Tổ chức thực hiện kế hoạch phát hành và thanh toán TPCP được Bộ Tài chính phê duyệt: a Phối hợp xây dựng lãi suất TPCP hàng tháng; b Xây dựng lịch biểu phát hành, thanh toán TPCP hàng th
Trang 1BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƢ HỌC VIỆN CHÍNH SÁCH VÀ PHÁT TRIỂN
HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH HUY ĐỘNG VỐN BẰNG
PHÁT HÀNH TRÁI PHIẾU CHÍNH PHỦ TẠI KHO BẠC
HÀ NỘI – NĂM 2014
Trang 2BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƢ HỌC VIỆN CHÍNH SÁCH VÀ PHÁT TRIỂN
Trí Tuệ Và Phát Triển
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH HUY ĐỘNG VỐN BẰNG
PHÁT HÀNH TRÁI PHIẾU CHÍNH PHỦ TẠI KHO BẠC
HÀ NỘI – NĂM 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là bài viết của tôi, được sự hỗ trợ từ ThS.Vũ Thị Thanh Hương – giảng viên khoa Chính sách công, Học viện Chính sách và Phát triển và anh Vũ Tuấn Nam – chuyên viên Vụ Huy động vốn, Kho bạc Nhà nước Việt Nam Các nội dung nghiên cứu và kết quả trong bài viết là trung thực Tài liệu tham khảo được trích nguồn rõ ràng
Mọi sao chép không hợp lệ, vi phạm quy chế, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Sinh viên
Lê Thị Thương
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Không có sự thành công nào mà không có sự giúp đỡ, hỗ trợ dù ít hay nhiều, dù trực tiếp hay gián tiếp của người khác Trong suốt thời gian học tập tại giảng đường, em đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của các quý thầy cô, gia đình và bạn bè
Với lòng biết ơn sâu sắc nhất, em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đối với các cô thầy của trường Học viện Chính sách và Phát triển nói chung, các cô thầy khoa Chính Sách Công nói riêng đã tạo điều kiện cho em học tập
và rèn luyện trong suốt thời gian qua Cảm ơn cô Vũ Thị Thanh Hương đã hướng dẫn em viết bài khóa luận tốt nghiệp này
Xin chân thành cảm ơn toàn thể các chuyên viên trong Vụ Huy động vốn và đặc biệt là cô Trần Thị Huệ, Vụ trưởng Vụ Huy động vốn đã tạo điều kiện và cho phép cháu được thực tập và học hỏi rất nhiều tại vụ
Do trình độ lý luận cũng như thực tiễn còn hạn chế nên khóa luận không thể tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy, các cô
Sinh viên
Lê Thị Thương
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC BẢNG BIỂU viii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I LÝ LUẬN CHUNG VỀ HUY ĐỘNG VỐN BẰNG PHÁT HÀNH TRÁI PHIẾU CHÍNH PHỦ 5
1.1 Những khái niệm liên quan 5
1.1.1 Chính sách huy động vốn 5
1.1.1.1 Khái niệm ngân sách Nhà nước 5
1.1.1.2 Nợ công 7
1.1.1.3 Chính sách Huy động vốn 7
1.1.2 Trái phiếu Chính phủ 8
1.1.2.1 Khái niệm 8
1.1.2.2 Các văn bản quy định liên quan đến phát hành TPCP 9
1.1.2.3 Đặc điểm của TPCP 14
1.1.2.4 Phân loại TPCP 16
1.1.2.5 Phương thức phát hành 18
1.2 Vai trò của chính sách huy động vốn bằng phát hành TPCP 22
1.2.1 Phát hành TPCP trong nước góp phần đáp ứng nhu cầu về vốn 22
1.2.2 Phát hành TPCP trong nước góp phần tăng cường vai trò của Nhà nước trong điều tiết kinh tế vĩ mô 23
1.2.3 Phát hành TPCP góp phần thúc đẩy sự phát triển thị trường chứng khoán ở các khía cạnh 24
1.2.4 Phát hành TPCP góp phần ổn định tiền tệ, kiềm chế lạm phát 24
1.3 Kinh nghiệm nước ngoài 25
TÓM TẮT CHƯƠNG I 27
CHƯƠNG II: ĐÁNH GIÁ CHÍNH SÁCH HUY ĐỘNG VỐN BẰNG PHÁT HÀNH TRÁI PHIẾU CHÍNH PHỦ TẠI KHO BẠC NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 28
2.1 Chính sách phát hành trái phiếu qua các thời kỳ 28
2.1.1 Giai đoạn 1991-1994 28
2.1.2 Giai đoạn 1995-1999 29
2.1.3 Giai đoạn 2000-2010 31
2.2 Thực trạng huy động vốn bằng TPCP tại KBNN Việt Nam giai đoạn 2010- 2013 31
2.2.1 Kết quả phát hành TPCP qua các hình thức 31
2.2.2 Kết quả phát hành theo kỳ hạn trái phiếu 33
Trang 62.2.3 Lãi suất phát hành theo kỳ hạn qua các năm 34
2.2.4 Thực trạng công tác phát hành TPCP 35
2.2.4.1 Khối lượng trái phiếu phát hành còn nhỏ, chưa đáp ứng được nhu cầu đầu tư phát triển kinh tế của đất nước 35
2.2.4.2 Kỳ hạn trái phiếu còn ngắn, làm giảm hiệu quả công tác sử dụng vốn 36
2.2.4.3 Cơ chế phát hành và thanh toán trái phiếu còn nhiều bất cập 37
2.3 Đánh giá chính sách huy động vốn bằng phát hành TPCP ở KBNN Việt Nam trong thời gian qua 37
2.3.1 Đánh giá tính hiệu lực 37
2.3.2 Đánh giá tính hiệu quả 38
2.3.3 Đánh giá tính hữu dụng 39
2.3.4 Đánh giá tính công bằng 39
2.3.5 Đánh giá tính đáp ứng yêu cầu của đối tượng chính sách 40
2.3.6 Đánh giá tính thích đáng 41
TÓM TẮT CHƯƠNG II 42
CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH HUY ĐỘNG VỐN BẰNG PHÁT HÀNH TRÁI PHIẾU CHÍNH PHỦ 43
3.1 Phương hướng hoàn thiện chính sách huy động vốn của Nhà nước ta 43
3.1.1 Định hướng phát triển 43
3.1.2 Mục tiêu cụ thể 43
3.2 Các giải pháp hoàn thiện chính sách huy động vốn bằng phát hành TPCP tại KBNN Việt Nam 44
3.2.1 Về khuôn khổ pháp lý 44
3.2.2 Về phát triển thị trường TPCP 45
3.2.3 Về phát triển và đa dạng hóa hệ thống nhà đầu tư trái phiếu 46
3.2.4 Về phát triển các định chế trung gian và hạ tầng thị trường 47
3.2.5 Về kỹ thuật phát hành để nâng cao khả năng huy động vốn 48
3.2.5.1 Nâng cao chất lượng công tác kế hoạch hóa phát hành TPCP 48
3.2.5.2 Hoàn thiện phương thức phát hành TPCP 49
3.2.5.3 Xây dựng hệ thống công nghệ thông tin hiện đại cho thị trường TPCP 50
3.2.6 Nâng cao tính thanh khoản của TPCP 53
3.2.6.1 Cải tiến cơ chế giao dịch TPCP 53
3.2.6.2 Cải tiến cơ chế thanh toán bù trừ và lưu ký chứng khoán 54
3.2.6.3 Phát triển và nâng cao năng lực tài chính của hệ thống các tổ chức tài chính trung gian 54
3.2.6.4 Phát triển hệ thống các nhà đầu tư có tổ chức 55
3.2.7 Xây dựng cơ chế khuyến khích đầu tư TPCP 56
3.2.8 Đa dạng hóa kỳ hạn trái phiếu 57
Trang 73.2.10 Tăng cường hợp tác hóa quốc tế 59
TÓM TẮT CHƯƠNG III 61
KẾT LUẬN 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO 63
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Huy động vốn cho đầu tư phát triển kinh tế là một nhiệm vụ cấp bách để nhằm tăng nhanh tiềm lực tài chính để thực hiện mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Vốn là một yếu tố vô cùng quan trọng có ý nghĩa quyết định tốc độ phát triển của nền kinh tế Muốn có vốn thì chúng ta phải tìm nguồn Vậy phải huy động vốn như thế nào - điều đó còn phụ thuộc vào chính sách, cơ chế huy động vốn của mỗi nước Đối với nước ta, vốn cho phát triển kinh tế đã trở thành vấn đề thách thức trong nhiều năm nay Trong những năm qua, Chính phủ đã sử dụng đa dạng các hình thức, công cụ huy động vốn trong cơ chế thị trường có hiệu quả, góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho Nhà nước, các DN, các tổ chức kinh tế có khả năng lựa chọn các hình thức đầu tư thích hợp, góp phần thúc đẩy công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Trong thời gian tới, cùng với các hình thức huy động vốn qua kênh Ngân hàng như: kỳ phiếu, trái phiếu Ngân hàng, tiền gửi tiết kiệm để giải quyết nhu cầu vốn tín dụng Việc mở rộng các hình thức huy động vốn cho đầu tư phát triển kinh tế của Chính phủ như: phát hành trái phiếu Chính phủ (TPCP) qua
hệ thống KBNN Trái phiếu, cổ phiếu DN Nhà nước có ý nghĩa rất quan trọng trong việc thực hiện các mục tiêu của chiến lược vốn và tạo tiền đề cho việc phát triển thị trường vốn và thị trường chứng khoán ở nước ta
Huy động vốn thông qua phát hành TPCP trong thời gian qua đã góp phần đáng kể giải quyết bội chi ngân sách Nhà nước (NSNN) đồng thời tạo nguồn vốn lớn cho đầu tư phát triển kinh tế, thu hút lượng lớn tiền nhàn rỗi trong dân cư, góp phần ổn định giá cả, kiềm chế lạm phát Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi cũng còn không ít khó khăn cả về cơ chế lẫn chính sách huy động vốn Do đó phải tìm ra các giải pháp thích hợp nhất trong công tác huy động vốn thông qua phát hành TPCP trong hệ thống KBNN, làm thế nào để
Trang 11huy động vốn tối đa, có hiệu quả nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư Từ đó, tạo một lượng vốn lớn cho NSNN và cho đầu tư phát triển kinh tế
Trong những năm gần đây, có rất nhiều bài viết đề cập đến vấn đề chính
sách huy động vốn bằng phát hành TPCP như: “Huy động TPCP : Tiền tệ và tài khóa cần phải win- win” của Thanh Sơn trên báo Epress ngày 23/01/2014;
“Huy động vốn từ trái phiếu: Tháo gỡ từ chính sách” của Mai Thảo trên trang TVSI ngày 28/01/2013; “Huy động vốn bằng trái phiếu: Khó hay dễ ”của
Nguyễn Phước đăng trên báo Tin Mới ngày 22/5/2012… Ngoài ra còn rất nhiều tài liệu liên quan đến vấn đề này Các bài viết nhìn chung đều có phần nào đề cập đến chính sách huy động vốn bằng TPCP Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu sâu sắc, toàn diện và một cách có hệ thống về vai trò cũng như thực trạng của chính sách những năm gần đây
Trong thời gian qua, tôi đã thực tập tại vụ Huy động vốn – KBNN Việt Nam Vụ Huy động vốn có chức năng và nhiệm vụ sau:
1 Trình Tổng Giám đốc KBNN quyết định hoặc để trình Bộ trưởng Bộ Tài chính quyết định:
a) Dự thảo các văn bản hướng dẫn về công tác phát hành và thanh toán TPCP trong hệ thống KBNN
b) Kế hoạch phát hành TPCP của hệ thống KBNN hàng năm
2 Phối hợp tham gia xây dựng các đề án, các văn bản quy phạm pháp luật, các chính sách chế độ về huy động vốn cho NSNN và cho đầu tư phát triển thông qua phát hành TPCP
3 Tổ chức thực hiện kế hoạch phát hành và thanh toán TPCP được Bộ Tài chính phê duyệt:
a) Phối hợp xây dựng lãi suất TPCP hàng tháng;
b) Xây dựng lịch biểu phát hành, thanh toán TPCP hàng tháng, hàng quý; c) Tổ chức phát hành qua các kênh huy động vốn theo lịch biểu phát hành
đã công bố
Trang 124 Hướng dẫn, kiểm tra các đơn vị của KBNN trong việc thực hiện công tác phát hành và thanh toán TPCP
5 Thực hiện các nghiệp vụ trên thị trường tài chính để nâng cao hiệu quả công tác huy động vốn của KBNN theo quy định của pháp luật
6 Phân tích, đánh giá tình hình và kết quả huy động vốn được thực hiện qua hệ thống KBNN, tổng hợp báo cáo nhanh và các báo cáo định kỳ theo quy định
7 Chủ trì thực hiện việc thiết kế mẫu và đề xuất in ấn, phát hành các loại giấy tờ có giá trong lĩnh vực huy động vốn
8 Tham gia ý kiến với các đơn vị liên quan trong việc xây dựng các văn bản, chính sách, chế độ liên quan đến lĩnh vực thuộc chức năng, nhiệm vụ của
Vụ
9 Thực hiện các nhiệm vụ khác do Tổng Giám đốc KBNN giao
Cùng với những kiến thức đã học ở giảng đường, tôi nhận thức được tầm quan trọng của việc tìm hiểu chính sách huy động vốn bằng phát hành TPCP
Vì vậy, tôi đã mạnh dạn lựa chọn đề tài: “Hoàn thiện chính sách Huy động vốn bằng phát hành TPCP tại KBNN Việt Nam” để viết khoá luận tốt nghiệp
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích: Đề tài nghiên cứu chính sách huy động vốn bằng phát hành TPCP tại KBNN Việt Nam và làm rõ những kết quả đạt được trong giai đoạn 2010-2013, những vấn đề tồn tại và nguyên nhân, từ đó đưa ra một số giải pháp để hoàn thiện chính sách huy động vốn bằng phát hành TPCP tại KBNN Việt Nam
- Nhiệm vụ: Để đạt mục đích trên, nhiệm vụ cần tiến hành là:
+ Cung cấp lý thuyết tổng quan về huy động vốn bằng phát hành TPCP
+ Nghiên cứu chính sách phát hành TPCP ở Việt Nam qua các thời kỳ
Trang 13+ Nghiên cứu thực trạng huy động vốn bằng phát hành TPCP ở KBNN Việt Nam giai đoạn 2010- 2013, qua đó đánh giá kết quả đạt được và những vấn đề còn tồn tại, phân tích nguyên nhân
+ Đánh giá chính sách huy động vốn bằng phát hànhTPCP ở KBNN Việt Nam dựa trên các tiêu chí khác nhau
+ Đề xuất những giải pháp để hoàn thiện chính sách huy động vốn bằng phát hành TPCP tại KBNN Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Chính sách huy động vốn bằng phát hành TPCP
- Về phạm vi không gian: Kho bạc nhà nước (KBNN) Việt Nam
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài kết hợp sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê, kết hợp với tư duy khoa học và tư duy biện chứng để hệ thống các cơ sở lý luận có liên quan đến đề tài
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia và các nhà quản lý…
Trang 14CHƯƠNG I LÝ LUẬN CHUNG VỀ HUY ĐỘNG VỐN BẰNG
PHÁT HÀNH TRÁI PHIẾU CHÍNH PHỦ
1.1 Những khái niệm liên quan
1.1.1 Chính sách huy động vốn
1.1.1.1 Khái niệm ngân sách Nhà nước
NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước
Thu NSNN bao gồm các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí, các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước, các khoản đóng góp của các tổ chức và cá nhân, các khoản viện trợ, các khoản thu khác theo quy định của pháp luật
Chi NSNN bao gồm các khoản chi phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo đảm hoạt động của bộ máy Nhà nước, chi trả nợ của Nhà nước, chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật
NSNN được quản lý thống nhất theo nguyên tắc tập trung dân chủ, công khai, minh bạch, có phân công, phân cấp quản lý, gắn quyền hạn với trách nhiệm Quốc hội quyết định dự toán NSNN, phân bổ ngân sách trung ương, phê chuẩn quyết toán NSNN NSNN gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương Ngân sách địa phương bao gồm ngân sách của đơn vị hành chính các cấp có Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân Phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi và quan hệ giữa ngân sách các cấp được thực hiện theo các nguyên tắc sau đây:
- Ngân sách trung ương và ngân sách mỗi cấp chính quyền địa phương được phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi cụ thể;
- Ngân sách trung ương giữ vai trò chủ đạo, bảo đảm thực hiện các nhiệm vụ chiến lược, quan trọng của quốc gia và hỗ trợ những địa phương chưa cân đối được thu, chi ngân sách;
Trang 15- Ngân sách địa phương được phân cấp nguồn thu bảo đảm chủ động trong thực hiện những nhiệm vụ được giao; tăng cường nguồn lực cho ngân sách xã Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung
là cấp tỉnh) quyết định việc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa ngân sách các cấp chính quyền địa phương phù hợp với phân cấp quản lý kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và trình độ quản lý của mỗi cấp trên địa bàn;
- Nhiệm vụ chi thuộc ngân sách cấp nào do ngân sách cấp đó bảo đảm; việc ban hành và thực hiện chính sách, chế độ mới làm tăng chi ngân sách phải có giải pháp bảo đảm nguồn tài chính phù hợp với khả năng cân đối của ngân sách từng cấp;
- Trường hợp cơ quan quản lý Nhà nước cấp trên uỷ quyền cho cơ quan quản lý Nhà nước cấp dưới thực hiện nhiệm vụ chi của mình, thì phải chuyển kinh phí từ ngân sách cấp trên cho cấp dưới để thực hiện nhiệm vụ đó;
- Thực hiện phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%) đối với các khoản thu phân chia giữa ngân sách các cấp và bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới để bảo đảm công bằng, phát triển cân đối giữa các vùng, các địa phương Tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu và số bổ sung cân đối
từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới được ổn định từ 3 đến 5 năm
Số bổ sung từ ngân sách cấp trên là khoản thu của ngân sách cấp dưới;
- Trong thời kỳ ổn định ngân sách, các địa phương được sử dụng nguồn tăng thu hàng năm mà ngân sách địa phương được hưởng để phát triển kinh tế
- xã hội trên địa bàn Sau mỗi thời kỳ ổn định ngân sách, phải tăng khả năng
tự cân đối, phát triển ngân sách địa phương, thực hiện giảm dần số bổ sung từ ngân sách cấp trên hoặc tăng tỷ lệ phần trăm (%) điều tiết số thu nộp về ngân sách cấp trên;
- Ngoài việc uỷ quyền thực hiện nhiệm vụ chi và bổ sung nguồn thu quy định, không được dùng ngân sách của cấp này để chi cho nhiệm vụ của cấp khác, trừ trường hợp đặc biệt theo quy định của Chính phủ
Trang 161.1.1.2 Nợ công
Nợ là khoản phải hoàn trả, bao gồm khoản gốc, lãi, phí và chi phí khác
có liên quan tại một thời điểm, phát sinh từ việc vay của chủ thể được phép vay vốn theo quy định của pháp luật Việt Nam Nợ công ở Việt Nam được chia thành:
Nợ Chính phủ là khoản nợ phát sinh từ các khoản vay trong nước, nước ngoài, được ký kết, phát hành nhân danh Nhà nước, nhân danh Chính phủ hoặc các khoản vay khác do Bộ Tài chính ký kết, phát hành, uỷ quyền phát hành theo quy định của pháp luật Nợ Chính phủ không bao gồm khoản nợ do NHNN Việt Nam phát hành nhằm thực hiện chính sách tiền tệ trong từng thời
kỳ Nợ được Chính phủ bảo lãnh là khoản nợ của DN, tổ chức tài chính, tín dụng vay trong nước, nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh Nợ chính quyền địa phương là khoản nợ do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) ký kết, phát hành hoặc
uỷ quyền phát hành
1.1.1.3 Chính sách Huy động vốn
Khái niệm chính sách hiện nay có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau
Có thể thống kê một số cách định nghĩa như sau:
Theo lý thuyết trò chơi: “Chính sách, với tư cách là một ứng phó của chủ thể quản lý trước tình huống mới của cuộc chơi, phải đảm bảo cho mình luôn thắng trong cuộc chơi, nhưng giữ được quan hệ lâu bền với đối tác”
[10, tr.11]
Theo cách tiếp cận tâm lý học: “Chính sách là tập hợp biện pháp đối
xử ưu đãi đối với một nhóm xã hội, nhằm kích thích động cơ hoạt động của nhóm này hướng theo việc thực hiện một (hoặc một số) mục tiêu của chủ thể quyền lực” [10, tr.11]
Theo cách tiếp cận hệ thống: “Chính sách luôn đóng vai trò một công
cụ đồng bộ hóa hệ thống, nhưng một mặt khác, sự xuất hiện một chính sách cũng làm cho hệ thống xuất hiện một yếu tố mất đồng bộ mới” [10, tr.11]
Trang 17Tiếp cận khoa học pháp lý: “Chính sách là tập hợp biện pháp được thể chế hóa (về mặt pháp lý) để phân biệt đối xử giữa các nhóm xã hội, điều chỉnh động cơ hoạt động của các nhóm hướng theo mục tiêu phát triển xã hội” [10, tr.11]
Như vậy, chính sách huy động vốn có thể được hiểu theo cách chung nhất là việc thu hút nguồn tiền bên ngoài vào ngân hàng, kho bạc, DN bằng nhiều cách trong đó có phát hành trái phiếu để nhằm tăng tiềm lưu tài chính cho việc thực hiện mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
1.1.2 Trái phiếu Chính phủ
1.1.2.1 Khái niệm
Trái phiếu là một loại tài sản tài chính phản ánh nghĩa vụ của nhà phát hành đối với người nắm giữ trái phiếu Nhà phát hành (người vay tiền) phải cam kết trả cho người nắm giữ trái phiếu (người cho vay) số tiền đã vay và tiền lãi trong một thời hạn nhất định Như vậy, xét về bản chất, trái phiếu là một hình thức đặc biệt của tín dụng Nó phản ánh quan hệ vay mượn, sử dụng vốn lẫn nhau trên nguyên tắc hoàn trả Bản thân chứng chỉ trái phiếu hoặc các
sổ sách ghi chép trái phiếu thể hiện mối quan hệ vay mượn giữa hai chủ thể
Dù phát hành dưới hình thức nào thì trái phiếu cũng có các khoản phản ánh quan hệ vay nợ như: số tiền gốc, kỳ hạn, lãi suất, cách thức trả lãi, gốc, các điều khoản có liên quan như quyền mua lại, quyền chọn bán, cầm cố
TPCP là một loại công cụ nợ đặc biệt mà người phát hành là Chính phủ hoặc các cơ quan tổ chức được Chính phủ chỉ định phát hành, được Chính phủ đứng ra bảo đảm thanh toán trong trường hợp tổ chức phát hành không bố trí đủ nguồn để trả nợ khi đến hạn TPCP được sử dụng để bù đắp bội chi ngân sách bù đắp NSNN, để đầu tư xây dựng các công trình, dự án mang tính cộng đồng, để thực hiện dự án mang tính trọng điểm quốc gia, các chương trình, mục tiêu của Chính phủ Nguồn vốn thanh toán TPCP được bố trí từ NSNN hoặc do các nguồn thu từ công trình mang lại
Trang 18Có thể định nghĩa TPCP là loại trái phiếu do Bộ Tài chính phát hành nhằm huy động vốn cho NSNN hoặc huy động vốn cho chương trình, dự án đầu tư cụ thể thuộc phạm vi đầu tư của Nhà Nước
1.1.2.2 Các văn bản quy định liên quan đến phát hành TPCP
Tính đến 2013, Nhà Nước ta đã ban hành 48 các văn bản quy định liên quan tới phát hành TPCP Các văn bản được thống kê cụ thể trong bảng 1.1 dưới đây:
Bảng 1.1: Thống kê các văn bản quy định liên quan đến phát hành TPCP
05/02/2002
Trang 1923/03/2004
29/2004/QĐ-BTC
Về mức lãi suất phát hành TPCP đợt II (năm 2004)
để đầu tư một số công trình giao thông, thuỷ lợi quan trọng của đất nước
06/04/2004
32/2004/TT-BTC
Hướng dẫn việc phát hành TPCP qua hệ thống KBNN
Trang 20NHNN
66/2004/QĐ-BTC
Ban hành Quy chế hướng dẫn về trình tự, thủ tục phát hành TPCP, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh
và trái phiếu Chính quyền địa phương
02/11/2006
Trang 2119/06/2009
Trang 22TTg nâng cấp các bệnh viện chuyên khoa lao, tâm thần,
ung bướu, chuyên khoa nhi và một số bệnh viện đa khoa tỉnh thuộc vùng miền núi, khó khăn sử dụng vốn TPCP và các nguồn vốn hợp pháp khác giai đoạn 2009-2013”
lý, cấp phát, thanh toán, quyết toán vốn đầu tư từ nguồn TPCP
28/12/2012
Nguồn: Tổng hợp các văn bản của Vụ Huy động vốn, KBNN Việt Nam
Trang 231.1.2.3 Đặc điểm của TPCP
a Độ rủi ro thấp
TPCP là một loại chứng khoán có độ rủi ro thấp nhất trong các loại chứng khoán nợ Có thể dễ dàng hiểu được điều này vì TPCP được NSNN bảo đảm thanh toán Trong trường hợp ngân sách không bảo đảm được nguồn
để thanh toán gốc, lãi trái phiếu khi đến hạn thì Chính phủ có thể phát hành
nợ mới để đáo nợ cũ hoặc dùng quyền phát hành tiền để trang trải cho các khoản nợ đến hạn (bằng đồng tiền nội địa) Mặt khác, về mặt chính trị, khi Chính phủ cũ hết hạn cầm quyền thì Chính phủ mới có trách nhiệm tiếp nhận
và thanh toán khoản nợ của Chính phủ tiền nhiệm
Mặc dù được coi là có độ an toàn cao nhất trong các loại chứng khoán nhưng TPCP vẫn tiềm ẩn những yếu tố rủi ro: Rủi ro biến động lãi suất, tỷ giá, rủi ro về khả năng thanh toán bằng ngoại tệ, rủi ro chuyển trái phiếu thành tiền mặt
TPCP có nhiều loại khác nhau, tương ứng với mức độ rủi ro khác nhau Trái phiếu do Chính phủ trực tiếp phát hành có độ rủi ro thấp nhất, trái phiếu chính quyền địa phương và trái phiếu của các cơ quan của Chính phủ phát hành có độ rủi ro cao hơn TPCP nhưng vẫn thấp hơn trái phiếu công ty
b Tính sinh lời thấp
Cũng như các loại chứng khoán nợ khác, TPCP có tính sinh lời Khi đầu tư vào TPCP người đầu tư sẽ được hưởng một mức lợi tức nhất định Lợi tức của trái phiếu là vấn đề mà người đầu tư và các nhà kinh tế quan tâm nhất
vì nó phản ánh chính xác lợi nhuận thu được khi đầu tư vào trái phiếu Tỷ lệ lợi tức được xác định bằng cách lấy số tiền mà người sở hữu trái phiếu nhận được từ lãi suất được hưởng của trái phiếu, cộng với sự sai biệt về giá của trái phiếu đó chia cho giá mua
So với lãi suất của trái phiếu công ty và trái phiếu ngân hàng, TPCP thường có lãi suất thấp hơn do độ rủi ro thấp hơn Tuy nhiên, lãi suất trên thị trường trái phiếu do cung cầu quyết định nên biến động theo thời gian Do đó
Trang 24nếu so sánh cùng thời điểm phát hành thì thường TPCP có mức lãi suất thấp hơn các loại trái phiếu khác (trừ trường hợp đặc biệt như chiến tranh, khủng hoảng, lạm phát Chính phủ cần huy động vốn cấp tốc để chi tiêu hoặc hút tiền để điều hòa lưu thông tiền tệ, kiềm chế lạm phát thì lãi suất rất cao) Nhưng nếu xét cả một quá trình thì lãi suất ở các thời điểm khác nhau của TPCP cũng biến động tùy theo diễn biến thị trường nên có thể tăng hay giảm
Vì vậy, so với thời kỳ trước và sau, không nhất thiết lãi suất TPCP luôn thấp hơn lãi suất của các loại trái phiếu khác
c Tính thanh khoản cao
Tính thanh khoản của trái phiếu là khả năng chuyển đổi trái phiếu thành tiền mặt Mỗi loại trái phiếu có khả năng thanh khoản khác nhau Thông thường, TPCP có tính thanh khoản cao hơn so với các loại trái phiếu khác vì
nó có quy mô hàng hóa lớn, chủng loại phong phú, ổn định, độ rủi ro thấp, khách hàng giao dịch đông
Tín phiếu kho bạc là loại TPCP có tính thanh khoản cao nhất bởi vì kỳ hạn ngắn (dưới một năm), nó là một trong những công cụ quan trọng của thị trường tiền tệ Tín phiếu kho bạc cũng là một yếu tố quan trọng cấu thành khối lượng tiền trong quá trình lưu thông, được bán thường xuyên trên thị trường tiền tệ Trái phiếu kho bạc thường có kỳ hạn từ một năm trở lên, do vậy tính thanh khoản của trái phiếu kho bạc thấp hơn tín phiếu kho bạc Trái phiếu kho bạc được giao dịch trên thị trường vốn Trong quá trình giao dịch này, do Ngân hàng Nhà nước (NHNN) trung ương tham gia với vai trò là tổ chức chiết khấu ngắn hạn các công cụ nợ dài hạn của Chính phủ, nên trái phiếu kho bạc cũng là một công cụ nợ có tính thanh khoản khá cao so với các trái phiếu khác
TPCP chính quyền địa phương, trái phiếu do cơ quan Chính phủ phát hành có tính thanh khoản thấp hơn tín phiếu kho bạc và trái phiếu kho bạc do đối tượng mua bán loại hàng hóa này ít hơn và độ đảm bảo khả năng thanh toán cũng thấp hơn
Trang 251.1.2.4 Phân loại TPCP
a Phân loại theo chủ thể phát hành TPCP
TPCP là loại trái phiếu do Chính phủ (thường ủy nhiệm cho Bộ Tài chính) phát hành với mục đích bù đắp bội chi ngân sách, tăng cường vốn đầu
tư phát triển và Chính phủ chịu trách nhiệm trích ngân sách hoàn trả gốc, lãi trái phiếu cho chủ sở hữu khi đến hạn Đây là hình thức phổ biến nhất và thường chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng dư nợ từ chứng khoán nợ của các quốc gia
Trái phiếu chính quyền địa phương là loại trái phiếu do chính quyền địa phương phát hành Chỉ chính quyền địa phương cấp tỉnh mới được phép phát hành trái phiếu chính quyền địa phương
Trái phiếu do cơ quan của Chính phủ phát hành và sử dụng nguồn vốn
đó để thực hiện các chương trình, dự án theo mục tiêu chỉ định của Chính phủ Tổ chức phát hành loại trái phiếu này thường là các tổ chức tài chính, tín dụng Nhà nước
Trái phiếu của các DN Nhà nước được Chính phủ chỉ định phát hành để đầu tư cho các dự án trọng điểm quốc gia và được Chính phủ đảm bảo thanh toán
b Phân loại theo kỳ hạn TPCP
Có nhiều quan điểm về phân loại kỳ hạn của trái phiếu, song phổ biến nhất là quan điểm phân chia trái phiếu theo hai nhóm kỳ hạn:
Trái phiếu ngắn hạn, thường gọi là tín phiếu (kỳ hạn dưới một năm): tín phiếu thường được phát hành để bù đắp thiếu hụt tạm thời của NSNN và làm công cụ để điều hành chính sách tiền tệ của NHNN thông qua nghiệp vụ thị trường mở Thông thường, tín phiếu ngắn hạn phát hành dưới hình thức chiết khấu, giao dịch theo lợi tức chiết khấu
Trái phiếu dài hạn (kỳ hạn trên một năm): trái phiếu thường được phát hành để bù đắp NSNN, đáp ứng các nhu cầu chi đầu tư phát triển Thông thường, trái phiếu được phát hành theo hình thức trả lãi định kỳ hoặc cuối kỳ,
Trang 26giao dịch theo cơ sở lãi suất cộng dồn Về nguyên tắc lãi suất trái phiếu dài hạn phải lớn hơn lãi suất tín phiếu ngắn hạn
c Phân loại theo hình thức trả lãi TPCP
Trái phiếu có lãi suất cố định tức là lãi suất của trái phiếu không thay đổi và được xác định ngay tại thời điểm phát hành, có thể trả một lần khi đến hạn, trả định kỳ hoặc trả trước
Trái phiếu có lãi suất thả nổi tức là lãi suất của trái phiếu thay đổi tại từng thời điểm trả lãi, thường được tính theo lãi suất thị trường hoặc điều chỉnh theo tỷ lệ lạm phát
Trái phiếu chiết khấu tức là trái phiếu được bán với giá thấp hơn mệnh giá và thanh toàn bằng mệnh giá khi đến hạn Số tiền chênh lệch giữa giá bán
và mệnh giá chính là lãi của trái phiếu
d Phân loại theo hình thức và tiêu thức quản lý TPCP
Theo hình thức biểu hiện có trái phiếu chứng chỉ vật chất và trái phiếu ghi sổ Theo tiêu thức quản lý có trái phiếu vô danh và trái phiếu ghi danh Trái phiếu vô danh không ghi tên chủ sở hữu trên trái phiếu Trái phiếu ghi danh có ghi tên, địa chỉ, số chứng minh nhân dân của nhà đầu tư trên trái phiếu và trong sổ của nhà phát hành Trong phiếu ghi danh có trái phiếu ghi danh đầy đủ và trái phiếu ghi danh không đầy đủ Ngày nay, bên cạnh hình thức chứng chỉ ghi danh thì hình thức trái phiếu ghi danh ghi sổ ngày càng phát triển vì tiết kiệm được chi phí in ấn và quản lý
e Phân loại theo mục đích phát hành TPCP
Trái phiếu bù đắp bội chi NSNN: Chính phủ phát hành trái phiếu nhằm mục đích huy động vốn để bù đắp thiếu hụt NSNN, bổ sung vốn cho đầu tư phát triển thuộc nhiệm vụ chi của NSNN theo chỉ tiêu đã được Quốc hội phê duyệt
Trái phiếu huy động vốn do chương trình, mục tiêu quốc gia: bao gồm công trái Xây dựng Tổ quốc (XDTQ), trái phiếu do các cơ quan của Chính
Trang 27xây dựng những công trình quan trọng quốc gia và các công trình thiết yếu khác phục vụ sản xuất, đời sống, tạo cơ sở vật chất kỹ thuật cho đất nước
Trái phiếu huy động vốn cho chương trình, mục tiêu của chính quyền địa phương phát hành để đầu tư các dự án phát triển kinh tế - xã hội thuộc nhiệm vụ chi của chính quyền địa phương
Trái phiếu huy động vốn cho các chương trình của DN Nhà nước là loại trái phiếu mà DN Nhà nước được Chính phủ chỉ định phát hành và bảo lãnh thanh toán Mục đích phát hành loại trái phiếu này là để đầu tư cho các dự án trọng điểm quốc gia, do DN Nhà nước quản lý
f Phân loại theo mức độ bảo đảm thanh toán của TPCP
Trái phiếu do Chính phủ (ủy nhiệm cho Bộ Tài chính) trực tiếp phát hành và chịu trách nhiệm bố trí nguồn thanh toán gốc, lãi trái phiếu khi đến hạn cho chủ sở hữu từ NSNN
Trái phiếu được Chính phủ bảo đảm: Do chính quyền địa phương, các
cơ quan, tổ chức phát hành có trách nhiệm thanh toán gốc, lãi khi đến hạn Trường hợp các tổ chức phát hành không bố trí đủ nguồn thanh toán gốc, lãi đúng hạn thì Chính phủ trích NSNN để thanh toán cho chủ sở hữu
g Phân loại theo địa bàn phát hành TPCP
Trái phiếu trong nước phát hành trong phạm vi một quốc gia Trong khi
đó, trái phiếu quốc tế phát hành ra thị trường vốn quốc tế
TPCP được phát hành theo các phương thức:
Trang 28a Đấu thầu phát hành trái phiếu
Đấu thầu phát hành trái phiếu là việc bán cho các tổ chức, cá nhân tham gia đấu thầu đáp ứng đủ các yêu cầu của Chính phủ và có mức lãi suất thầu thấp nhất
Đấu thầu tín phiếu kho bạc được thực hiện qua NHNN và chỉ một số ngân hàng hay định chế tài chính được phép tham gia đấu thầu
Việc đấu thầu TPCP được thực hiện qua TTGDCK, thành viên tham gia đấu thầu là các công ty chứng khoán, Ngân hàng Thương mại (NHTM), Quỹ đầu tư Các nhà đầu tư nhỏ cũng có thể tham gia đấu thầu trái phiếu thông qua các thành viên đấu thầu TPCP đấu thầu được mua bán và là hàng hóa quan trọng trên thị trường chứng khoán
Việc xác định khối lượng và lãi suất trúng thầu căn cứ vào khối lượng
và lãi suất đặt thầu của các thành viên, khối lượng vốn cần huy động và lãi suất chỉ đạo (nếu có) Tại mức lãi suất đặt thầu mà khối lượng đặt thầu vượt quá khối lượng vốn cần huy động thì khối lượng trúng thầu được phân chia cho mỗi phiếu đặt thầu theo tỷ lệ thuận giữa khối lượng vốn cần huy động còn lại và khối lượng đặt thầu của từng phiếu tại mức lãi suất đó Nếu đấu thầu theo kiểu Hà Lan thì lãi suất trúng thầu cao nhất sẽ là lãi suất áp dụng chung cho mọi đối tượng trúng thầu Nếu đấu thầu theo kiểu Mỹ thì các thành viên trúng thầu sẽ mua trái phiếu có lãi suất đúng bằng lãi suất họ đã đặt thầu
b Bảo lãnh phát hành trái phiếu
Việc huy động vốn bằng hình thức phát hành TPCP được thực hiện với
sự hỗ trợ của các tổ chức tài chính trung gian trên thị trường chứng khoán Các tổ chức tài chính này giúp nhà phát hành (Chính phủ) thực hiện các công việc có liên quan đến đợt phát hành và được gọi là nhà bảo lãnh (tổ chức bảo lãnh), được hưởng một khoản phí nhất định cho hoạt động bảo lãnh phát hành
Tổ chức bảo lãnh phát hành TPCP giúp Chính phủ thực hiện các thủ tục trước khi phát hành trái phiếu ra thị trường, phân phối trái phiếu cho các nhà
Trang 29đầu tư và có trách nhiệm mua một phần hay toàn bộ TPCP còn lại nếu chưa phân phối hết
Hoạt động bảo lãnh phát hành TPCP thường do một nhóm bảo lãnh gồm các công ty chứng khoán, các NHTM, các công ty tài chính, các công ty bảo hiểm, các quỹ đầu tư đảm nhiệm Chính phủ sẽ lựa chọn trong hiệp hội bảo lãnh một công ty có uy tín làm người bảo lãnh chính Trong một số trường hợp, Chính phủ có thể bổ nhiệm thêm 1 hoặc 2 người bảo lãnh chính
Ở các thị trường chứng khoán phát triển có các hình thức bảo lãnh TPCP phổ biến sau:
- Bảo lãnh toàn phần (hay cam kết chắc chắn): Người bảo lãnh nhận
mua toàn bộ TPCP để bán lại cho các nhà đầu tư hoặc mua lại số trái phiếu bán không hết Như vậy, người bảo lãnh sẽ phải cam kết chuyển đủ số tiền như dự kiến bán trái phiếu cho Chính phủ Thông thường thì hình thức này thường được áp dụng cho việc phát hành TPCP
- Bảo lãnh từng phần: Người bảo lãnh nhận mua một phần (được quy
định trong hợp đồng) số TPCP nếu phân phối không hết
- Cố gắng tối đa: có hai hình thức cố gắng tối đa khác nhau:
Người bảo lãnh hoạt động như một đại lý cho người phát hành, người bảo lãnh sẽ nỗ lực tối đa trong việc phân phối trái phiếu cho các nhà đầu tư, nhưng nếu bán không hết, người bảo lãnh sẽ được quyền trả lại số trái phiếu còn lại cho nhà phát hành mà không bị chịu phạt, hình thức này được các tổ chức ưa thích nhất
Người bảo lãnh cũng phải cố gắng tối đa để phân phối hết số trái phiếu
dự kiến Trường hợp không bán hết, đợt phát hành sẽ bị hủy bỏ và người bảo lãnh sẽ không được nhận bất kỳ một khoản hoa hồng nào
Trang 30c Đại lý phát hành trái phiếu
Bao gồm đại lý phát hành và đại lý thanh toán:
- Đại lý phát hành TPCP là việc các tổ chức được phép làm đại lý phát hành TPCP thỏa thuận với nhà phát hành nhận bán TPCP Trường hợp không bán hết, tổ chức đại lý được trả lại cho nhà phát hành số phiếu còn lại
Các tổ chức được lựa chọn làm đại lý phát hành TPCP bao gồm các công ty chứng khoán, công ty tài chính, các tổ chức ngân hàng hoạt động theo Luật các tổ chức tín dụng Các tổ chức đại lý phát hành TPCP được hưởng một khoản phí phát hành theo mức thỏa thuận với nhà phát hành
- Đại lý thanh toán TPCP là việc các tổ chức được phát hành ủy quyền thực hiện thanh toán gốc, lãi TPCP khi đến hạn Các đại lý thanh toán TPCP cũng được hưởng một khoản phí thanh toán theo mức thỏa thuận với nhà phát hành
d Bán lẻ trái phiếu
Bán lẻ TPCP qua hệ thống KBNN là việc các đơn vị Kho bạc trực tiếp bán và thanh toán trái phiếu cho người mua Trái phiếu bán lẻ qua hệ thống Kho bạc thường được phát hành theo hình thức chiết khấu hoặc ngang mệnh giá
- Hình thức chiết khấu: áp dụng trong trường hợp trái phiếu được phát hành thành từng đợt, thời gian phát hành mỗi đợt không quá 2 tháng, có xác định trước thời điểm phát hành và thời điểm kết thúc Các trái phiếu phát hành trong đợt có cùng ngày phát hành và ngày đáo hạn
- Hình thức ngang mệnh giá: áp dụng cho trường hợp trái phiếu phát hành liên tục trong năm hoặc từng đợt kéo dài, không xác định trước thời điểm dừng phát hành
Trang 311.2 Vai trò của chính sách huy động vốn bằng phát hành TPCP
Trong nền kinh tế thị trường, ngoài những chức năng vốn có của mình, nhà nước còn có thêm chức năng tham gia quản lý và điều tiết kinh tế vĩ mô nền kinh tế Với chức năng này, sự cần thiết phát hành TPCP trong nước không những thể hiện trong việc đáp ứng nhu cầu về vốn cho đầu tư mà còn thể hiện ở nhiều khía cạnh khác nữa
1.2.1 Phát hành TPCP trong nước góp phần đáp ứng nhu cầu về vốn
a Đáp ứng nhu cầu vốn tài trợ cho các chương trình, mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội của Chính phủ
Tài trợ cho chương trình mục tiêu của Chính phủ là một trong những hoạt động quan trọng của các nước đang phát triển Ở Việt Nam, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn hiện nay cũng như thời gian tới là sự chuyển biến tích cực về chuyển dịch cơ cấu kinh tế, khai thác và sử dụng có hiệu quả mọi tiềm năng về tài nguyên, lao động, đất đai để phát triển sản xuất kinh doanh nhằm thực hiện thành công công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Vì thế, Nhà nước cần phải tập trung đầu tư các công trình kết cấu hạ tầng, nhằm tạo môi trường thuận lợi kích thích nền kinh tế phát triển cũng như tạo ra lợi thế cạnh tranh để thu hút nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài Để thực hiện được các nhiệm vụ, Nhà nước cần phải có nguồn vốn tương đối lớn Trong điều kiện ngân sách còn khó khăn, việc Chính phủ trực tiếp huy động vốn để đầu tư cho các chương trình, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội thông qua phát hành trái phiếu là một tất yếu khách quan
Bên cạnh đó, việc tài trợ của Chính phủ thông qua bảo đảm cho các trái phiếu do cơ quan của Chính phủ phát hành là một chính sách hữu hiệu và là
xu hướng chung của nhiều quốc gia Chính phủ không tham dự trực tiếp vào việc huy động và tài trợ vốn cho từng dự án theo kiểu bao cấp mà chỉ bảo đảm khả năng thanh toán trong trường hợp tổ chức phát hành không thanh toán được nợ và có thể hỗ trợ một phần lãi suất dưới hình thức tín dụng đầu tư của
Trang 32nhà nước Chính sách này đặt ra cho các tổ chức tài chính nghĩa vụ và trách nhiệm theo cơ chế thị trường, sau đó là sự đảm bảo từ phía Chính phủ
b Đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư các dự án kinh tế trọng điểm quốc gia của các doanh nghiệp Nhà nước
Với các quốc gia đang phát triển, nhu cầu vốn đầu tư cho các dự án kinh tế trọng điểm là rất lớn Các DN Nhà nước đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc tham gia đầu tư vào các dự án nói trên Không thể dựa hoàn toàn vào nguồn vốn ngân hàng vì ngân hàng thường cho vay ngắn hạn là chủ yếu, trong khi các dự án cần vốn lâu dài Mặt khác, việc dựa quá nhiều vào vốn vay ngân hàng có thể dẫn đến rủi ro cho thị trường và cho nền kinh tế Chính vì vậy, các DN Nhà nước phải tiếp cận kênh huy động vốn trực tiếp từ thị trường tài chính trong nước và quốc tế
1.2.2 Phát hành TPCP trong nước góp phần tăng cường vai trò của Nhà nước trong điều tiết kinh tế vĩ mô
Nhờ nguồn vốn có được từ phát hành TPCP, Nhà nước có thể chủ động trong công tác xây dựng kế hoạch và điều hành NSNN, đặc biệt là trong việc cân đối và bố trí nguồn vốn cho đầu tư phát triển Hơn nữa, thông qua phát hành TPCP, Nhà nước có nguồn để thực hiện các dự án phát triển kết cấu hạ tầng như công nghệ thông tin, hệ thống giao thông, hệ thống thủy lợi, phát triển y tế, giáo dục, nâng cao mức sống của người dân
Phát hành TPCP giúp Nhà nước giải quyết được tình trạng thâm hụt NSNN mà không gây lạm phát, nhờ đó góp phần ổn định kinh tế vĩ mô Một mặt, thuế và chi NSNN cũng là một trong những công cụ để khuyến khích đầu tư và tái đầu tư từ lợi nhuận Việc bảo đảm tiềm lực cho NSNN sẽ giúp cho NSNN thực hiện có hiệu quả vai trò của mình trong ổn định giá trị tiền tệ, khuyến khích đầu tư phát triển, từng bước tăng quy mô và tỷ trọng cũng như hiệu quả nguồn vốn đầu tư từ NSNN
Phát hành TPCP giúp cho việc điều hành NSNN được thuận lợi hơn, giúp Nhà nước tăng cường vị thế, vai trò và uy tín của mình đối với các tầng
Trang 33lớp dân cư trong xã hội Đồng thời, việc phát hành TPCP trong nước cũng góp phần làm giảm tương đối vay nước ngoài, tránh sức ép trong quan hệ đối ngoại, tăng cường khả năng tự chủ của nền kinh tế
1.2.3 Phát hành TPCP góp phần thúc đẩy sự phát triển thị trường
chứng khoán ở các khía cạnh
Thứ nhất, cung cấp hàng hóa cho thị trường chứng khoán: Sự có mặt của TPCP sẽ làm phong phú thêm hoạt động của thị trường vốn, thị trường chứng khoán, nhất là trong giai đoạn đầu thị trường mới như hoạt động Việt Nam hiện nay
Thứ hai, thúc đẩy sự hình thành và phát triển của các công ty chứng khoán, các quỹ đầu tư, tạo thói quen kinh doanh các loại chứng khoán cho các tầng lớp dân cư
Thứ ba, về mặt pháp lý, thông qua các văn bản pháp quy về công tác phát hành TPCP góp phần tạo cơ sở pháp lý ban đầu cho thị trường chứng khoán
Thứ tư, công tác phát hành TPCP ngày càng yêu cầu sự phát triển của đội ngũ cán bộ Do đó, cần đào tạo cán bộ có đủ năng lực chuyên môn trong lĩnh vực này
Thứ năm, góp phần tăng cường chức năng định hướng phát triển và điều tiết thị trường tài chính Thông qua việc sử dụng các công cụ lãi suất, chiết khấu, tái chiết khấu Nhà nước có thể định hướng phát triển và điều tiết các hoạt động của thị trường tài chính
1.2.4 Phát hành TPCP góp phần ổn định tiền tệ, kiềm chế lạm phát
Trong nền kinh tế thị trường, ổn định tiền tệ và kiềm chế lạm phát là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu đối với hầu hết các quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển Để ổn định tiền tệ và kiềm chế lạm phát, Nhà nước phải
sử dụng đồng bộ các giải pháp về kinh tế, tài chính, tiền tệ Giải pháp quan trọng được nhiều nước trên thế giới sử dụng có hiệu quả là nghiệp vụ mua bán chứng khoán của ngân hàng trung ương, trong đó có TPCP Ngân hàng trung
Trang 34ương thông qua nghiệp vụ mua bán TPCP của mình sẽ điều hòa lượng tiền
mặt trong lưu thông, qua đó góp phần ổn định tiền tệ, kiềm chế lạm phát
1.3 Kinh nghiệm nước ngoài
Khảo sát thị trường TPCP trên trang investing.com, các nước có các kỳ
hạn TPCP khác nhau Dưới đây là bảng kỳ hạn TPCP ở một số nước do người
Việt Nam
Trang 35Các kỳ hạn TPCP của các nước khá phong phú, đặc biệt các TPCP có
kỳ hạn ngắn và trung hạn Kỳ hạn trái phiếu phong phú sẽ thu hút được nhiều nhà đầu tư có nhu cầu Trong khi Việt Nam thì chỉ có tổng cộng 7 loại kỳ hạn, trong đó trái phiếu có kỳ hạn 15 năm mới chỉ áp dụng từ năm 2013 Như vậy,
có thể thấy, Việt Nam cần có thêm nhiều và nhiều hơn nữa trái phiếu có kỳ
hạn khác nhau, đa dạng hơn Đặc biệt, những trái phiếu có kỳ hạn dài hạn trên
15 năm nên được tập trung phát hành để tạo điều kiện tốt nhất cho đầu tư các công trình, phát triển kinh tế
Trang 36TÓM TẮT CHƯƠNG I
Trong chương I của bài khóa luận, tôi đã nêu cụ thể và chi tiết những lý luận cơ bản liên quan tới phát hành TPCP tại KBNN Việt Nam Bắt đầu là những khái niệm liên quan gồm: Khái niệm chính sách Huy động vốn, TPCP
TPCP là một loại công cụ nợ đặc biệt mà người phát hành là Chính phủ hoặc các cơ quan tổ chức được Chính phủ chỉ định phát hành, được Chính phủ đứng ra bảo đảm thanh toán trong trường hợp tổ chức phát hành không bố trí đủ nguồn để trả nợ khi đến hạn
Có 48 văn bản luật liên quan quy định về phát hành TPCP từ năm 1994 cho tới cuối năm 2013 TPCP có 3 đặc điểm chính là độ rủi ro thấp, tính sinh lời thấp, tính thanh khoản cao Có 7 cách phân loại TPCP: phân loại theo chủ thể phát hành, phân loại theo kỳ hạn TPCP, phân loại hình thức trả lãi, phân loại theo hình thức và tiêu thức quản lý TPCP, phân loại theo mục đích phát hành, phân loại theo mức độ bảo đảm thanh toán của TPCP, phân loại theo địa bàn phát hành TPCP Có 4 phương thức phát hành TPCP: đấu thầu phát hành trái phiếu, bảo lãnh phát hành trái phiếu, đại lý phát hành trái phiếu và bán lẻ trái phiếu TPCP có vai trò vô cùng quan trọng trong đáp ứng nhu cầu
về vốn, tăng cường vai trò của Nhà nước trong điều tiết kinh tế vĩ mô, thúc đẩy thị trường chứng khoán phát triển và góp phần ổn định tiền tệ, kiềm chế lạm phát
Tham khảo về TPCP trên trang Investing.com của một số nước trên thế giới cho thấy kỳ hạn TPCP ở Việt Nam còn kém đa dạng và phong phú