1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện công tác quản lý nợ công của Việt Nam đ́ên năm 2020

78 659 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 878,68 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khóa luận tốt nghiệp:2014 Hoàn thiện công tác quản lý nợ công của Việt Nam đ́ên năm 2020 nhằm nghiên cứu và làm rõ những vấn đề mang tính lý luận cơ bản về nợ công, quản lý, sử dụng và hoản trả nợ, đánh giá thực trạng nợ công, quản lý và sử dụng nợ công ở Việt Nam, rút ra những nguyên nhân và đưa ra những giải pháp phù hợp và hiệu quả nhất nhằm nâng cao công tác quản lý nợ công ở Việt Nam.

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.Các số liệu, kết quả nêu trong khóa luận tốt nghiệp là xuất phát từ tình hình thực tế của đơn vị thực tập

Tác giả khóa luận Nguyễn Mạnh Hùng

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN iii

MỤC LỤC iv

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT v

DANH MỤC BẢNG vi

DANH MỤC BIỂU ĐỒ vii

LỜI MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu của báo cáo chuyên đề 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Kết cấu của chuyên đề 3

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ NỢ CÔNG VÀ QUẢN LÝ NỢ CÔNG CỦA VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA 4

1.1 Giới thiệu khái quát về Nợ công 4

1.2 Các hình thức vay nợ 5

1.3 Tính bền vững và những yếu tố ảnh hưởng đến nợ công 6

1.4 Đăc trưng cơ bản của nợ công 8

1.5 Bản chất kinh tế và tác động của nợ công 10

1.6 Phân loại nợ công 11

1.7 Tình hình nợ công và kinh nghiệm quản lý nợ công từ các nước trên thế giới 13

1.7.1 Tình hình nợ công của một số nước trên thế giới 13

1.7.2 Kinh nghiệm quản lý nợ công của một số quốc gia trên thế giới 14

1.8 Những vấn đề cần quan tâm về nợ công ở Việt Nam 16 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NỢ CÔNG VÀ QUẢN LÍ NỢ CÔNG CỦA

Trang 4

2.1 Thực trạng quản lí nợ tại cục Quản lí nợ tài chính đối ngoại, giai đoạn

2010 – 2013 18

2.1.1 Tình hình nợ 18

2.1.1.1 Về tình hình nợ Chính phủ 19

2.1.1.2 Về nợ được Chính phủ bảo lãnh 23

2.1.1.3 Về nợ Chính quyền địa phương 23

1.2.1 Đánh giá tình hình nợ công của chúng ta ở mức an toàn hay báo động 24

2.2 tình hình quản lý nợ công của Việt Nam giai đoạn 2010 -2013 26

2.3 Những kết quả và hạn chế còn tồn tại trong công tác quản lý nợ công của Việt Nam giai đoạn 2010 – 2013 32

2.3.1 kết quả đạt được 32

2.3.2 Một số tồn tại, hạn chế trong công tác quản lý nợ công: 33

2.4 Nguyên nhân của hạn chế 36

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÍ NỢ CÔNG CỦA VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020 39

3.1 Quan điểm, mục tiêu, định hướng công tác quản lí nợ tại cục Quản lí nợ tài chính quốc tế 39

3.1.1 Quan điểm 39

3.1.2 Mục tiêu 39

3.1.3 Định hướng 40

3.2 Giải pháp tăng cường công tác quản lý nợ 46

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 66

1 KẾT LUẬN 66

2 KIẾN NGHỊ 67

TÀI LIỆU THAM KHẢO 69

Trang 5

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DMEF : Cục Quản Lý Nợ và Tài Chính Đối Ngoại (Department of Debt

Management and External Finance )

ODA : Hỗ trợ phát triển chính thức (Official Development Assistance)

NSNN: Ngân sách Nhà nước

NGO: Viện trợ phi Chính phủ nước ngoài

GDP: Tổng sản phẩm nội địa (Gross Domestic Product)

DNNN: Doanh nghiệp nhà nước

VDB: Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam

TPCP: Trái phiếu Chính phủ

KBNN: Kho bạc Nhà nước

CQĐP: Chính quyền địa phương

NSĐP: Ngân sách địa phương

XDCB: Xây dựng cơ bản

Qũy ĐTPTĐP: Quỹ đầu tư phát triển địa phương

BOT: Xây dựng-Vận hành-Chuyển giao

BTO: Xây dựng - chuyển giao lại – Kinh doanh

BT : xây dựng -chuyển giao

PPP: mô hình hợp tác đầu tư (Public Private Partnerships)

Trang 7

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biều đồ 2.1: Tình hình nợ công 2003 – 2014

Biểu đồ 3.1: dự kiến các chỉ tiêu về nợ công đến năm 2020

Trang 8

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm gần đây vấn đề nợ công đã trở thành vấn đề nóng bỏng trên toàn cầu kể cả nhóm nước đang phát triển và nhóm nước phát triển.Từ câu chuyện nợ công của Hy Lạp và những bài học, rồi đến quyết định tăng tỉ lệ nợ công ở Mỹ đã làm nhiều nền kinh tế toàn cầu phải thật sự cẩn trọng với vấn đề nợ công

Trong quá trình quản lý xã hội và nền kinh tế, trong từng giai đoạn nhất định, Nhà nước có lúc cần huy động nguồn lực nhiều hơn từ trong và ngoài nước Nói cách khác, khi các khoản thu truyền thống như thuế, phí, lệ phí không đáp ứng được các nhu cầu chi tiêu, nhà nước phải quyết định vay nợ để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình và chịu trách nhiệm trong việc

chi trả khoản nợ đó, thường được gọi là nợ công Nợ công của Việt Nam bắt

đầu tham gia vào bảng xếp hạng tín nhiệm quốc gia từ năm 2005.Giai đoạn

2005 - 2007, chúng ta đã thăng hạng, từ 2007 - 2011 đi xuống và năm 2011 -

2012 lại đi lên.Chỉ số xếp hạng quốc gia đánh giá thực trạng khả năng trả nợ quốc gia và đánh giá mức độ uy tín quốc gia.Nếu được xếp hạng cao, chúng ta

sẽ đi vay trên thị trường quốc tế với lãi suất và chi phí thấp hơn Mức nợ công của Việt Nam hiện nay theo đánh giá của các tổ chức Moody’s, S&P, Fitch đều ở mức ổn định Nếu so sánh với các nước trong khu vực như Indonesia, Philippin, Mông cổ thì chỉ số tín nhiệm của chúng ta cao hơn.Tuy nhiênTại Việt Nam câu chuyện nợ công đang là vấn đề nóng bỏng và được xem là đề tài của nhiều hội nghị, hội thảo của các chuyên gia kinh tế hàng đầu Vì vậy,

em chọn đề tài nghiên cứu: ―Hoàn thiện công tác quản lý nợ công của Việt Nam đến năm 2020” Tuy nhiên, do hiểu biết còn hạn chế nên chuyên đề

Trang 9

không thể tránh khỏi những sai sót.Em mong có được những nhận xét, đánh giá của các thầy, cô nhằm hoàn thiện đề tài này

2 Mục đích nghiên cứu của báo cáo chuyên đề

Nghiên cứu và làm rõ những vấn đề mang tính lý luận cơ bản về nợ công, quản lý, sử dụng và hoản trả nợ, đánh giá thực trạng nợ công, quản lý

và sử dụng nợ công ở Việt Nam, rút ra những nguyên nhân và đưa ra những giải pháp phù hợp và hiệu quả nhất nhằm nâng cao công tác quản lý nợ công

ở Việt Nam

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Chuyên đề tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận, thực tiễn về công tác quản lý nợ công của Việt Nam

theo hình thức tự vay, tự trả

4 Phương pháp nghiên cứu

Vận dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu như phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu…Trên cơ sở dung số liệu thống kê, tài liệu về nợ công của cục Quản lý nợ và Tài chính đối ngoại thuộc Bộ Tài Chính để phân tích, đánh giá và rút ra các kết luận cho vấn đề nghiên cứu, ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu có kế thừa các kiến thức và tài liệu liên quan

Trang 10

5 Kết cấu của khóa luận

Ngoài lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận được kết cấu thành 3 chương:

 Chương 1 Lý luận chung về n ợ công và quản lý nợ công của Việt Nam trong thời gian qua

 Chương 2 Thực trạng n ợ công và quản lý nợ công của Việt Nam, giai đoạn 2009 - 2013

 Chương 3 Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nợ công của Việt Nam đến năm 2020

Trang 11

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ NỢ CÔNG VÀ QUẢN LÝ

NỢ CÔNG CỦA VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA

1.1 Khái quát về Nợ công

Khái niệm nợ công là một khái niệm tương đối phức tạp.Tuy nhiên, hầu hết những cách tiếp cận hiện nay đều cho rằng, nợ công là khoản nợ mà Chính phủ của một quốc gia phải chịu trách nhiệm trong việc chi trả khoản nợ đó.Chính vì vậy, thuật ngữ nợ công thường được sử dụng cùng nghĩa với các thuật ngữ như nợ Nhà nước hay nợ Chính phủ.Tuy nhiên, nợ công hoàn toàn khác với nợ quốc gia

Nợ quốc gia là toàn bộ khoản nợ phải trả của một quốc gia, bao gồm hai bộ phận là nợ của Nhà nước và nợ của tư nhân (doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân).Như vậy, nợ công chỉ là một bộ phận của nợ quốc gia mà thôi Theo cách tiếp cận của Ngân hàng Thế giới, nợ công được hiểu là nghĩa

vụ nợ của bốn nhóm chủ thể bao gồm:

(1) Nợ của Chính phủ trung ương và các Bộ, ban, ngành trung ương; (2) Nợ của các cấp chính quyền địa phương;

(3) Nợ của Ngân hàng trung ương;

(4) Nợ của các tổ chức độc lập mà Chính phủ sở hữu trên 50% vốn, hoặc việc quyết lập ngân sách phải được sự phê duyệt của Chính phủ hoặc Chính phủ là người chịu trách nhiệm trả nợ trong trường hợp tổ chức đó vỡ nợ Cách định nghĩa này cũng tương tự như quan niệm của Hệ thống quản lý nợ

và phân tích tài chính của Hội nghị của Liên hiệp quốc về thương mại và phát

triển (UNCTAD)

Theo Luật Quản lý nợ công của Việt Nam(01/01/2010) Nợ công được

hiểu bao gồm ba nhóm là:

 Nợ Chính phủ

Trang 12

 Nợ được Chính phủ bảo lãnh

 Nợ chính quyền địa phương

- Nợ Chính phủ là khoản nợ phát sinh từ các khoản vay trong nước, nước ngoài, được ký kết, phát hành nhân danh Nhà nước, nhân danh Chính phủ hoặc các khoản vay khác do Bộ Tài Chính ký kết, phát hành, uỷ quyền phát hành theo quy định của pháp luật Nợ Chính phủ không bao gồm khoản

nợ do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành nhằm thực hiện chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ

- Nợ được Chính phủ bảo lãnh là khoản nợ của doanh nghiệp, tổ chức tài chính, tín dụng vay trong nước, nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh

- Nợ chính quyền địa phương là khoản nợ do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là UBND cấp tỉnh) ký kết, phát hành hoặc uỷ quyền phát hành

Như vậy, khái niệm về nợ công theo quy định của pháp luật Việt Nam được đánh giá là hẹp hơn so với thông lệ quốc tế Nhận định này cũng được nhiều chuyên gia uy tín trong lĩnh vực chính sách công thừa nhận

1.2 Các hình thức huy động nợ công

1.2.1 Phát hành trái phiếu chính phủ

Chính phủ có thể phát hành Trái phiếu chính phủ để vay từ các tổ chức,

cá nhân Trái phiếu chính phủ phát hành bằng nội tệ được coi là không có rủi

ro tín dụng vì Chính phủ có thể tăng thuế thậm chí in thêm tiền để thanh toán

cả gốc lẫn lãi khi đáo hạn Trái phiếu chính phủ phát hành bằng ngoại tệ (thường là các ngoại tệ mạnh có cầu lớn) có rủi ro tín dụng cao hơn so với khi phát hành bằng nội tệ vì chính phủ có thể không có đủ ngoại tệ để thanh toán

và ngoài ra còn có rủi ro về tỷ giá hối đoái

Trang 13

1.2.2 Vay trực tiếp

Chính phủ cũng có thể vay tiền trực tiếp từ các ngân hàng thương mại, các thể chế siêu quốc gia (ví dụ: Quỹ Tiền tệ Quốc tế…) các Chính Phủ nước ngoài Hình thức này thường được Chính phủ của các nước có độ tin cậy tín dụng thấp áp dụng vì khi đó khả năng vay nợ bằng hình thức phát hành trái phiếu chính phủ của họ không cao

Ưu điểm: đó là một phương pháp hữu hiệu để tài trợ ngân sách nhà nước mà không gây sức ép lạm phát đến nền kinh tế Đây cũng là nguồn vốn quan trong bổ sung cho nguồn vốn thiếu hụt trong nước, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội

Nhược điểm: Nó sẽ khiến cho gánh nặng nợ nần và nghĩa vụ trả nợ tăng lên, giảm khả năng chi tiêu của chính phủ Đồng thời nó cũng dễ khiến cho nền kinh tế trở nên bị phụ thuộc vào bên ngoài Thậm trí nhiều khoản vay, khoản viện trợ còn đòi hỏi kèm theo đó là các điều khoản về chính trị, kinh tế, quân sự khiến cho nước đi vay bị phụ thuộc nhiều

1.3 Tính bền vững và những yếu tố ảnh hưởng đến nợ công

1.3.1 Tính bền vững của nợ công

Việc đưa ra một chỉ số giới hạn an toàn cho vấn đề nợ công của một quốc gia là rất khó khăn và nhiều khi không thực hiện được Mỗi quốc gia có một đặc thù kinh tế cho riêng mình Để dễ hình dung quy mô của nợ chính phủ, người ta thường đo xem khoản nợ này bằng bao nhiêu phần trăm so với

tổng sản phẩm quốc nội (GDP)

Nhưng, nếu chỉ xét chỉ tiêu tỷ lệ nợ công tính trên GDP để xác định mức độ an toàn là chưa đủ và chưa phản ánh đúng thực chất vấn đề

Trang 14

Bảng 2: Nợ công tại 1 số quốc gia

STT Quốc gia Tổng nợ công

(USD)

Tỉ lệ nợ công/GDP

(Nguồn: The Economist, năm 2011)

Qua bảng số liệu trên thấy Mỹ và Đức có nợ công khá lớn, còn nếu nhìn vào tỷ lệ nợ công tính trên GDP thì Nhật bản là nước có tỷ lệ cao nhất.Tuy nhiên, tại sao các tổ chức và chính phủ các nước không lo ngại nợ công tại Nhật, Đức mà lại rất lo ngại nợ công tại Hy Lạp và Tây Ban Nha?

Việc nợ công cao cũng như tỷ lệ nợ công trên GDP cao chưa phải là đáng lo ngại mà điều chúng ta cần quan tâm là nợ công đó được đầu tư như thế nào, khả năng trả nợ của chính phủ đó ra sao?

Do vậy, khi xem xét nợ công, quy mô nợ công trên GDP phải được phân tích kỹ lưỡng cùng với những tiêu chí như: giới hạn nợ, cơ cấu nợ công,

tỷ trọng các loại nợ, cơ cấu lãi suất, thời gian trả nợ…(i) Giới hạn nợ công không vượt quá 50% - 60% GDP hoặc không vượt quá 150% kim ngạch xuất khẩu; (ii) Dịch vụ trả nợ công không vượt quá 15% kim ngạch xuất khẩu và không vượt quá 10% chi ngân sách

Ngoài ra, để đánh giá mức nợ công thế nào là an toàn và bền vững thì chúng ta còn phải xem xét một cách toàn diện trong mối liên hệ với hệ thống các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô như: Tỷ lệ thâm hụt ngân sách, năng suất lao động

Trang 15

1.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến nợ công

a, Cân bằng ngân sách cơ bản: Thâm hụt nhỏ thì những khoản vay sẽ

giảm đi và ngược lại

b, Lãi suất thực tế: Khi lãi suất tăng lên, các khoản vay của chính phủ

sẽ trở nên đắt hơn và khó khăn hơn nếu không có kế hoạch vay nợ rõ ràng thì

sẽ không đảm bảo vay nợ đúng thời hạn để đáp ứng cho nhu cầu đầu tư của Chính phủ, làm ảnh hưởng đến sự bền vững của chính sách tài khóa

c, Tốc độ tăng trưởng thực tế: Nền kinh tế càng phát triển thì khoản

vay của Chính phủ sẽ trở nên dễ dàng hơn khi nền kinh tế tăng trưởng chậm, ngoài ra khi kinh tế tăng trưởng chậm , người dân cũng như Doanh nghiệp thắt chặt chi tiêu hơn việc tích lũy ít đi và nguồn vay của Chính Phủ sẽ giảm

đi đáng kể Còn có thể đi kèm với lạm phát và thất nghiệp, lúc này những khoản trả nợ vay đến hạn còn phải cấp bù lạm phát

d, Lãi suất ngoại tệ: Lãi suất ngoại tệ thực tế tăng lên thì khoản vay của

CP sẽ trở nên đắt hơn và ngược lại

e, Tỷ giá thực tế: Ảnh hưởng đến những khoản vay và trả đối với nợ

công khi có những khoản vay nợ nước ngoài Nếu tỷ giá tăng thì khoản trả nợ vay đến hạn sẽ tăng và ngược lại Còn khi vay nợ thì tỷ giá tăng đối với khoản vay nợ sẽ có lợi hơn khi tỷ giá giảm

1.4 Đăc trưng cơ bản của nợ công

Tuy có nhiều cách tiếp cận rộng hẹp khác nhau về nợ công, nhưng về

cơ bản, nợ công có những đặc trưng sau đây:

Một là; Nợ công là khoản nợ ràng buộc trách nhiệm trả nợ của Nhà

nước khác với các khoản nợ thông thường, nợ công được xác định là một khoản nợ mà Nhà nước (bao gồm các cơ quan nhà nước có thẩm quyền) có trách nhiệm trả khoản nợ ấy Trách nhiệm trả nợ của Nhà nước được thể hiện dưới hai góc độ trực tiếp và gián tiếp Trực tiếp được hiểu là cơ quan nhà

Trang 16

nước có thẩm quyền sẽ là người vay và do đó, cơ quan nhà nước ấy sẽ chịu trách nhiệm trả nợ khoản vay (ví dụ: Chính phủ Việt Nam hoặc chính quyền địa phương) Gián tiếp là trong trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền đứng ra bảo lãnh để một chủ thể trong nước vay nợ, trong trường hợp bên vay không trả được nợ thì trách nhiệm trả nợ sẽ thuộc về cơ quan đứng ra bảo lãnh (ví dụ: Chính phủ bảo lãnh để Ngân hàng Phát triển Việt Nam vay vốn nước ngoài)

Hai là; Nợ công được quản lý theo quy trình chặt chẽ với sự tham gia

của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Việc quản lý nợ công đòi hỏi quy trình chặt chẽ nhằm đảm bảo hai mục đích: là đảm bảo khả năng trả nợ của đơn vị

sử dụng vốn vay và cao hơn nữa là đảm bảo cán cân thanh toán vĩ mô và an ninh tài chính quốc gia; là để đạt được những mục tiêu của quá trình sử dụng vốn Bên cạnh đó, việc quản lý nợ công một cách chặt chẽ còn có ý nghĩa quan trọng về mặt chính trị và xã hội Theo quy định của pháp luật Việt Nam, nguyên tắc quản lý nợ công là Nhà nước quản lý thống nhất, toàn diện nợ công từ việc huy động, phân bổ, sử dụng vốn vay đến việc trả nợ để đảm bảo hai mục tiêu cơ bản như đã nêu trên

Ba là: Mục tiêu cao nhất trong việc huy động và sử dụng nợ công là

phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích chung.Nợ công được huy động và sử dụng không phải để thỏa mãn những lợi ích riêng của bất kỳ cá nhân, tổ chức nào, mà vì lợi ích chung của đất nước Xuất phát từ bản chất của Nhà nước là thiết chế để phục vụ lợi ích chung của xã hội, Nhà nước là của dân, do dân và

vì dân nên đương nhiên các khoản nợ công được quyết định phải dựa trên lợi ích của nhân dân, mà cụ thể là để phát triển kinh tế – xã hội của đất nước và phải coi đó là điều kiện quan trọng nhất

Trang 17

1.5 Bản chất kinh tế và tác động của nợ công

Về bản chất, nợ công chính là các khoản vay để trang trải thâm hụt ngân sách Các khoản vay này sẽ phải hoàn trả gốc và lãi khi đến hạn, nhà nước sẽ phải thu thuế tăng lên để bù đắp Vì vậy, suy cho cùng, nợ công chỉ là

sự lựa chọn thời gian đánh thuế: hôm nay hay ngày mai, thế hệ này hay thế hệ khác Vay nợ thực chất là cách đánh thuế dần dần, được hầu hết chính phủ các nước sử dụng để tài trợ cho các hoạt động chi ngân sách Tỷ lệ nợ công/GDP chỉ phản ảnh một phần nào đó về mức độ an toàn hay rủi ro của nợ công Mức

độ an toàn hay nguy hiểm của nợ công không chỉ phụ thuộc vào tỷ lệ nợ/GDP

mà quan trọng hơn, phụ thuộc vào tình trạng phát triển của nền kinh tế

Vay nợ là một cách huy động vốn cho phát triển.Bản chất nợ không phải là xấu.Nợ đem lại rất nhiều tác động tích cực cho nền kinh tế của các nước đi vay.Thực tế, các nước muốn phát triển nahnh đều phải đi vay Những nền kinh tế lớn nhất thế giới như Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản… lại cũng chính

là những con nợ lớn Nợ công có nhiều tác động tích cực, nhưng cũng có không ít tác động tiêu cực Tác động tích cực chủ yếu của nợ công bao gồm:

tăng cường nguồn vốn để phát triển cơ sở hạ tầng và tăng khả năng đầu tư đồng bộ của Nhà nước Muốn phát triển cơ sở hạ tầng nhanh chóng và đồng

bộ, vốn là yếu tố quan trọng nhất Với chính sách huy động nợ công hợp lý, nhu cầu về vốn sẽ từng bước được giải quyết để đầu tư cơ sở hạ tầng, từ đó gia tăng năng lực sản xuất cho nền kinh tế;

rỗi trong dân cư Một bộ phận dân cư trong xã hội có các khoản tiết kiệm, thông qua việc Nhà nước vay nợ mà những khoản tiền nhàn rỗi này được đưa vào sử dụng, đem lại hiệu quả kinh tế cho cả khu vực công lẫn khu vực tư;

Trang 18

Thứ ba, nợ công tận dụng được sự hỗ trợ từ nước ngoài và các tổ

chức tài chính quốc tế Tài trợ quốc tế là một trong những hoạt động kinh tế – ngoại giao quan trọng của các nước phát triển muốn gây ảnh hưởng đến các quốc gia nghèo, cũng như muốn hợp tác kinh tế song phương Biết tận dụng tốt những cơ hội này, thì sẽ có thêm nhiều nguồn vốn ưu đãi để đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, trên cơ sở tôn trọng lợi ích đối tác, đồng thời giữ vững độc lập, chủ quyền đất nước

Bên cạnh những tác động tích cực, nợ công cũng gây ra những tác động tiêu cực: Nợ công gia tăng sẽ gây áp lực lên chính sách tiền tệ, đặc biệt là từ các khoản tài trợ ngoài nước Nếu kỷ luật tài chính của Nhà nước lỏng lẻo và thiếu cơ chế giám sát chặt chẽ việc sử dụng và quản lý nợ công sẽ dẫn đến tình trạng tham nhũng, lãng phí tràn lan Tình trạng này làm thất thoát các nguồn lực, giảm hiệu quả đầu tư và điều quan trọng hơn là giảm thu cho ngân sách Nhận biết những tác động tích cực và tiêu cực nhằm phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực là điều hết sức cần thiết trong xây dựng và thực hiện pháp luật về quản lý nợ công

1.6 Phân loại nợ công

Có nhiều tiêu chí để phân loại nợ công, mỗi tiêu chí có một ý nghĩa khác nhau trong việc quản lý và sử dụng nợ công

gồm có hai loại: nợ trong nước và nợ nước ngoài

Nợ trong nước là nợ công mà bên cho vay là cá nhân, tổ chức Việt Nam

Nợ nước ngoài là nợ công mà bên cho vay là Chính phủ nước ngoài, vùng lãnh thổ, tổ chức tài chính quốc tế, tổ chức và cá nhân nước ngoài Như vậy, theo pháp luật Việt Nam, nợ nước ngoài không được hiểu là nợ mà bên cho vay là nước ngoài, mà là toàn bộ các khoản nợ công không phải là nợ trong nước

Trang 19

Ảnh hưởng của phân loại đến việc quản lý nợ công: Việc phân loại nợ trong nước và nợ nước ngoài có ý nghĩa quan trọng trong quản lý nợ Việc phân loại này về mặt thông tin sẽ giúp xác định chính xác hơn tình hình cán cân thanh toán quốc tế Và ở một số khía cạnh, việc quản lý nợ nước ngoài còn nhằm đảm bảo an ninh tiền tệ của Nhà nước Việt Nam, vì các khoản vay nước ngoài chủ yếu bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi hoặc các phương tiện thanh toán quốc tế khác

là nợ công từ thỏa thuận trực tiếp và nợ công từ công cụ nợ

Nợ công từ thỏa thuận trực tiếp là khoản nợ công xuất phát từ những thỏa thuận vay trực tiếp của cơ quan nhà nước có thẩm quyền với cá nhân, tổ chức cho vay.Phương thức huy động vốn này xuất phát từ những hợp đồng vay, hoặc ở tầm quốc gia là các hiệp định, thỏa thuận giữa Nhà nước Việt Nam với bên nước ngoài

Nợ công từ công cụ nợ là khoản nợ công xuất phát từ việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền phát hành các công cụ nợ để vay vốn.Các công cụ nợ này

có thời hạn ngắn hoặc dài, thường có tính vô danh và khả năng chuyển nhượng trên thị trường tài chính.Theo tính chất ưu đãi của khoản vay làm phát sinh nợ công thì nợ công có ba loại là nợ công từ vốn vay ODA, nợ công từ vốn vay ưu đãi và nợ thương mại thông thường

Ba là: Theo trách nhiệm đối với chủ nợ thì nợ công được phân

loại thành nợ công phải trả và nợ công bảo lãnh

Nợ công phải trả là các khoản nợ mà Chính phủ, chính quyền địa phương có nghĩa vụ trả nợ

Nợ công bảo lãnh là khoản nợ mà Chính phủ có trách nhiệm bảo lãnh cho người vay nợ, nếu bên vay không trả được nợ thì Chính phủ sẽ có nghĩa

vụ trả nợ

Trang 20

Bốn là: Theo cấp quản lý nợ thì nợ công được phân loại thành nợ

công của trung ương và nợ công của chính quyền địa phương

Nợ công của trung ương là các khoản nợ của Chính phủ, nợ do Chính phủ bảo lãnh

Nợ công của địa phương là khoản nợ công mà chính quyền địa phương

là bên vay nợ và có nghĩa vụ trực tiếp trả nợ Theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước năm 2002 thì những khoản vay nợ của chính quyền địa phương được coi là nguồn thu ngân sách và được đưa vào cân đối, nên về bản chất nợ công của địa phương được Chính phủ đảm bảo chi trả thông qua khả năng bổ sung từ ngân sách trung ương

1.7 Kinh nghiệm quản lý nợ công của một số nước trên thế giới

1.7.1 Tình hình nợ công của một số nước trên thế giới

Theo số liệu do ―The Economist‖ cập nhật tính đến đầu tháng 3/2013, những khu vực và quốc gia có tổng mức nợ công tuyệt đối cao nhất hiện nay

là Bắc Mỹ, Brazil, châu Âu, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản và Australia Trong đó, Nhật Bản là nước có số nợ công khổng lồ nhất, lên tới hơn 12,5 nghìn tỷ USD (tương đương 226,1% GDP), tiếp theo là Mỹ nợ hơn 11,8 nghìn tỷ USD (tương đương 75,2% GDP) Nhiều quốc gia trong khối sử dụng đồng tiền chung châu Âu cũng đang có mức nợ công hàng nghìn tỷ USD như Đức nợ gần 2,7 nghìn tỷ USD (tương đương 83% GDP), Italy nợ trên 2,4 nghìn tỷ USD (tương đương 120,8% GDP), Pháp nợ hơn 2,3 nghìn tỷ USD (tương đương 90,5% GDP), Anh nợ hơn 2,2 nghìn tỷ USD (tương đương 91,4% GDP), … Hy Lạp, ―tâm bão‖ nợ công của châu Âu hiện nợ gần 395 tỷ USD (tương đương 157,5% GDP)

Trung Quốc cũng đang là nước có mức nợ công cao trên thế giới Tổng mức nợ công của Trung Quốc tính tới cuối năm 2010 là gần 1,03 tỷ nghìn tỷ USD, nhưng nợ công cũng chỉ chiếm có 17% GDP của Trung Quốc

Trang 21

Việt Nam hiện nằm trong nhóm nước có mức nợ công trung bình của thế giới Tổng mức nợ công của Việt Nam hiện vào khoảng 71,6 tỷ USD, tương đương 49,4% GDP, tăng 12,7% so với năm trước Mức nợ công bình quân đầu người của Việt Nam đang là 798,92 USD

Việt Nam cũng xếp vào nhóm những nước có nợ công ở mức trung bình, khá thấp so với các nước khu vực Đông Nam Á như Indonesia (231 tỷ USD), Thái Lan (185 tỷ USD), hay Malaysia (175 tỷ USD) Tuy nhiên, nợ công Việt Nam lại chiếm tới 49,4% GDP, xếp hàng cao nhất trong châu Á

1.7.2 Kinh nghiệm quản lý nợ công của một số quốc gia trên thế giới đối với Việt Nam

Lựa chọn tối ưu nhất đối với nợ công là làm thế nào để quản lý nó một cách hiệu quả.Theo định nghĩa, nợ công không xấu nếu một quốc gia có khả năng thanh toán nó.Tuy nhiên, nhiều nước đã thất bại.Trên thực tế, các nước này không thất bại về mặt nguyên tắc, mà lý do thất bại là do không có phương pháp thích hợp.Cả thế giới đã thất bại vì các nước không thông hiểu lẫn nhau Nói chung, vấn đề để các quốc gia thõa hiệp cùng một chính sách tương tự là rất khó khăn Mỗi quốc gia có xu hướng phát hành trái phiếu và cố gắng để có lấy được nguồn vốn trên thị trường quốc tế mà họ không có khả năng trả được

Theo nghiên cứu của Quỹ Tiền tệ Quốc tế và Ngân hàng Thế giới, một trong những ví dụ điển hình cho bài học về nợ công là trường hợp của Trung Quốc trong thế kỷ 20 Trong thời gian này, Trung Quốc phát triển nhanh chóng bằng cách mở rộng các chính sách tài chính.Lúc đầu, lãi suất ở Trung Quốc thấp và nhiều nhà đầu tư đã chọn đầu tư vào nước này.Các nhà đầu tư

đã nhận được lợi nhuận khổng lồ trong nhiều thập kỷ.Tuy nhiên, hiện nay Trung Quốc có xu hướng bảo thủ hơn và lãi suất sẽ cao hơn để ngăn chặn lạm phát Bất động sản và đầu tư tài chính khác ở Trung Quốc trở nên dễ bị tổn

Trang 22

thương hơn vì Trung Quốc đang nắm giữ hầu hết trái phiếu Mỹ Trung Quốc

có lẽ không có cách nào khác ngoài việc tiếp tục cho Mỹ vay nợ vì Trung Quốc sợ rằng Mỹ sẽ phá sản một ngày nào đó Đó cũng sẽ là một dấu chấm hết đối với Trung Quốc Vì vậy, nợ công là một tay mạnh mẽ để huy động vốn cho bất kỳ quốc gia nào Tuy nhiên, sử dụng nợ công bằng quy trình quản

lý yếu kém sẽ dẫn đến sự mất kiểm soát

Ngày nay, có rất nhiều quốc gia theo cùng một xu hướng phát triển Hầu hết các nước trong số đó chỉ cần sao chép, nhưng nhận ra được chính sách cụ thể nào là phù hợp với quốc gia của họ nhất.Trường hợp của Hy Lạp

và các nước châu Âu khác là bằng chứng mạnh mẽ nhất về cách họ tham gia vào thị trường thế giới và thất bại

Trong các cuộc nghiên cứu tương tự về vấn đề nợ công, Jaimovich, D

và Panizza, U (2010) đã chứng minh rằng các nước đang phát triển có xu hướng cam kết với nợ công nhiều hơn so với các nước phát triển Nghiên cứu cũng phát hiện ra rằng bất kỳ quốc gia nào có thu nhập bình quân đầu người thấp hơn sẽ có nợ công nhiều hơn Tuy nhiên, kết quả này có thể không còn thích hợp với tình hình hiện nay vì hầu hết các nước phát triển có xu hướng muốn có nợ công càng nhiều càng tốt Lý do dẫn đến sự nhần lẫn này là do tác giả sử dụng số liệu của các nước OECD cho mục đích nghiên cứu Sức mạnh và tiềm năng của các nền kinh tế mới nổi đã bị được bỏ qua, và cuối cùng dẫn đến sai sót này

Theo Don P Clark (2011), sự gia tăng FDI sẽ ảnh hưởng đến nợ công Trung Quốc và Mỹ là ví dụ thích hợp cho trường hợp này.Bằng chứng cho thấy rằng khi FDI đến bất kỳ quốc gia nào càng lớn thì nó sẽ càng là một kênh quan trọng làm thay đổi tỷ lệ lãi suất FDI không chỉ có thể luân chuyển vòng quanh vốn, mà còn có thể vay nhiều hơn từ bên trong quốc gia đó Do khả năng luân chuyển vốn như vậy, hình ảnh xấu của FDI thường được gọi là

Trang 23

cuộc chiến huy động vốn Khi cuộc chiến huy động vốn xảy ra, thảm họa sẽ tấn công bất kỳ một nền kinh tế nào có liên quan kể vì chính phủ không thể kiểm soát cung tiền Arnold (2008) khẳng định rằng cách duy nhất để thu hút vốn FDI trong thời gian dài là chính phủ phải quản lý quá trình này chặt chẽ hơn Vào những năm 90, Mỹ có nhiều FDI hơn Trung Quốc Tuy nhiên, khi Trung Quốc đã sẵn sàng để tham gia vào nền kinh tế thế giới, dòng FDI đã thay đổi rất lớn và chảy vào Trung Quốc Ngày nay, Trung Quốc được biết đến là một quốc gia thu hút nhiều FDI nhất Tuy nhiên, vấn đề lớn của Trung Quốc lạm phát cao do không thể kiểm soát được số lượng FDI

1.7.3 Những vấn đề cần quan tâm về nợ công ở Việt Nam

Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới và Quỹ tiền tệ quốc tế, Việt Nam không nằm trong các nhóm nước có gánh nặng về nợ cao.Tuy nhiên, hiệu quả quản lý và sử dụng nợ công vẫn chưa thực sự hiệu quả.Để giải quyết vấn đề hiệu quả quản lý và sử dụng nợ công, chính phủ cần có chiến lược kiểm soát đầu tư trong khu vực công, giảm thâm hụt ngân sách để có thế kiểm soát được

nợ vay nước ngoài.Trong đó, việc quan trọng là phải nâng cao hiệu quả đầu tư của khu vực doanh nghiệp nhà nước Bên cạnh đó, quản lý nợ công phải gắn chặt với quản lý kinh tế vĩ mô, dự đoán được các nhân tố tác động đến quy

mô nợ như lãi suất và tỷ giá, để giảm thiểu rủi ro

Hiện nay, rủi ro nợ công ở Việt Nam phụ thuộc vào những yếu tố chính như tốc độ tăng GDP, lạm phát, lãi suất, mức thâm hụt tài khoản vãng lai và

dự trữ ngoại hối của quốc gia Do đó, những nhân tố này cần được kiểm soát tốt để giảm thiếu rủi ro về nợ công

Cần lưu ý rằng việc quản lý nợ công không chỉ liên quan đến trách nhiệm của Bộ Tài Chính mà còn liên quan đến nhiều cơ quan khác Vì vậy, cần có sự phối hợp giữa các cơ quan hữu quan dưới sự điều hành chung của chính phủ để quản lý nợ công hiệu quả

Trang 24

Tóm lại, việc đánh giá đúng thực trạng nợ công và bản chất nợ công của một nền kinh tế, một quốc gia là vô cùng quan trọng, đặc biệt trong những thời điểm nhạy cảm Bởi lẽ, nếu chỉ chú trọng vào con số tỷ lệ nợ công cao một cách thuần túy sẽ gây nên hiệu ứng tâm lý hoang mang, kích động, thiếu tin tưởng, làm gia tăng căng thẳng xã hội, bị giới đầu cơ lợi dụng tấn công, dễ gây rối loạn nền kinh tế, thậm chí dẫn nền kinh tế đến bên bờ vực phá sản Ngược lại, nếu yên tâm với tỷ lệ nợ công còn trong giới hạn an toàn mà không phân tích cẩn trọng, chú ý đúng mức đến khoản nợ đó được hình thành như thế nào, bằng cách nào, thực trạng nền kinh tế ra sao và khả năng trả nợ thế nào…, cũng dễ đẩy nền kinh tế rơi vào vòng xoáy thâm hụt ngân sách, tác động tiêu cực đến tăng trưởng

Trang 25

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÍ NỢ CÔNG

CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2010 - 2013

2.1 Thực trạng quản lí nợ tại cục Quản lí nợ tài chính đối ngoại, giai đoạn 2010 – 2013

2.1.1 Tình hình nợ công

Theo quy định của Luật quản lý nợ công, nợ công bao gồm: nợ Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương Tính đến ngày 31/12/2012 tổng số nợ công của Việt Nam là 1.642.916 tỷ đồng, bằng 55,7% GDP năm 2012 Năm 2013 theo báo cáo do Bộ trưởng Kế hoạch Đầu

tư Bùi Quang Vinh trình bày tại cuộc họp trực tuyến của chính phủ với các địa phương ngày 23.12, tiến độ thu ngân sách nhà nước (NSNN) trong những tháng cuối năm đã có cải thiện, trong lúc nợ công vẫn được duy trì ở giới hạn

3 Nợ của chính quyền địa phương 20.886 0,8%

(Nguồn: Cục Quản Lý Nợ và Tài Chính Đối Ngoại Thuộc Bộ Tài Chính)

Trang 26

Biều đồ 2.1: Tình hình nợ công 2003 – 2014 (Nguồn: Cục Quản Lý Nợ và Tài Chính Đối Ngoại Thuộc Bộ Tài Chính)

2.1.1.1 Về tình hình nợ Chính phủ

Tính đến ngày 31/12/2012, tổng số nợ Chính phủ là 1.279.994 tỷ đồng, bằng 43,3% GDP; trong đó nợ nước ngoài 726.314 tỷ đồng (chiếm khoảng 57%), nợ trong nước 553.680 tỷ đồng (chiếm khoảng 43%)

a) Huy động vốn vay của Chính phủtừ nhiều nguồn vốn khác nhau,

ngày càng đa dạng, với nhiều phương thức linh hoạt, bao gồm vay trong nước (trái phiếu, tín phiếu, Bảo hiểm Xã hội, Quỹ tích luỹ, tồn ngân Kho bạc, vay SCIC và các nguồn vốn hợp pháp khác) và vay nước ngoài

b) Việc sử dụng vốn vay của Chính phủtập trung cho các mục tiêu

cân đối ngân sách nhà nước, đầu tư các công trình giao thông, thuỷ lợi, tái định cư, y tế, giáo dục…, theo các Nghị quyết của Quốc hội và dành một phần từ nguồn vốn vay nước ngoài để cho vay lại các chương trình, dự án đầu

Trang 27

tư phát triển, góp phần tích cực vào việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội trên phương diện bổ sung nguồn lực để phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng, phát triển nông nghiệp nông thôn và nông dân, y tế, giáo dục đào tạo, cấp thoát nước và vệ sinh môi trường, xoá đói giảm nghèo, nhằm góp phần ổn định môi trường kinh tế vĩ mô

Bảng 2.1: Vay của Chính phủ giai đoạn 2011-2012

(Nguồn: Báo cáo tổng kết công tác năm 2013- Bộ Tài Chính)

Đối với vay về cho vay lại, tính đến 31/12/2012, tổng dư nợ các khoản cho vay lại là 10,84 tỷ USD, tương đương 225,85 nghìn tỷ đồng (quy đổi theo

tỷ giá hạch toán ngân sách tháng 12/2012)

- Trong tổng dư nợ vay nước ngoài về cho vay lại, dư nợ cho vay lại tập trung vào một số ngành, lĩnh vực chính là ngành điện (54%), dầu khí (11%), công nghiệp tàu thuỷ (9%), cấp nước (4%), nông nghiệp (4%), đường cao tốc (4%), hàng không, cảng biển (4%), công nghiệp (luyện thép, máy công nghiệp, máy xây dựng, dệt, chiếm 2%) v/v

- Về đối tượng nhận vay lại chủ yếu là DNNN (chiếm trên 90% tổng dư nợ), ngoài ra một số doanh nghiệp tư nhân cũng đã bắt đầu được vay lại thuộc một số lĩnh vực điện, chế biến khoáng sản, nông nghiệp

- Tổng nợ quá hạn cho vay lại là 373,94 triệu USD, chiếm 3,45% tổng

dư nợ cho vay lại Các khoản cho vay theo hạn mức tín dụng qua các ngân

Trang 28

hàng thương mại được hoàn trả đầy đủ cho Bộ Tài chính, không phát sinh nợ

quá hạn

c) Về nghĩa vụ nợ Chính phủ, thời gian qua Bộ Tài chính đã chú trọng

cân đối ngân sách nhà nước để hoàn trả các khoản nợ gốc và lãi đến hạn, đảm bảo theo đúng các cam kết với các chủ nợ Chỉ tiêu nghĩa vụ trả nợ của Chính phủ (không kể đáo nợ) so với thu ngân sách nhà nước hàng năm luôn đảm bảo nằm trong giới hạn an toàn

(Nguồn: Báo cáo tổng kết công tác năm 2013- Bộ Tài Chính)

Nhìn vào bảng số liệu ta có thể thấy hằng năm Bộ Tài chính luôn cân đối 1 khoản ngân sách khá lớn để trả nợ trong nhằm cân đối Ngân sách Nhà nước và trả nợ vay về cho vay lại Số tiền này tăng qua các năm như: Năm 2011 : trả nợ trong cân đối ngân sách là 100.000 tỷ đồng tăng 25,9% so với 2010 Năm 2012 còn 97.691 tỷ đồng giảm 2,3% so với 2011 Nguồn vốn

để trả nợ trong nước luôn cao hơn trả nợ nước ngoài vì những khoản vay nước ngoài chủ yếu là các khoản vay ODA với thời hạn dài vì vậy chủ yếu là trả nợ vay trong nước.Trả nợ vay trong nước so với vay nước ngoài như sau

Trang 29

2010 là 51048 (tỷ đồng), 2011 là 66736 (tỷ đồng),62719(tỷ đồng).Tỷ lệ trả nợ trực tiếp Chính phủ/thu NSNN luôn ở mức ổn định xoay quanh 15% Điều này thể hiện sự ổn định ở tỷ lệ trả nợ trực tiếp của Chính phủ so với nguồn thu NSNN

Ngoài việc ưu tiên bố trí ngân sách nhà nước để trả các khoản trả nợ vay của Chính phủ hàng năm, việc thành lập quỹ tích luỹ trả nợ cũng có tác động tích cực trong việc tập hợp các nguồn thu từ các dự án cho vay lại, thu phí bảo lãnh để trả nợ, giảm bớt sự căng thẳng trong cân đối nguồn trả nợ từ ngân sách nhà nước, tăng cường vốn cho đầu tư phát triển và các nhu cầu chi tiêu khác của Chính phủ trong từng giai đoạn Cơ cấu chi trả nợ của Chính phủ từ nguồn ngân sách nhà nước và Quỹ tích luỹ trả nợ trong thời gian qua cũng có sự thay đổi theo hướng tích cực, đó là chi trả nợ từ ngân sách nhà nước giảm (từ 95% năm 2006 xuống 90% năm 2013) và phần bố trí chi từ Quỹ tích luỹ trả nợ tăng dần (từ 5% năm 2006 lên 10% tổng chi trả nợ của Chính phủ năm 2013) nhằm giảm áp lực bố trí chi trả nợ từ ngân sách nhà nước

Bảng 2.4: Thu chi của Quỹ tích lũy trả nợ 2010 - 2012

Đơn vị tính: tỷ đồng

Thu Quỹ

Thu hồi nợ cho vay lại 7.860,93 11.289,16 12.310,51

Chênh lệch thu chi +3.072,87 +3.656,26 +2.530,89

(Nguồn: Báo cáo tổng kết công tác năm 2013- Bộ Tài Chính)

Trang 30

Nhìn vào bảng số liệu trên ta có thể thấy : Thu của Qũy tích lũy trả nợ tăng dần qua các năm Năm 2011 đạt 12.636,98 tỷ đồng tăng (35,3%) so với năm 2010 Năm 2012 đạt 13438,54 tỷ đồng tăng (30,08%)so với năm 2011

Chi hoàn trả Ngân sách Nhà nước cũng tăng qua các năm từ 2010 –

2012 lần lượt là : 2716,11(tỷ đồng), 1926,93(tỷ đồng) tương ứng với 43,35%

và 21,45% Qua đó ta có thể thấy tổng nguồn thu luôn lớn hơn tổng chi trong giai đoạn 2010 – 2012 điều này thể hiện sự thành lập Qũy tích lũy trả nợ là hoàn toàn đúng đắn và hợp lý Sự điều chỉnh hợp lý nguồn thu và chi của Qũy này đã giúp cho việc giảm gánh nặng cho Ngân sách Nhà nước, tăng nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước, tự cân đối được thu chi qua đó giảm chi từ nguồn Ngân sách Nhà nước

2.1.1.2 Về nợ được Chính phủ bảo lãnh

Tính đến cuối năm 2012, nợ được Chính phủ bảo lãnh là 342.036 tỷ đồng, trong đó nợ bảo lãnh vay nước ngoài là 150.586 tỷ đồng (chiếm 44%),

nợ bảo lãnh vay trong nước là 191.450 tỷ đồng (chiếm 56%)

- Bảo lãnh vay nước ngoài: tính đến ngày 31/12/2012, đã có 96 dự án vay nước ngoài được cấp bảo lãnh Chính phủ thuộc các lĩnh vực điện (47 dự án), hàng không (6 dự án), xi măng (17 dự án), dầu khí (7 dự án), giấy và bột giấy (5 dự án) và các lĩnh vực khác với giá 12,97 tỷ USD, các dự án đã giải ngân là

9,88 tỷ USD và số dư nợ gốc là 7,24 tỷ USD (tương đương 150.586 tỷ đồng)

- Bảo lãnh vay trong nước tập trung vào 2 ngân hàng chính sách (VDB, Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam), VEC và một số dự án trọng điểm quốc gia

2.1.1.3 Nợ Chính quyền địa phương

Thực hiện quy định của Luật ngân sách nhà nước, Luật Quản lý nợ công, các địa phương đã chủ động huy động thêm nguồn vốn nhằm đáp ứng

Trang 31

nhu cầuvốn đầu tư cho các dự án, công trình đã có trong kế hoạch được duyệt, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của địa phương

Nguồn vốn để đầu tư cho các dự án, công trình này ngoài nguồn thu từ ngân sách địa phương được huy động từ các nguồn như:

(i) nguồn vốn huy động trong nước theo quy định của Khoản 3, Điều 8, Luật NSNN (mức dư nợ không vượt quá 30% vốn đầu tư XDCB trong nước hàng năm của NSĐP, riêng đối với TP Hà Nội và Hồ Chí Minh mức dư nợ không vượt quá 100% vốn đầu tư XDCB trong nước hàng năm của NSĐP);

(ii) nguồn tạm ứng vốn KBNN;

(iii) nguồn vốn huy động thông qua phát hành trái phiếu CQĐP; (iv) nguồn vốn từ Quỹ ĐTPTĐP;

(v) nguồn vay tín dụng từ Ngân hàng phát triển để thực hiện các dự

án đầu tư thuộc Chương trình kiên cố hóa kênh mương, xây dựng cụm, tuyến dân cư và nhà ở vùng ngập lũ; đường giao thông nông thôn; cơ sở hạ tầng nuôi trồng thuỷ sản; cơ sở hạ tầng làng nghề ở nông thôn

Tính đến 31/12/2012, tổng dư nợ chính quyền địa phương là 20.886 tỷ đồng, trong đó vay tồn ngân kho bạc là 11.630 tỷ đồng, phát hành trái phiếu là 8.569 tỷ đồng và vay khác là 687 tỷ đồng

1.2.1 Đánh giá tình hình nợ công của Việt Nam

Nợ công, dư nợ Chính phủ và nợ nước ngoài của quốc gia được đánh giá vẫn nằm trong ―giới hạn an toàn‖ Nợ công đến cuối năm 2013 đạt 56,2% GDP, trong đó nợ Chính phủ bằng 42,6% GDP, nợ Chính phủ bảo lãnh là 12,24% GDP và nợ chính quyền địa phương là 1,32% GDP

Tại thời điểm 8 giờ 50 phút ngày 24/3/2014, đồng hồ nợ công của thế giới đã chỉ sang con số 52.952.094.651.278 USD (92.952,1 tỷ USD)

Trang 32

Riêng tại Việt Nam, nợ công ở mức 80.092.622.951 USD, và với dân

số 90.525.901 người, hiện tại, mỗi người dân Việt Nam đang gánh 886,59 USD nợ công Tuy nhiên, nợ công Việt Nam theo đồng hồ nợ công thế giới vẫn mới chỉ chiếm tới 48% GDP So với năm 2013, nợ công Việt Nam đã tăng 11,2%

Nguyên tắc xác định chỉ tiêu an toàn nợ công thường dựa trên: Cơ sở đánh giá thực trạng nợ; Tình hình kinh tế vĩ mô, chính sách tài khoá, tiền tệ; Nhu cầu về vốn đầu tư phát triển; Hệ số tín nhiệm của quốc gia; Tham khảo khuyến nghị của IMF, AVB về ngưỡng an toàn nợ nước ngoài theo phân loại chất lượng khuôn khổ thể chế và chính sách

Khu vực đồng tiền chung Châu Âu thì có hạn mức trần nợ công áp dụng chung cho tất cả các nước trong khối là dưới 60% GDP; Thâm hụt ngân sách dưới 3% GDP

Theo Quyết định số 958/QĐ- TTg ngày 27/7/2012 của Thủ tướng Chính phủ về Chiến lược nợ công và nợ nước ngoài quốc gia giai đoạn 2011-

2020 và tầm nhìn đến 2030, chỉ tiêu an toàn về nợ công và nợ nước ngoài của Việt Nam như sau: Nợ công đến nám 2020 không quá 65% GDP, trong đó dư

nợ Chính phủ không quá 55% GDP và nợ nước ngoài của quốc gia không quá 50% GDP; nghĩa vụ trả nợ trực tiếp Chính phủ (không kể cho vay lại) so với tổng thu NSNN hàng năm dưới 25% giá trị XK hàng hóa và dịch vụ; tỷ lệ dự trữ ngoại hối nhà nước so với tổng dư nợ nước ngoài ngắn hạn hàng năm trên 200% Như vậy Việt Nam được đánh giá là có mức nợ năm trong tầm kiểm soát và không nằm trong nhóm các nước có gánh nặng về nợ (HIPCs) Nợ Việt Nam đã giảm nhiều nếu so sánh tỷ lệ nợ với GDP: Đã xử lý giảm nợ thành công qua Câu lạc bộ Paris, Luân Đôn Tỷ lệ nợ nước ngoài năm 1993 là gần 150% GDP về còn 42,2% GDP năm 2010 và 54,9% GDP năm 2011, đến nám 2012 còn 55,6% GDP Nghĩa vụ trả nợ nước ngoài trung dài hạn tương

Trang 33

ứng từ mức 195,8% tổng kim ngạch xuất khẩu năm 1993 xuống còn khoảng 3,4% so với tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2010

Các chỉ số nợ công của Việt Nam hiện nay vẫn đang ở dưới ngưỡng an toàn (Nợ công 2012 so với GDP: 55,4%, Nợ Chính phủ so với GDP: 43,1%,

Nợ nước ngoài quốc gia so với GDP: 43,7%), tuy nhiên trong thời gian tới các chỉ số nợ có xu hướng gia tăng do sự gia tăng nguồn vốn vay để đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển kinh tế - xã hội; do sự gia tăng các khoán bảo lãnh Chính phủ; do tăng chi trả nợ trực tiếp cũng như nghĩa vụ nợ dự phòng của ngân sách nhà nước, bởi tăng chi phí phát sinh từ rủi ro đối với việc tái cấp vốn cho thị trường vốn trong nước, tăng chi phí huy động vốn

Về chiến lược nợ, trước đây chúng ta quản lý nợ mang tính thụ động thì giờ chúng ta đã chủ động, đã có Chiến lược nợ công và nợ nước ngoài quốc gia giai đoạn 2011 - 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 Tất nhiên, chiến lược của này sẽ điều chỉnh theo từng thời kỳ

2.2 Tình hình quản lý nợ công của Việt Nam giai đoạn 2010 -2013

chiến lược dài hạn, chương trình trung hạn và kế hoạch hàng năm về vay, trả

nợ công và nợ nước ngoài của quốc gia

Trong thời gian qua, công tác xây dựng các chỉ số an toàn nợ trong từng thời kỳ, chiến lược dài hạn, chương trình trung hạn và kế hoạch hàng năm về vay, trả nợ công và nợ nước ngoài của quốc gia đã đạt được những kết quả quan trọng, góp phần không nhỏ vào định hướng phát triển tổng thể và dài hạn của Việt Nam, làm căn cứ cho việc xây dựng các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm, hàng năm cung cấp thông tin cần thiết để xây dựng các chương trình phát triển, các dự án đầu tư Tuy nhiên, công tác xây dựng vẫn chưa được coi trọng đúng mức, dẫn đến tình trạng thiếu tính tập trung, thiếu

Trang 34

đồng bộ, tính dự báo chưa cao nên một số chỉ tiêu phải điều chỉnh sau một thời gian ngắn được phê duyệt, công tác quản lý còn nhiều bất cập

- Những kết quả đạt được

+ Công tác quản lý nợ hiện tại chủ yếu căn cứ vào Luật Ngân sách Nhà nước, Pháp lệnh về phát hành công trái xây dựng Tổ quốc, Nghị định 134/2005/NĐ-CP, Nghị định 131/2006/NĐ-CP và các văn bản hướng dẫn các Nghị định này; Chương trình quản lý nợ trung hạn, Kế hoạch vay, trả nợ hàng năm; Nghị định 141/2003/NĐ-CP và văn bản hướng dẫn về quy trình phát hành và sử dụng vốn trong nước; dự toán ngân sách nhà nước… Qua các văn bản này đã tạo lập cơ sở pháp lý xác định quyền hạn và trách nhiệm của các chủ thể vay nợ, nguyên tắc quản lý, các nguyên tắc, điều kiện vay, mức bội chi và kế hoạch vay, trả nợ hàng năm; các quy định quản lý đối với sử dụng nguồn vốn như pháp luật về đấu thầu mua sắm và đầu tư xây dựng, quy định

về quản lý tài chính, giải ngân…

+ Đã hình thành quy trình vay và trả nợ làm căn cứ cho việc quản lý

nợ Quy trình vay và trả nợ gồm các công việc:

 Xây dựng chiến lược, kế hoạch vay nợ, huy động vốn

 Xác định nhu cầu, nguồn có thể huy động, vay nợ

Trang 35

- Những khiếm khuyết, vướng mắc trong khung khổ pháp lý

về quản lý nợ:

+ Cho đến nay vẫn chưa có một khuôn khổ pháp lý, một hệ thống văn bản pháp quy đồng bộ và đầy đủ về quản lý nợ Rất nhiều vấn đề về vay nợ, trả nợ, sử dụng vốn vay chưa có quy định pháp lý điều chỉnh

+ Còn thiếu một văn bản Luật về Quản lý nợ để điều chỉnh tất cả các hoạt động liên quan đến vay và trả nợ của các chủ thể của nền kinh tế Các văn bản quy phạm pháp luật đã có về quản lý nợ đều ở cấp Nghị định và chỉ điều chỉnh một bộ phận của hoạt động nợ

+ Còn thiếu Thống nhất trong cách hiểu và giải thích các khái niệm về

nợ cũng như phạm vi quản lý nợ trong các văn bản pháp quy hiện hành Trước hết là các khái niệm rất cơ bản về: Vay nợ nước ngoài, vay ngắn hạn, vay trung và dài hạn; vay hỗ trợ phát triển chính thức; vay thương mại của chính phủ; thời gian ân hạn, bảo lãnh vay vốn nước ngoài; cho vay lại; hạn mức vay nợ, dịch vụ trả nợ; Quỹ tích lũy trả nợ

+ Chưa có Văn bản pháp quy quy định về ―Nợ công‖ để tiến hành phân loại, tổng hợp nợ theo khu vực công

+ Các văn bản pháp quy về quản lý nợ trong nước của Chính phủ hoặc của khu vực công chỉ mới dừng lại ở mức ban hành các quy định liên quan đến khâu phát hành và sử dụng vốn huy động được Mục tiêu và nguyên tắc quản lý nợ trong nước chưa được xác định và quy định thật rõ ràng Hệ thống chỉ tiêu báo cáo, đánh giá và cơ chế thu thập, chia sẻ thông tin và giám sát nợ trong nước chưa được xây dựng Trách nhiệm của các cơ quan trong quản lý

nợ chưa đưa ra phân định và phân công rõ ràng Đáng lưu ý là các quy định pháp lý mới tập trung đến quản lý khâu phát hành để đáp ứng được các yêu cầu tài trợ (bội chi NSNN) với chi phí thấp (về mặt ngắn hạn), chưa quan tâm nhiều đến phát triển thị trường nợ trong nước, đến việc tạo lập kênh huy động

Trang 36

vốn ổn định với chi phí hợp lý xét về trung – dài hạn (ví dụ một số quy định như áp dụng lãi suất trần, việc phát hành không chú trọng đến nhu cầu/thị hiếu của thị trường v.v đã hạn chế đáng kể tính hấp dẫn của các công cụ nợ trong nước của Chính phủ)

- Đã có những quy định về trách nhiệm và thẩm quyền quản lý nợ của các cơ quan thuộc Chính phủ Các văn bản của nhà nước đã giao nhiệm vụ quản lý nợ cho một số cơ quan Chính phủ khác nhau, theo chức năng của các

cơ quan như Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước Tuy nhiên còn khá nhiều vướng mắc:

- Sự phân công trách nhiệm còn mang tính chất phân tán và chứa đựng nhiều điểm bất hợp lý:

+ Nhiệm vụ xây dựng chiến lược nợ dài hạn bị tách rời và phân công chồng chéo: Chiến lược dài hạn về nợ nước ngoài do Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì thực hiện theo quy định của Nghị định 134/2005 (Điều 6.2), trong khi

đó, Luật Ngân sách Nhà nước 2002 cũng quy định nhiệm vụ của Bộ Tài chính

là " Xây dựng chiến lược, kế hoạch vay nợ, trả nợ trong nước và ngoài nước trình Chính phủ " (Điều 21, Khoản 1)

+ Trong lĩnh vực quản lý vay, trả nợ nước ngoài, nhiệm vụ tìm kiếm, đàm phán ký kết về vay ODA nước ngoài của Chính phủ được phân công cho

cả ba cơ quan: Bộ Kế hoạch và Đầu tư (đối với các Hiệp định khung), Ngân hàng Nhà nước (đối với các Hiệp định vay cụ thể với WB và ADB), và Bộ Tài chính (đối với các Hiệp định vay cụ thể với các Chính phủ và các tổ chức tài chính quốc tế khác) Điều này không phù hợp với nguyên tắc tập trung trong quản lý nợ, đồng thời mâu thuẫn với quy định về vai trò của Bộ Tài chính như là ―đại diện chính thức cho người vay đối với các khoản vay nước

Trang 37

ngoài của Nhà nước và Chính phủ tại thoả thuận vay cụ thể‖ (Điều 6, khoản 1.đ, Nghị định 134)

+ Trong lĩnh vực quản lý vay, trả nợ trong nước: nhiệm vụ phát hành

nợ Chính phủ cũng có lúc do 2 cơ quan Chính phủ thực hiện, và có những thời điểm thiếu sự điều phối trên thị trường tiền tệ Đó là trường hợp cả Kho bạc Nhà nước (KBNN) và Ngân hàng Nhà nước cùng phát hành tín phiếu trên thị trường tiền tệ năm 2007, và các loại công cụ nợ này được nhà đầu tư đánh giá là 2 hàng hoá cạnh tranh với nhau

- Còn chồng chéo, phân tán về chức năng, nhiệm vụ quản lý nợ trong nội bộ Bộ Tài chính

+ Vụ Quản lý Ngân sách nhà nước (Vụ NSNN) có nhiệm vụ tham gia vào một số khâu mang tính chất chính sách và chiến lược huy động nợ Theo Luật NSNN sửa đổi năm 2002 và Quyết định số 151/2003/QĐ-BTC của Bộ trưởng Bộ Tài chính, Vụ NSNN có nhiệm vụ ―Chủ trì phối hợp các đơn vị thống nhất quản lý nợ quốc gia‖ (nghĩa là nợ nước ngoài của quốc gia, như hàm ý của Luật NSNN) Tuy nhiên, quy định này lại vừa thiếu vì không đề cập đến nhiệm vụ quản lý nợ trong nước của Chính phủ lại vừa chồng chéo với nhiệm vụ quản lý nợ nước ngoài mà Bộ trưởng Bộ Tài chính đã phân công cho Vụ Tài chính Đối ngoại (Vụ TCĐN) tại Quyết định số 163/2003/QĐ-BTC, theo đó, Vụ TCĐN có chức năng giúp Bộ trưởng Bộ Tài chính ―thống nhất quản lý vay và trả nợ nước ngoài của Chính phủ, vay và trả

nợ nước ngoài của quốc gia‖ (Điều 1)

+ Ban Huy động vốn của KBNN có nhiệm vụ ―nghiên cứu xây dựng

dự thảo đề án, chính sách, chế độ về huy động vốn trong nước và ngoài nước thông qua phát hành công trái, trái phiếu Chính phủ‖ (Quyết định số 209/2003/QĐ-BTC), trong khi đó Quyết định số 163/2003 đã quy định một trong những nhiệm vụ của Vụ TCĐN là ―Nghiên cứu, đề xuất và tổ chức thực

Trang 38

hiện các phương án huy động vốn nước ngoài trên thị trường vốn quốc tế của Chính phủ (phát hành trái phiếu của Chính phủ và các hình thức huy động khác)‖ Quyết định 209/2003/QĐ/BTC cũng có những điểm không thống nhất với Quyết định số 165/2003/QĐ/BTC của Bộ trưởng Bộ Tài chính về chức năng, nhiệm vụ của Vụ Tài chính các Ngân hàng và tổ chức tài chính (Vụ TCNH) trong lĩnh vực xây dựng chính sách, chế độ về huy động vốn trong nước của Chính phủ

Theo quy định tại Điều 10 Luật Quản lý nợ công thì Bộ Tài chính là cơ quan ―giúp Chính phủ thống nhất quản lý Nhà nước về nợ công‖ và ―chủ trì xây dựng mục tiêu, định hướng huy động, sử dụng vốn vay và quản lý nợ công‖ Tuy nhiên, vẫn còn có một số khó khăn, tồn tại, cụ thể:

hiện các chiến lược, chương trình, kế hoạch, cơ chế chính sách về vay, trả nợ công và nợ nước ngoài của quốc gia sau khi được phê duyệt còn nhiều vấn đề cần quan tâm

Hiện nay thể chế về tổ chức cơ quan quản lý nợ công còn phân tán ở cấp các Bộ, ngành và địa phương ―công tác quản lý nợ công ở Việt Nam còn phân tán giữa các cơ quan của Chính phủ và ngay cả trong nội bộ cơ quan Bộ Tài chính‖ Cụ thể là, Bộ Kế hoạch và Đầu tư thực hiện quản lý nhà nước đối với vay ODA, vay ưu đãi nước ngoài và trái phiếu chính phủ cho các công trình giao thông, thuỷ lợi, y tế, giáo dục; Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quản

lý các khoản vay từ các tổ chức tài chính quốc tế (WB, ADB), hạn mức vay nước ngoài của các doanh nghiệp; Bộ Tài chính quản lý vay thương mại nước ngoài của Chính phủ, bảo lãnh Chính phủ Mặc dù có sự trao đổi phối hợp công tác giữa các cơ quan liên quan, việc quyết định số lượng vay vốn nước ngoài theo nhu cầu, đề xuất danh mục các chương trình, dự án của các Bộ, ngành, địa phương chưa đặt trong mối quan hệ với các hạn mức nợ công, xác

Trang 39

định mức vay nợ phù hợp với khả năng trả nợ, đảm bảo an toàn nợ và ổn định kinh tế vĩ mô sẽ phát sinh rủi ro khó điều chỉnh trong trường hợp các chỉ số

nợ vượt ngưỡng an toàn do phải đảm bảo tiến độ thực hiện các dự án sử dụng vốn vay đã ký kết

Trong năm qua, các cơ quan quản lý nhà nước về nợ công của quốc gia tuy đã có cố gắng nhưng đôi khi còn quá tải, chưa chủ động nên chưa sâu sát tình hình triển khai thực hiện công tác vay,đầu tư thu hồi vốn vay, tạo nguồn trả nợ Thực trạng một loạt dự án đầu tư công với số vốn lên đến hàng tỷ USD đang rơi vào tình trạng"treo" hay một số dự án tham nhũng và chất lượng kém đã cho thấy công tác theo dõi, kiểm tra, giám sáttình hình triển khai thực hiện đầu tư công còn bị buông lỏng, hiệu quả chưa cao

2.3 Những kết quả và hạn chế trong công tác quản lý nợ công của Việt Nam giai đoạn 2010 – 2013

2.3.1 kết quả đạt được

- Các nguồn vốn vay trong và ngoài nước là nguồn tài chính quan trọng

bổ sung cho đầu tư phát triển, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Nguồn vốn vay đã được phân

bổ, sử dụng chohệ thống kết cấu hạ tầng cơ sở, đặc biệt là các công trình kết cấu hạ tầng giao thông, phát triển nông nghiệp, nông thôn, y tế, giáo dục đào tạo.v.v

- Thực hiện trả nợ đầy đủ, đúng hạn, không để xẩy ra tình trạng nợ quá hạn, đảm bảo uy tín và các cam kết của Chính phủ

- Các chỉ tiêu an toàn về nợ công được đảm bảo theo các chỉ tiêu đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt (Chiến lược nợ công và nợ nước ngoài của quốc gia giai đoạn 2011-2020 và tầm nhìn đến năm 2030 quy định giới hạn an

Ngày đăng: 02/03/2015, 00:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Trang web của Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ: www.mpi.gov.vn 5. Trang web của Bộ Tài chính: www.mof.gov.vn Link
2. Quyết định số 1168 /QĐ-BTC quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Quản lý nợ và tài chính quốc tế Khác
6. Trang web của Thời báo kinh tế Việt Nam: www.vneconomy.vn Khác
7. Luật quản lý nợ công, luật ngân sách nhà nước, Luật kiểm toán nhà nước và các văn bản hướng dẫn Khác
8. Báo cáo về tình hình nợ công của Chính phủ gửi Quốc hội ngày 30/10/2012 Khác
9. Các trang Web: www.cia.gov; www.ofina.gov; www.enwikipedia.org Khác
10. Nguồn tham khảo: Phạm Thị Thanh Bình (cb) – Vấn đề nợ công ở một số nước trên thế giới và hàm ý chính sách đối với Việt Nam – NXB KHXH 2013 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Nợ công tại 1 số quốc gia - Hoàn thiện công tác quản lý nợ công của Việt Nam đ́ên năm 2020
Bảng 2 Nợ công tại 1 số quốc gia (Trang 14)
Bảng 2.1. Tình hình nợ công - Hoàn thiện công tác quản lý nợ công của Việt Nam đ́ên năm 2020
Bảng 2.1. Tình hình nợ công (Trang 25)
Bảng 2.3: Trả nợ Chính phủ giai đoạn 2010-2012 - Hoàn thiện công tác quản lý nợ công của Việt Nam đ́ên năm 2020
Bảng 2.3 Trả nợ Chính phủ giai đoạn 2010-2012 (Trang 28)
Bảng 2.4: Thu chi của Quỹ tích lũy trả nợ  2010 - 2012 - Hoàn thiện công tác quản lý nợ công của Việt Nam đ́ên năm 2020
Bảng 2.4 Thu chi của Quỹ tích lũy trả nợ 2010 - 2012 (Trang 29)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w