Lê Huy Đoàn- trưởng khoa Kế hoạch phát triển cùng sự giúp đỡ của các cô chú, các anh, chị trong phòng Kinh tế kế hoạch, đã giúp em nhận thức được tầm quan trọng của nguồn vốn đầu tư tron
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Em xin gởi lời cảm ơn chân thành và sự tri ân sâu sắc đối với các thầy cô của trường Học viện chính sách và phát triển, đặc biệt là các thầy cô khoa Kế hoạch phát triển của trường đã tạo điều kiện cho em trong quá trình chuẩn bị cho khóa luận tốt nghiệp Và em cũng xin gửi lời cám ơn sâu sắc tới thầy giáo Ths Lê Huy Đoàn đã nhiệt tình hướng dẫn hướng dẫn em hoàn thành tốt nội dung bài khóa luận này
Trong quá trình làm bài báo cáo, khó tránh khỏi sai sót, rất mong các Thầy, Cô
bỏ qua Đồng thời do trình độ lý luận cũng như kinh nghiệm thực tiễn còn hạn chế nên bài báo cáo không thể tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận được ý kiến đóng góp Thầy, Cô để em học thêm được nhiều kinh nghiệm và sẽ hoàn thành tốt hơn bài báo cáo tốt nghiệp sắp tới
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự
hướng dẫn của thầy giáo: ThS Lê Huy Đoàn Các số liệu, kết quả nêu trong
khóa luận là trung thực, xuất phát từ tình hình thực tế tại công ty CP xây dựng và
đầu tư Sông Đà 9
Hà Nội, ngày 18 tháng 05 năm 2014
Sinh viên
Võ Quỳnh Lam
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong nền kinh tế với xu thế hội nhập kinh tế Quốc tế hiện nay, môi trường
kinh doanh luôn biến động không ngừng cùng với sự thay đổi nhanh chóng của
khoa học kỹ thuật đòi hỏi các doanh nghiệp luôn phải tìm cách tự đổi mới, hoàn
thiện mình cả về trình độ, năng lực, kinh nghiệm và hiện đại hóa công nghệ Do
đó, hoạt động đầu tư phát triển nhằm nâng cao khả năng, năng lực sản xuất kinh
doanh trong mỗi doanh nghiệp đã trở thành mối ưu tiên quan trọng trong định
hướng phát triển của doanh nghiệp
Công ty cổ phần xây dựng và đầu tư Sông Đà 9 là một doanh nghiệp Nhà
nước hoạt động trong lĩnh vực thi công, tư vấn giám sát, khảo sát thiết kế xây
dựng, phục vụ thi công những công trình thủy điện, nhiệt điện và các công trình
xây dựng công cộng Sản phẩm của công ty là các công trình thủy điện, đường
xá, nhà máy, các bản vẽ thiết kế kỹ thuật của các công trình, các hạng mục công
trình và các con số khảo sát, đặc điểm về chất đất, các kết luận thí nghiệm…Đây
là những sản phẩm đòi hỏi lượng vốn đầu tư lớn, sản phẩm có độ chính xác cao,
có phù hợp với thiết kế kỹ thuật hiện đại hay không đều phụ thuộc rất nhiều vào
trình độ, năng lực, kinh nghiệm của cán bộ công nhân viên làm công tác và độ
chính xác, hiện đại, có năng suất của các thiết bị máy móc Do đó, đầu tư vào
việc nâng cao năng lực sản xuất, đổi mới công nghệ có vai trò quan trọng trong
chiến lược sản xuất kinh doanh lâu dài của công ty
Trong thời gian thực tập tại công ty cổ phần xây dựng và đầu tư Sông Đà 9,
được sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo, Ths Lê Huy Đoàn- trưởng khoa Kế
hoạch phát triển cùng sự giúp đỡ của các cô chú, các anh, chị trong phòng Kinh
tế kế hoạch, đã giúp em nhận thức được tầm quan trọng của nguồn vốn đầu tư
trong việc nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp và lựa
chọn đề tài: “Hoạt động đầu tƣ phát triển ở công ty cổ phần xây dựng và
đầu tƣ Sông Đà 9”
Trang 4Trên cơ sở nghiên cứu của chuyên ngành Kế hoạch phát triển và các tài liệu
tham khảo khác, chuyên đề của em đã phân tích và đánh giá thực trạng công tác
đầu tư phát triển nhằm nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh tại công ty CP
xây dựng và đầu tư Sông Đà 9, từ đó đưa ra một số đề xuất nhằm hoàn thiện và
nâng cao chất lượng hoạt động đầu tư của công ty
1 Mục đích nghiên cứu
1 Vận dụng lý thuyết vào thực tiễn nhằm bổ sung và củng cố kiến thức đã học,
học hỏi kinh nghiệm từ thực tế để chuẩn bị hành trang sự nghiệp cho tương lai
2 Hệ thống hóa cơ sở lý luận về hoạt động đầu tư phát triển cấp vi mô
3 Đánh giá thực trạng công tác đầu tư phát triển tại công ty cổ phần xây dựng
và đầu tư Sông Đà 9 Từ đó, đưa ra một số giải pháp khắc phục, hoàn thiện công
tác đầu tư của công ty hơn nữa
2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Phạm vi thời gian: thời gian nghiên cứu trong khoảng thời gian từ năm 2009
tới 2013
- Thời gian thực hiện đề tài: từ ngày 15/2/2014 tới 20/3/2014
- Phạm vi không gian: Tình hình hoạt động đầu tư của công ty trên địa bàn Hà
Nội và các khu vực có dự án được công ty tiến hành thi công và đầu tư
4 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu thực nghiệm: tổng hợp, phân tích số liệu cụ thể
- Nghiên cứu lý thuyết thuần túy
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp so sánh
5 Kết cấu
Ngoài phần mở đầu và kết luận, kết cấu chuyên đề gồm 3 chương:
Chương I: Lý luận chung về đầu tư, đầu tư phát triển và vai trò của đầu tư
trong nền kinh tế nói chung, đối với doanh nghiệp nói riêng
Chương II: Giới thiệu đôi nét về công ty CP đầu tư và xây dựng Sông Đà, tình
hình tổng quan về hoạt động sản xuất kinh doanh và thực trạng đầu tư phát
triển của công ty
Trang 5Chương III: Mục tiêu hướng tới và biện pháp nhằm đạt hiệu quả cao trong
công tác đầu tư phát triển tại công ty
Do trình độ nhận thức còn có nhiều hạn chế, thời gian thực tập tại công ty
không nhiều, do đó những thiếu sót xuất hiện trong chuyên đề này là điều không
tránh khỏi, vì vậy em rất mong nhận được sự chỉ bảo của các thầy cô cùng các
cô, chú và các anh, chị trong công ty để chuyên đề được hoàn chỉnh hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 20 tháng 3 năm 2014
Sinh viên thực hiện
Võ Quỳnh Lam
Trang 6NỘI DUNG
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ, ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN VÀ
VAI TRÕ CỦA ĐẦU TƯ TRONG NỀN KINH TẾ NÓI CHUNG, ĐỐI VỚI
DOANH NGHIỆP NÓI RIÊNG
1 Đầu tư và đầu tư phát triển:
1.1 Đầu tư:
Cho đến nay có khá nhiều các khái niệm khác nhau về đầu tư Các khái niệm
này có thể đứng ở các góc độ khác nhau với những cách tiếp cận khác nhau, tuy
nhiên nội hàm của chúng đều thể hiện trực tiếp hoặc gián tiếp hành vi, hoặc quá
trình sử dụng các nguồn lực (vật chất, phi vật chất) nhằm đáp ứng mục tiêu hoặc
kết quả xác định Quá trình sử dụng nguồn lực không làm mất đi giá trị mà chỉ
làm thay đổi hình thái thể hiện giá trị của nguồn lực
Hiểu theo một cách chung, có thể coi đầu tư là quá trình sử dụng phối hợp các
nguồn lực trong một khoảng thời gian xác định nhằ đạt được kết quả, hoặc một
tập hợp các mục tiêu xác định trong điều kiện kinh tế- xã hội nhất định
Nguồn lực và sự hy sinh đó có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao
động và trí tuệ
Những kết quả sẽ đạt được có thể là sự tăng thê về mặt giá trị các tài sản tài
chính (tiền vốn), hoặc tăng thêm năng lực sản xuất, năng lực phục vụ của tài sản
vật chất (nhà máy, đường sám bệnh viện, trường học…), tài sản trí tuệ (trình độ
văn hóa, chuyên môn quản lý, khoa học kĩ thuật…) và nguồn nhân lực có đủ
điều kiện là việc với năng suất lao động cao hơn trong nền sản xuất xã hội
Trong những kết quả đạt được của đầu tư có thể có những kết quả trực tiếp và
có những kết quả gián tiếp Lợi ích do các kết quả đầu tư mang lại có thể là lợi
Trang 7ích trực tiếp cho chủ đầu tư tuy nhiên cũng có thể là các lợi ích gián tiếp cho
toàn bộ nền kinh tế và toàn bộ xã hội Chẳng hạn, một nhà máy được xây dựng,
tài sản vật chất của người đầu tư trực tiếp tăng thêm, đồng thời tài sản vật chất,
tiềm lực sản xuất của nền kinh tế cũng được tăng thêm Lợi ích trực tiếp do gia
tăng năng lực của một nhà máy có thể đem lại cho nhà đầu tư lợi nhuận, nhưng
lợi ích gián tiếp nó sẽ mang lại cho nền kinh tế mức độ thỏa mãn cao hơn về tiêu
dùng, mức độ đóng góp cho ngân sách, giải quyết việc làm cho người lao
động…Các lợi ích này có thể được xác định thông qua mục tiêu hoặc một tập
hợp mục tiêu cụ thể cho mỗi hoạt động đầu tư trong diều kiện cụ thể của nền
kinh tế trong mỗi giai đoạn phát triển nhất định
1.2 Đầu tư phát triển (ĐTPT):
Đầu tư phát triển là một bộ phận cơ bản của đầu tư, là hoạt động sử dụng vốn
trong hiện tại, nhằm tạo ra những tài sản vật chất và trí tuệ mới, năng lực sản
xuất mới và duy trì những tài sản hiện có, nhằm tạo thêm việc làm và vì mục
tiêu phát triển
Đầu tư phát triển là một phương thức đầu tư trực tiếp, trong đó quá trình đầu tư
làm gia tăng giá trị và năng lực sản xuất, năng lực phục vụ của tài sản Thông
qua hành vi này, năng lực sản xuất và năng lực phục vụ của nền kinh tế cũng gia
tăng
Đầu tư phát triển đòi hỏi rất nhiều loại nguồn lực Theo nghĩa hẹp, nguồn lực
được sử dụng cho ĐTPT là tiền vốn Theo nghĩa rộng, nguồn lực đầu tư bao
gồm cả tiền vốn, đất đai, lao động, máy móc thiết bị, tài nguyên Như vậy, khi
xem xét lựa chọn dự án đầu tư hay đánh giá hiệu quả hoạt động ĐTPT cần tính
đúng tính đủ các nguồn lực tham gia
Đối tượng của ĐTPT là tập hợp các yếu tố được chủ đầu tư bỏ vốn thực hiện
nhằm đạt được những mục tiêu nhất định Trên quan điểm phân công lao động
xã hội, có hai nhóm đối tượng đầu tư chính là đầu tư theo ngành và đầu tư theo
lãnh thổ Trên góc độ tính chất và mục đích đầu tư, đối tượng đầu tư chia thành
hai nhóm chính: công trình vì mục tiêu lợi nhuận và công trình phi lợi nhuận
Trên góc độ xem xét mức độ quan trọng, đối tượng đầu tư chia thành hai loại:
được khuyến khích đầu tư, loại không được khuyến khích đầu tư Từ góc độ tài
sản, đối tượng đầu tư chia thành: những tài sản vật chất (tài sản thực) và tài sản
vô hình Tài sản vật chất, ở đây là những tài sản cố định được sử dụng cho sản
Trang 8xuất kinh doanh của DN và nền KT và tài sản lưu động Tài sản vô hình như
phát minh sáng chế, uy tín, thương hiệu…
Kết quả của ĐTPT là sự tăng thêm về tài sản vật chất, tài sản trí tuệ, và tài sản
vô hình Các kết quả đạt được của đầu tư góp phần làm tăng thêm năng lực sản
xuất của xã hội Hiệu quả của ĐTPT phản ánh quan hệ so sánh giữa kết quả
KTXH thu được với chi phí chi ra đẻ đạt được kết quả đó
Mục đích của ĐTPT là vì sự phát triển bền vững, vì lợi ích quốc gia, cộng đồng
và nhà đầu tư Trong đó, đầu tư nhà nước nhằm thúc đẩy tăng trưởng KT, tăng
thu nhập quốc dân, góp phần giải quyết việc làm và nâng cao đời sống của các
thành viên trong xã hội Đầu tư của các DN nhằm tối thiểu chi phí, tối đa lợi
nhuận, nâng cao khả năng cạnh tranh và chất lượng nguồn nhân lực…
ĐTPT thường được thực hiện bởi một chủ đầu tư nhất định Xác định rõ chủ đầu
tư có ý nghĩa quan trọng trong quá trình quản lý đầu tư nói chung và vốn đầu tư
nói riêng Chủ đầu tư là người sở hữu vốn hoặc được giao quản lý, sử dụng vốn
đầu tư (Luật đầu tư 2005)
2 Phân loại và tác động của các hoạt động ĐTPT trong sản xuất kinh
doanh:
2.1 Theo bản chất và phạm vi lợi ích do đầu tư đem lại:
2.1.1 Đầu tư tài chính:
Là loại đầu tư trong đó người có tiền bỏ tiền cho vay hoặc mua các chứng từ có
giá để hưởng lãi suất định trước (gửi tiết kiệm, mua trái phiếu Chính phủ) hoặc
lãi suất tùy thuộc vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty phát
hành ( mua cổ phiếu công ty) Đầu tư tài sản tài chính không tạo ra tài sản mới
cho nền kinh tế quốc dân (nếu không xét đến quan hệ quốc tế trong lĩnh vực
này) mà chỉ làm gia tăng giá trị tài sản tài chính của tổ chức, cá nhân đầu tư Với
sự hoạt động chính thức đầu tư tài chính, vốn bỏ ra đầu tư được lưu chuyển dễ
dàng, khi cần có thể rút ra một cách nhanh chóng (rút tiết kiệm, chuyển nhượng
trái phiếu, cổ phiếu cho người khác…) Điều đó khuyến khích người có tiền bỏ
ra để đầu tư, để giảm độ rủi ro, họ có thể đầu tư vào nhiều nơi, mỗi nơi một ít
tiền Có thể nói thị trường tài chính là kênh cung cấp vốn hết sức quan trọng cho
đầu tư phát triển
2.1.2 Đầu tư thương mại:
Là loại đầu tư trong đó người có tiền bỏ tiền ra mua hàng hóa và sau đó bán với
giá cao hơn nhằm thu lợi nhuận do chênh lệch giá khi mua và bán Loại hình đầu
tư này cũng không tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế (nếu không xét đến ngoại
thương), mà chỉ làm tăng tài sản của người đầu tư trong quá trình mua đi bán lại,
Trang 9chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa giữa người bán và người đầu tư, giữa người
đầu tư và khách hàng của họ Tuy nhiên, đầu tư thương mại có tác dụng thúc đẩy
quá trình lưu thông của cải vật chất do ĐTPT tạo ra, từ đó thúc đẩy ĐTPT, tăng
thu cho ngân sách tăng tích lũy vốn cho phát triển sản xuất, kinh doanh dịch vụ
nói riêng và nền sản xuất xã hội nói chung (đầu cơ trong kinh doanh cũng thuộc
đầu tư thương mại nếu xét về bản chất, nhưng bị pháp luật cấm vì gây ra tình
trạng thừa thiếu hàng hóa một cách giả tạo, gây khó khăn cho việc quản lí lưu
thông phân phối, gây mất ổn định cho nền sản xuất, làm tăng chi phí của người
tiêu dùng)
2.1.3 Đầu tư tài sản vật chất và sức lao động:
Là loại đầu tư trong đó người có tiền bỏ tiền ra để tiến hành các hoạt động nhằm
tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế, làm tăng tiềm lực sản xuất kinh doanh và mọi
hoạt động xã hội khác, là điều kiệu chủ yếu để tạo ra việc làm, nâng cao đời
sống của mọi người dân trong xã hội Đó là việc bỏ tiền ra xây dựng, sửa chữa
nhà cửa và các kết cấu hạ tầng, mua sắm trang thiết bị, lắp đặt chúng trên nền bệ
và bồi dưỡng đào tạo nguồn nhân lực, thực hiện các chi phí thường xuyên gắn
liền với hoạt động của các tài sản này nhằm duy trì tiềm lực hoạt động của các
cơ sở đang tồn tại và tạo tiềm lực mới cho nền kinh tế xã hội Loại đầu tư này
thường được gọi chung là ĐTPT
Trên giác độ tài chính thì ĐTPT là quá trình chi tiêu để duy trì sự phát huy tác
dụng của vốn cơ bản hiện có và bổ dung vốn cơ bản mới cho nền kinh tế, tạo
nền tảng cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hội trong dài hạn
2.2 Theo thời hạn đầu tư:
2.2.1 Đầu tư dài hạn:
Là kế hoạch đầu tư mang tính chất lâu dài, định hướng sự phát triển của công ty
Thông thường kế hoạch đầu tư dài hạn có thời gian đầu tư từ 10 năm trở lên và
có quy mô to lớn Do có thời hạn đầu tư dài và mang ý nghĩa định hướng lâu dài
trong chiến lược phát triển của doanh nghiệp nên đầu tư dài hạn có khối lượng
tài sản số lượng lao động huy động là rất lớn
Đầu tư dài hạn là hoạt động chủ yếu nhằm xây dựng cơ sở vật chất lâu dài cho
nền kinh tế, cho DN sản xuất kinh doanh Đồng thời dựa trên các mục tiêu kế
hoạch của đầu tư dài hạn, DN, nền kinh tế sẽ đào tạo xây dựng được một đội
ngũ cán bộ công nhân viên/ kỹ thuật viên có trình độ cao hơn Thông qua các kế
hoạch dài hạn, DN sẽ có chiến lược mở rộng thị trường, xây dựng thương hiệu
cho mình Kế hoạch đầu tư dài hạn đòi hỏi những người lập kế hoạch đầu tư dài
hạn của công ty phải rất cẩn thận và có tầm nhìn chiến lượng thật tốt nếu không
Trang 10sẽ làm cho kế hoạch đầu tư không được thành công và kéo theo đó là sự sụp đổ
của DN hoặc làm cho DN không thể phát triển được
Do thời hạn của đầu tư dài hạn là rất dài so với sự thay đổi của tình hình phát
triển của nền kinh tế thị trường nên bên cạnh các kế hoặc đầu tư dài hạn có tính
chất định hướng, DN còn luôn phải đề ra những kế hoạch ngắn hạn nhằm từng
bước hiện thực hóa kế hoạch đầu tư dài hạn, tránh sự phát triển lệch lạc và bám
sát hơn với sự phát triển của nền kinh tế
2.2.2 Đầu tư ngắn hạn:
Là kế hoạch đầu tư có thời gian đầu tư ngắn, thường là dưới 10 năm Đầu tư
ngắn hạn có tác dụng tạo lực đẩy cho sự phát triển của công ty tùy theo mỗi thời
kỳ ngắn Là cách mà DN có thể bổ trợ, củng cố kế hoạch dài hạn Thông qua
đầu tư ngắn hạn, DN sẽ có đối sách tốt hơn, phản ứng nhanh nhạy hơn với sự
biến độn của thị trường Đầu tư ngắn hạn của DN sẽ sớm thu hồi vốn và lợi
nhuận hơn so với đầu tư dài hạn Đầu tư ngắn hạn không yêu cầu phải huy động
một khối lượng vốn đầu tư lớn và một số lượng nhân lực nhiều nhưng đòi hỏi
những nhà quản lý của DN phải có một cái nhìn, một phản ứng nhanh nhạy đối
với thị trường trong mỗi sự biến động của thị trường
Đầu tư ngắn hạn và đầu tư dài hạn bổ sung cho những khuyết điểm của nhau và
tạo cho sự phát triển thông thoáng nhanh nhạy của DN trong nền kinh tế thị
trường đầy biến động Các kế hoạch đầu tư tạo cho DN hoạt động một cách trơn
tru và phản ứng tốt với biến động của thị trường
3 Vai trò của hoạt động đầu tƣ:
Từ việc xem xét bản chất của ĐTPT, các lý thuyết kinh tế, cả lý thuyết kinh tế
kế hoạch hóa tập trung và lý thuyết kinh tế thị trường đều coi ĐTPT là nhân tố
quan trọng để phát triển KT, là chìa khóa của sự tăng trưởng
3.1 Tác động của ĐTPT trên giác độ toàn bộ nền kinh tế của đất nước:
Đối với một nền KT, hoạt động đầu tư có một ý nghãi đặc biệt quan trọng, nó
không chỉ đóng vai trò trong quá trình tái sản xuất của xã hội mà còn tạo ra
những cú hích cho sự phát triển của nền kinh tế ở những nước đang phát triển
thoát khỏi vòng luẩn quẩn của nợ nần và nghèo đói, tạo ra sự phát triển của các
nền kinh tế phát triển
3.1.1 Đầu tư vừa tác động đến tổng cung, vừa tác động đến tổng cầu:
- Về mặt cầu:
Trang 11Đầu tư là một yếu tố chiếm tỷ trọng lớn trong tổng cầu của toàn bộ nền kinh tế
theo số liệu của Ngân hàng thế giới WB, đầu tư thường chiếm khoảng 24%-
28% trong cơ cấu tổng cầu của tất cả các nước trên Thế giới Đối với tổng cầu,
tác động của đầu tư là ngắn hạn Với tổng cung chưa kịp thay đổi, sự tăng lên
của đầu tư làm cho tổng cầu tăng (đường D dịch chuyển sang D’) kéo sản lượng
cân bằng tăng theo từ Q0- Q1 và giá cả của các đầu và của đầu tư tăng tứ P0- P1
Điểm cân bằng dịch chuyển từ E0- E1
- Về mặt cung:
Khi thành quả của đầu tư phát huy tác dụng, các năng lực mới đi vào hoạt động
thì tổng cung, đặc biệt là tổng cung dài hạn tăng lên (đường S dịch chuyển sang
S’), kéo theo sản lượng tiềm năng tăng từ Q0- Q1 và do đó giá cả sản phẩm giảm
từ P0- P1 Sản lượng tăng, giá cả giảm cho phép tăng tiêu dùng Tăng tiêu dùng
đến lượt mình lại tiếp tục kích thích sản xuất hơn nữa Sản xuất phát triển chính
là nguồn gốc cơ bản để tăng tích lũy, phát triển kinh tế xã hội, tăng thu nhập cho
người lao động, nâng cao đời sống của mọi thành viên trong xã hội,
3.1.2 Đầu tư tác động đến sự ổn định của nền kinh tế theo 2 mặt:
Sự tác động không đồng thời về mặt ghời gian của đầu tư đối với tổng cung và
tổng cầu của nền KT làm cho mỗi sự thay đổi của đầu tư, dù là tăng hay giảm
đều cùng một lúc vừa là yếu tố duy trì sự ổn định vừa là yếu tố phã vỡ sự ổn
định của nền KT của mọi quốc gia
Trang 12Chẳng hạn, khi tăng đầu tư, cầu của các yếu tố của đầu tư tăng làm cho giá của
các hàng hóa có liên quan tăng (giá chi phí vốn, giá công nghệ, lao động, vật tư)
đến một mức độ nào đó sẽ dẫn đến tình trạng lạm phát Đến lượt mình, lạm phát
làm cho sản xuất đình trệ, đời sống của người lao động gặp nhiều khó khăn do
tiền lương ngày càng thấp hơn, thâm hụt ngân sách, kinh tế phát triển chậm lại
Mặt khác, tăng đầu tư làm cho cầu của các yếu tố có liên quan tăng, nâng cao
đời sống của người lao động, giảm tệ nạn xã hội Tất cả các tác động này tạo
điều kiện cho sự phát triển KT
Khi giảm đầu tư (như Việt Nam thời kỳ 1982- 1989) cũng dẫn đến tác động 2
mặt, nhưng theo chiều hướng ngược lại với tác động nêu trên, vì vậy, trong điều
hành vĩ mô nền KT, các nhà hoạch định chính sách cần chú ý thấy hết tác động
hai mặt này để đưa ra các chính sách nhằm hạn chế tác động xấu, phát huy tác
động tích cực, duy trì được sự ổn định của nền KT
3.1.3 Đầu tư tác động đến sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế:
Kinh nghiệm của các nước trên thế giới cho thấy con đường tất yếu để có thể
tăng trưởng nhanh với tốc độ mong muốn ( từ 9- 10%) là tăng trưởng đầu tư
nhằm tạo ra sự phát triển khu vực công nghiệp và dịch vụ Đối với các ngành
nông, lâm, ngư nghiệp do những hạn chế về đất đai và các khả năng sinh học, để
đạt được tốc độ tăng trưởng từ 5- 6% là rất khó khăn Như vậy, chính đầu tư
quyết định quá trình dịch chuyển cơ cấu KT ở các nước nhằm đạt được tốc đọ
tăng trưởng nhanh của toàn bộ nền KT
Chuyển dịch cơ cấu ngành của nền KT là sự thay đổi có mục đích, có định
hướng và dựa trên cơ sở phân tích đầy đủ căn cứ lý luận và thực tiễn, cùng với
vệc áp dụng đồng bộ các giải pháp cần thiết để chuyển cơ cấu ngành từ trạng
thái này qua trạng thái khác, hợp lý và hiệu quả hơn Việc đầu tư vốn vào ngành
nào, quy mô vốn là bao nhiêu, đồng vốn được sử dụng như thế nào… đều tác
động mạnh mẽ và trực tiếp đến sự phát triển của ngành nói riêng và của cả nền
KT nói chung
Trang 13Đầu tư tác động làm thay đổi tỷ trọng đóng góp vào GDP của các ngành, đây là
hệ quả tất yếu của đầu tư Đầu tư vào ngành nào càng nhiều thì ngành đó càng
có khả năng đóng góp lớn hơn vào GDP Như đã nói, đầu tư làm thay đổi tỷ
trọng của các ngành trong cả nền KT Sự thay đổi này lại đi liền với sự thay đổi
cơ cấu sản xuất trong từng ngành hay nói cách khác, sự phân hóa cơ cấu sản
xuất trong mỗi ngành KT là do có tác động của đầu tư
+ Đối với ngành nông nghiệp: đầu tư tác động nhằm đẩy nhanh công nghiệp hóa
và hiện đại hóa, cơ giới hóa nông nghiệp nông thôn bằng cách xây dựng kết cấu
KT xã hội nông nghiệp nông thôn, tăng cường khoa học công nghệ
+ Đối với ngành công nghiệp: chuyển dịch cơ cấu của khu vực công nghiệp
được thực hiện gắn liền với sự phát triển của các ngành kinh tế theo hướng đa
dạng hóa, từng bước hình thành một số ngành có trọng điểm và mũi nhọn, có tốc
độ phát triển cao, thuận lợi về thị trường và có khả năng xuất khẩu
+ Đối với ngành dịch vụ: đầu tư giúp phát triển các ngành thương mại, dịch vụ
vận tải hàng hóa, mở rộng thị trường trong nước và hội nhập Quốc tế Đầu tư
còn tạo nhiều thuận lợi trong việc phát triển nhanh các ngành dịch vụ bưu chính
viễn thông, phát triển du lịch, mở rộng các dịch vụ tài chính tiền tệ
Nhờ có đầu tư mà quy mô, năng lực sản xuất của các ngành cũng được tăng
cường Mọi việc như mở rộng sản xuất, đổi mới sản phẩm, mua sắm máy móc,
trang thiết bị…suy cho cùng đều cần đến vốn Một ngành muốn tiêu thụ rộng rãi
sản phẩm của mình phải luôn đầu tư nâng cao chất lượng sản phẩm, đa dạng hóa
mẫu mã, kiểu dáng, nghiên cứu chế tạo các chức năng, công dụng mới cho sản
phẩm Do đó việc đầu tư để nâng cao hàm lượng khoa học công nghệ trong sản
phẩm là điều kiện không thể thiếu được nếu muốn sản phẩm đứng vững trên thị
trường
Đối với cơ cấu KT vùng lãnh thổ, đầu tư có tác dụng giải quyết những mất cân
đối về phát triển giữa các vùng lãnh thổ, đưa những vùng kém phát triển thoát
Trang 14khỏi tình trạng đói nghèo, phát huy tối đa những lợi thế so sánh của những vùng
có khả năng phát triển nhanh hơn:
+ Nguồn vốn đầu tư thường được tập trung tại những vùng kinh tế trọng điểm
của đất nước, các vùng KT trọng điểm được đầu tư để phát huy thế mạnh của
mình, góp phần lớn vào sự phát triển chung của cả nước, làm đầu tàu kéo KT
chung của đất nước đi lên, khi đó những vùng KT khác mới có điều kiện để phát
triển, làm bàn đạp thúc đẩy cho các vùng khác phát triển
+ Nguồn vốn đầu tư cũng thúc đẩy các vùng KT khó khăn có khả năng phát
triển, giúp họ có đủ điều kiện để khai thác, phát huy tiềm năng của họ, giải quyết
những vướng mắc tài chính, cơ sở hạ tầng cũng như phương hướng phát triển,
tạo đà cho nền KT vùng, giảm bớt sự chênh lệch KT với các vùng khác Có thể
dễ dàng nhận thấy bất cứ vùng nào nhận được một sự đầu tư thích hợp đều có
điều kiện phát huy mạnh mẽ những thế mạnh của mình Những vùng tập trung
nhiều khu công nghiệp lớn đều là những vùng rất phát triển của một quốc gia
Những vùng có điều kiện kém phát triển có thể nhờ vào đầu tư để thoát khỏi đói
nghèo và giảm dần khoảng cách với các vùng khác Nếu xét cơ cấu lãnh thổ theo
góc độ thành thị và nông thôn thì đầu tư là yếu tố cơ bản đảm bảo cho chất
lượng của đô thị hóa Việc mở rộng các khu đô thị dựa trên các quyết định của
Chính phủ sẽ chỉ là hình thức nếu không đi kèm với các khoản đầu tư hợp lý, đô
thị hóa không thể gọi là thành công thậm chí còn cản trở sự phát triển nếu cơ sở
hạ tầng không đáp ứng được các nhu cầu của người dân
3.1.4 Đầu tư làm tăng khả năng khoa học công nghệ của đất nước:
Công nghệ là trung tâm của công nghiệp hóa, đầu tư là điều kiện tiên quyết của
sự phát triển và tăng cường khả năng công nghệ của nước ta hiện nay Theo
đánh giá của các chuyên gia công nghệ, trình độ công nghệ của Việt Nam lạc
hậu nhiều thế hệ so với thế giới và khu vực Theo UNIDO, nếu chia quá trình
phát triển công nghệ thế giới thành 7 giai đoạn thì Việt Nam đang là một trong
90 nước kém nhất về công nghệ Ngân hàng Thế giới đã phát triển một số chỉ số
để đo lường một nền kinh tế tri thức Những chỉ số này bao gồm chỉ số tri thức,
chỉ số sáng tạo, chỉ số về giáo dục, công nghệ thông tin Từ các chỉ số này người
Trang 15ta có thể tổng kết thành một chỉ số chung gọi là chỉ số kinh tế tri thức
(Knowledge Economy Index hay KEI) Nhìn toàn cục, các chỉ số này phản ánh
phần nào tình trạng kinh tế tri thức của một nước và cho phép chúng ta so sánh
với các nước khác
Trong báo cáo về tình hình khoa học trên thế giới năm nay của Tổ chức Giáo
dục - khoa học và văn hóa của Liên Hiệp Quốc (UNESCO), có 145 nước được
xếp hạng về kinh tế tri thức Kết quả phân tích và xếp hạng cho thấy (dựa vào
chỉ số KEI) nền kinh tế tri thức của Việt Nam đứng hạng 106 trên 145
So với năm 1995, thứ hạng của Việt Nam tăng 14 bậc Song so với các nước
tương đương trong vùng, kinh tế tri thức của Việt Nam thấp nhất (Indonesia
hạng 103, Philippines hạng 89, Thái Lan 63, Malaysia 48 và Singapore hạng
19) Việt Nam thậm chí còn ở thứ hạng thấp hơn cả bán đảo Fiji (hạng 86) Đấy
là bảng xếp hạng trong tình hình Philippines đã giảm 16 bậc, Indonesia giảm 2
và Thái Lan giảm 9 bậc
Với trình độ công nghệ lạc hậu này, quá trình công nghiệp hóa của Việt Nam sẽ
gặp rất nhiều khó khăn nếu không đề ta được một chiến lược đầu tư phát triển
công nghệ nhanh và bễn vững
Chúng ta đều biết rằng có hai con đường cơ bản để có công nghệ, đó là tự
nghiên cứu phát minh ra công nghệ và nhập khẩu công nghệ từ nước ngoài Dù
là tự nghiên cứu hay mua lại công nghệ thì đều cần phải có tiền, cần có vốn đầu
tư Mọi phương án đổi mới công nghệ không gắn với nguồn vốn đầu tư sẽ là
những phương án không khả thi
3.1.5 Đầu tư tác động đến sự tăng trưởng và phát triển kinh tế:
Kết quả nghiên cứu của các nhà KT cho thấy: muốn giữ tốc độ tăng trưởng ở
mức trung bình thì tỷ lệ đầu tư phải đạt từ 15- 20% so với GDP tùy thuộc vào
chỉ số ICOR của mỗi nước
Vốn đầu đầu tư vốn đầu tư
ICOR = - = -
GDP do vốn tạo ra GDP
Từ đó suy ra:
Vốn đầu tư
Trang 16Mức tăng GDP = -
ICOR
Nếu ICOR không đổi, mức tăng trưởng của GDP hoàn toàn phụ thuộc vào vốn
đầu tư
Ở các nước phát triển, ICOR thường lớn, từ 5- 7 do thừa vốn, thiếu lao động,
vốn được sử dụng nhiều để thay thế cho lao động, do sử dụng công nghệ hiện
đại có giá cao Còn ở các nước chậm và đang phát triển, ICOR thường thấp,
khoảng 2-3 do thiếu vốn, thừa lao động nên có thể và cần phải sử dụng lao động
để thay thế cho vốn do sử dụng công nghệ kém hiện đại, giá rẻ
Chỉ tiêu ICOR của mỗi nước phụ thuộc và nhiều nhân tố, thay đổi theo trình độ
phát triển kinh tế và cơ chế chính sách trong nước Số liệu thống kê trong những
năm qua của các nước và lãnh thổ trong khu vực về ICOR như sau:
Hệ số ICOR của Việt Nam so với một số nước trong khu vực
Nước Giai
đoạn
Tăng trưởng GDP (%/năm)
Tổng đầu
tư (% của GDP/năm)
Trang 1795 Trung
3.2 Đầu tư tác động đến các cơ sở sản xuất kinh doanh:
Đối với mỗi DN thì đầu tư có vai trò quyết định đến sự ra đời, tồn tại và phát
triển của mỗi cơ sở Khi tạo dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho sự ra đời của bất
kỳ cơ sở nào cũng cần phải xây dựng nhà xưởng, cấu trúc hạ tầng, mua sắm và
lắp đặt thiết bị máy móc trên nền bệ, tiến hành công tác xây dựng cơ bản và thực
hiện các chi phí khác gắn liền với sự hoạt động trong một chu kì của các cơ sở
vật chất kỹ thuật vừa được tạo ra Các hoạt động này chính là hoạt động đầu tư
Đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ đang tồn tại sau một thời gian
hoạt động, các cơ sở vật chất kỹ thuật có thể bị hao mòn, hư hỏng Để duy trì
được sự hoạt động bình thường cần định kỳ tiến hành sửa chữa lớn hoặc thay thế
mới để thích ứng với điền kiện hoạt động mới của sự phát triển khoa học kỹ
thuật và nhu cầu tiêu dùng của nền sản xuất xã hội, phải mua sắm các trang thiết
bị mới thay thế cho các trang thiết bị cũ đã lỗi thời, cũng có nghĩa là phải đầu tư
Như vậy, hoạt động đầu tư có vai trò quan trọng và tác động đến mọi đối tượng
KT của xã hội Hoạt động ĐTPT là động lực chủ yếu thúc đẩy sự phát triển của
nền KT, tạo ra tài sản mới cho nền KT, duy trì và phát triển cơ sở vật chất của
nền KT
4 Vốn đầu tƣ và các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của vốn đầu tƣ:
4.1 Vốn đầu tư:
Xét trong hoạt động sản xuất kinh doanh ở các DN, vốn đầu tư là khái niệm
dùng để chỉ các nguồn lực hiện tại chi dùng cho các hoạt động sản xuất kinh
Trang 18doanh nhằm thu về một nguồn lực mới có khối lượng và giá trị lớn hơn nguồn
lực đã bỏ ra Đối với đầu tư phát triển nói riêng thì vốn đầu tư chính là các
khoản tiền, của cải vật chất, nguyên nhiên liệu và hàng hóa chi dùng cho hoạt
động sản xuất kinh doanh để thu về khoản lợi nhuận lớn hơn trong tương lai
Đối với một DN thì vốn đầu tư xuất hiện từ khi DN còn chưa hình thành và sẽ
tiếp tục phát triển đến khi nào DN ngừng hoạt động Hiện nay, vốn đầu tư là một
trong nhữn nhân tố tiên quyết trong sự phát triển của bất kì một DN nào
4.2 Nguồn vốn đầu tư:
Nguồn vốn đầu tư là thuật ngữ dùng để chỉ các nguồn tập trung và phân phối
cho ĐTPT kinh tế đáp ứng nhu cầu chung của Nhà nước và của xã hội Nguồn
vốn đầu tư bao gồm nguồn vốn đầu tư trong nước và nguồn vốn đầu tư nước
ngoài
Xét về bản chất thì nguồn hình thành vốn đầu tư chính là phần tiết kiệm hay tích
lũy mà nền KT có thể huy động được để đưa vào quá trình tái sản xuất xã hội
4.2.1 Xét trên giác độ toàn bộ nền kinh tế (vĩ mô):
Trên góc độ này, nguồn vốn đầu tư bao gồm nguồn vốn đầu tư trong nước và
nguồn vốn đầu tư nước ngoài:
- Nguồn vốn đầu tư trong nước: là phần tích lũy của nội bộ nền KT bao gồm
tiết kiệm của khu vực dân cư, các tổ chức KT, các DN và tiết kiệm của chính
phủ được huy động vào quá trình tái sản xuất của xã hội Biểu hiện cụ thể của
nguồn vốn đầu tư trong nước bao gồm nguồn vốn đầu tư nhà nước và nguồn vốn
của dân cư và tư nhân:
+ Nguồn vốn nhà nước: bao gồm nguồn vốn của ngân sách nhà nước, nguồn vốn
tín dụng ĐTPT của nhà nước và nguồn vốn ĐTPT của doanh nghiệp nhà nước
+ Nguồn vốn của dân cư và tư nhân: bao gồm phần tiết kiệm của dân cư, phần
tích lũy của các DN dân doanh, các hợp tác xã
- Nguồn vốn đầu tư nước ngoài: bao gồm toàn bộ phần tích lũy của cá nhân,
các DN, các tổ chức KT và chính phủ nước ngoài có thể huy động vào quá trình
ĐTPT của nước sở tại Có nhiều hình thức đầu tư nước ngoài khác nhau:
+ Tài trợ phát triển chính thức (ODF): bao gồm viện trợ phát triển chính thức
ODA và các hình thức tài trợ khác Trong đó ODA chiếm tỷ trọng chủ yếu
Trang 19ODA là nguồn vốn phát triển do các tổ chức quốc tế và các chính phủ nước
ngoài cung cấp với mục tiêu trợ giúp các nước đang phát triển, mang tính ưu đãi
cao nhất trong số các hình thức tài trợ
+ Nguồn vốn tín dụng từ các ngân hàng TMQT: điều kiện ưu đãi thấp, khó vay
vốn tuy nhiên không gây ràng buộc chính trị
+ Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI: là nguồn vốn quan trọng cho
ĐTPT không chỉ đối với các nước nghèo mà còn với những nước phát triển
+ Thị trường vốn quốc tế
4.2.2 Trên góc độ các DN (vi mô):
- Nguồn vốn bên trong: hình thành từ phần tích lũy từ nội bộ DN (vốn góp ban
đầu, thu nhập giữ lại) và phần khấu hao hàng năm Nguồn vốn này có ưu điểm là
bảo đảm tính độc lập, chủ động, không phụ thuộc vào chủ nợ, hạn chế rủi ro về
tín dụng
- Nguồn vốn bên ngoài: có thể hình thành từ việc vay nợ hoặc phát hành
chứng khoán ra công chúng thông qua hai hình thức tài trợ chủ yếu: tài trợ gián
tiếp qua các trung gian tài chính ( NHTM, tổ chức tín dụng…) hoặc tài trợ trực
tiếp (qua thị trường vốn: thị trường chứng khoán, hoạt động tín dụng thuê
mua…)
4.3 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của vốn đầu tư:
Hiệu quả đầu tư là phạm trù KT biểu hiện quan hệ so sánh giữa các kết quả KT-
XH đạt được của hoạt động đầu tư với các chi phí bỏ ra để có được các kết quả
đó trong một thời kì nhất định Có nhiều cách đánh giá theo các chỉ tiêu đánh giá
khác nhau về hiệu quả đầu tư tùy theo tính chất và kết quả cuối cùng của hoạt
động đầu tư đem lại cho nhà đầu tư
4.3.1 Đánh giá hiệu quả tài chính của hoạt động đầu tư:
Hiệu quả tài chính của hoạt động đầu tư là mức độ đáp ứng nhu cầu phát triển
hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ và nâng cao đời sống của người lao động
trong các cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ trên cơ sở số vốn đầu tư mà cơ sở
đã sử dụng so với các kì khác, các cơ sở khác hoặc so với định mức chung:
Các kết quả mà cơ sở thu được do thực hiện đầu tư
Trang 20Etc= -
Số vốn đầu tư mà cơ sở đã bỏ ra để đạt được kết quả trên
Etc được coi là hiệu quả khi Etc Etco
Trong đó: Etco là chỉ tiêu hiệu quả tài chính định mức, hoặc của các kì khác mà
cơ sở đã đạt được chọn làm cơ sở so sánh, hoặc của đơn vị khác đã đạt tiêu
chuẩn hiệu quả
4.3.1.1 Để đánh giá hiệu quả tài chính của một dự án người ta sử dụng hệ
thống chỉ tiêu sau:
a Chỉ tiêu lợi nhuận, thu nhập thuần của dự án:
Đây là các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả tuyệt đối của dự án đầu tư, chỉ tiêu lợi
nhuận thuần tính cho từng năm của đời dự án, phản ánh hiệu quả hoạt động
trong từng năm của đời dự án, hoặc hiệu quả hoạt động của toàn bộ công cuộc
đầu tư
b Chỉ tiêu tỷ suất sinh lời của vốn đầu tư (hệ số thu hồi vốn):
Chỉ tiêu này phản ánh mức lợi nhuận thu được từng năm
I
W RR
trên một đơn vị vốn đầu tư và mức thu nhập thuần được tính cho một đơn vị
Ivo: vốn đầu tư tại thời điểm hiện tại (dự án bắt đầu hoạt động)
Wipv: lợi nhuận thuần năm i tính chuyển về thời điểm hiện tại
NPV: thu nhập thuần tính chuyển về thời điểm hiện tại
c Chỉ tiêu tỷ suất sinh lời vốn tự có ( rE):
Trang 21Chỉ tiêu này phản ánh mức lợi nhuận thuần từng năm tính trên 1 đơn vị vốn tự
có bình quân của năm đó:
rE=
i
i
E W
Trong đó:
- rE: tỷ suất sinh lời vốn tự có
- Ei: vốn tự có bình quân năm i
- Wi: lợi nhuân thuần năm i
Nếu tính cả đời dự án (npvE) chỉ tiêu này phản ánh mức thu nhập thuần của cả
đời dự án tính cho một đơn vị vốn tự có bình quân năm của cả đời dự án
NpvE=
pv
E NPV
d Chỉ số vòng quay của vốn lưu động:
Vốn lưu động là một bộ phận của vốn đầu tư, vốn lưu động quay vòng càng
nhanh càng cần ít vốn và trong điều kiện khác không đổi thì hiệu quả sử dụng
Trong đó:
Oi: doanh thu thuần năm i
Wei: vốn lưu động bình quân năm i của dự án
Hoặc:
pv
pv Wc
Trang 22Wc pv- vốn lưu động bình quân của cả đời dự án
e Chỉ tiêu tỷ số lợi ích- chi phí (B/C):
Chỉ tiêu này phản ánh tỷ số giữa lợi ích thu được với chi phí phải bỏ ra, dự án có
hiệu quả khi B/C 1 và ngược lại
f Chỉ tiêu thời gian thu hồi vốn đầu tư (T):
Chỉ tiêu này cho biết thời gian mà dự án cần hoạt động để thu hồi vốn đầu tư đã
bỏ ra từ lợi nhuận và khấu hao thu được hàng năm Dự án có hiệu quả khi T
tuổi thọ của dự án hoặc T T định mức Thời gian thu hồi vốn càng ngắn thì
hiệu quả của dự án càng cao
g Chỉ tiêu hệ số hoàn vốn nội bộ (IRR):
Hệ số hoàn vốn nội bộ là mức lãi suất nếu dùng nó làm tỷ suất chiết khấu để tính
chuyển các khoản thu, chi của dự án về mặt bằng thời gian hiện tại thì tổng thu
cân bằng với tổng chi Dự án có hiệu quả khi IRR r và ngược lại Tỷ suất giới
hạn được xác định căn cứ vào các nguồn vốn huy động của dự án
ở đây:
NPV = giá trị hiện tại thuần của đầu tư
= dòng tiền tại thời điểm
h Chỉ tiêu điểm hòa vốn:
Điểm hòa vốn là điểm mà tại đó doanh thu vừa đủ để trang trải các khoản chi
phí phải bỏ ra Điểm hào vốn được biểu hiện bằng chỉ tiêu hiện vật và chỉ tiêu
giá trị Nếu sản lượng hoặc doanh thu của cả đời dự án lớn hơn sản lượng hoặc
doanh thu hòa vốn thì dự án có lãi và ngược lại Điểm hòa vốn càng nhỏ càng
tốt, mức an toàn của dự án càng cao, thời gian thu hồi vốn càng ngắn
4.3.1.2 Đối với doanh nghiệp:
Trang 23a Chỉ tiêu tỷ suất sinh lời của vốn đầu tư:
+ Tính cho từng năm:
RRi =
ve vr vb
m
j j
I I I
với j=1,2, ,m - lợi nhuận thuần của các dự án hoạt động năm i
Ivb- vốn đầu tư thực hiện nhưng chưa phát huy tác dụng ở đầu năm của DN
Ivr- vốn đầu tư thực hiện trong năm của DN
Ive- vốn đầu tư thực hiện chưa phát huy tác dụng ở cuối năm của DN
vhdpv
I - vốn đầu tư được phát huy tác dụng bình quân năm của thời kì nghiên cứu
được tính theo cùng mặt bằng với lợi nhuân thuần
pv
W - lợi nhuận bình quân năm của kì nghiên cứu tính theo giá trị ở mặt bằng
hiện tại của tất cả các dự án hoạt động trong kì
b Chỉ tiêu tỷ suất sinh lời tăng thêm của vốn tự có của DN do đầu tư từng năm
(r Ei) hoặc bình quân năm thời kì nghiên cứu (
Trang 24K: hệ số mức ảnh hưởng của đầu tư
I: năm nghiên cứu
I-1: năm nghiên cứu trước
T: thời kì nghiên cứu
T-1: thời kì trước thời kí nghiên cứu
c Chỉ tiêu số lần quay vòng tăng thêm của vốn lưu động từng năm (L Wci)
hoặc bình quân năm L WCt thời kì nghiên cứu:
LWci=(L WCi -L WCi1)K > 0
xp
t t
f Chỉ tiêu tăng năng suất lao động của DN từng năm hoặc bình quân năm thời
kỳ nghiên cứu so với thời kỳ đầu tư:
Trang 254.4 Các chỉ tiêu đánh giá tài chính DN:
Tài chính doanh nghiệp là khâu cơ sở của hệ thống tài chính trong nền kinh tế, là
một phạm trù kinh tế khách quan gắn liền với sự ra đời của nền kinh tế hàng hóa
tiền tệ
Xét về hình thức, tài chính DN là quỹ tiền tệ trong quá trình tạo lập, phân phối,
sử dụng và vận động gắn liền với hoạt động của doanh nghiệp Xét về bản chất,
tài chính DN là các quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị nảy sinh gắn liền với
viêc tạo lập, sử dụng quỹ tiền tệ của DN trong quá trình hoạt động của DN
Để tìm hiểu và đánh giá năng lực hoạt động, tình hình phát triển của một DN,
người ta dựa trên các kết quả của phân tích tài chính
Phân tích tài chính DN là việc nghiên cứu, đánh giá toàn bộ thực trạng tài chính
của DN, phát hiện các nguyên nhân tác động tới các đối tượng phân tích và đề
xuất các giải pháp có hiệu quả giúp DN ngày càng nâng cao hiệu quả hoạt động
kinh doanh
Phân tích tài chính DN là vấn đề hết sức quan trọng trong đánh giá tình hình
DN Thông qua việc phân tích tài chính cho phép đánh giá khái quát và toàn
diện các mặt hoạt động của DN, thấy rõ điểm yếu, điểm mạng và những tiềm
năng của DN
Trong phân tích tài chính DN có rất nhiều các chỉ số, tuy nhiên trong nhiều
trường hợp, do tình hình hạn chế về mặt số liệu, người ta thường sử dụng một số
chỉ tiêu quan trọng và cơ bản nhất để phân tích, các chỉ tiêu đó bao gồm:
4.4.1 Chỉ tiêu thanh toán hiện hành (current ratio):
- Ý nghĩa:
Cho biết khả năng của một công ty trong việc dùng các tài sản ngắn hạn như tiền
mặt, hàng tồn kho hay các khoản phải thu để chi trả cho các khoản nợ ngắn hạn
của mình Tỷ số này càng cao chứng tỏ công ty càng có nhiều khả năng sẽ hoàn
trả được hết các khoản nợ Tỷ số thanh toán hiện hành nhỏ hơn 1 cho thấy công
ty đang ở trong tình trạng tài chính tiêu cực, có khả năng không trả được các
Trang 26khoản nợ khi đáo hạn Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là công ty sẽ phá sản
bởi vì có rất nhiều cách để huy động thêm vốn Mặt khác, nếu tỷ số này quá cao
cũng không phải là một dấu hiệu tốt bởi vì nó cho thấy doanh nghiệp đang sử
dụng tài sản chưa được hiệu quả
- Định nghĩa Cách xác định:
Tỷ số thanh toán hiện hành = (Tài sản ngắn hạn) (Nợ ngắn hạn)
(Nguồn: “CFA Level 1 Book 3: Financial Reporting and Analysis”, Kaplan, 2009)
4.4.2 Chỉ tiêu thanh toán nhanh:
- Ý nghĩa:
Tỷ số thanh toán nhanh cho biết liệu công ty có đủ các tài sản ngắn hạn để trả
cho các khoản nợ ngắn hạn mà không cần phải bán hàng tồn kho hay không Tỷ
số này phản ánh chính xác hơn tỷ số thanh toán hiện hành Một công ty có tỷ số
thanh toán nhanh nhỏ hơn 1 sẽ khó có khả năng hoàn trả các khoản nợ ngắn hạn
và phải được xem xét cẩn thận Ngoài ra, nếu tỷ số này nhỏ hơn hẳn so với tỷ số
thanh toán hiện hành thì điều đó có nghĩa là tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp
phụ thuộc quá nhiều vào hàng tồn kho Các cửa hàng bán lẻ là những ví dụ điển
hình của trường hợp này
- Cách xác định:
Tỷ số thanh toán nhanh = (Tiền và các khoản tương đương tiền+các khoản phải
thu+các khoản đầu tư ngắn hạn) (Nợ ngắn hạn)
(Nguồn: “CFA Level 1 Book 3: Financial Reporting and Analysis”, Kaplan,
2009)
4.4.3 Thu nhập trên cổ phần (EPS):
- Ý nghĩa:
EPS đóng vai trò như một chỉ số về hiệu quả hoạt động của công ty Khi tính
EPS, người ta thường dùng khối lượng cổ phiếu lưu hành bình quân trong suốt
kỳ báo cáo để có kết quả chính xác hơn, bởi vì số lượng cổ phiếu lưu hành có
thể thay đổi theo thời gian Tuy nhiên, các nguồn dữ liệu đôi khi sẽ đơn giản hóa
quá trình tính toán bằng cách dùng số lượng cổ phiếu đang lưu hành vào cuối
kỳ EPS pha loãng khác EPS cơ bản ở chỗ EPS pha loãng thường cộng thêm số
lượng trái phiếu có thể chuyển đổi hay trái quyền vào số lượng cổ phiếu đang
lưu hành EPS thường được xem là chỉ số quan trọng nhất trong việc xác định
giá của cổ phiếu Đây cũng là thành phần chính dùng để tính toán chỉ số P E
Một điểm quan trọng nữa thường bị bỏ qua là việc tính toán lượng vốn dùng để
Trang 27tạo ra lợi nhuận Hai công ty có thể có cùng EPS, nhưng một công ty có thể sử
dụng vốn ít hơn- tức là công ty đó có hiệu quả cao hơn trong việc sử dụng vốn
của mình để tạo ra lợi nhuận và, nếu những yếu tố khác là tương thì đây là công
ty tốt hơn
- Cách xác định:
EPS = (LNST-cổ tức của cổ phiếu ưu đãi) (KLCP lưu hành bình quân trong kỳ)
(Nguồn: “CFA Level 1 Book 3: Financial Reporting and Analysis”, Kaplan,
ROA = (Tổng LN sau thuế) (Tổng tài sản)
(Nguồn: Giáo trình “Tài Chính – Tiền tệ ngân hàng”, PGS.TS Nguyễn Xuân
Tiến – NXB Thống Kê)
4.4.5 Tỷ suất lợi nhuận thuần:
- Ý nghĩa:
Chỉ tiêu này cho biết một đồng doanh thu thuần từ bán hàng hóa và cung cấp
dịch vụ sẽ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận
Tỷ suất này càng cao thì hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp càng cao
- Cách xác định:
TSLN thuần = (LN sau thuế) ( Doanh thu thuần)
(Nguồn: Giáo trình “Tài Chính – Tiền tệ ngân hàng”, PGS.TS Nguyễn Xuân
Trang 28ROE = 100% x Lợi nhuận ròng sau thuế kỳ này
Tổng giá trị vốn chủ sở hữu kỳ này
Ngoài ra còn có một số chỉ tiêu khác như:
- Tỷ số thanh toán nhanh (Quick ratio)
- Tỷ số thanh toán tiền mặt (Cash Ratio)
- Giá trị sổ sách (Book value)
- P/B
- Tỷ suất lợi nhuận gộp
- Lợi nhuận biên từ hoạt động kinh doanh
- EPS cơ bản (Earning per share)
- Hệ số vòng quay hàng tồn kho (Inventory turnover)
- Hệ số vòng quay các khoản phải thu (Receivable turnover)
- Hệ số vòng quay các khoản phải trả (Payable turnover)
- Kỳ thu tiền bình quân (Days of sales outstanding)
- Hệ số vòng quay tài sản cố định (Fixed asset turnover),
- Hệ số vòng quay tổng tài sản (Asset Turnover Ratio)
- Kỳ chuyển đổi hàng tồn kho (Days of inventory on hand)
- Kỳ chuyển đổi các khoản phải thu (Days of Sales Outstanding)
- Kỳ chuyển đổi các khoản phải trả (Number of days of payables)
- Kỳ chuyển đổi các khoản phải trả (Number of days of payables)
Trang 295 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư của doanh nghiệp:
5.1 Môi trường bên ngoài DN:
Đối với một DN sản xuất kinh doanh, môi trường bên ngoài tác động trực tiếp
đến sự tồn vong và phát triển của DN
5.1.1 Môi trường pháp lý- chính trị:
Môi trường pháp lý bao gồm các luật và các văn bản dưới luật Mọi quy định về
kinh doanh đều tác động trực tiếp đến kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
Môi trường pháp lý tạo ra sân chơi để các DN cùng tham gia hoạt động kinh
doanh, vừa cạnh tranh vừa hợp tác lẫn nhau Mọi định hướng, mục tiêu của DN
khi đưa ra đều dựa trên cơ sở các luật định của Nhà nước, các DN hoạt động
dưới sự định hướng của Nhà nước thông qua các luật định Do vậy, hoạt động
đầu tư của DN trong mỗi thời kid hoạt động nên dựa trên quy định của các văn
bản pháp luật, tùy theo định hướng phát triển KT của đất nước để đề ra phương
hướng cho đầu tư của DN mình
5.1.2 Môi trường kinh tế:
Các nhân tố KT có vai trò quyết định trong việc hoàn thiện môi trường kinh
doanh và ảnh hưởng tới hoạt động tiêu thụ của DN Môi trường KT là một nhân
tố quan trọng ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty nói
chung và hoạt động đầu tư nói riêng Môi trường KT vừa tạo ra các cơ hội phát
Trang 30triển cho các DN, vừa có thể là nhân tố đầu tiên và chủ yếu trong việc chấm dứt
hoạt động của DN nếu định hướng và hoạt động của DN không tuân theo quy
luật phát triển của nó Đây chính là nhân tốt tác động trực tiếp nhất đến định
hướng kinh doanh và phát triển của DN Do đó, khi đưa ra một chiến lược đầu
tư cho DN mình, các nhà lãnh đạo DN đều phải phân tích kĩ càng các biến động
của môi trường KT mà DN mình tham gia
5.1.3 Môi trường khoa học công nghệ:
Sự thay đổi nhanh chóng của KHCN trên thế giới làm cho các DN sản xuất kinh
doanh ngày càng phải đầu tư thay đổi công nghệ mới Sự thay đổi nhanh chóng
đó làm cho tuổi thọ của các thiết bị kĩ thuật ngày càng phải rút ngắn do công
nghệ kĩ thuật của chúng theo thời gian không còn đáp ứng được với đòi hỏi của
thị trường và thời đại Vì vậy trong định hướng đầu tư của DN phải có sự suy
xét chu đáo, lựa chọn các loại máy móc sao cho vừa phù hợp với trình độ phát
triển và yêu cầu của thời đại vừa phù hợp với kế hoạch phát triển và ngân sách
đầu tư có thể cho phép của DN
5.2 Các nhân tố thuộc môi trường bên trong:
5.2.1 Các mục tiêu phát triển của doanh nghiệp:
Trong một môi trường KT phát triển mạnh và không ngừng biến động như hiện
nay, các DN luôn bị đe dọa bởi các nguy cơ tiềm ẩn từ môi trường KT, DN nào
biết cách làm chủ những biến động đó thì sẽ hoạt động an toàn hơn và có nhiều
cơ hội tồn tại, phát triển hơn so với các DN khác Việc xây dựng các kế hoạch,
mục tiêu phát triển của DN chính là một phương thức hữu hiệu để loại bỏ bớt
các yếu tố rủi ro do môi trường KT đem lai Vì vậy, bất kì DN nào đi vào hoạt
động đều có các mục tiêu, chiến lược và định hướng phát triển riêng, là nhân tố
chủ quan chính ảnh hưởng đến hoạt động của DN Do vậy, mục tiêu và chiến
lược của DN trong từng thời kì tác động đến việc đầu tư của DN, hoạt động đầu
tư phải dựa trên định hướng phát triển của DN
5.2.2 Lực lượng lao động bên trong công ty:
Trang 31Do sự thay đổi nhanh chóng về mặt công nghệ và khoa học trên thế giới, nhân tố
con người ngày càng trở nên quan trọng, là nhân tố đảm bảo cho sự thành công
của đơn vị Các DN muốn thành công thì cùng với sự đầu tư về máy móc thì DN
cũng cần phải đầu tư cho yếu tố con người Trong bất cứ thời đại nào thì nhân tố
con người cũng luôn là nhân tố quan trọng nhất trong mỗi khâu sản xuất Đặc
biệt trong thời đại ngày nay, khi khoa học kỹ thuật ngày càng hiện đại thì việc
nâng cao trình độ, kinh nghiệm của đội ngũ nhân lực cho phù hợp với trang thiết
bị hiện đại trong mỗi DN càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết Do đó, trong
chiến lược đầu tư của bất kì một DN nào, nhân tố con người cũng phải được đưa
lên hàng đầu Cùng với các biện pháp đào tạo lạo, đào tạo nâng cao trình độ của
cán bộ công nhân viên tại DN thì DN cũng cần phải xây dựng các chính sách, đề
ra các biện pháp thu hút nhân tài cho sự phát triển của DN cùng với các chính
sách đãi ngộ, thưởng phạt hợp lý
5.2.3 Khách hàng:
Cùng với sự tăng trưởng mạnh mẽ của nền KT, tính cạnh tranh giữa các DN
ngày càng khốc liệt xoay quanh việc giành khách hàng- nhân tố quyết định đến
doanh thu của bất kì một doanh nghiệp nào Trong chính sách đầu tư của DN,
đầu tư mở rộng thị trường, chế độ chính sách thu hút khách hàng đến với sản
phẩm của DN mình luôn được chú trọng ĐTPT Đối với bất kỳ các DN sản xuất
kinh doanh nào, việc thu hút chăm sóc khách hàng đã trở thành nhân tố quyết
định sự sống còn của chính DN Vì vậy, khách hàng chính là một nhân tố ảnh
hưởng trực tiếp đến các kế hoạch đầu tư của DN, là nhân tố định hướng cho việc
đầu tư của DN
5.2.4 Cơ sở vật chất của DN:
Cơ sở vật chất của DN là yếu tố khoogn thể thiết trong hoạt động của mỗi DN,
là nền tảng cho quá trình sản xuất kinh doanh Cùng với thời gian và sự phát
triển mạnh mẽ của nền khoa học kỹ thuật hiện đại, cơ sở vật chất của DN cũng
ngày càng bị mài mòn, hỏng hóc hoặc không phù hợp để chế tạo ra các sản
phẩm phù hợp với nhu cầu của thời đại Do đó, doanh nghiệp muốn mở rộng sản
Trang 32xuất và hiện đại hóa sản phẩm của DN mình thì trong chiến lược đầu tư phải chú
trọng cả việc hiện đại hóa và mở rộng cơ sở vật chất kĩ thuật phù hợp với định
hướng sản xuất kinh doanh
5.2.5 Đặc điểm về quản trị doanh nghiệp:
Đội ngũ các nhà quản trị mà đặc biệt là các nhà quản trị cấp cao lãnh đạo DN có
vai trò quan trọng đối với sự thành đạt của DN Các nhà quản trị là người hoạch
định chính sách, chiến lược phát triển cho DN trong từng thời kì khác nhau, do
vậy phẩm chất và năng lực của các nhà quản trị có vai trò quan trọng ảnh hưởng
đến hoạt động đầu tư của DN Sự tồn tại và phát triển của DN phụ thuộc vào
phần lớn đặc điểm quản trị DN của các nhà quản trị
6 Tổng quan về công ty CP xây dựng và đầu tƣ Sông Đà 9:
6.1 Tên giao dịch, trụ sở, ngành nghề kinh doanh chủ yếu:
6.1.1 Tên công ty:
CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG VÀ ĐẦU TƢ SÔNG ĐÀ 9
6.1.2 Tên giao dịch quốc tế:
SONG DA 9 CONSTRUCTION AND INVESTMENT JOINT STOCKS
COMPANY
6.1.3 Tên viết tắt: SINCO
6.1.4 Trụ sở chính: KCN Phú Nghĩa- Chương Mỹ- Hà Nội
Trang 33- Xây dựng các công trình dân dụng, công nghiệp, giao thông, thuỷ lợi, thuỷ
điện, bưu điện, hạ tầng kỹ thuật, đường dây và trạm biến thế điện;
- Tư vấn thiết kế, giám sát thi công;
- Đầu tư xây dựng và kinh doanh cơ sở hạ tầng đô thị và khu công nghiệp;
- Đầu tư xây dựng và kinh doanh bất động sản;
- Đầu tư xây dựng các công trình thuỷ điện vừa và nhỏ;
- Khai thác mỏ và sản xuất vật liệu xây dựng;
- Nhận thầu thi công bằng phương pháp nổ mìn;
- Đầu tư xây dựng, vận hành khai thác và kinh doanh các nhà máy điện
- Chế tạo và lắp đặt các cấu kiện cơ khí xây dựng; phụ tùng ô tô, máy xây dựng
và phụ tùng xe máy;
- Dịch vụ sửa chữa ô tô, xe máy và các loại máy xây dựng;
- Xuất nhập khẩu vật tư, phụ tùng, thiết bị công nghệ xây dựng;
- Kinh doanh vận tải hàng hoá, xăng dầu mỡ, bất động sản và văn phòng cho
thuê;
- Nhận uỷ thác đầu tư từ các tổ chức và cá nhân;
- Kinh doanh các nghề khác mà pháp luật không cấm
6.2 Quá trình hình thành và phát triển:
Công ty Cổ phần Xây dựng và Đầu tư Sông Đà 9 tiền thân là Công ty TNHH
MTV Cơ khí và Sửa chữa Sông Đà 9 thuộc Công ty Cổ phần Sông Đà 9 - Tập
đoàn Sông Đà
Ngày 29 05 2010, Công ty Cổ phần Xây dựng và Đầu tư Sông Đà 9 đã chính
thức được đăng ký kinh doanh theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số
0500574676 do Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Hà Nội cấp
Công ty trúng thầu và đã thi công các Công trình như: Nhà máy thủy điện Sơn
La, Nhà máy Thủy điện Nậm Khánh, Nhà máy thủy điện Nậm Mu, Nhà máy xi
măng Hạ Long, Nhà máy thủy điện Nậm Ngần, Nhà máy thủy điện Hủa Na và
nhiều Công trình xây lắp khác
Trang 3434
Hiện nay, Công ty đang thi công các Công trình trọng điểm như: Công trình
thủy điện Lai Châu, Công trình thủy điện Sơn La, Công trình Nhiệt điện Vũng
Áng 1, Công trình nhiệt điện Long Phú 1, Đường Hồ Chí Minh, Dự án cải tạo
luồng qua cửa Lạch Giang - sông Ninh cơ -Nam Định
6.3 Đặc điểm hoạt động kinh doanh xây lắp của công ty:
6.3.1 Đặc điểm hoạt động xây lắp:
Công ty chủ yếu đấu thầu và tiến hành thi công các hạng mục công trình thuộc
nhóm công trình thủy điện, nhiệt điện, công trình giao thông, dân dụng, công
trình công nghiệp…Ngoài ra, công ty còn tham gia đầu tư một số lĩnh vực ngoài
chuyên môn khác
Đặc điểm của hoạt động thi công xây lắp các công trình xây dựng là yêu cầu kỹ
thuật cao, đòi hỏi lượng vốn đầu tư lớn, thời gian đầu tư lâu dài, dàn trải và đội
ngũ nhân sự có chuyên môn nghiệp sâu, có kinh nghiệm
6.3.2 Bộ máy tổ chức và quản lý của công ty:
Về hình thức hoạt động, công ty CP xây dựng và đầu tư Sông Đà 9 là DN nhà
nước, có tư cách pháp nhân đầy đủ, hạch toán kinh tế độc lập, được Nhà nước
giao vốn và các nguồn nhân lực, có trách nhiệm sử dụng hiệu quả, bảo tồn và
phát triển vốn được giao, có các quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm
về hoạt động kinh doanh trong phạm vi vốn Nhà nước do Tổng công ty Sông Đà
quản lý
Cơ cấu tổ chức bộ máy của công ty được thể hiện trên sơ đồ sau:
ĐẠI HỘI ĐỒNG CỔ ĐÔNG
HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ BAN KIỂM SOÁT
Trang 353
Tổ xây lắp số
4
Tổ xây lắp số
6
Chi nhánh miền trung
Xưởn
g cơ khí sửa chữa
Chi nhánh tây bắc
Chi nhánh Quản
g Trị
Trang 36CHƯƠNG II: TÌNH HÌNH TỔNG QUAN VÀ THỰC TRẠNG HOẠT
ĐỘNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN TẠI CÔNG TY CPXD VÀ ĐT SÔNG
ĐÀ 9
1 Thực trạng đầu tư nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh ở công ty cổ
phần xây dựng và đầu tư Sông Đà 9:
1.1 Tình hình tài chính công ty trong những năm gần đây:
1.1.1 Phân tích báo cáo tài chính năm 2013 thông qua một số chỉ tiêu:
Như đã nêu từ trước, có rất nhiều các chỉ tiêu được dùng để đánh giá kết quả
hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như tình hình tài chính của một doanh
nghiệp, tuy nhiên do hạn chế về mặt số liệu được tiếp xúc, trong khuôn khổ bài
khóa luận chỉ sử dụng những chỉ số cơ bản khái quát nhất để nêu lên tình trạng
tài chính của công ty:
MỘT SỐ CHỈ TIÊU TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY NĂM 2013
5.Lợi nhuận sau thuế 51.088.111.524
6.Doanh thu thuần 833.099.129.279
Tỷ suất lợi nhuận thuần (5)/(6)= 0,0613
Tỷ số thanh toán hiện hành (1)/(2)= 1,05
Nguồn: báo cáo tài chính công ty năm 2013
Trang 37- Tỷ số thanh toán hiện hành nằm ở mức 1,05 Đây là một con số khá lý tưởng,
bởi thông thường nếu tỷ số này nhỏ hơn 1 cho thấy công ty đang gặp vấn đề
trong khả năng trả nợ, còn nếu con số quá cao cũng không tốt bởi công ty
làm ăn chưa hiệu quả Mức tỷ số 1,05 cho thấy công ty CP xây dựng Sông
Đà 9 hoàn toàn có khả năng trả nợ khi tới hạn
- Mức ROA của công ty chỉ nằm ở ngưỡng chấp nhận được, điều đó cho thấy
khả năng sử dụng tài sản cố định để sinh lời của công ty chưa có hiệu quả
cao, cần cải thiện hơn nữa trong thời gian tới
- Mức ROE của công ty là 0,0938, nếu so sánh với mức lãi suất cho vay bình
quân của các NHTM năm 2013 là 8- 11,5% thì chỉ số ROE này cho thấy
công ty chỉ nằm ở mức an toàn
- Chỉ suất lợi nhuận thuần của công ty khá tốt, nằm ở mức trung bình khá,
nhưng vẫn cần nỗ lực hơn nữa để đạt được mức chỉ số cao hơn
Trang 3814 Lợi nhuận sau thuế Doanh
Trang 391.1.2 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh:
KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH GIAI ĐOẠN
Trang 40Nguồn: kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty trong 5 năm gần
đây- phòng tư vấn đấu thầu
- Biểu đồ thể hiện kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty giai
đoạn 2010- 2013 (nguồn: cafeF.com):