, ngăn chặn những tác động xấu đối với môi trường do quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế gây ra

Thứ tám, kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo

vệ môi trường với bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội.”

1.2 Phát triển du lịch bền vững

1.2.1 Khái niệm

Từ đầu thập niên 90, các nhà khoa học thế giới đã đề cập nhiều đến việc phát triển du lịch với mục đích đơn thuần về kinh tế đang đe dọa hủy hoạt môi trường sinh thái, đến các nền văn hóa bản địa Hậu quả của các tác động này sẽ ảnh hưởng tới sự phát triển lâu dài của ngành du lịch Vì thế đã xuất hiện nhu cầu nghiên cứu phát triển du lịch bền vững nhằm hạn chế các tác động tiêu cực của hoạt động du lịch đảm bảo sự phát triển lâu dài Một số loại hình du lịch bước đầu quan tâm đến khía cạnh môi trường xuất hiện như:

du lịch sinh thái, du lịch xanh, du lịch khám phá…

Hiện nay, trong quá trình thống nhất về nhận thức, quan niệm phát triển

du lịch bền vững vẫn còn những bất đồng, đặc biệt giữa những quan điểm coi phát triển du lịch bền vững cần đảm bảo nguyên tắc chính là bảo tồn tài nguyên, môi trường và văn hóa với quan điểm cho rằng nguyên tắc hàng đầu của sự phát triển du lịch bền vững là sự tăng trưởng về kinh tế do du lịch mang lại

Theo định nghĩa của WTO: “Du lịch bền vững là việc phát triển các hoạt động du lịch nhằm đáp ứng các nhu cầu hiện tại của khách du lịch và người dân bản địa trong khi vẫn quan tâm đến việc bảo tồn và tôn tạo các tài nguyên cho việc phát triển hoạt động du lịch trong tương lai Du lịch bền vững sẽ có kế hoạch quản lý các nguồn tài nguyên nhằm thỏa mãn các nhu cầu kinh tế, xã hội, thẩm mỹ của con người trong khi đó vẫn duy trì được sự toàn vẹn về văn hóa, đa dạng sinh học, sự phát triển của các hệ sinh thái và các hệ thống hỗ trợ cho cuộc sống của con người”

Trang 14

Trọng tâm của sự phát triển bền vững là đấu tranh cho sự cân bằng giữa các mục tiêu về kinh tế, xã hội và bảo vệ tài nguyên môi trường, văn hóa cộng đồng trong khi phải tăng cường sự thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao và đa dạng của du khách Sự cân bằng này có thể thay đổi theo thời gian, khi có sự thay đổi về các quy tắc xã hội, các điều kiện đảm bảo môi trường sinh thái và

sự phát triển của khoa học công nghệ Mặc dù vậy, phương pháp tiếp cận đảm bảo cho sự phát triển du lịch bền vững phải dựa vào sự cân bằng tài nguyên môi trường với một quy hoạch thống nhất

Du lịch bền vững ở Việt Nam là một khái niệm còn mới Tuy nhiên, nhận thức về một phương thức phát triển du lịch có trách nhiệm với môi trường, có tác dụng giáo dục, nâng cao hiểu biết cho cộng đồng đã xuất hiện ở Việt Nam dưới hình thức các loại hình du lịch tham quan, tìm hiểu, nghiên cứu với tên gọi là du lịch sinh thái, du lịch xanh…

Theo chỉ thị 36 CT của Bộ Chính trị ngày 25 tháng 6 năm 1998, mục tiêu và các quan điểm cơ bản cho phát triển du lịch bền vững chủ yếu dựa vào hoạt động bảo vệ môi trường sinh thái, sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên như một bộ phận cấu thành không thể tách rời của phát triển bền vững

Các chuyên gia trong lĩnh vực du lịch ở Việt Nam cho rằng phát triển

du lịch bền vững được hiểu là: “Hoạt động khai thác môi trường tự nhiên

và văn hóa nhằm thỏa mãn các nhu cầu đa dạng của khách du lịch, có quan tâm đến các lợi ích kinh tế dài hạn, đồng thời tiếp tục duy trì các khoản đóng góp cho công tác bảo vệ môi trường và góp phần nâng cao mức sống của cộng đồng địa phương”

Điều 4 chương I Luật Du lịch ban hành năm 2005 xác định: “Du lịch bền vững là sự phát triển du lịch đáp ứng được các nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu về du lịch của tương lai”

1.2.2 Vai trò của phát triển du lịch bền vững đối với kinh tế - xã hội

Du lịch của một nước phát triển làm tăng ngân sách nhà nước, giải quyết đời sống xã hội, thúc đẩy nhiều ngành kinh tế có liên quan phát triển

Trang 15

theo Trên thế giới, nhiều nước do du lịch phát triển đã đem lại cho ngân sách nguồn thu ngoại tệ lớn như: Thái Lan, Philippin, Hồng Kông… Việc phát triển du lịch là nhân tố thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển như: giao thông, xây dựng, bưu điện, hàng không, nông nghiệp, ngân hàng… Phát triển du lịch bền vững còn góp phần giới thiệu truyền bá nét văn hóa dân tộc cho bạn bè thế giới Nó ngày càng trở nên quan trọng hơn trong xã hội hiện nay

Phát triển du lịch bền vững sẽ mang tính chất giáo dục cao về ý thức bảo

vệ môi trường, nguồn tài nguyên cho du khách và cả cộng đồng địa phương

Du lịch bền vững là phương tiện cải thiện, nâng cao sức khỏe, giáo dục

và tăng phúc lợi cho xã hội Nếu không có phát triển bền vững thì tương lai của các nguồn tài nguyên sẽ bị cạn kiệt

Giúp giảm thiểu đói nghèo và ngăn ngừa vấn đề suy thoái môi trường trong hiện tại và tương lai

Phát triển du lịch bền vững là biện pháp thiết thực để cứu lấy môi trường thiên nhiên và là biện pháp gián tiếp cứu con người

Phát triển du lịch bền vững góp phần tạo ra những sản phẩm du lịch mới có sức thu hút cao, đem lại cho du khách những chuyến đi chất lượng

và hiệu quả Là nhân tố quan trọng trong quan hệ hữu nghị giữa các nước trên thế giới và tạo điều kiện trong việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài

Có thể nói rằng, phát triển du lịch bền vững là việc làm cần thiết và

có vị trí trong nền kinh tế, góp phần quan trọng trong việc tăng tốc của nền kinh tế đất nước

1.2.3 Các nhân tố tác động đến phát triển du lịch bền vững

1.2.3.1 Tài nguyên du lịch

Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch

sử - văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu du lịch; là yếu tố cơ bản

để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch [8]

Trang 16

Phân loại tài nguyên du lịch:

- Tài nguyên du lịch tự nhiên: Là các đối tượng, hiện tượng trong môi trường tự nhiên xung quanh chúng ta được sử dụng vào việc phục vụ cho mục đích du lịch

- Tài nguyên du lịch nhân văn: Là các đối tượng, hiện tượng do con người tạo ra trong suốt quá trình phát triển và có giá trị phục vụ cho nhu cầu du lịch Tài nguyên du lịch nhân văn có giá trị nhận thức nhiều hơn giá trị giải trí, ít bị phụ thuộc vào các điều kiện tự nhiên, thường tập trung ở các khu vực quần cư và thu hút du khách có mức thu nhập, có trình độ văn hóa cũng như yêu cầu nhận thức cao hơn

1.2.3.2 Cơ sở vật chất kĩ thuật và thiết bị hạ tầng

Mạng lưới giao thông vận tải: Đối với sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung và du lịch nói riêng, mạng lưới và phương tiện giao thông luôn được coi là những yếu tố quan trọng hàng đầu vì nó có vai trò đẩy mạnh hoạt động

du lịch Du lịch gắn với sự di chuyển của con người từ nơi này đến nơi khác,

vì vậy nó phụ thuộc nhiều vào mạng lưới và phương tiện giao thông

Mạng lưới thông tin liên lạc và internet: Là điều kiện cần thiết bảo đảm giao lưu cho khách du lịch trong nước và quốc tế Chính sự thuận lợi của các mạng lưới thông tin liên lạc và internet góp phần vào việc thực hiện các mối giao lưu giữa các vùng, các nước Không những thế, sự thuận tiện của mạng lưới thông tin liên lạc còn giúp cho việc giao dịch trong kinh doanh du lịch được thông suốt, nhanh chóng trên phạm vi toàn cầu, khiến cho hoạt động du lịch trở nên phổ biến hơn, hiệu quả hơn

Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch: Đóng vai trò quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu thiết yếu của khách Bao gồm: trang thiết bị, phương tiện, cơ sở cần thiết để đón tiếp khách du lịch, nơi lưu trú cho khách du lịch, khu vui chơi giải trí… Cơ sở vật chất kĩ thuật hoàn hảo chính là đòn bẩy cho các hoạt động kinh tế, trong đó có hoạt động du lịch và là điều kiện cho phát triển bền vững kinh tế - xã hội nói chung, du lịch nói riêng

Trang 17

1.2.3.3 Lao động

Chất lượng công tác kinh doanh du lịch chịu ảnh hưởng rất nhiều từ việc sử dụng lao động có chất lượng hay không Bởi lao động làm việc trong lĩnh vực du lịch không những thực hiện công tác chuyên môn về du lịch mà còn thực hiện nhiệm vụ quan trọng là trao đổi văn hóa, giao tiếp với du khách tạo cho du khách có cảm giác hứng khởi trong chuyến đi

Trình độ văn hóa: Khi nhận thức của con người càng cao thì việc họ thích thú với khám phá thế giới, thiên nhiên, vui chơi, giải trí và nghỉ ngơi ngày càng tăng lên cả về nhu cầu và động cơ đi du lịch

Thời gian rảnh rỗi: Thời gian rỗi là phần thời gian ngoài giờ làm việc, trong đó diễn ra các hoạt động nhằm hồi phục và phát triển thể lực, trí tuệ và tinh thần của con người Thời gian rỗi của người lao động tăng lên là yếu tố thuận lợi đối với du lịch

1.2.3.5 Chính trị

Chính trị là điều kiện quan trọng có tác dụng thúc đẩy hoặc kìm hãm

sự phát triển du lịch của một quốc gia và cả thế giới Hòa bình và sự ổn định

về chính trị giúp đẩy mạnh hoạt động du lịch, du lịch cũng có tác dụng trở lại đến việc cùng tồn tại hòa bình

1.2.4 Các nguyên tắc phát triển du lịch bền vững

Muốn đảm bảo phát triển du lịch bền vững, cần tuân thủ chặt chẽ theo các nguyên tắc sau:

Trang 18

1.2.4.1 Khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên du lịch một cách hợp lí

Mọi hoạt động phát triển kinh tế đều liên quan đến việc sử dụng các nguồn tài nguyên tự nhiên và nhân văn Nhiều nguồn tài nguyên trong số đó không thể tái tạo hay thay thế được hoặc khả năng tái tạo phải trải qua một thời gian rất dài Chính vì vậy, việc khai thác sử dụng hợp lí các nguồn tài nguyên là nguyên tắc quan trọng hàng đầu mặc dù phần lớn các tài nguyên du lịch được coi là có khả năng tái tạo hoặc ít biến đổi Nếu các tài nguyên du lịch được khai khác một cách hợp lí, bảo tồn và sử dụng bền vững đảm bảo quá trình tự duy trì hoặc tự bổ sung được diễn ra theo quy luật tự nhiên hoặc thuận lợi hơn do có sự tác động của con người thông qua việc đầu tư, tôn tạo thì sự tôn tạo đó sẽ đáp ứng lâu dài nhu cầu phát triển của du lịch qua nhiều thế hệ Việc sử dụng hợp lí các nguồn tài nguyên cần dựa trên cơ sở nghiên cứu kiểm kê, đánh giá, quy hoạch sử dụng cho mục tiêu phát triển cụ thể

1.2.4.2 Giảm thiểu tiêu thụ quá mức tài nguyên và chất thải ra môi trường

Việc khai thác sử dụng quá mức tài nguyên và không kiểm soát được lượng chất thải từ hoạt động du lịch sẽ góp phần dẫn đến sự suy thoái môi trường mà hậu quả của nó là sự phát triển không bền vững của du lịch nói riêng và kinh tế - xã hội nói chung Đối với một số loại tài nguyên như nước, rừng… hoạt động du lịch yêu cầu sử dụng cao hơn Tình trạng thiếu nước sinh hoạt phục vụ du lịch diễn ra ở nhiều nơi, trong khi nguồn nước thải từ đây lại rất lớn, gây ô nhiễm đất, nguồn nước Để thực hiện tốt nguyên tắc này, hoạt động du lịch cần:

Quản lý tốt để đảm bảo việc sử dụng tiết kiệm nhất tài nguyên, có giải pháp nhằm giám sát và ngăn chặn tiêu thụ quá mức tài nguyên của du khách

Khuyến khích việc sử dụng công nghệ mới nhằm giảm mức tiêu thụ tài nguyên và hạn chế chất thải

1.2.4.3 Phát triển du lịch phải đặt trong quy hoạch phát triển tổng thể kinh tế- xã hội

Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp có tính liên ngành, liên vùng Vì vậy mọi phương án khai thác tài nguyên để phát triển phải phù hợp với các quy

Trang 19

hoạch chuyên ngành nói riêng và quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội nói chung ở phạm vi quốc gia, ở mỗi vùng và từng địa phương Ngoài ra, đối với mỗi phương án phát triển cần tiến hành đánh giá tác động môi trường nhằm hạn chế các tác động tiêu cực đến tài nguyên và môi trường Điều này sẽ góp phần đảm bảo cho sự phát triển bền vững của du lịch trong mối quan hệ với các ngành kinh tế khác cũng như việc sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên, đảm bảo môi trường trong sạch

Thực tế cho thấy ở những nơi có vị trí của du lịch chưa được xác định đúng mức trong chiến lược tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, nơi phát triển

du lịch không được xem xét và cân đối với các ngành khác trong khuôn khổ một quy hoạch tổng thể, thì sự phát triển quá mức của các ngành khác sẽ làm tổn hại đến tài nguyên và làm suy thoái môi trường, ảnh hưởng trực tiếp tới sự phát triển bền vững của du lịch Cần đánh giá những lợi ích cũng như bất lợi

về kinh tế trong mối quan hệ với tài nguyên và môi trường Bên cạnh đó cũng cần xác định tới những mâu thuẫn quyền lợi có thể xảy ra giữa các thành phần kinh tế khác nhau, đảm bảo cho sự phát triển lâu dài, bền vững du lịch

1.2.4.4 Duy trì tính đa dạng tự nhiên, đa dạng xã hội và đa dạng văn hóa

Tính đa dạng về thiên nhiên, văn hóa và xã hội là nhân tố đặc biệt quan trọng tạo nên sự hấp dẫn của du lịch, tăng sức cạnh tranh, đảm bảo cho sự phát triển Du lịch góp phần bảo tồn các giá trị văn hóa bằng việc khích lệ các hoạt động văn hóa dân gian, thúc đẩy việc sản xuất các hàng truyền thống, chia sẻ lợi ích từ nguồn thu cho việc tôn tạo, bảo vệ các di tích lịch sử văn hóa… Du lịch còn tạo công ăn việc làm, góp phần làm đa dạng hóa xã hội

1.2.4.5 Phát triển du lịch phải hỗ trợ kinh tế địa phương phát triển

Thực tế cho thấy trên một địa bàn lãnh thổ, nếu mỗi ngành chỉ biết đến lợi ích của mình, không có sự hỗ trợ đối với sự phát triển kinh tế và chia sẻ lợi ích với cộng đồng địa phương thì sẽ làm cho kinh tế và cuộc sống người dân địa phương gặp nhiều khó khăn, kém phát triển Điều này buộc cộng đồng địa phương phải khai thác tối đa các tiềm năng tài nguyên

Trang 20

của mình làm đẩy nhanh quá trình cạn kiệt tài nguyên và làm tổn hại đến môi trường sinh thái Kết quả các quá trình đó sẽ gây những tác động tiêu cực đến phát triển bền vững của ngành du lịch nói riêng và kinh tế - xã hội nói chung Chính vì vậy, việc chia sẻ lợi ích với cộng đồng địa phương là một nguyên tắc quan trọng trong phát triển bền vững

1.2.4.6 Khuyến khích sự tham gia của cộng đồng địa phương

Sự tham gia của cộng đồng địa phương không chỉ đem lợi nhuận cho cộng đồng mà còn làm tăng tính trách nhiệm của cộng đồng trong việc phát triển du lịch và bảo vệ môi trường

1.2.4.7 Thường xuyên trao đổi, tham khảo ý kiến cộng đồng địa phương và các đối tượng có liên quan trong quá trình hoạt động phát triển du lịch

Trao đổi tham khảo ý kiến quần chúng là một quá trình nhằm dung hòa giữa phát triển kinh tế với những mối quan tâm khác của cộng đồng địa phương, và những tác động tiềm ẩn của sự phát triển lên môi trường tự nhiên, văn hóa, xã hội Sự tham khảo ý kiến cộng đồng là cần thiết để có thể đánh giá được tính khả thi của một dự án phát triển, các biện pháp để giảm thiểu các tác động tiêu cực và tối đa hóa sự đóng góp tích cực của quần chúng nhân dân

Bản thân của sự phát triển là cân đối trong khai thác tài nguyên đảm bảo các nhu cầu hiện tại, tương lai và phúc lợi của con người dựa trên sự lựa chọn, hiểu biết về những chi phí phát triển môi trường, xã hội và văn hóa Quá trình tham khảo ý kiến trong trường hợp này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng bởi nó bao hàm việc trao đổi thông tin, ý kiến, đánh giá và hành động dựa vào kĩ năng, kiến thức ở các nguồn lực địa phương Việc thường xuyên trao đổi ý kiến với cộng đồng địa phương và các đối tượng có liên quan để cùng nhau giải quyết các mâu thuẫn nảy sinh trong quá trình phát triển là hết sức cần thiết Nó đảm bảo sự gắn kết, có trách nhiệm hơn giữa các thành phần kinh tế với địa phương và các ngành với nhau Góp phần tích cực cho

sự phát triển bền vững của mỗi ngành trong đó có du lịch

Trang 21

1.2.4.8 Chú trọng công tác đào tạo nguồn nhân lực

Trong hoạt động du lịch, chất lượng đội ngũ nguồn nhân lực luôn là yếu tố quan trọng có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển Nó quyết định chất lượng sản phẩm du lịch, chất lượng dịch vụ và kết quả cuối cùng

là ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh, sự tăng trưởng du lịch đứng từ góc

độ kinh tế Phát triển bền vững đòi hỏi ở đội ngũ những người thực hiện không chỉ có trình độ nghiệp vụ mà còn nhận thức đúng đắn về tính cần thiết của việc bảo vệ tài nguyên môi trường

1.2.4.9 Tiếp thị du lịch một cách có trách nhiệm (marketing du lịch)

Xúc tiến, quảng cáo cũng là một hoạt động quan trọng đối với phát triển du lịch, đảm bảo thu hút du khách, tăng cường khả năng cạnh tranh của các sản phẩm du lịch Chiến lược quảng cáo, tiếp thị đối với du lịch bền vững bao gồm việc xác định đánh giá và luôn rà soát để xác định đúng khả năng đáp ứng các nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn cũng như việc cân đối các sản phẩm du lịch cụ thể

Hoạt động quảng cáo, tiếp thị thiếu trách nhiệm sẽ tạo cho du khách những hi vọng không thực tế do thông tin không đầy đủ và thiếu chính xác dẫn đến sự thất vọng về các sản phẩm du lịch được quảng cáo Kết quả của hoạt động này là thái độ tẩy chay của du khách, ảnh hưởng đến sự phát triển lâu dài của du lịch Việc quảng cáo, tiếp thị cung cấp cho khách du lịch những thông tin đầy đủ và có trách nhiệm nâng cao sự tôn trọng của du khách với môi trường tự nhiên, văn hóa, xã hội và các giá trị nhân văn nơi tham quan, đồng thời làm tăng đáng kể sự thỏa mãn của khách đối với các sản phẩm du lịch Điều này góp phần làm giảm những tác động tiêu cực từ hoạt động thu hút khách đảm bảo cho tính bền vững trong phát triển du lịch

1.2.4.10 Coi trọng công tác nghiên cứu

Công tác nghiên cứu là yếu tố đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của bất cứ ngành kinh tế nào, đặc biệt là ngành có nhiều mối quan hệ trong phát triển và phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, môi trường, văn hóa,

Trang 22

xã hội như ngành du lịch Để đảm bảo cho sự phát triển bền vững cần có những căn cứ khoa học vững chắc dựa trên việc nghiên cứu các vấn đề có liên quan Việc thường xuyên cập nhật các thông tin, nghiên cứu và phân tích chúng là rất cần thiết, đảm bảo cho sự phát triển bền vững trong mối quan hệ với cơ chế chính sách, và việc bảo vệ tài nguyên môi trường

Muốn du lịch phát triển bền vững thì nhất thiết phải tôn trọng các nguyên tắc cơ bản trên để không tổn hại đến môi trường tự nhiên, môi trường kinh tế và môi trường xã hội Du lịch thực sự đóng vai trò quan trọng

và là ngành mũi nhọn chỉ khi nó được phát triển một cách bền vững Mặt khác, cần triển khai các nguyên tắc trên trong toàn bộ hệ thống của nền kinh

tế xã hội thì khi đó mới đem lại hiệu quả kinh tế cao, hiệu quả tốt nhất

1.2.5 Chỉ tiêu đánh giá phát triển du lịch bền vững

Du lịch bền vững được thiết lập khi thỏa mãn yêu cầu sau:

- Nhu cầu của du khách: Được đáp ứng cao

- Phân hệ sinh thái tự nhiên: Không suy thoái

- Phân hệ kinh tế: Mang lại lợi nhuận

- Phân hệ xã hội – nhân văn: Giữ được bản sắc văn văn hóa truyền thống của cộng đồng địa phương trên cơ sở tăng cường văn minh do mở rộng giao lưu với các du khách, các nền văn hóa khác

Trang 23

Bảng 1.1: Hệ thống chỉ tiêu dùng để đánh giá nhanh tính bền vững của

- Số ngày lưu trú bình quân/du khách

- Tỷ lệ % các rủi ro về sức khỏe (bệnh tật, tai nạn) do

- % chất thải chưa được thu gom và xử lí

- Lượng điện, nước tiêu thụ/khách/ngày (theo mùa)

- % số công trình kiến trúc không phù hợp với kiến trúc bản địa (hoặc cảnh quan)/tổng số công trình

- Mức độ tiêu thụ các sản phẩm động, thực vật quý hiếm

- % khả năng vận tải sạch/khả năng vận tải cơ giới

- % số chỗ làm việc trong ngành du lịch dành cho dân địa phương so với tổng số lao động địa phương

- % GDP của kinh tế địa phương bị thiệt hại/có lợi do

du lịch gây ra/ mang lại

- % giá trị hàng hóa địa phương/tổng giá trị hàng hóa tiêu dùng cho du lịch

- Sự xuất hiện các bệnh/dịch liên quan tới du lịch

- Tệ nạn xã hội liên quan đến du lịch

- Hiện trạng các di tích lịch sử văn hóa của địa phương

- Số người ăn xin/tổng số dân địa phương

- Tỷ lệ % mất giá đồng tiền vào mùa cao điểm du lịch

- Độ thương mại hóa của các sinh hoạt văn hóa truyền thống xác định thông qua trao đổi với các chuyên gia

(Nguồn: [13])

Trang 24

1.3 Kinh nghiệm phát triển du lịch bền vững

1.3.1 Kinh nghiệm quốc tế

1.3.1.1 Kinh nghiệm phát triển du lịch tại Singapore

Là một quốc đảo nhỏ, nguồn tài nguyên hạn chế, nhưng bằng việc biết phát huy triệt để tiềm năng, thế mạnh về vị trí địa lý và nguồn lực con người của mình, Singapore đã có những bước phát triển vượt bậc Trong các thành công của Singapore thời gian qua phải kể đến sự thành công của chính sách phát triển du lịch

Tháng 6 năm 2010, quốc đảo này chạm mốc “một triệu khách du lịch trong một tháng” Năm 2010, Singapore đón 11,64 triệu khách quốc tế và năm

2011 là 13 triệu khách Du lịch đóng góp cho nền kinh tế Singapore 18,8 tỷ đô Sing năm 2010, năm 2012 là 22,2 tỷ đô Sing, chiếm 3% GDP Singapore hiện

có khoảng trên 50.000 phòng khách sạn Đây thực sự là những con số ấn tượng của ngành du lịch ở một đất nước nhỏ bé, ít tài nguyên và chưa hẳn đã

có nhiều lợi thế để phát triển du lịch như Singapore

Để có được kết quả này, phải nói đến sự thành công của việc hoạch định, xây dựng chiến lược và các kế hoạch phát triển du lịch phù hợp cho từng giai đoạn của Chính phủ Singapore Từ năm 1965 đến nay, Singapore đã hoạch định chiến lược, xây dựng 6 kế hoạch phát triển du lịch khác nhau, đó là: “Kế hoạch du lịch Singapore” (năm 1968), “Kế hoạch phát triển du lịch” (năm 1986), “Kế hoạch phát triển chiến lược” (năm 1993), “Du lịch 21” (năm 1996), “Du lịch 2015” (năm 2005), “Địa giới du lịch 2020” (năm 2012)

Với “Kế hoạch phát triển du lịch” (năm 1986), Singapore chủ trương bảo tồn và khôi phục các khu lịch sử văn hóa như: Khu phố của người Hoa, Tanjong Tagar, Little India, Kampong Glam, sông Singapore Với “Kế hoạch phát triển chiến lược” (năm 1993), Singapore tập trung phát triển các sản phẩm du lịch mới như: du thuyền, du lịch chữa bệnh, du lịch giáo dục,

du lịch trăng mật; phát triển các thị trường du lịch mới; tổ chức các lễ hội lớn mang tầm cỡ quốc tế; tập trung phát triển nguồn nhân lực phục vụ du

Trang 25

lịch; trao các giải thưởng về du lịch; giáo dục, nâng cao nhận thức của người dân về du lịch…

Năm 1996, Singapore triển khai “Du lịch 21”, chuẩn bị và thực hiện tầm nhìn dài hạn cho sự phát triển của du lịch trong thế kỷ 21, với các chiến lược thị trường du lịch mới nổi, chiến lược du lịch khu vực, chiến lược phát triển sản phẩm du lịch mới, chiến lược nguồn vốn du lịch, chiến lược “Nhà vô địch du lịch Singapore”

Trong “Du lịch 2015” (năm 2005), Singapore tập trung phát triển các thị trường chính với phương châm tạo sự hiểu biết tốt hơn về Singapore, phát triển Singapore thành một điểm du lịch “phải đến”, cải thiện tiêu chuẩn dịch vụ nhằm cung cấp các dịch vụ đáng nhớ cho khách du lịch, nâng cấp cơ sở hạ tầng du lịch, phát triển các doanh nghiệp du lịch và nguồn nhân lực du lịch chuyên nghiệp, phát triển các sản phẩm trọng tâm của du lịch… Năm 2012, Singapore chi 300 triệu đô Sing để tổ chức các sự kiện du lịch, chi 340 triệu đô Sing phát triển các sản phẩm du lịch, chi 265 triệu đô Sing phát triển nguồn nhân lực du lịch Đến năm 2015, Singapore

sẽ đầu tư cho Quỹ phát triển du lịch là 2 tỷ đô Sing, dự kiến đón khoảng 17 triệu khách du lịch quốc tế và doanh thu từ du lịch khoảng 30 tỷ đô Sing

Đối với việc phát triển sản phẩm du lịch thì thành công chính nằm ở vấn

đề như tôn trọng ý kiến, tập tục và tư duy của người bản địa; nâng cao nhận thức

về phát triển du lịch theo một quá trình; ban hành các quy định chặt chẽ và rõ ràng về kiến thức, có quan điểm bảo tồn và giữ gìn các giá trị văn hóa truyền thống [16]

1.3.1.2 Kinh nghiệm phát triển du lịch tại Nhật Bản

Nhật Bản là đất nước giàu có và hiện đại bậc nhất châu Á, họ còn được biết đến là đất nước với nhiều di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh nổi tiếng Để phát huy tiềm năng và phát triển du lịch một cách bền vững, ngay

từ những năm 1910, Nhật Bản đã xây dựng hệ thống quản lý về bảo tồn di sản văn hóa Đến nay, có hơn 100 địa danh đã được công nhận là khu di

Trang 26

tích cổ quan trọng của Nhật Bản, những nơi này đang trở thành các điểm

du lịch nổi tiếng của họ Có thể thấy được những thành công mà chính phủ Nhật Bản đạt được trong việc bảo tồn di sản văn hóa Theo ông Ando

Katsuhiro - Chuyên gia du lịch - Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản, quá

trình phát triển của bảo tồn di sản văn hóa và du lịch tại Nhật Bản gồm bốn giai đoạn:

Giai đoạn 1 (từ những năm 1910 tới những năm 1970): Hình thành

khung chính sách về bảo tồn di sản văn hóa: Giai đoạn này là bước đầu tiên

mà chính phủ Nhật Bản hình thành khung chính sách về bảo tồn di sản văn hóa Hệ thống của việc cung cấp các khoản trợ cấp cho công tác trùng tu

cũng được thực hiện Thành tựu chính:

- Thiết lập hệ thống bảo vệ các tài sản văn hóa

- Hệ thống tích hợp ban đầu về bảo tồn di sản văn hóa và kế hoạch cho

đô thị - nông thôn

- Hệ thống trợ cấp cho việc bảo tồn các tài sản văn hóa đã được triển khai Giai đoạn 2 (từ những năm 1970 tới cuối những năm 1980): Sử dụng các di sản văn hóa cho hoạt động du lịch: Trong giai đoạn này, việc chuyển hướng sang cải tạo các tòa nhà lịch sử (đài kỷ niệm, nhà hàng, cà phê) và sử dụng chúng như phương tiện du lịch bước đầu đã được thực hiện Ý tưởng

về việc phát triển kinh tế thông qua các hoạt động du lịch đã được quảng bá

rộng rãi đến cộng đồng Thành tựu chính:

- Chiến dịch “Khám phá Nhật Bản” làm gia tăng nhanh chóng về số lượng của các chuyến viếng thăm và khám phá truyền thống Nhật Bản, hình ảnh của các làng cổ đã được sử dụng để làm băng rôn cho chiến dịch

- Phân cấp các khu vực văn hóa quốc gia, định mức các khu vực du lịch như “mức độ đặc biệt loại A”, “loại B” Xuất bản sách “Nhật Bản tươi đẹp – nơi nên ghé thăm ít nhất một lần” đã kích thích động lực du lịch của cộng đồng

Trang 27

- Tổ chức hội thảo quốc gia về việc bảo tồn lịch sử Thu thập và cung cấp thông tin cho các tổ chức cộng đồng và cơ quan chính quyền địa phương, học hỏi lẫn nhau trong công tác bảo tồn

Giai đoạn 3 (cuối những năm 1980 tới những năm 2000): Chia sẻ lợi ích từ hoạt động du lịch với cộng đồng: Giai đoạn này, đưa ra một cơ chế tạo lợi nhuận du lịch với mục đích bảo vệ môi trường, sự phát triển cơ sở

hạ tầng vùng miền đã được nhấn mạnh nhằm hướng tới môi trường xã hội

và môi trường sống tốt đẹp hơn Thành tựu chính:

- Những khu trung tâm du lịch được phát triển thông qua việc chuyển đổi các tòa nhà lịch sử thành các bảo tàng, nhà hàng, khách sạn để chào đón khách du lịch từ trong và ngoài khu vực Ví dụ, ở thành phố Nagahama

- Shiga Prefecture, một nhà kho cũ đã được cải tạo và sử dụng như là một nhà trưng bày lớn

- Khởi động những hoạt động bảo tồn và du lịch cộng đồng Nhóm cộng đồng đã thành lập và bắt đầu xây dựng nguyên tắc về hoạt động du lịch và bảo tồn

- Khu vực bảo tồn và các tòa nhà lịch sử được thương hiệu hóa, những địa danh lịch sử được quảng bá như là các điểm đến du lịch

Giai đoạn 4 (từ những năm 2000 đến nay): Trao quyền cho cộng đồng

với sự phát triển du lịch: Nhờ việc có rất nhiều khách du lịch tới thăm quan,

cộng đồng địa phương nhận ra giá trị và nét đẹp của môi trường sống, lịch

sử của họ Du lịch đã góp phần phát triển một mạng lưới nhân lực văn hóa,

xã hội tốt đẹp hơn Thành tựu chính:

- Ban hành luật đất đai, luật quy hoạch địa danh lịch sử Hệ thống tích hợp giữa sự phát triển vùng miền và bảo tồn di sản văn hóa đã được

thiết lập để xây dựng một môi trường sống tốt đẹp hơn

- Thương hiệu hóa phong cách sống, “Địa điểm du khách muốn tới thăm là nơi mà người dân địa phương đang sống một cách sôi động” đã

Trang 28

được giới thiệu, khách du lịch có thể trải nghiệm cuộc sống địa phương và

du lịch tại điểm đến như là sống trong một cộng đồng cởi mở

1.3.2 Kinh nghiệm trong nước

Kinh nghiệm phát triển du lịch ở thành phố Đà Nẵng:

Từ khi Đà Nẵng trở thành đô thị loại I, ngành du lịch thành phố phát triển vượt bật với sự tăng trưởng không ngừng về số lượng du khách, doanh thu và thị trường

Đà Nẵng không ngừng kêu gọi đầu tư trong và ngoài nước để xây dựng các công trình phục vụ dân sinh và tạo thuận lợi cho phát triển du lịch như: tuyến đường du lịch ven biển Hoàng Sa - Trường Sa; các dự án tại bán đảo Sơn Trà; Bà Nà - Suối Mơ; quy hoạch và mở rộng khu danh thắng Ngũ Hành Sơn tạo nền móng để du lịch Đà Nẵng phát triển

Việc phát triển các khu vui chơi, giải trí cao cấp (khu du lịch Bà Nà Hills, khu giải trí quốc tế Crowne Plaza, sân golf Hòa Hải ); các tour tuyến mới như tour liên kết 3 địa phương 1 điểm đến: Quảng Nam - Đà Nẵng - Thừa Thiên Huế; trong đó tour “Con đường di sản miền Trung” được khai thác hiệu quả và trở thành thương hiệu riêng của khu vực nói chung, của Đà Nẵng nói riêng Các sản phẩm du lịch đặc thù, nhất là việc

tổ chức thành công những sự kiện đặc sắc như: Cuộc thi trình diễn pháo hoa quốc tế, Đà Nẵng - điểm hẹn mùa hè… cũng đã thực sự hấp dẫn và thu hút du khách, tạo nên tiếng vang lớn và để lại nhiều ấn tượng sâu sắc trong lòng du khách

Cùng với đó, công tác xúc tiến, quảng bá du lịch Đà Nẵng tới thị trường trong và ngoài nước cũng từng bước đi vào trọng tâm, trọng điểm

và có tính chuyên nghiệp hơn Công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực du lịch cũng rất được chú trọng với việc tổ chức nhiều khóa đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ khách sạn, lữ hành, hướng dẫn viên, ngoại ngữ, an ninh du lịch, thành lập đội chống chèo kéo khách du lịch, đội cứu hộ bãi biển… Ngoài ra, thành phố cũng đã chỉ đạo các ngành chức năng triển khai

Trang 29

các biện pháp chấn chỉnh an ninh trật tự, giữ gìn môi trường các điểm du lịch, nhất là các bãi tắm biển để thu hút du khách đến thành phố [15]

1.3.3 Bài học rút ra cho phát triển du lịch bền vững thị xã Sầm Sơn

Từ những kinh nghiệm phát triển du lịch bền vững ở các nước Singapore, Nhật Bản và ở thành phố Đà Nẵng sẽ là bài học rất tốt cho quá trình hoạch định, xây dựng, triển khai thực hiện chiến lược, kế hoạch phát triển du lịch của các khu du lịch nói chung và của thị xã Sầm Sơn nói riêng

Để phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế sẵn có và để du lịch đóng góp nhiều hơn cho sự phát triển của thị xã, Sầm Sơn cần:

Chú ý trong quy hoạch, xây dựng các cơ sở hạ tầng du lịch phù hợp với quy hoạch tổng thể, thống nhất với quy hoạch sử dụng đất và các quy hoạch ngành, lĩnh vực khác

Thu hút và sử dụng hiệu quả vốn đầu tư, tạo công ăn việc làm cho cư dân địa phương

Hỗ trợ cộng đồng địa phương tham gia vào hoạt động du lịch

Kết hợp phát triển du lịch với bảo vệ môi trường, duy trì chất lượng của các giá trị văn hóa nhằm thu hút khách du lịch Tăng cường phát triển các sản phẩm du lịch mới Nâng cao nhận thức của cộng đồng địa phương

và chính quyền về tầm quan trọng của bảo tồn với phát triển bền vững

Nâng cấp đồng bộ hệ thống giao thông, cơ sở lưu trú, các khu vui chơi phục vụ du lịch

Có chiến lược quảng bá phù hợp với từng khu vực, từng đối tượng khách du lịch trong và ngoài nước; tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực phục vụ du lịch; tập trung tuyên truyền, nâng cao nhận thức của người dân về tầm quan trọng, sự đóng góp của du lịch, trách nhiệm của họ đối với việc phát triển du lịch đi đôi với việc tăng cường quản lí nhà nước trong lĩnh vực du lịch nhằm hạn chế tình trạng lộn xộn, tăng giá dịch vụ,

“chặt chém” khách du lịch

Trang 30

CHƯƠNG 2: TIỀM NĂNG VÀ HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN

DU LỊCH TẠI THỊ XÃ SẦM SƠN 2.1 Tiềm năng phát triển du lịch tại thị xã Sầm Sơn

2.1.1 Vị trí địa lí

Sầm Sơn là thị xã ven biển cách thành phố Thanh Hoá khoảng 16 km

về phía Đông Nam theo đường quốc lộ 47 và tiếp giáp với các đơn vị hành chính: Phía Bắc giáp huyện Hoằng Hoá, phía Nam và phía Tây giáp huyện Quảng Xương, phía Đông giáp vịnh Bắc Bộ

Hình 2.1: Sơ đồ thị xã Sầm Sơn (UBND thị xã Sầm Sơn)

Trang 31

Thị xã có 5 đơn vị hành chính gồm phường Trường Sơn, phường Bắc Sơn, phường Trung Sơn, phường Quảng Tiến và xã Quảng Cư Sầm Sơn là điểm du lịch có vai trò quan trọng bậc nhất của tỉnh Thanh Hóa, được coi là một trong những trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội của tỉnh

Tuy nhiên, sự đầu tư phát triển du lịch của các địa phương lân cận và

cả nước như Ninh Bình - một tỉnh rất giàu tiềm năng với nhiều điểm du lịch quan trọng: Tam Cốc - Bích Động, nhà thờ đá Phát Diệm, cố đô Hoa

Lư, vườn Quốc gia Cúc Phương; Nghệ An có bãi biển Cửa Lò và khu di tích Kim Liên - Nam Đàn… đặt ra những thách thức lớn đối với sự phát triển du lịch của thị xã Sầm Sơn

2.1.2 Tài nguyên du lịch tự nhiên

2.1.2.1 Địa hình

Thị xã Sầm Sơn gồm 2 loại đia hình chính: địa hình đồng bằng ven biển

và địa hình đồi núi thấp

- Địa hình đồng bằng ven biển: Gồm vùng đất trũng bên bờ sông Đơ trải dọc từ cống Trường Lệ đến sông Mã và vùng triều ngập mặn Quảng Cư

Từ khi đắp đập Trường Lệ vùng đất trũng bên bờ sông Đơ đang được ngọt hoá dần Hiện nay vùng này đang trồng lúa năng suất thấp, nuôi trồng hải sản, trồng sen

Khu vực nội thị, trải dài từ chân núi Trường Lệ đến bờ Nam sông Mã Địa hình tương đối bằng phẳng, dốc thoải từ Đông sang Tây thuận lợi cho việc xây dựng khách sạn, nhà nghỉ, trung tâm hành chính và các khu dân cư, diện tích khoảng 700 ha

Khu vực phía Đông đường Hồ Xuân Hương từ chân đền Độc Cước (phường Trường Sơn) kéo dài đến hết địa phận xã Quảng Cư Đây là dải cát mịn, thoải, dốc dần ra biển phù hợp với yêu cầu của bãi tắm (độ dốc từ 2 - 5%), diện tích khoảng 150 ha, rộng 200 m

- Về địa hình đồi núi thấp: Bao gồm toàn bộ núi Trường Lệ nằm ở phía Nam thị xã Sầm Sơn, độ dốc của núi thoải, cao trung bình khoảng 50 m, đỉnh

Trang 32

cao nhất đạt 76 m, có các vách đá dốc đứng về phía biển tạo nên sự hùng vĩ của núi Trường Lệ, về cơ bản có thể xây dựng được các công trình nhà nghỉ, rất thích hợp cho các loại hình du lịch leo núi, du lịch mạo hiểm

Bãi biển: Sầm Sơn có bờ biển dài khoảng 9 km, từ cửa Hới (sông Mã)

đến Vụng Tiên (Vụng Ngọc) với các bãi biển đẹp như bãi biển nội thị (A, B,

C, D), bãi biển Quảng Cư, bãi Lãn, bãi Vụng Tiên Các bãi biển này đều có đặc điểm chung là rộng, bằng phẳng, độ dốc thoải, bãi cát trắng mịn, sóng biển vừa phải, nước biển ấm, trong xanh có nồng độ muối trên dưới 3%, ngoài ra còn có Canxidium và nhiều khoáng chất khác có tác dụng chữa bệnh rất phù hợp cho hoạt động tắm biển và các hoạt động vui chơi giải trí nên từ lâu đã là khu nghỉ mát nổi tiếng trong cả nước Đây là thị trường tiêu dùng, mua sắm lớn cho 1,5 - 2 triệu khách du lịch hiện nay và khoảng 4 - 5 triệu du khách trong tương lai, tạo cơ sở để phát triển sản xuất nông, lâm, thủy sản hàng hóa và các mặt hàng tiểu thủ công nghiệp của các vùng lân cận

Hình 2.2: Bãi biển Sầm Sơn mùa du lịch

Thời gian tới có thể khai thác các bãi biển ở khu vực Quảng Cư và khu Nam Sầm Sơn (thuộc đề án “Điều chỉnh địa giới hành chính huyện Quảng Xương để mở rộng địa giới hành chính thị xã Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa”), hình thành một khu du lịch nghỉ dưỡng lớn của vùng và cả nước với các hoạt động du lịch phong phú và đa dạng như: tắm biển, nghỉ dưỡng và các loại

Trang 33

hình thể thao, vui chơi giải trí khác

Bên cạnh các bãi biển trên, Sầm Sơn còn có núi Trường Lệ cao 76 m nằm sát biển, được coi như là hòn ngọc của Sầm Sơn Các vách đá dốc đứng

về phía biển đã tạo nên sự hùng vĩ của núi Trường Lệ và rất thích hợp cho loại hình du lịch leo núi, du lịch mạo hiểm Mặt khác, ở đây có những bãi cỏ rộng, những sườn thoải và các đồi được cấu tạo từ đá granit cổ sinh hay đá biến chất dạng bát úp (điển hình là khối hoa cương Độc Cước) phù hợp cho

du lịch cắm trại và các hoạt động vui chơi giải trí khác Đặc biệt, hòn Trống Mái trên núi Trường Lệ là cảnh quan tự nhiên độc đáo của Sầm Sơn cũng như của cả nước, rất hấp dẫn khách du lịch

Sự đan xen giữa các loại địa hình (sông, núi, biển), giữa các bãi biển với núi Trường Lệ và cảnh quan sông nước, cùng với các hồ, đầm ở Quảng

Cư và những rặng thông, phi lao dọc ven biển tạo nên sự phóng phú và đa dạng của tài nguyên du lịch trên địa bàn, là điều kiện rất thuận lợi để Sầm Sơn phát triển nhiều loại hình du lịch hấp dẫn

2.1.2.2 Khí hậu

Thị xã Sầm Sơn nằm trong miền khí hậu Bắc Việt Nam, thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa có mùa đông lạnh Khí hậu chia làm hai mùa rõ rệt là mùa hạ nóng, ẩm, mưa nhiều và mùa đông lạnh, ít mưa

Chế độ nhiệt: Sầm Sơn có chế độ nhiệt tương đối cao, nhiệt độ trung bình năm khoảng 23oC Nhiệt độ trung bình mùa hè (tháng 5 - 9) là 32o

C, tháng nóng nhất nhiệt độ lên đến 40oC; nhiệt độ trung bình mùa đông (từ tháng 12 năm trước đến tháng 3 năm sau) là 200C, tháng lạnh nhất có thể xuống đến 5oC Tổng tích ôn cả năm khoảng 8.6000C; số giờ nắng cao, trung bình 1.700 giờ/năm Tháng có số giờ nắng cao nhất (tháng 7) là 225 giờ, tháng có số giờ nắng thấp nhất (tháng 2) là 46 giờ

Chế độ gió: Sầm Sơn là cửa ngõ đón các gió từ biển Đông thổi vào, tốc

độ gió khá mạnh, gió chủ đạo vẫn là gió Đông Nam, tốc độ trung bình 1,8 m/s

Trang 34

Gió thổi theo 2 mùa rõ rệt, mùa hè từ tháng 4 đến tháng 10 có gió Đông Nam – nồm Nam, mùa đông từ tháng 11 đến tháng 3 có gió mùa Đông Bắc

Chế độ mưa: Lượng mưa ở Sầm Sơn khá lớn, trung bình năm từ 1.600- 1.900 mm, nhưng phân bố không đều giữa hai mùa Mùa khô (từ tháng 12 - 4 năm sau) lượng mưa rất ít, chỉ chiếm 15% lượng mưa cả năm, ngược lại mùa mưa (từ tháng 5 - 11) tập trung tới 85% lượng mưa cả năm Ngoài ra trong mùa này thường có giông, bão kèm theo mưa lớn gây úng lụt cục bộ

Chế độ thủy triều: Thủy triều ở khu vực Sầm Sơn có chế độ nhật triều đều Về mùa hè thủy triều lên lúc 7 giờ và xuống lúc 14 - 16 giờ chiều; mùa đông thì ngược lại xuống lúc 6 - 9 giờ và lên lúc 14 - 16 giờ Biên độ triều trung bình khoảng 1,2 - 1,6 m, cao nhất đạt 2 - 2,5 m Chế độ thủy triều thích hợp cho các hoạt động du lịch tắm biển

Tóm lại, khí hậu ở Sầm Sơn tuy có sự phân chia rõ rệt theo mùa, nhưng

do có tác động điều hòa của biển nên khí hậu tương đối dễ chịu, mát vào mùa

hè, ít lạnh vào mùa đông Đây là điều kiện khá phù hợp cho du khách tắm biển, thăm quan, nghỉ dưỡng và phù hợp cho sự sinh trưởng của nhiều loại cây trồng, vật nuôi

2.1.2.3 Tài nguyên nước

- Về nước mặt:

Sầm Sơn có bờ biển dài 9 km, sẽ tiếp tục được kéo dài về phía Nam đến khoảng 14 km theo quy hoạch mở rộng thị xã đến năm 2015 Với sóng biển vừa phải, nước biển ấm, trong xanh, có nồng độ muối khoáng thích hợp, Sầm Sơn thực sự là nơi có lợi cho sức khỏe, hoạt động tắm biển và nghỉ dưỡng

Trên địa bàn Sầm Sơn có 02 sông chính chảy qua là sông Mã và sông Đơ; tổng lưu lượng dòng chảy trung bình khoảng 14 tỷ m3/năm, trong đó lưu lượng dòng chảy chủ yếu là của sông Mã, còn sông Đơ chỉ là một nhánh nhỏ chảy dọc thị xã (từ sông Mã ở phía Bắc đến cống Trường Lệ ở phía Nam),

Trang 35

có lưu lượng không đáng kể Hiện nay, việc khai thác nguồn nước mặt ở Sầm Sơn gặp nhiều khó khăn do nằm ở vùng cửa sông ven biển nước thường

bị nhiễm mặn Mặt khác, nguồn nước phân bố không đều trong năm, mùa mưa (từ tháng 6 đến tháng 10) lưu lượng dòng chảy lớn, chiếm tới 78% tổng lượng nước cả năm, thường gây ngập úng; ngược lại vào mùa khô (từ tháng

11 đến tháng 5) lưu lượng dòng chảy nhỏ, chỉ chiếm khoảng 22% nên thường gây hạn hán ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống nhân dân

- Về nước ngầm: Nước ngầm tại khu vực Sầm Sơn khá phong phú nhưng chất lượng thấp Mặt khác, thời gian qua do khai thác quá mức nên nguồn nước ngầm đang bị nhiễm mặn, đặc biệt các mạch sâu bị nhiễm mặn rất nặng, không thể sử dụng cho sinh hoạt và sản xuất

2.1.2.4 Tài nguyên sinh vật

Tài nguyên sinh vật ở Sầm Sơn khá đa dạng, ảnh hưởng lớn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung và du lịch nói riêng

Tài nguyên rừng: Rừng có tác dụng rất lớn trong việc bảo vệ môi trường và là đối tượng cho nhiều loại hình du lịch Đất rừng ở Sầm Sơn năm

1907 là 543 ha chủ yếu tập trung trên núi Trường Lệ Vào những năm 40 của thế kỷ XX, đây là khu rừng thông tuyệt đẹp được trồng để phục vụ khách du lịch, nhưng đến giai đoạn 1960 - 1970, rừng gần như bị phá huỷ hoàn toàn Những năm gần đây, rừng đang được khôi phục lại dần dần với các loại cây như: thông, keo lá chàm, keo tai tượng Hiện tại thị xã Sầm Sơn có 201,02 ha rừng, trong đó hầu hết phân bố trên núi Trường Lệ và một phần rừng trồng ven biển Rừng ở Sầm Sơn tuy không đem lại hiệu quả trực tiếp về kinh tế nhưng có giá trị rất lớn về bảo vệ môi trường sinh thái như chắn gió bão, ngăn mặn xâm thực vào đất liền và tạo cảnh quan thiên nhiên phục vụ phát triển

du lịch

Hải sản: Sầm Sơn có bờ biển dài 9 km từ Cửa Hới đến Vụng Tiên (Vụng Ngọc) Vùng biển, ven biển Sầm Sơn và phụ cận có nguồn lợi hải sản khá

Ngày đăng: 02/03/2015, 00:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2004), Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam)
Tác giả: Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2004
3. Nguyễn Đình Hòe và Vũ Văn Hiếu, Du lịch bền vững, NXB Đại học Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du lịch bền vững
Tác giả: Nguyễn Đình Hòe, Vũ Văn Hiếu
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia
4. Lê Văn Khoa, Khoa học môi trường, NXB giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học môi trường
Tác giả: Lê Văn Khoa
Nhà XB: NXB giáo dục Việt Nam
6. Lê Thông (chủ biên), Việt Nam – đất nước, con người, NXB giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam – đất nước, con người
Tác giả: Lê Thông
Nhà XB: NXB giáo dục
8. Nguyễn Minh Tuệ (chủ biên), Địa lí du lịch Việt Nam, NXB giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa lí du lịch Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Minh Tuệ
Nhà XB: NXB giáo dục
9. Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Thanh Hóa, Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng ven biển Thanh Hóa đến năm 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng ven biển Thanh Hóa đến năm 2020
Tác giả: Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Thanh Hóa
10. UBND thị xã Sầm Sơn, Đề án điều chỉnh địa giới hành chính huyện Quảng Xương để mở rộng địa giới hành chính thị xã Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án điều chỉnh địa giới hành chính huyện Quảng Xương để mở rộng địa giới hành chính thị xã Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa
Nhà XB: UBND thị xã Sầm Sơn
13. Trần Hùng (13/6/2013), khóa luận tốt nghiệp “Phương hướng và giải pháp phát triển bền vững du lịch Hải Phòng”, doc.edu.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương hướng và giải pháp phát triển bền vững du lịch Hải Phòng
Tác giả: Trần Hùng
Nhà XB: doc.edu.vn
Năm: 2013
14. Trường Đại học Nha Trang, “Kỉ yếu hội thảo khoa học – Phát triển bền vững du lịch biển Nha Trang – Khánh Hòa”, www.ntu.edu.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỉ yếu hội thảo khoa học – Phát triển bền vững du lịch biển Nha Trang – Khánh Hòa
Tác giả: Trường Đại học Nha Trang
15. Tổng cục Du lịch,“Du lịch Đà Nẵng: Tìm hướng đi bền vững”, http://www.dulichvn.org.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Du lịch Đà Nẵng: Tìm hướng đi bền vững”
2. Ban Tuyên giáo tỉnh ủy Thanh Hoá (2007), Sầm Sơn xanh vẫy gọi, NXB Thanh Hoá Khác
5. Trần Đức Thanh, Nhập môn khoa học du lịch, NXB Đại học quốc gia Hà Nội Khác
7. Tổng cục du lịch (2010), Non nước Việt Nam, NXB Văn hóa thông tin Khác
11. UBND thị xã Sầm Sơn, Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng – an ninh của thị xã Sầm Sơn (từ năm 2008 đến năm 2013) Khác
12. UBND thị xã Sầm Sơn, Báo cáo tổng kết công tác phát triển du lịch thị xã Sầm Sơn (từ năm 2008 đến năm 2013) Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1: Sơ đồ thị xã Sầm Sơn (UBND thị xã Sầm Sơn) - giải pháp phát triển du lịch bền vững tại thị xã sầm sơn
Hình 2.1 Sơ đồ thị xã Sầm Sơn (UBND thị xã Sầm Sơn) (Trang 30)
Hình 2.2: Bãi biển Sầm Sơn mùa du lịch - giải pháp phát triển du lịch bền vững tại thị xã sầm sơn
Hình 2.2 Bãi biển Sầm Sơn mùa du lịch (Trang 32)
Bảng 2.1: Một số loại hải sản phục vụ khách du lịch - giải pháp phát triển du lịch bền vững tại thị xã sầm sơn
Bảng 2.1 Một số loại hải sản phục vụ khách du lịch (Trang 36)
Hình 2.3: Hòn Trống Mái (Thị xã Sầm Sơn, Thanh Hóa) - giải pháp phát triển du lịch bền vững tại thị xã sầm sơn
Hình 2.3 Hòn Trống Mái (Thị xã Sầm Sơn, Thanh Hóa) (Trang 38)
Hình 2.5: Lễ hội khai mạc 100 năm du lịch Sầm Sơn - giải pháp phát triển du lịch bền vững tại thị xã sầm sơn
Hình 2.5 Lễ hội khai mạc 100 năm du lịch Sầm Sơn (Trang 40)
Hình 2.6: Sơ đồ các trục đường giao thông khu vực nội thị thị xã Sầm Sơn - giải pháp phát triển du lịch bền vững tại thị xã sầm sơn
Hình 2.6 Sơ đồ các trục đường giao thông khu vực nội thị thị xã Sầm Sơn (Trang 43)
Hình 2.7: Gỏi tôm Sầm Sơn - giải pháp phát triển du lịch bền vững tại thị xã sầm sơn
Hình 2.7 Gỏi tôm Sầm Sơn (Trang 49)
Hình 2.8: Bán hàng rong trên bãi biển - giải pháp phát triển du lịch bền vững tại thị xã sầm sơn
Hình 2.8 Bán hàng rong trên bãi biển (Trang 51)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w